Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 26 tháng 3, 2017

Chile tuyên án 33 cựu nhân viên tình báo giết người thời độc tài Pinochet


Nhà độc tài Augusto Pinochet. (Hình: CRIS BOURONCLE/AFP/Getty Images)
SANTIAGO, Chile (NV) – Tối Cao Pháp Viện Chile hôm Thứ Năm tuyên án 33 cựu nhân viên tình báo quốc gia về tội bắt cóc và thủ tiêu năm người bị coi là thành phần chống đối, trong thời gian cầm quyền của nhà độc tài Augusto Pinochet.
Ông Alvaro Corbalán, cựu chỉ huy cao cấp của cơ quan tình báo CNI, bị án 15 năm tù về tội bắt cóc năm nhà tranh đấu chính trị hồi Tháng Chín, 1987, theo bản tin của hãng thông tấn UPI. Cựu giám đốc cơ quan CNI, Tướng Hugo Salas Wenzel, cũng bị bản án 15 năm tù. Cả hai ông Corbalán và Wenzel đều hiện đang ở tù về các tội vi phạm nhân quyền. Có 21 cựu nhân viên tình báo khác nhận bản án 10 năm tù.
Tối Cao Pháp Viện Chile cũng ra lệnh chính phủ phải bồi thường cho mỗi gia đình nạn nhân số tiền là $575,000. Tòa nói rằng các nạn nhân bị bắt cóc, chích thuốc mê rồi đem bỏ xuống biển Thái Bình Dương.
Năm người này được coi là những người sau cùng bị chế độ Pinochet bắt cóc rồi thủ tiêu.
Ông Pinochet cầm quyền từ năm 1973 tới 1990. Thi thể của các nạn nhân chưa hề được tìm thấy. (V.Giang)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

BÂY GIỜ CÒN LẠI



Bây giờ còn lại với ta..
Đất là máu thịt, cây là buồn vui
tình xưa còn ấm trên môi
Ta mang theo
nắng
gió
trời tự do
Một mình làm
một mình lo
núi cao nhìn xuống
bến bờ trông lên
máu thì không thể xa tim
Dẫu bao đổi đoạn
chuyển đêm sang ngày
Cả khi gió khẳn chết cây
lanh quanh vừa chát vừa cay đã từng..
Vẫn là yêu
vẫn là thương
Bây giờ còn lạị nửa chừng thế nhân
đường dài chút bụi phù vân
người đi để
dấu bàn chân
chưa mờ!

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nỗi buồn gác trọ


 (Sadness in a Garret) - Hoài Linh & Mạnh Phát (1964)


Phương Dung ca, ban nhạc Nghiêm Phú Phi

habanera

Gác lạnh về khuya cơn gió lùa 
Cold garret at midnight, a draft of wind
Trăng gầy nghiêng bóng cài song thưa.
A sliver of moon pokes its shadow across the window bars
Nhớ ai mà ánh đèn hiu hắt, lá vàng nhẹ nhẹ đưa tưởng như bước lê hè phố
Recalling someone, the flickering lamplight, golden leaves lightly pass as if they were heels stepping on the sidewalk

Có người con gái buông tóc thề 
There's a girl who lets loose her shoulder length hair
Thu về e ấp chuyện vu quy 
At autumn's return furtively wishing to be led to a husband's house
Kết lên tà áo màu hoa cưới, gác trọ buồn đơn côi phố nhỏ vắng thêm một người --
Link with a blouse colored with wedding flowers, the small garret, sad and lonely is missing one more person

Bâng khuâng gác vắng khêu tim đèn đêm, nhớ nhung đi vào quên, sông sâu cố nhân ơi đi về đâu
Sorrowfully, the empty garret rouses the night lamp's wick, longing proceeds to forgetting, the river is deep, old lover, where does it go?
Gởỉ hồn chìm vào đôi mắt, aí ân chưa tròn để ngàn đời nhớ nhau
Sends the soul sinking into a pair of eyes, goodwill not yet ended, for a thousand lives we'll miss each other
Phố nhỏ đường mưa trơn lối về --
The small lane, the rain slick road on the path back --

Dâng sầu nhân thế dọng trên mi.
Melancholy floods upwards human life lingers on eyelashes
Có ai ngồi đếm mùa nhung nhớ, nỗi niềm đầy lại vơi mỗi mùa tiễn đưa một người.
Who is sitting counting the seasons of long, emotions empty and full every season seeing somebody off.

nguồn: Hoài Linh & Mạnh Phát (Sài Gòn: [Tác giả], 1964).

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Để “thấy công ty to, dự án lớn” mà... không ngại



Nguyên Lê
(TBKTSG) - “Phát hiện 40 biệt thự ở Sơn Trà xây sai nhờ người... câu cá” - đó là lời phê bình của ông Huỳnh Đức Thơ, Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng, đối với cấp dưới là lãnh đạo phường Thọ Quang và quận Sơn Trà trong cuộc họp ngày 19-3-2017 về vụ việc nóng hổi này tuần qua, theo báo Tuổi Trẻ.

Trong phần bình luận Online dưới bài viết này, một bạn đọc đặt câu hỏi: “Xây dựng trái phép như thế mà chỉ có ông câu cá phát hiện vậy thì Đà Nẵng lập đội thanh tra xây dựng, quản lý đô thị để làm gì?”. Một câu hỏi nhức nhối về hiệu quả, hiệu lực của cả một hệ thống cơ quan quản lý nhà nước địa phương!

Bởi lẽ, gần như cùng thời gian vụ việc này được phát hiện, vụ “khách sạn “khủng” xây không phép” ở ngay mặt tiền đường ven biển Đà Nẵng cũng được báo chí lật lại. Công trình này đã bị cơ quan chức năng thành phố Đà Nẵng và quận Sơn Trà nhiều lần yêu cầu dừng thi công, xử phạt vì chưa có giấy phép xây dựng từ khi nó mới được làm móng, nhưng tới giờ chủ đầu tư đã cho xây dựng đến... tầng thứ 9.

Mà không chỉ ở Đà Nẵng, tuần qua, viết về vụ một cảng cá lậu quy mô được xây chình ình trong lòng khu kinh tế Hòn La, tỉnh Quảng Bình, báo chí dùng những từ như “bất thường”, “cơ quan chức năng chỉ quyết liệt trên giấy”. Giống như khách sạn nói trên, chủ đầu tư cảng cá này đã bị lập biên bản, xử phạt nhiều lần, bị buộc phải tự tháo dỡ, trả lại hiện trạng ban đầu từ... tháng 3-2016 nhưng không chịu thực hiện, tới nay chính quyền cũng không tổ chức cưỡng chế.

Những vụ việc thời sự này khiến người dân nhớ đến vụ tòa nhà xây sai phép (vượt tầng) ở số 8B Lê Trực, Hà Nội. Hai năm nay, mặc dù cơ quản quản lý cấp cao rất kiên quyết xử lý, việc “cắt ngọn” nó để giữ nghiêm phép nước, không tạo tiền lệ xấu cũng chưa xong.

Có bao nhiêu con voi đã chui qua được lỗ kim - hàng loạt quy định pháp luật và hệ thống thực thi?

Những con voi - dự án xây dựng lộ thiên thì “người câu cá” còn có thể thấy được (tuy không dễ xác định việc có phép hay không). Nhưng có những con voi tàng hình hơn, như dự án đầu tư công ngàn tỉ kém hiệu quả hay các cán bộ cơ hội, tha hóa, trục lợi - một khi đã  lọt lỗ kim quy trình thẩm định, phê duyệt hay quy trình quy hoạch, bổ nhiệm thì mắt của dân thường, thậm chí của cả hệ thống cơ quan quản lý, kiểm tra, giám sát nhà nước, khó có thể thấy, đến khi thấy được thì hậu quả cũng đã phát sinh rồi.

Vấn đề không chỉ ở chỗ “con voi có chui qua lỗ kim  được thì phải bắt nó chui về được”, dù điều này hiện nay chưa phải ta đã làm nổi. Vấn đề cũng không chỉ ở chỗ tìm cho ra ai đó đã “banh lỗ kim” (nếu có) để xử lý, điều mà mới đây ông Chủ tịch thành phố Hà Nội đã tiết lộ, rằng 87% cơ sở kinh doanh bia hơi đang lấn chiếm vỉa hè đều có công an “chống lưng” hay ông Chủ tịch tỉnh Bắc Ninh “kêu cứu” mà cũng là... tố cáo lên Thủ tướng, rằng có người ở cả cấp trung ương đe dọa mình và thuộc cấp liên quan đến lợi ích từ việc khai thác cát tại địa phương đã bị họ yêu cầu dừng. Vấn đề quan trọng ở chỗ, phải làm cho ai đó có muốn cũng không thể banh được lỗ kim pháp luật. Đây là điều mà trong tuần này, ông Nguyễn Minh Thuyết, nguyên đại biểu Quốc hội, đã phần nào đề cập đến khi trả lời phỏng vấn báo chí xung quanh chuyện thế lực ngầm, hiện tượng bảo kê hiện nay. Đó là “cần có cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả...”, “các cấp cao nhất cần vạch ra được cơ chế kiểm soát quyền lực và mạnh dạn trao quyền thực sự ấy cho các tổ chức và người dân...”.

Quay lại buổi họp về việc “Phát hiện 40 biệt thự ở Sơn Trà xây sai...” nói trên, chủ tịch Đà Nẵng đã yêu cầu chính quyền cơ sở quản lý địa bàn rút kinh nghiệm, phải tiến hành kiểm tra dù cho đó là dự án của đơn vị nào. Ông nói: “Từ nay mấy anh phải vào kiểm tra hết, đừng thấy công ty to, dự án lớn mà ngại. Mình có trách nhiệm quản lý địa bàn thì mình vào kiểm tra. Cứ theo trình tự mình vào làm”.

Với những gì đang diễn ra trong thực tế xã hội hiện nay, để cán bộ, công chức có thể không “ngại” thì bản thân họ phải không có gì để ngại (vì mình trong sạch) và không có gì khiến họ phải ngại (như ngại dự án, doanh nghiệp đã được ai đó bảo kê, chẳng hạn). Mà đã là cán bộ, công chức, thì từ trên xuống dưới, đó là công vụ. Một khía cạnh của kiểm soát quyền lực mà ông Thuyết nói, cần được trao cho những “người câu cá” - người dân, không chỉ dừng lại ở quyền được phát hiện sai phạm mà còn ở quyền giám sát xử lý sai phạm và... bỏ phiếu cho quá trình đó.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Bảy, 25 tháng 3, 2017

Chuyện nâng tầm cao và đi vào chiều sâu


Không phải tình cờ, Việt Nam vừa có cuộc đón tiếp trọng thể, gần như cùng lúc, người đứng đầu của hai nước Israel và Singapore. Cũng giống như mọi cuộc đón khách cấp nhà nước, đủ nghi lễ trọng thị, hội đàm, hội kiến, bắt chân bắt tay, mời nhau sang thăm, nhận lời và cười vui vẻ.

Điều đáng nói, đây là hai nước nhỏ. Nhưng nhỏ mà không nhỏ, nhỏ mà có võ, bé hạt tiêu. Rất giàu và mạnh, vào loại hàng đầu thế giới, tiếng nói rất có sức nặng, giá trị. Cả hai nước được hàng trăm quốc gia trên quả địa cầu này coi là hình mẫu, đích phấn đấu của mình. Ở chừng mực nào đó, ngay cả Mỹ, Nhật Bản, Đức, Anh, chứ chưa cần kể ra Nga, Trung Quốc, Pháp, Hàn, cũng phải học tập họ (Israel, Sing).

Để trở thành giàu có, Israel và Singapore chỉ trước sau đi theo con đường phát triển kinh tế tư bản, chưa có 1 phút vướng vào lối đi kinh tế xã hội chủ nghĩa.

Hai nước này vốn cực kỳ nghèo tài nguyên. Không có rừng vàng biển bạc. Không có lợi thế núi tiền chôn dưới lòng đất. Chỉ có sa mạc, nắng cháy, cát bỏng (như Israel), đất đai chật chội, ngay cả nước cũng cực kỳ thiếu thốn, phải tiết kiệm từng giọt (cả hai nước). Dân ít, nguồn lao động không dồi dào. Luôn bị nước ngoài đe dọa đánh nhau, phải căng ra mà chống đỡ (Israel)… Có nghĩa là để đi lên được, trở thành giàu có, mạnh mẽ không dễ chút nào. So với họ, xứ này còn thuận lợi hơn nhiều.

Nay thì hai nước ấy nằm trong tốp đầu của những nước giàu có nhất thế giới, còn xứ ta thì ai cũng biết, chả cần nói ra đây.


Trước kia thì còn bảo tại chiến tranh, đổ cho chiến tranh và hậu chiến. Giờ đã qua gần nửa thế kỷ rồi, đổ vậy không ổn, bèn đổ cho… Trung Quốc. Lý do, ở bên cạnh nó, nó nham hiểm, nó phá phách, nó đạp thúng đụng nia, nó v.v.. Tức là tại khách quan hết, không phải tại mình. Mình lúc nào cũng đúng, đường mình đi chả bao giờ sai.

Tôi nhận thấy, khi khen nhau đãi bôi mấy câu vừa lòng chủ khách, ngoại trừ khách là mấy ông Trung Quốc, Lào, Cuba, Triều Tiên, thì chưa có vị khách nào đứng đầu nước khác lại khen Việt Nam thành công nhờ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Họ chỉ chúc mừng những thành tựu Việt Nam đã đạt được, hy vọng đạt được nhiều hơn nữa (văn mẫu nó vậy). Cứ qua hai ông Tổng thống Israel Reuven R.Rivlin và Thủ tướng Lý Hiển Long nói gì mấy ngày vừa rồi là rõ ngay.

Một quốc gia muốn độc lập, tự chủ thì quốc gia ấy phải mạnh. Muốn mạnh thì phải chọn con đường đi đúng. Nhỏ và nghèo như Israel và Singapore nhưng họ đã chọn đường đi đúng nên đã thành công. Nâng tầm cao và đi vào chiều sâu phải như thế.

Xứ này cứ miệt mài dấn bước vào con đường mịt mờ chủ nghĩa xã hội, đi mà không biết sẽ tới đâu, ru ngủ là chính, tự lừa mình, lừa nhau, lừa dân, cứ đi, đi mãi không đến đích. Dù có lý sự bảo rằng đó là áp dụng sáng tạo vào hoàn cảnh Việt Nam, mang đặc trưng, bản sắc Việt Nam, kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa… mà cứ hết thập niên này đến thập niên khác trôi đi trong vô vọng, thử hỏi được cái gì.

Một đường lối đã chọn, đi từ hết đói nghèo này đến nghèo đói khác, có đáng để tồn tại, dây dưa, dai dẳng mãi không?

Đảng muốn cầm quyền, cứ cầm quyền, nhưng lôi cả dân tộc vào cuộc thí nghiệm thế kỷ không có kết thúc thì quả thật nhẫn tâm. Xung quanh ta, thế giới tiến lên vùn vụt, còn ta cứ loay hoay với mớ bòng bong chủ nghĩa xã hội, nếu là kẻ có trí, thức thời thì chả thế bao giờ.

Muốn biết con đường các vị chọn có đúng hay không, ai hơi đâu tranh cãi làm chi, mà chả thể nào cãi nổi kẻ cai trị có vũ lực, cách đơn giản nhất là tổ chức cuộc trưng cầu dân ý đàng hoàng, khách quan, tử tế để dân lựa chọn.

Dân chúng không cần đường lối chính trị này nọ. Họ thiết thực, họ chỉ cần dân giàu nước mạnh, hạnh phúc, tự do. Cái gì đem đến những điều ấy thì họ chọn. Họ muốn nó có trên đời chứ không nằm mãi trong mấy câu khẩu hiệu.

Nguyễn Thông

Phần nhận xét hiển thị trên trang

'Tôi từng viết mà không được xuất bản'


Quốc Phương
BBC - Thế giới 'không còn hiền như xưa' và tất cả mọi thứ 'đã thay đổi, kể cả người đọc', nhà văn Đỗ Hoàng Diệu từ Hoa Kỳ chia sẻ với BBC hôm 11/3/2017 về sáng tác, xuất bản, văn chương và bạn đọc.

'Người đói sách đói chữ, vớ gì cũng đọc ngốn ngấu và nâng niu sách như vàng ngọc không còn nhiều', tác giả của các tác phẩm như Bóng Đè, Lam Vỹ v.v... nêu quan điểm với BBC.

Hé lộ về thế giới thầm kín 'bếp núc' về sáng tác sau những tác phẩm của mình, nhất là qua giai đoạn trên dưới một thập niên gần đây, nhà văn cho hay:

"Có "nhà phê bình mậu dịch" cứ thỉnh thoảng lại "cấu" tôi một nhát đâu đó trên truyền thông bằng cách dẫn tên tôi ra làm minh chứng cho sự chết yểu của ngòi bút. Họ đâu biết trong cả thập kỷ đó, tôi vẫn viết mà không được xuất bản."

Mời quý vị theo dõi toàn văn cuộc phỏng vấn của BBC Việt ngữ với nhà văn Đỗ Hoàng Diệu, được thực hiện qua bút đàm, sau đây:

BBC: Được biết nhà văn đang chuẩn bị có một tác phẩm mới ra mắt, nếu có thể 'bật mí' được ít nhiều, tác phẩm này có gì đặc sắc và khác so với những tác phẩm trước của bà?

Nhà văn Đỗ Hoàng Diệu: Bóng Đè xuất bản năm 2005. Tận cuối năm ngoái, tức 11 năm sau cuốn thứ hai của tôi - tiểu thuyết Lam Vỹ mới trình làng. Đa phần cho rằng tôi đã "tịt". Thậm chí có "nhà phê bình mậu dịch" cứ thỉnh thoảng lại "cấu" tôi một nhát đâu đó trên truyền thông bằng cách dẫn tên tôi ra làm minh chứng cho sự chết yểu của ngòi bút. Họ đâu biết trong cả thập kỷ đó, tôi vẫn viết mà không được xuất bản. Nên anh hỏi về tác phẩm mới, nếu nói bản thảo thì đúng là có, còn ra mắt lại là chuyện khác. Chỉ biết nó là tập truyện ngắn, tác phẩm mà tôi muốn làm cầu nối giữa tiểu thuyết Lam Vỹ đã xuất bản và tiểu thuyết Bệnh Ngứa còn dở dang.

'Tự kìm mình khi viết'

BBC: Về tác giả, Đỗ Hoàng Diệu ở tác phẩm mới này so với chính tác giả ở những lần sáng tác trước thế nào? Sáng tác ở hải ngoại và sáng tác ở Việt Nam có khác nhau nhiều lắm không ở bà, và nếu có thì ra sao, vì sao?

NVĐHD: Tác phẩm đầu tay - Bóng Đè, tôi viết năm 26 tuổi không rào cản, không kềm hãm nên bung phá, tuôn trào. Cuốn tiểu thuyết Hầm Mộ (chưa được xuất bản) của những năm tuổi ba mươi đã va vấp, đã "nếm đòn" từ nhiều phía thành ra không còn nhiều xúc cảm khơi khơi. Tiểu thuyết Lam Vỹ ra mắt năm ngoái, tôi coi như làn khói mỏng, một nỗi buồn dài. Vì sao? Bởi viết nhanh, viết dễ dàng quá. Độc giả nói khó đọc làm tôi hơi ngạc nhiên. Cuốn tiểu thuyết đó với tôi, giống mòn gà luộc gà hấp mà bất cứ người Việt Nam nào cũng có thể ăn, nhưng độc giả vẫn phê bình khó hiểu. Người viết thường có xu hướng viết thứ mình thích đọc, tôi không thể viết khác. Bởi viết suy cho cùng trước tiên là viết cho mình.

Những truyện ngắn mới, vẫn thế, vẫn là tôi. Đâu đó, người ta hay kêu nhà văn phải thường xuyên đổi mới, phải viết nhiều thể loại khác nhau, phải hiện đại hậu hiện đại để theo kịp nọ kia. Tôi nghi ngờ điều đó. Đồng ý, không chỉ viết văn mà bất cứ việc gì cũng cần làm mới. Với viết văn, theo tôi mới là tác phẩm sau viết chắc tay hơn, ngôn ngữ đẹp hơn, mổ xẻ tâm lý nhân vật sâu hơn... chứ không hẳn phải thay đổi phong cách. Vì thực chất mỗi người viết chỉ có duy nhất một phong cách nhất quán từ đầu tới cuối. Không khí trong truyện của Nguyễn Bình Phương vẫn mù đặc và buồn bã như vậy từ cuốn đầu tiên cho tới cuốn mới nhất. Và anh ta là một trong những nhà văn hiện đại xuất sắc nhất.

BBC: Nếu có ai đó cho rằng chỉ có tác giả và nhà xuất bản, những người biên tập và chịu trách nhiệm xuất bản mới biết rõ nhất 'những bí mật' giữa họ, và nếu đó là sự 'kiểm duyệt' hay 'thỏa hiệp' giữa tác giả với bên xuất bản, qua tất cả những gì mà bà đã sáng tác và xuất bản tới nay, nhà văn thấy có điều gì đáng nói nhất?

Nhà văn Đỗ Hoàng Diệu: Vấn đề này ở các nước phát triển khá đơn giản. Anh gửi bản thảo đến nhà xuất bản, một là họ từ chối, hai là họ sẽ liên hệ với anh để bắt đầu quá trình biên tập. Và những từ như nhạy cảm, húy kị, lãnh tụ, đảng, an ninh văn hóa... chắc chắn không xuất hiện trong trao đổi giữa hai bên.

Khi biết tôi đã tự kìm mình khi viết, đã tự cắt bỏ nhiều trang trước khi gửi bản thảo tiểu thuyết Lam Vỹ tới nhà xuất bản, nhiều người không bằng lòng, thậm chị tức giận. Xin lỗi đã làm ai đó buồn, nhưng viết mà tác phẩm không đến tay bạn đọc, tác phẩm im lìm trong ngăn kéo như một tử thi và tử thi giấy tử thi chữ tử thi ý nghĩ tử thi thông điệp đó sẽ từ từ mục ruỗng, chẳng phải cũng công không? Trong hoàn cảnh xã hội Việt Nam, sự quyết liệt của người viết nói riêng và người làm nghệ thuật nói chung nếu không khéo thành quá khích, thành con dao hai lưỡi. Bởi mục đích cuối cùng của một tác phẩm suy cho cùng vẫn là độc giả. Tôi đi giày gót vừa phải và nhích từng bước từng bước trên con đường sỏi đá lồi lõm chông gai còn hơn lênh khênh trên đôi cao gót và ngã bổ chửng ngay đoạn đầu tiên. Có thể như vậy là hèn nhưng tôi quan niệm đường nào nên ngựa nấy.

Một trong những biên tập viên số má nhất Việt Nam nói với tôi rằng nếu ông ấy kể lại "những câu chuyện biên tập", chắc chắn nhiều người sẽ không tin, sẽ cho rằng chuyện xảy ra đâu đó thời Stalin hay Mao Trạch Đông , không phải chuyện thế kỷ 21. Vậy chúng ta hãy chờ ông ấy, chắc cũng không lâu lắm nữa...

Muốn vượt thoát hay không?

BBC: Theo bà hình thức tự xuất bản trên mạng (chẳng hạn online, qua các kênh phát hành như amazon v.v...) có là một giải pháp trước những bức tường kiểm duyệt, kể cả áp lực dẫn tới tự kiểm duyệt'? Đâu là ưu và nhược của hình thức này? Có giải pháp nào khả dĩ hơn không?

Nhà văn Đỗ Hoàng Diệu: Thời đại này, anh có thể "tung" tác phẩm lên mạng chỉ vài chục giây sau khi gõ dấu chấm cuối cùng cho tác phẩm, thậm chí dấu kết thúc một chương một đoạn. Kiểu này lợi nhiều đường, và đúng là giải pháp hữu hiệu trước những bức tường kiểm duyệt nhưng để đến được với độc giả đang sống "bên trong" - những người "nên" những người "cần" đọc các tác phẩm có "vấn đề" thì không khả thi lắm. Vì tường lửa, vì dân thường có phải ai cũng dùng internet, cũng biết web này web kia. Đa phần lại vẫn người viết tự đọc lẫn nhau. Vâng, nhà văn có thể nói viết trước hết là cho mình, tự thỏa mãn mình. Vậy chức năng tố cáo hiện thực, đấu tranh cho cái này cái kia thì sao? Ai biết?

Mùa hè năm ngoái, có người nổi tiếng đã nói với tôi về việc thành lập một nhà xuất bản theo mô hình hợp tác xã toàn cầu khá thú vị. Hãy chờ xem.

BBC: Tiện thể xin hỏi từ góc độ của nhà văn, người sáng tác, bà nghĩ sao về thế giới độc giả hôm nay? Đặc biệt là độc giả trẻ và độc giả trên mạng? Có bao giờ bà nghĩ rằng độc giả thông thái và nghiêm khắc đang ngày càng thách thức người viết, hay chỉ là những người đồng hành của nhau?

Nhà văn Đỗ Hoàng Diệu: Thế giới không còn hiền như xưa. Tất cả mọi thứ đã thay đổi, kể cả người đọc. Người đói sách đói chữ, vớ gì cũng đọc ngốn ngấu và nâng niu sách như vàng ngọc không còn nhiều. Trên Facebook, một vài câu vô thưởng vô phạt có thể nhận hàng ngàn lượt thích nhưng nhiều bài viết công phu, đấy trí tuệ lại lèo tèo dăm ba. Rồi có khi bằng các từ ngữ tục tĩu, người ta dè bỉu các bài viết nghiêm túc là lên mặt dạy đời.

Thật may, mạng internet chỉ là một phần của mối tương quan người viết và người đọc rộng lớn. Tôi đã khá ngạc nhiên khi nhiều người ở độ tuổi ba mươi, thậm chí hai mươi nói rằng sách của tôi (thứ văn chương già nua, khó hiểu) là sách gối đầu giường của họ. Còn các giáo sư văn chương thì thổ lộ rằng bất chấp "định hướng" của ai đó, các thầy cô vẫn phân tích truyền dạy học trò các tác phẩm "có vấn đề".

Xã hội Việt Nam lúc này mang đặc trưng riêng nên ngay cả người đọc sách cũng khác người đọc ở các nước phát triển. Nhà văn lề trái lề phải lề trung dung, nhà phê bình chỉ điểm, độc giả phản động... Có lẽ trừ Trung Quốc, hiếm quốc gia nào có cách phân định văn chương "độc đáo" như Việt Nam.

Nhưng cũng chính nó lại là kho đề tài vô tận có một không hai cho các ngòi bút. Chỉ là người viết, anh có can đảm, có muốn vượt thoát hay không.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Luận thi ca



Nguyễn Duy Long
(TBKTSG) - Công chúng đến sau cứ ngỡ chỉ có Hoài Thanh và Vũ Ngọc Phan độc sáng trên nẻo đường phê bình văn học thời tiền chiến. Văn giới ít nhiều nhắc đến Đặng Thai Mai, Hải Triều, Thiếu Sơn, Trần Thanh Mại... Nhưng đâu chỉ bấy nhiêu. Bên cạnh đó, còn những gương mặt chìm khuất trên hành trình tư tưởng nửa đầu thế kỷ 20. Như Lương Đức Thiệp với Việt Nam thi ca luận (Khuê văn Xuất bản cục, Hà Nội, 1942).

Một khoảng lặng ròng rã đến ba phần tư thế kỷ. Quý vật phủ lớp bụi thời gian vẫn âm thầm hướng đến đời sống hiện tại. Năm 2016, Nhà Xuất bản Hội Nhà văn đưa Việt Nam thi ca luận trở lại cho độc giả thưởng ngoạn (1).

Vì sao Việt Nam thi ca luận lạc lõng bên lề sinh hoạt tri thức? Có lẽ chính là do vài uẩn khúc trong cuộc đời trầm luân của ông chưa được phép đưa ra bàn thảo và chiếu sáng. Nhà nghiên cứu Mai Anh Tuấn lý giải ngay trên nhan đề lời bạt bản in lần này Sự thất thế của “luận”: Vì không phù hợp với khuôn thưởng thức của số đông. Phải chăng, nếp nghĩ khác lạ bị sức ỳ quán tính của xã hội nặng về cảm tính và nhẹ về lý tính trói buộc? Chữ “luận” không dừng lại ở thưởng ngoạn như chữ “bình” mà đem lý lẽ vào phân giải mọi thứ. Ưu thế là đấy và nhược điểm có khi cũng là đấy. Nghịch lý đó giảm đi phần nào ma lực và cản trở tập sách đến với công chúng.

Cảm tưởng chung là một Lương Đức Thiệp hùng hồn và thẳng băng khác hẳn một Hoài Thanh thâm trầm “lấy hồn tôi hiểu hồn người”. Âm điệu Việt Nam thi ca luận nghe cứng cỏi, ngang ngạch mà không một chút thẹn thò, diệu vợi như Thi nhân Việt Nam. Nhưng viết phê bình thì lẽ nào giọng văn cợt nhả và khinh bạc lại không thể đạt chuẩn đức hạnh nghề nghiệp?

Tiếng nói trọng yếu trong Việt Nam thi ca luận là gì? Là điểm mặt chặng đường hình thành, vận động và tiếp nối của thơ Việt xưa nay (dẫu chưa được rõ nét). Là nhận diện thực trạng phân hóa cũng như đánh giá thành tựu và hạn chế của các dòng thơ (dẫu chưa thực sự hệ thống). Là tiếp cận lộ trình hiện đại hóa nền văn hóa đất nước, vạch ra sinh khí mới cho đường lối thực hành thơ ca và hy vọng xóa mờ khoảng cách giữa ứng dụng thực tiễn với nguyên lý sáng tác. Và rồi khám phá chiều kích nghệ thuật của tác phẩm, phân tích chí hướng và phẩm cách từng nghệ sĩ.

Chẳng hạn, với phái tả chân xã hội mà Tố Hữu đại diện định thể nghiệm một con đường thơ ca khác xưa nay, nhà phê bình điểm dẫn mấy câu thơ: “(...) Em sẽ cùng tôi đi bốn phương/Lâng lâng cất giọng hát vang lừng/Ngờ đâu giông tố dường như đã/Giam hãm thân tôi giữa bốn tường (...)”. Ông “châu phê” đây chỉ là ý nghĩ nhất thời đem gửi vào dòng chữ, vần điệu chứ chưa phải là xúc cảm thuần nhiên và tạo được giá trị nghệ thuật vĩnh viễn. “Con mắt tinh đời” của người xưa đáng để người đọc hôm nay giật mình và bâng quơ tự hỏi. Đâu là cảm xúc, tình tự kín đáo trong thơ? Đâu rồi suy tư, liên tưởng xa xôi trong thơ?

Dưới nhãn quan triết thuyết Marxist, Lương Đức Thiệp ghé soi cội nguồn giai cấp (mà ông gọi là đẳng cấp) của nghệ thuật. Thi ca phải định hướng tư tưởng thẩm mỹ quần chúng. Nhà văn không thể nào thoát ly khỏi được thời đại. Văn chương không nằm ngoài đời sống xã hội, lệ thuộc vào điều kiện kinh tế sinh hoạt bởi “dân sinh có quan hệ mật thiết đến nghệ thuật, đến văn hóa”.

Nhà phê bình dừng lại ở quan niệm giai cấp chứ không tuyệt đối hóa như tính giai cấp trong đường lối văn nghệ Marxist sau này. Ông nhỏ nhẹ nhưng dứt khoát về đường biên tương giao giữa nghệ thuật với chính trị. Làm gì mặc lòng, nhà văn phải có tư thế độc lập, không nên hùa theo định hướng của phe phái nào. Vì “(...) một khi xã hội đã thay đổi, ý kiến con người cũng thay đổi, các phe phái không còn đủ lẽ để tồn tại nữa”.

Không chỉ Việt Nam thi ca luận, Lương Đức Thiệp còn là chủ nhân của Văn chương và xã hội (1944) phân tích sự vận động xã hội theo quan điểm giai cấp.

Từ góc nhìn khác nhau sẽ là những đúng sai, những phải trái đôi khi mang tính quy ước mà không thể phân định thành chân lý tuyệt đối. Không có pha lê nào mà không tì vết. Kinh nghiệm thẩm mỹ năm xưa có thể phiến diện và ngộ nhận nhưng mời gọi lớp sau vươn mình tiếp cận vẻ đẹp thơ ca đích thực. Và không phải nhà phê bình nào cũng làm được điều đó.

(1) Việt Nam thi ca luận và Văn chương và xã hội (Đại học Thư xã 1944) (cũng của Lương Đức Thiệp) in chung dưới nhan đề Việt Nam thi ca luận và văn chương xã hội.


Phần nhận xét hiển thị trên trang