Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Sáu, 24 tháng 3, 2017

Phan Châu Trinh đã cổ xúy dân quyền như thế nào


Trần Long Vi

Ngày hôm nay, 24 tháng 3, là ngày giỗ lần thứ 91 của Phan Châu Trinh, một nhà lãnh đạo của phong trào dân quyền đầu thế kỷ 20.
Hôm nay, những thứ chúng ta đang có như chữ viết đã được Phan Châu Trinh cùng phong trào Duy Tân khi đó cổ xuý và phổ biến.
Phong trào Duy Tân không đơn giản là hô hào đòi dân quyền mà là một quyết tâm cải cách toàn diện, làm Mới Con Người, làm Mới Xã Hội.
Tiến sĩ Bùi Trân Phượng nhận xét: “Một điều đáng khâm phục là thế hệ sĩ phu đầu thế kỷ được đào tạo trong tinh thần nho học, theo tinh thần khoa bảng nhưng hiểu ra rằng phải có cuộc canh tân về giáo dục ở bề sâu. Hiểu ra rằng Việt Nam là một bộ phận của thế giới bao la chứ không chỉ là thế giới Hán hóa”.
Nhân ngày giỗ của ông, Luật Khoa xin giới thiệu bài viết về cuộc đời của Phan Châu Trinh gắn với phong trào Duy Tân.
Xin mượn lời của cố học giả Nguyễn Văn Xuân để mở đầu cho bài viết: “Duy Tân đối với chúng ta không mới mà nhất định chưa cũ. Đó là vấn đề ngày nay, ngày mai. Chúng ta còn phải học người xưa rất nhiều để thực hiện một cuộc Duy Tân vừa toàn bộ, vừa không xa rời Dân tộc tính, Nhân bản tính”.
Bài viết sử dụng nhiều tư liệu từ cuốn sách “Phong trào Duy Tân” do cố học giả Nguyễn Văn Xuân biên soạn và xuất bản năm 1970.
Chân dung Phan Châu Trinh. Ảnh: Chưa rõ nguồn.
Phan Châu Trinh sinh năm 1873 tại Tây Lộc, Tam Kỳ, Quảng Nam. Ông mất mẹ năm 6 tuổi và mất cha năm 13 tuổi. Cha ông là Phan Văn Bình, quản lý đồn điền và tiếp tế cho phong trào Cần Vương, một phong trào chống Pháp thời đó.
Lớn lên ông được dạy võ, học bắn súng tạo nên bản lĩnh vững vàng của một chiến sĩ trước khi thành văn sĩ. Ông là người nhiều tình cảm tuy rất nóng tính và khi tranh luận thì không bao giờ thiếu lý lẽ. Bản tính chống bất bình cá nhân của ông là bước căn bản để chống bất bình xã hội.
Thơ văn của Phan Châu Trinh gắn liền với đời sống nhân dân, thương kẻ nghèo, phê phán xã hội, ví dụ: “Thịt chuột thì ít, con nít thì nhiều”, “Lấy chi mà trả cái ân, lấy chi nạp cống ngân cho làng”, “nghênh ngang như làng không ông xã”.
Quan lại triều Nguyễn. Ảnh: Chưa rõ nguồn.
Phan Châu Trinh thi đỗ cử nhân năm 1900, đỗ Phó bảng năm 1901 rồi ra làm Thừa biện Bộ Lễ cho triều đình Huế. Trước đó, ông đã quen thân với Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp vì cùng là bạn học, cũng chính hai người này đã đẩy Duy Tân thành một đại phong trào.
Ra làm quan tại Huế, ông được tiếp xúc với nhiều tân thư từ Trung Hoa đưa sang như tư tưởng cách mạng của Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi hay các tư tưởng phương Tây của Rousseau, Montesquieu, Voltaire,… Những tân thư này đã góp phần hình thành tư tưởng dân quyền của ông.
Dân quyền lúc này là một ý tưởng cực kỳ mới. Phan Châu Trinh muốn vượt lên ý thức hệ cũ, đẩy vua quan vào hậu trường, đẩy Nho giáo vào tàng viện, đặt dân quyền lên ngai vàng, tức là ông muốn chấm dứt quan hệ văn hóa với nước Tàu, tiếp thu văn hóa Tây phương và thay đổi giáo dục, tập quán sinh hoạt của một xã hội còn tối ngòm.
Ông cho rằng: “Cái độc tài, chuyên chế cùng cái hủ nho của ta, đã thành chứng bệnh bất trị mà học thuyết tự do dân quyền Âu Tây chính là vị thuộc đắng đầu chữa bệnh đó.”
Phan Bội Châu (trái) và Cường Để. Nguồn ảnh: VTV.
Năm 1904, Phan Châu Trinh từ quan về Quảng Nam và lần đầu gặp Phan Bội Châu. Lúc này, Sào Nam (tức Phan Bội Châu) đến Quảng Nam để thành lập Hội Quang Phục, một hội bạo động để đánh đuổi Pháp, xây dựng chế độ quân chủ lập hiến. Hội bầu Cường Để là cháu đích tôn 4 đời của vua Gia Long làm hội chủ.
Tuy có cùng mục đích nhưng cách thức của hai ông trái ngược nhau. Đối với Phan Bội Châu thì sao cũng được, ai cũng tạm được, chỉ cần khôi phục quốc gia là được. Nhưng đối với Phan Châu Trinh phải là học thuyết, chủ trương, đường lối, phải là quảng đại quần chúng.
Sau lần gặp đó, Phan Bội Châu đi Trung Quốc rồi sang Nhật để gặp các nhà cách mạng giúp đỡ cho Hội Quang Phục, mặt khác đưa học sinh sang Nhật và sáng tác văn thơ đả kích chính phủ Pháp.
Phan Châu Trinh cùng Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp đi vào Nam để nắm tình hình và kết nối các nhân sĩ Nam kỳ. Lúc này Phong trào Duy Tân manh nha bắt đầu.
Một bao thư in hình Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu. Ảnh: Chưa rõ nguồn.
Sau khi Nam tiến về, Phan Châu Trinh đọc sách của Phan Bội Châu gửi về từ Nhật, có chỗ đồng ý có chỗ phản đối. Ông thấy cần gặp Sào Nam (Phan Bội Châu) để hỏi cho rõ, đồng thời cũng muốn hiểu rõ về mưu đồ của Nhật.
Trước lúc sang Nhật, Phan Châu Trinh ra Bắc để bàn kế duy tân với Lương Văn Can, Đào Nguyên Phổ, rồi vào Nghệ Tĩnh gặp Ngô Đức Kế, lúc này là lãnh đạo của phong trào Duy Tân tại Nghệ Tĩnh. Sau đó ông thuyết phục Hoàng Hoa Thám về tình thế hiện tại khó có thể bạo động nhưng bất thành.
Phan Châu Trinh gặp Sào Nam ở Nhật vào tháng 4/1906 nhưng ông sớm trở về nước do đường hướng hoạt động trái ngược nhau.
Phan Châu Trinh muốn dựa vào thế mạnh của Pháp vứt bỏ quân chủ, tuyên bố dân quyền, khi dân đã có quyền thì chuyện gì cũng làm được kể cả đánh Pháp, còn trông vào nước Nhật là hy vọng viển vông. Ngược lại, đối với Sào Nam thì lợi dụng quân chủ để đánh Pháp, nước nhà độc lập rồi mới bàn đến việc khác. Riêng chỉ có chuyện đưa du học sinh sang Nhật là Phan Châu Trinh ủng hộ.
Kể từ đó, xuất hiện từ hai luồng tư tưởng trái ngược nhau, hai tổ chức đối lập.
Ba năm sau, Nhật cấu kết với Pháp ra lệnh trục xuất du học sinh, Cường Để và Phan Bội Châu về nước. Phong trào Đông Du tan rã.
Trường thi triều Nguyễn, năm 1895. Ảnh: Le Perit Journal.
Sau khi về nước, Phan Châu Trinh đi diễn thuyết khắp nơi, chủ yếu là nói về sự viển vông khi nhờ Nhật giúp đỡ, ông nói : “Người mình không khai dân trí, liên lạc đoàn thể để làm cơ sở mà chỉ ngồi trông người ngoài: cái bệnh dục tốc kiến tiểu (muốn cho nhanh để đạt được mục tiêu), không ích gì mà lại có hại”.
Ông quyết định liên lạc với chính quyền Pháp để công khai và hợp pháp hóa tư tưởng và hoạt động của phe mình. Tháng 8/1906, ông viết “Đầu Pháp chính phủ thư”, được xem như tuyên ngôn của phong trào Duy Tân.
Bức thư gây tiếng vang lớn, nêu lên nỗi cùng cực của dân nghèo, thực dân dung túng quan lại, quan lại thì ức hiếp nhân dân, đẩy nhân dân vào bước đường cùng “tát hết nước mà bắt cá”. Ông cũng nêu cách giải quyết rành mạch: trọng dụng nhân tài, quan lại thưởng phạt rõ ràng, mở đường sinh nhai cho dân nghèo, mở rộng báo chí, bỏ khoa cử, cải cách pháp luật, thuế má và giáo dục.
Những cải cách đó không trông cậy mỗi vào Pháp, phong trào Duy Tân đã tự gánh vác, nhân sĩ khắp miền cùng bắt tay thực hiện.
Công ty Liên Thành, thành lập năm 1906. Ảnh: Wikipedia.
Như vậy, năm 1906, phong trào Duy Tân được phát động không chỉ trong Quảng Nam mà ra cả Trung Nam Việt.
Khí thế của phong trào đã lên, tư tưởng, chí hướng và phương pháp đã có, các nhân sĩ tự gánh vác công việc nhưng vẫn có liên kết. Nhiều tổ chức được thành lập như thương hội, nông hội, trường học, hội mặc đồ tây, hội diễn thuyết…
Một đợt sóng phong trào dân sự cấp tiến nở rộ.
Nổi tiếng khi đó có bài ca “Khuyến học” của Trần Quý Cáp, tóm tắt phần lớn tư tưởng Duy Tân: (1) xây dựng một nền giáo dục toàn diện, học đúng đường để làm rạng danh dân tộc; (2) thế giới mạnh thắng, yếu thua, nước muốn mạnh phải giàu, đạt được giàu mạnh phải khôn, khôn là từ học mà ra; (3) dùng chữ quốc ngữ để phổ cập dân chúng; (4) phải biên dịch sách để mở mang đầu óc; (5) hiệp thương, hùn vốn mở công ty để tự thân tự lực.
Thương hội là bộ mặt rất nổi của Duy Tân. Bấy giờ nhân sĩ đứng ra buôn bán là một điều mới mẻ, vì sĩ phu thường coi khinh tiền bạc. Công việc kinh doanh vào tận miền trong rồi ra miền ngoài. Nhân sĩ coi đó là quốc thương, đóng tiền lời của thương hội để phát triển giáo dục và xã hội.
Liên Thành là một công ty do Phan Châu Trinh và Nguyễn Trọng Lợi sáng lập, thương hiệu còn tồn tại đến ngày nay, ngoài ra còn có Hồng Tân Hưng, Minh Tân khách sạn ở Sài Gòn, Tân Hợp Long ở Long Xuyên…
Lớp nữ sinh Trường Đông Kinh Nghĩa Thục. Ảnh: Chưa rõ nguồn.
Phan Châu Trinh rất có tài diễn thuyết, mỗi lần diễn thuyết dân chúng kéo đến xem rất đông. Hội diễn thuyết là do Phan Châu Trinh lập, không chỉ để truyền bá tư tưởng dân quyền mà còn để kêu gọi quốc dân hưởng ứng nền tân học, học pháp văn, chữ quốc ngữ, xã hội đông tây, kinh tế, địa lý và trở thành con người hữu dụng.
Nhiều trường lớn được lập ra như Diên Phong, Phước Bình, Phú Lâm, Quảng Phước… Người dạy đều tự lực cánh sinh, không có lương bổng, trường học thiếu thốn vậy mà rất nhiều người tìm đến học.
Phong trào Duy Tân đã để lại một cải cách lớn trong giáo dục Việt Nam. Các trường được lập ra nhằm đào tạo người có tư tưởng, yêu nước, mở trí não để làm ra của cải, giáo dục lý thuyết lẫn thực hành gắn chặt với đời sống nông nghiệp. Nhà trường không chỉ đào tạo trí thức, mà còn đào tạo tính khí, nhân cách và lý tưởng.
Trường học còn được mở rộng ra các miền khác nhau, điển hình có Đông Kinh Nghĩa Thục ở Hà Nội, vốn có thanh thế rất lớn do được tập trung đầu tư, nhiều lãnh tụ tham gia và khoảng 700 học sinh theo học. Lập Đông Kinh Nghĩa Thục cũng là ý của Phan Châu Trinh để giải tỏa áp lực cho các tỉnh trung kỳ.
Có thể nói mô hình giáo dục của phong trào Duy Tân khá toàn diện.
Cảnh cúp tóc. Ảnh: Chưa rõ nguồn.
Bên cạnh giáo dục, phong trào còn xóa bỏ những sinh hoạt lạc hậu, cản trở hoạt động như để móng tay dài, quần áo luộm thuộm, ăn trầu. Tuy nhiên, cắt tóc là việc làm trước tiên, mà trước hết là các nhà nho là người đi đầu với bộ tóc ngắn, gây xúc động mạnh mẽ và có những ảnh hưởng rất tốt.
Thời đó, phong trào cắt tóc đang lên. Tóc ngắn là dấu hiệu của những người theo tư tưởng mới. Nhiều thanh niên sắm cho mình một cái kéo, đi tuyên truyền và vận động cắt tóc, vừa cắt tóc vừa đọc vè:
Cúp hề! cúp hề!
Tay mặt cầm kéo, tay trái cầm lược
Đũng đĩnh cho khéo

Bỏ cái ngu mày, bỏ cái dại mày
Học theo người Tây
Hãy còn ăn mặn, hãy còn nói láo

Phen này ta cúp, phen này ta cạo
Học sinh trường làng còng lưng viết chữ Hán. Ảnh: Chưa rõ nguồn.
Các nhà Duy Tân còn phải tập nhiều thói quen mới từ việc bỏ mặc cái áo dài lượt thượt sang mặc đồ Tây. Phan Châu Trinh có lẽ là nhà nho mặc đồ Tây đầu tiên đến nổi thành mốt; cạo trắng răng; bỏ tục ăn trầu phun nhổ kém vệ sinh; tập cầm bút sắt khác với bút lông; ngồi bàn viết thay còng lưng trên phản; tập đi giày, thắt cà vạt; tập tranh luận có phương pháp; tập bắt tay; lập tổ chức mới phải có chủ trương, phân công và tổ chức rõ ràng.
Phổ biến chữ quốc ngữ là công việc có ý nghĩa lớn lao nhưng cũng lắm gian nan. Sự ảnh hưởng của nho học lúc này còn lớn, chữ quốc ngữ lại mang dáng dấp phương Tây nên bị nhiều người nguyền rủa, tẩy chay. Lợi thế của chữ quốc ngữ là học nhanh, lại dùng tiếng Việt để suy luận rồi viết nên nhanh hơn, thích hợp để phổ cập cho quần chúng, còn chữ Hán phải mất 8, 9 năm mới hiểu được.
Từ những con người trì trệ, kiểu cách, khinh đời, nhà nho mới trở nên linh hoạt, tự nhiên, gần gũi với nhân dân. Vậy là đã xuất hiện một thành phần nhà nho cấp tiến muốn đoạn tuyệt, muốn rời bỏ quá khứ, bỏ cái thói giáo điều.
Họp chợ quê ở Phú Yên năm 1905. Ảnh: Chưa rõ nguồn.
Tháng giêng năm 1908, dân biến bắt đầu phát ra ở Đại Lộc, Quảng Nam do tri huyện dùng sưu thuế hà hiếp dân nghèo.
Dân nghèo các xã được lấy chữ ký xin giảm thuế, rồi đến gặp tri huyện nhờ trình lên tỉnh. Tri huyện lúc này hoảng sợ bỏ chạy lên tỉnh rồi lên Tòa công sứ Pháp ở Hội An. Dân ùn ùn kéo nhau lên Tòa công sứ, ngồi lỳ không đi.
Đất Hội An là nơi buôn bán, tin tức truyền đi khắp nơi, tin giả sẽ được miễn thuế cho xã này xã kia lan ra, thành thử dân chúng kéo đến ngày một đông. Ai đi xin xâu (sưu) cũng cắt tóc ngắn, trở thành một dấu hiệu của phong trào.
Hoạt động của nhân dân rất có tổ chức. Hết lớp này tọa kháng xong về nghỉ, lại đến lớp khác đến thay, được tiếp tế cơm nước nên ngày càng dai dẳng. “Cơm đùm, cơm gói xuống nha/Rủ nhau kéo hết xuống tòa xin xâu”. Theo Phan Châu Trinh có ngày lên đến 6.000 người, có bài văn tế ghi là 8.000 người, là con số kỷ lục thời ấy vì dân cư còn thưa thớt.
Ông Ích Đường một trong nhiều lãnh đạo nhóm dân trong dân biến tại Quảng Nam. Ảnh: Chưa rõ nguồn.
Tin dân Quảng cúp tóc xin xâu lan đi khắp nơi từ Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yến đến Nam Định, Nghệ An, Thanh Hóa. Đâu đâu cũng có cúp tóc xin xâu, trở thành “dân biến kháng thuế”.
Đụng vào sưu thuế là đụng vào nồi cơm của Pháp. Thực dân ra tay đàn áp khốc liệt, đoàn người xin xâu tan vỡ, lệnh giới nghiêm được ban hành. Thời kỳ khủng bố trắng bắt đầu.
Dân biến kháng thuế là thành tựu lớn nhất của phong trào Duy Tân, là khi tư tưởng dân quyền của phong trào đã phổ biến và tác động rộng rãi trong dân chúng.
Tư tưởng dân quyền đã soi sáng người dân. Nhưng tư tưởng để làm gì khi phải è cổ ra đóng thuế, nên dân phải trỗi dậy thực hành cái dân quyền của mình. Dân chỉ van xin gào thét, thỉnh cầu, đày đọa thân xác chứ nhất định không bạo động. Phan Châu Trinh đã nói: “bạo động tất tử”.
Tuy các nhà lãnh đạo phong trào Duy Tân không lãnh đạo trực tiếp “cắt tóc xin xâu” nhưng các cụ là người chủ trương về chiến lược. Các sĩ dân đã hành động quá tích cực, vượt khỏi dự liệu của những người chủ trương.
Phan Châu Trinh 37 tuổi, lúc mới ra tù tại Côn Đảo. Ảnh: Chưa rõ nguồn.
Sau dân biến tháng 4 năm 1908, Pháp thẳng tay đàn áp, bắn, chém dân và giam các sĩ phu, dùng mọi phương cách để tiêu diệt lực lượng mới nổi này.
Các lãnh đạo của phong trào Duy Tân mặc dù không trực tiếp điều hành nhưng đều bị liên lụy. Huỳnh Thúc Kháng bị bắt, Trần Quý Cáp bị xử tử. Phan Châu Trinh cũng bị bắt từ Hà Nội đưa về Huế (4/1908) nhưng do đối đáp rành mạch, lại có sự sự bảo hộ của Hội Nhân quyền nên chỉ bị đày đi Côn Lôn.
Trang sử của phong trào đến đây tạm kết thúc.
Xin mượn lời của học giả Nguyễn Văn Xuân để kết lại phong trào Duy Tân: “Những kẻ, những tổ chức rành rỗi về chính trị không sợ những cá nhân dù cá nhân ấy tài giỏi tới đâu. Họ không sợ những trí thức dù trí thức ấy ồn ào, la hét om sòm gây xúc động. Nhưng họ rất sợ quần chúng khi quần chúng đứng lên. Và nhất là quần chúng có lãnh đạo, có tổ chức, có sách lược tranh đấu, có mục tiêu hướng tới”.
Phan Châu Trinh và con trai Phan Châu D­ật tại Pháp. Ảnh: Tư liệu gia đình.
Hai năm sau khi Phan Châu Trinh bị đày đi Côn Đảo, Hội Nhân quyền Pháp đã can thiệp để ông được tự do, nhưng ông bị giam lỏng ở Mỹ Tho.
Không chịu cảnh mất tự do, ông viết thư cho Toàn quyền Đông Dương yêu cầu một là được sang Pháp, hai là trở lại Côn Đảo. Năm 1911, chính quyền Đông Dương cho Phan Châu Trinh sang Pháp cùng con trai là Phan Châu Dật.
Sang Pháp, ông ở nhà luật sư Phan Văn Trường, tiếp tục tranh đấu cho dân quyền. Ông gặp gỡ, thảo luận với Kiều bào và cả người Pháp ủng hộ tự do, dân chủ. Cũng vì thế, chính quyền Pháp cắt trợ cấp của ông và học bổng của con trai. Phan Châu Trinh tin rằng muốn tự do tư tưởng thì phải tránh lệ thuộc vào kinh tế, nên ông sinh sống bằng nghề rửa ảnh.
Cuộc sống ở Pháp tuy vất vả nhưng chí khí của ông vẫn không giảm. Năm 1914, ông bị bắt giam do nghi ngờ dính líu đến Đức nhưng sau đó được đảng Xã hội Pháp can thiệp nên được thả. Trong thời gian này, Phan Châu Trinh đã gặp gỡ Nguyễn Tất Thành và thành lập Hội người Việt yêu nước tại Pháp.
Ông luôn tận dụng cơ hội để tranh đấu cho người dân trong nước. Năm 1919, ông cùng với Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn Tất Thành soạn “Bản Yêu sách của nhân dân An Nam” gửi cho Hội nghị Versailles, ký tên chung là Nguyễn Ái Quốc.
Năm 1920, ông hội kiến với Bộ trưởng Bộ Thuộc địa của Pháp đòi cải cách chính trị Đông Dương. Khi vua Khải Định sang Pháp, Phan Châu Trinh đã viết “Thất điếu thư”, 7 điều buộc tội Khải Định và khuyên vua về nước để không làm nhục quốc gia.
Đám tang Phan Châu Trinh tại Sài Gòn năm 1926. Ảnh: Chưa rõ nguồn.
Đến cuối tháng 5 năm 1925, Phan Châu Trinh cùng nhà cách mạng trẻ Nguyễn An Ninh xuống tàu rời nước Pháp về lại Sài Gòn. Ông Ninh đưa Phan Châu Trinh về khách sạn của cha mình là Chiêu Nam Lâu để tá túc, gần với phố Nguyễn Huệ bây giờ.
Không lâu sau, cụ rời Sài Gòn về Mỹ Hòa, Hoóc Môn, nhà của cha Nguyễn An Ninh, để tiện đón tiếp bạn bè và chữa bệnh.
Mặc dù sức yếu, nhưng ông vẫn diễn thuyết thêm hai đề tài là Đạo đức và Luân lý Đông tây, Quân trị chủ nghĩa và dân trị chủ nghĩa, làm thức tỉnh nhiều người trẻ tại Sài Gòn.
Ngày 24 tháng 3 năm 1926, Nguyễn An Ninh bị bắt tại nhà. Đêm hôm đó lúc 9 giờ 30, Phan Châu Trinh qua đời tại Chiêu Nam Lâu khi vừa mới 53 tuổi.
Đám tang của ông được cử hành tại Sài Gòn. Hơn 60.000 người đã đến dự và lễ truy điệu được các sĩ phu tổ chức khắp cả nước.
“Đám tang cụ Phan Châu Trinh từ đây đi đến nghĩa địa Gò Công là sự bày tỏ tâm tư, ước vọng lớn nhất về đất nước, cuộc sống xã hội của người Việt Nam ở Sài Gòn, một đám tang khổng lồ với lượng người đi rước, các cửa tiệm của người Việt ở Sài Gòn – Chợ Lớn đều đóng cửa, mà báo chí Pháp nói ngày đó là ngày Việt Nam thức tỉnh”. (*)
* Bài có sử dụng ảnh bìa của Tủ sách Nền Tảng Đổi Đời, có chỉnh sửa. 
Tài liệu tham khảo:
1. Phong trào Duy Tân (Nguyễn Văn Xuân, NXB Lá Bối)
2. Phan Châu Trinh và cuộc đời cách mạng (Báo Đà Nẵng)3. Cụ Phan Châu Trinh và Phong trào Duy Tân (RFA)
(*). Sài Gòn – Chợ Lớn: Ký ức đô thị và con người (Nguyễn Đức Hiệp, NXB Văn hóa – Nghệ thuật)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Số phận 10 nhân vật quyền lực nhất Sài Gòn xưa sau 1975


Theo Kiến thức

Số phận của họ đi theo những ngả đường khác nhau, người ở lại đất nước và được trọng dụng, người ra đi và sống lặng lẽ nơi xứ người…

1. Nguyễn Văn Thiệu

Nguyễn Văn Thiệu (1923-2001) là Tổng thống chế độ Sài Gòn từ 1967-1975. Đêm 25/4/1975, ông rời VN đi Đài Loan dưới danh nghĩa phúng điếu Tưởng Giới Thạch, rồi bay thẳng sang Anh định cư. Đầu thập kỷ 1990, ông Thiệu chuyển sang sống tại Foxborough, Massachusetts, Mỹ và sống một cuộc sống thầm lặng trong quãng đời còn lại ở đây. Ông qua đời ngày 29/9/2001, sau khi đột quỵ tại nhà riêng ở Foxborough, thọ 78 tuổi.

2. Dương Văn Minh

Dương Văn Minh (1916-2001) là Tổng thống cuối cùng của chế độ Sài Gòn. Sau năm 1975, ông sống tại TP Hồ Chí Minh, cho đến năm 1983 thì sang Pháp định cư. Nhưng ngay sau đó, ông lại chuyển sang California (Mỹ), sống với gia đình con gái. Ông qua đời ngày 6/8/2001, thọ 86 tuổi. Thời gian cuối đời, Ông Dương Văn Minh đã bày tỏ mong muốn được trở về quê hương và sống như một người dân Việt Nam bình thường.

3. Trần Văn Hương

Trần Văn Hương (1902-1982) là cựu Thủ tướng (1964–1965; 1968–1969), phó tổng thống (1971-1975), rồi Tổng thống trong thời gian 7 ngày (21-28/4/1975) của chế độ Sài Gòn. Sau 1975, ông chọn ở lại quê hương, tiếp tục sống ở căn nhà của mình ở Sài Gòn. Những năm tháng cuối đời, ông sống chung với em gái, em rể, và người con trai lớn là Lưu Vĩnh Châu – từng là một đại úy Quân đội Nhân dân Việt Nam, đã tham gia trận Điện Biên Phủ. Ông mất ngày 27/1/1982, hưởng thọ 80 tuổi.

4. Nguyễn Cao Kỳ

Nguyễn Cao Kỳ(1930-2011) là một sĩ quan cao cấp và là cựu Thủ tướng và Phó Tổng thống của chế độ Sài Gòn. Năm 2004, ông đã về thăm quê hương trong tinh thần hòa giải dân tộc. Ông mất ngày 23/6 tại một bệnh viện ở Malaysia, thọ 81 tuổi.

5. Nguyễn Xuân Oánh

Nguyễn Xuân Oánh (1921–2003), là cựu Phó Thủ tướng kiêm Thống đốc Ngân hàng, 2 lần là quyền Thủ tướng trong chính phủ Sài Gòn. Sau 1975, ông tiếp tục được chính quyền mới trọng dụng. Trong tiến trình Đổi mới cuối thập niên 1980, ông đã có đóng góp lớn vào việc cải cách các lĩnh vực ngân hàng, tài chính, đầu tư nước ngoài… tại VN. Ông từng là cố vấn kinh tế cho Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, Thủ tướng Võ Văn Kiệt và cũng là Đại biểu Quốc hội, Ủy viên UBTW Mặt trận Tổ quốc VN. Ông mất ngày 29/8/2003 tại TP HCM.

6. Vũ Văn Mẫu

Vũ Văn Mẫu (1914-1998) là một chính trị gia kiêm học giả về ngành luật nổi tiếng ở Sài Gòn trước năm 1975. Ông từng giữ chức vụ Bộ trưởng Ngoại giao rồi Thủ tướng của chế độ Sài Gòn. Sau 1975, ông ở lại VN trong một thời gian, rồi sau đó sang Pháp và định cư ở đây cho đến tận cuối đời. Ông Vũ Văn Mẫu mất ngày 20/8/1998 tại Paris, thọ 84 tuổi.

7. Nguyễn Hữu Có

Nguyễn Hữu Có (1925-2012) là cựu Phó thủ tướng kiêm tổng trưởng Quốc phòng và tổng tham mưu trưởng quân lực chính quyền Sài Gòn. Sau năm 1975, ông ở lại VN và phải đi cải tạo đến năm 1987. Tuy vậy, đến cuối năm 2004, ông được bầu làm Ủy viên UBTW Mặt trận Tổ quốc VN và được chính phủ VN xem như một biểu tượng của sự hòa giải dân tộc, xóa bỏ hận thù của 30 năm chiến tranh. Ông mất tại TP HCM ngày 3/7/2012, hưởng thọ 87 tuổi. Trong ảnh là vợ chồng ông Nguyễn Hữu Có, chụp vào tháng 2.2012.

8. Trần Văn Đôn

Trần Văn Đôn (1917-) là tướng lĩnh cao cấp của Quân lực Sài Gòn và là Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Quốc phòng trong nội các cuối cùng của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Vào ngày 29/4/1975, ông là một trong những người di tản trên chuyến trực thăng nổi tiếng của Mỹ xuất phát từ tầng thượng tòa nhà 22 phố Gia Long (nay là phố Lý Tự Trọng) ở Sài Gòn. Sau đó, ông sang Pháp định cư và sinh sống ở đó cho tới nay.

9. Cao Văn Viên

Cao Văn Viên (1921-2008) là 1 trong 5 người được phong hàm đại tướng quân lực chế độ Sài Gòn. Ông là vị tướng giữ chức vụ Tổng Tham mưu trưởng trong thời gian lâu nhất (1965-1975) và cũng là người cuối cùng giữ cương vị này của chế độ Sài Gòn. Năm 1975, trước các thất bại quân sự, ông từ nhiệm ngày 27/4 và lên máy bay di tản sang Mỹ. Sau 1975, ông sống lặng lẽ tại Arlington, Virginia. Ông mất ngày 22/1/2008 tại viện dưỡng lão, thọ 87 tuổi.

10. Vương Văn Bắc

Vương Văn Bắc (1927-2011) là một luật sư và Tổng trưởng Ngoại giao vào những năm cuối cùng của chế độ Sài Gòn. Sau ngày 30/4/1975, ông sang Pháp định cư. Nhờ học vấn uyên thâm, ông được ngành luật của nước Pháp trọng dụng và làm việc cho đến năm 80 tuổi mới nghỉ ngơi. Ông mất ở Paris ngày 20/6/2011.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đoàn Thị Hương bị người BTT chiêu mộ cho thấy lỗ hổng an ninh Việt Nam?


VOA - Báo chí nước ngoài hôm 22/3 đăng các bản tin chi tiết nói rằng con trai của một cựu đại sứ Bắc Triều Tiên ở Việt Nam đã chiêu mộ Đoàn Thị Hương cho vụ ám sát ông Kim Jong Nam, người anh cùng cha khác mẹ bị ruồng bỏ của lãnh tụ Bắc Triều Tiên Kim Jong Un.

Sau khi tin này xuất hiện, báo chí Việt Nam dè dặt đưa một vài tin ngắn nói nghi can đã lôi kéo Hương vào vụ này là “người Triều Tiên” sống nhiều năm ở Việt Nam, nhưng không đề cập đến chi tiết người đàn ông đó là con trai của một cựu đại sứ Bắc Triều Tiên ở Việt Nam.

Riêng trang tin của Zing đăng một bài với tít “Nghi phạm lôi kéo Đoàn Thị Hương là con trai cựu đại sứ Triều Tiên?” nhưng bản tin này đã nhanh chóng bị rút xuống, thay thế bằng bài khác có tít “Đoàn Thị Hương được dụ tới Malaysia để sắp xếp kết hôn?”

Nội dung bài thay thế của Zing - cũng như các báo khác của Việt Nam - chỉ nói nghi can “người Triều Tiên” Ri Ji Hyon, 33 tuổi, là người nói thạo tiếng Việt.

Theo mô tả trên báo chí nước ngoài, nghi can Ri Ji-hyon là con trai của ông Ri Hong, đại sứ Bắc Triều Tiên ở Hà Nội vào đầu những năm 2000.

Ri Ji-hyon được cho là đã sống tại Việt Nam tổng cộng khoảng 10 năm. Vào tháng 11/2009, Ri làm việc khoảng 1 năm tại Đại sứ quán Bắc Triều Tiên ở Việt Nam với tư cách là một nhà ngoại giao tập sự. Bên cạnh đó, Ri còn làm phiên dịch.

Tờ Yonhap của Hàn Quốc nói với vốn tiếng Việt lưu loát, Ri đã thuyết phục Đoàn Thị Hương tham gia vào vụ việc mà cuối cùng đã dẫn đến cái chết của ông Kim Jong Nam ở Malaysia.

Cô Hương và một cô gái Indonesia bị tố cáo đã bôi chất độc VX lên mặt ông Kim Jong Nam hồi giữa tháng 2, giết ông gần như lâp tức. Sau khi bị cảnh sát nước sở tại bắt, cô Hương một mực khẳng định cô thực sự không biết mình tham giamột vụ ám sát mà nghĩ điều cô làm là một phần của một trò chơi truyền hình thực tế.

Sự việc Đoàn Thị Hương bị chiêu mộ cho một vụ việc gây chấn động thế giới làm nhiều người đặt câu hỏi phải chăng giới an ninh Việt Nam có sơ hở trong công tác theo dõi, ngăn chặn các hoạt động bất minh của người nước ngoài nói chung, của các nhà ngoại giao Bắc Triều Tiên nói riêng.

Một sĩ quan công an ở cấp thừa hành đề nghị không nêu tên xác nhận với VOA rằng ngành an ninh Việt Nam “có theo dõi” các nhà ngoại giao nước ngoài, nhưng cũng như bất cứ nước nào khác, việc theo dõi này “không thể 100% được”. VOA không tiếp cận được với các quan chức cấp cao của Bộ Công an để hỏi về vấn đề này.

Từ Hà Nội, luật sư Trần Vũ Hải, người có nhiều năm kinh nghiệm làm việc với giới thực thi pháp luật của Việt Nam, chia sẻ với VOA những hiểu biết của ông về vấn đề này:

“Các cơ quan phản gián hay an ninh ở Việt Nam cũng có thể cùng lắm họ khoanh vùng một số người họ cho rằng có tiềm năng liên quan đến an ninh Việt Nam. Con trai của ông đại sứ cũng khó có thể được coi là một người có tiềm năng liên quan đến an ninh. Để gọi là kiểm soát toàn bộ hành vi cũng như quan hệ, theo tôi là bất khả thi. Nên là trong những trường hợp như thế này, cơ quan an ninh Việt Nam tôi nghĩ họ cũng khó có thể biết hết được. Đặc biệt, cho đến giờ phút này, ít nhất cho đến vụ ám sát ông Kim Jong Nam, Việt Nam chưa coi Bắc Triều Tiên là mối đe dọa hoặc ảnh hưởng an ninh nhà nước Việt Nam. Tất nhiên tôi nghĩ sau vụ này, cơ quan an ninh Việt Nam cũng phải thận trọng hơn với các quan hệ của những người Bắc Triều Tiên ở Việt Nam”.

Trong khi một số người quan tâm đến bài học cảnh giác ở cấp độ quốc gia, có đông người hơn nhìn vào vụ Đoàn Thị Hương để lấy đó làm bài học ở tầm mức cá nhân.

Cô Hương được xem là một người mà cuộc sống có nhiều nghịch lý. Xuất thân từ một vùng quê ở tỉnh Nam Định, cô đi học, làm việc ở Hà Nội, nhiều nơi khác của Việt Nam cũng như nước ngoài, tham gia một số cuộc thi ồn ào với hy vọng đổi đời.

Nhưng ngược lại, cô không chia sẻ nhiều thông tin với gia đình mà như lời bố cô, ông Đoàn Văn Thạnh, nói rằng 10 năm qua ông “không biết” con “làm gì, ở đâu”. Bên cạnh đó, các đồng nghiệp cũ của cô ở Hà Nội nói cô là người “sống khép kín”.

Nhiều người cho rằng lối sống dường như thiếu vắng sự tham vấn, thiếu vắng việc tìm kiếm hay lắng nghe những lời khuyên nhủ như vậy có thể là một trong những nguyên nhân đã đẩy Hương vào bi kịch.

Tiến sĩ Khuất Thu Hồng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội, nhận xét với VOA sự việc của Hương là “đáng tiếc” song cũng không phải dễ để người ngoài cuộc đưa ra lời khuyên. Bà nói:

“Các cô vì là họ trẻ nên họ thiếu kinh nghiệm. Nhất là những cô gái ở vùng nông thôn, ít tiếp xúc thì lại càng thiếu kinh nghiệm, làm sao có thể tránh những cạm bẫy, lừa lọc. Thời buổi bây giờ khi mà điều kiện để tiếp xúc, để gặp gỡ người này người khác mở ra rất là nhiều, cho nên là các cô gái cũng phải rất là thận trọng trong việc suy xét xem là những hành động này nó mang lại cho mình cái gì. Các bạn trẻ, nhất là các bạn gái, phải hết sức thận trọng trong các mối quan hệ, nhất là với người nước ngoài, vì thực sự là người tốt vẫn rất là nhiều, nhưng mà cũng có những người người ta lợi dụng để làm những chuyện rất là nguy hiểm như câu chuyện của Đoàn Thi Hương”.

Theo Kyodo News, một đồng nghiệp cũ của Hương ở Hà Nội cho biết Hương đã nói rằng cô đến Malaysia để sắp xếp việc kết hôn với người bạn trai mà cô tưởng là người Hàn Quốc.

Cô Hương và nữ nghi phạm Indonesia đã ra tòa ở Kuala Lumpur để nghe cáo trạng hồi đầu tháng này. Phiên tòa tiếp theo của hai cô dự kiến diễn ra vào ngày 13/4.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

KHOẢNH KHẮC


Ra đường thì bụi
ngồi nhà thì buồn
làm văn, làm vườn tự nhiên thấy nản
ngán luôn cả chuyện bán buôn
Tìm gặp ai bây giờ cho thỏa?
người thân ngày mỗi thưa dần!
tri kỷ từ lâu ít gặp
tự nhiên thương đời, thương thân!
Câu chuyện nào nghe đều thấy nhảm
mạng mẽo cũng chẳng ra gì
dồn dập ồn ào
nhí nhăng
xí cuội
thanh thản bây giờ đi đâu?
Hình như đêm nay lại gió mùa đông bắc
có thể ngày mai mưa rào
ngoài đường đỡ bụi hơn
trong nhà đỡ bức
bạn rất có thể lại gọi cho mình:
"Đừng trầm cảm" như hôm nào bạn nhắc!
- Thực ra đời này đáng buồn hay đáng đau?
Dẫu sao, không thể bỏ mặc
"Đóng váng" như giờ biết đâu khoảnh khắc,
thường xảy ra
trước lúc đời đáng yêu?

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Năm, 23 tháng 3, 2017

1, 2, 3 chúng ta cùng biến

Đất nước tan hoang, 1, 2, 3 chúng ta cùng biến

Đọc bài này lại nhớ có một số bạn hỏi đất nước đang phát triển như thế, đời sống được cải thiện như thế, tại sao vẫn nói đất nước cứ mỗi ngày một nghèo thêm để nối dài chậm tiến và tụt hậu so với nhân dân các nước trong khu vực? Thậm chí có nhiều lĩnh vực bây giờ thua cả Kampuchea và Lào, chưa nói tới thua tất cả các nước Đông Nam Á khác, những nước trước đây chúng ta coi là đám man di mọi rợ. Để trả lời, hãy nhìn xem chúng ta đang sống bằng gì (bán tài nguyên, vay nợ, FDI, kiều hối...), tự làm ra được cái gì nếu như không có đầu vào nhập khẩu, văn hóa, xã hội, môi trường đang tan hoang; tài nguyên, tiền bạc phung phí cạn kiệt như thế nào, nợ nước ngoài tăng lên phi mã và nguy cơ phá sản nhãn tiền ra sao...

Với tình trạng từ cán bộ, đảng viên thi đua “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” để tham nhũng, bảo vệ lợi ích nhóm cho đến Thanh niên mất định hướng không còn tha thiết với lý tưởng Cộng sản của đảng, rồi công nhân không được huấn luyện tay nghề, không biết ngoại ngữ, năng xuất lao động kém sinh ra các loại tội phạm trong giới trẻ ngày một lên cao. Thêm vào đó là tệ nạn ma túy, mại dâm và buôn người càng ngày càng phức tạp... Với những “thánh tích vẻ vang” như thế thì có ai còn tự hào mang Hộ chiếu của Nhà nước Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam nữa không?
Đà điểu rúc cát để trốn sự thực

– Một bộ phận thanh niên mất phương hướng, xa rời định hướng XHCN, ca ngợi Chủ nghĩa Tư Bản và các giá trị phương Tây.
– Thanh niên từ 15-24 tuổi thất nghiệp chiếm trên 53%.
– 225.000 cử nhân, thạc sĩ thất nghiệp.
– Trong 5 năm, hơn 35 nghìn bị can trẻ vị thành viên phạm tội.






– Việt Nam ước tính có khoảng 183.000 người nghiện ma túy…gần 33.000 người bán dâm, độ tuổi bán dâm ngày càng trẻ hóa, từ 16 – 18 tuổi.

– Mua bán người ở Việt Nam ngày càng tinh vi và nhiều thủ đoạn: Buôn bán trẻ sơ sinh, buôn bán bào thai, nội tạng và một hình thức buôn bán mới nhất gần đây là đẻ thuê.

***

Đó là những “con số biết nói” và “những chuyện trăm mối tơ vò” đang phơi ra trước mắt người dân Việt Nam sau hơn 30 năm “đổi mới” để thoát chết.

Nhưng báo đài của đảng, theo chỉ thị của Ban Tuyên giáo và Bộ Thông tin và Truyền thông chỉ biết trát son phấn lên mặt xã hội để chứng minh nhờ có đảng lãnh đạo mà chuyện gì cũng hòan thành tốt và được đông đảo nhân dân đồng tình ủng hộ.

Nếu được ủng hộ mạnh mẽ như thế thì tại sao đất nước cứ mỗi ngày một nghèo thêm để nối dài chậm tiến và tụt hậu so với nhân dân các nước trong khu vực? Thậm chí có nhiều lĩnh vực bây giờ thua cả Kampuchea và Lào, hai dân tộc từng bị người Việt Nam coi thường trong nhiều thập niên?

Các dư luận viên còn ồn ào rằng: “Truyền thống quý báu, mục tiêu cao cả thiêng liêng chăm lo lợi ích, hạnh phúc cho nhân dân là truyền thống quý báu của Đảng Cộng sản Việt Nam.” (theo báo Quân đội Nhân dân ngày 13/02/2017).

Họ còn lẩm bẩm câu viết trong các Văn kiện chính sách để khoe nước bọt: “Ngoài lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc, thì Đảng không có lợi ích gì khác”. 

Hô hoán bấy nhiêu chưa đủ, đảng còn vẽ vời: “Đảng ta là đạo đức, đảng ta là văn minh”; hoặc hoang tưởng như Nhà Thơ Hoàng Trung Thông: “Ta bỗng thấy tắm mình trong ánh sáng/ Đảng nâng ta lên tầm cao của Đảng”.

Nâng cao đến chỗ nào sau những giây phút mê sảng ấy? Hãy đọc: “Bây giờ thấy nhiều người nói về đạo đức thật trơn tru, có lớp có lang. Nhưng trong lòng họ nghĩ khác, việc làm của họ khác. Nói không đi đôi với làm, nói toàn chuyện trên trời dưới biển, nhưng làm thì kể việc không hết mấy đầu ngón tay, đó là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến năng lực lãnh đạo giảm sút, làm mất uy tín cán bộ (báo Nhân Dân, 20/01/2017).

Uy tín cá nhân cán bộ mà mất thì ăn thua gì? Nhưng cán bộ là người ăn cơm đảng, học trường đảng và làm việc cho đảng thì tất nhiên cây nào phải sinh ra quả ấy chứ lấy đâu ra cái thứ cán lăng nhăng như thế?

Chỉ tiếc là đảng lại không muốn nhìn nhận đã thoái trào, chậm tiến và lạc hậu trước một Thế giới đã ruồng bỏ chủ nghĩa Cộng sản Mác-Lênin.

Những lãnh đạo bảo thủ của đảng CSVN chỉ biết khăng khăng cho mình là “phải”, là “đúng” và “trúng” nên không vượt qua được các chứng bệnh suy thoái tư tưởng và sa sút đạo đức lối sống đã lan rộng và ăn sâu trong đảng.

Bằng chứng chưa được một năm mà đảng đã phải phát động phong trào “tự phê bình” và “phê bình” để kiểm điểm việc thi hành Nghị quyết 4/XII (30/10/2016) “về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”

Nhưng chuyện “bầy hàng” lấy điểm lần này của đảng liệu có hy vọng thu được kết quả gì không?

Kết quả nhãn tiền

Tương lai sẽ trả lời, nhưng nếu dựa vào qúa khứ thì cũng chưa chắc đã làm nên cơm cháo gì.

Hãy nghe Phó Giáo sư-Tiến sỹ (PGS.TS) Nguyễn Văn Giang, Phó Viện trưởng Viện Xây dựng Đảng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh: “Sau nhiều năm thực hiện các Nghị quyết về chỉnh đốn Đảng, cùng với những kết quả đạt được, tình trạng suy thoái trong Đảng chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, thậm chí có dấu hiệu cho thấy còn phức tạp hơn. Một phần là do thực hiện không nghiêm nguyên tắc tự phê bình và phê bình. Nhiều nơi, nhiều chỗ, tự phê bình và phê bình vẫn còn diễn ra qua loa, hình thức, né tránh nên rất ít hiệu quả. Cũng có không ít trường hợp lợi dụng phê bình để công kích, hạ bệ những người mình không ưa hoặc để xu nịnh đối với cán bộ lãnh đạo. Thực tế này cũng lý giải vì sao trong những năm qua, nhiều vụ việc tiêu cực xảy ra nhưng ít được phát hiện qua quá trình tự phê bình và phê bình ở các cấp ủy Đảng cơ sở.”

(Đài Tiếng nói Việt Nam (Voice of Vietnam, VOV) ngày 12/02/2017

Người thứ hai, ông Nguyễn Đức Hà, Ban Tổ chức Trung ương nhận định: “Việc tự phê bình và phê bình của các tập thể và cá nhân vẫn còn tình trạng nói ưu điểm nhiều, nói khuyết điểm ít, hoặc nếu có nói về khuyết điểm thì cũng cố gắng né tránh một số từ có tính nhạy cảm. Không phải không có chuyện mượn tự phê bình và phê bình để ca ngợi, để động viên, khen ngợi. Việc này tôi thấy ở cấp nào cũng có, từ Trung ương đến các địa phương”.

VOV phỏng vấn tiếp PGS.TS Hồ Tấn Sáng, Học viện Chính trị khu vực 3. Ông góp ý: “Thực tế trong thời gian gần đây, phê bình và tự phê bình mang tính hình thức, dẫn đến hậu quả là sự suy thoái của từng cá nhân. Vì mỗi cá nhân không nhận thấy trách nhiệm của mình đối với những sai phạm, họ lợi dụng những cái đó để hạ thấp người khác. Đồng thời cũng có những biểu hiện ngại va chạm, ngại phê bình vì sợ đụng đến quyền lực. Thực chất là do cơ chế bảo vệ những người dũng cảm đấu tranh chống lại những người lợi dụng quyền lực chưa rõ ràng.”

Đến phiên ông Vũ Mão, nguyên Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội nhấn mạnh: “Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân dẫn tới sự suy thoái trong Đảng, khiến lòng tin trong dân với Đảng bị giảm sút.”

Ông nói: “Thời gian trước đây, khâu này được coi trọng và làm khá tốt. Tuy nhiên, trong vài chục năm trở lại đây, việc phê bình và tự phê bình chưa được tốt. Từ Hội nghị TƯ 4 khóa XI đến Hội nghị TƯ 4 khóa XII, khâu này chuyển biến không được bao nhiêu. Thực tế này rất đáng phải suy nghĩ. Đã từng sinh hoạt ở các chi bộ, đảng bộ cơ sở, tôi thấy rằng việc phê bình và tự phê bình nói chung là yếu, nể nang. Xu hướng nể nang, tránh va chạm dường như đang rất phổ biến, không chỉ ở cấp cơ sở, mà từ cấp trung ương.”

Lý tưởng ở túi tiền

Tình hình các bậc cha chú mánh mung như thế thì lý do thanh niên đã phai nhạt lý tưởng là chuyện đương nhiên. Chả ai dại gì phải hết lòng vì đảng cho kẻ ngồi mát ăn bát vàng hưởng hết. Đó là chuyện thường tình.

Thế nhưng đảng lại lên lớp phê bình một bộ phận thanh niên ngày nay đã “mất phương hướng, xa rời định hướng XHCN, ca ngợi Chủ nghĩa Tư Bản và các giá trị phương Tây.”

Nhưng đảng nói là chuyện của đảng. Thanh niên cứ làm chuyện của thanh niên. Làm sao họ có thể ngồi yên cho đảng sai khiến khi dạ dầy đói meo? Họ mất định hướng, không có lý tưởng Cộng sản vì thế giới Cộng sản đã sụp đổ từ năm 1991. Họ còn thấy lãnh đạo nói một đàng làm một nẻo. Những kẻ có chức có quyền thì giầu nứt mắt nhưng cán bộ đảng viên dưới quyền và người dân lại nghèo xơ nghèo xác thì hấp dẫn thanh niên bằng cách nào?

Nói công bằng xã hội nhưng chỉ có con ông cháu cha và đòan viên của đòan Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (TNCSHCM), lớp hậu bị của đảng, mới được những bổng lộc của đảng dành cho.

Tiến sỹ Lê Kiên Thành, con trai nguyên Tổng bí thư đảng Lê Duẩn đã cay đắng viết trong bài “ Sau 30 năm, nghĩ về cuộc đổi mới lần thứ hai”: “Giờ nước ta đang là nước xuất khẩu lương thực nhất nhì thế giới, nhưng người nông dân lại là những người khổ nhất trong xã hội này, đó là điều không công bằng. Việc 70% người Việt Nam là nông dân và đang nghèo hơn phần còn lại là không công bằng; việc con em của 70% này không được tiếp cận với nền giáo dục tốt nhất, không được hưởng thụ sự chăm sóc y tế đầy đủ nhất, chính là không công bằng.” (báo An Ninh Thế giới – Bộ Công an, ngày 19/02/2017).

Cũng trên báo này ngày 29/06/2016, nguyên Ủy viên thường vụ, thường trực Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Phạm Thế Duyệt phát biểu: “Tiêu cực, tham nhũng trong công tác cán bộ sẽ là nguyên nhân của mọi nguyên nhân…”

Khi được hỏi về thái độ của nhân dân trước cuộc sống trong xã hội ngày nay, ông Duyệt trả lời: “Tôi thấy ai cũng vui vì cuộc sống bây giờ hơn hẳn trước; nhưng còn nhiều trăn trở, tâm tư. Người ta bất bình với những hiện tượng tham nhũng, sống không minh bạch, giàu có một cách không chính đáng… Người ta hay nghĩ ngợi nhiều, nói nhiều đến vấn đề xuống cấp của đạo đức xã hội. Ở đấy, tôi gặp cả những người suốt đời đi theo Đảng, nhưng bây giờ thì trăn trở với những vụ việc tiêu cực của một số Đảng viên của Đảng.”

Xã hội thì như thế mà đảng cứ ngày đêm tuyên truyền vào tai thanh niên những thành công hão huyền và hứa hẹn nước suông thì thanh niên phải chán đảng là điều khó tránh.

Phản ảnh của Thạc sỹ Phạm Minh Thế của Đại học Quốc gia Hà Nội là bằng chứng: “Một bộ phận thanh niên thiếu ý thức rèn luyện, non kém về nhận thức chính trị, chưa xác định được lý tưởng sống đúng đắn, thụ động, dễ bị lôi kéo xa rời định hướng XHCN (xã hội chủ nghĩa), ca ngợi một chiều CNTB (chủ nghĩa tư bản) và các giá trị phương Tây; bản lĩnh và khả năng lựa chọn thông tin đúng đắn, các giá trị văn hoá đích thực trong một bộ phận thanh niên rất đáng lo ngại.”

Tuy nhiên, một bài viết trên báo Quân đội Nhân dân (QĐND) ngày 13/03/2017 lại ba hoa chích chòe rằng: “Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tuyệt đại bộ phận người trẻ tuổi luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng; trung thành, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; nêu cao tinh thần yêu nước, sẵn sàng hy sinh vì độc lập dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân. Trong hơn 30 năm đổi mới, một thế hệ tuổi trẻ Việt Nam đã “ra đời” với vóc dáng và diện mạo mới. Có thể nói, ít có thời kỳ nào mà tuổi trẻ lại có cơ hội và vai trò to lớn như trong tiến trình đổi mới và hội nhập như hiện nay. Số đông tuổi trẻ luôn thể hiện rõ vai trò đi đầu, thổi bùng lên ngọn lửa tình nguyện vì cộng đồng và không cam chịu đói nghèo, lạc hậu. Các mùa hè tình nguyện đã làm xanh nhiều góc phố bộn bề và bản làng xa xôi. Hàng chục nghìn trí thức trẻ tình nguyện lên đường về nông thôn, miền núi, góp phần vào sự phát triển của các miền quê nghèo khó, dựng xây biên giới, hải đảo xa xôi ngày càng giàu mạnh…”

Khoe như thế nhưng QĐND lại giấu đi không nói “những thành tích” này là do Đòan Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, lớp dự bị của đảng phải làm để lấy điểm đầu tư vào tương lai cho vinh thân phì gia như bố mẹ chúng. Bởi vì nhóm chữ “tuyệt đại bộ phận người trẻ tuổi” trong bài này không đại diện cho 70% con em nông dân nghèo khổ của đồng quê Việt Nam, như Tiến sỹ Lê Kiên Thành đã đau xót vạch ra.

Vì vậy, QĐND buộc lòng phải thừa nhận: “Thành tích của tuổi trẻ đáng trân trọng là vậy, thế nhưng, chúng ta không thể phủ nhận những tồn tại, hạn chế cố hữu ở một bộ phận lực lượng xã hội này, như chỉ thích hưởng thụ, ngại lao động; thần tượng hóa cá nhân…”

Tuy nhiên, bài viêt không quên chữa lửa cho tình trạng bất cập này. Họ chạy quanh: “Các thế lực phản động, cơ hội, chống đối chính trị… luôn triệt để lợi dụng đặc điểm tâm lý nhạy cảm, ham tiếp cận cái mới, thích tự do, tự khẳng định mình… của thanh niên, trong khi vốn sống và nhận thức chính trị-xã hội của họ còn hạn chế, để dụ dỗ, lôi kéo, tiêm nhiễm bằng cả vật chất và văn hóa, lối sống thực dụng, ngoại lai. Đồng thời, họ cũng lợi dụng những sơ hở, buông lỏng trong công tác quản lý, hoặc một bộ phận thanh niên đua đòi theo trào lưu, lối sống thực dụng, đòi xét lại quá khứ…, để lôi kéo, kích động, tập hợp thanh niên tham gia, hòng gây mất an ninh trật tự, chống đối chính quyền.”

Một bài khác của QĐND ngày 28/6/2016 cũng gay gắt phê bình lãnh đạo Đòan Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (TNCSHCM) trong công tác thanh niên.

Bái báo nói rằng: “Bên cạnh những thành tích, kết quả đã đạt được, theo đánh giá tại các văn kiện của Đảng và của Đoàn thì công tác giáo dục chính trị tư tưởng của Đoàn chưa tác động sâu sắc đến đông đảo đoàn viên, thanh niên; công tác tuyên truyền, định hướng lý tưởng, giáo dục đạo đức lối sống chưa thường xuyên. …Việc giáo dục, ngăn ngừa và đấu tranh với những tác động, lôi kéo thanh niên của các thế lực thù địch, sự truyền bá lối sống ngoại lai không phù hợp với truyền thống văn hóa dân tộc còn những bất cập, yếu kém… Một bộ phận thanh niên có biểu hiện mờ nhạt về lý tưởng, dễ dao động về lập trường chính trị, lệch lạc về giá trị đạo đức, sống ích kỷ, thiếu trách nhiệm…”

Vì thanh niên không còn tha thiết với đảng nên bài báo xác nhận hậu quả: “ Những bất cập, hạn chế trên đã và đang ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng, hiệu quả công tác Đoàn và phong trào thanh niên; rộng hơn có thể ảnh hưởng đến công tác xây dựng Đảng, nhất là làm cho một bộ phận thanh niên không còn thiết tha đến với tổ chức đoàn, thậm chí đứng ngoài các phong trào của tuổi trẻ.”

Bằng chứng tuổi trẻ chán đảng còn được chứng minh trong báo cáo của Đòan TNCSHCM: “Trong giai đoạn 1988 – 1991, mỗi năm trung bình phát triển được 30 vạn đoàn viên mới, năm sau thấp hơn năm trước. Qua phân loại, số đoàn viên yếu kém chiếm 20% – 30%, chất lượng hoạt động và sinh hoạt thấp, thậm chí có nơi tê liệt. Năm 1991, cả nước có 2, 5 triệu đoàn viên (chiếm 12% tổng số thanh niên). Ở vùng cao, vùng sâu và khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, số đoàn viên chiếm tỷ lệ rất thấp so với tổng số thanh niên (2% – 3%)” (Nguyễn Đắc Vinh, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đoàn TNCSHCM, 29/12/2014, Tạp chí Cộng sản).

Học và hành 

Cứ loanh quanh như thế nên báo đảng và Nguyễn Đắc Vinh đã quên đi đám mây đen tối đang phủ lên đầu tuổi trẻ Việt Nam.

Hãy đọc báo điện tử Công đòan Việt Nam, ngày 26/09/2016: “ Nhìn vào cơ cấu lao động theo nghề nghiệp, trong tổng số 53, 2 triệu lao động của Việt Nam tính đến 2013 thì có tới 21, 3 triệu lao động giản đơn chiếm 40% lực lượng lao động, trong khi đó lao động có chuyên môn kỹ thuật bậc cao và bậc trung chỉ chiếm 5, 45% và 3, 2% lực lượng lao động. Như vậy, nguồn nhân lực của nước ta trẻ và dồi dào nhưng đa số là lao động không có tay nghề và chuyên môn kỹ thuật.”

Nói cách cho dân dã hiểu là công nhân Việt Nam thiếu tay nghề và thiếu cả ngoại ngữ để đáp ứng nhu cầu việc làm cả ở trong nước và ra nước ngoài.

Báo này viết tiếp: “Thực trạng thị trường lao động Việt Nam hiện nay thể hiện nghịch lý là thừa lao động nhưng lại thiếu nhân lực có trình độ cao cho những ngành nghề nằm trong định hướng phát triển. Ngân hàng Thế giới đánh giá Việt Nam đang thiếu lao động có trình độ tay nghề, công nhân kỹ thuật bậc cao. Nếu lấy thang điểm là 10 thì chất lượng nhân lực của Việt Nam chỉ đạt 3, 79 điểm, xếp thứ 11/12 nước châu Á tham gia xếp hạng của Ngân hàng Thế giới (trong khi Hàn Quốc đạt 6, 91 điểm; Ấn Độ đạt 5, 76 điểm; Malaysia đạt 5, 59 điểm… Do vậy nên năng suất lao động của Việt Nam thuộc nhóm thấp ở châu Á – Thái Bình Dương (thấp hơn Singapore gần 15 lần, thấp hơn Nhật Bản 11 lần và thấp hơn Hàn Quốc 10 lần). Năng suất lao động của Việt Nam bằng 1/5 Malaysia và 2/5 Thái Lan. Việt Nam còn thiếu nhiều lao động lành nghề, nhân lực qua đào tạo chưa đáp ứng được nhu cầu của trị trường lao động và doanh nghiệp về tay nghề và các kỹ năng mềm khác. Trình độ ngoại ngữ của lao động Việt Nam chưa cao nên gặp nhiều khó khăn trong quá trình hội nhập. Những hạn chế, yếu kém của nguồn nhân lực là một trong những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của nền kinh tế (năm 2011, Việt Nam xếp thứ 65/141 nước được xếp hạng về năng lực cạnh tranh).

Như vậy thì những khoe khoang thành công rỗng tuếch của tuổi trẻ trên báo đài đảng nhằm mục đích gì?

Thạc Sỹ Phạm Minh Thế của Đại học Quốc gia Hà Nội còn cảnh giác: “Hội nhập quốc tế cũng đã và đang đặt ra cho thanh niên Việt Nam nhiều thách thức lớn: đó là sự tương thích giữa trình độ học vấn với các cơ hội tìm kiếm việc làm có thu nhập cao; đó là sự tác động của lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền; đó là việc làm thế nào để dung hòa được giữa truyền thống và hiện đại trong lối sống, nếp sống, …

Rõ ràng, sự tụt hậu về trình độ học vấn đã làm cho cơ hội tìm kiếm việc làm của thanh niên trong bối cảnh hội nhập quốc tế trở nên bấp bênh hơn ngay ở trong nước.”

Theo thống kê của ông Phạm Minh Thế thì “Hằng năm, có khoảng 1, 2 – 1, 6 triệu thanh niên bước vào tuổi lao động. Các báo cáo khác ước tính có từ 17 đến 20 triệu thanh niên đã tham gia lao động, chiếm khỏang 80% tổng số thanh niên, hay trên 30% lực lượng lao động trong xã hội.

Tuy nhiên”, theo ông Thế, “tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm của thanh niên hiện nay ngày càng tăng. Tỷ lệ thanh niên trong độ tuổi lao động thiếu việc làm tăng từ 3% năm 2008 lên 5, 6% năm 2009 và 4, 1% năm 2010. Trong đó, khu vực thành thị là 2%, khu vực nông thôn là 4, 9%.

Tình trạng thất nghiệp cũng có xu hướng tăng mạnh, tập trung chủ yếu ở nhóm thanh niên đô thị. Tỷ lệ thanh niên thất nghiệp chiếm 4, 2% năm 2008, 4, 1% năm 2009 và tăng lên 5, 2% năm 2010, trong đó ở khu vực đô thị là 7, 8%, cao gần gấp hai lần khu vực nông thôn (4, 3%).

Đáng chú ý là cả lớp thanh niên tốt nghiệp Đại học và cao học cũng đang thất nghiệp cao. Con số 225.000 cử nhân, thạc sĩ thất nghiệp đã được xác nhận.

Tội ác và tuổi trẻ

Từ thất nghiệp sinh ra trộm cướp và giết người lấy của. Một báo cáo của Công an cho thấy: “75% tội phạm hình sự là… người trẻ.”

Bài báo của An ninh Thủ đô viết: “Theo tổng kết sơ bộ của Tổng cục Cảnh sát phòng chống tội phạm (Bộ Công an), trong 6 tháng đầu năm 2011, Cục đã xử lý 15.000 vụ phạm pháp hình sự, xử lý trên 22.000 đối tượng, trong đó có hơn 75% là thanh thiếu niên. Điều đáng nói là so với những năm trước, đối tượng phạm tội ngày càng trẻ hóa và hành vi phạm tội cũng như tính chất mức độ phạm tội ngày càng nghiêm trọng hơn.”

Trung tâm Nghiên cứu tội phạm học và phòng ngừa tội phạm (Học viện Cảnh sát nhân dân) đã nghiên cứu về tội phạm giết người trong giai đoạn từ tháng 1-2009 đến   9-2010 với trên 4000 phạm nhân đang thụ án tại 4 trại giam thuộc Bộ Công an quản lý. Kết quả cho thấy: 14% đối tượng có độ tuổi từ 14 – dưới 18, 41% có độ tuổi từ 18 – dưới 30, 34% có độ tuổi từ 30 – dưới 45, 8% các độ tuổi còn lại.” 

Nhà nước cũng thừa nhận Trong 5 năm, từ năm 2009 đến hết tháng 6/2014, cơ quan Cảnh sát điều tra các cấp đã phát hiện, khởi tố điều tra mới 35.654 bị can là trẻ vị thành niên phạm tội, chiếm khoảng hơn 16% tổng bị can phạm tội hình sự” (theo VNNET16/07/2015).

Cả nước cũng có khoảng 183.000 người nghiện ma túy; gần 33.000 người bán dâm, độ tuổi bán dâm ngày càng trẻ hóa, từ 16 – 18 tuổi.

Về tệ nạn buôn người, Tổ chức Di cư Quốc tế—Văn phòng Liên Hiệp Quốc ở Việt Nam cho biết: “Nạn mua bán người vẫn còn nhức nhối tại Việt Nam.”

Bản tin trên Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV) ngày 05/08/2013 cho biết: “Lâu nay, mua bán người vẫn được xem là một vấn đề nhạy cảm, gây nhức nhối trong cộng đồng xã hội đặc biệt là ở những vùng biên giới, miền núi. Thống kê trên cả nước trung bình mỗi năm, cả nước có tới 500 vụ liên quan đến nạn mua bán người, riêng từ năm 2011 đến 2015 đã có 4.500 nạn nhân được giải cứu, tiếp nhận. Hoạt động của tội phạm mua bán người vẫn diễn biến phức tạp, có xu hướng tăng trên cả nước.”

Bà Vũ Thị Thu Phương – đại diện Dự án Liên minh các tổ chức Liên Hợp Quốc về phòng chống tội phạm buôn bán người tại Việt Nam (UNIAP) nói với VOV: “Việt Nam là một nước nguồn của tình trạng mua bán người. Phụ nữ, trẻ em, nam giới ở Việt Nam bị bán xuyên biên giới sang các nước khác. Phụ nữ bị bán chủ yếu vì mục đích mại dâm, làm vợ; trẻ em thì chủ yếu là bị bóc lột sức lao động, ăn xin; còn nam giới thì bị bóc lột sức lao động. Ở Việt Nam, buôn bán người diễn ra ở cả nội địa và xuyên biên giới. Mua bán người ở Việt Nam ngày càng tinh vi và nhiều thủ đoạn, có nhiều hình thức buôn bán người mới xảy ra như buôn bán trẻ sơ sinh, buôn bán bào thai, nội tạng và một hình thức buôn bán mới nhất gần đây là đẻ thuê.”

Trong khi đó, một bản tin của Đài Á Châu Tự Do, Radio Free Asia (Tiếng Việt, )” đưa ra ngày 07/01/017 cho biết: “Bộ Công An cho biết, trong năm 2016 vừa qua số nạn nhân của buôn người tăng 12, 8% so với năm 2015. 

Cũng theo báo cáo của Bộ Công An, mặc dù con số các vụ án buôn người giảm bớt 6%, nhưng trong năm qua tổng số nạn nhân của buôn người mà công an phát hiện được lên tới 1.128 người.

Các số liệu của Bộ Công An không nêu rõ có bao nhiêu trường hợp nạn nhân bị buôn bán vào các đường dây nô lệ tình dục và bao nhiêu là nạn nhân của buôn bán lao động. Nhưng theo số liệu của Ủy ban Quốc gia Phòng chống HIV/AIDS và Ma túy, Mại dâm thì trong năm 2016 vừa qua đã có 600 phụ nữ và trẻ em được giải cứu khỏi các đường dây buôn người.

RFA kết luận: “Theo các cơ quan chức năng Việt Nam, hầu hết nạn nhân của buôn người được đưa qua ngả Trung Quốc, nơi đang xảy ra tình trạng mất cân đối về giới tính – nam thừa nữ thiếu, dẫn đến nhu cầu về cô dâu nước ngoài tăng cao.”


Như vậy, với tình trạng từ cán bộ, đảng viên thi đua “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” để tham nhũng, bảo vệ lợi ích nhóm cho đến Thanh niên mất định hướng không còn tha thiết với lý tưởng Cộng sản của đảng, rồi công nhân không được huấn luyện tay nghề, không biết ngoại ngữ, năng xuất lao động kém sinh ra các loại tội phạm trong giới trẻ ngày một lên cao.

Thêm vào đó là tệ nạn ma túy, mại dâm và buôn người càng ngày càng phức tạp.

Với những “thánh tích vẻ vang” như thế thì có ai còn tự hào mang Hộ chiếu của Nhà nước Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam nữa không? 

(03/017)

© Phạm Trần

Phần nhận xét hiển thị trên trang

không ra ngoài bốn chữ “Sinh, lão, bệnh, tử”

Ngày xưa, ở một vương quốc nọ, có một nhà vua muốn thu thập những cái hay ở đời để dựng một nguyên tắc trị dân. Nhà vua ấy, ngay từ lúc lên ngôi báu đã giao cho một viên đại thần cái trọng trách sưu tầm dưới các bầu trời xa lạ những tinh hoa rải rác trong vũ trụ và những triết lý của cuộc đời.

Ba mươi năm đã trôi qua, vị vua thanh niên anh tuấn ấy chờ đợi tóc đã điểm bạc. Lễ khánh thọ ngũ tuần đã cử hành long trọng trong Hoàng cung. Lúc ấy, quan đại thần cũng vừa về với một đoàn lạc đà, bốn vó trắng bụi đường xa, và trên lưng chất hơn nghìn pho sách quý mà ông đã có công kết tập bấy lâu nay để dâng lên đức vua. Đức vua nói:

– “Trẫm đã nhiều tuổi rồi, tinh hoa của trời đất nhiều đến thế. Trẫm làm sao xem hết. Khanh hãy mang về rút ngắn lại cho trẫm đủ thời giờ xem.”

Ðoàn lạc đà lại chở những pho sách đi và mười năm sau nữa, bộ sách rút ngắn lại còn năm trăm quyển được dâng lên ngự lãm. Nhà vua vuốt chòm râu bạc phau ngần ngại phán:

– “Hãy còn nhiều quá. Tuổi trẫm đã lớn, đọc sao cho kịp. Khanh chịu khó về gạn lọc một lần nữa những tư tưởng huyền diệu trong ấy”.

Viên đại thần tận trung không hề nghĩ đến số năm tháng đã tàn tạ trên đầu, lui về một nơi u tịch kết tinh kho tư tưởng theo yêu cầu của nhà vua.

Sau năm năm triền miên, với bao nhiêu tinh hoa và tư tưởng cổ kim đông tây, viên quan già nua mừng rỡ khi thấy kết quả: năm trăm cuốn dồn lại chỉ còn một pho sách dầy. Một pho sách dầy chứa tất cả triết lý của muôn cuộc đời!

Cuốn sách dầy ấy, một buổi sớm được mang vào ngự lãm. Nhưng nhà vua đã nằm yên trên giường bệnh, chung quanh ngự y chầu chực.

Vừa mở mắt nhìn vị đại thần tận tâm và cuốn sách quý giá. Một nụ cười nhàn nhạt nở trên môi vua như ánh hoàng hôn. Vua thở ra một giọng yếu nhỏ, viên đại thần quỳ xuống lắng tai đón lấy:

– “Trẫm yếu lắm, một trang sách còn chưa thể xem được huống là cả cuốn… Song trước khi nhắm mắt, trẫm háo hức muốn biết qua những tư tưởng gì, những triết lý gì, đã chi phối cả đời người, đã điều khiển cả một vận mệnh… Khanh khá rút ngay quyển sách này thành một câu hay vài chữ cho trẫm xem kịp và đủ sức hiểu…”.

Nét mặt viên đại thần trở nên trầm ngâm và hai mắt già nheo lại. Tử thần đã chờn vờn đâu đó. Các ngự y cúi đầu trước số mệnh. Nhà vua nằm yên khắc khoải chờ. Thời gian như ngừng hẳn lại. Không khí trở nên nặng nề và nghiêm trọng. Vàng son nội điện tự nhiên cũng hóa rầu rĩ. Mọi người chăm chú và kính cẩn nhìn viên đại thần đang lặng lẽ đem cuộc đời thu vào một câu. Sau một hồi suy nghĩ, viên đại thần từ từ bước đến bên án. Cả bộ Văn phòng tứ bảo hình như run khi bàn tay già đưa ra.

Bàn tay kính cẩn nâng cây bút, và nhẹ nhàng vạch trên mảnh hoa tiên những nét buồn lung linh tóm tắt tinh hoa của một đời người.

Mọi người đều ngó theo. Thần chết lúc ấy đã chập chờn đầu long sàng. Ðã mấy lần nhắm mở, Vua mới cất được mấy tiếng cuối cùng: “SANH LÃO BỆNH TỬ”.

Bài họcNhững triết lý, tư tưởng trong nhân gian tuy nhiều, nhưng cũng không ra ngoài bốn chữ “Sinh, lão, bệnh, tử”. Bởi mọi lý thuyết, triết lý đều xuất phát từ cuộc sống con người, và nhằm mang lại an vui, hạnh phúc cho con người. Đức Phật cũng vậy, ngài vì giác ngộ quy luật sinh, lão, bệnh, tử, mà quyết chí xuất gia cầu đạo, nhằm giác ngộ, đạt đến hạnh phúc, thoát ly sinh tử, và chỉ dạy đạo giải thoát cho mọi người, nhằm mang đến cảnh giới hạnh phúc tối thượng cho nhân loại, đó là Niết bàn.

(Trích: Những mẩu chuyện Phật giáo dành cho thiếu nhi - tập 2)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Về nữ văn sỹ của miền Nam Nguyễn Thị Thụy Vũ


An Nam
Writer Nguyen Thi Thuy Vu hình ảnhAN NAM
Nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ
Cụ bà tuổi 80, tóc bạc trắng, tai đã lãng, nhưng lối nói chuyện vẫn sắc sảo với chất giọng rặt Nam Bộ, cứ ngơ ngác hỏi đi hỏi lại cho rõ tên mấy độc giả mê văn thời cũ trước khi đề vài chữ vào bộ sách làm kỷ niệm.
Trước 1975, cụ bà đó, Nguyễn Thị Thụy Vũ, tên thật: Nguyễn Thị Băng Lĩnh, là một trong năm nhà văn nữ nổi tiếng nhất miền Nam (bốn người khác: Túy Hồng, Nguyễn Thị Hoàng, Nhã Ca, Trùng Dương).

Gái bar và những người mẹ cao quý

Tháng 3/2017, công ty Phương Nam Book liên kết với nhà xuất bản Hội Nhà văn cho in lại 10 cuốn sách của nữ văn sĩ miền Nam một thời, gồm ba tập truyện ngắn: Mèo đêm, Lao vào lửa, Chiều mênh mông và bảy tập truyện dài: Khung rêu (giải thưởng Văn học miền Nam 1971), Thú hoang, Nhang tàn thắp khuya, Ngọn pháo bông, Như thiên đường lạnh, Cho trận gió kinh thiên, Chiều xuống êm đềm.
Cũng lần đầu tiên sau 42 năm, toàn bộ tác phẩm của nhà văn miền Nam này được in lại đầy đủ. Khác với các tác giả miền Nam trước đây, mỗi lần xuất hiện trở lại, báo chí thường dè dặt, nhưng với Nguyễn Thị Thụy Vũ, báo chí chính thống trong nước truyền thông nhiệt tình, có cả những bài báo muốn lái tác phẩm của bà về hướng "đấu tranh giai cấp".
Buổi ra mắt bộ 10 tác phẩm này tại đường sách Nguyễn Văn Bình (chiều 20/3) là một sự kiện đặc biệt.
Cụ bà Nguyễn Thị Thụy Vũ giờ đây cũng không ưa nói nhiều về chuyện viết lách. Bởi đơn giản, nhìn lại cuộc đời văn chương của mình cùng những bể dâu, bà rốt cuộc cũng chỉ coi chuyện viết là "cày chữ nuôi con".
Nguyen Thi Thuy Vu's bookBản quyền hình ảnhAN NAM
Sinh năm 1937 ở Vĩnh Long, trong một gia đình khá giả. Cha bà là nhà văn Mặc Khải, cô là thi sĩ Phương Đài đều hoạt động kháng chiến.
Khoảng 1960-1965, bà dạy tiểu học tại Vĩnh Long, rồi không chấp nhận được môi trường sư phạm bó hẹp, khăn gói lên Sài Gòn học Anh ngữ ở Hội Việt Mỹ. Tại đây, ngay từ năm đầu tiên học tiếng Anh, bà được một bạn học (về sau mới biết, anh ta thuộc giới 'ma cô') giới thiệu đi dạy tiếng Anh cho các cô gái làm snack bar, những phụ nữ Việt Nam cặp kè binh lính, sĩ quan Mỹ.
"Mấy cô gái cặp kè Mỹ để nuôi thân giữa Sài Gòn lúc đó tôi dạy thường ít học. Có khi một chữ 'Hello' dạy một tuần không thuộc. Tui mới nhận ra, họ đi học vì cần người tâm sự là chính.Nếu có nữ quyền trong truyện tui thì đó là viết một cách tự nhiên.
"Có cô kia đã có năm đứa con với người chồng Việt, chiến tranh chồng chết nên phải đi làm nghề này kiếm sống. Cổ gửi con về bên ngoại, hằng tháng gửi tiền về nuôi. Tụi nhỏ ăn học và lớn lên, có đứa học tới đại học, nhưng không hề biết mẹ nó làm nghề đó.
"Theo con mắt của tui, đó là một người mẹ cao quý. Cũng có cô đến mùa đông mặc một cái áo len cũ rách nhàu nhĩ. Tui hỏi thăm sao có tiền không chịu chưng diện, cô ấy nói chiếc áo len rách này là kỷ vật của mối tình đầu ở quê nhà", nhà văn Thụy Vũ kể.
Thực tế trần trụi, khốc liệt và cũng thấm đẫm buồn đau về đời sống những cô gái làm ở các snack bar, dan díu với lính Mỹ đã đi vào những trang viết của Nguyễn Thị Thụy Vũ, gây chấn động dư luận vào khoảng cuối thập niên 1960, đầu thập niên 1970. Với các tập: Mèo đêm, Lao vào lửa, Ngọn pháo bông,… Nguyễn Thị Thụy Vũ trở thành một hiện tượng văn học gây ngạc nhiên trên văn đàn miền Nam.
'Như gái có chồng còn đi ăn sương'
Về sau, Võ Phiến viết trong Văn học niềm Nam tổng quan nói về sách của Thụy Vũ là dạng sách mà "các thế hệ phụ nữ nước ta trước đó không mấy kẻ dám đọc, đừng nói đến chuyện viết".
"Mình tưởng tượng nhưng cũng từ trên thực tế. Truyện của tui, như Khung rêu, có thiệt trên 70%. Nên viết xong tui với ông già lục đục với nhau vài năm, ổng nghĩ ổng là nhân vật địa chủ trong truyện.
"Truyện viết về gái điếm, gái bar tui viết xong có anh lính miền Nam tìm đến nhà xô cửa đi vào ôm tui vì tưởng tui là gái bar thì mới viết được như vậy. Cũng có anh cầm lựu đạn qua nói tui viết về ảnh và kêu tui phải lên tiếng xin lỗi," bà nhớ lại.
Mộ tài, chung sống với nhà thơ Tô Thùy Yên (một sĩ quan tâm lý chiến của chính quyền Sài Gòn, một trong những nhà thơ quan trọng bậc nhất của văn học miền Nam trước 1975) và có đến bốn mặt con, Nguyễn Thị Thụy Vũ chấp nhận một mình viết văn nuôi con.
Writer Nguyen Thi Thuy Vu hình ảnhAN NAM
Nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ trong buổi ra mắt sách hôm 20/03
Bà kể: "Hằng ngày tui phải chạy đến các tòa soạn báo viết truyện feuilleton (truyện dài kỳ). Đến báo này viết ba trang rồi lại tất tả chạy qua báo khác, cứ như vậy. Trăm hay không bằng tay quen. Đẻ con thì tự cho mình được nghỉ ba ngày để vào bệnh viện. Đẻ xong lại giao con chạy đi viết.
"Có chủ báo trả mỗi feuilleton ra là 20.000 đồng (tiền Việt Nam Cộng hòa), nhưng có ông chủ thì kì kèo bớt một thêm hai. Đó là cái nhục. Mình đi làm thuê cho người ta mà người ta coi đồng tiền to quá."
Bà coi Võ Phiến là người thầy, đàn anh nâng đỡ trong nghề văn. Những truyện đầu tiên bà gửi đến tạp chí Bách Khoa và được ông khuyến khích viết tiếp.
"Việc viết feuilleton như là gái có chồng rồi vẫn đi ăn sương. Tôi coi tờ Bách Khoa chỗ ông Phiến khác nào ông chồng già hiền lành nghiêm túc lặng lẽ luôn chờ tui về. Viết cho Bách Khoa của ông Phiến, tui có cảm giác mình được làm văn chương," bà Thụy Vũ kể lại.
Hỏi, các nhà văn nữ thời đó có chơi với nhau không? Nguyễn Thị Thụy Vũ: "Không, tụi tui mỗi người một thế giới; ít gặp nhau đàm đạo văn chương như mấy ông. Tụi tui chỉ thăm nhau lúc đẻ.
"Ông Thanh Tâm Tuyền nói rằng, phụ nữ không nên léo hánh chấn văn đàn, cần phải đuổi mấy bà vô bếp nấu ăn. Tui không tán thành. Nhưng mà thiệt tình tui lúc nào cũng thấy thua kém đàn ông về mặt sâu sắc. Lúc nào tui cũng nhượng bộ đàn ông chút xíu."
"Vậy bà có quan tâm đến nữ quyền không, ở thời điểm đó?" một người trẻ hỏi. Đáp: "Tui ít biết về cái đó. Nhưng nếu có nữ quyền trong truyện tui thì đó là viết một cách tự nhiên."
'Giải phóng'
Nguyen Thi Thuy Vu's book ảnhAN NAM
Cũng như nhiều người, bà quen dùng từ "giải phóng" để nói đến mốc sự kiện chính trị 30/4/1975. "Tui có chừng chục truyện viết xong xuôi rồi chưa kịp công bố thì "giải phóng". Mỗi đêm, thằng Công an Khu vực ở làng báo chí Thủ Đức đến gõ cửa nhà tui lục soát ba lần. Tui thấy phiền phức quá nên đem mớ bản thảo đi đốt. Sau lại tiếc, mình cũng ngu, phải chi mình gửi về quê cho bà già là xong."
Bà kể tiếp về giai đoạn bị tra xét lý lịch, quan điểm: "Các ông Nguyễn Quang Sáng, Anh Đức thương tình, dặn tui ra trước cán bộ phải nói vầy, nói vầy để được cảm thông, nhưng tui vẫn nói thẳng thắn mọi chuyện theo cách của tui. Về sau ông già tui nói, 'tao đã mở đường cho nó nhưng nó cứ chui vào chỗ khó' nhưng ổng tự hào về tui vì tui có lý tưởng riêng.
"Cuộc sống sau 'giải phóng' vô cùng khó khăn. Tui một mình nuôi bầy con nheo nhóc, có đứa bị thiểu năng nằm một chỗ. Tui phải để nó cho mấy đứa lớn cho ăn, chăm sóc còn mình thì đi làm thuê bán vé xe bus cho một người bạn.
"Xe chạy tuyến Thủ Đức - Sài Gòn, từ sáng đến tối mịch mới về nhà. Về đến nhà thấy con cái đứa thì nằm ngủ trên vũng nước đái, đứa lêu lổng đi chơi không cho em ăn… nhìn cái cảnh đó tui muốn chết đi cho rồi. Khó khăn quá, năm 1980 tui bồng bế tụi nhỏ về Bình Phước nương nhờ má cho đến bây giờ," bà kể.Xưa tui bỏ nó ở nhà đi làm báo, nó bị té, ảnh hưởng não nên nằm một chỗ đến giờ, vậy mà giờ nó nuôi tui bằng tiền từ thiện bạn bè, các nhà hảo tâm thương tình giúp đỡ…
Làm nhiều nghề kiếm sống nuôi con, từ chăn dê, buôn bán, trồng tiêu…, cây bút nữ dấn thân nhất của văn đàn miền Nam trước 1975 đã không còn viết gì nữa kể từ sau "giải phóng". Bà kể: "Ổng (tức, Tô Thùy Yên) thì theo gia đình vợ con ổng đi sang Mỹ, có đời sống riêng. Tui làm đủ nghề lo cho con.
"Ba đứa con tui cũng thành nhân, yên bề gia thất. Có một thằng làm thơ, người ta nói nó có chịu ảnh hưởng của cha nó. Nhưng mấy con tui, đứa nào cũng nghèo, chẳng giúp gì được mình. Tui sống nhờ đứa con bị tàn tật.
"Xưa tui bỏ nó ở nhà đi làm báo, nó bị té, ảnh hưởng não nên nằm một chỗ đến giờ, vậy mà giờ nó nuôi tui bằng tiền từ thiện bạn bè, các nhà hảo tâm thương tình giúp đỡ…"
Người mô tả về xã hội bên lề Sài Gòn khốc liệt một thuở lại cũng chính là người chịu đựng những hệ lụy mà chiến tranh để lại.
Trở lại văn đàn trong nước sau gần nửa thế kỷ, trong bối cảnh sách vở văn chương đang ở vào một giai đoạn hỗn loạn và phân hóa mạnh mẽ, thì tác phẩm của Nguyễn Thị Thụy Vũ minh chứng rằng, những gì là chân giá trị sẽ không bị phủ lấp dưới bụi thời gian và những định kiến.
Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm riêng của tác giả sống ở Sài Gòn.

Phần nhận xét hiển thị trên trang