Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Sáu, 10 tháng 2, 2017

Đi tìm đôi mắt người Sơn Tây.



“Đôi mắt người Sơn Tây
U uẩn chiều luân lạc
Buồn viễn xứ khôn khuây
…Đường hoa khô ráo lệ”.


Tranh của Quang Dũng

Gần 70 năm trôi qua với bao thời cuộc thăng trầm, bài thơ Đôi mắt người Sơn Tây, về sau được nhạc sĩ Phạm Đình Chương phổ nhạc, đã thấm sâu vào lòng người, dựng thành tượng đài âm nhạc bất hủ. 

Nhưng đời sau có mấy người biết đôi mắt ấy là đôi mắt nào, chàng thi nhân, chiến binh Quang Dũng đã đắm say ai để dệt mộng thành những dòng thơ trác tuyệt này? 


Bên tủ sách, bàn thờ Quang Dũng

Là lớp hậu sinh, tôi mê mẩn nằm lòng bài Tây Tiến, đắm đuối khôn khuây với Đôi mắt người Sơn Tây, Ba Vì mờ cao mà chưa bao giờ được may mắn hầu trà tác giả thi nhân.

Nhưng chính những dịp cầm viết rong ruổi, tôi tình cờ tao ngộ hoặc được sắp đặt trước với các người con và bạn bè văn chương, kháng chiến tri âm tri kỷ của ông đã gợi dậy nhiều kỷ niệm đặc biệt. 

Những kỷ niệm như chính họ tâm sự rất ít người được biết, bởi đấy là lúc tuổi đã xế chiều, ngồi nhớ bạn khuất xa mà bâng khuâng hồi tưởng. Bởi lúc còn sống, Quang Dũng hiếm khi trải lòng mình, đặc biệt là tháng ngày khoác áo phong sương, theo đoàn binh Tây Tiến.

Người bạn học “tiểu tư sản mơ màng”

Hà Nội, chớm đông. Tôi đội mưa đi tìm lại những kỷ niệm về ông. Tôi gọi điện cho chị Bùi Phương Thảo, con gái nhà thơ Quang Dũng, trong cơn mưa giao mùa giăng mờ mịt phố xá. Chị hào hứng: “Bạn ra Sài Đồng chơi, Thảo mới dọn nhà ở khu tập thể về đây rồi”.

Ông xe ôm, cựu chiến binh kháng Pháp, nghe tôi tìm nhà con cháu Quang Dũng cũng hăng hái ra mặt: “Ồ! Bác nhà thơ Tây Tiến đấy à. Lứa lính tráng một thời như chúng tôi ai chẳng thuộc bài thơ này”. 

Tiếp tôi trong căn hộ chung cư Sài Đồng, chỉ mỗi chiếc tủ sách bên trên làm bàn thờ là trang trọng nhất kê ngay giữa phòng, chị Thảo bùi ngùi: “Quà tôi tặng hương hồn cha nhân dịp giỗ đấy. Cả đời ông đi và viết trong nghèo khó, chỉ mơ một tủ sách đàng hoàng nhưng đến lúc xuôi tay vẫn chưa thể nào có được. Tôi vẫn nhớ mãi hình ảnh cha ngồi cặm cụi viết bài trên gác xép. Cái bàn viết của ông chính là bệ cầu thang đã cũ mục, mốc ố theo thời gian. Thời kỳ giới văn nghệ sĩ gặp sóng gió, ông trầm tư, buồn bã hẳn với chiếc bóng cô đơn của chính mình!

Ngược thời gian trở lại một thời chinh chiến chống Pháp, Quang Dũng gia nhập đoàn quân cách mạng mùa thu năm 1945. Trước đó, bước chân phiêu bạt thi nhân đã từng rong ruổi vào Nam, rồi ngược sang phương Bắc để tìm những người đồng chí hướng.

Về nước tham gia khởi nghĩa năm 1945, Quang Dũng được phân làm phái viên phòng quân vụ Bắc bộ chuyên đi tìm kiếm, thu mua, cất giấu vũ khí. 
Nhiều người bạn vong niên của ông thời kỳ này đã khuất núi từ lâu, nhưng may mắn tôi vẫn còn gặp được vài người từng tri kỷ của ông. Nguyên tiểu đoàn trưởng pháo binh 523, sư đoàn 304 từng tham chiến Điện Biên Phủ, Hoàng Giáp kể thuở thiếu thời ông học chung với Quang Dũng ở Trường Bưởi.

Ông ngồi lớp sau Quang Dũng nhưng hai người vẫn khá thân nhau do cùng chí hướng và chung cả cái tính “tiểu tư sản mơ màng chữ nghĩa, văn chương”. 

Nhà thơ Quang Dũng năm 1951

Gặp gỡ ở chợ tao nhân  

Nhiều năm hồi tưởng lại người bạn đã đi trước mình, ông Giáp nay đã ngoài tuổi 90,  bùi ngùi tâm sự sau kháng chiến Hà Nội mùa đông năm 1946, họ cũng như bao chiến sĩ rút về vùng kháng chiến. Quang Dũng giã từ gia đình theo đoàn quân Tây Tiến từ cửa ngõ Hòa Bình đi ngược miền sơn cước Tây Bắc sang Thượng Lào.

Ông Giáp cũng tham gia nhiệm vụ địch vận. Đây chính là thời gian hai người rất gần gũi bên nhau. 

Có một thời gian, họ tạm dừng chân ở vùng “trái đệm” Chợ Đại - Cống Thần, Hà Đông, bên bờ sông Đáy. Đây là một địa chỉ nổi tiếng mà có lẽ nhiều người cao tuổi Hà Nội từng trải thời chiến đều biết, bởi nó rất gần Hà Nội nhưng lại là vùng tự do. Trai gái Hà Nội tham gia Việt Minh hầu hết đều lên rừng qua cửa ngõ này. 

Thuở chín năm chống Pháp, Chợ Đại - Cống Thần là một khu chợ tự phát nằm ở vùng Pháp không thể kiểm soát được, để không chỉ người dân, mà người của Việt Minh có thể tìm về mua nhu yếu phẩm, trai Hà Nội theo đoàn quân đánh giặc còn có thể dừng chân, luyến lưu một chút hương vị Hà thành sót lại ở đây trước khi lên rừng.

Tiếng là chợ quê, hàng quán phần lớn dưới mái chòi tranh lụp xụp, người ta vẫn có thể tìm thấy nhiều thứ bất ngờ, thú vị ở đây. Nho nhỏ như những cây bút máy, bật lửa, đồng hồ, quyển sách có khắc tên, ký tên ai đấy, và không thiếu cả những hàng rượu, hàng chè, cà phê, ca hát đậm đà hương vị Hà thành. 

Nhiều tên tuổi tao nhân mặc khách đã xuất hiện ở nơi này, từ Phạm Duy trước khi lên rừng và ngày trở về đều không thể không dừng chân, đến Huyền Kiêu, Tản Đà, Nguyễn Tuân, Bùi Xuân Phái, Tạ Tỵ… Một số tướng lãnh, chiến sĩ lừng danh chiến cuộc như Tạ Đình Đề, Phùng Thế Tài, Hoàng Minh Thảo, Văn Tiến Dũng, Hoàng Sâm… cũng thoắt ẩn thoắt hiện gieo rắc kinh hoàng cho quân Pháp cũng như hút cả đám tai mắt tình báo tụ về. 

Cô hàng cà phê Akemi

Cảm xúc khởi nguồn của bài Đôi mắt người Sơn Tây chính là lúc Quang Dũng tạm dừng chân chinh chiến, vô tình tao ngộ hay có duyên từ muôn kiếp với một người đẹp ở ngôi chợ này”, ông Hoàng Giáp hồi tưởng kỷ niệm khó quên về bạn.

Những người bạn rất thân với cả ông Giáp và Quang Dũng là thiếu tướng Ngô Huy Phát và vợ chồng bà Tuyết Hương, hiện đang sống ở Hà Nội, cũng đoan chắc điều này. Họ đều tham gia cuộc chiến vệ thành Hà Nội mùa đông năm 1946.

Khi tạm rút, mọi người có thời gian nán lại Chợ Đại - Cống Thần, và biết tại sao Quang Dũng viết Đôi mắt người Sơn Tây, tại sao lại những dòng thơ vừa lãng mạn vừa bi hùng:

“Em ở Thành Sơn chạy giặc về
Tôi từ chinh chiến cũng ra đi.
Cách biệt bao ngày quê Bất Bạt
Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì…”.

Đó chính là nàng Akemi, một cô gái Việt thuần khiết, nhưng được gọi tên Nhật bởi một lý do đặc biệt xuất phát từ hoàn cảnh chiến tranh. Akemi quê ở Sơn Tây, là một thiếu nữ yêu kiều, quý phái và có học hành.

Thời cuộc ly loạn, chiến tranh đã đưa đẩy mỹ nữ Akemi về thành Hà Nội và một thời gian làm vũ nữ ở các phòng nhảy có sĩ quan Nhật thường xuyên lui tới. Vì chiến chinh xa nhà, họ nhớ quê hương, nhớ phụ nữ Nhật, nên đã mê mệt và tự đặt cho cô biệt danh Akemi.

Tướng Ngô Huy Phát, thời điểm 1945 tham gia Việt Minh trong đội tự vệ thành Hoàng Diệu, cũng biết cô: “Akemi rất đẹp, cô có đôi mắt đen to, làn da trắng mịn và dáng người cao gầy thanh thoát nên mỗi khi lên sàn lả lướt là hút hết mắt đàn ông.

Không chỉ giới nhà binh, nghệ sĩ, thi sĩ, mà cả nhiều sinh viên, thanh niên Hà Nội thuở ấy cũng biết tiếng cô. Một số người đã thầm tương tư Akemi, trong đó có cả bạn thân của tôi”. 

Sau cuộc chiến vệ thành Hà Nội mùa đông năm 1946, Akemi cũng như nhiều người khác theo Việt Minh, ra vùng tự do. Cô dừng chân ở Chợ Đại - Cống Thần, mở một quán cà phê nho nhỏ bên bờ sông Đáy, độ nhật cùng mẹ già.

Tuy nhiên, theo ông Hoàng Giáp, người bạn rất thân của Tạ Đình Đề, Akemi không chỉ đơn thuần là cô hàng cà phê xinh xinh trong mắt kẻ si tình. Cô chính là tai mắt bí mật của Việt Minh ở vùng trái đệm luôn dày đặc tình báo ta lẫn mật thám Pháp cài cắm nghe ngóng lẫn nhau. “Tôi tin Tạ Đình Đề nói chính xác. Lúc ấy, ông Đề là đội trưởng biệt động Hà Nội, chuyên làm nhiệm vụ trừ khử quân Pháp và Việt gian, nên thiết lập rất nhiều đầu mối mật báo và hiểu rõ nhiệm vụ bí mật của Akemi”, ông Giáp còn kể thêm chính mình và Tạ Đình Đề cũng nhiều lần ghé quán cà phê này. 

Quán tranh nhỏ bé, nhưng Akemi pha cà phê rất ngon, đặc biệt là dung nhan và nghệ thuật ăn nói thu hút của cô đã khiến nhiều bậc trai hùng mê mệt, không đành lỡ bước ngang qua. Và tất nhiên, trong đó cũng không thiếu Quang Dũng, một chiến binh Tây Tiến có trái tim thi nhân lãng mạn trong cái vẻ bề ngoài phong trần, khinh bạc...  

Tranh của Quang Dũng

Nỗi sầu tương tư 

Tôi biết Quang Dũng hồi ấy cũng hiểu mình chỉ là một trong những người tương tư Akemi, nhưng trái tim anh lính mê thơ này đã đắm say rồi, biết làm sao”, ông Hoàng Giáp nhớ trong một lần say cô hàng cà phê, Quang Dũng đã đề tặng ngay mấy câu thơ lên vách nứa: “Tóc như mây cuốn, mắt như thuyền/ Khuấy nước kênh Đào sóng nổi lên/ Ý nhị mẹ cười sau nếp áo/ Non sông cùng đắm giấc mơ tiên”

Tuy nhiên, cuộc hành quân Tây Tiến không thể cho Quang Dũng dừng bước chinh nhân, xây mộng hồ điệp. Akemi cũng không đủ thời gian tường tận tấm tình của chàng chinh nhân để trái tim của mình đáp trả.

Giấc mơ tình chỉ như sương khói thoảng qua, thuyền tình theo nước sông Hồng cuốn trôi. Quang Dũng cầm súng lên miền sơn cước Tây Bắc, cô hàng cà phê vẫn bên bờ sông và ngày ngày lại dập dìu khách đến người đi. Nỗi buồn man mác như những câu thơ vọng xa xăm:

“Bao giờ tôi gặp em lần nữa
Ngày ấy thanh bình chắc nở hoa
Đã hết sắc màu chinh chiến cũ
Còn có bao giờ em nhớ ta?”...

Nhiều năm nhắc nhớ một thời hào hoa và hùng tráng, tướng Ngô Huy Phát kể không hiểu sau này Quang Dũng còn qua lại với Akemi không, nhưng ông biết chuyện mỹ nhân có một cuộc tình khác, đã đơm hoa kết trái dù cái hậu cũng rất buồn. Người ấy chính là T.S., trung đoàn trưởng trung đoàn 48, sư đoàn 320.

Còn tướng Phát hồi ấy là trợ lý trực tiếp của ông. “Những ngày dừng chân ở Chợ Đại - Cống Thần, tôi biết cả T.S. lẫn Quang Dũng đều ghé quán cà phê Akemi, nhưng nhà thơ hành quân trước, còn T.S. vẫn ở lại nên đã chinh phục được trái tim người đẹp”, tướng Phát kể thêm có những đêm T.S. lặng lẽ đi tới 12 giờ mới trở về, và có những tối không mưa mà ông vẫn cầm tấm khoác của lính đi. 

Khi T.S. lên đường, Akemi đã có một sinh linh trong lòng mà ông không hề biết, vì người đẹp không đành níu kéo bước chân vị tướng quân. Năm 1950, T.S. tử trận gần chân núi Ba Vì vẫn không biết mình có con gái với Akemi. Sau đó, mẹ con Akemi về lại Hà Nội, rồi di cư vào Nam, để lại nỗi lưu luyến vẩn lòng bao kẻ si tình.

Trong đó có nhà thơ Quang Dũng vẫn không nguôi ngoai đôi mắt người Sơn Tây:
“Vầng trán em vương trời quê hương
Mắt em dìu dịu buồn Tây phương
Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm
Em đã bao ngày em nhớ thương…
Em mơ cùng ta nhé
Bóng ngày mai quê hương
Đường hoa khô ráo lệ”.

Chiến tranh kết thúc, Quang Dũng giã từ áo lính, về Hà Nội tiếp tục nghiệp cầm viết, có đi tìm đôi mắt người xưa nhưng người ấy đã xa rồi… 

Nhà thơ Quang Dũng chụp tại Lâm Đồng năm 1983 cùng con gái Bùi Phương Thảo (thứ hai từ phải sang) - Ảnh riêng


Chị Bùi Phương Thảo kể cha mình nghèo thì thật nghèo nhưng lại rất giàu tình, giàu bạn. Thời gian ông nằm liệt sắp mất, con cái và bạn bè luôn quây quần bên ông. Người ôn lại chuyện xưa, bạn véo von Đôi mắt người Sơn Tây, ngâm nga Tây Tiến, Ba Vì mờ cao. Nhà thơ nằm bất động vẫn cảm nhận được tình cảm đầm ấm, nước mắt ông chảy dài trên má. 

QUỐC VIỆT

Phần nhận xét hiển thị trên trang

"TỨ BẤT TỬ" LÀ NHỮNG VỊ NÀO VÀ CÓ TỪ BAO GIỜ?


TỨ BẤT TỬ TRONG TÂM THỨC VIỆT NAM
Nguyễn Xuân Diện
Lời dẫn của tác giả: Nhân dịp chính hội Đền Và (Sơn Tây) - nơi thờ Thần Tản Viên, một trong Tứ Bất Tử, xin giới thiệu lại bài viết về Tứ Bất tử của Nguyễn Xuân Diện viết năm 1996. Trong các vị "Tứ Bất Tử" có 3 vị hiển thánh từ thời Hùng Vương, và đặc biệt, 2 trong 3 vị là con rể của Vua Hùng.
Trong tín ngưỡng thờ bách thần của người Việt, “hoặc có vị là tinh túy của núi sông, hoặc có vị là nhân vật linh thiêng, khí thế lừng lẫy về trước, anh linh còn mãi về sau” (Lời tựa sách Việt điện u linh), nhưng có 4 vị thần được dân gian tôn vinh là Tứ bất tử. Đó là bốn vị linh thiêng trường sinh bất tử trong thần điện Việt Nam. Mọi người vẫn cho rằng đó là Tản Viên Sơn Thánh, Chử Đồng Tử, Tháng Gióng và Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Thực ra, trong lịch sử đã đã diễn ra không phải hoàn toàn như vậy, và trong chúng ta không phải ai cũng biết Tứ bất tử là những ai và có từ bao giờ.   

Những ghi chép trong thư tịch cổ

Tài liệu xưa nhất về thuật ngữ Tứ bất tử mà chúng tôi được biết là bản Dư địa chí, in trong bộ Ức Trai di tập, (VHv.1772/3 q.6) do Nhà in Phúc Khê, in năm Mậu Thìn (1868) niên hiệu Tự Đức.

Bản Dư địa chí mà chúng ta hiện có là một công trình nghiên cứu tập thể. Ngoài lời tập chú của Nguyễn Thiên Túng, lời cẩn án của Nguyễn Thiên Tích và lời thông luận của Lý Tử Tấn, Dư địa chí còn có những phần do người các thời sau (cụ thể là người các thế kỷ 16, 17, 18) đã thêm vào và sửa chữa nhiều lần. Trong số họ, có Thư Hiên Nguyễn Tông Quai (1693-1767). 

Thư Hiên Nguyễn Tông Quai ở thế kỷ XVII là người đầu tiên giải thích thuật ngữ Tứ bất tử, khi ông chú giải điều 32 trong sách Dư địa chí(VHv.1772/3 tờ 13a) của Nguyễn Trãi. 

Lời chú ấy như sau: “... Người đời Thanh nói: Tản Viên Đại Vương đi từ biển lên núi, Phù Đổng Thiên Vương cưỡi ngựa bay lên không trung, Đồng tử nhà họ Chử gậy nón lên trời; Ninh Sơn (nay là Sài Sơn) Từ Đạo Hạnh in dấu vào đá để đầu thai. Ấy là An Nam Tứ bất tử vậy” (Nguyễn Thư Hiên viết: ... Thanh nhân xưng Tản Viên Đại Vương chi tự hải vãng sơn; Phù Đổng Thiên Vương chi kỵ mã đằng không; Chử gia Đồng tử chi trượng lạp thăng thiên; Ninh sơn (kim Sài Sơn) Từ Đạo Hạnh chi ấn thạch đầu thai. Vị An NamTứ bất tử vân).

Giá Sơn Kiều Oánh Mậu (1854-1911) người làng Đường Lâm  là nhà học giả nổi tiếng của cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, trong lời Án sách Tiên phả dịch lục (AB.289, tờ 4a), in năm Canh Tuất 1910 có viết: 

“Tên các vị Tứ bất tử của nước ta, người đời Minh cho là: Tản Viên, Phù Đổng, Chử Đồng Tử, Nguyễn Minh Không. Đúng là như vậy. (Vì) bấy giờ Tiên chúa (Liễu Hạnh) chưa giáng sinh nên người đời chưa thể lưu truyền, sách vở chưa thể ghi chép. Nay chép tiếp vào(Án: Ngã Tứ bất tử chi danh, Minh nhân dĩ Tản Viên, Phù Đổng, Chử Đồng Tử, Nguyễn Minh Không. Đương chi nhiên; thử thời Tiên chúa vị giáng, cố vị cập thế nhân sở truyền, văn hiến khả trung. Kim tục chi).

Trên đây là những thông tin về Tứ bất tử trong thư tịch Hán Nôm, hiện đang lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Các tài liệu tiếng Việt hiện đại về Tứ bất tử thì phong phú hơn nhiều. Dưới đây, chúng tôi xin điểm qua những tài liệu đó: 

Nguyễn Tuân (1910-1987), trong thiên truyện Trên đỉnh non Tản in trong tập Vang bóng một thời, có viết: “... Bốn vị Tứ bất tử nơi thế giới u linh: thánh Tản Viên, chúa Liễu Hạnh, Chử Đồng Tử, và Phù Đổng thiên vương”. 

Hà Kỉnh (1922-1995) trong cuốn Truyền thuyết Sơn Tinh viết: “Ở Việt Nam ta có bốn vị thần bất tử là: Phù Đổng Thiên Vương, Chử Đồng Tử, Bà chúa Liễu Hạnh, Tản Viên Sơn Thần”. 

Vũ Ngọc Khánh và Ngô Đức Thịnh, trong chuyên khảo Tứ bất tử chỉ thấy trình bày về bốn vị thánh bất tử gồm: Tản Viên Sơn Thánh, Chử Đạo Tổ, Đức Thánh Gióng và Thánh Mẫu Liễu Hạnh.  

Bảng thống kê dưới đây sẽ cho thấy sự xuất hiện của các vị Tứ bất tử trong các tư liệu kể trên (số thứ tự như số thứ tự các đơn vị tư liệu đã trình ở trên):

STT
Tản Viên
Sơn Thánh
Chử
Đạo Tổ
Thánh Gióng
Từ Đạo Hạnh
Nguyễn
Minh Không
Liễu Hạnh
1
+
+
+
+


2
+
+
+

+

3
+
+
+


+
4
+
+
+


+
5
+
+
+


+

Như vậy các vị Tản Viên Sơn Thánh, Chử Đạo Tổ và Thánh Gióng luôn luôn cố định và nhất quán trong các tài liệu, các thời đại. Khi Liễu Hạnh chưa giáng sinh thì Từ Đạo Hạnh hoặc Nguyễn Minh Không được xếp vào hàng Tứ bất tử. Thư tịch cổ cũng cho biết rằng, việc người Việt thờ phụng Tứ Bất Tử được người Trung Hoa biết đến và ghi nhận. Điều đó chứng tỏ việc phụng thờ Tứ Bất tử là một nét tâm linh rất độc đáo và riêng khác của người Việt. 

Lý giải về Tứ bất tử

Trước hết, nói về con số bốn (tứ). Trong tư duy của người Việt, con số này mang tính ước lệ và có ý nghĩa lớn. Tứ (bốn) là một hằng số được dùng để khái quát về một phạm trù nào đó. Ví dụ: Tứ trấn, An Nam tứ đại tài, Tràng An tứ hổ, Sơn Tây tứ quý, Mỗ-La-Canh-Cót tứ danh hươngv.v..

Và việc chọn lấy 4, trong toàn thể của một tập hợp là chọn lấy những gìtiêu biểu nhất, độc đáo nhất và có tính thời đại.
 
Từ bất tử cũng là một tập hợp như vậy. Cũng chính vì thế mà có đến 6 vị thánh được coi là bất tử trong tín ngưỡng dân tộc Việt. đó là các vị: Tản Viên Sơn Thánh, Chử Đạo Tổ, Thánh Gióng, Liễu Hạnh, Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không. 

Sơn Tinh - Tản Viên Sơn Thánh:

Sơn Tinh - Tản Viên Sơn Thánh là tên gọi của vị Thần núi Tản, vị thần tối cổ trong tâm linh dân tộc Việt. Tản Viên Sơn tức là núi Ba Vì, “núi tổ của nước ta” (Nguyễn Trãi - Dư địa chí). Núi có ba ngọn cao chót vót. Ba anh em Thánh Tản (còn gọi là Tam vị Đại Vương Quốc chúa Thượng đẳng thần) chia nhau cai quản, mỗi người một ngọn núi.

Xuất phát từ nhận định cốt lõi tín ngưỡng Sơn Tinh - Tản Viên Sơn Thánh là TÍN NGƯỠNG THẦN NÚI (Sơn Tinh, Sơn thần) nằm trong hệ thống tín ngưỡng các hiện tượng tự nhiên, chúng tôi khẳng định rằng, nói Sơn Tinh - Tản Viên Sơn Thánh là nói tới cả ba anh em thần núi. Như vậy, đương nhiên cả ba vị thần đó đều thuộc Tứ bất tử

Cũng từ cốt lõi của tín ngưỡng thần núi của người Việt, cho nên có hiện tượng công chúa Ngọc Hoa, vợ của Thánh Tản (người anh cả) không được đề cao ngang hàng với Tam vị Tản Viên Sơn Thánh, dù rằng ở một só làng nơi giáp ranh giữa Sơn Tây, Ba Vì, Phú Thọ vẫn có những lễ hội đề cao Ngọc Hoa. 

Văn tế, sự sắp xếp các ngai thờ, nghi lễ, tự khí... mà chúng tôi khảo sát tại những ngôi đền thờ Thánh Tản ở vùng xung quanh núi Ba Vì càng góp phần làm sáng tỏ cho những nhận định trên đây. 

Chử Đạo Tổ: 

Nếu như ở huyền thoại Sơn Tinh - Tản Viên Sơn Thánh, người ta có thể tìm thấy những lớp ý nghĩa cổ xưa nhất của tín ngưỡng chất phác, nguyên thủy bằng cách bóc tách những lớp trầm tích tiềm ẩn trong văn bản thần tích thì với huyền thoại Chử Đồng Tử, công việc trở nên rất khó khăn. Huyền thoại Chử Đồng Tử (Chử Đạo Tổ) là câu chuyện của Đạo Giáo, Đạo Thần Tiên, một tín ngưỡng vốn du nhập từ bên ngoài vào nước ta từ rất sớm. Cốt lõi huyền thoại cũng như tín ngưỡng Chử Đạo Tổ là tín ngưỡng Đạo giáo mang màu sắc tín ngưỡng dân gian thuần Việt. Chử Đồng Tử chính là người đi tiên phong trong cuộc thụ phép thần tiên để tế độ và truyền dạy cho người khác. Dân gian tôn vinh Chử Đồng Tử là Chử Đạo Tổ là vì thế.

Khảo sát hệ thống thờ tự ở đền chính thờ Chử Đồng Tử ở Đa Hòa, chúng tôi thấy, từ rất xa xưa, ở đó đã có ba pho tượng đồng và ba pho tượng đất mà cứ vị ngồi ở giữa là Chử Đạo Tổ, hai vị ở hai bên là Tiên Dung và Nội Trạch Tây Cung. Ở đình Tự Nhiên (huyện Thường Tín, Hà Tây), đối diện với Đa Hòa qua sông Hồng, khi mở hội cũng rước ba cỗ long kiệu ba vị kể trên. 

Mặc dù vậy, nếu xuất phát từ cốt lõi tín ngưỡng Chử Đạo Tổ thì trong số ba vị này, chỉ có Chử Đồng Tử, là thuộc về Tứ bất tử, của tâm thức dân gian Việt Nam. 

Thánh Gióng
là vị “anh hùng độc lập” trong Tứ bất tử. 

Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không, Liễu Hạnh và quá trình hội nhập vào Tứ bất tử:

Trước kia, khi Liễu Hạnh chưa xuất hiện (giáng thế) thì Từ Đạo Hạnh hoặc Nguyễn Minh Không là một trong Tứ bất tử có lẽ là từ những “tiêu chí” sau đây:

- Cả hai vị đều “giáng sinh” trong một triều đại sớm của lịch sử Việt Nam.

- Từ hai vị này đều làm nảy nở những câu chuyện đậm màu sắc Đạo giáo - một tín ngưỡng sớm đến với Việt Nam và có nhiều khả năng hội nhập với tín ngưỡng bản địa. 

- Hai vị này đều hóa thân sau khi mất, và đầu thai thành nhiều kiếp.

Khi Liễu Hạnh “giáng sinh” vào khoảng thế kỷ XVI cũng chính là lúc ý thức hệ Nho giáo ở nước ta đang đi vào con đường suy thoái. Thực trạng xã hội loạn lạc, chiến tranh giết tróc, làm cho nhân dân vô cùng cực khổ, khao khát cháy bỏng về một cõi tâm linh an lạc, siêu thoát. Phật giáo và Đạo giáo có cơ phát triển trong dân gian. Về Phật giáo, quan niệm Tịnh Độ tông với lối sống từ bi hỷ xả, với phương thức thỏa mãn nhu cầu tinh thần của con người, với tính chất dung hòa và phổ cập đã trở nên thắng thế và phổ biến trong suốt các thế kỷ XVI và XVII. Còn Đạo giáo, với những bùa chú, phép thuật, với những lối hành đạo phức tạp bởi những biểu tượng đã nhiều lúc trở thành cứu cánh để người ta tìm về làm chỗ dựa và nuôi dưỡng niềm tin về sự giải thoát. Nội Đạo tràng ra đời vào lúc này và sớm trở nên thịnh hành, được vua Lê thừa nhận. Tín ngưỡng tam phủ, mà trung tâm là thờ Mẫu hình thành và phát triển khá nhanh.
Liễu Hạnh “giáng thế” đáp ứng nhu cầu thỏa mãn tâm linh của mọi giai tầng trong xã hội, phù hợp với tâm thức dân gian Việt Nam. Nếu so với Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không thì sự phụng thờ Liễu Hạnh bắt nguồn sâu xa từ trong tín ngưỡng thuần Việt của tâm thức dân gian, rồi lại xâm thực và hòa đồng vào tín ngưỡng Tứ phủ, nên tín ngưỡng này mang nhiều hơi hướng thời đại, cập nhật và phù hợp với thực tại. Ra đời trong thời kỳ đó, và với vai trò như vậy, việc tín ngưỡng Liễu Hạnh trở thành trung tâm của tín ngưỡng Tứ phủ và hội nhập với Tứ bất tử, trở thành biểu tượng của sự trường tồn là một điều dễ hiểu. 

Từ đó đến nay, tín ngưỡng Tam phủ rồi Tứ phủ luôn luôn là một trong những trung tâm tín ngưỡng của tâm thức dân gian. Ảnh hưởng của tín ngưỡng Mẫu Liễu Hạnh mang tính bao trùm, có phạm vi rộng lớn hơn so với ảnh hưởng của Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không là điều đã khẳng định trong dân gian. 

Tóm lại, trong tâm thức dân gian Việt Nam từng có Tứ bất tử. Các vị từng được coi là có chân trong Tứ bất tử gồm:

- Tản Viên Sơn thánh (3 anh em)
- Chử Đạo Tổ
- Thánh Gióng
- Thánh Láng Từ Đạo Hạnh
- Nguyễn Minh Không
- Thánh Mẫu Liễu Hạnh
 
Qua thời gian, cùng với sự xuất hiện những yếu tố mới, mang tính thời đại về tư tưởng, triết lý, quan niệm thì niềm tin, tín ngưỡng, quan niệm về Tứ bất tử có sự thay đổi, dẫn đến việc Thánh Mẫu Liễu Hạnh thay thế Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không, đứng vào hàng Tứ bất tử như là một tất yếu.

Tuy nhiên, những cắt nghĩa trên đây chỉ là những nét phổ quát nhất, trên mặt bằng tín ngưỡng của dân gian trong phạm vi rộng lớn, mang đặc điểm chung nhất. Ở một số nơi, một số vùng, quan niệm tín ngưỡng vẫn có những nét riêng, và tất nhiên, không phổ biến và chỉ có ảnh hưởng ở phạm vi nhỏ, hẹp. 

Việc phụng thờ Tứ Bất tử là một tín ngưỡng thuần túy Việt Nam, kết tinh từ những truyền thuyết đẹp đẽ và là một bộ phận không thể tách rời trong di sản tôn giáo và tinh thần của đất nước. Và chính người Trung Quốc, từ bao đời nay cũng đã biết đến và ghi nhận tín ngưỡng Tứ Bất tử của Việt Nam.

Nguồn: Thông báo Hán Nôm học 1996

Phần nhận xét hiển thị trên trang

NHÌN RA BIỂN..


Truyện ngắn HG
Khi T lên xe được một lúc, một phụ nữ còn trẻ, chạc ngoàii ba mươi, dắt theo một bé trai bước lên xe. Khi ấy T không để ý lắm.
Anh đã phải mất công gần nửa ngày trời chờ đợi ở đây mà xe vẫn chưa chạy. Hỏi – Tài xế nói “Xe đi ngay bây giờ đây chú hai”! Rốt cuộc xe vẫn nằm chình ình tại bến. Chưa có dấu hiệu gì chuẩn bị lăn bánh.
Chốc chốc lại một cô gái bưng theo mẹt hàng di động dí sát chỗ ngồi mời mua đủ thứ thập cẩm trên đời. Cả những thứ T biết có mua cũng chẳng biết dùng vào việc gì. Riêng có một tay trung niên tật nguyền cứ tha thiết mời anh đến hai ba lần. Nể quá, anh đành phải mua cho gã cuốn sách.
Đây là cuốn “Tài dùng binh của Khổng Minh” hình như của một tác giả trẻ người Trung Quốc. Thứ sách in lậu, thông tục dễ bán ở những nơi như thế này.
Sở dĩ anh khẳng định như thế là vì sau khi gã bán sách đi khỏi anh giở sách ra xem, ruột sách in lỗi, thiếu nhiều trang. Đó là những trang trắng, không có chữ.
T định tìm gã bán sách để đổi lại cuốn khác, nhưng không thấy gã đâu nữa. Cứ ngỡ nội dung sách có gì khác biệt với bộ Tam Quốc anh đã đọc, hóa ra toàn chuyện tầm phào vớ vẩn, miêu tả những chi tiết, sự kiện kể cả người chưa đọc Tam Quốc bao giờ vẫn có thể vẫn biết. Cái sự “biết” ấy nhờ ở tập quán tán tụng, lưu truyền miệng trong dân gian. Xem kỹ, thì ra tác giả lại là người Việt, kiến thức đã không đáng chú ý, bố cục sách viết lại quá cẩu thả, ngôn ngữ lủng củng, cốt truyện chắp nối bằng các mối ghép thô thiển, vô lý, lỏng lẻo..
Đúng là loạn. Chưa có thời nào sách in bừa bãi như thời gian gần đây. Nhìn bề ngoài bìa màu mè rất đẹp, nhưng nội dung phù phiếm, tạp nham. Đọc những cuốn sách như thế chẳng giúp ích gì cho bản thân. Có khi gây thêm chút bực dọc cho văn hóa đọc.
Thôi, cứ như mình vừa đánh rơi tiền, không bận tâm đến nữa. T duỗi chân trên cái giường nhỏ hẹp không được thoải mái cho lắm, định chợp mắt một chút cho lại sức. Gọi là xe giường nằm cao cấp nhưng thực chất nó chả khác nào một cái công ten nơ chở hàng. Mỗi hành khách được bố trí khoảng không gian tận dụng, chả khác gì cá hộp xếp ở trong khoang. Lúc mới lên còn có một mụ trắng béo, dáng quý bà ngồi đan len ngồi có vẻ thong thả, nhàn tản. Mỗi khi có khách mới lên xe mụ ngọt nhạt sắp xếp chỗ ngồi, nơi để đồ đạc. Hỏi có cần mua nước uống, khăn lạnh, kẹo cao su hay là thuốc chống say xe. Thấy mụ tự nhiên, chủ động làm mọi việc như thế T cứ tưởng mụ là nhà xe, hay ít ra cũng là nhân viên của tuyến đường dài. Mãi đến lúc xe chạy, mụ lật đật xuống xe, anh mới biết té ra mụ cũng là cánh hàng rong.
T trở thành ngố thực sự vì đã lâu anh không đi xe đường dài, hành trình về phương nam. Nghe người ta nói, anh tưởng xe giường nằm thoải mái cơ, lại nhanh hơn đi tàu hỏa, kỳ thực không phải như vậy.
Anh biết mình đã có một lựa chọn sai lầm. Nếu không đợi xe ở đây, vào ga Hà Nội đi tàu, bây giờ có lẽ đang trên hành trình gần đích tới của mình hơn.
Trên tàu giường nằm cũng có, sinh hoạt có khi còn thoải mái hơn không vướng víu, chật chội như ở trên cái xe, nếu để ý kỹ thì mới biết nó vừa được “mông” lại cho mới này.
Mụ béo trắng ban nãy nói với người hàng ghế trên anh:” Xe này tiện nghị cực mốt, thoải mái, chiều khách hết ý. Không như các xe khác. Đã chậm lại thờ ơ, có khi còn như cãi nhau với khách khi đã ngồi lên xe. Họ chỉ ngọt giọng lúc mời chào thôi. Lên xe rồi, dịu dàng ấy tịt luôn.. Khách muốn ăn, uống đi vệ sinh dọc đường phiền phức lắm. Hôm nọ có chị quá mót tiểu, đề nghị nhà xe dừng lại cho giải quyết, ông ta cứ lờ đi. Cuối cùng mọi người có biết làm sao không? Chị ta chịu không được, vỡ cái bàng quang, phải đi cấp cứu đấy!”.
Chuyện có thật hay không, không ai biết, nhưng nó ngồ ngộ khiến vài người chú ý. Một lão tay trung trung tuổi, mặt bặm trợn, có cái sẹo sát thái dương đế thêm vào: “ Chuyện nhỏ như con thỏ. Xe không đỗ vẫn có cái giải quyết cơ mà, có gì mà phải lo xốn lên?”.
Một cô gái: “cách nào hả chú?” Vẫn mụ trắng béo: “ Đàn ông cần thì cứ bỏ “con giống, con vốn” ấy vào miệng chai, dễ ợt thôi cô nương ạ! “ Rồi quay sang luôn tay trung trung tuổi vừa rồi vẻ láu lỉnh: “Vậy anh trai mua cho em chai nước khoáng. Có mấy loại chai nhựa cơ: Một lít, ba lít, nửa lít cũng có. Vừa dùng rửa mặt dọc đường, vừa được uống..Nếu cần giải quyết theo kiểu anh nói, có cái giải quyết. Quá tiện! Đàn ông các anh hơn bọn đàn bà con gái cái khoản này!”. “Vâng cám ơn. Tôi đã có chuẩn bị. Cô gì vừa nãy có mua thì mua?”
Cô gái ban nãy đỏ mặt, quay ra bên ngoài, làm như không nghe thấy gì.
Câu chuyện ngồ ngộ của họ làm T hết muốn ngủ. Anh bắt đầu để ý đến những người xung quanh. Cô gái trẻ có thằng bé con ban nãy ngồi ngay ghế trước mặt anh. Hai mẹ con chung một giường nằm. Chả biết cô sắp xếp ngồi vào chỗ đó từ lúc nào, giờ đã thiu thiu ngủ.
Thằng bé vẫn tỉnh táo, ngồi ngay cạnh mẹ nó gần lối đi hẹp trên xe. T để ý nó chả có đồ chơi nào mang theo như những đứa khác trong trường hợp này. Hai tay nó khư khư giữ chặt quai túi đồ mẹ nó mang theo. Đôi mắt của nó sáng lấp lánh, chăm chú nhìn người qua lại,không chớp mắt. T chưa bao giờ thấy đôi mắt nào như đôi mắt của nó, đẹp và trong sáng dễ thương lạ lùng. Nhìn nó người ta sẽ bảo đấy không phải là hai mẹ con, có cái gì đó khập khiễng khó diễn đạt nếu ai đó ưa ví von.
Mẹ nó nét mặt khắc khổ, khô khan, hai nếp hằn rất sâu hai bên khóe miệng. Những sợi gân xanh xao lộ rõ nơi cổ như hiển lộ cuộc sống không lấy gì làm thảnh thơi, sung sướng. Nhưng rõ ràng cô ta còn trẻ. Dáng người, bầu ngực, cặp đùi, hai cổ tay tròn trịa chứng minh điều đó. Hoặc là cuộc sống gian nan mới vừa đây, mới gần đây, chưa đủ tác động đến khu vực khác trên cơ thể cô ngoài nét mặt?
Quan niên tươi và héo bên trong và bên ngoài, không phải là cách nhìn nhận về cô. Thói quen quan sát của T cố hình dung hai mẹ con cô gái thuộc giai tầng nào trong xã hội? Họ đi miền nam chơi hay là có việc gì? Hành lý cu cũ, sơ sài, ngoài cái túi sờn quai bên trong để lỏng lẻo vài ba thứ, có vẻ không có nhiều hành trang.
Cách nhập cuộc tự nhiên, lên cái là ngủ ngay, chứng tỏ hai mẹ con không phải lần đầu đi xe loại này. Có vẻ họ đã quen, thu xếp mau lẹ tự nhiên..
Xe đã chạy được một lúc lâu. Ban đầu T còn chú ý nhìn ra bên ngoài. Cảnh vật thay đổi đến không ngờ.Thành phố phát triển nóng với nhiều biều hiện bất ổn của nó. Quãng quãng lại tắc đường. Nhìn rõ những khu chung cư tường xây dang dở, chưa hoàn thiện nằm rải rác hai bên đường, ngự trị trên cánh đồng từ lâu quy hoạch không còn trồng cấy, cỏ mọc hoang hoải.
Đây đó thấp thoáng một vài đám cây trồng tranh thủ trên các đám đất này. Thị trường bất động sản như đoàn tàu cao tốc dừng đột ngột. Nhà thì bỏ hoang mà trong thành phố thiếu chỗ ở, thiếu trường lớp. Nhất là thiếu nơi yên tĩnh, những bể bơi, những vườn hoa dường như ngày một nhỏ hẹp, ít dần..
Thì vẫn thế. Năm này chồng lên năm khác, vẫn là vấn nạn chưa giải quyết được cho việc quy hoạch thành phố theo phong cách hiện đại, tổng thể rốt ráo. Anh mệt mỏi không muốn nghĩ hay để ý gì thêm. Tốt nhất là nên chợp mắt một lát, đường còn xa..
T choàng tỉnh giấc vì một giọng loi lói hàng ghế trước mặt. Không phải ai khác, là chính thiếu phụ có thằng con trai khi nãy. Chắc chị chàng ngồi xe buồn tình, muốn buôn dưa lê đây. T nghĩ thế, định không để tâm. Nhưng mỗi lúc, cuộc nói chuyện càng kịch tính làm anh phải chú ý..
-.. Nó nói hòa giải đôi bên là hòa giải như thế nào?
đầu máy bên kia í éo một lúc lâu. Hình như có vụ kiện cáo gì đấy, T không nghe rõ
- Nó lấn đất nhà mình. Cậu mợ có ngu thì ngu vừa thôi. Hòa giải cái gì ở đây? Chắc chắn mẹ mình bị nó tông xe vào. Mà rõ khổ cơ..Già rồi thì ở yên một chỗ. Mới bảnh mắt mò ra đường sớm thế làm gì? Không ngủ được thì cứ nằm yên đấy. Nó đang tranh chấp với nhà mình, hở tý ra là nó .. Không biết à? Bây giờ nằm chỗ, lo chạy thuốc, giải quyết tranh chấp phải bỏ lại, lâu cứt trâu hóa bùn, cậu mợ không hiểu ư?…Thôi bây giờ chị không nói nữa. Phải làm đơn đưa nó ngay ra tòa, không để chậm chễ, mợ nghe chửa? Nhà mình toàn người hèn, không đánh lại được nhà nó đâu. Nó ngang ngược còn có xã hội. Thời bây giờ không thể lấy thịt đè người. Quân này nó gớm, mưu mẹo đầu óc mấy chị em không địch được nó đâu.
- Đấy lúc nào cũng tiền..Tôi có đồng nào đã đưa hết cho cậu mợ. Chỉ để đủ hai mẹ con trở vào trong này. Có ở lại ngoài nhà cũng chẳng giúp được gì. Trăm cái khó bó cái khôn.Nhà mình khá giả không yếu thế chắc không xảy ra chuyện này.
- Không có phải vay. Khi về tôi sẽ trả. Mà bảo chị Bình, cậu Bấn bỏ ngay cái trò trả lễ chú Mường ấy đi. Cha mẹ là cha mẹ chung, đều phải cùng có trách nhiệm, không thể làm ngơ. Cân đường hộp sữa như đi thăm người làng là không được. Dứt khoát phải có trách nhiệm. ờ ờ.. Cậu mợ đứng ra vay..Thuốc men đầy đủ theo yêu cầu của bác sĩ. Cho mẹ ăn uống đàng hoàng, hết bao nhiêu anh chị em cùng đóng góp..Ờ ờ.. như hôm ở nhà tôi nói đấy. Phải ghi rành mạch, cả lúc sau này lại cãi nhau..Ngày giờ, cháo thịt hay mì tôm, một ngìn cũng phải ghi..
T chưa rõ đầu đuôi câu chuyện như thế nào. Cũng là chuyện đời, chuyện người đâu đó, nơi nơi. Nhưng cái giọng của thiếu phụ chua quá, giọng gay gắt chói chiết quá làm anh khó chịu. Nhất là cái đoạn tiền cháo, thịt, mì tôm của chị ta làm anh hoàn toàn mất cảm tình. T định nhắc chị ta giảm “von” xuống một chút nhưng lại thôi. Mọi người xung quanh im lặng cả, mình nhắc chị ta hóa ra nhỏ mọn, hẹp hòi, chấp nhặt, để ý vặt hay sao?
“Khiếp quá, cái nhà cô này “ Một người ghế sau khẽ phàn nàn. Một người khác:” Ở gần nhà tôi, nuôi mẹ hết tháng nào bàn giao tháng đó cho nhau, chị em còn phải cân, thắc mắc hơn kém từng lạng một để tăng hay giảm tiền đóng góp. Cứ bảo đài báo người ta nói quá lên, dựng thành kịch để răn chặn..Thực ra ngoài đời có khi còn hơn”..
Thằng bé con thấy mọi người xung quanh tỏ ý phản đối mẹ nó liền đến mẹ nó giằng cái điện thoại:
- Mẹ nói thế thôi …không hết tiền !
Mẹ nó ẩy nó ra không thèm để ý. Hai mẹ con giằng co, nó ngã ngay trước mặt T, òa khóc. Anh vội đỡ nó dậy. Nó có vẻ ngượng ngịu, không biết cho mẹ nó, hay cho nó. T an ủi:
- Con trai, làm gì phải khóc, cứng cỏi lên chứ?
Bất ngờ nó nhoẻn cười:
- Đâu cháu có khóc đâu? - Bất ngờ hơn nữa nó chỉ cuốn sách anh để bên cạnh:
- Truyện gì đây chú?
Mẹ nó bấy giờ đã thôi không “buôn” điện thoại nữa, quay sang mắng nó:
- Mày láo, gọi bác chứ, sao gọi chú!
Nó thản nhiên:
- Bác, cháu xem được không?
- Truyện người lớn cháu xem làm gì không hiểu được đâu. Mà mày làm gì đã biết chữ? – T đưa cho thằng bé mấy cái kẹo cao su. Nó lại thản nhiên đút vào túi áo ngực. Miệng nói:
- Để lát cháu ăn. Đây đúng phải ông Khổng Minh không bác? Cháu chưa biết chữ chứ không phải không biết chữ, Nhưng cháu biết xem tranh, sách này có nhiều tranh không hở bác? Bố cháu cũng có mấy quyển như này. Từ ngày bố cháu bị gãy chân phải ngồi nhà không đi đâu được, tuyền đọc sách này thôi..- Giọng nó có vẻ tin cậy, khiến T cảm thấy mến. Mà con trẻ đứa nào mặt mày sáng sủa, thông minh, lanh lợi người ta ai cũng thích cả, dù nó không phải là con của mình, T không ngoại lệ. Anh ngồi xích vào bên trong lấy chỗ cho nó ngồi. Nó leo lẻo kể cho T nghe. Nào bố nó là thợ xây “vừa xây vừa trát” ra làm sao, bị ngã dáo như thế nào. Giờ chỉ còn mẹ nó kiếm tiền nuôii cả nhà.. Nó đang hào hứng kể, mẹ nó quát:
- Thằng Minh, mày trẻ con biết gì, kể lể vớ vẩn.. Để yên bác nghỉ, lẻo mép vừa vừa thôi. Đưa trả sách cho bác. Mày biết chữ đâu mà đòi xem? Hay xem ô tô đổ, có thấy cái nào đổ trong đấy không?
- Mẹ đổ ý.. – Nó cãi thế nhưng vẫn đưa sách trả cho T. Mẹ nó bắt chuyện:
- Bác xuống chỗ nào ạ?
- Tôi xuống Khánh Hòa. Còn cô?
- Em cũng xuống đấy.. Thế thì may quá. Đang sợ lúc tới bến giữa đêm khuya chỉ có hai mẹ con. Thế bác ở trong ấy hay vào chơi?
- Tôi vào đi công chuyện mấy ngày. Cô làm gì trong đấy?
- Em bán hàng hoa quả ở chợ. Nhưng dạo này tình hình căng, hoa quả Trung Quốc khó bán vì người mua tẩy chay. Có khi vào rồi tìm việc khác..
- Tiệm quán hoa quả bỏ cho ai?
- Em chỉ đứng bán thuê cho người ta. Làm công thôi chứ mình đâu có tiền thuê sạp hàng?
Cô lặng đi một lúc, mặt buồn rười rượi, hai khóe miệng như sâu thêm. Ý chừng không muốn tiếp tục câu chuyện. Cô bảo thằng bé về chỗ, nó có vẻ không muốn. Vì mấy chiếc kẹo cao su hay vì T mến nó, anh cũng không biết nữa. Mẹ nó đành để nó ngồi lại.
Mấy người xung quanh thấy vậy thân mật hơn với nó. Người đưa nó trái xoài, người cho bịch kẹo. Nó linh hoạt hẳn lên, khác hẳn vẻ ỉu xìu ban nãy.
Đến Thanh Hóa, nhà xe dừng cho khách ăn cơm. Mẹ nó không xuống. Chị ta bảo có mang theo cơm nắm ăn đường. Suốt từ sáng tới giờ cơm hẳn đã thiu. T bảo cô ta đừng ngại, cô cứ xuống ăn cơm, suất ăn anh sẽ mua cho, đừng dùng cơm nắm nữa. Vé ăn của T đã mua kèm theo khi mua vé xe, anh sẽ nhường lại cho. Người mệt có lẽ mình chỉ gọi thêm bát phở nữa, không muốn ăn cơm.
Kinh nghiệm đi đường xa, ăn càng ít càng tốt. Nhất là người hay say xe. T không bị say xe nhưng ăn no đi đường ấm ách, rất khó chịu.
Thiếu phụ dứt khoát không đi. Chú bé đã lỏn xuống xe tự lúc nào.Nó đứng dưới đất ngay cửa xe, thấy T xuống cười nhỏn nhẻn: “ Cháu đi với bác”. Mẹ nó gọi với theo:
- Minh muốn sống quay lại ngay, đừng phiền bác!
- Trẻ con ăn được bao nhiêu? Cô cứ mặc cháu!
Đúng như T dự đoán, sang đến đất Nghệ An xảy ra sự cố làm mọi người vừa tức, vừa buồn cười. Mẹ thằng bé đau bụng dữ dội. Mấy bà có tuổi trên xe người cho mượn lọ dầu xoa, người đưa mấy viên thuốc. Mặt cô ta tái xanh, mồ hôi bết hai bên thái dương. Cô ta ngượng ngịu nói muốn xuống đi ngoài. Trên xe không có toalet, không biết giải quyết bằng cách nào. Mọi người chưa biết xử trí ra làm sao ?
Có người ngồi cạnh cô ta kêu lên:
- Ông tài ơi, có người cấp cứu, dừng xe, dừng xe..e..
Người ta có câu:”Quảng nam hay cãi”, quả không sai. Căn vặn mãi, người nhà xe nói giọng Quảng mới chịu đỗ xe. Thiếu phụ trẻ lao vội xuống đám cây lúp xúp bên vệ đường, giải quyết hậu quả khẩn cấp của bữa ăn dọc đường mình tự mang theo.
Tiếng cười ồ lên từ đám mấy người trẻ tuổi.
Thật vô duyên, T nghĩ không thấy có gì buồn cười cả. Anh chỉ thấy may cho chị ta. Nếu xe dừng chậm chút nữa, điều gì xảy ra?
Anh nhìn tay lơ xe đang cằn nhằn văng một câu rất tục mà không mấy cảm tình. Bắt gặp ánh nhìn ấy, gã lầu bầu nhỏ hơn một chút đi ra cửa gọi váng lên, dọa không nhanh lên, xe chạy liền bây giờ. Thằng bé có vẻ lo lắng cho mẹ nó hỏi mẹ nó đi đâu rồi khóc rấm rứt, định chạy ra cửa xe. T phải dỗ khéo nó mới chịu ngồi lại bên cạnh anh.
Rồi mọi sự cũng qua. Thiếu phụ trở lên xe nét mặt bơ phờ, nom như hốc hác hơn. Chị ta ngồi thụp xuống ghế, không nói câu nào, có lẽ ngượng vì “sự kiện” vừa rồi. Thằng bé len lén đến cạnh mẹ nó. Hai bàn tay nhỏ bé của nó bóp lên hai bên thái dương xâm xấp mồ hôi của mẹ nó.
T từng biết thế nào là “Tào Tháo đuổi”. Anh nghĩ cô đang rất mệt. Mà mình cũng đang rất mỏi trong tư thế nằm không ra nằm, ngồi không ra ngồi trên xe. Giấc ngủ chập chờn đến lúc nào T cũng không rõ,
Khi anh tỉnh dậy bởi tiếng la của người lơ xe, T không thấy hai mẹ con thằng bé đâu nữa. Gói bánh thằng bé đòi anh mua cho nó khi nghỉ ăn cơm dọc đường để gần ngay chỗ anh ngồi.
Rõ ràng là anh đã thấy nó cất vào cái túi vải của mẹ nó rồi, sao lại để lại đây? T nói bâng quơ như thế. Một chị ngồi hàng ghế đối diện bảo chính mẹ thằng bé bắt nó trả lại anh để ở đó. Hai mẹ con chị ta vừa xuống cách đây vài ba cây số. Tại T ngủ mệt quá nên anh không biết.
T cứ phân vân vì sao chị ta lại làm như vậy. Anh còn nhớ rõ ra là chị ta đã hẹn với T cùng xuống một bến vì ngại đêm hôm khuya khoắt. Sao bây giờ lại xuống một mình?
Hay chị ta mắc cỡ vì sự cố không được hay vừa rồi? Ai mà chẳng có lúc nhỡ nhàng như thế.
Con người một lần da tới thịt, có phải gỗ đá, thánh thần cả đâu? Lại thêm gói bánh này để lại? Mình bằng lòng cho thằng bé chứ nó đâu bắt buộc? Nó có hỏi xin thật, nhưng anh vui vẻ mua cho nó cơ mà, đâu có miễn cưỡng?
Hẳn là hai mẹ con nó không chê, để lại là muốn anh không có ý nghĩ sợ người khác đánh giá là lợi dụng?
T một mình xuống ngã tư. Từ đây đến địa điểm tập kết chừng chục cây số. Nếu không vướng cái giá vẽ và chút đồ đạc cồng kềnh, anh có thể thả bộ cũng đến nơi. Mới hơn ba giờ sáng. Tốt nhất là ghé vào một hàng ăn đêm, ăn qua quýt chút gì đấy, chờ cho đến sáng. Taxi ở thành phố này lúc đấy mới chạy.
***
Ỏ nhà sáng tác gần một tuần, T vẫn chưa vẽ được bức tranh nào ra hồn. Mấy bức vẽ về biển khơi, về tháp Bà, viện Hải Dương đều không ưng ý. Có gái gì đó sáo mòn, nhạt nhẽo của các tác phẩm này. Hội họa ngày nay đâu còn trong quá trình mô phỏng, sao chép những hình ảnh ngoài đời, dù là nó đẹp đến mức nào thì cũng vây. Hiện thực chủ nghĩa chỉ là phương tiện cần mà chưa đủ.
Nghệ thuật là cái gì cao hơn, xa hơn những cái mà ta có thể nhìn thấy nó bằng mắt thường. Vậy nó là cái gì, đang ở đâu?
Cuộc đuổi bắt ý tưởng và nỗ lực bản thân làm T cảm thấy mệt mỏi. Hay khả năng cảm thụ cuộc sống, nắm bắt sáng tạo của mình có vấn đề?
Ta trở nên ù lì, chai sạn cảm xúc, thậm chí vô cảm rồi sao? Đời sống hỗn tạp, đa dạng, nhiều chiều tâm tưởng đã làm bản thân ta mất hứng thú, sai lệch phương hướng?
T hoảng sợ trước những câu hỏi ấy về bản thân mình.
Không phải lần đầu tiên anh đến với biển. T đã đến đây và các nơi khác dọc bờ biển nhiều lần. Thậm chí anh đã có lần ra các đảo. Không hẳn là anh chưa đi xa, chỉ loanh quanh mãi ở trên bờ. Sao chưa có ấn tượng, ý tưởng nghệ thuật nào đến với mình? Chả lẽ chuyến đi khổ công này không có kết quả?
Mấy đêm liền T trằn trọc không chợp được mắt. Ở nhà lâu lâu lại gọi điện vào hỏi khi nào về? Cứ làm như T ở hẳn trong đây, không về nữa!
Chưa khi nào T thất vọng về bản thân mình như thế
Sáng nay anh dậy sớm hơn mọi khi. Ngoài bãi biển nhiều tốp mặc đồng phục đang tập các bài thể dục dưỡng sinh, tập thể hình.. Áo vàng có, áo xanh có. Cả những bài tập uyển chuyển đẹp như nghệ thuật múa, rất chuyên nghiệp. T ghé vào quán cà phê sớm bên vỉa hè, đối diện với ngôi nhà anh đang ở, phục vụ người đi dạo bãi biển buổi sớm, gọi một ly.
Buổi sáng ở đây thật sinh động. Người xe như những đàn bướm nhiều màu tỏa đi các nơi phấp phới, nhộn nhịp.
T để ý quan sát, nhưng rõ ràng cái mà anh muốn tìm chưa phải.
Bình minh đang lên trên mặt biển. Thấp thoáng những con thuyền bé nhỏ ra khơi, dập dệnh trên ngọn sóng. Tự nhiên thấy nhớ những con tàu đánh bắt xa bờ được báo chí loan tải dồn dập một thời. Bây giờ những con tàu đó đang ở nơi nào trên thăm thẳm đại dương? Cả những khu lưới giăng giăng nuôi hải sản quá quen thuộc, cũng chưa phải là cái anh muốn thấy, muốn tìm..
Chợt từ phía bãi cát phía xa có mấy bóng người làm T để ý. Họ đang lom khom nhặt thứ gì đó ngay bên mép nước, nơi sóng biển ào ào từng đợt chồm tới rồi lại lùi xa. T trả tiền cà phê đi về phía ấy. Mấy người ngồi gần anh tỏ ý ngạc nhiên khi thấy tách cà phê nóng của anh vẫn còn nguyên, chưa kịp bỏ đường..
Người ta tìm kiếm gì vào buổi sáng mai bình yên nơi cửa bể? Ý nghĩ tò mò ấy đưa T đến gần họ.
Một cậu bé lon ton chạy phía trước thỉnh thoảng cúi xuống nhặt thứ gì đấy rồi giơ lên hỏi thiếu phụ đi sau / mẹ nó. Lúc thiếu phụ gật đầu, lúc xua tay. Chị vắt sau vai cái bao gai nước nhỏ ròng ròng.
T không tin ở mắt mình nữa: Đúng là hai mẹ con thằng bé đi cùng với anh chuyến xe hôm vừa rồi.
Cô cũng ngạc nhiên không kém T:
- Chào bác, sao lại gặp bác ở đây?
- Tôi trọ gần đây mà. Còn cô làm gì sớm ngoài này vậy?
- Em đi nhặt tảo về chợ bán. Phải đi sớm mới có. Ban đêm sóng đánh dạt lên bờ. Đi muộn người khác nhặt hết, nếu có cái nào sót lại gặp nắng nó tự teo đi, người ta không mua..
Cậu bé đã nhận ra anh. Nghe mẹ nó nói thế nó liền nhặt lên cho anh xem một chùm. T không nghĩ là thứ tảo bắt gặp ở nhà hàng lại là thứ có thể nhặt được ở nơi như thế này. Trông nó giống như chùm nho xanh nho nhỏ, chính xác hơn giống như chuỗi hạt màu xanh lơ, trong suốt. Thứ sản vật nhỏ nhoi chẳng ai ngờ lại có lúc đỡ đần con người lúc cơ nhỡ khó khăn.
Người ta nghĩ đến thềm lục địa có trữ lượng dầu có giá trị to lớn. Nghĩ đến những luồng cá ngoài khơi xa, đến ngọc trai muôn màu, đến san hô và bao thứ quý giá. Mấy ai nghĩ đến tảo, đến rong biển lại có thể có ích cho con người lúc khó khăn?
Thiếu phụ kể cho anh nghe vì sao cô ra đây. Buôn bán khó khăn người chủ quầy không thể thuê thêm người. Bà ta nói chờ chị về chăm mẹ quá lâu, đã phải thuê người khác. Hai mẹ con đang lo không biết làm cách nào để ra bắc trở lại thì có người mách cho công việc này.
Mỗi buổi sáng phải dậy từ lúc bốn giờ sáng. Công việc tìm kiếm chỉ trong ba tiếng đồng hồ. lát nữa là phải về. Có muốn ở lại nhặt thêm cũng không có nữa để mà nhặt. Biển cho không món quà này vô tư, nhưng không vô số, vô hạn.
May mà thời gian còn lại chị có việc làm thêm cho một hàng ăn ngoài chợ trung tâm. Cũng chính sự khôn ngoan như già dặn trước tuổi của thằng bé mà người ta chú ý nhận chị vào làm.
T hỏi thằng bé sao bữa trước lại bỏ quên gói bánh lại. Nó bảo nó không quên..nhưng mà.. Câu tiếp theo, gặng thế nào nó cũng không nói nữa. T thấy lòng mình như chùng xuống. Thằng bé có nét gì thân thiết như thằng con trai anh ở nhà. Chúng chạc tuổi nhau, nhưng thằng này nhanh nhẹn, khỏe mạnh và đen hơn. Hôm trước anh cứ ân hận mãi là đã quên không chụp cho cậu bé bức ảnh. Phần vì trên xe chật chội, phần đêm tối dọc đường không có có nào ánh sáng thích hợp.
Bây giờ là lúc bình minh, bầu trời hồng lên sắc màu huyền ảo, xa kia mặt biển muôn ngàn con sóng bạc đầu. Cảnh vật không lúc nào có thể đẹp hơn lúc này.
T bảo cậu bé đứng lên một mỏm đá nhô ra sát bờ nước để anh chụp cho nó một kiểu. Nó đồng ý với điều kiện anh phải gửi cho nó một tấm ảnh.
Đúng là trẻ con, hai mẹ con nó cứ như chim trời cá nước thế này biết họ ở đâu để gửi. T thoáng lúng túng nhưng vẫn gật đầu.
Đã có cách, khi T chợt nhớ sáng nào nó cũng ra đây. Chiều nay anh sẽ ra hiệu in ảnh, việc gửi cho nó tấm ảnh đó đâu có gì khó?
Đang lúc anh chuẩn bị góc chụp tốt nhất, bất ngờ thằng bé giơ lên trước mặt nó một chùm tảo. Ánh sáng mặt trời phản chiếu vào chùm tảo còn ướt nước biển tạo nên khúc xạ ánh sáng lung linh đến bất ngờ. Ngoài mong muốn của T.
Anh đâu có bố trí, chuẩn bị gì. Thằng bé vô tình hay là nó quá thông minh, T cũng không biết nữa.
Một bức ảnh tuyệt đẹp. Cậu bé đứng bên mẹ nó như chào đón ngày mặt trời lên trên biển. Đôi mắt nó phản chiếu ánh nắng mai như phụ họa thêm vào chùm ánh sáng từ chùm tảo nó cầm trước mặt.
Ngoài kia biển mênh mông thế, ẩn chứa bao điều. Nơi đây hai mẹ con cậu bé đang nương tựa vào nhau, nương tựa biển sau một chuỗi dài vất vả từ miền quê xa xôi phương bắc về đây..
Còn có thể tưởng tượng ra nhiều ý nghĩa khác nữa để gắn cho hình ảnh anh vừa ghi được
Và rồi, bố cục, cảnh sắc, đường nét.. bức tranh đến với anh như một tia chớp, đến bất ngờ.
T như người mất hồn giây lát. Nhất định anh phải vẽ kỳ được bức tranh này. Cảm giác nao nao như người vừa ra khơi về say sóng..
Lúc anh bình tâm trở lại, hai mẹ con cậu bé đã đi tự lúc nào. Như một ảo giác, như một hình ảnh không có thực. Làm sao gặp lại mẹ con chú bé ấy ở đây được nhỉ?
Nhưng dấu chân hai mẹ con thằng bé để lại là có thực, không thể lẫn được. Những dấu chân in hằn trên cát, thành hai đường ngoằn ngèo song song về phía xa, còn rất mới..
Như một minh chứng hình ảnh cậu bé có đôi mắt ngời sáng, nhìn ra biển khơi
==========

Phần nhận xét hiển thị trên trang