Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Ba, 7 tháng 2, 2017

VỀ HƯU LÀM NGƯỜI TỬ TẾ ?


Ông Thủ Tướng giờ ăn no, ngủ kỹ, niệm Phật và làm người tử tế ?
Ảnh vợ chồng ông đi lễ Chùa đầu năm 2017
ntd

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nghĩ lan man về ‘Những chiếc bánh chưng vô cùng kỳ vĩ’


Chủ Nhật, 05/02/2017, Ở Nghệ An người ta lại làm cặp bánh chưng nặng 7 tạ dâng lên thân mẫu Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cái cảm giác đầu tiên cảm nhận được, đó là sự phản cảm chứ chẳng có gì kính cẩn, hoành tráng. Một lần nữa, cái tư duy thành tích, tư duy hình thức, lại trở về.

Trước cái bánh chưng to, chỉ thấy con người nhỏ lại.
Chợt nhớ lại câu thơ trong bài “Đất nước mình ngộ quá phải không anh” của cô giáo Trần Thị Lam, người Hà Tĩnh, xưa kia từng cùng tỉnh với Nghệ An:
“Đất nước mình lạ quá phải không anh
Những chiếc bánh chưng vô cùng kỳ vĩ…”


Trước bài thơ này của cô giáo Lam, người ta cũng đã chỉ trích, thậm chí đã chê cười những cái thứ “to nhất” như thế này nhiều rồi. Đó là đòn bánh tét dài hàng chục mét, là chiếc bánh chưng khổng lồ 2,5 tấn, là ly cà phê to như cái bể chứa 3.600 lít, là tô phở vĩ đại, là cái bánh xèo to nhất thế giới, là chai rượu khủng cao 5,2m, rót ra được cả trăm ngàn ly…

Cái nào cũng to tướng, vượt quá cái bình thường đến mức khác thường, mà ngôn ngữ thơ của cô giáo Hà Tĩnh dùng là “kỳ vĩ”, quả thật vô cùng chính xác. “Kỳ vĩ”, nó là tính từ, chỉ đặc điểm tính chất, có yếu tố tượng hình. Thông thường cái gì kì vĩ thì làm cho người ta choáng ngợp. Và trường hợp này, cũng choáng ngợp thật. Nhưng yếu tố “choáng” nhiều hơn. Chữ “kỳ vĩ” trong câu thơ của cô giáo đã có một hàm ý mỉa mai.

Hẳn những người đã nỗ lực làm ra những chiếc bánh chưng khổng lồ khiến thế giới cũng… lắc đầu bái phục, đã không hiểu gì về ẩm thực, về văn hóa ẩm thực Việt.Người Việt không phải tộc người phàm ăn, mà là người tinh ăn, tức là ẩm thực tinh tế. 


Người viết không phải nhà nghiên cứu văn hóa, ẩm thực lại càng không, nhưng đại khái nôm na biết rằng, các món ăn của người Việt hàm chứa rất nhiều tinh hoa, từ văn hóa đến y học, đến triết lý, thậm chí cả triết học. Ví dụ cụ thế như trứng vịt lộn thì phải ăn với rau răm, để bổ sung và khắc chế, hài hòa nóng/lạnh – âm/dương. Ấy vậy mà là sự hòa hợp đặc biệt, hương và vị của 2 thứ này lại quyện chặt với nhau không tách rời, đến độ ăn trứng vịt là buộc phải nghĩ ngay đến rau răm, còn vô tình ngửi trúng mùi rau răm là nhớ ngay trứng vịt lộn.

Phải vài chục thanh niên oằn lưng dưới mưa để khiêng cặp bánh chưng này. Không rõ cụ bà Hoàng Thị Loan nếu thấy cảnh này, có còn vui mà hưởng không? Ảnh: P.H.

Còn bánh chưng/bánh dày, là lòng biết ơn của con người không những đối với tổ tiên, mà còn cả đối với thiên nhiên trời đất, là nơi con người cũng từ đó mà được sinh ra. Bánh dày hình tròn, bánh chưng hình vuông. Tượng trời tròn đất vuông, là một trong những yếu tố cốt lõi của triết học phương Đông, bên cạnh những yếu tốc khác như âm dương và ngũ hành, mà tiền nhân của chúng ta đã xây dựng nên (hoặc có thể nói là đã phát hiện) từ thuở hồng hoang. Chưa hết, trong chiếc bánh của hoàng tử Lang Liêu còn chứa đựng biết bao ân tình, bao nhiêu lòng biết ơn đối với muôn loài, vạn vật, là những thứ đã nuôi sống con người. Nếp/gạo là thứ lương thực quan trọng nhất nuôi sống con người. Trong nhân bánh có đậu, có thịt, là các thứ thực phẩm, cỏ cây muông thú. Ngoài gói bằng lá chuối/lá dong, cho thấy sự chở che, nuôi dưỡng, bảo bọc lớn lao từ thiên nhiên đối với sự sống con người.

Hình tượng chiếc bánh là vậy, nó khái quát được những của cải, giá trị của thiên nhiên và công sức của con người dành cho con người . Và nó được dâng lên bàn thờ cúng trời đất, thờ cúng tổ tiên vào những thời khắc quan trọng nhất của đất trời, của quốc gia, hoặc của mỗi gia đình. Đó là hành động đáp lễ, tạ lễ, ghi ơn và trả ơn.

Hẳn là hồi đó gạo nếp cũng không thiếu để hoàng tử Lang Liêu làm cái bánh to bự tổ chảng. Nhưng ông đã không làm vậy. Bởi vua Hùng cũng không phải người ham to. Và bởi cái cung cách ăn uống của người Việt xưa không phải dạng phàm phu tục tử. Cứ xem dụng cụ ăn thì thấy. Người Việt dùng đũa, thức ăn gắp vào cái chén nhỏ. Đôi đũa không thể kẹp một cái gì to bự. Nó khác cái nĩa của phương Tây. Cái nĩa thì xiên và nâng lên được bất cứ cục thịt nào, kể cả nặng đến cả ký! Điều đó đã thấy một nét văn hóa đặc biệt trong ẩm thực Việt. Hoặc có thể thấy, cục thức ăn có thể là to nhất trong các món ăn của người Việt là cục thịt kho trứng vịt. Nó được xắt vuông, nhưng mỗi bề cũng chừng vài ba cen-ti-mét, nhỏ hơn quả trứng vịt. Trong khi đó người ta có thể thấy, trên đĩa thức ăn của người phương Tây có khi là một tảng thịt lớn, hoặc có khi nguyên cả một con gà, một cái đùi cừu không cần chặt ra!

Trong nhiều lý giải, ngoài lý giải về các yếu tố như văn hóa ẩm thực, thì có thể nói, một trong những nguyên nhân khá đơn giản là người Việt thuộc tộc người nhỏ con, không ăn nhiều và… ăn to được. Như đã nói, trong huyền sử Việt Nam, chỉ có hai nhân vật ăn khỏe, ăn to, đó là thánh Gióng và Lê Phụng Hiểu. Thánh Gióng thì ai cũng biết rồi. Còn Lê Phụng Hiểu là là một đại tướng nhà Lý, phụng sự ba triều vua đầu tiên của nhà Lý đó là vua Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông và Lý Thánh Tông. Ông là người có công rất lớn trong việc phò vua Lý Thái Tông tức Lý Phật Mã lên ngôi. Ông nổi tiếng sức khỏe địch muôn người, một mình đánh bại cả một làng, ném đao xa mười dặm. Tương truyền ông ăn khỏe đến mức một mình ăn hết mấy mâm cỗ.


Có cả múa lân, cờ đèn kèn trống và loa phóng thanh nữa. Ảnh: Dân Trí

Nhưng đó là trường hợp ngoại lệ.

Những người to khỏe và làm nhiều việc như vậy thì ăn to ăn khỏe đã đành, chứ tổ tiên ông bà đâu cần ăn nhiều, ăn to đến vậy! Lại càng nên nhớ, ông bà ta từ xưa đến nay luôn quan niệm, cách “ăn” của người chết là hưởng cái hương. Như thế, phong tục Việt Nam mới có cây nhang đốt cho người chết, cho ông bà. Mà đã là hưởng hương hoa thì có gì phải cần vật to bự. Bởi chỉ cần là hương thôi mà. Chữ hiếu là lòng thành, chứ không phải của cải vật chất. Ngày cha mẹ còn sống mà đối xử không ra gì, khi cha mẹ mất đi làm con heo to mà cúng, mà khóc, thì cũng vô nghĩa mà thôi.

Vậy thì làm cái bánh bự chảng để làm gì, nếu không phải vì thành tích, vì sự khoe mẽ của người sống?
Hễ cứ đụng đến đồ ăn thức uống là cái nào cũng to tướng! Câu tục ngữ mới “Việt Nam ham to” mới xuất hiện sau năm 1975, hóa ra lại có cái để chứng minh rành rẽ.Cứ nhìn vào đó, người có tự trọng lại cứ thấy mắc cỡ chứ chẳng có chút tự hào nào. Bởi nó phản ánh cái lối nghĩ, lối làm theo kiểu “chặt to kho mặn”, ăn xổi ở thì. Nhìn vào nó, người ta thấy cái cảnh no dồn đói góp vẫn còn hiển hiện rõ ràng hôm nay. Và nó có ngay đây, ở tư duy của thế hệ lãnh đạo mới này, ở thời kỳ hoàn toàn không còn thiếu vật chất nữa.

Riêng tôi, trước cái bánh chưng khủng, tôi thấy con người trở nên nhỏ lại!

Nên nhớ, hàm lượng tri thức mới là quan trọng, chứ không phải kích thước và trọng lượng là quan trọng nữa. Software hoàn toàn không có trọng lượng nhưng nó được bán hàng ngàn, chục ngàn, trăm ngàn và cả triệu đô la. Nên cái khuyến khích lớp trẻ hướng đến là tri thức, là hàng tinh, chứ không phải là cố làm ra những thứ mà cứ lấy vật liệu bồi đắp lên to bao nhiêu cũng được, mà chẳng hề có chút hàm lượng kỹ thuật, công nghệ, tri thức nào. Ông bà tổ tiên vẫn không muốn con cháu làm nông nghiệp theo hướng vai u thịt bắp, bán mặt cho đất bán lưng cho trời nữa. Mà phải làm nông nghiệp công nghệ cao, hiện đại, bán ra thế giới với giá đắt, và làm giàu.

Từ thực tế đến câu chữ của cô giáo Lam, rõ ràng ai cũng nhìn thấy đây là sự coi trọng hình thức. Lấy hình thức làm thành tích, và luôn luôn bằng mọi giá làm sao cho cái thành tích đó to bự. Điều này, cứ lật lại báo cáo các năm các nhiệm kỳ của các cơ quan từ hành chính sự nghiệp, cơ quan Đảng tới chính quyền, đến đoàn thể, đến doanh nghiệp Nhà nước, thấy ngay. Năm nào, thành tích năm sau cũng cao hơn năm trước. Đến mức thành thói quen, cái bệnh viện cũng đưa số liệu người chết năm nay cao hơn năm trước để báo thành tích. Thành tích luôn tăng cao, thế nhưng làng thôn thì vẫn èo uột, con trẻ thất học, sản xuất chập chênh, đời sống lênh đênh, nông dân phải ra thị thành làm thuê kiếm sống.

Và rồi thị thành cũng có khác gì mấy đâu. Quy hoạch giập nát, kẹt xe, ngập nước, khói bụi, cướp giật, lạnh lùng, đạo đức băng hoại, con người với con người đã không còn tin nhau. Từ cách đây hơn chục năm, TP.HCM đã có những báo cáo các điểm ngập được ít dần, bất thình lình nay chỉ còn… 1 điểm, nó cũng đã đạt thành tích điểm ngập to nhất, cũng khổng lồ đến “kỳ vĩ”, thừa tiêu chuẩn để ghi vào ghi-nét thế giới. Và ngân sách phải chi 10.000 tỷ để tiếp tục chống cái “kỳ vĩ” đó. Theo cam kết là đến tháng 4/2018 nó sẽ được chữa trị khỏi, nhưng chả rõ điều này dựa trên cơ sở nào. Đó cũng là một loại chuộng thành tích nữa. Người đang đợi xem. Bởi điều này sẽ hiển hiện ra trước mắt. Ngập là ướt, không thể giấu nhẹm để báo cáo láo được.

Quay lại một chút nữa. Chuyện các tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước những năm qua gây thua lỗ, thất thoát cả hàng ngàn, chục ngàn tỷ, đến giờ nhiều người đã biết. Biết, bởi không giấu được nữa, vì nó như khối ung lâu ngày bị vỡ ra, không chống lại được, nên đành phải chịu thối mà phơi mặt. Chứ còn, chắc chắn, vẫn không thiếu những “đồng chí chưa bị lộ”, với những bản báo cáo thành tích hoành tráng, mới đọc lên cứ thấy lợi nhuận ầm ầm.

Lạ nhất là, có một điều rằng cấp trên biết cấp dưới báo cáo láo nhưng vẫn chấp nhận. Vừa chấp nhận cái thành tích giả dối, vừa tích cực tìm “giải pháp”, hoặc là giấu nhẹm hoặc là bơm tiền gỡ rối kiểu Vinachem. Còn nhớ, cách đây hơn chục năm, vừa thấy các doanh nghiệp Nhà nước mới trước đó báo cáo thành tích làm ăn hoành tráng lắm, đùng cái chủ trương cổ phần hóa vừa đưa vào thực hiện, bất thình lình lăn ra chết như ngả rạ, cứ như có trận dịch! Công cuộc chuyển đổi doanh nghiệp Nhà nước sang công ty cổ phần đến nay vẫn tiến hành hoài không xong, ngoài nhiều lý do trong đó có cả lý do có những ông lãnh đạo không muốn rời ghế, thì một nguyên nhân rất quan trọng, thậm chí cốt lõi, là lòi ra thua lỗ dữ quá, nợ nhiều quá. Nợ không thu được, thua lỗ không biết từ đâu, và có những khoản không biết hạch toán vào đâu.

Đó là cái kết quả của cái sự chuộng thành tích, hình thức, giả dối vậy.

Nó không khác gì những cái bánh chưng, bánh tét, bánh xèo, ly cà phê ghi-nét kia. To bự vĩ đại, vốn không phải là đặc điểm của nó. Và, như tô phở khổng lồ ấy, sau khi trình diễn xong thì người ta đem… đổ cho heo ăn. Lý do: Không ai ăn cái đống bầy nhầy đó được. Hoặc như cái bánh tét, người ta đã độn xốp để cúng tổ tiên, một cách làm láo báo cáo lớn.

Không rõ, nếu người chết đi có linh hồn, linh hồn có linh thiêng, thì khi chứng kiến con cháu dâng những vật to tổ chảng không giống như vật mà sinh thời mà mình từng làm ra và đã từng ăn, thì tiền nhân có đủ tiết chế cảm xúc để “ăn” được không? Nếu vía cụ bà Hoàng Thị Loan anh linh, nhìn thấy cái cảnh mấy chục thanh niên oằn lưng oằn vai dưới mưa, khổ sở khiêng cặp bánh chưng 7 tạ lên núi nơi bà nằm ngự, thì bà có cam lòng mà hưởng cái bánh ghi-nét này không?

Đặng Vỹ
http://nhaquanly.vn/nghi-lan-man-ve-nhung-chiec-banh-chung-vo-cung-ky-vi-d10120.html

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Hợp thức hóa hình thức kỷ luật ông Vũ Huy Hoàng lộ "Tử huyệt" của "Cơ chế ta đánh ta"


Trịnh Xuân Thanh và Vũ Huy Hoàng thuộc nhóm “Tây Hùng Vương” nên dư luận đoán rằng chắc chắn phen này phải hứng chịu những trận phản đòn khó đỡ…Chuyến này “ phe Đông Hùng Vương” chắc chắn “ Tiến lên toàn thắng ắt về ta”… Thế nhưng, kết cục đến phút chót lại có vẻ giống như câu chuyện ngụ ngôn của Jean de La Fontaine: Chị Núi trở dạ. Ầm ỹ đất trời tưởng đẻ ra một quý tử Thái Sơn nào ngờ đẻ ra một con chuột nhắt, mức xử phạt cao nhất: cắt giảm mấy trăm ngàn lương hưu của ông Vũ Huy Hoàng ?
Trầy trật và phải mất gần nửa năm sau khi có kết luận của Ủy ban Kiểm tra TW và quyết định xứ lý kỷ luật của Ban bí thư đối với ông Vũ Huy Hoàng, tháng giêng vừa qua, Quốc hội mới ban hành được nghị quyết yêu cầu Thủ tướng chính phủ xóa chức danh Bộ trưởng của ông Vũ Huy Hoàng, khi ông này đã nghỉ hưu…

Từ nghị quyết này và quyết định của Thủ tướng, tới thời điểm các quyết định xử lý kỷ luật hành chính được thực thi, triển khai điều chỉnh một số chế độ chính sách liên quan tới lương hưu của ông Vũ Huy Hoàng… nhanh cũng phải hết năm 2017…

Bởi vì đây là chế độ chính sách liên quan tới một cán bộ cao cấp đã nghỉ hưu, mọi sự điều chính phải có cơ sở pháp lý: quan trên trông xuống người ta trông vào…Việc xử lỹ ông Vũ Huy Hoàng phải khác với cách ứng xử của đám kinh doanh ngoài chợ, đám lục lâm thảo khấu: rụp cái là cắt, là trừ, là thu, là tính sổ, xóa sổ…

Để hợp thức hóa được hình thức kỷ luật ông Vũ Huy Hoàng đòi hỏi Quốc hội, chính phủ phải miễn cưỡng điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung một số chế độ chính sách đã được Hiến pháp và các bộ luật: Hiến pháp, Luật tổ chức Chính phủ, Luật tổ chức Quốc hội, Luật xử phạt hành chính; Luật Cán bộ công chức; Luật bảo hiểm xã hội…

Khi chưa sửa đổi, bổ sung các điều khoản liên quan nhằm tạo cơ sở pháp lý để hợp thức hình thức kỷ luật hành chính cho một quan chức đã nghỉ hưu., đã ra khỏi biên chế nhà nước thì: mọi hình thức xử lý hành chính trực tiếp liên quan tới mọi quyền lợi của ông Vũ Huy Hoàng nếu ban hành ra đều vô hiệu, đều trái pháp luật…Quan chức nhà nước chỉ được phép thực thi những gì pháp luật cho phép !

Trong khi đó, nếu xử lý hình sự những vi phạm của ông Vũ Huy Hoàng: Những hành vi vi phạm của ông Vũ Huy Hoàng đầy đủ yếu tố cấu thành tội phạm; điều này đã được thể hiện trong Kết luật của Ủy Ban kiểm tra TW và kết luận của Quốc hội…

Một nghi phạm là một công dân bình thường, nếu có hành vi vi phạm pháp luật bị cơ quan điều tra và cơ quan công tố cấp quận huyện kết luận vào loại nghiêm trọng thì phải chịu khung hình phạt không dưới 10 năm tù ?

Đằng này, Quốc hội, Ban Bí thư là như cơ quan đẻ ra các cơ quan, tổ chức tư pháp của nhà nước đã có kết luận về những hành vi vi phạm pháp luật, kỷ luật đảng ở mức nghiêm trọng; Thế mà ông Vũ Huy Hoàng chỉ được hợp thức bằng một hình thức xử phạt hành chính là điều khó lòng thuyết phục dư luận…Dư luận cho rằng: tìm cách hợp thức hóa hình thức xử phạt hành chính đối với ông Vũ Huy Hoàng là một “ biệt lệ”: quan xử theo lệ, dân xử theo luật..

Trong khi nếu xử lý ông Vũ Huy Hoàng bằng hình sự chỉ giao cho cơ quan kiểm sát, tòa án cấp thành phổ thụ lý là êm xuôi, đơn giản mọi nhẽ, không làm rối tung môi trường pháp lý, pháp luật hiện có…

Việc xử lý kiểu trái khoáy này sẽ gây nhiều hệ lụy, cái sẩy nẩy cái ung, làm nhờn phép nước và gây khó khăn cho việc thực hiện Nghị quyết TW 4 khóa XI và XI là NQ đặt trong tâm: chống và đẩy lùi thoái hóa, biến chất, tham ô, tham nhũng trong đội ngũ quan chức Đảng…

Tại sao các cơ quan lãnh đạo Đảng, nhà nước lại tìm cách hợp thức hóa hình thức kỷ luật hành chính của ông Vũ Huy Hoàng: xóa bỏ chức vụ Bộ trưởng khi không còn chức; đuổi theo để cắt trừ lương hưu, sự cắt trừ gây thiệt hại này thực ra chỉ mang tình chất hành chính tượng trưng mà không theo quy trình hình sự như luật định ?

Theo người viết bài này: Sự lúng túng vướng víu trong vụ xử lý các hành vi vi phạm pháp luật nhà nước và Đảng của ông Vũ Huy Hoàng là hậu quả, hệ lụy làm lộ rõ tử huyệt của cái “cơ chế ta đánh ta” như có lần TBT Nguyễn Phú Trọng đã phát biểu với báo chí ?

Như mọi người đều biết: Mọi hành vi vi phạm pháp luật nhà nước, điều lệ Đảng của ông Vũ Huy Hoàng bị phơi bày sau vụ Trịnh Xuân Thanh sử dụng biển xanh cho xe cá nhân, sau khi được điều từ Bộ Công thương về UBND tỉnh Hậu Giang…

Trịnh Xuân Thanh đã được cơ cấu và trúng cử đại biểu Quốc hội với tỷ lệ phiếu bầu rất cao, trên 75 % ?

Khi vụ này bị đổ bể, đích thân TBT Nguyễn Phú Trọng đã yêu cầu khẩn trương làm rõ tới cùng vụ này và đã tức tốc yêu cầu UBKTTW vào cuộc…

Qua những tín hiệu ban đầu dư luận vỉa hè cho rằng: đây là cú đà dao mà “nhóm đông Hùng Vương” giở ra để truy sát “ nhóm Tây Hùng Vương”: Cùng đánh võng trên đường Hùng Vương; Hai đứa ở hai miền xa thẳm; Đường đi chợ mùa này đẹp lắm; Đông Hùng Vương nhớ tây Hùng Vương… Anh nghe bên ấy chia nhiều, bên này sốt ruột… (Theo Trường Sơn Đông-Trường Sơn Tây của Phạm Tiến Duật)…

Trịnh Xuân Thanh và Vũ Huy Hoàng thuộc nhóm “Tây Hùng Vương” nên dư luận đoán rằng chắc chắn phen này phải hứng chịu những trận phản đòn khó đỡ…Chuyến này “ phe Đông Hùng Vương” chắc chắn “ Tiến lên toàn thắng ắt về ta”…

Thế nhưng, kết cục đến phút chót lại có vẻ giống như câu chuyện ngụ ngôn của Jean de La Fontaine: Chị Núi trở dạ. Ầm ỹ đất trời tưởng đẻ ra một quý tử Thái Sơn nào ngờ đẻ ra một con chuột nhắt, mức xử phạt cao nhất: cắt giảm mấy trăm ngàn lương hưu của ông Vũ Huy Hoàng ?

Sỡ dĩ đòn đà đao của nhóm Đông Hùng Vương vướng vụ này là vị mọi chuyện thuyên chuyển, đề bạt cơ cấu vào danh sách đại biểu Quốc hội có liên quan tới một trong những yếu nhân của “ Nhóm Đông Hùng Vương”, Ban tổ chức TW đứng đầu là đồng chí Tô Huy Rứa kính mến…

Mọi đường chuyền thiết kể để “quả bóng” Trịnh Xuân Thanh lọt vào được khung thành Hậu Giang đều có bàn tay thiết kế của Ban tổ chức TW vì: Đảng nắm tổ chức, Đảng chịu trách nhiệm chính trong việc cắt cử cán bộ vào nắm các đầu mối quan trọng của nhà nước… Điều lệ và các quy định đã quy định rõ như vậy, không ai chối cãi lấp liếm được…

Mà Ban Tổ chức TW là người công đầu là tác giả của cái Quyết định 244-QĐ/TW 2014 Quy chế bầu cử trong Đảng thuvienphapluat.vn/...chinh/Quyet-dinh-244-QD-TW-2014-Quy-che-ba...; Với cái quy chế 244 này đã vô hiệu ngon lành các đường bóng của các đầu lĩnh của “nhóm Tây Hùng Vương” được thiết kế, mớm, chuyền bóng của lối đá tổng lực,“ cơn lốc màu gia cam”…

Đấy chính là điểm huyệt của vụ trọng án Vũ Huy Hoàng được biến thành chuyện ngụ ngôn của La Fontaine…

Qua vụ này mới thấy không phải ngẫu nhiên mà “thiết chế tam quyền phân lập” được sử dụng phổ biến, nhuẫn nhuyễn và đầy sức sống ở các quốc gia tư bản nơi có thiết chế thị trường phát triển đúng nghĩa; Là lựa chọn mà các thiết chế kinh tế tư bản đã thật sự vượt qua giai đoạn hoang dã và đã vào giai đoạn trưởng thành, già rơ...

Chính Marx từng phát biểu đại ý: Khi lợi nhuận tư bản lên tới 300 % thì các nhà tư bản sẵn sàng treo cổ cả bố mình lên…

Trước sức nóng của sức hút của lợi nhuận tư bản, chỉ có thể chế “ tam quyền phân lập” mới khắc chế được cái mặt trái của lợi nhuận tư bản. Còn sử dụng cái thể chế ta đánh ta thì sẽ còn nhiều Vũ Huy Hoàng, Trịnh Xuân Thanh và Tô Huy Rứa…

Không nhẽ TBT Nguyễn Phú Trọng nhà lý luận hàng đầu về xây dựng Đảng của Đảng CSVN lại không nhận ra cải tử huyệt, cái hậu họa của cái cơ chế “ ta đánh ta”, “ quân ta đánh quân mình” ?

Điều này có nguyên nhân sâu xa mang yếu tố, căn nguyên của cái “cơ địa thế hệ”, “đời cơ địa”… của những sinh thể, guồng máy do sớm bị tiêm chủng bởi loại vaccine đặc chủng quá mạnh, quá liều…

Ông Nguyễn Phú Trọng tốt nghiệp đại học tổng hợp văn khóa 1960-1965; đây là giai đoạn những thanh niên được lựa chọn vào Trường đại học tổng hợp Hà Nội đều là lớp thanh niên ưu tú, có thực học.

Giai đoạn 1960-1965 có mấy đặc điểm đáng chú ý:

-Về phía Đảng CS Việt Nam

Đây là giai đoạn Đảng CSVN leo lên được vũ đài chính trị chói sáng; được coi là giai đoạn uy tín được coi là cao nhất, hùng mạnh nhất của guồng máy quan lieu, kế hoạch hóa: Chào 61 đỉnh cao muôn trượng; Ta đứng đây mắt nhìn bốn hướng; Trông bắc trông nam trông cả địa cầu….( thơ Tố Hữu)

Đây là giai đoạn mà sức mạnh của tổ chức đảng cùng với cái thể chế do Đảng lập lên được thần thánh hóa thành sức mạnh vô địch, vô song: “Đảng ta đó trăm tay nghìn mắt; Đảng ta đây xương sắt da đồng; Đảng ta muôn vạn công nông; Đảng ta muôn vạn tấm lòng, niềm tin…Đời ta gương vỡ lại lành; Cây khô cây lại đơm cảnh nở hoa…Ba mươi năm đời ta có Đảng-Tố Hữu)…

Như vậy, thế hệ sinh viên của ông Nguyễn Phú Trọng được dung dưỡng bởi cái vòng hào quang đó của cái thế chế do Đảng CS tạo dựng lên, được tiêm chủng bởi cái thứ vaccine, kháng nguyên cực mạnh …

Về phía chủ nghĩa tư bản và đế quốc Mỹ:

Cái thế chế này đang bị một thế lực thù địch vô cùng tàn ác đó là đế quốc Mỹ thách thức sự sống còn…

Như vậy, cái cơ địa của lớp thế hệ của ông Nguyễn Phụ Trọng, không thể chịu đựng, dung hòa được với cơ chế tư bản đầy thù địch: “Có Chu Du thì không thể có Gia Cát Lượng”…nó có căn nguyên của môi trường chế độ-thế hệ…

Trong cơ địa của cái thế hệ ông Nguyễn Phú Trọng đã từng bị tiêm chủng miễn dịch, đề kháng quyết liệt với thể chế tư bản chủ nghĩa; Bởi đứng đắng sau cái thể chế này là 2 tên đế quốc đầu sỏ, kẻ thù của Đảng CS Việt Nam: thực dân Pháp và đế quốc Mỹ…

Điều dễ hiểu vì sao có lần TBT Nguyễn Phú Trọng đã phát biểu, xếp nhưng ai ủng hộ “ tam quyền phân lập” vào cái rõ của thế lực thù địch, thóai hóa biến chất cần bị phải trừ khử…

Hy vọng qua vụ xử lý ông Vũ Huy Hoàng, TBT Nguyễn Phú Trọng thấm thía hơn cái khó, cái mặt trái, cái bất cập của cái cơ chế “ Ta đánh ta’”…

Thể chế nào thì cũng có cái mặt trái của nó; không thế nào mà khắc phục được trọn vẹn mọi mặt trái của xã hội.

Đối với một nền kinh tế thị trường đúng nghĩa, thực chất thì thể chế lập pháp tam quyền phân lập vẫn được coi là thể chế, một kháng nguyên có khả năng khắc chế cao cái mặt trái của cơ chế thị trường tư bản…

Một thị trường đang ở giai đoạn hoang dã như của Việt Nam hiện nay, nếu không sớm nhận ra mặt trái của nó; Nếu lãnh đạo Đảng mà vẫn cứ tự ru mình, tự sướng với những giáo điều do những kẻ vô công rồi nghề, tầm chương trích cú, ăn hại đái nát… trút xả ra bao thứ giống như thứ rác, bã thải trí thức thì hệ lụy của nó là: kéo giật lùi sự phát triển đất nước, hoang phí sức người, sức của của một dân tộc vẫn được thế giới kính trọng; không một thế lực cường bạo nào dám khinh nhờn ./.

Phạm Viết Đào
(Blog Phạm Viết Đào)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Giữa thực và ảo: Một triết học về internet


da-lat
Lâm Đồng: Bạn hãy tưởng tượng rằng mình đang ở trong một căn lều trong một trang trại trà giữa núi đồi Bảo Lộc, Lâm Ðồng, ngồi bên máy vi tính để “bước vào” một thư viện đại học online nào đó. Bạn chọn một cuốn sách. Cuốn sách hiện lên trên màn ảnh vi tính như hình thể thực tế của cuốn sách bên ngoài. Bạn “giở” từng trang và đọc thoáng qua. Bạn “gấp” sách lại và nhìn qua cửa sổ. Bên ngoài, cơn nắng vàng cao nguyên Việt Nam chiếu xuống thung lũng xanh rờn bên kia đồi. Bạn thấy chính mình đối diện với hai cõi thực tại: một thực tại của “virtual reality” (gần như thực) qua kỹ thuật điện tử, đối lại cái thực tại của tổng thể thân xác trong môi trường mà bạn đang hiện diện trong đó. Bạn hỏi, thực tại nào là “thực”? Biên giới giữa “thực” và “ảo” nằm ở đâu?
Trong thực tại gần như thực của “virtual reality,” thế giới của không gian điện tử, cyberspace, là một tổng thể hiện hữu khác: một cõi vượt thời gian và không gian mà tất cả chỉ còn là tín hiệu của một trật tự điện toán vượt ra khỏi biên độ thế giới vật thể. Ở đó, bạn có thể đi lướt qua hàng trăm đề mục thư viện với tốc độ của ánh sáng. Bạn chọn lựa tin tức và dữ kiện trên tầm mức hàng ngang – mọi thứ đều được sắp xếp như nhau và chỉ cần một nút bấm là bạn có thể bước vào gần như mọi cửa ngõ tin tức.
Ðây là “hypertext,” nơi mà bản chất liên hệ giữa các đơn vị hiện hữu được đặt trên căn bản “nodal order” – không có tính lịch sử từ những nội dung thực nghiệm. Tất cả đều nằm trên một vĩ tuyến hàng ngang gần như tuyệt đối mà sự di động của tâm ý của kẻ đi tìm (searcher) có thể vượt qua hàng triệu biên giới vô hình trong khoảnh khắc. Một cõi hiện hữu chỉ là một màn ảnh của những “digital beings”: hữu thể (being) và hư không (nothingness) biến dạng và tương giao qua dạng thức 1-0 để tạo nên một thế giới đầy “thực tế” cho kẻ đối diện – nếu hắn muốn đi tìm. Kẻ vượt sóng internet, online surfer, không còn là của thân xác vượt non sông nữa – mà là của chủ ý vận hành qua “cursor” và con chuột (mouse) di động trong một khoảng mặt bằng không quá vài phân tây.
Trong không gian điện toán của internet và liên mạng toàn cầu, sinh hiện là của tín hiệu – một giòng sống của ý thức và thân xác được cấu thành từ một gốc rễ bản thể hoàn toàn là trừu tượng và vượt qua thực nghiệm. Paul Tipler, trong tác phẩm về vật lý học nổi tiếng, “The Physics of Immortality” (Vật lý học về tính Bất tử), (1994), đã định nghĩa sự sống (life) bằng khái niệm “sinh thể” (living being) rằng,
“Một sinh thể là bất cứ đơn thể nào vốn ấn ký tín hiệu, để từ đó ấn ký tín hiệu nầy được tồn giữ bởi sự đãi lọc tự nhiên. Do đó, ‘đời sống’ là một thể thức vận hành tín hiệu, và đầu óc nhân loại – và linh hồn con người – là một chương liệu điện toán rất phức tạp.” (A “living being” is any entity which codes information with the information coded being preserved by natural selection. Thus “life” is a form of information processing, and the human mind – and the human soul – is a very complex computer program).
Từ đó, theo Tipler thì con người có thể trở nên bất tử và sẽ sống lại ở một điểm tối hậu – the Omega Point. Đây là điểm khi mà tất cả những sinh nghiệm thể xác và linh hồn của cá nhân qua tất cả các kiếp sống luân hồi đều được dữ kiện hóa trên cơ sở dữ kiện và được giả động (simulated) lại ở thời điểm cuối cùng nầy. Mỗi chúng ta sẽ sống vĩnh cửu trên cõi sinh động này bằng chương trình điện toán. Ðời sống, vì thế, là hoàn toàn mang bản chất kỹ thuật điện tử. Cảm nhận và kinh nghiệm vui sướng, đau khổ đều có thể “simulated” theo ý muốn bằng dữ kiện trên căn bản “digital beings.” Và “linh hồn” chỉ là một thảo chương điện toán (computer program) hoàn toàn được tự do và thuần chủ quan.
Vì vậy, lịch sử chỉ là thuần biểu tượng. Nói như Nietzsche thì lịch sử chỉ là một tiến trình sinh nở, tiếp nối những lỗi lầm của khái niệm và tín hiệu. Chủ nghĩa tiến hóa của Darwin, “tồn hữu của kẻ thích ứng” (survival of the fittest), nay không còn áp dụng ở bình diện sinh vật, mà là của thế giới điện toán vì bản chất tiến hóa và đáp ứng quá nhanh và quá thực. Tất cả những gì đang bận tâm các chuyên gia kỹ thuật ở vùng Thung lũng Ðiện tử ở California đều mới chỉ được phát minh trong vòng hai năm qua – và sẽ hoàn toàn biến mất trong vòng hai năm tới. Ðời sống chỉ còn là những nỗ lực hoàn chỉnh hệ thống trật tự dữ kiện hàng ngang. Con người bị tràn ngập với dữ kiện để tất cả không còn cái gì là quan trọng và không quan trọng. Tất cả chỉ là con số. Cái “thực” và “không thực” sinh hiện theo chừng phút chốc của tâm ý bất định của kẻ ngồi trước màn ảnh vi tính. Như trong những chúng ta cầm cái “remote control” liên tục bấm cả trăm băng tầng truyền hình nhưng không có gì đáng để coi mà dừng lại. Ðây là thảm kịch của sự dư thừa. Chúng ta không còn suy nghĩ, không còn thao thức với sách vở như người xưa. Chúng ta có quá nhiều nhưng không có gì cả.
Trong thế giới của internet, đời sống không còn thuộc về bình diện sinh nghiệm dục thức (sensual immediacy). Chúng ta rơi vào cõi thực tại mới mà tất cả những kinh nghiệm bản thân và tri thức chỉ là những hệ quả của một trật tự logic. Như W. V. Quine, một triết gia lừng danh của Mỹ, quan niệm rằng con người thực tại, cá thể như tôi và anh, không có một thực tính (reality) cao hơn hay khác chi; mỗi cá thể chỉ là một giá trị của từng biến số (to be the value of a variable).
Hay nói theo Michael Heim, trong “Siêu Hình Học về Cõi Gần Như Thực” (The Metaphysics of Virtual Reality), (1993), thì trong thế giới “gần như thực” cá nhân sinh động trên cõi thuần thể thức và tách biệt trừu tượng (pure formality and abstract detachment). Heim trích dẫn triết gia Nhật Kitaro Nishida về “Logic của tính Không” rằng, sự Hữu thì toàn phương và vô thể (Being is omnidirectional and formless). Cá nhân trở nên hư không và tất cả: hắn chỉ là một đơn vị tín hiệu kết hợp qua tâm ý từ các phạm trù khái niệm. Thế là lịch sử trở nên một cuộc đời của Khái niệm (Concept) muốn phô diễn để đi tìm chính mình – như là G. F. Hegel đã viết hai trăm năm trước.
Và để rồi kẻ đi tìm đánh mất chính mình trong không gian gần như thực?
Không. Thân xác của bạn ở Lâm Ðồng vẫn ngồi bên cửa sổ căn nhà tranh. Ngoài cửa tiếng rao bán bánh mì báo hiệu màn đêm đang đến. Hình ảnh em bé bảy tám tuối xanh xao vác bao bánh mì nặng trĩu trên vai rao kêu trong sương lạnh núi đồi làm cho bạn tĩnh thức. Bạn có thể hình dung đứa bé là con gái của bạn. Và bạn đối diện với một thực tính của cuộc đời – một cõi sống bi đát vì trình độ sinh nghiệm chúng sanh vẫn còn ở nấc thang mà nghiệp thức tổng thể chưa được nâng lên đến cõi khái niệm. Cái đau khổ của con người Việt Nam là bản chất bi thảm nơi một cộng đồng nhân loại vẫn còn chưa đến nơi chốn mà cái ý và lý cao hơn cái thân và cái tình.
Bạn gọi em bé vào để mua một ổ mì nóng. Cầm ổ bánh mì ấm trên tay, cảm thức với cuộc đời, với gian lao của sự sống mà đôi mắt em bé trước mặt đánh thức tận đáy sâu tâm hồn bạn. Bạn chỉ có muốn ngồi ẩn trong túp lều tranh giữa rừng xanh để nghiền ngẫm cổ thư, để giao tác với cộng đồng của thế giới ảo, cho chặng cuối đời người, để tìm ra được ý nghĩa của sự Hữu, hay mà chỉ để khích động cơn say chữ nghĩa, tin tức hay là tính dục – hơn là bạn phải sống bên ngoài màn ảnh vi tính như là một con người chung đụng và chia sẻ với tất cả những gì chung quanh, ở đây, ở xứ Lâm Ðồng, Việt Nam. Lối sống nào cho bạn chọn lựa?
Thế giới ngày nay đang bị chia ra thành hai cõi: cõi của không gian điện toán, cyberspace, nơi mà thực tính chỉ là “gần như thực” mà giá trị sinh hiện chỉ là một hệ thống tín hiệu của digital logic; cõi còn lại là của phần lớn những con người thực hữu đầy khổ đau. Họ là em bé bán bánh mì buổi sáng, bà mẹ bảy mươi tuổi vẫn còn lặn lội giữa nương tranh, anh phu xe đói khát, vật vã với cuộc sống cay nghiệt, của cô sinh viên bán thân tủi nhục ở bên đường – của tất cả chúng ta, đang sinh hữu trong một cảm nhận về giá trị thuần dấu trừ, của cái mất nhiều hơn cái hy vọng. Chúng ta bước vào không gian điện toán nhưng chúng ta không quên cái Ta thực tại dính liền với khổ đau.
Bạn có cảm được đôi khi rằng, như có một Thần đế đứng trên cao nhìn xuống cuộc đời và thấy con người chỉ thuần là dữ kiện? Kiến thức qua thị giác trong không gian internet, mượn từ của G. W. Leibnitz, có trở nên một ảo giác visio dei – một thứ “tri thức toàn năng”: an omniscient cognition of the deity?
Liệu rằng cái tri thức toàn năng đó – qua mỗi chúng ta – có còn cảm nhận được nỗi khổ đau của em bé nghèo khổ Việt Nam ngoài kia?
Nguyễn Hữu Liêm- tác giả gửi bài đến Diễn đàn Triết học, hiện đang sinh sống và giảng dạy triết học tại Hoa Kỳ.
Download trọn bộ các tiểu luận triết học của tiến sĩ Nguyễn Hữu Liêm tại đây: Download
Chờ 5 giây, nhấn vào Skip ads ở góc trên bên phải màn hình để vượt qua quảng cáo.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Sách mới : Đi vào một luận đề triết học cho sử Việt


untitled
Tác giả Nguyễn Hữu Liêm sắp xuất bản cuốn sách :Đi vào một luận đề triết học cho sử Việt Đây là một hành trình Sử lý qua cái Ta của Việt tộc trong tiến trình khai mở năng lực tự ý thức.
Như là một nhân thể, quốc gia Việt Nam được thụ thai từ đời Hồng Bàng, qua các vua Hùng và suốt 10 thế kỷ cưu mang, chính thức khai sinh chào đời với nhà Đinh, đến thời kỳ lớn dậy trong ý thức thân xác/lãnh thổ, nuôi dưỡng sinh mệnh qua các thời Lý, Trần, Lê, đến những thời kỳ tự phân thể, nội chiến, khủng hoảng để hồi sinh và trưởng thành.
Trên hành trình 20 thế kỷ nầy, trong ý chí của một dân tộc bị nô lệ, cái Ta dân tộc đã trải qua những chặng đường trên trường biện chứng chủ-nô giữa cái Ta của Việt chống đối cái Ta nhà Hán, nhà Phật chống nhà Khổng, nhà Nho chống Thực dân, Đế quốc, Cá nhân chống Đại thể, Đạo đức (Morality) đối nghịch Luân lý (Ethics), cái Sẽ Là đối với cái Đã Là. Đây là một thiên trường sử của một năng lực tự-Ngã trên con đường tranh đấu để được công nhận đồng lúc tự soi sáng chính mình. Khi biện chứng chủ-nô đối với ngoại lực được hoàn tất năm 1975, thì cái Ta dân tộc phải đang trải qua một vòng biện chứng nội tại khác trong một bản sắc tự ý thức mới khi vai trò chủ-nô trở nên một cuộc nội chiến âm ỉ nhằm kiến lập một căn cước tính Sẽ Phải Là cho quốc gia.
Thế kỷ XX là lúc mà cái Ta dân tộc chuyển mình từ ý thức Không gian cho thân xác và lãnh thổ sang ý thức về Thời gian và tư tưởng. Chàng thiếu niên Việt Nam nay đã đến tuổi 15, thân thể đã lớn nhưng tư duy và tâm lý vẫn còn chưa trưởng thành, mang nhiều lý tưởng nhưng không chắc chắn về con đường phải đi, ý thức được một nhu cầu cách mạng mới trước nhu cầu Thời đại. Đây là lúc mà các phạm trù khái niệm chính trị thay thế khuôn thức thân mạng và bờ cõi. Và cái Ta của Việt tộc bắt đầu nuôi ý chí lịch sử cho đại thể tính quốc gia. Bi kịch thân xác chuyển sang bi kịch ý thức hệ.
Từ trong ý chí Sử tính, năng thức tự-Ngã của dân Việt đang vươn về khả thể tính Nhân Thức – the Individuated Universal – khi ý thức hóa giải vô thức, cá nhân (individual) trở nên cá thể (individuality), cá thể đồng quy với đại thể để trở nên công dân trong một quốc gia (nation) nay là quốc thể (nation-state), khách quan hóa giải chủ quan, và cái Đang Là bắt tay với cái Sẽ Là.
Trên cơ sở triết học của chữ Thời, chúng ta hãy cùng nhau bước lên một tầm cao hơn nhằm nhìn lại lịch sử của chính mình, để không bị vướng mắc và giam hãm trong ý thức và tâm lý chính trị giới hạn, để thông hiểu cái logic đằng sau những biến cố thăng trầm trên chuyến tàu lịch sử của cái Ta dân tộc hiện nay vẫn còn đang nỗ lực khai sáng năng lực tự ý thức cho mình.


“Xin giới thiệu: “THỜI TÍNH, HỮU THỂ, Ý CHÍ: Một luận đề siêu hình học” của Nguyễn Hữu Liêm. Đây là một tác phẩm triết học khác lạ. Tác giả tái phối trí những phạm trù khái niệm cơ bản về Thời gian, Hiện hữu, Ý chí và Tự do nhằm đặt lại một hệ thống bản thể luận mới mà những tiền đề về Tự-Ngã, Ý thức, Hư không, Nhân quả, Khổ đau, Lịch sử được kiến lập và lý giải trên nền tảng logic của chữ Thời.
Xuất bản và phát hành bởi NXB Giấy Vụn.”
img_14391
img_14401
Tác giả Nguyễn Hữu Liêm là giảng viên triết học, tiến sĩ giảng dạy tại đại học ở Hoa Kỳ.
Tải xuống file Ebook Tuyển tập các bài báo triết học của Nguyễn Hữu Liêm để đọc ngoại tuyến: Download


Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm và một lý thuyết mới về sử Việt


014
Chiều chủ nhật ngày 5/2/2017, tại trường mầm non Pathway quận 2 TP.HCM, giáo sư triết học Nguyễn Hữu Liêm từ Hoa Kỳ trở về đã giới thiệu với độc giả Việt Nam cuốn sách Sử tính và ý thức- Một triết học cho sử Việt.
Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm là tiến sĩ triết học, hiện là giảng viên chính thức khoa triết tại trường San Jose City College, Hoa Kỳ. Ông giảng dạy về nhiều trường phái triết học, trong đó chuyên sâu về triết học Heghel ( Heghel là triết gia Đức khai sinh phép biện chứng mà học trò của ông là Karl Marx sử dụng để làm nên phép duy vật biện chứng). Nhân dịp năm nay là năm sabath ( cứ 7 năm đại học Mỹ lại cho giáo sư nghỉ ngơi 1 năm và hưởng nguyên lương theo lệ năm sabath trong Thánh kinh cựu ước), giáo sư Nguyễn Hữu Liêm lại về nước và giao lưu cùng các sinh viên Việt Nam.
Cuốn sách Sử tính và ý thức- Một triết học cho sử Việt ngay từ khi mới xuất bản cách đây 3 tháng ở Mỹ đã gây được tiếng vang trong cả giới trí thức gạo cội Việt Nam trong nước. Lịch sử Việt Nam đã được giải thích một cách gọn ghẽ và rất ngạc nhiên. Các sử gia Việt Nam suốt dòng lịch sử đã chìm đắm trong sử kiện, chìm đắm trong mặc cảm thua trận/thắng trận mà đã nhìn nhận lịch sử thiếu khách quan. Để viết nên cuốn sách này, tác giả đã đọc 20 cuốn sách về lịch sử Việt Nam, bắt tay viết ngày 3 tháng 9 và kêt thúc ngày 6 tháng 10 năm 2016. Những chuyện huyền sử Hồng Bàng- vua Hùng có thật hay không không còn quan trọng, tác giả phân biệt sử kiện và sử tính. Phải có sai lầm thì mới có chân lý, dùng “thời tính” để nói về chân lý bởi chân lý chỉ đúng trong một thời gian mà thôi.
Theo tác giả, hành trình của dân tộc Việt Nam là hành trình sử lý, khai mở ý thức. Tác giả lý giải khá thành công việc vì sao Việt Nam không thần phục Trung Quốc: Trung Quốc chỉ sản sinh ra thánh nhân, nhưng Ấn Độ và Do Thái có thiên nhân. Vì Trung Quốc không có thiên nhân nên cho dù có bao nhiêu thánh nhân như Khổng Từ thì dân Việt Nam vẫn không phục, thậm chí có phần coi khinh. Trong khi đó, lặng lẽ âm thầm không cần thuốc súng, tư tưởng Ấn Độ và Do Thái đã thuyết phục được lương tâm nhiều dân tộc. Đó là bởi Ấn Độ có Phật thích ca, Do Thái có Đức Giê-su, đều là những bậc thiên nhân, mà về lâu dài con người chỉ mến phục và đi theo thiên nhân mà thôi.
Cuốn Sử tính và ý thức- Một triết học cho sử Việt lý giải lịch sử Việt Nam cổ kim. Bằng những lập luận hữu lý, giáo sư Nguyễn Hữu Liêm chứng minh được rằng Đảng Cộng sản Việt Nam là hiện tượng cuối cùng trong giá trị tập thể Việt Nam. Ở một khía cạnh tích cực, đảng Cộng sản Việt Nam là một bước tiến hóa cho lý tưởng của người Việt, bởi người Việt trước kia chết cho người Việt thì khi có đảng người Việt đã biết chết cho nhân loại. Ở một khía cạnh tiêu cực khác, tác giả phân tích rằng dân tộc Việt Nam chỉ mới như anh nông dân bắt đầu làm công nghệ. Việc đảng Cộng sản cho Formosa vào rồi hủy hoại môi trường tại Hà Tĩnh chính là việc quê hương cách mạng ăn đủ thành quả cách mạng. Dân tộc Việt Nam đang trong quá trình trưởng thành. Thời nội chiến Hà Nội- Sài Gòn thì dân tộc đang trong giai đoạn 14-15 tuổi, tràn dầy lý tưởng nhưng không biết làm gì, ai gọi là đi theo. Vào thời đại này, theo tiến sĩ Nguyễn Hữu Liêm, dân tộc Việt Nam ngơ ngác đi tìm lý tưởng như người thanh thiếu niên 16 tuổi, nhưng chẳng bao lâu nữa bắt buộc sẽ đi vào quy củ như trào lưu tiến hóa của nhân loại, điều mà ông gọi là “Nguyễn đi rồi Nguyễn lại về”.
Buổi giới thiệu sách do câu lạc bộ học thuật Lan Tỏa ( tên tiếng Anh là Spread out) tổ chức. Câu lạc bộ này đã mời được nhiều học giả đến thuyết trình cùng sinh viên Việt Nam. Thời gian gần đây, nhiều sinh hoạt học thuật có vẻ được tự do và cởi mở hơn, kể cả từ phía chính quyền.
Nguồn: Việt Nam Thời Báo (Ijavn.org)
Link bài gốchttp://www.ijavn.org/2017/02/vntb-giao-su-nguyen-huu-liem-va-mot-ly.html


Trung Quốc đã âm thầm nhượng bộ Donald Trump, Biển Đông sẽ lặng sóng?


Căng thẳng trên Biển Đông vốn do Trung Quốc khới lên, thì Bắc Kinh phải có trách nhiệm hạ nhiệt, đó mới là cách hành xử có trách nhiệm.

Tờ báo Stars and Stripes, Mỹ ngày 6/2 đưa tin, những phát biểu của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis về Biển Đông từ Tokyo đã phần nào xoa dịu lo lắng của Bắc Kinh về khả năng xung đột, đối đầu Trung - Mỹ ở vùng biển chiến lược này.

Sau khi các quan chức khác trong Nội các Tổng thống Donald Trump như Ngoại trưởng Rex Tillerson ám chỉ khả năng phong tỏa hải quân với các đảo nhân tạo Trung Quốc xây trái phép ở Biển Đông, tướng James Mattis kêu gọi nỗ lực hết khả năng có thể giải quyết tranh chấp bằng ngoại giao.

Phát biểu của ông chủ Lầu Năm Góc như một viên thuốc an thần "định tâm đan" đã "xóa tan những đám mây chiến tranh mà nhiều người lo sợ chúng đang tích tụ trên bầu trời Biển Đông", tờ China Daily viết trong bài xã luận hôm thứ Hai.

"Mattis đã truyền cảm hứng lạc quan ở đây rằng, những chuyện này có thể không phải xấu như mô tả trước đây", China Daily bình luận. 

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Lục Khảng, ảnh: ecns.cn.
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Lục Khảng cũng lập tức lên tiếng hoan nghênh bình luận của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ về Biển Đông là một "sự xác nhận rất xứng tầm". [1]

Trần Phá Không, một nhà bình luận chính trị quốc tế Hoa Kỳ gốc Trung Quốc ngày 6/2 nhận định, dường như Bắc Kinh đang có những bước chuẩn bị thỏa hiệp và nhượng bộ với Hoa Kỳ dưới thời Tổng thống Donald Trump.

Về vấn đề Biển Đông, trong thời gian tranh cử ông Donald Trump rất ít khi nhắc đến. Nhưng ông cam kết sẽ tăng cường sức mạnh quân sự Mỹ, tăng số chiến hạm hiện có từ 274 chiếc lên 350 chiếc.

Sau khi đắc cử, ông điện đàm với nhà lãnh đạo Đài Loan Thái Anh Văn. Có người chỉ trích ông, tại sao không bàn bạc với Bắc Kinh trước khi nghe điện của Tiến sĩ Văn, ông trả lời bằng cách hỏi ngược lại về Biển Đông:

"Trung Quốc xây dựng các pháo đài quân sự quy mô lớn ở Biển Đông, họ có hỏi chúng ta không?"

Ngày tướng James Mattis nhậm chức Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, Donald Trump ký sắc lệnh Tổng thống yêu cầu tân chủ nhân Lầu Năm Góc:

Đánh giá hiện trạng vũ khí trang bị, hoạt động huấn luyện quân sự, duy trì bảo dưỡng vũ khí đạn được, trình độ hiện đại hóa của vũ khí khí tài, cùng Bộ trưởng Tài chính lên kế hoạch mở rộng năng lực quân sự trong năm tài khóa 2017.

Sắc lệnh này cho thấy Trump nói là làm, thực hiện cam kết tranh cử. Và cho đến nay, đây cũng là sắc lệnh rõ ràng duy nhất nhằm vào sự trỗi dậy quân sự của Trung Quốc.

Cùng trong ngày 4/2 khi tướng James Mattis tuyên bố lập trường của Mỹ về Hoa Đông và Biển Đông tại Tokyo, thì ông Dương Khiết Trì đã điện đàm với Cố vấn An ninh quốc gia Mỹ, kêu gọi đảm bảo giữ ổn định quan hệ song phương.

Nhà nghiên cứu người Mỹ gốc Trung Quốc Trần Phá Không, ảnh: Peoplenews.tw.
Ông Trần Phá Không cho rằng, Trung Nam Hải đang tích cực lôi kéo quan hệ với chính phủ mới của Hoa Kỳ, âm thầm cam kết sẽ "tìm cách giải quyết" những vấn đề mà ông Donald Trump nêu ra, phía Mỹ đặc biệt quan tâm.

Chắc chắn Trung Nam Hải đã tính toán kỹ những mối quan tâm, lưu ý của ông Donald Trump, bao gồm thương mại, tỉ giá đồng nhân dân tệ, vấn đề Bắc Triều Tiên và Biển Đông, nhưng Donald Trump "ngó lơ" vấn đề nhân quyền.

Theo ông Không, Bắc Kinh cho đây là một thời cơ tốt, vì chỉ cần Washington không động đến vấn đề "an toàn chế độ", "an toàn chính quyền" thì mọi vấn đề khác đều có thể thương lượng được.

Lâu nay Trung Quốc luôn xem Mỹ là "chủ mưu diễn biến hòa bình" tìm cách gây "bạo loạn lật đổ" chính quyền Trung Quốc. 

Nay Donald Trump công khai tuyên bố trong diễn văn nhậm chức: không can thiệp vào nội bộ nước khác, không áp đặt hệ giá trị Mỹ, nước nào thấy hay thì học.

Trong cuộc họp báo với Tổng thống Donald Trump, Thủ tướng Anh Theresa May khẳng định thêm: "Thời kỳ Anh - Mỹ can thiệp vào các quốc gia có chủ quyền với ý đồ bắt cả thế giới phải theo mô hình của mình đã qua rồi".

Hiển nhiên những phát biểu này của nguyên thủ Anh - Mỹ đã khiến Trung Nam Hải yên tâm hơn, tạm thời có thể kê cao gối nằm.

Vì vậy theo ông Trần Phá Không, Trung Quốc đang tính toán, chỉ cần có những thỏa hiệp nhất định với Mỹ về Biển Đông, thương mại, hối đoái, Bắc Triều Tiên là có thể đổi lấy 2 điều cam kết từ nước Mỹ:

Một là Mỹ sẽ không làm gì tổn hại đến vai trò lãnh đạo, cầm quyền của đảng Cộng sản Trung Quốc. Hai là nước Mỹ dưới thời Donald Trump sẽ vẫn tiếp tục tôn trọng nguyên tắc "một nước Trung Quốc".

Ông Không lưu ý một ví dụ thể hiện sự thỏa hiệp sau rèm của Bắc Kinh. Đó là trong cuộc gặp Tổng thống Donald Trump hôm 9/1, tỉ phú Trung Quốc Jack Ma cam kết trong 5 năm tới Tập đoàn Alibaba của ông sẽ tạo ra 1 triệu việc làm cho nước Mỹ.

Thời báo Hoàn Cầu từng mỉa mai rằng, nếu so với cam kết của một doanh nghiệp phần mềm Nhật Bản sẽ tạo ra 50 ngàn việc làm cho Mỹ, Jack Ma rõ ràng đang "cống nạp" cho Hoa Kỳ.

Nhưng theo Trần Phá Không, thực ra trong chuyện này chính Trung Quốc đang âm thầm "cống nạp" cho nước Mỹ.

Về vấn đề Bắc Triều Tiên, sự nhượng bộ của Trung Quốc thể hiện qua việc đột ngột công bố với dư luận hôm 25/1 vừa qua:

"Cấm xuất khẩu sang CHDCND Triều Tiên vật tư, linh kiện, kỹ thuật liên quan đến vũ khí sát thương quy mô lớn và các phương tiện chuyên chở chúng, các loại vũ khí thông thường được nêu trong bản công bố này".

Bất luận đây là động tác giả hay động tác thật, nhưng ý đồ lấy lòng Donald Trump từ Trung Nam Hải thì đã quá rõ.

Về vấn đề tỉ giá đồng nhân dân tệ, Bắc Kinh cũng đã âm thầm điều chỉnh. Thượng nghị sĩ đảng Dân chủ Robert Casey lâu nay luôn chỉ trích gay gắt chính sách thương mại của Trung Quốc đã xác nhận điều này:

"Trung Quốc gần đây đã có những chuyển biến trong chính sách ngoại hối, không còn tiếp tục cố ý dìm giá đồng nhân dân tệ như trước".

Tuy nhiên áp lực với thương mại Trung Quốc không phải đã hết, Thượng nghị sĩ đảng Dân chủ Charles Schumer kêu gọi:

"Tổng thống Donald Trump, nếu ngài thực sự muốn tạo việc làm cho nước Mỹ thì hãy tuyên bố Trung Quốc là nước thao túng tiền tệ. Nếu ngài thực sự coi nước Mỹ là trên hết, hãy tuyên bố Trung Quốc là nước thao túng tiền tệ".

Lần này Donald Trump không ra mặt, mà để ứng viên ông đề cử cho chức Bộ trưởng Tài chính Steven Mnuchin giải thích:

"Nếu Trung Quốc lại tiếp tục thao túng tiền tệ, có chính sách bất bình đẳng với đồng nhân dân tệ, khi đó sẽ kiến nghị Tổng thống Donald Trump chính thức liệt Trung Quốc vào nước thao túng tiền tệ".

Nhà nghiên cứu Trần Phá Không kết luận: Trung Quốc đang âm thầm thỏa hiệp và nhượng bộ Hoa Kỳ, nhưng họ chỉ làm không nói.

Trong khi thực ra đây không phải là thỏa hiệp hay nhượng bộ thực chất, bởi lẽ Bắc Kinh gây ra vấn đề và bây giờ họ dừng lại là nghĩa vụ phải làm.

Căng thẳng trên Biển Đông vốn do Trung Quốc khới lên, thì Bắc Kinh phải có trách nhiệm hạ nhiệt, đó mới là cách hành xử có trách nhiệm. [2]

Người viết cho rằng, những thông tin nhà nghiên cứu Trần Phá Không cung cấp rất đang lưu tâm, tham khảo trong quá trình tìm hiểu chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ dưới thời Tổng thống Donald Trump, đặc biệt là Biển Đông và quan hệ Trung - Mỹ.

Trung Quốc thực sự "quy thuận" hay chỉ giả vờ "quy thuận" Donald Trump có lẽ cần thời gian quan sát thêm. Nhưng ông Trần Phá Không có một luận giải hết sức chính xác:

Kỳ thực, những tuyên bố và điều chỉnh chính sách của Trung Quốc nêu ra trong bài viết này nếu đúng, thì rất đáng hoan nghênh, nhưng đó là trách nhiệm của Trung Quốc phải làm, vì anh gây ra chuyện, ví dụ như vấn đề Biển Đông.

Sở dĩ người viết chú ý đến bình luận này là bởi, trong một cuộc hội thảo tại Hà Nội giới thiệu sáng kiến "một vành đai, một con đường", học giả Trung Quốc Tiết Lực từng hỏi một nhà nghiên cứu Việt Nam:

Nếu Trung Quốc nhượng bộ trong vấn đề (rút lại / hủy bỏ?) đường 9 đoạn ở Biển Đông, thì Việt Nam sẽ "nhượng bộ" gì? 

Rõ ràng đây là một cái bẫy ngôn từ, nó giống như một kẻ giật bát cơm trên tay người khác. Người kia không chịu, đòi lại thì kẻ này bảo: thôi, bây giờ chia đôi!

Đó là lối "nhượng bộ khôn vặt" mà ông Tiết Lực muốn nói tới, bình luận của ông Trần Phá Không là câu trả lời đầy thuyết phục và đúng mực.

Tài liệu tham khảo:

[1]https://www.stripes.com/news/pacific/china-protests-us-sanctions-on-iran-but-sees-clouds-of-war-dispersing-over-south-china-sea-1.452722

[2]http://www.rfa.org/mandarin/pinglun/chenpokong/chenpokong-02062017103517.html

Hồng Thủy

(Giáo Dục)

Phần nhận xét hiển thị trên trang