Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Sáu, 3 tháng 2, 2017

Chuyện trong phòng giam!


- Mày bị bắt vào đây vì tội gì? – Thằng có vẻ đầu gấu, lớn tuổi hỏi hắn.
Hắn mếu máo, miệng lệch như miệng trai, nói não nùng:
- Tôi chỉ làm nghề viết văn, tội gì đâu, con vợ mua của ai mấy thứ hàng lậu, quản lý thị trường khám, tôi nhận thay, chứ vợ vào đây, con tôi rồi cả tôi nữa, ai nuôi…

Kết quả hình ảnh cho phòng giam
- Ha. Ha… thằng này cười, rồi cả bọn cười… cười xong, nó nói - Lẽ ra, bọn tao sẽ cho mày lễ “nhập phòng ”, nhưng thôi, mày gầy thế kia, chắc không chịu được. Mày nói là nhà văn, vậy mày hãy kể một câu chuyện mà tao thấy hay, thấy đúng…thì mày khỏi phải lễ “ nhập phòng”…kể đi!

Hắn hơi hoảng, tự nhiên bắt kể chuyện, không có “tứ” trong đầu, bắt đầu kể từ đâu? Hắn liều…nhặt nhạnh mỗi nơi một ít, lấy giọng lên bổng, xuống trầm, kể một câu chuyện:

-…Có một thằng bộ đội bị thương ở chiến trường Căm Phu Chia, chữa lành vết thương, về quê. Trên đường bị mất hết giấy tờ, hết lên tỉnh, xuống huyện ,về đơn vị cũ xin giấy xác nhận, chỗ nào cũng bắt nó” phòi” tiền, không có tiền, chúng nó không xác nhận. Nó điên tiết, nói với vợ : “ Tao đ…cần giấy tờ nữa, đi đãi vàng. “ nó đãi vàng vô cùng cực khổ, khổ về sức lực bỏ ra rồi còn bao nhiêu tệ nạn, phải chống trọi, nó trở thành “ lục lâm thảo khấu” lúc nào không biết, không biết sợ ai. Dẫu vậy, nó vẫn nhớ gia đình. Một đêm trở về nhà, có ai ngờ…vợ nó đang nằm với thằng chủ tịch xã. Nó điên tiết lao vào đánh thằng chủ tịch xã một trận, cho con vợ một cái tát trời giáng, rồi bỏ nhà đi…

Hắn đang kể như thế, tự nhiên có một thằng trong bọn khóc rống lên:

- Không phải, anh kể sai rồi, tôi đâm thằng đó, may mà nó chưa chết. Thằng bị đâm không phải là chủ tịch xã mà là bí thư, còn con vợ, tôi dần cho một trận…

Hắn vội xin lỗi rối rít:

- Tôi chỉ “bịa” thôi mà không ngờ là chuyện thật, xin lỗi anh, tôi kể khác.

Hắn lại kể, thằng bộ đội kia, về đến nhà, thấy cả nhà khổ quá, không ở quê nữa, kéo nhau lên rừng, khai hoang, làm rẫy trồng cà phê, hồ tiêu… làm ăn được mấy năm, cũng tạm qua cơn khốn khó thì bị một công ty tư nhân móc nối với chính quyền thuê người lên phá nát rẫy cà phê, hồ tiêu của thằng bộ đội này lấy lý do đây là đất “dự án”!!! Mặc cho cả nhà thằng bộ đội này van xin, chúng cứ phá, cứ đánh. Thằng bộ đội uất quá, đổ xăng vào người, tự thiêu…

Lại một thằng trong bọn , nước mắt rơi, giọng uất hận:

- Anh lại kể sai chuyện này rồi, đúng là xảy ra chuyện như thế, nhưng ở quê tôi, anh bộ đội ấy quá căm thù, “chơi” nguyên mấy viên đạn hoa cải vào bọn cướp cạn , máu phải trả bằng máu, chúng để lại mấy xác chết… còn anh ấy vô tù…

Nghe vậy, hắn vội vàng chữa lại cái kết của câu chuyện:

- Chết! Cũng không ngờ chuyện tôi”bịa” lại có thật. Anh cho tôi xin lỗi…Cái kết của chuyện ấy là thế này…Thằng bộ đội này về…mất giấy tờ, nhà cửa không có, đến chỗ nào cũng đòi phải có tiền, bước đường cùng, đi ăn cắp, bị bắt…không ngờ vào tù lại gặp mấy đồng đội cũ của mình…

Hắn mới kể đến đấy thôi…

Tự nhiên cả bọn trong phòng giam ôm nhau khóc.

Trần Kỳ Trung
(Blog Trần Kỳ Trung)


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Xúi dân phá bỏ lúa, đưa người Trung Quốc đến làm việc



NGỌC TÀI - THÀNH NHƠN
TTO - Người dân xã Tân Hội Trung (huyện Cao Lãnh, Đồng Tháp) phản ảnh tại địa phương có một doanh nghiệp đang triển khai dự án trồng sen nhưng có nhiều biểu hiện rất bất thường...

Người dân cho biết đại diện doanh nghiệp này “xúi” người dân phá bỏ lúa dù gần đến ngày thu hoạch, đưa người Trung Quốc đến làm việc, đặc biệt là đưa sinh vật ngoại lai, nguy hại vào nuôi trồng.

Chuyện bắt đầu lùm xùm nhiều tháng qua, khi xã Tân Hội Trung bỗng xôn xao có một doanh nghiệp từ phía Bắc đến hỏi thuê đất trồng sen.

Lúc đó là tháng 4-2016, những cánh đồng lúa đang sắp vào ngày thu hoạch thì một số gia đình đột nhiên phá bỏ ruộng lúa. Hỏi ra mới biết doanh nghiệp thuê đất muốn lập tức phá bỏ lúa, chấp nhận thuê đất giá cao và bồi thường thiệt hại cho việc phá lúa.

“Doanh nghiệp chịu bồi thường 10 tấn/ha, với giá bán thị trường thời điểm này là 6.000 đồng/kg. Doanh nghiệp nói cần gấp để lấy đất trồng sen” - một người dân giải thích.

Một người dân khác cũng nói: “Họ thuê lại đất của nông dân trong thời hạn 3 năm, giá khoảng 3,5 triệu đồng/công/năm”.

Theo ông Võ Trung Kiên - phó Phòng NN&PTNT huyện Cao Lãnh, có một doanh nghiệp Hà Nội đến huyện khảo sát tìm quỹ đất rộng khoảng 20ha để trồng sen lấy ngó xuất khẩu. Bước đầu doanh nghiệp cần 2ha để ươm giống, sau sẽ mở rộng lên 20ha để trồng đại trà.

“Bên phòng có trao đổi với doanh nghiệp, đề nghị chờ thu hoạch lúa rồi hãy thuê đất. Doanh nghiệp nói cần đất sớm, nếu không có đất thì họ đi địa phương khác. Chúng tôi đang khuyến khích chuyển đổi cơ cấu cây trồng nên để họ tự thỏa thuận với nông dân” - ông Kiên nói.


Khi được hỏi về danh tính doanh nghiệp thuê đất, ông Kiên chỉ trả lời: “Đó là một công ty ở Hà Nội”. Qua tìm hiểu được biết doanh nghiệp đứng ra thuê đất ở xã Tân Hội Trung là Công ty sen Hoàng Giang, do ông Trần Văn Hòa làm giám đốc.

Thả sinh vật lạ

Ngoài chuyện yêu cầu nông dân phá lúa để thuê đất, điều đáng nói nhất là tháng 11-2016, người dân phát hiện trong ruộng của doanh nghiệp nói trên có thả một số sinh vật lạ.

Ông Nguyễn Văn Hồng - một người dân ở ấp 6 - cho biết ông là người đầu tiên phát hiện sinh vật lạ.

“Lần đó tui đi khai nước vào buổi tối, tui thấy nó bò trên bờ ranh. Tui hoảng hồn vì chưa từng thấy con nào như vậy” - ông Hồng kể.

Theo miêu tả của người dân, sinh vật này hình dáng giống tôm lai với cua, nhìn thoáng qua có phần giống con bò cạp, có màu đỏ, lớp vỏ bên ngoài rất cứng và khá hung dữ.

Mới đầu người dân bắt được một hai con, thấy lạ nên giữ lại để nuôi thử, rồi phát tán ra môi trường ngày càng nhiều.

Ông Trần Văn Hòa - giám đốc Công ty sen Hoàng Giang - thừa nhận sinh vật lạ mà người dân phản ảnh là tôm do ông thả nuôi.

“Tôi không biết con tôm này không được phép nuôi. Có người bạn ở ngoài Bắc họ cho tôi 4kg nói là nuôi ở miền Nam sẽ mập và ăn ngon hơn, nên tôi đem về nuôi thử” - ông Hòa nói.

Khi đặt vấn đề con tôm ăn gì thì ông Hòa lại trả lời là không biết chúng ăn gì. Còn việc tôm của ông Hòa phát tán ra môi trường xung quanh thì ông đổ cho người dân vào bắt trộm.

Nguy hại hơn cả ốc bươu vàng

Ông Phạm Minh Chí - phó phòng thanh tra Chi cục Thủy sản tỉnh Đồng Tháp - cho biết chi cục xác định sinh vật lạ do ông Hòa nuôi là tôm hùm đỏ (hay tôm hùm đất), tên khoa học là Procambarus clarkii, một loại giáp xác nước ngọt, nguồn gốc ở nam Hoa Kỳ, có nhiều khả năng còn nguy hại hơn cả ốc bươu vàng.

“Theo các tài liệu nghiên cứu, tôm hùm đỏ lớn rất nhanh ngay cả trong điều kiện ít nước. Mùa khô chúng có thể chịu đựng khô hạn đến 4 tháng và vòng đời có thể kéo dài đến 6 năm.

Tác hại của tôm hùm đỏ rất lớn, chúng đào hang rất giỏi nên sẽ phá hại hệ thống kênh mương, có thể làm tan hoang các hệ sinh thái bản địa do ăn tạp. Đặc biệt, chúng mang theo nhiều virút gây bệnh trên tôm, kể cả loài giun ký sinh trên động vật có vú và người” - ông Chí giải thích.


Sau khi xác định được chủng loài, Chi cục Thủy sản Đồng Tháp làm việc với ông Hòa, yêu cầu ông tổ chức tiêu hủy dưới sự giám sát của các cơ quan chức năng.

Đợt tiêu hủy tôm hùm đỏ đầu tiên là vào ngày 6-12-2016, bắt được 33 con tôm sống và 55 con tôm chết. Cùng với việc tiêu hủy tôm, đoàn giám sát còn yêu cầu ông Hòa phun hóa chất để tiêu diệt những con còn sót lại cũng như tôm con nếu có sinh sản.

Đợt tiêu hủy thứ hai là vào ngày 10-12-2016, tổng cộng có 14 con sống và 5 con chết, trong đó có 7 con bắt được bên ngoài ao nuôi của doanh nghiệp.

“Do tôm phát tán ra môi trường nên chi cục kiến nghị địa phương thực hiện nhiều biện pháp ngăn chặn không cho tôm ra ngoài môi trường” - ông Chí cho biết thêm.

Ông Nguyễn Văn Hùm - phó chủ tịch UBND xã Tân Hội Trung - cho biết ngoài nuôi giống tôm hùm đỏ, giống sen do doanh nghiệp của ông Hòa trồng tại địa phương cũng không rõ nguồn gốc, không giống với sen bản địa.

UBND xã đã kiến nghị các ngành liên quan tìm hiểu nguồn gốc chủng loại sen này. “Cái khó là sen của ông Hòa trồng đều... chết hết. Họ đầu tư thuê đất và xây nhà xưởng với số tiền khoảng 10 tỉ đồng nhưng sau một năm vẫn chưa thu được đồng nào từ việc trồng sen” - ông Hùm nói.
***

Thuê lao động Trung Quốc

Theo ông Nguyễn Thanh Hải - trưởng Công an huyện Cao Lãnh, trước đó có một số lao động Trung Quốc làm việc tại cơ sở của ông Hòa nhưng sử dụng visa du lịch.

Hiện số lao động này đã thực hiện đầy đủ thủ tục theo quy định nên được cấp tạm trú tại địa phương.

“Sau bổ sung các loại giấy tờ và hoàn thành thủ tục cần thiết, đến thời điểm này số lao động Trung Quốc này vẫn làm việc, chưa thấy có gì bất thường” - ông Hải cho biết thêm.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

NGƯỜI ĐIÊN Ở BẾN TRAM


Truyện ngắn HG

Kết quả hình ảnh cho Hình ảnh người đàn bà điên?

Đấy là chỗ con ngựa màu Da đá suýt nữa làm tôi ngã lăn xuống vực. Hôm ấy trời mưa, trơn đến nỗi đi vững như ngựa cũng có thể ngã, không đi được.
Đường qua đèo vẫn là đường đất, chưa như bây giờ, tráng nhựa có tên là đường quốc lộ, có số có má hẳn hoi.
Nó mới chỉ là đường lâm nghiệp, xe “Bò ma” cày nát từng quãng dài. Trên lưng chừng đèo có chỗ bùn thụt sâu tới gối. Sơ sểnh cả người lẫn ngựa vút một cái, mất tăm. Có thế giới bên kia hay không thì không ai dám chắc, nhưng méo mó biến dạng thân xác dưới đáy vực không cần hình dung, cũng thấy rợn người.
Ngựa lại là con bất kham, mệnh thủy khắc kị với mình.
Tôi biết mà vẫn mua.
Không phải vì ham rẻ, mà vì nể cụ Khuyên, người mới mất cách đây đúng một trăm ngày. Nhà vừa làm lễ cúng bái linh đình nhờ con cái khá cả. Lão Chu trưởng nam của cụ tha thiết mời, tôi không thể không đi. Lượt buổi sáng trời chưa đến nỗi nóng như bây giờ. Rượu chưa uống, đầu óc còn tỉnh táo. Nắng le lói phía bên kia đèo. Người vắng gần như không gặp ai. Xe vượt qua đèo, gió thổi, mây bay..
Nói chung là không có gì đáng nói.
Nhưng lượt về, như thể ma làm, tôi bị lạc mấy bận. Cái giống rượu vào hay nghĩ linh tinh, thích chỗ này, chỗ khác mà lúc tỉnh táo chả bao giờ làm như vậy. Cũng chả nhớ hết mình đi tới những đâu?
Hình như có vào chỗ mụ Dương lùn, thằng Mai ếch và một vài chỗ nữa.
Ào ào chuyện, chả nhớ là những chuyện gì. Nói là điên vì rượu khi đó quả không sai!
Mãi xâm xẩm tối, mới sực nhớ ra là cần về nhà thì gặp ngay một chuyện. Một chuyện chả ra làm sao.
Tỉnh lại ngày hôm sau xấu hổ thêm mấy ngày.
Gọi điện đi mấy chỗ ấy xem có sơ xuất, có điều gì không phải?
Các nơi bảo rằng không, chả có gì.
Nhưng có khi chỉ một mình mình biết. Đánh dấu vôi vào góc tường, thề không bao giờ lặp lại.
Rượu là thứ nước lỏng quỷ sứ hay dùng nó để làm hư hỏng con người. Nhất là rượu nhà đám, thường khi phải dùng hơi bị nhiều, làm sao mà kén chọn rượu tốt cho kỹ được?
Đường lên đỉnh đèo êm ru, không ổ voi ổ gà. Chả hiểu tại sao mình chạy như theo bản năng chứ không do phản xạ từ quan sát, cứ thấy nó ngờ ngợ như thể chưa qua đây bao giờ? Chợt sát mép vực kè bê tông hiện ra bóng người. Hình như đó là bóng ma chứ không phải người?
Người, ai lại đứng chênh vênh như thế kia?
Chỉ cần nửa bước chân là nguy tới tính mạng, đâu phải chuyện chơi?
Một cái giật mình do quả rụng, hay cành cây khô sự ấy xảy ra không khó làm người ta hoảng hồn nhào xuống vực.
Nhưng đúng là người thật.
Ma, nếu có vào giờ này hẳn mặc đồ trắng chứ không áo đỏ, quần bò xanh như thế kia. Tóc của ma nữ thường rất dài, buông xòa che mặt chứ không cắt tém gọn ghẽ như vậy..
Mình đã định không ngó, vụt qua. Chả hiểu thế nào lại dừng khi “con ma” đó quay ngoắt lại, giơ tay ngăn xe chạy.
Vẫn có thể né tránh để không xảy ra tai nạn, không biết làm sao lại dừng?
Hình như có điểm tối, khoảng rỗng trong ý thức con người hay một cái gì đó vô dụng mà mình đã gặp phải điểm ấy vào lúc nhá nhem của một ngày. Thời khắc con người mệt mỏi, sau một ngày nóng nực, trí óc không còn được tỉnh thức, bình thường.
*
Người ta thường nhớ rất lâu những điều không may mắn xảy ra trong cuộc đời. Tôi cũng vậy. Mỗi lần qua đây nếu không có việc gì vội, tôi đều dừng lại mươi mười lăm phút. Vừa để nghỉ chân trên đỉnh đèo, hóng gió và cho máy xe nguội trở lại sau cả mấy cây số vượt đèo.
Đây cũng là chỗ gianh giới hai xã, Trung Chính và Vân Sơn của một tỉnh miền Tây, cực bắc.
Thời giao thông chưa phát triển như bây giờ chỗ này heo hút, có nhiều câu chuyện hư hư thực lưu truyền trong dân gian.
Ai qua đây cũng cảm thấy rờn rợn bởi những câu chuyện chả có gì làm bằng chứng cả. Người ta kể rằng thủa xưa thật là xưa ..đã từng có kiệu rước của hai người công chúa, con gái vua Hùng vượt đèo qua lối này. Một trong hai người sơ ý, đánh rơi chiếc trâm cài tóc xuống vực. Từ sau đấy, có một loài hoa rất lạ, trắng bong nhụy lấp lánh ánh vàng thường nở vào mùa thu giống hình chiếc trâm, hao hao hình bông hoa huệ. Mỗi khi hoa nở, một mùi hương thơm dìu dịu, ngan ngát từ dưới lòng khe bay lên.
Ai may mắn được thưởng thức mùi hương này, phận duyên rất tốt, dễ lấy được vợ, được chồng mà lại toàn người giỏi, người hay. Vợ chồng đã lấy nhau rồi thì ăn đời ở kiếp, sống đến khi đầu bạc răng long, không gì có thể chia lìa.
Người có bệnh hiểm qua đây, chỉ dừng lại nửa ngày dưới gốc sung cổ thụ, hít thở hương hoa, về tự nhiên lành bệnh..
Năm tôi về đây rồi, thỉnh thoảng vẫn được nghe người già bên Trung Chính kể lại như thế. Có nhiều người từ rất xa còn cất công lên tận đây, bất chấp đèo cao suối sâu, núi rừng hiểm trở mong đến được chốn này, cầu duyên may.
Người ta còn nói thêm rằng sau khi vãn cảnh non nước hữu tình, hai nàng công chúa mới xuôi theo dòng sông Gâm để hồi cung.
Đâu đến đoạn phía trên thành phố Tuyên Hàm bây giờ hai người mới hóa. Dấu tích còn ghi trong sử sách. Đền Thượng, đền Hạ hai bờ tả, hữu sông Li Lô bây giờ là bằng chứng còn lưu lại..
Loài hoa ấy mãi sau này khi quân Cờ Đen mở đường lấp khe, đánh nhau với quân Pháp mới không còn.
Người ta bảo năm ấy xác giặc chất nghẽn đỉnh đèo, máu chảy tràn cả lòng khe, nó làm loài hoa quý tàn lụi dần, rồi mất hẳn đi kể từ đấy.
Cũng có người nói là do mưa lớn, đất đá sạt lở những năm sau này đã vùi lấp mất, hoa lạ mới không còn đến ngày nay.
Ngay cả những vị cao niên kể cũng mỗi người một phách, chả biết đâu mà lần.
Huyền thoại, vốn là chỗ chị em gần với các điển tích, với lịch sử của nhiều vùng. Dân tộc tôi là dân tộc mộc mạc, duy tình rất hay điểm xuyến vào lịch sử của đất nước mình những câu chuyện cảm động lòng người như vậy.
Chuyện hay thì như vậy, chuyện không hay cũng không thiếu.
**
Đối với tôi cô gái đứng trước mặt mình lúc đó không phải “con ma tình yêu”. Có khác giới chăng nữa cũng chỉ là “con ma nữ”, đơn giản thế thôi. Từ lâu cái tình cảm thiêng liêng giữa hai phía người trong tôi vì vài nguyên nhân đã không tồn tại.
Một là đầu óc đang trống rỗng, quay đảo vì thứ rượu rất khả nghi của nhà đám, một do sự mỏi mệt cuối ngày. Ngày mà cái nóng khốc liệt khiến người ta kiệt sức. Thú thực tôi chả có cảm xúc gì khi “ma nữ” chặn xe tôi lại. Tôi hỏi cộc lộc:
- Cô muốn gì ở tôi?
Ánh mắt cô nàng man man, tôi chưa gặp ánh mắt nào như thế, có cảm giác gờn gợn khi cô ta bảo:
- Muốn nhiều thứ lắm, nhưng trước tiên muốn nhờ anh đi một đoạn đường? – Miệng nói tay cô chỉ ngược về phía tôi vừa đi qua.
- Tôi không có điên, đường ấy tôi vừa đi qua, không thể quay lại.
- Nhưng mà em điên, anh có tin không? Cứ chạy cho em đi hết bao nhiêu em sẽ trả, em có tiền mà.. _ Cô rút trong túi ra một nắm tiền, toàn tiền lẻ loại một hai ngàn.
Tôi lắc đầu, không phải chê số tiền xấu của cô. Tôi từ chối vì mình không chạy xe ôm. Bây giờ tôi cần về nhà và không thể chạy ngược phía con đường vừa đi qua.
Bỗng nhiên cô ta ngồi thụp xuống ôm mặt khóc hu hu. Tôi bất ngờ tình huống này. Không lẽ chỉ vì sự từ chối của mình đã làm cô ta đau khổ? Linh tính báo cho tôi có điều gì đó không ổn trong trường hợp này.
Tôi lưỡng lự, định nổ máy xe đi. Tôi nghĩ mình chẳng có trách nhiệm gì trong trường hợp này. Bất chợt cô ta lại đứng vụt dậy. Trong ánh sáng chập choạng của hoàng hôn một ngày vừa tắt, ánh mắt của cô gái có đốm lửa rất lạ, man man, bối rối,hoảng sợ khiến tooimaats tự chủ. Cô ta rút sau lưng ra con dao nhọn dắt sau lưng. Tôi nhìn kỹ, sao lại là con dao này? Con dao hồi tôi còn làm dở đội trồng rừng vẫn mang theo để phòng thân hay làm các việc cần đến nó. Con dao sau đấy tôi đã tặng lại cho ông Thiện lùn, một ông làm bưu tá hay đến đưa thư cho đội của tôi. Một người có duyên phận không may, lấy đến ba đời vợ mà không ở được với bà nào, vì không có được đứa con. Sao cô gái này lại có nó? Tôi vội bảo cô đưa tôi con dao, cô dứt khoát không đưa. “Không, nếu anh không giúp một là em sẽ dùng con dao này..Hai là sẽ nhảy xuống vực”; “Nếu ban nãy anh không xuất hiện, chắc em đã bay xuống dưới kia rồi!” Cô chỉ tay xuống vực sâu. Tôi tỉnh hẳn rượu. Là chuyện nghiệm trọng rồi, không phải chuyện vớ vẩn tôi có thể bỏ bỏ qua. Bảo là thương người, lo sợ cho cô ấy hay sợ liên lụy tôi không rõ. Nhưng có lẽ là cả hai. Sáng ngày mai, ngày kia, hay ngày nào đó chắc chắn người ta sẽ tìm thấy xác của cô dưới khe vực kia..Và cũng chắc chắn sự có mặt của tôi ở đây vào lúc này không thể vô can. Bằng cách nào đó với khoa học hình sự thời bây giờ tôi không thể nói là mình không biết. Tôi đã để lại nhiều dấu vết của tôi ở đây, vào lúc này, không thể từ chối không phải của mình.
Tôi phải chọn cách nào đó trong hoàn cảnh này? Và hơn nữa, cứu một mạng người dù trong trường hợp nào cũng là việc nên làm. “Cứu một mạng người hơn xây mười tòa bảo tháp” Đức Phật chả dạy thế là gì?
Tôi đồng ý với điều kiện cô buông xuống và đưa tôi con dao. Cô gái ngoan ngoãn làm theo. Cô đứng sát lại khiến tôi không chịu được mùi gì đó nồng nặc từ phía người cô. Đàn bà con gái lâu ngày không tắm thì mùi vị thật kinh khủng, tôi đoán như vậy. Quả nhiên không sai..
Cô đã bỏ nhà đi lang thang hàng tháng trời trên đường từ đây về thành phố mặc dù không phải cô là gái bán hoa, hay bán thứ gì đó từ vốn tự có của mình. Chuyện của cô khiến tôi buồn rời rã chân tay khi nghe cô kể sau lúc cô chỉ tôi một lối nhỏ phía cây sung cổ thụ. Cô bảo cần tâm sự với tôi một tí, giọng người Thanh Y nói tiếng Kinh chưa chuẩn. Tôi bảo không cần thiết phải như vậy. Tôi cần xem lại con dao.
Đúng là nó rồi. Con dao của tôi vẫn thường dùng ngày trước để xấn măng ngọt, cắt dây rừng và một số việc chả thể nào nhớ hết được. Trên cái cán làm bằng sừng trâu đen còn khắc tên tôi. Cái tên có lẽ chỉ mình tôi đọc được vì viết bằng tiếng Nga sai văn phạm. Tôi làm như thế để đánh dấu riêng. Không ngờ sau bao nhiêu năm tôi lại dùng đến nó. Ngay tại nơi đỉnh đèo có câu chuyện huyền thoại của các con gái vua Hùng. Giữa lịch sử và hiện tại có thể trong trường hợp này chả có mối liên hệ nào. Cũng có thể là có, biết đâu được? Cả cô và tôi đều là hậu sinh của Đức vua Hùng, điều ấy vừa chính xác vừa mơ hồ, thật không dễ nói nó cụ thể cho được.
Thì ra, chuyện chẳng có gì phức cả. Đơn giản lắm. Cô kể: “ Cũng chính chỗ này ( Cô chọn một nơi thật ý nghĩa để kết liễu đời mình ) cô đã gặp ông Thiện lùn. “ Nếu không gặp ông ấy, chắc em đã về với vua Bàn vương rồi”. Cô đã sống ở chỗ ông Thiện bến Tram gần một năm nay.
Ngày ngày ông cặm cụi đan các loại lồng gà, dọ tôm mang xuống chợ, hoặc đi bán dong vào các làng. “Ông ấy chiều em lắm, mua cho em chả thiếu thứ gì. Ăn uống không thiếu..Dưng mà có một thứ ông ấy không thể cho em được”, “Từ ngày em bị lừa bán sang Tàu, trốn được về đây rồi, hư nết không sửa được nữa”; “Em thèm đàn ông kinh khủng, không có không chịu được. Có lẽ bên ấy bọn khốn đã cho em ăn phải thứ bả yêu nào đó mới sinh ra khổ thế này.. Thế là em trốn ông ấy, em thỉnh thoảng bỏ nhà đi hoang. Đi chán rồi lại về. Lần cuối cùng ông ấy bảo: Tai tiếng lắm, ở thì ở hẳn, đã đi thì đừng có về..” Em không thể về nếu không có người đi cùng nói giúp cho vài câu.. Em đã định bay đi luôn lúc ban nãy thì gặp anh..”
Tôi hiểu. Nhưng tôi giúp gì được cô? Mà không giúp thì chuyện gì xảy ra? Cô điên thật hay là điên giả vờ?
Có lẽ là cô điên thật, nhưng không phải là điên bình thường. Điên theo lối vô thức rồ rồ dại dại, gặp gì ăn nấy và không còn suy xét chắc không phải? Đây có lẽ là rồ tình, một căn bệnh tâm, sinh lý không ít người mắc phải?
Tôi biết mình phải làm gì?
Từ đây lên bến Tram cả đi cả về mất hơn một tiếng. Nhà ông Thiện lùn tôi không lạ, tôi đã đến đấy vài lần, không cần phải hỏi thăm. Dẫu trời có tối vẫn có thể đến đó được. xe của tôi đèn rất sáng, không sợ lạc đường.
Trong nhiều cái rắc rối, nên chọn cái ít rắc rối nhất, tôi quyết định như vậy. Tôi kiên nhẫn nghe hết câu chuyện của cô. Một cô gái vốn là người trong vùng, chỉ có điều là tôi chưa gặp bao giờ. Chuyện nghe dễ mềm lòng, dễ xúc động và tôi cũng không ngoại lệ.
Thì cứ coi như mình đang ở đám ma cụ Khuyên chưa về. Nhanh hay chậm một vài tiếng buổi tối này cũng không sao. Có về cũng lăn ra ngủ chứ làm được gì?
Tôi quay xe. Cô gái điên ngồi phía sau. Cô ôm kiểu gì khiến tôi tưng tức khó thở. Tôi rất lo mình mất làm chủ tay lái và im, không ra lời.
Chúng tôi đã sang hẳn bên này đèo, qua một xóm cư dân đông đúc nhưng chỉ có lèo tèo một hai cái quán.
Cô gái: “Họ, họ, dừng lại”! Tôi điên tiết nghe thấy cô họ mình như họ trâu, lại bảo dừng lại để “đi đái” đúng giữa nơi như thế này. Đèn điện nhà hai bên đường sáng như ban ngày. Đái với chẳng ỉa thế nào chỗ này kia chứ?
Xe đỗ. Cô gái điên chạy vụt vào một cái quán ngay bên đường.
Đây là một làng xưa heo hút, nhưng bây giờ đường đổ bê tông đến tận các ngõ ngách. Trước cửa có tấm biểm gỗ nhỏ chữ viết nghuệch ngoạc: “ Bán ăn sáng, mì tôm, trứng vịt lôn”. ( Chắc là trứng vịt lộn thiếu, hoặc mất dấu nặng ). Cô gái không vào hàng. Cô theo lối nhỏ bên sừơn nhà người ta, sâu vào mãi bên trong. Có nhẽ cô ta làm việc ấy của cô thật.
Tôi đứng chờ bên ngoài và thật không may, gặp người quen. Cái thằng bạn lâu không gặp bỗng xuất hiện. Nhà nó ở sát kế bên cái quán này. Nó không ngờ gặp tôi ở chỗ này, hàm răng cải mả của nó thật vô duyên:
- Đi tìm rau sạch hả ông tướng?
- Không. Chỉ tình cờ qua đây. Tao đi đám trăm ngày cụ Khuyên về..
Nó nhìn tôi nghi hoặc. Tên thằng này là Đô. Ngày còn đi rừng với nhau tôi vẫn gọi nó là Đô tùy, vì hình dáng rất giống phu khênh đòn đám ma của nó. Lưng hơi ngắn, ngực lúc nào cũng ưỡn về phía trước, nhưng nó hơi tự tin vào bản thân, dù chả biết tìn cái gì? Ở đâu?
- Mày biết mày vừa đi với một con rồ không? Tao không tin khi nhìn thấy mày với nó.
- Đừng nói xằng.. tao chỉ là vô tình. Thấy nó sắp nhảy xuống vực ở đèo Mã Quýnh không đành lòng quay đi.
- Tốt thôi, nhưng tao sợ người ta nhìn thấy thì không hay cho mày. Có bị tâm thần không đấy?
- Nửa tỷ người trên trái đất này bị tâm thần chứ đâu riêng ai? Nóng bức, thời cuộc các nơi, tâm thần hay bị điên có gì lạ? Ngay người bình thường cũng có mấy chục phần trăm tâm thần – Tôi bực nói với nó như vậy!
Nó quay đi, còn nói với theo: “ Thì tùy mày. Tao chỉ ngứa mép nói vậy thôi, đừng giận..”. Tôi giận nhau với nó để làm gì? Dù sao nó cũng vì bạn bè mà nói thực lòng, có phải ác ý với mình đâu. Trước lúc đi nó cho là tôi chưa biết, có kể chút lai lịch về cô gái này với giọng điệu vô cảm, vô tâm thực không ngờ.
Nó bảo: “Mày chứ tao thì không rỗi hơi”. Trong con mắt của nó, cô ta là một con quỷ dâm dục, một loại bỏ đi không cần quan tâm. Nó không muốn tôi bị người khác chê cười, nên mới nói thực lòng như vậy.
Mà đúng là tôi vô lý thật. Tự nhiên tự lành rước cái khổ vào người. Cuộc đời có hàng trăm hàng vạn người như thế này, tôi liệu có đủ sức để giúp họ không?
Định quay xe.
Có để cô ở đây có muốn cô cũng không thể bay theo ý muốn như ban nãy ở lưng chừng đèo được.
Sẽ có người nào đó đi ngang qua, gặp cô ấy thay mình ngăn cản vì không phải là chỗ không người.
Con đèo này sang thế kỷ 21 rồi, đâu còn heo hút?
Điều lo sợ liên can của tôi vừa rồi sẽ là không cần thiết..
Vừa lúc đó cô từ phía sau quán đi ra. ( Hình như chỗ này đối với cô là chỗ quen thì phải? ). Điềm nhiên cô ngồi vào một chiếc bàn kê độc nhất trong quán:
- Chủ quán đâu? Làm cho hai bát mì trứng tươi, nửa chai rượu rượu chuối?
Chủ quán là một gã có cái mặt rất đặc biệt, khó tả, đôi mắt nhỏ như cười tinh quái:
- Hôm nay có tiền không mà gọi to thế? Quán nhà hết vốn rồi, không bán chịu!
- Ai bảo ông bán chịu, có ông anh tôi kia, tôi không đủ ông ấy khắc trả - Cô ả chỉ vào tôi, khiến tôi điếng người. Tôi không dự tính trước chuyện này. Chả biết trong túi có còn đủ tiền không nữa. Tôi vội lên tiếng:
- Làm cho cô ấy thôi. Tôi vừa đi uống rượu về, không ăn uống nữa!
- Không rượu thì bia, cứ mang ra đây.
Gã chủ quán nìn soi mói. Hình như gã đang nghi hồ chuyện gì. Buộc tôi phải lên tiếng dù rất ghét thanh minh:
- Cô ấy nhờ xe tôi giữa đường. Anh nói để chú em biết là anh không liên quan. Nhưng nếu cô ta đói, anh sẽ trả tiền cho chú em.
Gã cười hì hì rồi đi vào. Một lúc bưng ra một tô mì, ba chai bia. Cô ả không mời, bật ngay chai bia thành thạo, dốc cả chai không cần ly cốc. Uống gần hết nửa mới hỏi: “Có đá không?”..
Nhìn cô ta ăn ngon ngả như nhịn đói từ kiếp nào mà phát thèm. Món mì này kể cả lúc đói mình cũng chẳng thích. Thứ mì dùng cho người đồng quê, xam xám, vàng nhạt không cần đoán cũng biết chế từ bột sắn khô, thêm gói bột nêm chủ yếu là muối trắng xay nhỏ trộn chút hồ tiêu. Sự cộng hưởng thêm của quả trứng công nghiệp cũng chả mang lại ham muốn nào. Mới biết món ăn ngon hay không còn tùy lúc, tùy người và tùy hoàn cảnh.
Không biết Đô tùy vòng lại lúc nào, đang thì thầm với gã chủ quán còn non tuổi. Thỉnh thoảng hắn lại chỉ chỉ trỏ trỏ vào tôi. Tự nhiên lòng tự ái vớ vẩn của tôi nổi lên:” Đúng là một lũ vô cảm. Cứ cho là tôi đang đi với một con ăn mày, một con điên như thế thì đã sao? Lòng trắc ẩn của các người vất chó gặm rồi hay sao? Không cần biết vì lý do gì mà cô ả ra nông nỗi..”
Một người đã quá khổ, đang mấp mé bờ vực, chả còn tha thiết sống hay chết, tới đâu thì tới, cô ta có lỗi gì?
Như bộ quần áo mặc trên người đã bẩn thỉu, vấy bùn lem luốc, có giữ gìn ý tứ cũng là vô ích và không cần nữa!
Khinh rẻ người nghèo, người đau khổ, tuyệt vọng chả nhẽ là niềm hãnh diên, danh dự của các người chắc?” Ý nghĩ phản kháng ấy khiến tôi bề ngoài tỏ vẻ bất cần. Có lẽ đọc được thái độ ấy của tôi, cả hai quay sang chuyện khác.
Đô tùy còn nói sẽ chờ, mời tôi sang nhà: “Đưa cô ấy đến đây là được rồi..Cô ấy sẽ tự biết đường. Từ đây lên Tram không còn xa. Mấy lị mọi khi có thấy ai đưa đâu?”
Tôi cảm ơn. “Xin lỗi, đã thiếu cái nhìn thiện cảm, đến chơi nhà nhau cũng chẳng ích gì”, tôi không nói nhưng nghĩ như vậy!
***
Chúng tôi nhìn ra bờ ngòi, nơi thành cái tên của mảnh đất này . Lặng im khá lâu dưới ánh điện cuối nguồn không sáng rõ. Tuy vậy vẫn nhìn thấy mảnh đất hình cờ đuôi nheo của ông Thiện.
Theo phong thủy hiện đại đó là hình thế không được tốt cho lắm. Phía bên kia đường là ngôi nhà bỏ hoang. Chủ ngôi nhà đó tôi có biết. Một thời xuôi ngược sông Gâm tôi thường hay đi thuyền của vợ chồng anh ta. Đó là chiếc thuyền máy khá đẹp, to vào loại nhất nhì các hạng thuyền máy trong tỉnh hồi bấy giờ.
Một gia đình khấm khá được nhiều người biết đến. Chồng tên là Sứ, vợ tên Giả. Một cặp vợ chồng hoàn hảo như người ta nói. Một chuyến chạy hàng mùa lũ thuyền của họ bị lật. bao nhiêu hàng hóa của khách trôi sạch xuống sông. Đau nhất là có hai người chết, xác không vớt lên được. Sau chuyến ấy người chồng đi tù mấy năm. Vợ ở nhà bán hết tài sản, gom hết vốn liếng bồi thường cho người ta. Căn nhà xây hai tầng, có giá được bán thanh lý. Chị ta đưa con vào miền nam, không có tin tức.
Người chồng đã về hay chưa, hay về rồi đi tìm vợ không ai biết. Dân làng đã nhiều người quên đã từng có mặt của họ trên mảnh đất này.
Ông Thiện thấy tôi lảng chuyện như vậy, hỏi thẳng vào vấn đề:
- Cậu gặp nhà tôi ở đâu?
- Dạ tôi thấy cô ấy ngồi khóc trên đỉnh đèo. Cô ấy nhờ đưa về đây, sợ ông giận không dám về một mình!
- Hầy dà, vô ích thôi anh giáo ạ! Nhiều lần rồi nó bỏ đi như thế. Lúc đầu tôi giận lắm. Mình thấy nó hoàn cảnh, nó cơ nhỡ, không nơi ăn chốn ở mang về đây. Có phải là muốn lợi dụng nó đâu? Nó tình nguyện làm vợ chứ mình đâu có bắt. Không phải trâu già ham cỏ non đâu vớ! Nhưng đã về đây rồi không chịu ở yên. Cứ vài hôm lại bỏ đi. Lúc đầu mình còn tìm, sau chán, thây kệ. Nó như con bò hoang vô chủ ai rủ đi cũng đi..
Ông ngồi thần người có vẻ nghĩ ngợi. Tôi cũng không gặng hỏi, để tự ông nói ra:
- Nhưng mà kể cũng tội. Số kiếp con người không ai nói trước được cái gì đâu né! Ngày trước vợ chồng nó có quầy hàng to lắm ở thị trấn Sơn Hóa kia đấy, không phải bình thường đâu..
Tôi ngồi nghe câu chuyện của ông mà buồn hết cả chân tay. Đến như mình đến nước ấy cũng phát điên lên chứ cứ gì cô gái này?
Một người đàn bà nhan sắc có chồng hào hoa. Anh ta hào hoa đến mức có gái theo về tận nhà mà vợ vẫn không ghen. Cô muốn cho cửa nhà yên ấm, bồ bịch có ai kéo dài được lâu đâu mà sợ? Cô nghĩ như vậy.
Cho đến lúc anh ta bắt được mối một công ty bảo hiểm Ây Ấy gì đó, bị người ta lừa trắng tay. Hai vợ chồng bán nhà vào núi ở. Anh ta bảo chỉ có cách tốt nhất cô theo người ta đi chợ Trung Quốc mới có cơ gỡ lại được, vốn liếng đã có người ta giúp. Cô không nghĩ là có ngày mình bị bán sang làm vợ cho ba cha con một lão già người Tàu. Hai thằng con lộc ngộc như hai thằng hộ pháp và ông bố chết vợ đã lâu sống chung một nhà.
Trần đời cô chưa thấy nơi nào người ta chung vợ như cha con lão. Ba bố con dùng chung vợ như dùng chung con ngựa hay là một cái xe. Có lúc chúng gầm ghè, vác dao vác gậy để tranh lượt với nhau khiến cô khiếp sợ. Cứ tiếp tục như vậy, chuyện chết người chắc chắn sẽ xảy ra. May là gần đấy có một cô có hoàn cảnh tương tự như thế. Lão chồng bất lực hay đem vợ bán khoán cho bọn đàn ông trong vùng. Cô này lâu nay đang có ý định trốn về Việt Nam. Bây giờ có bạn như rồng thêm vây và hai người đã trốn thoát sau bao nhiêu vất vưởng cay cực suốt dọc đường. Dù khổ thế, khổ nữa, được gặp lại chồng, gặp lại con thế đã là may mắn,phúc đức lắm rồi..
Hai cô nói với nhau như vậy. Nó vừa là khát vọng, vừa an ủi sau bao dãi dầm, trôi nổi của cuộc trầm luân.
Về được đến nhà, cô choáng váng khi nhà mình đã có người khác ở. Hỏi chồng? Dân làng nói chồng cô đã bán hết tài sản, con gửi cho người khác. Anh ta đã cùng một cô gái trẻ nói vào miền đông nam bộ, trồng khoai.
****
- Anh giáo có biết tên cô ấy là gì chưa? Làm sao lại biết là có quan hệ với tôi để đưa về đây? – Ông Thiện lùn đột ngột hỏi, vừng trán của ông nhíu lại thành ba nếp nhăn, khiến tôi có phần lúng túng.
Tôi chợt nhớ ra, liền rút con dao nhọn có chuôi làm bằng sừng trâu đen đưa cho ông. Những nếp nhăn trên trán ông dần dãn ra. Hình như ông đã hiểu đã xảy ra chuyện gì, không cần đến tôi kể lại hành trình của tôi vừa rồi đi cùng cô gái điên, “vợ” ông.
- Cô ấy là Én Thang. Tên cô ấy là Én, chồng cũ của cô tên Thang nên mới có cái tên như vậy. Còn con dao này, chắc anh giáo nhớ. Chính anh tặng tôi đã lâu rồi. Cô ta mang đi, khiến tôi tìm bới lung tung khắp nhà mà không thấy, cứ nghĩ mình bỏ rơi trên rừng.
Tôi nghĩ không cần thiết kể lại câu chuyện vừa rồi của gã chủ quán và tay Đô “tùy”. Những câu chuyện ấy chắc tôi không kể ông cũng đã biết. Có thể còn biết nhiều hơn những chuyện phức tạp, dơ dáy, vớ vẩn hơn thế nữa. Mà nói ra lúc này để làm gì nhỉ? Thời buổi lãng xẹt, nhiều chuyện nhạt thếch, vô vị người ta nói hàng ngày trên đủ loại phương tiện chưa đủ hay sao?
Có thể nói không ngoa trong tất cả chúng ta, không ít thì nhiều đều có tổn thương tình thần trong cuộc sống này. Có ai được tạo ra bằng thép không gỉ, kim cương đâu mà bảo rằng các tác động từ nhiều phía đều vô hiệu? Nhiều người chưa bị điên lên là còn may, bởi những xáo trộn quá sức chịu đựng.
Tôi có người bạn vong niên đang dùng quỹ thời gian còn lại để chữa trị căn bệnh này. Ông có những bài thuốc nam rất hay để chữa những căn bệnh do tổn thương tinh thần mà gây nên. Ngoài ra, ông còn có thuật chữa bệnh bằng bấm huyệt, đã chữa đỡ và khỏi cho nhiều người. Tôi quen ông ấy khi đi tìm thuốc trị mất ngủ của mình, tận mắt thấy cách thức và toa thuốc chữa các bệnh ấy của ông.
Duy có điều ông sống biệt lập và nếu muốn tìm đến không dễ dàng đối với người ý thức nhạt và thiếu quyết tâm.
Tôi gợi ý ông Thiện về chuyện này. Ông chỉ cười, không nói gì. Không biết ông nghĩ gì trong đầu, liệu có “Nhạt” không?
Từ lúc tôi đưa về, Én, “cô gái điên” vẫn ngồi thụp giữa bụi chuối không lên nhà.
Trời đã bắt đầu tối, chỉ nhìn thấy cái đầu cô nhô lên nhờ ánh sáng đèn từ trong nhà hắt ra. Có lẽ cứ để cô ở yên như thế để cô bình tâm lại. Nếu như ông Thiện nghe tôi, tìm thầy tìm thuốc chắc chắn một điều bệnh của cô sẽ khỏi. Tôi tin như vậy là bởi cô chưa bị mất trí hoàn toàn, vẫn còn ít nhiều ý thức được. Còn nhận biết được đôi chút khi ăn, khi nói. Tình trạng của cô gần như người mê sảng, nửa thức tỉnh, nửa miên man. Tôi chào ông Thiện để ra về. Ra đến xe đã thấy cô ấy đứng sẵn ở đấy và lại.. đòi đi.
Lần này thì tôi dứt khoát. Tôi đã chút nữa làm hỏng chuyến đi của mình. Suýt nữa thì tôi đã gặp “phức tạp” một lần nữa ở chỗ con da đá của tôi ngày nào bên đèo Mã Quýnh. ( Chuyện lặp lại hành trình của thời gian không phải không có thể xảy ra ).
Tôi nghĩ, Én Thang chưa đến độ điên nặng. Có thể chữa được, nếu có người có thiện chí, lo chu đáo việc này.
Ông Thiện chỉ cười không nói. Nhưng có thể ông ấy sẽ lo liệu cho cô. Ông ấy không phải diện hay lau tau nói, hứa bừa để rồi chẳng làm gì.
Người thận trọng hay có cái cười như vậy..
C òn cô gái, cô phải ở lại, tôi về một mình.
Tôi chưa đến nỗi bị điên, để đưa cô đi theo!
=======================================

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trên ấy, vẫn còn …


Nguyên Ngọc
Image result for "Nguyên Ngọc"

Hồi giữa năm có mấy người bạn trẻ rủ tôi đi Tây Nguyên một chuyến. Trên ấy thì tôi vẫn đi về, vài ba tháng một lần, cũng có lúc thật tình nghĩ thôi thì đừng đi nữa, để làm gì nữa, có được gì đâu, có giải quyết được gì đâu, chuyến đi nào cũng vậy da diết và âu lo, càng đi càng da diết và âu lo, mà có làm gì được đâu … Nhưng rồi lại vẫn cứ đi, không thể không đi, gối đã mỏi, dốc ngày càng thấy cao, rừng thị trụi trơ nắng lửa … mà không thể không đi. Có lần tôi đã nói, đã viết: Tây Nguyên là vùng đất đến để mà say mê, quả thế. Bây giờ tôi lại muốn nói thêm: cũng là vùng đất đến để mà suy nghĩ, suy ngẫm, về văn hóa, về sự lạ lùng của văn hóa, cái thứ mong manh nhất trên đời, mà cũng lại là cái thứ dai bền nhất trên đời, có khi rất lay lắt, như ngọn đèn trước gió, trước bão, vậy mà leo lắt đấy song vẫn còn, bền dai một cách kỳ lạ. Đi để mà ngẫm xem có đúng thế không … Và có lẽ điều đó không ngẫu nhiên đâu, bởi nếu con người không còn tin vào văn hóa thì còn biết tin vào đâu để mà tồn tại và vượt qua. Để mà sống … Như bây giờ, như Tây Nguyên, như ở ta bây giờ …
Rủ tôi đi Tây Nguyên chuyến này là ba người bạn trẻ, họ làm mỹ thuật, đã học ở nước ngoài, cũng từng hoạt động nghệ thuật ở nhiều nơi, trong nước và ngoài mước. Họ chủ trương một chương trình và rủ tôi cùng tham gia, có tên là “Giọt sương Gia Rai”. Hãy nghe họ nói về cái Giọt sương ấy: “Giọt sương Gia Rai lấy cảm hứng từ niềm tin của người Gia Rai đối với con người và vũ trụ. Theo triết lý của họ về sự tồn tại thì sau khi chết, con người sẽ đi qua nhiều giai đoạn để trở về cội nguồn. Ở giai đoạn cuối cùng, linh hồn và thể xác con người sẽ biến thành giọt sương (ia ngom trong tiếng Gia Rai) rồi bốc hơi vào không khí – trạng thái của hư vô – hay chính là cái hạt khởi đầu cho sự sống mới. Dự án Giọt sương Gia Rai muốn phát triển nền văn hóa khắc gỗ Gia Rai một cách đầy thơ mộng và bền vững như quan niệm về sự sống và giọt sương. Mặc dù văn hóa khắc gỗ Gia Rai đang gặp nhiều thử thách để tồn tại, thậm chí đang đứng trước nguy cơ mai một, dự án này mong muốn nghệ thuật này sẽ hồi sinh và tồn tại một cách mới mẻ. Sâu xa hơn, dự án muốn đem đến một cái nhìn phản biện về văn hóa – nghệ thuật trong vòng xoáy giao nhau giữa công cuộc hiện đại hoá – công nghiệp hóa và thế giới tự nhiên đang bao bọc vùng đất này.
Nói nôm na, các bạn muốn rủ tôi cùng đi tìm một dấu vết văn hóa Tây Nguyên, lần này là ở người Gia Rai và trong nghệ thuật tượng gỗ từng nổi tiếng, mà họ tin là vẫn còn và cố góp phần đánh thức dậy, ngay giữa cái lộn xộn ồn ào hôm nay.
Vậy mà, lạ thế, tìm được.
Cũng không phải lặn lội xa lắm. Từ thành phố Pleiku, xuôi theo quốc lộ 14 chừng non vài chục cây số, chưa đến chân núi lửa Hơdrong vốn là núi thiêng của người Gia Rai mà người Kinh gọi bằng cái tên Kinh hóa là Hàm Rồng, rẽ tay trái vào một đường đất đỏ vẫn còn chạy ô tô được, chừng vài chục phút thì tới làng Pă Pêt của xã Bơ Ngoong. Nguyên – một trong ba họa sĩ trẻ rủ tôi đi – có gia đình ở Ban Mê Thuột nhưng ba mẹ anh đã ra tận vùng này mua được một miếng đất lập trang trại trồng cà phê và tiêu, đấy là cách làm ăn của nhiều người Kinh lên sống ở Tây Nguyên bây giờ. Gần đấy hình như có vài ba trang trại của người Kinh như vậy nữa, thành một xóm nhỏ, tôi nói điều này không hề có ý gì đâu, có lẽ gần giống như các xóm đồn điền Tây ở vùng “mọi” tôi từng biết từ hồi chiến tranh chống Pháp trên này. Những người làm công cho các đồn điền, nay là trang trại ấy, là dân Gia Rai ở các làng chung quanh, cách hơi xa bởi vì đất trang trại khá rộng. Từ cái điểm trang trại của ba mình làm trung tâm, anh họa sĩ trẻ của tôi cùng hai bạn anh tỏa ra đi tìm. Và vậy đó, họ tìm được vàng.
clip_image002
Tác giả đối ẩm cùng Glơh bên ché rượu cần. (Ảnh minh họa trong bài: Nguyên Ngọc và Art Labor)
Đầu tiên là ở làng Blut cách Pă Pêt chừng nửa tiếng, lần này thì phải đi bằng xe máy cày, rồi đi bộ mất mươi phút nữa, ô tô du lịch công tử chịu thua. Chúng tôi đến một xóm nhỏ lưa thưa, vào một ngôi nhà, gọi là nhà cũng được, là lều thì đúng hơn. Không có bất cứ thứ gì để kể cho các bạn trong ngôi nhà không được sáu mét vuông ấy. Trừ chủ nhân của nó, anh Glơh. Nghệ sĩ Glơh, tôi gọi thế, nói thật tôi rất không thích cái từ khó chịu “nghệ nhân”. Sao lại nghệ nhân, không biết tới bao giờ các quan chức Bộ Văn hóa mới chịu thôi cái lối phân biệt giai cấp thấp cao nghệ nhân, nghệ sĩ đối với những người làm nghệ thuật ấy. Đến một bà cụ hát ca trù đệ nhất phường cả nước trăm năm mới có một, cũng chỉ nhất mực gọi là nghệ nhân thôi, không thể oai danh nghệ sĩ … Vâng, nghệ sĩ Glơh của chúng tôi. Hình như chỉ cần mỗi ở anh thôi, những người khác rồi sẽ kể sau, đã có thể đủ để nói tất cả về sự kỳ lạ của nghệ thuật và nghệ thuật Tây Nguyên, đặc biệt nghệ thuật Tây Nguyên bây giờ, khi sự vô văn hóa của cuộc sống mới hỗn hào đang tràn lấn lên cả cao nguyên văn hóa cổ truyền này. Chỉ cần qua một Glơh thôi cũng đã đủ để tôi có thể nói với các bạn đối với người Tây Nguyên nghệ thuật là gì, vì sao con người ta lại làm nghệ thuật, để làm gì, để làm gì cái chuyện thực tế là hoàn toàn vô tích sự ấy. Nhà Glơh nghèo, tôi nói rồi, thật tình tôi không biết anh sống bằng gì. Glơh không biết nói tiếng Kinh, chúng tôi ú ớ tiếng Gia Rai, không hỏi được. Anh chỉ ngồi im lặng, ngậm cái ông điếu bằng nhôm chắc tự tay anh gò. Và cười. Với một đôi mắt tuyệt đẹp, long lanh và ướt, vừa như nhìn ta vừa như nhìn vào cõi nào, vô cùng hiền và vô cùng nghệ sĩ. Glơh sống chắc chỉ bằng một miếng rẫy cằn, và đi làm phu hái cà phê cho các chủ trang trại người Kinh. Cà phê năm nay mất giá thê thảm, chủ trang trại khốn đốn, nhưng đương nhiên chết trước là kẻ làm phu. Các chủ trang trại chặt bỏ hết cà phê, chuyển sang tiêu, bây giờ không còn gỗ, cọc tiêu xây bằng bê tông cốt thép, việc đó nhân công Gia Rai không có tay nghề, đành chịu thua. Chủ thì khác, tiêu có thất bát nữa, họ vẫn còn đường chạy lui về thành phố buôn bán … Năm nay Glơh đói là cầm chắc. Tôi từng ở trên này cũng khá lâu, tôi xin nói điều này: ở Tây nguyên ngày trước, chắc chắn không bao giờ có thể chết đói, ngày trước, ngày xưa, khi còn rừng. Hết gạo thì ăn sắn, người ta gọi sắn là dự trữ chiến lược, bởi không cần kho như ngô sợ mọt mốc và chuột ăn, sắn cứ để dưới đất bao nhiêu lâu cũng được, hết sắn lại vào rừng đào củ mài, ngon tuyệt, hết củ mài thì trong rừng có hàng trăm thứ lá, rễ cây, vỏ cây, côn trùng ăn được mà bà con rất thông thuộc, chúng tôi học theo … Bây giờ sạch rừng rồi. Đói thôi … Nhưng đói thì đói, Glơh không thể không làm nghệ thuật. Anh có một ám ảnh: anh luôn muốn được tạo ra một thế giới bên cạnh thế giới đang có, một thế giới anh luôn mơ hồ thấy thiếu, vừa giống như thế giới này vừa khác, khác thế nào anh không nói ra được nhưng tự nơi nào đó rõ rệt mà lại mờ ảo trong anh anh biết, một thế giới của anh, do anh làm ra, như anh thấy không phải bằng mắt mà trong tâm tưởng, có khi trong mơ, trong khao khát. Để làm gì? Điều này thì anh hoàn toàn không biết. Hỏi, anh trả lời bằng một tiếng Kinh duy nhất anh biết: “Thích”. Thế thôi.
clip_image003
clip_image004
clip_image005
Nhóm tượng của Glơh
Tôi muốn nói với các bạn rằng đó là bí mật hay là bản chất của nghệ thuật Tây Nguyên. Nghệ thuật Tây Nguyên, chẳng hạn và nổi tiếng như nghệ thuật tượng nhà mồ, khi người Kinh chưa lên, chưa lên nhiều như bây giờ để mà quấy nhiễu và phá hủy nó, khiến nó biến chất đến sa đọa rồi mai một, khi nó còn trong sạch nguyên sơ, là thế đấy. Người ta làm nghệ thuật, làm tượng nhà mồ tuyệt diệu … chẳng để mà làm gì cả. Làm ra, làm ra đấy, say sưa, mê mẩn, da diết, ào ạt hay cặm cụi ngày đêm … rồi đem cắm ngoài mộ, trang trọng …, rồi không thèm đoái hoài gì nữa. Mặc cho mưa nắng, cho mối mọt, cho thời gian gặm nhấm đến mục ruỗng, tan nát … Cũng nên nói thêm điều này nữa về tượng nhà mồ Tây Nguyên. Hoàn toàn không có tượng chân dung người đã mất để mà tưởng nhớ, như bên Tây, hay bây giờ hiện đại ở ta. Cũng không có tượng kẻ còn sống khóc thương người đã chết. Cũng có người bảo đấy là những hình nhân được gửi theo người chết để phục vụ người chết ở thế giới bên kia, tôi nghĩ chắc đấy là người Kinh muốn áp đặt văn hóa của mình cho người Tây Nguyên. Không, không hề có tất cả điều đó. Tượng nhà mồ Tây Nguyên rất vui. Cả một thế giới sống động và vui tươi. Đấy là cách người nghệ sĩ Tây Nguyên “làm ra” cái thế giới họ muốn, mà họ là Thượng đế sáng tạo. Hoặc đúng hơn, họ làm tượng vì, dẫu rất khiêm nhường, họ cũng được như Thượng đế “làm ra”. Làm ra một thế giới, nhỏ thôi, mà là của họ, do họ, rậm rạp, xôn xao … Người Tây Nguyên, những Thượng đế nhỏ có khả năng “làm ra” … Cho nên, điều quan trọng nhất đối với người nghệ sĩ Tây Nguyên không phải là kết quả của sự làm ra, mà chính là sự “làm ra” đó. Có thế thì dẫu bị đẩy vào tình thế khốn khó đến đâu, họ vẫn là con người, mới là người. Còn tồn tại người.
Có lần tôi đã đem câu chuyện về việc người Tây Nguyên làm tượng gỗ nhà mồ đẹp đến thế rồi lại bỏ đi kể cho một cô bạn đang học về nghệ thuật đương đại ở Đức. Cô ấy gần như reo lên: “Ôi, thế thì Tây Nguyên của bác vô cùng đương đại. Ở trường của cháu, cháu cũng được học về chính những điều như vậy. Nghệ thuật đương đại coi trọng “con đường” (le chemin) hơn là cái “đích đến” (le but). Quan trọng là khi người nghệ sĩ “đang làm ra”, khi đã xong là hết chuyện rồi, chỉ còn lại cái xác. Sắp đặt (installation) hay Trình diễn (Performace) chính là như vậy. Lần sau, cô bạn ấy đưa cả thầy của cô sang, lại đòi nghe tôi kể, và thầy trò họ kéo nhau đi lên núi để xem người Tây Nguyên làm nghệ thuật đương đại …
Glơh chuyên tạc tượng các con vật, tất nhiên là thú rừng. Tôi mong các bạn ở tòa soạn báo dành chỗ cho vài ba tượng thú rừng của nghệ sĩ Gai Rai Glơh bạn tôi. Thế giới mơ tưởng của anh ấy. Những con thú vừa thật vừa trong mơ của anh. Hoang dã, mà gần gũi, hiền như những người bạn, cho đến cả con hổ vằn nữa, con voi với cái vòi như một thứ trang sức, và con gì đó giống như con ngựa rừng quá đáng yêu … Đêm đêm, trong căn nhà nhỏ như một túp lều của anh, bên bếp lửa đặt ngay nền đất, Glơh căm cụi khắc chạm những con thú của rừng nay chẳng còn vì rừng đã thật sự hết rồi. Nhìn kỹ các tác phẩm của Glơh mà xem, anh không chạm thú, anh chạm khắc nỗi nhớ rừng thăm thẳm cồn cào đã thành im lặng, nín lặng của anh. Xong rồi, nếu tôi cả gan dám xin, chắc anh cho ngay. Bởi cái sự quan trọng đối với anh đã xong, anh đã gửi nỗi nhớ khôn nguôi vào sự chạm … Cũng có khi anh chạm người, một lần đó là một người đàn ông khỏa thân với dương vật bé tí trông rất nghịch, rồi anh vui vẻ để cho anh chàng dễ thương ấy đứng tít thong dong trên một cành cây xanh … Tôi bỗng nhớ câu hỏi được nêu ra cho thí sinh đi thi tú tài triết ở Pháp năm 2015: “Nghệ sĩ muốn nói với ta một điều gì chăng?”. Glơh chẳng muốn nói gì cả với ai. Anh chỉ tự thổ lộ, thế thôi. Người nghệ sĩ thật của Tây Nguyên suốt đời chi làm mỗi một việc, đúng hơn giải quyết một nhu cầu: tự thổ lộ, không cho ai cả, bởi là một nhu cầu tự thân. Các nhà lý luận có giận thì giận tôi vẫn muốn nói điều này: nghệ thuật Tây Nguyên là nghệ thuật thuần túy, vì nghệ thuật, thế thôi … Chắc tôi lại còn phải nói thêm điều này: nếu có ai hỏi mua, cũng có thể Glơh sẽ bán. Anh nghèo, cà phê mất giá, anh mất việc, anh phải sống chứ, anh sẽ bán … Nhưng đó sẽ là chuyện hoàn toàn khác, không dính dáng gì đến việc sáng tạo nghệ thuật của anh cả. Nó nằm ngoài. Người nghệ sĩ thật sự chỉ sáng tác vì mình, họ tự giải thoát. Với Glơh là giải thoát khỏi nỗi nhớ rừng mà người ta đã cướp mất không sao chịu nổi của anh …
Cho nên, ở trên này nghệ thuật không thể chết. Khi những dân tộc này còn thì nghệ thuật ở trên này, như nghệ thuật tạc tượng gỗ của họ, không thể chết. Bởi vì, rất đơn giản, nếu nghệ thuật ấy chết, thì tức họ cũng chết, dân tộc họ cũng không còn. Vậy đấy, sự sống còn của nghệ thuật và của các dân tộc Tây Nguyên.
Nhưng các bạn hẳn sẽ hỏi: Tây Nguyên bây giờ hết rừng rồi, lấy đâu ra gỗ làm tượng? Lại một kinh ngạc. Nghệ thuật tượng gỗ Tây Nguyên đã gặp may. Năm nay cà phê mất giá, người ta đốn bỏ hàng loạt, kinh tế thị trường là vậy, nó chẳng thương tiếc bất cứ điều gì … Và các nghệ sĩ Tây Nguyên thì cực nhạy. Họ nhận ra ngay một chất liệu nghệ thuật mới tuyệt vời: thân cây cà phê, chỉ để nguyên thế thôi, đã rất tạo hình. Với đầy những u bướu đủ dạng lạ lùng của nó. Glơh tìm những cây cà phê đã nhiều chục năm tuổi bị đốn bỏ có thân gỗ tương đối lớn để gửi vào đó nỗi nhớ da diết của anh qua những con voi, con hổ, con hươu, con ngựa rừng … vừa thật vừa hư.
Một người đồng hương của Glơh, nghệ sĩ Rơchâm Dieh ở làng Amo thì khác, có khi còn hay hơn. Dieh không bỏ đi gì cả. Anh nhận ra trên thân cây cà phê bị chặt bỏ sù sì đầy u bướu kia chính cái bối cảnh Gia Rai đã được nghệ thuật hóa anh đang cần, để nhẹ nhàng đưa vào đó, nhập thần đến hết sức tự nhiên các nhân vật thân thiết của anh: người phụ nữ Gia Rai hiện đại mà cứ Gia Rai không nhầm vào đâu được, người mẹ Gia Rai địu con thân thuộc đến nao lòng, đôi bạn Gia Rai bình an đối tửu bên ché rượu cần … Rơchâm Dieh đã sáng tạo nên, tôi nghĩ có thể nói, một loại hình điêu khắc chạm nổi trên thân cà phê tự nhiên hẳn chưa từng có và không ai ngờ. Chợt không thể không tưởng tượng và mong ước, đến lúc nào đó, loại hình nghệ thuật chạm nổi Rơchâm Dieh được phổ biến, sẽ có những rẫy cà phê cuối mùa khi lá đã rụng hết và cây đã khô toàn bộ biến thành một vườn tượng mênh mông giữa trời … Rồi tất cả sẽ tàn lụi đi trong mưa nắng, với thời gian … có sao đâu, như ta đã biết về bản chất của nghệ thuật Tây Nguyên, trường tồn trong luân hồi … Như giọt sương Gia Rai mà các bạn họa sĩ trẻ của tôi đã tinh tế biết cảm nhận ra và muốn đánh thức dậy …
clip_image006
Tượng của Rơchâm Dieh chạm khắc
clip_image007
clip_image008
Nhóm tượng máy bay của những người khác
Đánh thức dậy, đúng rồi, rất cần thiết … Nhưng nghĩ cho cùng cũng có thể không hoàn toàn chính xác. Bởi thời gian qua, vậy cũng đã gần nửa thế kỷ rồi kể từ sau 1975, khi chúng ta còn thờ ơ ở những đâu đâu, bận rộn lăng xăng vì bao chuyện hữu tích sự và vô tích sự của chúng ta, thì ở tận Bơ Ngoong vô danh xa tít, những Glơh những Rơchâm Dieh vẫn lặng lẽ chăm giữ hòn than vùi sắp tắt của cái gia tài văn hóa của người và đất này, mặc tất cả tàn phá của ta. Và lạ thay, tài tình thay, lại còn biết tận dụng chính cái thứ cây công nghiệp cà phê vốn xa lạ và chính nó vì được phát triển quá mức do lòng tham vô độ của chúng ta đã là một nhân tố không nhỏ phá rừng Tây Nguyên. Giữ văn hóa Tây Nguyên, phải nói rõ thôi, không phải là những lễ hội cồng chiêng xênh xang và bao nhiêu thứ phô trương ồn ào tốn kém mà thực chất là dỏm và nhằm kéo khách du lịch hám lạ kia đâu. Giữ là thế này đây, bởi Glơh, bởi Rơchâm Dieh vô danh và nghèo xác nghèo xơ ở làng Blut, làng Amo vô danh, chắt chiu, thầm lặng, thông minh, và sáng tạo nữa, trong tình thế tưởng không còn đường ra khi rừng đã mất sạch.
Có một câu hỏi gay gắt từng được đặt ra: có giữ được văn hóa Tây Nguyên trong hiện đại hóa ồ ạt và hỗn hào hôm nay? Văn hóa Tây Nguyên có tiếp biến với hiện đại được như nó đã từng tiếp biến thành công trong bao nhiêu va chạm quá khứ? Câu hỏi sống còn. Không chỉ đối với văn hóa Tây Nguyên, còn là đối với số phận các dân tộc Tây Nguyên, bởi một dân tộc chỉ có thể còn khi văn hóa của nó còn. Glơh ở Blut, Dieh ở Amo trả lời: Được! Thậm chí còn tiếp biến được với cả cái thứ cây công nghiệp rất Tây là cây cà phê. Nó còn chiếm lĩnh được cả cái thứ cây xa lạ đó cho nghệ thuật điêu khắc nổi tiếng của nó. Bằng động tác nghệ thuật, nó hoàn tất nội địa hóa cây cà phê.
Tôi từng thất vọng. Tôi bắt đầu có hy vọng.
Sau chuyến đi Bơ Ngoong hồi nửa đầu năm, ba bạn họa sĩ trẻ của tôi còn trở lại Tây Nguyên để chuẩn bị cho một chuyến tiếp. Và họ cũng lại đã gặp vàng. Họ vừa gửi cho tôi một số ảnh chụp tượng của một số những Glơh, Rơchâm Dieh khác. Các anh chàng này rất lạ: họ chỉ tập trung chạm khắc những chiếc máy bay. Rất hiện đại, chiếc nào cũng ít nhất sáu động cơ, lại thêm hai cái vòi gì đó chĩa ra phía trước nữa, đoán là ăng ten. Và rất Gia Rai: ở cửa máy bay cứ bay mà vẫn mở toang, có cả một anh chàng Gia Rai rất đẹp trai ngồi thòng hai chân ra ngoài tò mò nhìn xuống nhân loại trần tục bên dưới. Tây Nguyên là vậy, nó luôn gây kinh ngạc. Bởi sức sống, bạn thấy đấy, hình như chỉ tìm thấy khi ta nghe được tiếng nói nghệ thuật còn rất nhỏ nhoi thôi nhưng nhất quyết không chịu tắt, đang tìm đường thức dậy. Hãy đến với tiếng nói ấy, để nuôi hy vọng.
Tôi vừa nhận được thư của ba bạn họa sĩ trẻ. Chúng tôi đã nhất trí: cuối năm nay chúng tôi sẽ làm chuyến nữa, trở về trên ấy.
Có ai muốn đi cùng? …
2-12-2016


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Việt Nam chi hàng tỉ đô la nhập cảng hóa chất Trung Quốc


Nhập cảng hóa chất từ Trung Quốc tiếp tục gia tăng nhanh và mạnh. (Hình: Dân Trí)
HÀ NỘI (NV) – Theo Tổng Cục Hải Quan Việt Nam, năm ngoái, quốc gia này đã chi khoảng 2 tỉ đô la để nhập cảng các loại hóa chất và nguyên liệu sản xuất hóa chất. Khoảng 3/4 là từ Trung Quốc.
Trong năm 2016, kim ngạch nhập cảng các loại hóa chất của Hoa Kỳ, Canada, Israel, Ấn, Nhật, Nam Hàn… chỉ chừng 450 triệu đô la.
Nếu so với năm 2015, kim ngạch nhập cảng các loại hóa chất và nguyên liệu sản xuất hóa chất do Trung Quốc sản xuất đã tăng thêm khoảng 200 triệu đô la. 2016 là năm đầu tiên Việt Nam chi hơn 1 tỉ đô la để nhập cảng nguyên liệu sản xuất hóa chất. Gần như toàn bộ nguyên liệu sản xuất hóa chất mà Việt Nam đã nhập cảng đến từ Trung Quốc!
Theo Tổng Cục Hải Quan Việt Nam, sở dĩ kim ngạch nhập cảng các loại hóa chất và nguyên liệu sản xuất hóa chất do Trung Quốc sản xuất gia tăng vì chúng rẻ, chi phí vận chuyển thấp và vì có nhiều doanh nghiệp, thương nhân là bạn hàng thân thiết của doanh nghiệp, thương nhân Trung Quốc.
Chẳng hạn các nhà máy sợi, dệt, nhuộm do Ðài Loan, Hồng Kông, Trung Quốc đầu tư tại Việt Nam là những nơi chỉ nhập cảng hóa chất của Trung Quốc.
Ngoài ra kim ngạch nhập cảng các loại hóa chất và nguyên liệu sản xuất hóa chất từ Trung Quốc vào Việt Nam tăng còn vì có nhiều nhà máy cần sản xuất “thuốc bảo vệ thực vật.”
Người ta chưa rõ tại sao chính quyền Việt Nam vẫn mở toang cửa để tiếp nhận các loại “thuốc bảo vệ thực vật” và hóa chất để chế tạo “thuốc bảo vệ thực vật” từ Trung Quốc.
“Thuốc bảo vệ thực vật” là cách Việt Nam gọi các loại thuốc diệt trừ côn trùng có hại cho cây cối. Tất cả đều là thuốc độc đối với con người và môi trường.
Trong bốn năm vừa qua, mỗi năm, Việt Nam chi hơn 400 triệu đô la để nhập các loại “thuốc bảo vệ thực vật” và hóa chất chế tạo “thuốc bảo vệ thực vật” từ Trung Quốc. Số lượng nhập cảng các mặt hàng này đã tăng mười lần.
Trong một cuộc trao đổi với tờ Người Lao Ðộng hồi Tháng Sáu năm ngoái, ông Nguyễn Thơ, phó chủ tịch Hội Khoa Học Bảo Vệ Thực Vật Việt Nam, khẳng định, hàng trăm tấn hóa chất mà Việt Nam nhập cảng hàng năm từ Trung Quốc để chế tạo “thuốc bảo vệ thực vật” chỉ là “phần nổi của tảng băng.” Trong thực tế, “thuốc bảo vệ thực vật” và lượng hóa chất chế tạo “thuốc bảo vệ thực vật” được đưa từ Trung Quốc vào Việt Nam qua con đường “cửu vạn” (lén lút chuyển vận qua biên giới) lớn hơn gấp nhiều lần.
Cho dù các chuyên gia nông nghiệp, môi trường, y tế liên tục cảnh báo về tác hại của việc cho nhập cảng tràn lan “thuốc bảo vệ thực vật” cũng như hóa chất để chế tạo các loại “thuốc bảo vệ thực vật” từ Trung Quốc song chính quyền Việt Nam không thèm bận tâm.

Video : Sài Gòn mưa lớn bất thường gây ngập giữa mùa khô
Trong khi các quốc gia ở Châu Âu đã lắc đầu với “thuốc bảo vệ thực vật” từ lâu, các quốc gia ở Ðông Nam Á giới hạn hoạt chất trong “thuốc bảo vệ thực vật” ở phạm vi từ 400 đến 600 loại thì tại Việt Nam, con số hoạt chất được phép sử dụng lên tới… 1,700 loại. Sự dễ dãi này khiến “thuốc bảo vệ thực vật” tại Việt Nam “cực kỳ hiệu quả” vì chúng… cực độc!
Việc cho phép nhập cảng tràn lan, hỗ trợ sản xuất-kinh doanh “thuốc bảo vệ thực vật” tại Việt Nam đã khiến nông dân Việt Nam xem việc mua-sử dụng “thuốc bảo vệ thực vật” là chuyện đương nhiên để bảo vệ mùa màng. Rất ít người biết việc sử dụng “thuốc bảo vệ thực vật” sẽ dẫn tới tình trạng đất, nước và nông sản nhiễm độc, môi trường ô nhiễm, sức khỏe của mình và nhiều thế hệ bị hủy hoại.
Các chuyên gia của Việt Nam và quốc tế từng thực hiện một số cuộc khảo sát và kết luận, tại Việt Nam có tới 80% “thuốc bảo vệ thực vật” được dùng không đúng cách, không cần thiết. Mỗi năm, có từ 150 đến 200 tấn “thuốc bảo vệ thực vật” dư thừa thẩm thấu vào đất, vào nguồn nước nhưng từ viên chức tới nông dân chẳng có mấy người bận tâm.
Năm ngoái, ông Trần Tuấn, giám đốc Trung Tâm Nghiên Cứu-Ðào Tạo Phát Triển Cộng Ðồng từng than rằng, “tam nông” ở Việt Nam hiện nay không phải là “nông nghiệp-nông thôn-nông dân” mà là “dân nghiện-đất nghiện-nước thoái hóa.” Ông Tuấn nhấn mạnh, nông dân Việt đã đánh mất sự tự chủ trong nghề nông, tự nguyện để bị sai khiến, bị bóc lột bởi ngành công nghiệp hóa chất của Trung Quốc. Họ không còn “xem trời, xem đất, xem mây” để đưa ra các quyết định liên quan tới canh tác mà trở thành phụ thuộc, để thiên hạ “bảo gì thì làm thế,” “cho gì thì dùng thế.” Nông dân trở thành “nghiện” vì bơ vơ giữa rừng thông tin bất định!
Theo ông Tuấn, chẳng riêng dân “nghiện” mà đất cũng “nghiện.” “Dân nghiện” rồi “đất nghiện” nên thu hoạch được bao nhiêu thì nông dân lại bỏ ra bấy nhiêu mua sắm phân bón công nghiệp, thuốc “bảo vệ thực vật,” bởi ngưng bón, ngừng phun thì sẽ chẳng còn gì. Ông Tuấn nhắc thêm là “nước đang thoái hóa.” Cá, tôm, cua, ốc, ếch,… từng như đương nhiên đã mất dần.
Tuy ông Tuấn bảo rằng, xây dựng nông thôn mới là phải chấm dứt tình trạng lệ thuộc của ngành nông nghiệp, của nông thôn, nông dân vào ngành công nghiệp hóa chất của ngoại bang và điều này dường như hữu lý nhưng chẳng rõ ai sẽ làm? (G.Ð)

http://www.nguoi-viet.com/viet-nam/viet-nam-chi-hang-ti-la-de-nhap-cang-hoa-chat-trung-quoc/


Phần nhận xét hiển thị trên trang