Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Sáu, 27 tháng 1, 2017

Những ngày giờ tốt trong dịp TẾT


Sau tết, mở hàng vào đúng ngày này thì cả năm buôn may bán đắt, mua 1 bán 10, tiền của nhiều vô kể…
Một mùa xuân nữa lại tới, người người nô nức chào một năm mới với biết bao những dự định, mong ước. Dù bất cứ nơi đâu, làm công việc gì đi nữa, ai cũng mong muốn quây quần bên gia đình mình trong những thời khắc thiêng liêng này.
Ôn chuyện cũ, kể chuyện mới, cùng đi lễ đầu năm cầu phúc, cầu lộc. Kẻ sĩ thì khai bút, mở cờ; nhà buôn thì mở hàng, cầu may. Tất cả đều hòa quện lại thành một bản sắc dân tộc đặc trưng của người Việt từ bao đời nay. Chiếu theo sự vận chuyển của Âm Dương Ngũ Hành của từng năm mà sinh ra ngày tốt, ngày xấu, ngày nên làm cái này, ngày nên tránh cái kia. Dưới đây là những thống kê về ngày giờ phù hợp được Tử Vi Số Mệnh chọn lọc để thực hiện những công việc của đầu năm mới:
Ảnh minh họa
Ngày tốt xuất hành, khai bút, đi lễ và mở hàng đầu năm mới 2017
– Mùng Một Tết (thứ 7, 28/01): xuất hành, đi lễ và khai bút đầu năm. Xuất hành theo hướng Đông Nam gặp Tài thần, hướng Tây Bắc gặp Hỷ thần.
– Mùng Hai Tết (CN, 29/01): lễ bái, chùa chiền, cầu tài cầu phúc, khai bút đầu năm, xuất hành và mở cửa hàng. Đi hướng Đông gặp Tài thần, hướng Tây Nam gặp Hỷ thần.
– Mùng Ba Tết (thứ 2, 30/01): đi lễ bái, chùa chiềng, cầu tài cầu phúc là tốt nhất.
– Mùng Bốn Tết (thứ 3, 31/01): đi lễ bái, chùa chiềng, cầu tài cầu phúc và khai bút đầu xuân là tốt nhất.
– Mùng Năm Tết (thứ 4, 01/02): đi lễ bái, chùa chiềng, cầu tài cầu phúc và khai bút đầu xuân là tốt nhất.
– Ngày Mùng Sáu (thứ 5, 02/02): rất tốt để mở cửa hàng đầu năm, đi lễ, cúng bái, làm nhiều công việc năm mới khác.
– Ngày Mùng Bảy (thứ 6, 03/02): đi lễ bái, chùa chiềng, cầu tài cầu phúc là tốt nhất.
– Ngày Mùng Tám (thứ 7, 04/02): rất tốt để mở hàng đầu năm, đi lễ ở đền, chùa.
– Ngày Mùng Chín (CN, 05/02): rất tốt để mở hàng đầu năm, đi lễ ở đền, chùa.
– Ngày Mùng Mười (thứ 2, 06/02): rất tốt để mở hàng đầu năm, đi lễ ở đền, chùa.
*) Xuất hành theo hướng Tài thần để cầu tài, cầu lộc, công danh và sự nghiệp.
Ngày giờ tốt mở hàng đầu năm theo từng tuổi năm 2017
Theo như thống kê ở trên, những người chủ cửa hàng, giám đốc công ty, thành viên ban lãnh đạo vào các ngày
Mùng 2 (29/01), ngày Bính Thìn.
Mùng 6 (02/02), ngày Canh Thân.
Mùng 8 (04/02), ngày Nhâm Tuất.
Mùng 9 (05/02), ngày Quý Hợi.
Mùng 10 (06/02), ngày Giáp Tý.
Đều có thể đứng ra làm người đại diện mở hàng đầu năm. Tuy nhiên, với mỗi tuổi đều có những ngày giờ phù hợp nhất để thực hiện.
Sau đây là danh sách mở hàng đầu năm 2017 Đinh Dậu theo tuổi hợp nhất:
– Tuổi Tý:
Ngày mùng 02, giờ đẹp: 07h- 09h hoặc 09h – 11h.
– Tuổi Sửu:
Ngày mùng 10, giờ đẹp: 05h – 07h hoặc 15h – 17h.
– Tuổi Dần:
Ngày mùng 08, giờ đẹp: 07h- 09h hoặc 09h – 11h.
Ngày mùng 09, giờ đẹp: 07h – 09h hoặc 11h – 13h.
– Tuổi Mão:
Ngày mùng 08, giờ đẹp: 07h- 09h hoặc 09h – 11h.
Ngày mùng 09, giờ đẹp: 07h – 09h hoặc 11h – 13h.
– Tuổi Thìn:
Ngày mùng 06, giờ đẹp: 07h – 09h hoặc 09h – 11h.
Ngày mùng 10, giờ đẹp: 05h – 07h hoặc 15h – 17h.
– Tuổi Tỵ:
Ngày mùng 06, giờ đẹp: 07h – 09h hoặc 09h – 11h.
– Tuổi Ngọ:
Ngày mùng 08, giờ đẹp: 07h- 09h hoặc 09h – 11h.
– Tuổi Mùi:
Ngày mùng 09, giờ đẹp: 07h – 09h hoặc 11h – 13h.
– Tuổi Thân:
Ngày mùng 02, giờ đẹp: 07h- 09h hoặc 09h – 11h.
Ngày mùng 10, giờ đẹp: 05h – 07h hoặc 15h – 17h.
– Tuổi Dậu:
Ngày mùng 02, giờ đẹp: 07h- 09h hoặc 09h – 11h.
– Tuổi Tuất:
Ngày mùng 10, giờ đẹp: 05h – 07h hoặc 15h – 17h.
– Tuổi Hợi:
Ngày mùng 10, giờ đẹp: 05h – 07h hoặc 15h – 17h.
Lưu ý*: Các giờ tốt ở đây lấy theo giờ Hoàng đạo thường dùng để mọi người dễ tra cứu theo lịch ở tường. Tuy nhiên, bạn là người cẩn thận hơn nữa, nên phối hợp với các giờ Thiên Quan Quý Nhân, giờ Phúc Tinh Quý Nhân, giờ Bát Lộc, tra cứu tại: Xem giờ tốt trong ngày
Trường hợp chọn người khác, ngoài tuổi ra thì cần quan tâm tới tính cách, năng lực, phẩm chất của người đó sao cho phù hợp.
Bài viết mang tính tham khảo, chiêm nghiệm!
Theo Thanh Tâm

Phần nhận xét hiển thị trên trang

GIẢ VỜ

Bạn thân mến của tôi, tôi biết khi nghe lời nói thật,
anh sẽ giả vờ ngáp vặt, quay đi.
Chúng ta chưa quen những lời gay gắt,
khiến gười ta có thể bỏ đi,
hay có thể quay về..
Mặc dù điều nói ra không có gì khó lắm.
Thường vẫn xảy ra,
phơi,
phóng mỗi ngày..
Những điều vô tình người ta kể cho tôi,
hay có lúc chính tôi người trong cuộc.
Chúng ta đông đảo, nhưng thực ra chúng ta cực kỳ đơn độc!
Không rõ người ngồi gần ta khi ấy nghĩ gì?
Người ta nói..
Không hiểu vì sao lại nói?
Những câu nhàm
chẳng biết để làm chi?
Thì thôi cứ giả vờ nghe!
Tán nhăng, tán cuội chuyện: “Chè đỗ đen”
Tai dày rồi cũng nên quen,
uốn lưng mãi cũng sẽ nên nghiệp nhà!
Giả vờ
hay thiệt
tà la!
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ra khỏi giấc mơ



Gãy khúc và đứt đoạn
Những bức tường
Những câu cầu
Hơi thở của ta..
Sự bền vững xem chừng khó thể..
Tình yêu
Tình bạn
tình cha con
và nghĩa vợ chồng
Nhịp cuộc sống vòng quay chóng mặt,
ta theo kịp chăng?
Để tỉnh táo mỗi giờ.
Có kịp thấy những hố đen trên bề dày đại lộ,
thấy lòng người ẩn sau mỗi bình hoa?
Mù mịt bụi, tiếng ồn đồng loã,
bưng tai,
nhắm mắt,
mờ, loà..
Có cách nào để ta ra khỏi?
Như em từng mong
“Ra khỏi giấc mơ..”

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tôi đã hiểu


Bây giờ thì tôi hiểu..
Vì sao người ta quay mặt ?
Vì sao người ta thờ ơ những gì anh viết ?
Người ta không chờ nghe thơ ngâm trên đài ?
Các thi nhân, văn nhân có biết?
Các trang văn không làm nở nụ cười,
những bài thơ không đủ sẻ chia nỗi đau thế cuộc..
thường lan man, chuyện tếu, chuyện vui!
Lỗi lầm của chúng ta trước hết,
có khi nhân cách còn tồi!
Xử sự với nhau như ngoài góc chợ,
nhỏ nhen, ích kỷ, hẹp hòi..
Nhân cách bé, thơ làm sao lớn được?
Tổn thất này đâu phải riêng tôi,
trên nền móng chúng ta hòng gây dựng,
thấy không anh ?
Rất có thể suy đồi!
Xin đừng trách lời tôi nói thẳng,
chúng ta từng ru nhau say sưa giấc ngủ dài,
Đã đến lúc phải bấm nhau nói thực:
Muốn cuộc đời yêu
Ta phải khác hôm nay!

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Năm, 26 tháng 1, 2017

Đại chúng hay tinh hoa?



Nguyên Ngọc - Một trong những khó khăn có thật và lớn khiến những người đang chịu trách nhiệm về giáo dục rất đau đầu là phải giải quyết thế nào cho đúng mối quan hệ giữa số lượng và chất lượng. Ảnh: Hải Nguyễn
(TBKTSG Xuân) - Mấy năm gần đây tôi thường theo dõi các cuộc thi tú tài ở Pháp, vì thích thú, và cũng có phần muốn từ đó thử nghĩ lại thêm về giáo dục ở ta. Hình như vừa qua ta chú ý nói nhiều đến đại học, hẳn vì ở đây dễ thấy rõ sự quá lạc hậu so với thế giới, cũng lại là nơi liên quan trực tiếp đến việc đào tạo nhân lực cho xã hội. Song cũng có thể vấn đề chính của giáo dục còn ở chỗ khác, ở phổ thông, nơi ít được dư luận quan tâm hơn. Có vấn đề ở phổ thông rồi, tất đại học không thể không có vấn đề.

Theo dõi qua báo chí trên mạng, lại chỉ qua các kỳ thi, nên hẳn không thể biết hết mọi sự của người ta. Nhưng dù sao thấy người ta thi như thế nào, chắc cũng có thể đoán biết đôi chút họ dạy và học ra sao. Cũng để mà nghĩ lại mình.

Kỳ thi tú tài ở Pháp diễn ra một tuần vào đầu tháng 6, và có điều rất thú vị: ngày đầu tiên là thi triết học cho tất cả các ban khoa học, kinh tế và xã hội, công nghệ và văn học. Có vẻ như dư luận xã hội đặc biệt chú ý ngày thi này của các cậu tú cô tú (dự bị). Ngày hôm sau, các báo đưa lại các đề thi, và nhiều lần tạo nên những cuộc thảo luận rộng rãi rất lý thú. Thí sinh phải trả lời một trong hai câu hỏi bằng một bài luận ngắn, và viết một bài bình về đoạn trích một tác phẩm kinh điển được cho. Xin thử kể một số câu hỏi đã được nêu trong các kỳ thi hai năm vừa rồi (xem bảng).

Đọc qua mấy đề thi của người ta như vậy rồi, không biết các bạn có thấy thèm một cuộc thi như thế, hay đúng hơn thèm một nền giáo dục có thể ra những đề thi như thế cho những cô cậu đi thi tú tài, tức tương đương thi tốt nghiệp phổ thông trung học ở ta không? Tôi, thì thèm và buồn.

Nhìn qua, chắc có thể có ngay vài nhận xét:
Một là, đây đúng là kiểu đề thi mở. Người chấm không thể coi trả lời thế này là đúng, trả lời ngược lại là sai. Tỉ như hỏi: “Có cần chứng minh để biết?”, có thể trả lời: “Có chứ, có chứng minh thì mới biết được chứ!”. Mà cũng có thể trả lời: “Không nhất thiết đâu, có những điều ta biết chắc chắn mà chẳng tự chứng minh được chút nào cho chính mình nữa là. Chẳng hạn hỏi tôi có biết vì sao tôi yêu cô A mà không yêu cô B, có trời chứng minh! Tôi yêu, thế thôi, sét đánh mà!”.
Năm 2015, sau ngày thi triết, báo Le Figaro đã làm một việc thật hay: họ đem đề triết của ban khoa học “Chính trị có được thoát ra khỏi sự bắt buộc của sự thật?” đề nghị các nhà chính trị Pháp, gồm một số bộ trưởng và nghị sĩ thi lại thử coi. Nhiều người đã hăng hái hưởng ứng. Và họ gây nên một cuộc thảo luận sôi nổi, thậm chí căng thẳng. Aurélie Filipetti, cựu Bộ trưởng Bộ Văn hóa (đảng Xã hội), nói: “Tôi thấy đây là một đề hay. Là thời sự vĩnh cửu của chính trị. Đây là mối quan hệ giữa hành động và đạo đức. Đề tài đầy tính thời sự”. Jean Pierre Chevènement, nguyên Bộ trưởng, nghị sĩ, từng là ứng viên tổng thống, trịnh trọng: “Không, chính trị không được thoát khỏi sự bắt buộc của sự thật. Hãy nhớ lại cuốn sách của Pierre Mendès France, Sự thật dẫn đường cho những bước đi lớn của họ. Đấy là lịch sử của những nhà cộng hòa lớn đã làm nên nước Pháp hiện đại. Họ dựa trên một nền giáo dục tập thể chân chính và nhận được một sự ủng hộ vững chắc của nhân dân.
Không có xã hội nào toàn tinh hoa. Có tinh hoa, và có số đông. Đều cần. Văn hóa là vậy. Giáo dục cũng hẳn là vậy. Có cái đại chúng được học rộng rãi làm lực lượng. Và có bộ phận nhỏ tinh hoa dắt dẫn sự phát triển, và từng bước nâng cái số đông rộng rãi kia lên. Các nền văn minh, từ rất xa xưa, đều đã tiến hóa như vậy.
Sự thật, đấy là chọn lựa tốt, và không phải ai cũng ngang tầm được với nó”. Nhà báo Philippe de Villiers chặt chẽ: “Nếu chính trị thoát khỏi sự bắt buộc của sự thật, thì nó sẽ chết vì điều đó, và đấy đúng là trường hợp hiện nay. Chính trị, chính trị thật sự, phải được thiết lập trên sự tôn trọng đặc quyền đối với lợi ích chung.
Trong các thời kỳ suy thoái, mọi thứ đều trở thành nói dối. Hãy nhớ hô ngữ nổi tiếng của nhà văn Nga Soljénitsyne: “Thôi, đừng nói dối nữa!”. “...Cũng có người hơi nước đôi. Trên Twitter, Fançois Fillon (người vừa dẫn đầu vòng 1 trong cuộc bầu cử ứng viên tổng thống của phái trung hữu chuẩn bị cho cuộc bầu cử lớn năm 2017) dè dặt: “...Tuy nhiên họ (các nhà chính trị) biết rõ về điều này: giữa sự thật và chính trị, các quan hệ thường rất căng thẳng...”. Benoît Hamon, cựu Bộ trưởng Bộ Giáo dục (thuộc đảng Xã hội cánh tả), tránh trớ, ông chỉ tỏ ý đối lập những người coi hành động chính trị phải “hướng đến cái lý tưởng, và do vậy dấn mình vào một cuộc tìm kiếm sự thật” và những người “nhân danh chủ nghĩa thực dụng, căn cứ vào thực tế” để bằng lòng (với một kiểu hành động) “thích hợp”. Tuy nhiên, cũng có người ít thận trọng hơn. Eric Woerth (đảng “Những người Cộng hòa”) cho rằng sự minh bạch (transparence) là không thể tuyệt đối: “Không phải mọi sự đều phải nói ra hết”. Duy bà Rama Yade, thuộc Liên minh Dân chủ và Độc lập, thì một mực dứt khoát: “Vâng, chính trị vượt ra ngoài sự bắt buộc của sự thật. Thậm chí tôi sẽ nói rằng nó từ chối điều đó (sự thật). Vả chăng đấy là điều tác động đến tôi nhiều nhất qua kinh nghiệm của tôi. Tôi công nhận và lấy làm tiếc về điều đó, ba lần than ôi!”. Bà còn hăng hái bộc lộ với phóng viên Le Figaro dàn ý bài bà sẽ làm nếu bà đi thi hôm nay. Trong phần thứ nhất bà sẽ đặc biệt nêu lên rằng: “Chính trị xử lý một đòi hỏi cao hơn đòi hỏi của sự thật; chẳng hạn ý tưởng về sự cân bằng xã hội”. Sau đó bà sẽ triển khai ý tưởng rằng: “Điều quan trọng không phải sự thật nói cho đến cùng, mà là sự thật của nó (của xã hội)”. Cuối cùng, trong phần thứ ba, bà sẽ bàn về những hệ quả của thực trạng ấy... Người chấm sẽ không coi nói thế này mới đúng, ngược lại là sai, mà chú trọng xem thí sinh biện luận như thế nào cho chủ kiến của mình. Tức cô hay cậu ta tư duy ra sao. Học phổ thông mười hai năm là để có cái tư duy đó. Độc lập, sáng suốt, sâu sắc.
Nhận xét thứ hai: Ta nhớ, đây là đề thi tú tài, cũng như ở ta thi tốt nghiệp, kết thúc bậc học phổ thông. Vậy ở Pháp người ta quan niệm thế nào là người “có trình độ giáo dục phổ thông”? Nhiệm vụ của bậc học phổ thông là gì? Tất nhiên, đây chỉ mới là một môn thi thôi. Song chắc cũng đã cho phép ta hình dung cách họ nghĩ về những điều đó. Theo họ, “phổ thông” nghĩa là như vậy đấy, là biết suy nghĩ và có cách trả lời của mình trước những câu hỏi như vậy đó. Nhiệm vụ của bậc giáo dục phổ thông là giúp cho con người có được trình độ đó. Đại học sẽ lo chuyện khác.
Thứ ba: Tôi có chú ý điều này: câu hỏi “Có phải một tác phẩm nghệ thuật lúc nào cũng có một ý nghĩa?” là cho thí sinh ban khoa học, câu “Nghệ sĩ đưa ra một điều gì để hiểu chăng?” là cho thí sinh ban kinh tế - xã hội, chứ không phải ban văn học... Thì ra, thế mới gọi là “phổ thông”, dù anh sẽ đeo đuổi khoa học chính xác hay làm nhà kinh tế. Là có trăn trở về ý nghĩa có nhất thiết có hay không của một tác phẩm nghệ thuật, về chuyện ông nhạc sĩ Beethoven với bản Giao hưởng số 5 của ông có định “đưa ra một điều gì để (cho ta) hiểu chăng?”...
Thứ tư: Mười hai năm phổ thông, người ta học không biết bao nhiêu là thứ, nào toán với đại số và hình học, hình học phẳng rồi hình học không gian, Euclide rồi phi-Euclide, học lý từ ông Newton đến ông Einstein, học hóa từ ông Lavoisier đến ông Mendéléev, học sử từ bà Jeanne d’Arc qua Napoléon đến tướng De Gaulle, Thế chiến I rồi Thế chiến II, học địa lý nước Pháp, rồi châu Âu, châu Phi, châu Á, châu Mỹ... bao nhiêu bao nhiêu là kiến thức rồi sẽ có thể có cái sử dụng trong đời, nhưng học bao nhiêu bao nhiêu thứ đó, còn quan trọng hơn, lại để mà biết rằng “có phải tôi là con người mà quá khứ của tôi đã làm ra tôi?” và “có phải ham muốn (của con người, cũng là của tôi) về bản chất là vô hạn?”, còn “các xác tín đạo đức của (tôi) có phải căn cứ trên kinh nghiệm?”... Không nghĩ và có trả lời của riêng mình về những điều đó thì chưa thể coi là một con người theo nghĩa “phổ thông” của một con người. Vậy các cô các cậu tú của ta ra sao đây? Mười hai năm phổ thông của ta chuẩn bị được gì cho họ thành người “phổ thông”?
Năm 2015
Cho ban khoa học:
1. Chính trị có được thoát ra khỏi sự bắt buộc của sự thật?
2. Có phải một tác phẩm nghệ thuật lúc nào cũng có một ý nghĩa?
Cho ban kinh tế - xã hội:
1. Nghệ sĩ đưa ra một điều gì để hiểu chăng?
2. Phải chăng ý thức của cá nhân chỉ là phản ảnh của xã hội trong đó cá nhân ấy sống?
Cho ban văn học:
1. Có phải tôi là con người mà quá khứ của tôi đã làm ra tôi?
2. Tôn trọng mọi sinh vật có phải là một bổn phận đạo đức?
Năm 2016
Cho ban khoa học:
1. Làm việc ít đi, thì sống tốt hơn chăng?
2. Có cần chứng minh để biết?
Cho ban kinh tế - xã hội:
1. Có phải bao giờ ta cũng biết được ta ham muốn gì?
2. Học lịch sử thì có lợi ích gì?
Cho ban văn học:
1. Các xác tín đạo đức của chúng ta có phải căn cứ trên kinh nghiệm?
2. Có phải ham muốn về bản chất là vô hạn?
Tôi nhớ thầy Hoàng Tụy có lần kể cho tôi suốt thời phổ thông trong nền giáo dục Pháp thuộc thầy cũng phải học đủ thứ như thế, để rồi khi đi thi tú tài toán ở trường Khải Định (nay là trường Quốc học) Huế, thì người ta lại “cắc cớ” ra cho thầy cái đề này, bắt thầy phải làm cả một bài luận dài viết suốt ba tiếng đồng hồ: “Thế nào là một con người có văn hóa?”. Ngày xưa, ở ta, dưới thời Pháp thuộc (và hình như ở Sài Gòn trước năm 1975) từng có một nền giáo dục như thế.
Tôi nghe có một trường đại học đã tuyên bố với học trò của mình: “Sinh viên là công dân đi học”. Nếu trẻ em bắt đầu đến trường vào 5 hay 6 tuổi, thì sau mười hai năm phổ thông, thi tú tài rồi, là họ chính thức trở thành công dân của đất nước. Vậy nói theo cách nào đó, nhiệm vụ của bậc phổ thông là chuẩn bị cho con người chính thức trở thành người lớn, trở thành công dân của xã hội, tức sẽ tự mình đối mặt với những câu hỏi hiện sinh và những câu hỏi xã hội, tỷ như một số câu hỏi vừa kể trên. Và cho phép tôi đưa ra định nghĩa của tôi về con người tự do, mục đích tối cao của giáo dục: con người tự do là con người biết tự đặt ra cho mình những câu hỏi như thế đó, và trăn trở trả lời chúng. Trở lại với ý đã nói ở đầu bài viết này: xem các đề thi của người ta, để có thể ra những đề thi như vậy, và biết rằng học trò có thể trả lời, chắc cũng đoán biết người ta đã dạy như thế nào và học như thế nào. Suốt mười hai năm, người ta đã dạy mọi thứ và bằng mọi cách để tạo ra con người độc lập và tự do, vì chỉ có những con người như vậy thì mới đối mặt được với thế giới thật luôn tiềm ẩn những câu hỏi đó. Theo chỗ tôi được biết, trong xã hội Pháp, tú tài là một danh hiệu thật sự được trọng vọng. Có được tấm bằng đó, thì chính thức được coi là một người có học (un homme cultivé, cũng có thể dịch là một người có văn hóa).
Chắc cũng không hề ngẫu nhiên đâu khi kỳ thi tú tài hàng năm ở Pháp đã có cái truyền thống tốt đẹp và đầy ý nghĩa: bắt đầu bằng môn triết. Tôi có lần nói với một người có trách nhiệm trong ngành giáo dục ở ta: Giá như ta có thể dạy môn triết cho học sinh phổ thông cấp ba, cứ đúng y như môn này đã được dạy ở cấp tú tài Sài Gòn trước 1975... Chắc khó lắm. Nhưng giải quyết được, thì có khi từ đấy có thể làm lay chuyển được nền giáo dục đang bí đường bây giờ...”. Có dám không, tôi xin chính thức hỏi.
Ít ra, thôi thì đầu năm, xin cứ thử đưa ra một gợi ý, nhân nhìn thiên hạ mà nghĩ lại mình. Hay cứ bình chân ta là Việt Nam, ta quyết một mực khác với toàn thế giới?...
* * *
Tôi thuộc thế hệ cuối cùng có trải qua một ít nền giáo dục của Pháp ở Việt Nam, cụ thể là của thực dân Pháp khi nước ta còn là thuộc địa của họ. Tôi hiểu nền giáo dục ấy nhằm đào tạo những người làm việc cho chế độ đô hộ của Pháp ở nước ta. Nhưng tôi cũng nghĩ và qua chính mình tôi được biết nền văn hóa Pháp mạnh hơn rất nhiều ý đồ xâm lược và đô hộ của những người đi truyền đạt nó. Nó vượt qua họ. Tôi biết ơn nền giáo dục đã đưa nền văn hóa ấy đến cho tôi, bất chấp cả ý đồ của những người truyền đạt nó. Vì hoàn cảnh riêng, tôi cũng chỉ tiếp nhận được nó dở dang thôi, vậy mà nó vẫn kịp tạo cho tôi một cái nền và cái đà để rồi tiếp tục tự học suốt đời.
Một hôm tôi có tâm sự chút ít điều đó với một anh bạn trẻ hiện đang làm chủ nhiệm khoa ở một trường đại học cỡ quốc gia ở ta bây giờ. Anh ấy có vẻ không đồng tình lắm, anh chỉ ngay ra cho tôi rằng cái thứ giáo dục tôi có ý “tâng bốc” ấy chỉ dành cho một số rất ít người, còn thì vẫn để lại tuyệt đại đa số nhân dân trong vòng tăm tối, điều mà nền giáo dục mới của chúng ta đã khắc phục một cách anh hùng và tuyệt giỏi sau khi đã đuổi hết bọn cướp nước đi rồi. Tôi đồng ý với anh ấy quá. Tôi biết đó là một thành tích vĩ đại của giáo dục Việt Nam, giải phóng hơn 90% dân số ra khỏi nạn mù chữ nhục nhã, và ngày nay đang hàng ngày đưa nhiều chục triệu người đến trường ở tất cả các cấp học. Chắc chắn trong lịch sử lâu dài của dân tộc này, chưa bao giờ có nhiều người đi học đến thế. Có thể nói không quá lời, toàn dân đi học. Và do đó, một trong những khó khăn có thật và lớn khiến những người đang chịu trách nhiệm về giáo dục rất đau đầu là phải giải quyết thế nào cho đúng mối quan hệ giữa số lượng và chất lượng. Ngày xưa, chỉ có một nhúm đi học, chỉ phải dạy có một nhúm, cho nên mới có thể chăm chút, tạo nên một nhúm tinh hoa như thế. So làm sao được với yêu cầu giải quyết giáo dục cho quảng đại quần chúng mênh mông bây giờ! Vâng, tôi cũng đồng ý... Nhưng đến chỗ này, thì tôi bắt đầu thấy hình như có điều gì đó phải nghĩ lại thêm đôi chút. Một là hầu hết các nước trên thế giới ngày nay, ít ra là ở các nước văn minh - mà ta thì cũng muốn được coi là một nước văn minh chứ sao - họ cũng phải giải quyết giáo dục cho toàn dân, chứ có phải chỉ “cho một nhúm” đâu. Vậy lấy cái lý đó để thanh minh cho chất lượng của mình nghe có vẻ không ổn rồi. Nếu chất lượng của ta có vấn đề (hẳn điều này chắc không cần dông dài để chứng minh) thì phải đi tìm nguyên nhân ở chỗ khác kia. Sở dĩ tôi đã chú ý đến các kỳ thi tú tài triết bên Tây và kể lể lại cả một số các đề thi của họ trong cái môn thi được bố trí vào ngay ngày đầu tiên cho cả kỳ thi nghiêm trang, thì phải nói thật là tôi có ý đấy. Rõ ràng họ muốn làm giáo dục cho một cái gì, vì một cái gì đó khác, rất khác ta. Thầy Hoàng Tụy đã nói tôi nhớ không chỉ một lần: “Không phải giáo dục ta lạc hậu đâu, lạc hậu thì ráng đuổi theo may còn kịp. Nó lạc hướng”. Người ta đi đường này, muốn đi đến chỗ này, ta thì cứ thản nhiên nhất quyết đi đường khác, muốn mưu tính chuyện khác. Người ta định làm ra những con người tự do, biết suy nghĩ độc lập và khác nhau (đã độc lập thì hẳn phải khác nhau, mỗi người tự đi tìm lẽ phải cho chính mình và chịu trách nhiệm về lựa chọn riêng đó). Còn ta thì ra sức tạo nên những con người đồng phục, rất kiêng kỵ sự khác biệt, không đồng nhất, chỉ tổ rắc rối ra. Vậy thì học và thi triết làm quái gì! Cứ thuộc lòng đúng những chân lý tuyệt đối đã có người chọn cho mình là xong. Bày vẽ lắm chuyện!...
Cho nên hẳn là có vấn đề khó khăn khi phải giải quyết cho số đông, nhưng cũng không hẳn đấy là nguyên nhân của tình trạng giáo dục ở ta bây giờ.
Tạo ra và gìn giữ những trí thức tinh hoa cho dân tộc, coi đó là mục tiêu lớn trong khi chăm lo cho số đông, để phục vụ cuộc phục hưng dân tộc sau chiến tranh và đổ nát, là nhiệm vụ của giáo dục.
Vả chăng về chuyện số đông hay số ít, còn có thể có một điều khác nữa. Cứ nhìn quanh ra xa một chút mà xem, ngay cả ở những nước giàu có nhất và tiên tiến nhất thì giáo dục của người ta cũng không cứ một mực quyết đào tạo ra toàn những con người tinh hoa cho xã hội đâu. Không có xã hội nào toàn tinh hoa. Có tinh hoa, và có số đông. Đều cần. Văn hóa là vậy. Giáo dục cũng hẳn là vậy. Có cái đại chúng được học rộng rãi làm lực lượng. Và có bộ phận nhỏ tinh hoa dắt dẫn sự phát triển, và từng bước nâng cái số đông rộng rãi kia lên. Các nền văn minh, từ rất xa xưa, đều đã tiến hóa như vậy.
Có lẽ giáo dục ở ta chưa rõ được điều này. Ta chưa giải quyết đúng bài toán có thật về mối quan hệ giữa yêu cầu số lượng và yêu cầu chất lượng theo hướng này. Chắc đó cũng là nguyên nhân khiến ta lúng túng, loay hoay, như đang thấy.
Do số phận, tôi thường gắn bó với Tây Nguyên, mà ở Tây Nguyên thì quan trọng nhất là rừng. Bây giờ thì ai cũng biết rồi: rừng Tây Nguyên đã bị tàn phá đến kiệt quệ. Có một câu hỏi: Đã kiệt quệ đến mức ấy, rừng Tây Nguyên còn có cơ tái sinh được không? Có người bảo nước mình nhiệt đới gió mùa khí hậu ẩm, miễn đừng tiếp tục phá nữa, triệt để đóng cửa rừng lại như Thủ tướng vừa ra lệnh, sẽ tái sinh được thôi. Tôi có đi hỏi ý kiến một chuyên gia lâm nghiệp hàng đầu, anh ấy hiểu rừng và cây cũng như ta hiểu xã hội và con người. Anh bảo tôi: “Anh ạ, trong rừng không phải cây nào cũng như cây nào đâu, có những cây bình thường, và có những cây nòng cốt. Trong nghề chúng tôi gọi như vậy, tức là tinh hoa của rừng. Nếu ta diệt hết những cây nòng cốt đi rồi, mất hết gen của cây nòng cốt rồi, thì rừng sẽ không tái sinh”. Ở Tây Nguyên lâu, tôi được biết những con người sống gần, đắm đuối với tự nhiên, thường được tự nhiên dạy cho đức minh triết im lặng mà sâu xa. Anh chuyên gia rừng bạn tôi im lặng hồi lâu, rồi chậm rãi, rất chậm rãi, anh nói tiếp, rất nhỏ, như thì thầm: “...Mà anh nghĩ xem, xã hội cũng thế thôi... Có khác đâu...”.
Trong tự nhiên cũng như trong xã hội, có một quy luật về mối quan hệ giữa tinh hoa và đại chúng, như vậy đấy.
Tôi có quen với một người làm lý luận văn học đang ở nước ngoài, cách đây mấy năm anh viết một bài có cái tên rất khiêu khích: Tính đại chúng: kẻ thù của văn học. Trong văn chương, có cái lối được gọi là “thậm xưng”, nghĩa nói quá lên đôi chút để nhấn mạnh hơn một ý đúng. Tên bài viết của anh bạn tôi vừa kể có phần thậm xưng, nhưng nó đã khiến ta giật mình về một điều sai mà vì ngại ngùng này khác bao nhiêu năm ta cứ nghiễm nhiên chấp nhận và để cho nó gây hại. Tôi đồng ý với anh ấy rằng đặt vế “Đại chúng” trong phương châm “Dân tộc, Khoa học, Đại chúng” cho văn hóa là không đúng. Nó đã khiến cho, trong suốt gần thế kỷ, về văn hóa, thay vì phải gắng nâng dần cái đại chúng lên hướng tinh hoa, ta lại ra sức kéo cái tinh hoa xuống tầm đại chúng. Một nền văn hóa, một xã hội không chăm lo xây dựng lớp tinh hoa cho mình, sẽ chìm dần xuống tầm thường và tàn lụi.
Có lẽ trong việc đặt thi môn triết vào đầu kỳ thi tú tài và ra những câu hỏi cật vấn đến cái cao cả trong con người cho những người sắp chính thức bước ra xã hội như những công dân độc lập và tự do như ta đã thấy ở Pháp, là họ tỏ rõ ý hướng đến cái tinh hoa tốt đẹp đó.
Tạo ra và gìn giữ những trí thức tinh hoa cho dân tộc, coi đó là mục tiêu lớn trong khi chăm lo cho số đông, để phục vụ cuộc phục hưng dân tộc sau chiến tranh và đổ nát, là nhiệm vụ của giáo dục.
Đừng quên.
http://www.thesaigontimes.vn/156031/Dai-chung-hay-tinh-hoa.html
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thời gian



Thời gian
Như bọn trẻ trai đua xe vù qua trước mặt !
Sau lưng chở những cô nàng
Môi đỏ , mắt xanh
Nửa vời quý tộc
Hai bên đường đứng đầy pan hâm mộ khùng điên !
Thời gian
Loang loáng vũ trường
Đèn lade chóng mặt
Còn ai hát ca ?
Khi dân vũ , dân ca dường như đã nhạt ?
Ca khúc nào không thấm đẫm mùi men ?
Thời gian
Ta làm gì được cho em
Khi chỉ có dăm bài thơ vớ vẩn !
Chìm trong khói xe
Chìm ngập bụi đường ,
Chìm trong những mưu toan ?
Thôi
hãy chậm lại nào ..
ƠI dòng thời gian cuồn cuộn..
Cho rừng , cho cây
một chút dịu dàng ,
Cho cuộc đời
Em từng mến thương !

Phần nhận xét hiển thị trên trang

THÁI NGỌC SAN v à b ầ y p h ư ợ n g h o à n g l ỗ i h ẹ n


Vĩnh Quyền
Văn - Vĩnh QuyềnMột thời tôi và nhà báo Nguyễn Trung Dân, giờ phụ trách Chi nhánh Miền Nam NXB Hội Nhà văn, mỗi lần rủ nhau về Huế, hai đứa thường nói đi thăm anh San, ra anh San chơi hè. Như thể ở thành phố của những người thú vị ấy thì Thái Ngọc San là người thú vị nhất.
Tôi đang viết văn và chỉ biết viết văn thì Nguyễn Trung Dân rủ viết báo. Không thuyết lý gì hết, cứ trong bữa rượu, nghe tôi xuất bản miệng chuyện chi hạp ý, Dân vỗ tay xuống bàn: viết, viết cái đó cho tui. Cho tui là cho báo Quảng Nam-Đà Nẵng Chủ Nhật, nơi Dân làm thư ký tòa soạn. Có lần tôi tình cờ nói đất Quảng tự hào có ngũ phụng tề phi, nhưng thu thập tư liệu viết tiểu thuyết lịch sử, tôi thấy năm ông tiến sĩ đồng khoa Mậu Tuất -1898 không để lại sự nghiệp đáng kể, một ông còn dính nghi án báo tin cho Khâm sứ Trung kỳ ngăn chận kịp thời cuộc khởi nghĩa Duy Tân 1916, vậy mà hàng năm đến dịp khai giảng - bế giảng năm học, quan chức ngành giáo dục cũng như chính quyền tỉnh thường khuyên học sinh phải xứng danh truyền thống ngũ phụng tề phi, việc sai này phải sửa dù muộn. Dân lại vỗ tay xuống bàn: viết cho tui. Hệ quả là tôi bị một số trí thức, đồng nghiệp không hài lòng ra mặt, dù bài báo có một cái kết công bằng: Rằng đất Quảng có một ngũ phụngkhác được cả nước kính ngưỡng: Hoàng Diệu, Phạm Phú Thứ, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp. Năm ông tiến sĩ, phó bảng này tuy không cùng cất cánh từ một khoa thi (tề phi) nhưng họ bay cùng một hướng yêu nước thương nòi.
Chuyện đến tai Thái Ngọc San, anh cười khắc khắc bảo tôi: thằng ‘mệ’ (cách người Huế gọi người hoàng tộc) ni ngó tào lao rứa mà có chất làm báo, bữa ni viết cái chi hay gửi tau. Gửi tau là gửi Sông Hương, nơi anh làm thư ký tòa soạn. Từ đó, tôi trở thành cộng tác viên tạp chí này.
Trong những bữa rượu tôi đòi anh San kể chuyện làm báo thời xuống đường long đong lận đận mà hào sảng ở Huế, thời cộng tác các bán nguyệt san, nguyệt san lừng lẫy ở Sài Gòn như Văn, Văn Học, Trình Bày, Đối Diện, Ý Thức… Cũng là thời anh lang bạt kỳ hồ sau ba lần bị bắt lính, ba lần đào ngũ, liên miên tù lao công đào binh… Nhưng anh thường kiệm lời, có lần đang giữa chuyện thì ngừng lại, xao lãng trong khói thuốc mà người đối diện hiểu tốt nhất là hãy để yên cho anh rẽ trôi vào quá khứ. Cả những lúc có bạn cùng thời kể chuyện anh trước mặt anh, tôi thấy anh chỉ cười cười, không nhận không cãi cũng không mấy khi vào cuộc. Có chuyện tôi nhớ mãi: vào những năm 1960 thơ chưa có khái niệm nhuận bút nhưng anh San là tác giả nhận được nhuận bút thơ ngay khi nộp bản thảo. Và tình huống rất chi… Thái Ngọc San: về phép tại Sài Gòn, anh hốc hác bước vào tòa soạn Văn với nửa gương mặt ám khói thuốc nổ B.40, và với những bài thơ còn nồng mùi trận mạc nghĩa đen. Thư ký tòa soạn Trần Phong Giao liền ứng nhuận bút, mà cả hai hiểu là món quà thân tình và sang trọng, nhằm giải quyết cái khó cấp thời của thi sĩ một cách... văn nghệ.
image
Gần đây, điểm qua những bài viết, phát biểu về 20 năm Văn học Miền Nam tôi nhặt được vài thông tin liên quan Thái Ngọc San, với tư cách người làm báo, viết báo vừa là người sáng tác thơ văn. Nhưng trước hết, tôi thấy cần nhìn lại bối cảnh lịch sử và đôi nét đặc trưng vô tiền khoáng hậu của thời kỳ này, cụ thể là vài năm ngắn ngủi sau 1963. Khi chế độ độc tài Ngô Đình Diệm bị lật đổ, người miền Nam có cảm giác lịch sử đã sang trang, mọi chuyện trở nên thông thoáng dễ thở hơn, trong đó có không khí làm báo và sáng tác. Chính quyền Sài Gòn vốn sở hữu một hệ thống kiểm duyệt nổi tiếng khắc nghiệt, thẳng tay và công khai đục bỏ tin bài, sáng tác phạm luật ngay trên bát chữ trước khi in, nhưng sau đảo chính 1963, có một khoảng thời gian ‘trăm hoa đua nở’ với các ấn phẩm xuất bản định kỳ bán công khai – cách nói khác đi của không giấy phép, và chính quyền này còn cấp giấy phép cho những tạp chí, nguyệt san, bán nguyệt san bộc lộ tinh thần đối lập như Hành Trình, Đất Nước, Đối Diện, Trình Bày, Ý Thức… Tôi biết nhiều người hiện nay không tin nổi mắt họ khi nhìn vào trang bìa nguyệt san Đất Nước số 3 – tháng Giêng 1968 với chủ đề 50 năm Cách mạng Tháng Mười và với tiêu đề các bài trọng điểm: Từ Cánh mạng Tháng Mười đến Cách mạng Tháng Tám của Trương Bá Cần, Cảm nghĩ về cuộc Cách mạng Nga của Lý Chánh Trung, Cộng sản – người anh em của tôicủa Nguyễn Văn Trung… Trong bối cảnh ấy, điều có lẽ không bao giờ lặp lại trong lịch sử báo chí Việt Nam, các tác giả chống Cộng và các tác giả khuynh tả – thân Cộng – thậm chí Cộng sản nằm vùng cùng đăng bài viết, sáng tác bên nhau trên một tờ báo. Và Thái Ngọc San là một cây bút như thế, ở vế thứ hai.
Thú vị hơn là họ biết rõ chí hướng, lý tưởng, hành trạng của nhau. Vậy mà nhóm Ý Thức vẫn đặt Thái Ngọc San vào vị trí thường trực trong ban thư ký tòa soạn đến mấy năm, cho đến khi anh quyết định rời Sài Gòn về Huế. Nhà văn Nguyễn Lệ Uyên nhớ lại: tôi ghét Cộng sản nhưng khi thấy Thái Ngọc San co ro trong tòa soạn Ý Thức giữa trưa không còn bóng người, tự dưng tôi thấy chạnh lòng… Và ông lý giải lúc ấy họ vẫn là một lứa đôi mươi bơ vơ trước thời cuộc. Không phải lúc nào cũng tôn trọng chính kiến của nhau, đã có những cuộc xô xát xảy ra tại tòa soạn giữa Thái Ngọc San với vài người trong nhóm. Có lần nghe tôi nói vừa đọc truyện ngắn thời kỳ đầu của nhà văn Trần Hoài Thư – Nỗi bơ vơ của bầy ngựa hoang, anh San bảo Trần Hoài Thư vốn là giáo sư toán, nhập ngũ, bên cạnh văn chương, có một tiểu sử sĩ quan đáng gờm: trung đội trưởng thám kích, phóng viên chiến trường, ba lần bị thương, sau qua Mỹ lấy bằng thạc sĩ toán… Rồi anh cười khắc khắc: có lần tau chửi hắn là lính đánh thuê, rứa mà hắn không giận lâu. Mười năm sau khi anh San mất tôi tình cờ gặp trên internet một phát biểu liên quan của nhà văn Trần Hoài Thư, đại ý những người cầm bút trẻ trong thời chiến ở miền Nam thường có tình thân thiết, bất chấp chuyện khác lý tưởng, với ví dụ sinh động: Như Thái Ngọc San chửi tôi là lính đánh thuê, nhưng khi Thái Ngọc San đào ngũ bị bắt, tôi và Phạm Văn Nhàn vẫn đến trại trưng binh ở Ghềnh Ráng để thăm nuôi…
Với những gì như thế, tôi hiểu vì sao Thái Ngọc San thời trai trẻ đã có những câu thơ hào sảng: Tôi vẫn nhớ bạn bè tôi/ Dù mỗi thằng đi mỗi hướng/ Và tôi vẫn tin rằng/ Không có sự thù hằn nào giết được kỷ niệm (Về những con đường khô cây).
Tôi nghiệm rằng thời gian anh San vui nhất là mấy năm đầu làm báo Sông Hương. Tôi còn giữ lá thư ngày 5 tháng 1- 1985, anh viết: Hôm họp cộng tác viên 10 số Sông Hương ngoài này chuẩn bị bữa nhậu đàng hoàng, trông ‘mệ’ quá trời. Nay gửi báo biếu số xuân con trâu và nhân tiện đặt trước bài cho số xuân con cọp. Phải thấy cái dáng lêu đêu, tất bật của anh mang số báo mới ra lò từ nhà in đến thẳng cà phê Liễu Quán cho anh em đang ngồi hóng mới thấy hết cái hạnh phúc làm báo của anh. Bên cạnh uy tín của nhà thơ tổng biên tập Nguyễn Khoa Điềm, thư ký tòa soạn Thái Ngọc San là sức hút và tỏa của Sông Hương đối với giới văn nghệ cả nước. Có những cây bút miền Nam ngừng sáng tác nhiều năm sau 1975 đã xuất hiện trở lại trên Sông Hương, coi tờ báo như một góc tâm hồn mình. Ở Sài Gòn, nhà văn Trần Hữu Lục có câu nói chỉ có thể hiểu được nếu từng đọc, viết với Sông Hương những năm cuối thập niên 80 của thế kỷ trước: yêu tạp chí Sông Hương như yêu Huế.
Tạp chí mang tên dòng sông thơm cũng là mảnh đất thơm dũng cảm đón nhận hạt giống thơ đau đớn. Hồi đó anh em văn nghệ cả nước truyền nhau Sông Hương số 32 (tháng 8-1988), đọc Người đàn ông bốn mươi ba tuổi nói về mình. Đó là lần đầu tiên thơ Trần Vàng Sao (Nguyễn Đính) chính thức được xuất bản, dù Sông Hương số 34 phải đăng những ý kiến phê phán bài thơ cũng như việc sử dụng. Ai cũng biết người chủ trương đăng thơ Trần Vàng Sao là Thái Ngọc San. Cũng là người nhận chịu trách nhiệm chính. Tôi không ngạc nhiên sự cố văn nghệ này, bởi vào một ngày đông hanh trước đó, Trần Vàng Sao khoe với tôi: hồi chân ướt chân ráo về tới Huế thằng San có thơ tặng tau mi nà. Và anh đọc với đôi môi nứt nẻ: Đêm mưa ở Vỹ Dạ/ Mưa trên cây vú sữa/ Mưa trên mái ngói cũ/ Mười năm/ Người mẹ già bán cháo/ Giả điên/ Đợi thằng con đi ‘Việt cộng’ (…) Đêm nay mưa suốt ở Vỹ Dạ/ Mưa sau hè chuối tí tách/ Mưa chạy suốt con đường làng/ Mưa âm vang ngoài ruộng lúa/ Mưa trên cây hải đường/ Mưa trên cây vú sữa/ Mưa mở rộng cửa căn nhà/ Cơn mưa đầu mùa hè/ Ngày giải phóng/ Đứa con mười năm trở về/ Úp mặt trong áo mẹ (…) Đứa con trở về dưới mái nhà ngói cũ/ Thắp lại ngọn đèn dầu/ Mưa lung linh bốn phía/ Đứa con trở về úp mặt trong áo mẹ/ Người mẹ già/ Mừng rơi nước mắt/ Như mưa (Đêm mưa ở Vỹ Dạ). Nhiều người đến nay vẫn tin anh San phải rời Sông Hương vì đăng thơ Trần Vàng Sao, dẫu sau đó thơ Trần Vàng Sao còn thêm vài lần xuất hiện trên tạp chí này. Tôi thì nghĩ đó chỉ là giọt nước trong mưa.
Rồi tôi cảm nhận Thái Ngọc San không còn vui như xưa dù cố giấu, như câu thơ anh từng viết: Ai biết trong lòng tôi/ Có nỗi khổ tâm nào không nói được. Anh vẫn bên bạn bè với nụ cười ấm áp, ánh mắt chân thành, và những mẩu chuyện ngắc ngứ đã thành tật. Có lần anh và tôi ngồi lai rai chờ ai đó, nghĩa là lúc chỉ có hai người, anh nói với nụ cười hóm: đời tau ghét mấy thằng ‘mệ’ Huế, rút cuộc lại chơi với Bửu Ý, Bửu Chỉ rồi chừ thêm mi. Và anh tiếp: mi là thằng ‘mệ’, tau cho nghe bài ni tau mới viết. Tháng tư chim phụng không trở lại/ Đến kỳ ngô đồng nở hoa/ Nỗi buồn còn mắc trên ấy/ Vấn vương một điệu tình ca/ Người đi mờ theo lối cũ/ Vàng son nhạt nhòa bay theo/ Có tiếng ai như cung nữ/ Gọi tình lang bên cửa triều/ Màu hoa một thời ngọc biếc/ Vẫn chờ dấu bóng chim xưa/ Chim không về hoa vẫn nở/ Thành quách hồn đá son mờ… (Tháng tư hoàng cung). Một bài thơ bâng khuâng. Thời gian này tôi còn đọc Bài thơ tặng con của anh trên báo Văn Nghệ. Cũng buồn sâu lắng: Cha mẹ cho con cuộc sống/ Nhưng con phải sống cuộc đời của riêng con (…) Đừng lặp lại tiếng nói của ai/ Kể cả của cha/ Đừng lặp lại mắt nhìn kẻ khác (…) Cha mẹ sẽ không ép con nên từ bỏ cái gì/ Và nên lấy cái gì (…) Cuộc sống mỗi ngày sẽ có những câu trả lời/ Và thế giới phải chuyển xoay theo bước đi của con…
Cuối cùng, có gì tan tác tựa phù vân là câu thơ của Thái Ngọc San vang trong đầu tôi khi tôi nghe tin anh mất. Hôm đó, ngày 25 tháng 7-2005, tôi viết: Câu thơ mây trời tan tác của Thái Ngọc San chợt hồi quang trong một chiều Huế trở mưa áp thấp, khi tin anh qua đời bay tới mỗi bạn bè gần xa. Đã qua rồi một đời ngắn của một con người tốt nhất, dễ thương nhất, quyết liệt nhất và cũng vô hại nhất của Huế tôi. Một thế hệ vàng nhân cách, tài năng của Huế vơi mỏng dần trong mấy năm gần đây. Trịnh Công Sơn, Bửu Chỉ... bây giờ Thái Ngọc San. Huế từ nay vắng thêm nhiều khi thiếu bóng anh lêu đêu trên đường Lê Lợi sương mai, dưới đèn khuya Phủ Cam ngỏ về, bên ly rượu bạn bè tứ hải không cạn với Sông Hương.
Giờ tôi biết mình nhầm một chi tiết quan trọng. Rằng đời Thái Ngọc San không hề ngắn dù anh có vội vàng bỏ chúng tôi lại nơi này để đi tìm bầy phượng hoàng lỗi hẹn trong sương mù.
V.Q

Phần nhận xét hiển thị trên trang