Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Tư, 25 tháng 1, 2017

NGUYỄN KHOA ĐĂNG-NƯỚC MẮT MỘT THỜI


Lê Vinh Quốc


Kết quả hình ảnh cho Nước mắt một thời
Các tác phẩm của Nguyễn Khoa Đăng không thuộc loại ca tụng một chiều hay minh họa đường lối; ngược lại, nhiều cuốn sách của ông chứa nặng những điều “nhạy cảm”. Với những tác phẩm như vậy, nhiều tác giả khác đã bị đánh “lên bờ xuống ruộng”; còn Nguyễn Khoa Đăng vẫn chưa bị đòn lần nào.
Trong cõi nhân gian có những con người luôn hồn nhiên tươi trẻ bất chấp thời gian cứ chồng chất mãi tuổi tác lên mái đầu họ. Nhà văn Nguyễn Khoa Đăng (sinh ngày 1-9-1940 tại quê nhà - huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình) là một người như vậy. Vốn tên khai sinh là Nguyễn Đăng Khoa, nhưng khi gặp nhà thơ nhỏ tuổi hơn mà sớm nổi tiếng hơn lại trùng tên với mình là Trần Đăng Khoa, ông khiêm nhường gọi người bạn vong niên ấy là “Chính Khoa” để tự nhận mình chỉ là “Phụ Khoa”- như lời ông tự kể. Từ đó, để tránh sự nhầm lẫn giữa “chính” và “phụ”, ông tự đổi tên mình thành bút danh Nguyễn Khoa Đăng.
1. Là một hội viên thâm niên của Hội Nhà Văn Việt Nam, nhưng Nguyễn Khoa Đăng vẫn hồn nhiên sáng tác “theo chỉ thị của trái tim mình” (như quan điểm của Mikhail Cholokhov), mà không cần biết trái tim ấy còn thuộc về ai nữa (tức là có khác với lời bộc bạch của tác giả “Sông Đông êm đềm” và “Đất vỡ hoang”). Dường như ông không quan tâm đến đường lối do những kẻ chăn dắt mình vạch ra, chẳng cần biết mình đang đi theo lề phải, lề trái hay đánh đu giữa hai lề, mà cũng khước từ cả việc tham gia các “Trại sáng tác” do Hội mở với những quyền lợi béo bở mà nhiều người thèm muốn. Chính nhờ sự hồn nhiên ấy nên các tác phẩm của ông luôn chứa đựng những giá trị riêng của chúng; mà ông lại không phải day dứt như tác giả “Hồi ký của một thằng hèn”, cũng không phải “Đi tìm cái tôi đã mất” hay đọc “Lời ai điếu” cho một giai đoạn văn nghệ nào đó như một số vị tiền bối đáng kính đã phải cay đắng giãi bày.
Làm nghề giáo rồi trở thành nhà báo nhà văn kiêm luật gia không chuyên, Nguyễn Khoa Đăng vẫn có một sự nghiệp văn chương đáng tự hào với ít nhất 23 tựa sách, bao gồm các thể loại thơ, truyện ngắn, truyện vừa, truyện dài, truyện danh nhân, tiểu thuyết, tạp văn; ngoài ra còn 4 kịch bản phim và hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực chuyên môn khác nhau; mà với thể loại nào ông cũng ghi được những dấu ấn sâu sắc. Về thơ, ông có mấy bài được phổ nhạc thành những ca khúc thịnh hành; về điện ảnh, các kịch bản của ông đều được dàn dựng thành những bộ phim hấp dẫn ( “Bài hát không chỉ là nốt nhạc”, “Giai điệu xanh”, “Quà năm mới”, “Gã hành khất”…). Nổi bật trong số những đứa con tinh thần của ông là tập thơ viết cho thiếu nhi “Đội nón cho cây” và 4 tác phẩm được công chúng độc giả đặc biệt hâm mộ là “Nước mắt một thời” (Tiểu thuyết), “Hoàng hôn lạnh” (Tiểu thuyết), “Chim Mặt người” (Truyện dài) và “Mây chiều bảng lảng” (Tiểu thuyết).
Các tác phẩm của Nguyễn Khoa Đăng không thuộc loại ca tụng một chiều hay minh họa đường lối; ngược lại, nhiều cuốn sách của ông chứa nặng những điều “nhạy cảm”. Với những tác phẩm như vậy, nhiều tác giả khác đã bị đánh “lên bờ xuống ruộng”; còn Nguyễn Khoa Đăng vẫn chưa bị đòn lần nào.
Nhưng sự bình an ấy lại khiến Nguyễn Khoa Đăng cảm thấy buồn: ông vẫn mong có một kẻ nào đó nổi hứng đánh mình để khuấy động dư luận đôc giả mà bán được nhiều sách. Thật ra, sách của Nguyễn Khoa Đăng đâu có ế ẩm, mà ngược lại còn rất “hút hàng” (thí dụ cuốn tạp văn “Cài hoa vào quá khứ” của ông đã phải tái bản tới 13 lần). Sở dĩ ông mong thực hiện được cái “khổ nhục kế” nêu trên chỉ là vì muốn thử sức mình trong một cuộc đua với bạn đồng nghiệp Nguyễn Nhật Ánh-người được coi là tác giả ăn khách nhất Việt Nam hiện tại. Trong các sáng tác dành cho thiếu nhi, ông không phải hổ thẹn khi sánh với Trần Đăng Khoa hay Nguyễn Nhật Ánh. Riêng bài thơ “Mùa lúa chín” của Nguyễn Khoa Đăng, được Bùi Đình Thảo phổ nhạc trở thành ca khúc “Em đi giữa biển vàng”, đã được bình chọn là 1 trong 50 ca khúc dành cho thiếu nhi hay nhất thế kỷ XX:
“Vây Quanh làng
Một biển vàng
Như tơ kén…
Hương lúa chín
Thoang thoảng bay
Làm say
Đàn ri đá
Làm xáo động
Cả rặng cây
Làm lung lay
Hàng cột điện
Bông lúa quyện
Trĩu bàn tay
Như đựng đầy
Mưa gió nắng
Như đeo nặng
Giọt mồ hôi
Của bao người
Nuôi lớn lúa…
Em đi giữa
Biển vàng
Nghe mênh mang
Đồng lúa hát…” (1)
Với thể loại độc đáo có vần điệu cực ngắn, bằng những ngôn từ sinh động giàu hình ảnh, màu sắc, âm thanh và hương vị, bài thơ này thể hiện đúng tâm hồn trong sáng ngây thơ của thiếu nhi, cho các em được ngập tràn trong cảm xúc về ấm no hạnh phúc của một mùa lúa chín do những giọt mồ hôi lao động tạo nên.
2. Nếu chỉ đọc những bài thơ như vậy, người ta sẽ tưởng tác giả của chúng là một người suốt đời hạnh phúc ấm no; chẳng ngờ Nguyễn Khoa Đăng lại có một tuổi thanh xuân bi thảm để viết nên “Nước mắt một thời”. Đó là khi cuộc Cải cách ruộng đất (CCRĐ) “long trời lở đất” ập đến quê hương Thái Bình của ông.
Xuyên suốt mối tình đầy éo le ngang trái của đôi trai gái mới lớn là nhân vật xưng “tôi” (bị quy là “con địa chủ”) và Én (một thôn nữ thuộc thành phần “bần cố”), Nguyễn Khoa Đăng đã miêu tả vô cùng sinh động từ toàn cảnh đến chiều sâu của cuộc CCRĐ trên quê hương ông với từng chi tiết hiện thực ngoài sức tưởng tượng. Ông tường thuật rất hay về quá trình thực hiện những thủ đoạn gian manh của Đội cải cách để biến Cả Lân, một nông dân có chút tài sản bảo đảm cho cuộc sống hiền lương của gia đình (và lại là đảng viên Cộng sản có công trong cuộc kháng chiến chống Pháp), thành một tên “địa chủ cường hào gian ác” kiêm “phản động”; đẩy cả gia đình người đó vào cảnh bị bao vây, giam cầm, hành hạ, mất sạch tài sản; rồi ông chủ nhà lương thiện ấy bị đấu tố để đi đến cái chết thảm khốc do một vụ hành hình man rợ.
Trong quá trình đó, bộ mặt thật của đám bần cố với quyền lực “nhất Đội nhì Trời” đã được tác giả phơi bày đến tận chân tơ kẽ tóc qua các nhân vật như Đội Khoảnh, lão Kền và những kẻ được “bắt rễ xâu chuỗi” để ra sức “tố điêu” vì những “quả thực” hứa hẹn được chia ... Độc giả sẽ không thể quên việc Kền và đồng bọn cướp bóc từ “chổi cùn rế rách” đến tiền bạc tư trang, rồi “trừng trị” những con chó và con bò của “địa chủ”; cho đến cảnh ông Đội Khoảnh “giáo dục lập trường giai cấp” cho chị con dâu nhà địa chủ qua con đường âm hộ để truyền vào đó cái giống bần cố của y, khiến đời chị tan nát trong nỗi nhục phải mang suốt đời mình qua đời con sang đời cháu. Rồi chính Đội Khoảnh lại làm chủ tọa “tòa án nhân dân” để kết án tử hình Cả Lân sau hoạt cảnh đấu tố giữa “nhân chứng” với “tội phạm” như thế này:
“-Lân, mày còn nhớ không, ngày trước có lần mày dụ tao vào Đảng, cái Đảng có lá cờ đỏ mang hình búa liềm ấy, chứ không phải cờ nửa xanh nửa đỏ của cái Đảng Dân chủ gì đó, tao vẫn thường thấy ở nhà thằng Sáu em mày đâu. Đảng ấy là đảng gì, mày khai ra trước tòa đi!
-…
-Nói, cái Đảng ấy là Đảng gì? Ngoan cố hả?
-Thưa, đó là đảng Cộng sản, nay là đảng Lao động Việt Nam ạ!”(2)
Trước bao tai họa khủng khiếp giáng xuống gia đình mình, “tôi” trở nên tuyệt vọng và chỉ còn biết nương tựa vào bức ảnh tuyên truyền có hình Bác Hồ tươi cười ôm hai cháu thiếu nhi quàng khăn đỏ với lời đề tựa “Có Bác dẫn đường, chúng cháu tin tưởng ở tương lai tươi sáng!” để mà hy vọng. Nhưng hóa ra chính Bác đã dẫn nhầm đường, khiến đời “tôi” trở nên tối tăm mù mịt. Chỉ đến khi Bác khóc trước Quốc hội để thừa nhận sai lầm, để rồi Đảng-Bác tiến hành cuộc sửa sai về CCRĐ thì đời “tôi” mới tạm được giải thoát; nhưng còn cuộc tình của “tôi” với Én thì vô phương cứu vãn. Bị lương tâm giày vò vì hoàn cảnh đối đầu “giai cấp” giữa mình với người yêu, lại thêm mặc cảm tội lỗi khi không cứu được bố chồng tương lai thoát khỏi vụ hành hình man rợ do chính anh trai mình (tức Kền) thực hiện, Én bỏ nhà đi biệt tích rồi cuối đời phải trở thành ni cô nương nhờ cửa Phật cho đến khi trút hơi thở cuối cùng vì bạo bệnh. Tiếng đọc kinh thỉnh chuông gõ mõ của “tôi” dành cho hương hồn người tình tội nghiệp đã trở thành tiếng cầu hồn giải oan cho tất cả những đồng bào bị giết oan và tàn hại, trong cái thời bi thảm mà chính Cha già Dân tộc đã phải lau nước mắt hối hận.
Phải là người trong cuộc mới viết được những trang sách như vậy; nên không ai ngạc nhiên khi độc giả của sách này nghĩ rằng “tôi” trong truyện chính là ông Khoa “Phụ” ngoài đời, và sách của ông là một cuốn tự truyện hay hồi ký.
Vượt khỏi giá trị văn chương, Nước mắt một thời còn góp phần minh họa cho lý luận về giai cấp và đấu tranh giai cấp. Khi nêu khẩu hiệu “Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại!”, Karl Marx đã loại trừ ra khỏi hàng ngũ cách mạng hạng người được gọi là “vô sản lưu manh”- những kẻ tha hóa mất nhân cách ở dưới đáy xã hội thường sống ngoài vòng pháp luật và bất chấp đạo lý. Hạng người này đã được miêu tả sinh động trong văn học với các nhân vật Thénardier ở nước Pháp (của Victor Hugo trong danh tác“Những người khốn khổ”), AQ ở bên Tàu (của Lỗ Tấn trong “AQ chính truyện”), Chí Phèo ở nước ta (của Nam Cao trong truyện “Chí Phèo”)… Giờ đây, Nguyễn Khoa Đăng góp thêm vào danh sách đó hai nhân vật của mình: Đội Khoảnh và lão Kền. Tuy nhiên, nếu như các nhân vật của các nhà văn khác đang sống dưới đáy xã hội thì mãi mãi vẫn cứ ở đó (cho dù có lúc cũng muốn “làm người lương thiện”), còn Đội Khoảnh với lão Kền của Nguyễn Khoa Đăng thì lại được trao quyền lực để trở thành một loại chúa tể “nhất Đội nhì Trời” nên đã mặc sức hoành hành. Khi khẳng định “Quyền lực dẫn đến tha hóa, quyền lực tuyệt đối dẫn đến tha hóa tuyệt đối”, Lord Acton chưa lường được vấn đề quyền lực tuyệt đối trao cho bọn người tha hóa mất nhân cách sẽ dẫn đến hậu quả gì? Đọc Nước mắt một thời của Nguyễn Khoa Đăng, độc giả sẽ tìm được lời giải cho vấn đề này. Từ đó, người ta sẽ nhận ra rằng: tư tưởng “càng nghèo khổ thì càng cách mạng” của Mao Trạch Đông nhằm đưa vô sản lưu manh tiềm ẩn trong bần cố nông “vươn mình” thành “quân chủ lực cách mạng” là cội nguồn của mọi tội ác nhân danh cách mạng. Tiếc rằng vào thời đó, do cuộc kháng chiến chống Pháp đòi hỏi phải có nguồn viện trợ từ Trung Quốc và Liên Xô, Bác đã phải trả giá bằng việc lấy tư tưởng Mao làm “kim chỉ nam” cho Đảng, để dẫn đến cuộc CCRĐ kiểu Tàu diễn ra trên khắp các làng quê miền Bắc nước ta. Bản thân Én cũng nhận ra điều này khi cô viết trong bức thư để lại cho người yêu: “Mọi sự đều bắt chước Trung Quốc. Họ bảo sao ta làm vậy. Các cố vấn của họ hiện có mặt ở khắp các Đoàn ủy”. (2)
Bên cạnh đó, sự phục hưng của “tôi” và gia đình Cả Lân cùng với sự tàn mạt của Đội Khoảnh và lão Kền sau CCRĐ đã chỉ ra rằng: cướp bóc bằng bạo lực không thể cứu đám vô sản lưu manh thoát khỏi số phận luôn dành sẵn cho chúng; mà chỉ có làm ăn lương thiện bằng nhân cách cao thượng mới giải thoát con người khỏi cảnh cực khổ bần hàn.
Nguồn dữ liệu về CCRĐ và vấn đề ruộng đất-nông dân trong tâm trí Nguyễn Khoa Đăng quá dồi dào, nên sau khi đã hoàn thành cuốn tiểu thuyết trên, ông lại phải viết tiếp truyện “Hoàng hôn lạnh” với cùng một chủ đề nhưng được tiếp cận theo một góc độ khác.Ở đoạn đầu, Hoàng hôn lạnh dường như chỉ là một phiên bản của Nước mắt một thời với nhân vật ông Tích mang hình bóng Cả Lân, với hai “ông Đội” tác oai tác quái và với người dẫn truyện xưng “tôi” chính là cậu Thiện con ông Tích. Nhưng càng về sau, mọi tình tiết câu chuyện càng đi theo hướng khác với những diễn biến bất ngờ được khắc họa sâu sắc trong nhân vật người vợ góa của ông Tích tức “mẹ tôi”. Đoạn văn dưới đây mở đầu cho thiên truyện, được lặp đi lặp lại ở từng chương cho đến trang cuối cùng như một nỗi đau day dứt khôn nguôi, đã giúp cho độc giả nhận ra rằng: cái thời đầy nước mắt ấy không kết thúc ở cuộc sửa sai năm 1957, mà kéo dài mãi về sau, chừng nào mà quyền sở hữu ruộng đất của nông dân còn bị cường quyền tước đoạt và khẩu hiệu “người cày có ruộng” chỉ là một thứ bánh vẽ:
“Bốn mươi lăm năm qua, đã thành lệ, cứ khoảng 4 giờ chiều, ngày nào cũng như ngày nào, nắng cũng như mưa, hoàng hôn lạnh hay chiều tà nóng, mẹ tôi lại khóc. Nước mắt của bà đã thành ao, thành hồ, bào mòn cuộc đời bà, làm đôi mắt long lanh hồ thu của cô Cốm năm nào thành hai cái hố sâu hoắm đục lờ chứa đầy bóng tối”.(3)
Dưới ngòi bút của Tố Hữu, cuộc CCRĐ đã diễn ra qua hình ảnh “Những bàn chân đã vùng dậy đạp đầu / Lũ chúa đất xuống bùn đen vạn kiếp”. Nhưng Nguyễn Khoa Đăng đã sửa lại bức tranh ấy: chẳng phải “bọn chúa đất” nào hết, mà chính những người dân lương thiện yêu quê hương đất nước đã bị vùi dập xuống tận bùn đen. Có điều là những người ấy không bị chôn “vạn kiếp” dưới bùn, mà chính những kẻ đã đạp họ xuống bùn mới bị như vậy. Tuy thế, những người lương thiện không báo thù, mà vẫn tha thứ cho bọn bất lương đã tàn hại họ.
3. Nguyễn Khoa Đăng có một tình yêu lai láng dành cho con người, con vật, cỏ cây hoa lá và tất cả những gì thân thuộc với mình. Tình yêu ấy tràn ngập trong hầu hết các tác phẩm của ông, được thể hiện tinh tế trong Nước mắt một thời, và ngay cả Hoàng hônlạnh vẫn chứa đựng tình người ấm áp.
Nhưng tình yêu con người của Nguyễn Khoa Đăng được giãi bày đầy đủ và trọn vẹn nhất qua tiểu thuyết “Mây chiều bảng lảng”. Tác phẩm này lại càng giống một cuốn tự truyện; trong đó nhân vật “lão” mang tên Thổ Trì chính là ông Khoa “Phụ”, còn bà Hiền (vợ “lão” trong truyện) không phải ai khác ngoài quý phu nhân của nhà văn. Hầu hết các nhân vật khác cũng được miêu tả từ những nguyên mẫu người thật có quan hệ mật thiết với tác giả; bởi thế mà chân dung con người tác giả hiện lên rõ ràng qua nội dung tác phẩm.
Nguyễn Khoa Đăng thương yêu con người, nên ông luôn được đền đáp bằng tình yêu thương của những người có quan hệ với mình. Khi hành nghề dạy học, thầy Khoa luôn được học trò quý trọng; riêng các nữ sinh thường nhanh chóng biến tình thầy trò thành tình yêu nam nữ, khiến cho thầy phải nhận án kỷ luật về tội “yêu học trò” (đây là chuyện thật; còn trong tiểu thuyết thì kẻ bị kỷ luật là người khác, do chính Thổ Trì xét xử). Khi trở thành nhà báo kiêm nhà văn, lão Thổ Trì lại vướng chuyện nhùng nhằng với cô Liên đồng nghiệp, khiến cho quý phu nhân của mình bốc lửa hờn ghen. Khi hành nghề luật sư, lão luôn trổ tài hùng biện để giúp các bị cáo thoát những bản án oan mà không đòi hỏi bất cứ một khoản thù lao nào. Rung cảm trước tâm hồn cao đẹp của ông thầy cãi đã hết lòng với một bị cáo trọng án là bố mình, một cô gái nhỏ tên Thạch Linh xin được nhận lão làm bố nuôi, rồi khi lớn lên đã quyết chuyển “bố” thành “anh” để ép lão phải yêu mình. Cùng một lý do tương tự, cô láng giềng xinh đẹp hành nghề bán xe nước sinh tố giải khát tên Bé Hai đã trao cho lão một tình yêu nồng cháy và quyết đeo bám thần tượng của mình đến cùng. Các cô nàng hồn nhiên ấy không ngờ tấm chân tình nồng nhiệt của họ đã làm khổ lão: quý phu nhân ở nhà không thể chấp nhận thói “trăng hoa” của đức ông chồng, nên đã phản ứng quyết liệt bằng một cuộc “cấm vận” kéo dài vô tận, mặc dù lão ra sức thanh minh rằng mình vẫn một lòng chung thủy với bà. Cứ mỗi lần lão sờ chỗ nhạy cảm của người phối ngẫu để định thực hiện nghĩa vụ vợ chồng, bà Hiền lại gạt phắt tay lão ra với lời phán xét đanh thép: “Bỏ ra! Bàn tay dơ bẩn!”. Thế là lão tiu nghỉu rút lui.
Kịch bản ấy tái diễn mãi không có điểm dừng, khiến lão nảy sinh ý định ngoại tình để giải tỏa sự ẩn ức trong lòng. Nhưng lạ thay, mặc dù sẵn có các đối tượng hấp dẫn nhiệt tình trao thân cho lão, Thổ Trì vẫn không dám làm ăn gì cả, mà chỉ mong được vợ “tha thứ” để trở về với người phối ngẫu được pháp luật thừa nhận. Khi bà Hiền đột xuất hồi tâm, ký giấy cam kết “cho phép” lão được chơi gái điếm để giải quyết sinh lý, lão cũng đành chịu, mặc dù kẻ bán thân cho lão là một cô gái “sạch sẽ, thơm tho, nói năng nhỏ nhẹ” .
Trong tâm trạng tuyệt vọng về hạnh phúc gia đình, lão tìm đến một bậc thầy tâm lý nổi tiếng để mong được cứu giúp. May thay, bậc thầy ấy lại chính là Hoàng Cầu, bạn đồng nghiệp cũ thân thiết của lão nơi mái trường xưa. Hiểu rõ tiểu sử của bạn mình, lại có kinh nghiệm bản thân và trình độ học vấn chuyên môn, nhà tâm lý học đã chỉ rõ bệnh của lão không phải do “máy móc hư hỏng” mà phát sinh từ những “cú sốc tâm lý tình dục”. Những cú sốc ấy lại bắt nguồn từ chỗ: “Chúng ta có một thời thật kỳ cục. Cái mà mình thích thì không cho người khác thích”(4). Vậy, thời kỳ cục ấy là thời nào? Hóa ra, đó lại chính là đoạn tiếp theo kéo dài của Nước mắt một thời!
Mọi sự lại phát sinh từ cuộc CCRĐ “long trời lở đất”, trong đó cha mẹ lão bị quy là địa chủ và bị tước đoạt hết điền sản. Với cái ách lý lịch là “con địa chủ”, lão không được vào đại học nên chỉ được đào tạo vừa đủ để đi dạy ở trường cấp hai dân lập; còn cô em gái xinh đẹp của lão phải chịu cảnh ế chồng (vì không có chàng trai nào đủ can đảm để chấp nhận làm rể một gia đình địa chủ).
Rồi ông Hiệu trưởng Nguyễn Trọng Tuệ đã khiến lão phát khiếp về các cuộc tự kiểm thảo lúc 11 giờ đêm sau hồi “trống tự tu”, để mỗi giáo viên tự vấn xem mình có diễn biến tư tưởng gì trái với “đạo đức của người thầy giáo xã hội chủ nghĩa”? Quán triệt quan điểm của Đảng về việc không để những nhu cầu bản năng thấp hèn lấn át lý tưởng cộng sản cao siêu, ông quyết chống đến cùng thói yêu đương lãng mạn (gọi là thói “tạch-tạch-sè), cấm mọi người tìm kiếm khoái cảm tình dục, buộc họ phải coi sự giao hợp của hai vợ chồng chỉ là thực hiện nghĩa vụ sinh đẻ tạo ra nguồn nhân lực cho đất nước. Từ đó, ông Tuệ bắt Thổ Trì phải chủ trì vụ xét xử một giáo viên trẻ đã bị bắt quả tang vì tội hôn (hoặc bóp vú?) một nữ sinh yêu mình trong trường. “Tòa” tuyên án cảnh cáo và hạ một bậc lương đối với tội phạm; nhưng suốt đời Thổ Trì (và cả Hoàng Cầu) sẽ bị day dứt mãi vì tiếng kêu đầy nước mắt của chàng trai vô tội đang quỳ gối trước lão: “Em trót dại, cắn cỏ lạy các anh, kính mong đèn trời soi xét!”(4). Ai cũng biết “bản án” này đi vào lý lịch sẽ tàn hại “sinh mệnh chính trị” của chàng trai ấy như thế nào.
Thế rồi Thổ Trì lại nhanh chóng trở thành tội phạm khi lão và nữ giáo viên Thúy Hiền xinh đẹp bước vào thời kỳ “tìm hiểu” nhau (đó là thuật ngữ chính thức được dùng thay cho từ “yêu” sặc mùi tạch-tạch-sè). Vì không có ghế đá vườn hoa, tối hôm ấy hai người phải ngồi trên vệ cỏ ven đường dưới bóng hàng cây xoan đang rắc từng cơn mưa hoa tím lãng mạn xuống đất. Họ đã thận trọng giữ khoảng cách “cả mét” giữa hai người để bảo đảm việc “tìm hiểu” không có gì mờ ám. Nhưng chẳng may, chiếc xe commăngca chở ông Chủ tịch Huyện chạy qua đó đã chiếu đèn pha soi rõ đôi nam nữ ngồi trong bóng tối cách cổng trường không xa. Ông Huyện lập tức cử người đến trường thông báo về sự việc nghiêm trọng mới được phát hiện. Hiệu trưởng Tuệ tức thì đánh trống triệu tập giáo viên đến họp Hội đồng kỷ luật để xét xử vụ việc liên quan đến âm mưu “quan hệ nam nữ bất chính”. Với sự đồng lõa của Hoàng Cầu, lão quyết im lặng không nhận tội. Nhưng khi Hiệu trưởng ra lệnh khám xét mọi người, thì bằng chứng tội phạm đã rành rành: hoa xoan từ đầu tóc và quần áo Thổ Trì và Thúy Hiền rơi xuống lả tả! Phán quyết của “tòa” được tuyên: Thổ Trì bị cảnh cáo và cắt danh hiệu “lao động tiên tiến”; Thúy Hiền bị chuyển từ giáo viên cấp hai xuống dạy cấp một ở một trường khác cách xa trường này 12 km.
Thế là “hiểm họa hoa xoan” đã giáng cho cặp tình nhân ấy một “cú sốc” nặng nề. Tiếp theo đó, đám cưới kỳ lạ với một đêm tân hôn dị thường của họ còn khiến cho cú sốc ấy trở nên khủng khiếp hơn. Cô dâu chú rể không dám “động phòng” vì biết rằng mình đang bị theo dõi từ những lỗ hổng trên vách đất nhà tranh; rồi chú rể phải để cô dâu nằm lại một mình mà lên đường thực hiện lệnh khẩn của Hiệu trưởng theo tinh thần“Vui duyên mới không quên nhiệm vụ” (như khẩu hiệu thường được treo trong các đám cưới thời ấy).
Với “cú sốc tâm lý tình dục” như vậy, tình yêu đích thực xuất phát từ bản ngã tự nhiên của con người đã bị vùi dập tan tành, thay vào đó là nỗi sợ hãi vô biên khắc sâu trong tâm thức Thổ Trì, biến lão thành con người mềm nhũn như sứa, không bao giờ dám vượt qua ranh giới của cường quyền để vươn tới tình yêu đích thực. Cũng từ sau cú sốc đó, cô Thúy Hiền xinh đẹp lãng mạn thuở nào dần chìm khuất để hóa thành bà Hiền cay nghiệt quyết dùng bạo lực giữ chồng trong nghĩa vụ hôn nhân, chống mọi biểu hiện của tình yêu rộng mở quanh đức lang quân của mình.
Bi kịch gia đình của lão với bà Hiền cũng chính là bi kịch của toàn xã hội về Nước mắt một thời trong Mây chiều bảng lảng. Khi ấy, “quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” do tạo hóa ban cho (và bản Tuyên ngôn Độc lập của Bác Hồ đã khẳng định) đã bị hủy diệt, để buộc con người phải sống trong bầy đàn do các đấng “bề trên” chăn dắt.
Không lâu sau lúc trở về từ cuộc gặp Hoàng Cầu, lão bị vợ đánh cho một trận và thẳng tay trao tờ đơn ly dị. Trong tình trạng bi đát ấy, lão quyết đổi đời bằng cuộc hẹn hò với người đẹp Bé Hai-nay đã trở thành một nữ doanh nhân với tài sắc nổi trội. Nhưng trớ trêu thay, đúng lúc nàng đã sẵn sàng đón nhận tình yêu của lão, thì nỗi sợ hãi tiềm ẩn từ “hiểm họa hoa xoan” lại ùa về cùng với tình thương vợ bỗng nhiên trỗi dậy trong tâm trí Thổ Trì. Thế là lại một lần nữa lão không thể vào cuộc say đắm với nàng.
Thất vọng với người tình mềm yếu đã “hết thuốc chữa”, Bé Hai đành ngậm ngùi tiễn lão bằng mấy lời “có cánh” như sau: “ Vậy thì anh về đi! Kỳ này, đi hay đứng, nhớ phải dứt khoát đấy. Có là mây thì cũng mây chiều rồi. Đừng bảng lảng nữa.”(4) Thế mới biết, việc giải thoát một con người ra khỏi chỗ giam cầm quen thuộc của y để chấm dứt tấn bi kịch của Nước mắt một thời khó khăn biết nhường nào!
4. Các tiểu thuyết của Nguyễn Khoa Đăng hội đủ giá trị trên cả 3 mặt Chân-Thiện-Mỹ. Khỏi phải nói về tính chân thật đã tạo nên phẩm chất cơ bản của các tác phẩm này. Bất cứ đôc giả nào đã từng sống trong Nước mắt một thời đều có thể nhận thấy dường như có cả mình (với toàn thể gia đình) trong tác phẩm ấy. Ai cũng cảm thấy nhà văn này đã nói thay mình về những điều uẩn ức chất chứa trong lòng suốt bấy nhiêu năm. Thật dễ hiểu vì sao Tỉnh Ủy và UBND tỉnh Thái Bình đã tổ chức một cuộc Hội thảo long trọng về Nước mắt một thời” để tôn vinh nhà văn của quê hương tỉnh nhà. Cũng không ai ngạc nhiên khi biết rằng Nguyễn Khoa Đăng có một lượng độc giả hâm mộ mình nhiều vô số kể.
Tính thiện nằm trong tư tưởng chủ đạo của Nguyễn Khoa Đăng khi ông vạch trần tội ác của những kẻ bất lương đã tàn hại những người lương thiện; để rồi những người lương thiện ấy lại tha thứ cho bọn bất lương, nhằm mở cho chúng con đường cải tà quy chính. Hơn thế nữa, tình thương yêu tràn ngập các trang viết của ông cũng chính là tính thiện mà ông muốn truyền tải đến quý vị độc giả.
Về giá trị thẩm mỹ, Nguyễn Khoa Đăng có rất nhiều trang viết đẹp chứa đầy cảm xúc khiến độc giả phải ghi nhớ mãi. Cách kể chuyện ở đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất (“tôi”) hay ngôi thứ ba (“lão”) đều được ông sử dụng nhuần nhuyễn đã tạo nên sắc thái độc đáo cho từng tác phẩm. Cách kết cấu câu chuyện xen lẫn giữa hiện tại với quá khứ lại làm cho tác phẩm của ông thêm hấp dẫn, tương tự như thủ pháp điện ảnh. Tài nghệ của ông đã tạo nên những nhân vật có tính cách đặc sắc mang dấu ấn riêng của Nguyễn Khoa Đăng: “tôi”, Én, Đội Khoảnh, lão Kền (trong Nước mắt một thời); Thiện, “mẹ tôi” (trong Hoàng hôn lạnh); Thổ Trì, bà Hiền, Bé Hai, Thạch Linh… (trong Mây chiều bảng lảng)… Có cả những nhân vật đặc biệt buộc độc giả phải suy nghĩ về tính cách của họ như Hoàng Cầu (người đã bị cắt tai và cụt cả “chim” trong quá trình phát hiện, thực hành và truyền bá chân lý về bản ngã tình dục) hay Nguyễn Trọng Tuệ (kẻ cuồng tín mỗi năm theo “Xuân -Thu nhị kỳ” chỉ giao hợp với vợ đúng 2 lần để thực hiện nghĩa vụ tạo nguồn nhân lực cho đất nước).
Khách quan mà nói, nghệ thuật ngôn ngữ của Nguyễn Khoa Đăng vẫn còn đôi chỗ phải bàn. Trong một số đoạn, thỉnh thoảng tác giả lại tách mình ra khỏi nhân vật để thuyết minh hay bình phẩm sự kiện, khiến cho mạch văn trở nên vụng về. Đang kể rất hấp dẫn về diễn biến tình cảm giữa “tôi” với Én, tác giả xen vào những lời bình như “Tình yêu rồi cả dục vọng nữa thôi thúc tôi phải…”(2) hay “Ma lực của tình yêu trong tuổi mới lớn của tôi mạnh mẽ đến chừng nào”(2) khiến cuộc tình bị giảm nét đẹp của nó. Việc đưa những thuật ngữ khoa học hiện đại vào văn cảnh bình dị của quá khứ cũng làm giảm vẻ đẹp văn chương. Tả cảnh đội cải cách tát cạn ao nhà địa chủ để cướp cá, thì cớ sao lại phải xen vào lời bình “tát cạn làm hủy hoại cái mà sau này ta gọi là môi trường sinh thái” (2)? Bức di thư mà cô Én (tức ni cô Diệu Thường) để lại cho người tình xưa khiến độc giả phải rơi nước mắt. Nhưng họ vẫn phải đặt câu hỏi: liệu một phụ nữ ít học với “chữ xấu như gà bới” có thể viết được những trang như thế hay không? Ngay cả đoạn viết về cố vấn Trung Quốc chỉ đạo CCRĐ cũng được đưa vào thư của Én một cách khiên cưỡng. Những đoạn giải thích tỉ mỉ các sự việc theo kiểu văn báo chí “bánh đúc bầy sàng” cũng khiến cho độc giả phải tiếc cho vẻ đẹp của phép hành văn “ý tại ngôn ngoại”. Việc tác giả trích dẫn nguyên văn lời Marx, Freud…và cả thơ Hồ Xuân Hương để chứng minh cho các ý tưởng của mình đã khiến cho văn tiểu thuyết mượt mà bị lẫn với văn nghiên cứu khô cứng. Việc tác giả cho các nhân vật trong CCRĐ sử dụng “tem phiếu” và bút máy “Trường Sơn” là sự nhầm lẫn về vật dụng trong thời điểm mà những thứ đó chưa có…
Tuy nhiên, bất chấp một số lợn cợn đôi lúc xuất hiện giữa dòng văn chương êm đẹp như vậy, Nước mắt một thời, Hoàng hôn lạnh và Mây chiều bảng lảng đã hợp thành một “bộ ba” tiểu thuyết có giá trị rất cao với chủ đề chung là “Nước mắt một thời”, ghi đậm nét dấu ấn trong văn học Việt Nam hiện đại và có tiếng vang trên văn đàn quốc tế. Với mô hình xã hội và thân phận con người được diễn tả trong đó, bộ ba “Nước mắt một thời” của Nguyễn Khoa Đăng có thể so sánh với “Trại súc vật” (Animal Farm) và “1984” của George Orwell. Không phải ngẫu nhiên mà cuốn Nước mắt một thời được đăng tải nhiều kỳ trên báo chí tiếng Việt ở Mỹ. Tiếp đó, Chim mặt người, Hoàng hôn lạnh, Mây chiều bảng lảng và Nước mắt một thời lại được dịch sang tiếng Pháp để Công ty Hhbooks quảng bá trên thị trường sách thế giới.
*
Lịch sử dân tộc bao gồm những trang vẻ vang và những trang bi thảm; trong đó “không ai bị lãng quên và không gì bị lãng quên!”- đúng như lời khẳng định của nữ thi sĩ Olga Berggolts. Với bộ ba tiểu thuyết Nước mắt một thời - Hoàng hôn lạnh - Mây chiều bảng lảng, Nguyễn Khoa Đăng đã giúp cho đồng bào ta, ở trong nước cũng như nơi hải ngoại, không quên những trang bi thảm của lịch sử nước nhà. Bằng ngôn ngữ văn học, Nguyễn Khoa Đăng đã phục dựng thành công cả một thời đại, trong đó cho thấy ở thời ấy người ta đã sống thế nào, đã chết thế nào và tại sao họ lại phải sống và chết như thế. Qua đó, ông nhắn gửi đến muôn đời con cháu mai sau rằng: đừng bao giờ để cho dân tộc Việt Nam phải sống và chết như vậy nữa.
Sài Gòn, mùa thu 2016
LÊ VINH QUỐC

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tết Việt ở ngôi đình đẹp nhất xứ Đoài



Sự kiện tái hiện không gian Tết xưa đã diễn ra tại đình làng So (Hà Nội), với các nghi lễ dựng cây nêu, dâng lễ, gói và luộc bánh chưng, viết thư pháp, hát cửa đình...
Những người tham gia Tết Việt phần lớn là giới trẻ thành phố. Lần đầu tiên họ được trở thành người xứ Nam, xứ Đông, xứ Bắc, xứ Đoài, được tham gia, được xem, được nghe và được hiểu hơn về Tết Việt.
Đoàn dâng lễ tiến vào đình với trang phục áo dài truyền thống.
Trong sự kiện này có lễ dựng cây nêu. Theo truyền thống, cây nêu được dựng vào ngày Táo quân về trời, với quan niệm rằng từ ngày này cho tới đêm giao thừa, vắng mặt Táo công, ma quỷ thường nhân cơ hội lẻn về quấy nhiễu.
Ngày dựng cây nêu (gọi là lên nêu) là 23 tháng Chạp. Ngày 7 tháng Giêng âm lịch là ngày làm lễ dỡ cây nêu xuống (ngày hạ nêu).
Đại sứ Phạm Sanh Châu - Đặc phái viên của Thủ tướng Chính phủ về vấn đề UNESCO - cũng tham dự chương trình này. Ông dành nhiều tâm huyết, mong muốn tôn vinh và quảng bá áo dài cổ truyền nói chung và của nam giới nói riêng, xuất phát từ nhu cầu lựa chọn trang phục phù hợp trong công tác đối ngoại, những sự kiện quan trọng tại Việt Nam.
Phía bên trái ngôi đình, nghệ nhân Nguyễn Đức Hòa vẽ tranh Kim Hoàng - một dòng tranh dân gian phát triển khá mạnh từ thế kỷ 18 đến thế kỷ 19 của làng Kim Hoàng (Hoài Đức, Hà Nội). Tranh Kim Hoàng in trên nền giấy đỏ, giấy hồng điều, hoặc giấy vàng tàu.
Một điểm đặc biệt mà các dòng tranh dân gian khác không có là những câu thơ chữ Hán được viết theo lối chữ thảo trên góc trái bức tranh. Cả thơ và hình vẽ tạo nên một chỉnh thể hài hoà, chặt chẽ cho tranh.
Các bé gái diện trang phục áo nâu, chít khăn mỏ quạ giúp nhiều người liên tưởng về Tết xưa.
“Mỗi năm hoa đào nở/Lại thấy ông đồ già/Bày mực tàu giấy đỏ…”. Người viết thư pháp, cho chữ không thể thiếu trong mỗi dịp Tết đến xuân về.
Bức thư pháp với dòng chữ “Mã đáo thành công”.
Hát cửa đình là một phong tục có từ lâu đời, có ý nghĩa sâu sắc đối với đời sống văn hóa cộng đồng làng xã khi xưa, nhưng nay đã mai một nhiều.
Ông Nguyễn Đức Bình - Trưởng Ban tổ chức Tết Việt 2017 - cho biết quyết định lấy ngôi đình là trung tâm, nơi sinh hoạt của cộng đồng làng xã với nhiều nghi thức cầu mong một năm mới tốt lành.
Hiện nay, đình (hay được biết đến phổ biến hơn là đền) chuyên chỉ thờ cúng, nhưng gốc rễ của đình là nhà hát dân gian, điều mà ít người biết đến. Việc trùng tu đình làng đã được đẩy mạnh, tuy nhiên những giá trị phi vật thể chưa được chú trọng. "Nhóm mong muốn góp một phần nào đó để khơi dậy giá trị tinh thần của đình làng Việt” - ông Bình nói.
Cũng trong hôm qua, các tiết mục hát then đã được trình diễn trong đình So.
Những nghệ nhân tham gia biểu diễn còn rất trẻ.
Hát quan họ cũng được diễn xướng.
Các cụ cao tuổi ngồi chơi tam cúc. Đây là một trong những trò chơi không thể thiếu mỗi dịp Tết xưa.
Bước vào một trong những ngôi đình đẹp nhất xứ Đoài, hình ảnh gói bánh chưng với lá dong, đỗ xanh, thịt mỡ, gạo nếp như nhắc Tết đang đến rất gần.
Sau khi gói xong, bánh được luộc trong vòng 12 tiếng. Nồi bánh luôn cần người túc trực để thêm củi, nước.
Phần nhận xét hiển thị trên trang

“Kẻ sĩ trước thời cuộc” và bản lĩnh người cầm bút

Đặng Văn Sinh
Hoàng Quốc Hải không chỉ nổi tiếng với hai bộ tiểu thuyết “Vương triều sụp đổ” và “Tám triều vua Lý” mà ông còn là cây bút tản văn có hạng đề cập đến nhiều lĩnh vực đời sống xã hội như lịch sử, văn hóa, chân dung văn học và bình giải văn chương.
Trên cơ sở hàng trăm bài viết của một đời cầm bút, năm 2014, Hoàng Quốc Hải cho xuất bản cuốn “Kẻ sĩ trước thời cuộc” do NXB Phụ nữ ấn hành, dày 596 trang, khổ 14,5 x 20,5 cm, bìa gập, do họa sĩ Văn Sáng trình bày với ý tưởng khá độc đáo.
Hoàng Quốc Hải là nhà văn có tầm văn hóa dày dặn, nên bất cứ bài nào của ông cũng được viết một cách cẩn trọng, đầy chất trí tuệ, nội hàm phong phú, thông tin chính xác, quan điểm cấp tiến, toát lên tinh thần học thuật nghiêm túc.

“Kẻ sĩ trước thời cuộc”, nói một cách hình ảnh, nó giống như giai phẩm văn chương được hình thành từ một phương pháp luận đặc thù, trong đó có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa cách cảm và cách tư duy phản biện của một cây bút từng trải. Chẳng những thế, Hoàng Quốc Hải còn là nhà văn am hiểu thời cuộc sâu sắc. Ông nắm được nhiều vấn đề phức tạp của xã hội, nhận diện và lý giải nó bằng đầu óc phân tích khách quan rồi quy chiếu vào những trường hợp cụ thể mà ông cho rằng, đó chính là nguyên nhân gây ra những hệ lụy.
“Kẻ sĩ trước thời cuộc” gồm 65 bài, trong đó nhiều nhất là chân dung văn học (26 bài), tiếp đến văn hóa, lịch sử (24 bài), cảm nhận, bình giá tác phẩm (7 bài), cuối cùng là vấn đề thời sự, tham luận và phản biện (10 bài).
Ở mảng chân dung văn học, loạt bài viết về nữ sĩ Ngân Giang (“Ngân Giang với bài Trưng nữ vương”; “Thơ Ngân Giang”; “Ngân Giang là thế”), “Gặp bà Thục Oanh nhớ Vũ Hoàng Chương”, “Những dấu hiệu khả ái trong tiểu thuyết Hồ Quý Ly”, và “Còn luân hồi thì ta còn gặp gỡ”..., là những bài viết có hàm lượng trí tuệ cao bằng bút pháp tài hoa, làm người đọc xúc động.
Trong phần văn hóa, lịch sử, những bài “Đi tìm một Ngọa Vân am”, “Trắng án Nguyễn Thị Lộ” hay “Việc đạo việc đời và phương lược xuất xử tùy duyên” đều có giá trị về mặt học thuật, chẳng khác gì những công trình khảo cứu đem đến cho bạn đọc những nhận thức mới về lịch sử, tôn giáo trong các triều đại phong kiến Việt Nam cách nay nhiều thế kỷ.
Bên cạnh đó, những bài phản biện xã hội cùng với tham luận từ các hội thảo khoa học hay Đại hội Nhà văn lại có một vị trí đáng kể trong việc làm nên diện mạo cuốn sách. Các phản biện xã hội của Hoàng Quốc Hải đều mang nội dung tích cực, có ý nghĩa khai mở lối tư duy độc lập hình thành từ những luận chứng có sức thuyết phục, khách quan và tiếp cận chân lý được chuyển tải bằng lối hành văn trong sáng của tiếng Việt hiện đại.
Phong cách văn chương trong “Kẻ sĩ trước thời cuộc” luôn tương thích với từng thể tài. Với chân dung văn học, Hoàng Quốc Hải bao giờ cũng nhìn nhận tác giả ở phần bản chất nhất là sự đóng góp của họ vào quá trình phát triển của nền văn học nước nhà mà không câu nệ các tiểu tiết bởi các học thuyết và hệ ý thức chi phối. Ông thường tìm về những phần khuất lấp từng bị thời cuộc bỏ quên với sự đánh giá khách quan, công bằng như là một nghĩa cử chiêu tuyết cho người bị hàm oan, đồng thời cũng ngầm chỉ ra những thế lực nào đã cố tình vu oan, hãm hại văn nghệ sĩ vốn được coi là thành phần tinh hoa của dân tộc.
Tuy nhiên, cách viết chân dung văn học của Hoàng Quốc Hải không cố định ở bất cứ hình thức nào, mà luôn xuất phát từ nguồn cảm hứng sau khi đọc tác phẩm cũng như nhân cách nghệ sĩ của tác giả. Chân dung văn học của ông bao giờ cũng có sự kén chọn nghiêm ngặt. Ông chỉ viết về những văn nghệ sĩ có thực tài và nhân cách lớn. Sách của Hoàng Quốc Hải không có chỗ cho bọn bất tài, cơ hội và tư cách nhếch nhác.
Đọc chân dung văn học của Hoàng Quốc Hải, ta có cảm giác như là ông viết để trả nợ đời, món nợ không phải do ông còn thiếu mà không hiểu sao cứ như là mình có lỗi. Cho nên, chân dung văn nhân hiện ra qua ngòi bút của ông có cái gì đó như nỗi buồn xa vắng, như lời cảm thán về nhân tình thế thái, về một “đấng cao xanh” không đủ độ khoan dung, nên bỏ phí một tài năng. Mỗi chân dung văn học là một mảnh đời nghệ sĩ ba chìm bảy nổi, được Hoàng Quốc Hải đào bới từ quá khứ, làm thức dậy trong khoảnh khắc lịch sử, vụt lóe sáng như mảnh sao băng. Nữ sĩ Ngân Giang là một điển hình. Về nhà thơ Ngân Giang, Hoàng Quốc Hải có đến ba bài, chứng tỏ ông vô cùng mến mộ và cảm phục tài năng, nhân cách nữ sĩ.
Qua những dòng tản văn mang phong cách cổ điển viết về một người phụ nữ đa đoan gần như bị cuộc đời lãng quên, Hoàng Quốc Hải đã phần nào khắc họa được chân dung nghệ sĩ của bà sau mấy chục năm lặng lẽ ẩn cư xứ “Giang biên”. Ngân Giang có một quá khứ hào hùng, một tài năng thơ bẩm sinh, một bậc “quốc sắc thiên hương”. Bà đã từng sắm vai nữ sĩ vào thẳng Bộ tư lệnh gặp tướng Lư Hán ở Hà Nội giải cứu nhạc sĩ Đỗ Nhuận và nhiều cán bộ cách mạng khác bị quân Tàu Tưởng giam giữ. Và cũng vẫn Ngân Giang còn được chủ tịch Hồ Chí Minh tặng thơ, vậy mà, cuối cùng bị chính những người lẽ ra phải chịu ơn, lại biến giai nhân - nữ sĩ một thời thành cái bóng vật vờ bên lề cuộc nhân sinh. Thế nên, Hoàng Quốc Hải hạ bút cảm thán về thận phận bà: “Có lẽ rất ít trong số các nhà thơ nữ của Việt nam cùng thời với Ngân Giang, lại sớm nổi tiếng như bà. Và cũng sớm đạt tới vinh quang trần thế như bà. Nhưng cũng ít ai vận hạn triền miên cay đắng đủ đường như bà. Đất nước vừa được giải phóng, bà liền bị rơi vào quên lãng. Nghe nói bà chỉ được Hội Nhà văn mời tới họp có một đôi lần, rồi bỏ bẵng” (“Thơ Ngân Giang”, tr. 82). Nỗi cô đơn ấy lặn vào thơ tạo nên những hình ảnh ngậm ngùi thương cảm, được tác giả trích dẫn trong bài viết của mình: “Đâu thuở đề thơ nơi tướng phủ/ Đây ngày quét lá chốn giang biên”, và đây nữa: “Mười năm quét lá bên sông/ Hình hài để lại cái còng trên lưng” (“Thơ Ngân Giang”, tr. 83).
Đọc Hoàng Quốc Hải, người ta còn nhận ra sự phong lưu, đài các của một nữ sĩ Hà thành mỗi khi tiếp bạn văn chương: “Đài các đến tới mức, hễ cứ tiếp khách là bà đốt trầm. Nghe nói salon (phòng văn) của bà, vào những năm ba mươi, bốn mươi của thế kỷ này, mở tiếp khách vào các ngày thứ sáu hàng tuần (...). Nhà văn Nguyễn Tuân, một tay hào hoa và cầu kỳ có hạng, mỗi lần bước vào PHÒNG VĂN NGÂN GIANG, thay vì chào hỏi các bạn, ông bước thẳng tới chỗ lư trầm, rắc thêm trầm vào lư, miệng ngâm khổ thơ đầu trong bài Vương Tường của Ngân Giang: “Khơi đỉnh trầm lên! Kìa thái giám!/ Cho hương tỏa quyện điệu tỳ bà” (“Ngân Giang là thế, tr. 89).
Thế nhưng, cái “thời oanh liệt ấy, nay còn đâu”. Ngân Giang giờ chỉ còn là cái bóng liêu xiêu của ngày xưa. “Bởi vậy bà cứ nằm ở nhà rên rẩm, mặt quay vào tường, đôi lúc tủi thân, nước mắt chảy dàn dụa. Chán rồi bà lại làm thơ. Thơ vứt vương vãi khắp nhà, kể có ngàn bài, mà bài nào cũng có thể in báo, in sách được. Chắc cái đám thơ ấy, sớm muộn sẽ mai một thôi” (“Ngân Giang là thế”, tr. 95).
Phong cách viết chân dung của Hoàng Quốc Hải khác người ở chỗ, không bao giờ ông “ăn theo” những tác giả đã được nhà nước ta “chăm sóc” chu đáo, nhất là vào những ngày lễ lạt, kỷ niệm, được vinh danh bởi hàng loạt bài giống nhau như cùng một khuôn đúc trên các báo chí chính thống. Ông có cách đi riêng của mình, đến với những văn nghệ sĩ bị “bỏ quên” bắt nguồn từ những “tai nạn nghề nghiệp” hay văn nghệ sĩ ở “phía bên kia” cho dù vẫn là đồng bào Việt tộc máu đỏ da vàng. Cặp vợ chồng “Thục Oanh - Vũ Hoàng Chương là minh chứng cho nhận định trên. 
Viết về Vũ Hoàng Chương, Hoàng Quốc Hải sử dụng thủ pháp “bắc cầu”, dùng hình ảnh phu nhân Thục Oanh, như một tri kỷ tri âm để khắc họa chân dung một trong những “người thơ” nổi tiếng của nhóm “Dạ Đài”. Và cũng lại từ nhà thi sĩ lắm tài nhiều tật này, tác giả tìm ra được mối quan hệ đặc biệt thân thiết với nữ sĩ Ngân Giang, từ đó khẳng định, Ngân Giang, Vũ Hoàng Chương là hai cây bút chân tài, tuy mỗi người một vẻ, nhưng đều có những đóng góp đáng kể vào quá trình phát triển ngôn ngữ thi ca hiện đại Việt Nam: “Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Vỹ, Trần Huyền Trân, Ngân Giang, Lê Văn Trương..., là một trong những nhóm các bậc tài danh được người đương thời mến mộ. Trong đó, Lê Văn Trương là người lớn tuổi hơn cả. Và nơi ông có phong thái của một người hùng...” (“Gặp bà Thục Oanh nhớ thi tài Vũ Hoàng Chương”, tr. 23). Và đây là cái tình cố cựu của người bạn thơ ở mãi phía trời nam gửi đến nữ sĩ Ngân Giang nghèo túng trên bãi sông Hồng: “Trước năm 1975, Vũ Hoàng Chương sống tàm tạm, là nhờ ở sự tần tảo và cần kiệm của bà Thục Oanh. Nhà nghèo, thế mà khi ông Vũ Hoàng Địch (em trai nhà thơ) vào thăm sau 30.4.1975, Vũ Hoàng Chương còn cố gom góp đủ tiền mua được mười mét gấm gửi tặng nữ sĩ Ngân Giang ngoài Hà Nội” (“Gặp bà Thục Oanh nhớ thi tài Vũ Hoàng Chương”, tr. 24). Nhưng buồn thay, cho đến lúc qua đời, Ngân Giang không bao giờ được mặc áo gấm. Quà tặng của Vũ quân, bà phải bán đi đong gạo cho con khỏi đứt bữa.
Trong loạt chân dung văn học của Hoàng Quốc Hải còn có một trường hợp ngoại lệ, được ông đặt cho một tựa đề khá đặc biệt “Còn luân hồi thì ta còn gặp gỡ”. Đó là vị tu sĩ mang cốt cách của một kẻ ẩn cư: nhà thơ Minh Đức - Triều Tâm Ảnh. Điều kỳ lạ khiến bạn đọc quan tâm trong thiên tạp bút này là tác giả và thi sĩ trụ trì “Huyền Không sơn thượng” chưa từng gặp nhau một lần mà lại rất có duyên với nhau. Tập thơ “Chèo vỡ sông trăng” vị ẩn sĩ Cố Đô gửi Hoàng Quốc Hải cùng lời đề tặng vô cùng trân trọng đã phần nào đã tỏ rõ mối lương duyên “thiên tải nhất thì”: “Về Hà Nội ít lâu sau, tôi thấy vợ tôi đem về nhà bản thảo tập truyện ngắn: Người trồng hoa và chàng tu sĩ của Triều Tâm Ảnh. Tôi bèn đọc, và sững sờ về bút pháp nghệ thuật cũng như ý tưởng thâm trầm được thể hiện qua các trang văn.
Không lâu sau đó, tôi nhận được tập thơ Chèo vỡ sông trăng của thiền sư gửi tặng với lời đề: Kính tặng nhà văn Hoàng Quốc Hải, một người ‘chưa biết mặt’ mà ‘quen văn’ thì khá nhiều.
Huyền Không sơn thượng 9.4.1995
Ký tên: Minh Đức - Triều Tâm Ảnh” (“Còn luân hồi thì ta còn gặp gỡ”, tr. 207).
Chỉ với vài nét phác thảo về chân dung một ẩn sĩ, không có thêm bất cứ lời bình luận rườm rà nào mà làm tâm hồn ta rung động. Có lẽ nguyên nhân sâu xa là những trang văn ấy mang phong vị “Thiền” chăng? Mà với “Thiền” thì Hoàng Quốc Hải đã có thâm niên nghiên cứu mấy chục năm, còn Minh Đức - Triều Tâm Ảnh vốn là đệ tử chân truyền: “Điều thú vị là thơ, văn của tu sĩ Minh Đức - Triều Tâm Ảnh có phong vị thơ Thiền của các đời Lý - Trần. Qua thơ văn ông, ta thấy ông là người hiếu Đạo nhưng không lìa bỏ thế gian. Trái lại, nhân sinh quan của thi sĩ là tích cực. Và việc ông xuất gia là để nhập thế...” (“Còn luân hồi thì ta còn gặp gỡ”, tr. 208).
Tạp văn Hoàng Quốc Hải có nhiều thành tựu về đề tài văn hóa, lịch sử. Cả cuộc đời cầm bút của ông gắn với tiểu thuyết lịch sử, nên quan niệm của ông về lịch sử, nhất là chính sử, phải rõ ràng minh bạch và công bằng. Có nghĩa là, lịch sử dân tộc phải được ghi chép đúng như những gì đã xảy ra trong quá khứ. Thật không may, lịch sử Việt tộc cho đến ngày nay vẫn còn những khoảng trống. Tham vọng của Hoàng Quốc Hải là góp phần của mình làm đầy những khoảng trống ấy mà không bẻ cong ngòi bút “sáng tác” những chiến công “hoành tráng” bất chấp hiện thực khách quan, biến lịch sử dân tộc thành bản thống kê thành tích của một vương triều. Vì vậy, thái độ của nhà cầm quyền cũng như những người làm giáo dục đối với lịch sử dân tộc như thế nào luôn là nỗi trăn trở của người cầm bút như ông. Không ít bài tham luận trình bày trong nhiều hội thảo khoa học, Hoàng Quốc Hải đã từng cảnh báo, nếu không có phương pháp đúng đắn, giáo dục chỉ chạy theo thành tích ảo, sợ rằng, các thế hệ học sinh Việt Nam sẽ mù sử Việt, ngược lại, rất thông thạo sử Tàu qua hàng loạt bộ phim dã sử dài tập được công chiếu trên hàng trăm kênh truyền hình từ trung ương đến địa phương.
 Những bài viết góp phần giải mã một số bí mật lịch sử, hay tháo gỡ những bế tắc do quan điểm giáo điều chi phối của Hoàng Quốc Hải gần đây được dư luận chú ý phải kể đến “Đi tìm một Ngọa Vân am”, “Trắng án Nguyễn Thị Lộ” và “Việc đạo việc đời và phương lược xuất xử tùy duyên”. Theo chúng tôi, bộ ba tản văn này được xem là phần nổi bật nhất của cuốn sách với tư liệu điền dã phong phú, đa dạng, lập luận thuyết phục, chứng cứ xác đáng và nghệ thuật phản biện hấp dẫn, khiến không những độc giả bình thường mà ngay các nhà chuyên môn cũng phải tâm phục khẩu phục bởi tính khoa học hiển nhiên của nó.
“Đi tìm một Ngọa Vân am” là thiên tạp bút lịch sử giàu chất thơ nhưng cũng hàm chứa năng lực “bút chiến” của người cầm bút chân chính, bất bình trước sự vô trách nhiệm của những người làm sử. Từ đó, tác giả tỏ ra nghi ngờ độ chính xác và sự trung thực của các công trình nghiên cứu, biên khảo, thậm chí cả sách giáo khoa, tiêu tốn nhiều tỷ tiền thuế của dân, nhưng chất lượng yếu kém, mà hậu quả của nó là tác hại khôn lường.
“Đi tìm một Ngọa Vân am” được lấy cảm hứng từ việc tìm nơi Phật hoàng Trần Nhân Tông viên tịch và nơi an táng ngài. Trước khi chuyến điền dã vất vả diễn ra, các nhà sử học quan phương đã xác định Ngọa Vân am ở nhiều địa điểm khác nhau, rất tùy tiện, theo một thói quen cũng rất vô trách nhiệm. Các nhà sử học Việt Nam mấy chục năm qua, có một phương pháp làm giới học giả thế giới nghi ngờ là chỉ quan tâm đến định tính mà không chú ý đến phần định lượng của các dữ kiện lịch sử. Chính vì thế mới có chuyện, mấy vị giáo sư sử học hay một quan chức quản lý ngành văn hóa, chỉ tay phán lung tung mỗi người một phách về vị trí Ngọa Vân am. Và đây là lời ông Thanh Sĩ, giám đốc sở văn hóa tỉnh Quảng Ninh, sau cuộc hội thảo khoa học về Yên Tử, tháng 11 năm 1981, chỉ định nơi Phật hoàng về cõi niết bàn vô cùng liều lĩnh, được Hoàng Quốc Hải dẫn ra trong bài viết : “Rất may, nơi trang 33 lại có đoạn hướng dẫn tìm Ngọa Vân như sau: “Men theo con đường phía trái chùa Hoa Yên, một bên là sườn núi, một bên là vực thẳm, dưới đáy vực là rừng dáo tre vút lên thẳng tắp, ta sẽ đến am Ngọa Vân (am trong mây). Thác Tử từ trên lèn đá cao 10 mét, đổ nước xuống sôi réo vọt qua con đường này, rồi lao xuống vực ào ạt...”.
Tôi tìm đến nơi mà hai vị chỉ dẫn. Nhưng chẳng thấy một chút dấu tích gì. Dù là một viên gạch vỡ, một tấm bia sứt” (“Đi tìm một Ngọa Vân am”, tr. 268). Còn ông Trần Trương, trưởng Ban quản lý di tích Yên Tử thì phán đoán: “Theo em, có khi Ngọa Vân chính là chùa Hoa Yên, chỗ anh em mình đang đứng đây” (“Đi tìm một Ngọa Vân am”, tr. 268). Tức cười hơn nữa, giáo sư Lê Văn Lan, người thường xuyên xuất hiện trên màn ảnh nhỏ, giải đáp những thắc mắc về lịch sử cho công chúng, thì khẳng định một cách rất chi là vô tư: “Ngọa Vân chính là khu vực Tháp Tổ” (“Đi tìm một Ngọa Vân am”, tr. 268). Còn vị giáo sư đáng kính khác, ngài Hà Văn Tấn, lại có quan điểm “thoáng hơn” các đồng nghiệp bằng cách “xếp” “Ngọa Vân” ở gần Am Dược.
Một di tích thuộc hệ thống Phật giáo Thiền tông có giá trị lịch sử như vậy mà mỗi nhà khoa học định vị một chỗ theo ý kiến chủ quan của mình, khiến một nhà văn như Hoàng Quốc Hải thất vọng. Từ đó, trong ông nảy sinh ý tưởng, phải tìm bằng được Ngọa Vân am theo cách của riêng mình. Phương pháp ấy chinh là tra cứu chính sử, tìm hiểu lịch sử Phật giáo Thiền tông và đi khảo sát thực tế, nghĩa là trên cơ sở định tính, chuyển sang nghiên cứu định lượng để tìm ra sự thật lịch sử. 
Các cuốn sách công cụ như “Đại Việt sử ký toàn thư”, “Trúc Lâm tam tổ”, “Thánh đăng lục” và “Tam tổ hành trạng” đã phần nào chỉ ra phương hướng tổng quát. Còn chuyến đi thực tế do Phòng Văn hóa huyện Đông Triều cử người làm hướng đạo đã đưa đến kết quả bất ngờ. Ngọa Vân am đã được tìm ra, không phải ở khu quần thể di tích phía đông, mà ở mãi sườn phía tây, nơi mà vị Bảo Sái phải đi bộ hai ngày đường mới đến. Có thể nói, Hoàng Quốc Hải là người đầu tiên trong giới văn nghệ sĩ tìm đến được Ngọa Vân am đích thực, nên ta không lạ gì tâm trạng phấn chấn của ông khi biết mình đang đứng trước một di tích Phật giáo thiêng liêng sau chuỗi thời gian dài bị quên lãng: “Hết rừng trúc lại leo lên đồi tranh. Đập vào mắt tôi một khung tường lở lói, một căn nhà hoang phế. Cỏ tranh và cây dại trong nền nhà đã mọc cao vượt cả khung tường. Hỏi ra mới biết đây là ngôi chùa của quần thể Ngọa Vân. Chúng tôi hết sức vui mừng. Dường như bao nỗi nhọc mệt, khát, đói, gối mỏi chân chồn đều tan biến đi. Theo lối mòn đi lút vào vạt rừng lưa thưa cây cối độ vài trăm bước, sừng sững trước chúng tôi là đỉnh núi Ngọa Vân” (“Đi tìm một Ngọa Vân am”, tr. 277). Và cảm xúc choáng ngợp ấy được tác giả “Bão táp cung đình” nhớ lại: “Sừng sững trước tôi là Đoan Nghiêm tháp. Không hiểu trong đó chứa xá lị của vị thiền sư nào. Bởi ngoài ba chữ đó, không có một thông tin nào về ngôi tháp này. Nhích sang phía trái, một ngôi tháp gạch nhỏ hơn tháp Đoan Nghiêm, có ghi chữ Phật Hoàng tháp. Đích thị là tháp của Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông. Phía trước tháp có tấm bia ghi năm tháng trùng tu. Chính giữa có hàng chữ to, nét còn rất sắc Trần Nhân Tông hoàng đế lăng sắc kiến. Bên cạnh ghi năm tháng trùng tu: Minh Mạng nhị thập nhất niên, cửu nguyệt, sơ lục nhật phụng” (“Đi tìm một Ngọa Vân am”, tr. 278).
Như vậy, từ đây, Ngọa Vân am đã được định vị chính xác trên bản đồ quần thể di tích Yên Tử, tạo điều kiện thuận lợi cho các thiện an tín nữ cũng như khách du lịch thập phương đến viếng thăm. Công lao ấy, có một phần không nhỏ của nhà văn Hoàng Quốc Hải: “Việc các nhà khoa học lịch sử và quản lý văn hóa chỉ ra một Ngọa Vân mơ hồ như trong sách Cõi thiêng Yên Tử, khiến các địa điểm như Am Hoa, Am Dược, Am Lò Rèn..., cũng trở nên mông lung, khó tin; bởi tất cả đều không có một chứng cớ khảo cổ nào làm bằng.
Mong sao nước ta có một đội ngũ các nhà khoa học lịch sử nghiêm túc và trung thực, để nhân dân có thể tin những gì họ nói và viết. và cũng mong sao các thế hệ nối tiếp thừa kế xứng đáng sự nghiệp của tổ tông” (“Đi tìm một Ngọa Vân am”, tr. 285).
Với “Trắng án Nguyễn Thị Lộ”, Hoàng Quốc Hải có cách nhìn lịch sử từ quan điểm phê phán qua những đoạn văn đầy trách nhiệm công dân. Ông đồng tình với dư luận thời đại, bênh vực nữ sĩ Nguyễn Thị Lộ, lên án chế độ phong kiến độc tài, tàn bạo nhẫn tâm xuống tay hạ sát công thần vì những xung đột quyền lực. Nhưng, cũng như “Đi tìm một Ngọa Vân am”, ông không chịu dừng lại ở những kết luận chỉ có giá trị định tính, mà phải dày công lục lọi trong chính sử, ngoại sử, dã sử, thậm chí tham khảo cả gia phả các dòng họ lớn từng có người là trọng thần thời kỳ Lê sơ. Từ đó tác giả tìm được nguyên nhân cái chết của gia tộc Nguyễn Trãi, và hệ lụy của hành vi lạm sát đó đối với xã hội đương thời. Thực ra, vụ án Lệ Chi Viên, từ hàng trăm năm nay, đã được nhiều thế hệ các nhà sử học nghiên cứu, phân tích và đánh giá, và kết luận cuối cùng đều có một mẫu số chung là minh oan cho vợ chồng Ức Trai, lên án chế độ phong kiến dã man. Tuy nhiên, đến Hoàng Quốc Hải, ông có cách làm hầu như không giống ai. Đó là mở rộng biên độ vụ án, đặt vụ án trong mối quan hệ phức tạp giữa các thế lực cầm quyền , từ đó tìm ra bản chất của hệ ý thức phong kiến triều Lê dẫn đến cái chết không thể tránh khỏi của các công thần khai quốc như Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn...
Cách phân tích, luận giải về các nhân vật lịch sử và thời cuộc trong bài tản văn của Hoàng Quốc Hải đầy sức thuyết phục với những chứng cứ chắc chắn, không thể lật ngược. Đương nhiên, với lịch sử không thể có chuyện “nếu”, bởi các sự kiện đã xảy ra từ cách đây nhiều thế kỷ. Điều cần làm là, phải tìm ra bản chất sự việc, nghĩa là, vào thời điểm thập kỷ bốn mươi của thế kỷ XV, thế lực nào thao túng triều chính nhà Lê, và nhóm quyền thần nào thủ lợi sau cái chết của vợ chồng Nguyễn Trãi.
Xét lại vụ thảm án “Vườn Vải” cách đây  gần sáu trăm năm, Hoàng Quốc Hải chỉ ra hai điều phi lý quy tội cho Nguyễn Trãi, Nguyễn Thị Lộ cùng cái chết đột ngột của Lê Thái Tông, đồng thời ông cũng xác định hai nguyên nhân làm cho vợ chồng Ức Trai phải chết. Đây là những phát hiện không mới, nhưng cái mới là, người viết đã tạo được các mối liên kết giữa các sự kiện lịch sử đơn lẻ, chính thống cũng như phi chính thống, thành một hệ thống, tạo ra bước đột phá trong quá trình lật lại vụ án, nhằm chiêu tuyết cho hai nhân vật lịch sử nổi tiếng. Công bằng mà nói, khi Lê Thánh Tông chấp chính, Nguyễn Trãi đã được minh oan, nhưng thật ra, ông vua hay chữ này mới chỉ dám giải oan một nửa cho Ức Trai, còn Nguyễn Thị Lộ thì không. Hoàng Quốc Hải có tham vọng lớn hơn nhiều. Ông muốn “Trắng án Nguyễn Thị Lộ” nên đã viết:
 “Hầu hết tướng lĩnh Lam Sơn đều xuất thân từ ruộng đồng, nên họ không ưa gì một kẻ sĩ như Nguyễn Trãi. Hơn nữa, Nguyễn Trãi tuy là người có học thức cao, nhưng về tụ nghĩa sau họ, thế mà suốt thời kháng chiến được Lê Lợi ưu trọng. Mọi công việc bang giao và văn thư giao tế đều do một tay ông chủ trương. Hòa bình, các tướng tâm phúc quê Thanh ấy được Lê Lợi trọng dụng. Bọn họ chỉ lo kéo bè kết cánh đục khoét dân và đua nhau hưởng lạc. Kiến thức họ không phân biệt nổi lục súc trong nhà, thế mả chúng lại xin vua cho được sửa sang nền quốc nhạc. Được vua hỏi đến, Nguyễn Trãi vừa vạch tội bọn này vừa tỏ nỗi bất bình: Nay nhà vua để cho bọn bầy tôi hèn mọn ở trong cung chuyên việc xếp đặt lễ nhạc, như vậy chẳng tủi nhục cho nước nhà lắm sao?” (“Trắng án Nguyễn Thị Lộ”, tr. 307).
Lý do thứ hai Nguyễn Trãi phải chết là ông can thiệp vào việc tranh giành quyền lực nơi hậu cung, nhằm cứu mẹ con tiệp dư Ngô Thị Ngọc Dao và tìm cách ngăn cản Bang Cơ lên ngôi, chỉ vì vị hoàng tử nhí này không phải con đẻ Thái Tông, bởi lẽ hoàng hậu Nguyễn Thị Anh có thai trước khi nhập cung.
Một vấn đề nữa được tác giả nhấn mạnh trong bài viết là, dù vô tình hay hữu ý, các sử gia đương thời, một trong số đó là Ngô Sỹ Liên, đã tiếp tay cho đám quyền thần xóa đi vết máu từng thấm đẫm những trang chính sử thời Lê sơ. Hoàng Quốc Hải phê phán gay gắt Tổng tài Quốc sử quán kém cỏi về nhân cách kẻ sĩ, a dua xu nịnh, bẻ cong ngòi bút phụng sự kẻ tiếm quyền, hãm hại công thần, dẫn đến khủng hoảng chính trị trước khi Lê Tư Thành được đưa lên ngai vàng. Điều đáng chú ý là, phê phán Ngô Sỹ Liên, Hoàng Quốc Hải dùng ngay những lời quở mắng thậm tệ của Lê Thánh Tông đối với vị sử quan này trong “Đại Việt sử ký toàn thư”.  Giấy trắng mực đen, tuyệt đối chính xác, không thể chối cãi.
Phần cuối bản tham luận đọc tại Hội thảo khoa học về Nguyễn Thị Lộ, do Hội khoa học lịch sử Việt Nam chủ trì này, còn được tác giả đưa ra lời đề nghị hết sức táo bạo, nhưng xem ra lại rất hợp tình hợp lý, ấy là, “Tòa án Nhân dân tối cao nên ra một phán quyết đặc biệt, phủ nhận tính bất hợp pháp của án quyết Lệ Chi Viên năm Nhâm Tuất (1442), để trả lại sự trong sáng cho bà Nguyễn Thị Lộ, đồng thời làm sáng tỏ tính nghiêm minh của lịch sử” (“Trắng án Nguyễ thị Lộ”, tr. 317).
Cũng trong tập tản văn này, Hoàng Quốc Hải còn có loạt bài mang tính phản biện xã hội, phản biện văn học rất ấn tượng, gợi ra những vấn đề bất cập trong sự vận hành guồng máy xã hội, từ đó nảy sinh nhiều mâu thuẫn như một lực cản vô hình kìm hãm tiến trình phát triển đất nước. Loạt tản văn này có lúc được tác giả diễn đạt như một bài chính luận, không đao to búa lớn nhưng lập luận sắc bén, chứng cứ thuyết phục, thái độ ôn hòa, khoan dung, khiến người đọc phải nghiêm túc suy ngẫm, nhất là đối với những nhà hoạch định chính sách ở cấp vĩ mô. “Thư ngỏ gửi ông Chủ tịch Hội Golf Việt Nam” là một trong những bài thuộc dạng trên.
Bức thư ngỏ được viết vào tháng 7 năm 2008, như một lời cảnh tỉnh đối với các nhà quản lý đất nước, khi mà hội chứng sân golf đã gây bao thảm cảnh cho người dân mất đất mất nhà sau khi nhận một mớ tiền đền bù rẻ mạt, để rồi tương lai chẳng biết về đâu. Đó là chưa kể đến hậu quả hệ sinh thái bị phá vỡ, môi trường ô nhiễm nặng nề bởi các loại thuốc bảo vệ thực vật độc hại duy trì sự sống cho thứ cỏ nhân tạo, phát tán khắp nơi.
Bài viết ngắn gọn chưa đến 6 trang nhưng đầy ắp số liệu thống kê chuyên môn khiến bất cứ ai đọc qua cũng phải rùng mình bởi một đất nước đang thiếu trầm trọng không gian sinh tồn, diện tích canh tác bình quân đầu người thuộc loại thấp nhất thế giới, mà các vị lãnh đạo thích chơi sang, ký duyệt đến 123 dự án sân golf.  Có lẽ Việt Nam ta cũng muốn lập thành tích đưa sân golf vào kỷ lục Guiness cùng với vô số tượng đài nghìn tỷ chăng? Chúng tôi không dám chắc, khi đọc được những thông tin dưới đây, các vị trong ban quản trị Hội golf liệu có tỉnh ra sau cơn mê sảng triền miên về một “không gian xanh, thân thiện với môi trường, là nơi nghỉ dưỡng lý tưởng” như ông phó Chủ tịch Hội từng trả lời báo chí: “Thưa ông. Có phải cỏ trồng trên sân golf phải nhập ngoại. Và đây là một loại cỏ được tạo ra hết sức đặc biệt bởi nó phi tự nhiên, vì nó phải sử dụng rất nhiều loại thuốc trừ sâu, trừ nấm, trừ cỏ dại và phân bón hóa học để chăm sóc nó luôn xanh mướt trên mặt sân. Số hóa chất dùng cho mối ha sân golf nghe đâu cao gấp 5 lần số thuốc trừ sâu và phân bón để chăm sóc ruộng đồng. Trung bình mỗi ha sân golf dùng tới 1,5 tấn hóa chất trong một năm. Như vậy một sân golf có diện tích 300 ha mỗi năm dùng tới 450 tấn hóa chất. Và một sân golf 20 lỗ, mỗi tháng phải dùng tới 150.000 mét khối nước” (“Thư ngỏ gửi ông Chủ tịch Hội Golf Việt Nam”, tr. 387). Và đây là những tác hại khôn lường từ trò chơi đế vương các đại gia lắm tiền: “Nước trên sân golf một phần ngấm vào lòng đất, một phần chảy trôi xuống các đầm ngòi, ao hồ, sông suối hoặc cánh đồng mà nó tiếp cận. Các hóa chất diệt sâu nấm và cỏ dại được máy móc phun lên phần không nhỏ khuếch tán vào không khí. Do đó việc nuôi dưỡng sân golf đã làm cho môi trường xung quanh từ mặt đất, trong lòng đất, nguồn nước và cả không khí bị ô nhiễm nặng nề. Nó không chỉ hủy hoại môi sinh, làm cạn kiệt nguồn nước và sau khi sân golf không còn khai thác nữa thì đất khó có thể dùng trở lại làm đất nông nghiệp bởi độ xốp, độ phì của nền đất cũ không còn nữa cùng với hệ vi sinh vật bị tiêu diệt hoàn toàn. Khoa học đã chỉ ra rằng, để có tầng đất màu dày khoảng 20 cm, thiên nhiên phải tạo dựng và tích lũy đến cả triệu năm” (“Thư ngỏ gửi ông Chủ tịch Hội Golf Việt Nam”, tr. 387-388).
Là người cầm bút chuyên nghiệp, Hoàng Quốc Hải luôn trăn trở về “nỗi niềm tác phẩm đỉnh cao” trong nền văn học Việt Nam. Tuy nhiên muốn có tác phẩm đỉnh cao lại phải có tự do sáng tác. Tự do sáng tác là chìa khóa mở cửa mọi thành công đối với văn nghệ sĩ, nhưng điều này dường như vẫn là sự cấm kỵ ở Việt Nam mấy chục năm qua. Chuỗi tham luận đọc trước các hội nghị lý luận phê bình qua các thời kỳ của Hoàng Quốc Hải đều nhấn mạnh vào điểm cốt yếu này.
“Nỗi niềm tác phẩm đỉnh cao” là một tham luận đọc tại Đại hội Nhà văn Việt Nam lần thứ VII, năm 2005, Hoàng Quốc Hải nhận định: “Tình hình hiện nay, phải thừa nhận điểm yếu của văn chương Việt Nam là đơn điệu quá. Trên nửa thế kỷ qua tất cả chỉ nói theo một giọng điệu, viết theo một thi pháp. Bản thân nghệ thuật là khám phá, là luôn luôn tìm tòi đổi mới. Vậy mà 60 năm qua chỉ đi mỗi một con đường để cùng đến một mục đích làm gì chẳng cũ kỹ, sáo mòn. Lẽ ra phải tạo điều kiện để có nhiều con đường khác nhau, cùng đến chung một mục đích; đó là dân tộc, là Tổ quốc, là chủ nghĩa yêu nước” (“Nỗi niềm tác phẩm đỉnh cao”, tr. 351). Chưa dừng lại ở đây, bản tham luận còn nhấn mạnh nguyên nhân làm nên hiện tượng “văn học đồng phục” bởi nhà văn không có quyền tự do công bố tác phẩm. Tình trạng kiểm duyệt tùy tiện và “lệnh miệng” một cách ngẫu hứng khiến không ít người cầm bút rơi vào hội chứng “tự kỷ ám thị”, nghĩa là nỗi sợ hãi thường trực khiến tác giả phải tự kiểm duyệt bản thảo của mình trước khi bị cơ quan tuyên giáo kiểm duyệt.
Trên diễn đàn văn chương, Hoàng Quốc Hải công khai đưa ra giải pháp: “Để chấm dứt tình trạng mù mờ đó cần phải xây dựng một xã hội đối thoại, xã hội dân chủ. Vì vậy, mọi thứ phải được minh bạch trên tinh thần thượng tôn pháp luật. Tôi đề nghị nhà nước hãy trả lại cho văn chương, báo chí quyền tự do sáng tác, mà nhà nước đã trưng dụng trong hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm vừa qua. Đó không chỉ là quyền tự do sáng tác của nhà văn, nhà báo mà còn là quyền được thông tin khách quan của công chúng. Chiến tranh đã chấm dứt 30 năm rồi mà văn chương, báo chí vẫn sống trong cảnh mù mờ. Cả nước có tới gần 1000 tờ báo và tạp chí, nhưng quy về chỉ có mỗi một tổng biên tập, tránh sao khỏi sự đơn điệu và sáo mòn” (“Nỗi niềm tác phẩm đỉnh cao”, tr. 352).
Như phần trên chúng tôi đã nói, Hoàng Quốc Hải là nhà văn chuyên viết tiểu thuyết lịch sử nên ông rất quan tâm đến lịch sử dân tộc và cách ứng xử với lịch sử dân tộc của các thế hệ người Việt. Tình trạng học sinh “đói sử” nhưng không thích học sử mà lại chỉ thích sử tàu qua các bộ phim nhại sử nhảm nhí, cho thấy nền giáo dục Việt Nam đang có vấn đề nghiêm trọng. Từ việc chối bỏ lịch sử thậm chí làm biến dạng lịch sử, đến việc đánh mất cả một nền văn hóa chỉ còn là vấn đề thời gian. Trả lời phỏng vấn tạp chí Văn hóa Nghệ An, Hoàng Quốc Hải đưa ra những nhận định hết sức quan ngại: “Bảo tàng Lịch sử thì quy mô nhỏ, hoạt động rời rạc như bị chìm khuất, còn Bảo tàng Cách mạng thì từ trung ương xuống các tỉnh ngày một phình to và cứ xem cách họ trưng bày hiện vật, cách hướng dẫn khách tham quan, khiến ta có cảm giác lịch sử dân tộc được đồng hóa với lịch sử cách mạng (...). Việc làm đó không chỉ là việc làm phản khoa học lịch sử, mà nó còn tiềm ẩn nguy cơ suy thoái về mặt đạo lý, chắc sẽ phải gánh chịu hậu quả lâu dài...” (“Nỗi niềm tác phẩm đỉnh cao”, tr. 500).
Tản văn của Hoàng Quốc Hải như một tập đại thành những yếu tố văn hóa xã hội được trình bày với bút pháp đa dạng. Phong cách văn chương “Kẻ sĩ trước thời cuộc” hàm chứa nhiều thông tin nghệ thuật từ sự dấn thân của một ngòi bút tài hoa, đầy bản lĩnh cùng vẻ đẹp cổ điển của tiếng Việt hiện đại. Đó là thứ văn chương “ma mị” nhưng tiềm ẩn năng lượng sẵn sàng bùng nổ bất cứ lúc nào khiến ta không thể không đọc./.

Chí Linh, 4.12.2016
Đ.V.S.

Phần nhận xét hiển thị trên trang