Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 23 tháng 1, 2017

Năm hết, tết đến..

FORMOSA VẪN CHƯA THỂ NÀO YÊN

Ảnh: Dân địa phương gửi FB Nguyen Chí Tuyến. 

FORMOSA VẪN CHƯA THỂ NÀO YÊN 

Nguyễn Anh Tuấn 
23-1-2017

Vì chính quyền rước Formosa vào gây họa cho biển miền Trung nên nhiều người dân Bắc Trung Bộ năm nay thấy Tết bỗng trở nên thật xa vời.

Chỉ trong ngày hôm nay đã có hai cuộc biểu tình liên tiếp diễn ra. Một là của các tiểu thương chợ Lộc Hà trước UBND tỉnh Hà Tĩnh đòi bồi thường cho hải sản tồn kho mà họ đã được hứa hẹn từ hồi tháng 5; hai là của ngư dân Quảng Trạch, Quảng Bình với phong cách quen thuộc là quăng ngư lưới cụ ra đường để khóa Quốc lộ 1A.

Vậy là chỉ trong tháng đầu tiên của năm 2017, cộng với hai lần trước ở Kỳ Trinh và Đèo Con, đã có 4 cuộc biểu tình diễn ra ở các tỉnh này, dự báo một năm đầy bất ổn cả trên mặt báo lẫn trong lòng người, vẫn với từ khóa Formosa.

Trong một diễn biến liên quan, một số thanh niên Công giáo địa phương như Nguyễn Văn Hóa, Nguyễn Văn Oai năng nổ với các công việc truyền thông, hỗ trợ ngư dân kiện tụng, từ thiện liên quan tới vụ Formosa hiện đang bị tạm giữ và đứng trước nguy cơ khởi tố. Chính quyền bằng một cách không thể rõ ràng hơn đã đưa ra thông điệp chọn đối đầu thay vì đối thoại với dân chúng.

Cùng lúc đó, công tác bồi thường dù được Chính phủ hứa hẹn sẽ xong trước Tết dương lịch; nhưng nay chỉ còn vài ngày nữa là đến Tết âm lịch mà mọi chuyện vẫn còn rất ngổn ngang. Người dân khiếu nại, tố cáo hành vi mờ ám, gian dối, thiếu sót của cán bộ cấp cơ sở ở hàng loạt các xã, cho thấy chính quyền hiện đang bất lực ngay trong một việc đơn giản nhất là đảm bảo cấp dưới chi đúng, chi đủ cho dân.

Tệ hại nhất là việc khắc phục môi trường biển. Dù liên tục tuyên bố số tiền 500 triệu USD bao gồm cả chi phí làm sạch biển; song cho tới nay chưa hề thấy chính quyền chi một đồng nào cho công việc này mà cứ tự huyễn hoặc nhau theo giọng tuyên giáo là biển miền Trung có khả năng tự làm sạch, và đã tự làm sạch.

Dân không được bồi thường thỏa đáng; biển lại chưa được làm sạch khiến nguồn lợi hải sản gần bờ suy giảm trầm trọng và người tiêu dùng mất niềm tin vào chất lượng hải sản địa phương, thì dân địa phương còn quay quắt với nỗi lo sinh kế. Bất ổn xã hội cứ thế mà sinh sôi như một lẽ tự nhiên vậy.
 

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đừng nói đ/c Quang như thế!

  
Võ Lừa
Đội ngũ dư luận viên của Đảng kể có đến hàng ngàn người. Mỗi người một danh phận, một hành trạng, có thể là nhà báo, nhà văn, nhà khoa học, đại tá an ninh, quân đội... Trừ các đồng chí bị lộ, đăng đàn một cách công khai, còn hầu hết họ đều hoạt động trong bóng tối, dưới các tên giả X, Y, Z. Tuy nhiên phải thừa nhận là trong bọn họ dư luận viên Trần Nhật Quang là gây được nhiều ấn tượng nhất. Có thể nói nghề dư luận viên chọn Trần Nhật Quang chứ không phải ngược lại. Ông sinh ra để làm dư luận viên. Ông có máu dư luận viên thâm căn cố đế, không thể gột rửa. Cái máu dư luận viên thâm căn cố đế đó chính là tình yêu Đảng cộng sản vô điều kiện và lòng căm thù những người không phải cộng sản cũng vô điều kiện. Ông yêu nước Trung Hoa vĩ đại của Mao Trạch Đông, yêu “thiên đường” Triều Tiên của Kim Nhật Thành, nơi “không có thất học, không có thất nghiệp, không có vô gia cư, không có tình trạng ốm đau chờ chết như phần còn lại của thế giới, đây chính là “mô hình xã hội mà các nước tư bản phương Tây đang phải hướng tới” (lời ông Quang). Ông Trần Nhật Quang cũng là một loại con nghiện, có điều ông không nghiện “đập đá” mà ông nghiện Bắc Triều Tiên, nghiện Kim Nhật Thành, ông nghiện Trung Quốc, nghiện Mao. Tóm lại là ông nghiện cộng sản. Vì chưng hay ghét cũng là hay... yêu. Ông Trần Nhật Quang ghét tất cả những gì không thuộc phạm trù cộng sản. Với ông cuộc đời thẳng tắp, đơn giản: Cái gì thuộc cộng sản là tuyệt vời, là ma túy của ông, phần còn lại là kẻ thù của ông. Với ông, đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thụy Sĩ, Trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ là đương nhiên, là chân lý vĩnh cửu. Cho nên, mặc dù giọng ông không hay, lý luận ông không có gì, và cách tuyên truyền của ông giống hệt những năm năm mươi, sáu mươi, kiểu “hòn đá to hòn đá nặng, một người nhắc, nhắc không đặng” hoặc “có anh nông dân vác quốc ra thăm đồng. Anh cuốc như thế này rồi cuốc như thế kia”, ông bổ cái cuốc tuyên truyền của ông như thế này rồi như thế kia xuống đầu bất cứ ai miễn là nhát cuốc của ông có lợi cho chủ nghĩa cộng sản. Nhiều khi đăng đàn ông ở trạng thái “phê”, cả con người ông biến thành một cơn cuồng nộ. Tay chân, mồm miệng, ngôn ngữ của ông đều co giật, run rẩy, giống như một kép hát hóa thân tan chảy hết vào ngôn từ của bài hát. Chính điều này đã mê hoặc người nghe, khơi dậy tình yêu hoặc lòng căm thù dù nội dung buổi đăng đàn của ông chỉ quanh quẩn ở vài ba mệnh đề ngắn ngủn, cộc lốc, không đầu không cuối, kiểu khen ngợi nông dân hăng say lao động: anh cuốc như thế này rồi cuốc như thế kia. Tuy nhiên tôi thành thật tin rằng thời của ông sắp hết, kiểu tuyên truyền duy ý chí không cần học hành như ông không thể tồn tại trong xã hội thông tin được. Ông chỉ có một ngón võ duy nhất: lòng thù hận. Thân phận ông cũng giống như thân phận con lừa trong câu chuyện của Liễu Tôn Nguyên – một danh sĩ đời Đường: “Đất Kiểm xưa vốn không có lừa. Có người hiếu sự chở một ít lừa đến đấy nuôi. Lừa thả dưới chân núi. Buổi đầu hổ trong núi ra, trông thấy lừa cao lớn lực lưỡng cứ tưởng là loài vật thần mới giáng thế. Lại thấy lừa kêu to, hổ sợ quá cong đuôi chạy mất. Dần dần, hổ nghe quen tai, thấy lúc nào lừa cũng kêu một giọng giống nhau, bèn tỏ ý khinh thường. Một hôm hổ đánh liều nhảy lên vờn lừa. Lừa giận giơ chân đá đi đá lại, quanh quẩn chỉ có một ngón đá mà thôi. Hổ thấy vậy rất mừng, bụng bảo dạ: “Hóa ra tài nghệ con lừa này chỉ có thế mà thôi”. Rồi hổ gầm lên, đè nghiến lừa xuống mà chén thịt”. Vâng, con hổ đây chính là cuộc sống, cuộc sống sẽ “chén thịt” tất cả những gì trái lẽ tự nhiên!
Bauxite Việt Nam

Phần nhận xét hiển thị trên trang

TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA PHẦN TỬ TRÍ THỨC TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI CHÍNH QUYỀN


Trần Văn Chánh
Trách nhiệm của người trí thức trước các hiện tình xã hội    
     Trí thức gắn liền với tri thức và học vấn dồi dào phong phú, từ đó thông đạt thế cố và hiểu được các hiện tình xã hội. Tuy nhiên, tự bản thân tri thức, học vấn cũng không có giá trị nếu việc sử dụng nó không mang lại ý nghĩa tích cực gì cho đời sống. Do vậy, người ta thường nói đến vai trò, trách nhiệm và ảnh hưởng của người trí thức trong trường hợp xã hội còn nhiều trục trặc, nhất là khi xã hội đó đang bị đặt dưới quyền thống trị của những hôn quân bạo chúa, hoặc nhân dân phải điêu đứng vì một chế độ mị dân, độc tài nào khác. 
Trong trường hợp nầy, người trí thức không còn chỉ là người có học vấn đơn thuần, mà gắn liền với sự động não, luôn luôn đặt vấn đề và phê phán, nhằm góp phần làm thay đổi theo hướng tốt hơn đối với các hiện tình xã hội. Trong lịch sử, người trí thức luôn đóng góp vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tiến bộ xã hội cũng như những tác động tích cực về tư tưởng nhằm chuyển hóa nhận thức của số đông thông qua những lời nói và việc làm của họ ảnh hưởng tới sự chọn lựa định hướng, quyết sách để phát triển quốc gia, dân tộc.
     Nói theo cách diễn đạt của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện thì “trí thức là người không chỉ giỏi, chỉ chuyên sâu vào một nghề chuyên môn mà còn phải có trách nhiệm chung về vận mệnh nước nhà” (dẫn theo Trần Quốc Vượng, trong bài “Dám làm, dám nói… dám nghe”, Tạp chí Tia Sáng, Xuân Nhâm Ngọ 2002).

     Có thể mượn lời sau đây của Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô Dmitri Sergeievich Likhachov (1906-1999) để làm rõ thêm đôi chút về khái niệm/ yếu tính người trí thức: “Theo kinh nghiệm đường đời của tôi, trí thức là những người tự do về thế giới quan, không bị phụ thuộc vào những sức ép về kinh tế, đảng phái, nhà nước, không chịu một bổn phận nào về tư tưởng. Nguyên tắc chính của tính trí thức là sự tự do về trí tuệ, sự tự do như một phạm trù đạo đức... Tôi muốn nói rằng một nhà bác học chưa chắc đã phải là trí thức. Họ không còn là trí thức khi quá chú mục vào chuyên môn của mình mà quên mất ai sử dụng thành quả lao động của mình và sử dụng như thế nào. Khi đó, do theo đuổi những lợi ích chuyên môn, họ đã coi nhẹ lợi ích đồng loại và những giá trị văn hóa...” (“Thư gửi Tạp chí Thế giới mới, Số 2 năm 1993”, trong http://www.soup.io/everyone?).  
     Tuy nhiên, ngặt một nỗi, vì người trí thức cũng chỉ là con người bằng xương bằng thịt với bản năng sinh tồn như những người bình thường khác nên họ còn phải bận lo nhiều thứ, vì thế trong họ thường có sự mâu thuẫn trì kéo giữa một đằng là lý tưởng, hoài bão tốt đẹp về xã hội, với đằng khác là nhu cầu an toàn, thụ hưởng cho bản thân, gia đình mình. So với tầng lớp thống trị ở trên thì tay họ chưa dính chàm, còn với lớp bình dân ở dưới thì con cái trong nhà họ nói chung có nhiều cơ hội được ăn học giáo dục tương đối đầy đủ, không đi móc bọc, chửi thề đánh lộn hoặc tham gia các tệ nạn xã hội như con em của không ít nhà kém học thức khác trong một xã hội rối loạn bất công. Do cần tranh thủ để đạt một số điều kiện ưu tiên cho con đường thăng tiến của bản thân và gia đình, một số trí thức lần hồi bị thui chột sĩ khí, không dám phê phán hoặc nói lên sự thật; nếu có điều chi bức xúc thì họ cũng âm thầm chịu đựng cho qua, không nhận mình hèn đớn, viện dẫn rằng thời cuộc khó khăn, hoàn cảnh không cho phép, “thức thời vụ giả vi hào kiệt” (kẻ thức thời là người hào kiệt)... Nếu họ thuộc thành phần sáng tác hoặc phát minh, viết được vài ba công trình học thuật để đời thì tâm lý lại càng dễ tự mãn hơn, vui vẻ nhận sự tôn vinh của người đời mà quên buồn với những nỗi thống khổ và trục trặc của nhân sinh trong những hiện tình xã hội cụ thể. Nếu thuộc thành phần tham gia chính trị, do tự nguyện dấn thân hoặc được chính quyền cơ cấu sẵn đưa vào các loại tổ chức/ đoàn thể, thì họ lại càng an tâm hơn vì có tâm lý “cha mẹ dân” của một người cao đạo đã trả xong việc nước nợ đời, mà ít khi có dịp tự hỏi những gì mình nói và làm thực tế đã đem lại được lợi ích gì cho đám bình dân, hay tác dụng có khi chỉ là ngược lại. Bởi vì, người ta thường thấy vẫn có không ít trí thức về mặt nhận thức đối với các hiện tình chung của xã hội thì họ vẫn đủ sáng suốt, nhận ra mọi vấn đề, nhưng vì nhiều lý do thực tế của cuộc sống, họ đã chọn lựa thái độ cầu an nên thường không dám tỏ thật ý kiến phản bác, trước những nỗi bất công, thậm chí vô hình trung còn đồng lõa với một số điều tệ hại đi ngược với quyền lợi của công chúng, dần dà trở thành những phần tử thỏa hiệp nguy hiểm để hợp lý hóa cho những chủ trương chính sách sai lầm, rốt cuộc trở thành những kẻ ngụy tín ngụy biện lúc nào không hay.      
     Một số trí thức trung thực có tâm huyết muốn góp phần thúc đẩy cải cách xã hội nhưng hoàn cảnh chính trị khắc nghiệt không cho phép, lâu ngày tâm chí bị cùng mằn chán nản, vì lực bất tòng tâm. Một số người khác cho rằng mình bị bịt miệng vì không có tự do ngôn luận đầy đủ, cũng ưu thời mẫn thế và bất mãn hiện trạng. Nhưng dù thuộc lý do, hoàn cảnh nào trong số các tình huống nêu trên, thân phận người trí thức cũng có những điểm bi kịch có phần đáng được chia sẻ, vì không phải hoàn toàn tại họ, nhưng nếu cứ để vậy mà kéo dài cuộc sống dở chết dở, họ sẽ mang mãi cái tâm sự như của Tô Thức (thời Tống): “Thẹn hoài cho người nước nầy, đau xót như có gai đâm trong da thịt; bình sinh đọc đến năm ngàn quyển sách, nhưng không có một chữ nào cứu đói cho dân được”.
     Nói về vai trò, trách nhiệm của phần tử trí thức trước thời cuộc, ở Trung Quốc người ta thường nhắc tới nhân vật Lương Thấu Minh (1893-1988), một nhà nho-nhà triết học nổi tiếng, nhưng Lương không chỉ lo rị mọ sách vở và lập thuyết mà lúc nào cũng quan tâm đến những vấn đề bức xúc gắn với số phận của đất nước. Câu nói “Tam quân khả đoạt soái dã, thất phu bất khả đoạt chí dã” (Có thể [dùng sức mạnh] bắt được một vị nguyên soái, chứ chí hướng của một thường dân thì không [dùng sức mạnh mà] đoạt nổi) là của ông, và ông đã vì lương tâm, trách nhiệm mà làm đúng ý thầy: Bang vô đạo, phú thả quý yên, sỉ dã (Khi nước vô đạo nghĩa là đang ở trong tình trạng hắc ám về chính trị mà lo chạy theo lợi danh để mong được giàu và sang là điều đáng hổ thẹn- Luận ngữ, thiên “Thái Bá”); đây cũng là câu nói của Khổng Tử mà nhà văn-nhà triết học Mỹ Henry David Thoreau (1817-1862) đã có lần trích dẫn trong tác phẩm Civil Disobedience(Bất tuân dân sự/ Bất tuân chính quyền) nổi tiếng của mình.   
    
     Trí thức và chính quyền: những suy nghiệm từ lịch sử
     Các chính quyền độc tài từ cổ chí kim trên thế giới nói chung đều không ưa trí thức, vì phần tử nầy thường có đủ sự hiểu biết và óc sáng suốt để nhận ra đồng thời đưa ra ý kiến phê bình chỗ sai lầm, mị dân của các nhà đương cuộc, nên mới có chuyện như Tần Thủy Hoàng (259-210 TCN) thời xưa “phần thư khanh nho” (đốt sách chôn học trò)… Trong các chế độ độc tài thiếu dân chủ, người trí thức chân chính do luôn đứng ở vị trí bênh vực quyền lợi người dân mà đối lập với chính quyền nên các nhà cầm quyền thường tìm mọi cách hoặc vô hiệu hóa họ hoặc dùng mồi nhử lợi danh trao cho họ nhiều thứ danh dự và chức hàm để biến họ thành hạng trí thức nô dịch phụ họa cho những đường lối chính sách sai lầm của mình.      
     Nói về mối quan hệ giữa tầng lớp trí thức với giới cầm quyền, người ta thường nhắc đến câu nói rất nổi tiếng nầy của nhà chính trị sáng lập ra nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, đã phát biểu thẳng thừng trong một bài nói chuyện về đường lối văn nghệ vô sản ở Diên An năm 1942, đại khái : “Trí thức nếu không lao động thì chỉ đáng là một cục phân”. Câu nói nầy của Mao Trạch Đông gây sốc khá mạnh, có lẽ cũng từng làm tổn thương và mích lòng cho không ít người, nhất là đối với những người tự cảm thấy dường như mình đích thị là đối tượng đang bị nhà chính trị đầy quyền lực kia xem thường.      Mao dám miệt thị trí thức có lẽ vì trong thâm tâm cho rằng trí thức là kẻ trói gà không chặt, nhút nhát, và do cái gì cũng ham muốn như vừa muốn tiếng tốt trong sạch vừa muốn được cận kề quyền lực và sự giàu sang nên lập trường không vững, thường thiếu quyết đoán và không dám lăn xả hành động quyết liệt cho một mục tiêu lý tưởng nào đó; nếu anh ta bất mãn chính quyền đương đại mà có âm mưu “tạo phản” thì cũng chẳng làm nên cơm cháo gì (“tú tài tạo phản tam niên bất thành”)...
     Nhưng không phải chỉ có Mao, bậc tổ sư về chính trị của cả ông lẫn Tần Thủy Hoàng là nhà triết học-chính trị học Hàn Phi Tử  (281-233 TCN) cũng đã từng mạt sát trí thức. Cách nay trên hai ngàn năm, khi viết thiên “Ngũ đố” để kết tội năm loại mọt (ngũ đố) chuyên đục khoét và làm băng hoại xã hội, Hàn Phi đã đưa thành phần trí thức lên đầu sổ (trong nguyên văn ông dùng chữ “học giả”): “Các học giả chỉ biết nịnh hót xưng tụng đạo của tiên vương (các vua đời trước), mượn tiếng là trọng nhân nghĩa, trau chuốt dung mạo và y phục lời ăn tiếng nói để làm loạn pháp độ đương thời, làm mê hoặc lòng vua chúa…; bọn thị thần nịnh bợ, tích tụ tài sản, ăn hối lộ, mượn cái thế của nhà cầm quyền để chạy chọt xin xỏ cho những người mình đã nhận hối lộ… Năm hạng người đó là mối mọt của nước, bậc vua chúa không diệt trừ họ thì trong thiên hạ có quốc gia bị tàn phá suy vong, có triều đại bị tiêu diệt, cũng không có gì lạ!” (...Nhân chủ bất trừ thử ngũ đố chi dân, tắc hải nội tuy hữu phá vong chi quốc, tước diệt chi triều, diệc vật quái hĩ!).

     Một học giả-nhà văn-nhà cải cách kinh tế-chính trị nổi tiếng của Trung Quốc thời Tống là tể tướng Vương An Thạch (1021-1086) cũng không vui gì khi nhắc tới những người trí thức cùng thời với mình, trong bức thư ông trả lời Tư Mã Quang (1019-1086) về việc họ Tư Mã ngăn cản cuộc cải cách bằng “tân pháp” của ông: “Kẻ sĩ đại phu đa số không lo gì đến quốc sự, chỉ mị dân, chiều theo thị hiếu của số đông, cho như vậy là tốt...”.
     Theo truyền thống của Trung Quốc và Việt Nam từ mấy mươi thế kỷ, qua phương thức tuyển chọn nhân tài hầu như cố định bằng con đường khoa cử, giới trí thức nho sĩ với tư cách văn nhân thi sĩ kiêm quan lại xuất thân bình dân hay quý tộc luôn đứng ở trong hoặc bên cạnh nhà cầm quyền, giúp nhà cầm quyền trị dân, bù lại họ cũng được hưởng một số đặc quyền đặc lợi hoặc danh dự của triều đại mình phục vụ. Nhưng một số trong họ vẫn không thiếu những ông quan thanh liêm đầy lý tưởng chọn đứng về phía những người dân thấp cổ bé miệng, như Bạch Cư Dị, Liễu Tông Nguyên (thời Đường), Tô Thức (thời Tống), Lưu Cơ (thời Minh), Lương Khải Siêu, Hồ Thích (thời Thanh mạt)…, luôn dùng tài thơ văn của mình để phê bình gay gắt chính sự đương thời. Hoặc ít nhất, nếu không gay gắt thì cũng ôn hòa nhân ái như Phạm Trọng Yêm (989 - 1052) thời Bắc Tống, ở ngôi cao trên miếu đường luôn phải nghĩ đến dân, lo trước thiên hạ vui sau thiên hạ, gọi là “tiên ưu hậu lạc” (nói trong bài “Nhạc Dương lâu ký”). Ở Việt Nam thời phong kiến, không thiếu những phần tử trí thức nhà nho trung thực như Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn Thượng Hiền, Trần Quý Cáp… Một số người thiếu bản lĩnh/ điều kiện đấu tranh chống lại nhà cầm quyền thối nát, đã từ chối không ra làm quan hoặc treo ấn từ quan khi tự cảm thấy mình trở nên vô dụng, bất lực trước thời cuộc.
     Còn trong thời cận hiện đại, theo nhận xét của các nhà nghiên cứu, cả ở Trung Quốc và Việt Nam, do các điều kiện mới về lịch sử, chỉ từ đầu thế kỷ 20 mới có một bộ phận độc lập nhưng chưa thật mạnh của thành phần trí thức tách ra khỏi hệ thống cầm quyền, đó là một số nhà văn, nhà báo, nhà giáo, nghị viên hội đồng các tỉnh thành, dân biểu quốc hội..., nhưng tình trạng nầy diễn ra trong giai đoạn ngắn ngủi, ở Trung Quốc chỉ đến năm 1949, còn ở Việt Nam thì có thể tính đến hai mốc lịch sử 1954 và 1975 tùy theo miền.
     Ở Nga, giới trí thức hình thành sớm hơn. Họ đã có một khoảng thời gian dài đến vài ba thế kỷ được hít thở không khí tự do và có được vai trò cùng tiếng nói ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển của nền văn hóa-khoa học của đất nước, nhưng sang đến thời kỳ chính quyền Xô-viết (1917) thì nền văn hóa Nga lại bắt đầu có những chuyển hướng phức tạp mà nét đặc trưng là sự thao túng của hình thái văn hóa-xã hội cực quyền cùng với bệnh giáo điều, kết quả là, theo sự ghi nhận của Từ điển bách khoa văn hóa học (Viện nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật, Hà Nội, 2002) thì “Trong suốt thời gian tồn tại của Liên bang Xô-viết, giới trí thức Nga luôn là đối tượng của các hình thức đàn áp liên tục thay đổi, nhưng tất cả đều nhằm một mục tiêu: hủy diệt tính độc lập tinh thần và bản chất riêng của giới trí thức Nga, biến họ thành kẻ phục vụ cho huyền thoại về hệ tư tưởng...”.
     Căn cứ trên kinh nghiệm thực tế chung của lịch sử các xã hội có hoàn cảnh tương tự, người ta thấy phần tử trí thức tùy theo trường hợp có khi đứng trong có khi đứng ngoài chính quyền, nhưng dù trong hay ngoài, nếu là người trí thức chân chính có lương tâm trong sáng thì họ vẫn luôn ráng giữ thái độ trung thực, độc lập hoặc tương đối độc lập về chính kiến đối với các nhà đương cuộc, để có thể mạnh dạn đặt vấn đề phê phán trước các hiện tình còn chưa tốt của xã hội mà họ đại biểu cho nhân dân có quyền đòi hỏi phải cải cách. Điều nầy có nghĩa họ sẽ có trách nhiệm chung về sự an nguy của dân chúng, và không vì sự thuận tiện của cuộc sống bản thân mà sẵn sàng phụ họa cho những điều sai trái đi ngược lại với quyền lợi của những người cùng khổ. Họ phải đấu tranh bằng cách nầy hay cách khác bất chấp cường quyền chống lại mọi hình thức ma mị độc tài nếu có, để bảo vệ dân chủ, duy trì các giá trị nhân văn, và trong khi làm như vậy, họ tâm niệm lợi ích của nhân dân là luật pháp tối thượng không một quyền lực hay siêu quyền lực nào có thể đứng trên được. Nếu vì lý do nào không thể thực hiện đúng hoài bão thì những người trí thức chân chính cũng không thể cam chịu ô danh trở thành đồng lõa tích cực cho những chính sách sai lầm nhờ hưởng được lợi lộc từ cơ chế hiện hành của xã hội. Do vậy, cho dù thật sự xứng đáng về tài năng học thuật, người trí thức chân chính sống trong các chế độ độc tài thối nát sẽ chẳng bao giờ cảm thấy hứng thú khi được nhà cầm quyền gợi ý bảo họ viết đơn xin để nhận các loại danh hiệu, huân chương hay giải thưởng nầy khác…
     Bàn về mối quan hệ giữa trí thức với chính quyền, có quan niệm cho rằng  người trí thức phải đứng ngoài chính quyền mới giữ được thái độ độc lập. Điều nầy đúng nhưng phải còn tùy, và thường không sát với thực tế cuộc sống, như chúng ta có thể thấy qua một số dẫn chứng trên kia về các mô hình  tồn tại thông thường của phần tử trí thức trong xã hội xưa và nay với chính quyền ở các điều kiện lịch sử cụ thể khác nhau. Vấn đề chỉ phân biệt ở chỗ lương tâm và trách nhiệm của người trí thức chứ ít tùy thuộc vào chỗ họ có hưởng bổng lộc ít nhiều của nhà nước hay không, mặc dù chính sự tùy thuộc nầy thường phải trả giá rất đắt nếu không muốn bị rơi vào cái thế trên đe dưới búa, tiến thối lưỡng nan. Trên thực tế, chỉ một số rất ít người giữ được chỗ đứng tương đối độc lập, và trong điều kiện may mắn đặc biệt nầy họ mới có thể hưởng được cái quyền tự do nói lên một cách trung thực và thẳng thắn nguyện vọng chính đáng của đại đa số quần chúng, trong tinh thần chỉ vì quốc gia mà xây dựng chứ không một chút ý tưởng ganh ghét, đả kích hay căm thù cá nhân đối với bất kỳ người nào, cho dù đó có thể là một kẻ độc phu tham lam vô đạo.
     Tuy nhiên, trong đa số trường hợp, người trí thức cũng dễ bị chán nản thất vọng trước tình trạng xã hội băng hoại thối nát khó cứu chữa mà tiếng nói phê bình của họ thường trở nên lạc lõng một cách vô vọng trong sự lơ là của các nhà chính trị cầm quyền ngoan cố. Trong trường hợp nầy, một số trí thức đành buông tay “quy ẩn” dưới hình thức im lặng, theo kiểu giữ gìn tiết tháo, ôm lấy cái tâm sự  của nhà nho xưa, “thế sự thăng trầm quân mạc vấn” (lời Cao Bá Quát: việc đời chìm nổi hỏi tới mà làm gì), hoặc “cùng tắc độc thiện kỳ thân” (lời trong Luận ngữ: lúc bế tắc thì chỉ lo trau giồi nhân cách làm trong sạch cho riêng mình). Một số khác biết rõ tình thế lực bất tòng tâm nhưng không đành im lặng trước những nỗi thống khổ, bức xúc hằng ngày trông thấy của đồng bào đồng loại, “cây muốn lặng mà gió chẳng dừng”, nên họ vẫn tiếp tục thỉnh thoảng lên tiếng trên các phương tiện truyền thông đa dạng, nhưng không phải để can ngăn khuyên giải thuyết phục chính quyền nữa, mà chỉ để gieo mầm ý thức cho những người đồng thời, đặc biệt cho thế hệ trẻ, với hi vọng lời nói, ý kiến, tư tưởng mình gieo ra như những hạt phấn thông vàng bay đi muôn phương nhưng có thể đậu lại thành trái ngon quả đẹp hay không là “tùy lòng gió” (chữ dùng của nhà thơ Xuân Diệu trong Phấn thông vàng), trong quá trình thúc đẩy lượng biến thành chất, sẽ có lúc tích tụ thành sức mạnh, không hẳn cho ngay bây giờ mà còn cho mai sau các thế hệ con cháu.   

Cái tình cảnh lưỡng nan như vừa nêu trên của cả hai loại thái độ ứng xử, người đời thường gọi là thân phận của người trí thức, hạng “hủ nho lo việc đời”, ví như thân phận con tằm nhả tơ không dứt, trong bài thơ “Vô đề” của Lý Thương Ẩn (813-858) thời Đường: “Xuân tàm đáo tử ti phương tận/ Lạp chúc thành hôi lệ thủy can” (Thác rồi tằm mới dứt tơ/ Tàn rồi ngọn nến mới khô lệ sầu).
                                                                                                                                1.2017
         
 Tác giả gởi cho viet-studies ngày 19-1-17
http://www.viet-studies.com/kinhte/TranVanChanh_TrachNhiemTriThuc.htm


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chuyện chỉ có ở Mỹ:

John Kerry biểu tình chống Donald Trump (video)



Bức ảnh cựu ngoại trưởng Mỹ John Kerry tham gia biểu tình hôm 21/01/2017 được chia sẻ rất nhiều trên mạng.

Vừa trở thành thường dân, ngay hôm sau (21/01/2017) ngoại trưởng Mỹ John Kerry đã xuống đường tham gia cuộc biểu tình khổng lồ « Women’s March » phản đối Donald Trump. 



Sự xuất hiện của ông và chú chó Ben trung thành trong đám đông biểu tình gây rất nhiều chú ý, nhiều người đã chụp ảnh, quay phim đăng lên mạng.


Người biểu tình xin chụp ảnh với ông John Kerry, người mới hôm qua còn là ngoại trưởng.
John Kerry rời bộ Ngoại giao hôm thứ Năm 19/1 sau nhiệm kỳ bốn năm, nhưng lại không bàn giao được cho người kế nhiệm là Rex Tillerson, cựu tổng giám đốc ExxonMobil vì Thượng viện Mỹ chưa thông qua. 

"Thank you, John!"
Ông đã ngỏ lời từ biệt trước báo chí và hàng ngàn nhân viên của bộ (bên cạnh cũng có chú chó Ben). John Kerry cho biết rất buồn phải ra đi, nhưng ông cũng bày tỏ hy vọng về sự kế tục của cơ quan ngoại giao lớn nhất thế giới với 70.000 nhân viên.

Sau 50 năm phục vụ nước Mỹ, từ một người lính trong chiến tranh Việt Nam, thượng nghị sĩ, ứng cử viên tổng thống rồi ngoại trưởng, John Kerry có dự định gì sau đó hay không ? Ông không nói, nhưng dù sao vị ngoại trưởng (vừa mới trở thành cựu) ra đi với một kỷ lục : 128 chuyến công du trong bốn năm, thăm 91 quốc gia, vượt 2,2 triệu kilomet trong 3.000 giờ trên chiếc Boeing 757 cũ của Air Force.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chủ Nhật, 22 tháng 1, 2017

Giáo dục Việt Nam thời kỳ thuộc địa, qua tài liệu và tư liệu lưu trữ( 1858-1945)


ĐÀO THỊ DIẾN
(Trích một phần nhỏ của sách để giới thiệu với bạn đọc)
LỜI DẪN
Từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay, giáo dục phổ thông ở Việt Nam đã trải qua 3 lần cải cách[1] và 3 lần đổi mới[2]. Gần đây nhất, vào tháng 8-2015, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã công bố dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể trong Chương trình giáo dục phổ thông mới ở Việt Nam, trong đó quy định những vấn đề chung của giáo dục phổ thông, nhằm mục tiêu “giúp học sinh phát triển khả năng vốn có của bản thân, hình thành tính cách và thói quen; phát triển hài hoà về thể chất và tinh thần; trở thành người học tích cực, tự tin, có ý thức lựa chọn nghề nghiệp và học tập suốt đời; có những phẩm chất tốt đẹp và các năng lực cần thiết để trở thành người công dân có trách nhiệm, người lao động cần cù, có tri thức và sáng tạo”[3].
Nếu nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục phổ thông là tạo ra những công dân tốt cho xã hội, cho đất nước, thì nhiệm vụ chính của giáo dục đại học là cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng cho nền sản xuất để tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội. Trải qua hai cuộc chiến tranh chống Pháp và Mĩ, giáo dục Việt Nam đã có những đóng góp rất lớn cho cuộc đấu tranh giải phóng và xây dựng tổ quốc, nhất là trong quá trình phục hồi và chấn hưng nền kinh tế đất nước.
Tuy nhiên, đã có một thời gian dài, giáo dục Việt Nam “bị tụt hậu khá xa so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Sự phát triển của giáo dục chưa tương xứng với sự phát triển của nền kinh tế”[4]. Thậm chí, “giáo dục Việt Nam vẫn còn bộc lộ nhiều yếu kém: hệ thống giáo dục thiếu đồng bộ, thiếu tính liên thông, chưa tạo điều kiện học tập suốt đời cho người dân”[5].
Trong bối cảnh của xã hội ngày nay, khi thời đại cách mạng khoa học công nghệ đang ngày càng phát triển với xu hướng toàn cầu hóa và phát triển nền kinh tế tri thức, thì giáo dục đại học cần phải có vai trò chủ đạo trong toàn bộ hệ thống giáo dục của một quốc gia. Điều đó giải thích vì sao vấn đề đổi mới hệ thống giáo dục luôn được đề cập đến trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong các hội nghị, hội thảo về giáo dục, đào tạo, trên diễn đàn quốc hội… Một số nhà khoa học và nhà hoạt động xã hội đã bày tỏ mong muốn một cuộc “cải cách thực sự và toàn diện về giáo dục” trong những năm tới.
Trước vấn đề cải cách giáo dục đang trở thành nhu cầu tất yếu của xã hội, xuất phát từ mục đích cung cấp tài liệu gốc, góp phần phục vụ cho việc nghiên cứu hoạch định đường lối giáo dục mới của Đảng và Nhà nước, Trung tâm Lưu trữ quốc gia I đã tiến hành sưu tầm, nghiên cứu tài liệu và biên soạn cuốn “Giáo dục Việt Nam thời kì thuộc địa qua tài liệu và tư liệu lưu trữ (1858-1945)”.
Nội dung cuốn sách rất phong phú, bao gồm cả hệ thống văn bản pháp quy của chính quyền thuộc địa và những hồ sơ lưu trữ có liên quan đến nền giáo dục các cấp (đại học, phổ thông và các trường dạy nghề) ở Việt Nam từ 1858 đến 1945. Những tài liệu này hiện nay còn đang được lưu lại tương đối hệ thống tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia I.
Cuốn “Giáo dục Việt Nam thời kì thuộc địa qua tài liệu và tư liệu lưu trữ (1858-1945)” cho thấy, trong suốt thời kì thống trị Đông Dương, chính quyền thuộc địa Pháp đã tiến hành hai cuộc cải cách giáo dục, trong đó mỗi cuộc cải cách được gắn liền với tên tuổi của một viên Toàn quyền, đó là Paul Beau[6] và Albert Sarraut[7].
Quá trình hình thành và phát triển của nền giáo dục ở Việt Nam thời kì từ 1858 đến 1945 có thể chia làm 3 giai đoạn, mỗi giai đoạn được gắn với một cuộc cải cách giáo dục của chính quyền thuộc địa.
1. Giai đoạn trước 1906
Có thể coi giai đoạn này là giai đoạn “thử nghiệm” về giáo dục, mang tính chất địa phương của chính quyền thuộc địa bởi những văn bản được ban hành chỉ áp dụng ở Nam Kì nơi mà người Pháp bắt đầu quá trình xâm lược Đông Dương sớm nhất và là nơi mà họ xem như “thuộc địa” của mình[8].
Nửa cuối thế kỉ XIX là thời điểm xuất hiện những ngôi trường Pháp - Việt đầu tiên ở Nam Kì, trong số đó trước hết phải kể đến hệ thống trường thông ngôn, nơi mà người Pháp đào tạo ra một đội ngũ người bản xứ làm việc trong chính quyền thuộc địa. Những trường này được thành lập theo Lệnh số 60 ngày 16-7-1864 của Chuẩn Đô đốc - Thống đốc Nam Kì De La Grandière, ngay sau khi chiếm được ba tỉnh miền Đông Nam Bộ và biến ba tỉnh này thành thuộc địa của Pháp. Tại các trường này, mỗi lớp học đều do một thông ngôn phụ trách. Sau 2 tháng, Thanh tra công việc nội chính bản xứ tiến hành thanh tra các trường tiểu học nhằm đánh giá kết quả đạt được và đề cử những giáo viên xứng đáng nhận phần thưởng theo quy định. Các trường theo mô hình này đã được mở tại các làng lân cận, do những người xin phép mở trường chứng minh được họ có đủ kiến thức và năng lực điều hành.
Trong giai đoạn này, chính quyền thuộc địa đã ban hành một số văn bản về giáo dục trong đó có hai văn bản quan trọng là Quyết định ngày 17-11-1874 của Chuẩn đô đốc - quyền Thống đốc Nam Kì đặt quy chế cho ngành học chính tại Nam Kì, chia nền giáo dục làm hai bậc là tiểu học và trung học[9] và Nghị định số 55 ngày 17-3-1879 của Thống đốc Nam Kì về tổ chức Sở Học chính Nam Kì, chia hệ thống giáo dục làm ba cấp I, II, III[10]. Cả hai văn bản này đều quy định, tại các trường thuộc địa, chương trình giáo dục công tại Nam Kì hoàn toàn miễn phí và mang tính tự nguyện. Trường tư chỉ được mở khi chính quyền cho phép và bất cứ người nào xin giấy phép mở trường tư đều phải đáp ứng đủ các điều kiện về đạo đức cũng như về năng lực theo quy định và phải chịu sự giám sát của chính quyền. Tuy nhiên, vấn đề cơ bản trong việc mở các trường công và tư là chương trình giảng dạy thì đều không thấy quy định trong cả hai văn bản nói trên. Có thể vì coi Nam Kì là thuộc địa nên người Pháp đã áp dụng tại Nam Kì những quy chuẩn về giáo dục của nước Pháp.
Ở Bắc Kì, từ năm 1886, ngay khi chính quyền thuộc địa tiến hành “bình định” xứ này thì nền giáo dục ở đây đã có một số thay đổi đáng chú ý, kể từ khi Paul Bert giữ chức Tổng Trú sứ Trung - Bắc Kì. Vốn là một nhà giáo dục nổi tiếng của Pháp nên ngay sau khi đặt chân tới Hà Nội, cùng với lời tuyên bố: “Người Pháp đến đây là để nâng cao đời sống nông nghiệp, công nghiệp, kinh tế và còn nâng cao đời sống tinh thần bằng giáo dục”[11], Paul Bert đã tự tay đôn đốc việc xây dựng trường sở và ra những chỉ thị cụ thể để chỉ đạo công tác giáo dục.
Văn bản quan trọng nhất của Paul Bert về lĩnh vực giáo dục chính là Quyết định ngày 12-3-1885 về tổ chức chương trình giáo dục bậc tiểu học với chương trình giảng dạy bằng tiếng Pháp tại các trường tiểu học thuộc Chính quyền Bảo hộ. Mặc dù cũng nhằm mục đích đào tạo ra một đội ngũ người bản xứ làm việc trong chính quyền thuộc địa như các văn bản khác đã được chính quyền thuộc địa ban hành ở Nam Kì, song Quyết định ngày 12-3-1885 của Paul Bert có tính thực dụng hơn. Vì không tán thành việc bắt người Việt bỏ hẳn chữ Hán để học chữ Pháp và chữ Quốc ngữ như các Đô đốc đã làm ở Nam Kì nên Paul Bert vẫn cho học sinh học chữ Hán. Điều này thể hiện trong quy định về chương trình giảng dạy của các trường tiểu học: “Việc giảng dạy ngôn ngữ bản xứ là chữ Quốc ngữ và chữ Hán được thực hiện bên cạnh các buổi học tiếng Pháp”. Ngoài ra, Quyết định ngày 12-3-1885 của Paul Bert còn quy định rõ chức trách của những người trực tiếp thực thi văn bản; khung nhân sự ở các trường tiểu học; trách nhiệm của Hiệu trưởng; việc thanh kiểm tra các trường học; lương, hình thức thăng trật, thứ bậc nhân sự và các hình thức kỉ luật đối với các giáo sư người Pháp biệt phái làm trong ngành học chính cũng như đối với các giáo sư và giáo viên tiểu học người bản xứ…
Quyết định ngày 12-3-1885 chứng tỏ Paul Bert đã dày công chuẩn bị một nền móng vững chắc cho “sự nghiệp giáo dục” của mình nhưng tiếc thay, sau cái chết đột ngột của Paul Bert vào cuối năm 1886, tình hình giáo dục ở Bắc Kì ít có sự thay đổi, phần vì không có ai tiếp tục sự nghiệp của Paul Bert, phần vì Chính quyền thuộc địa còn phải lo tiến hành các cuộc hành quân “bình định” Bắc Kì. Tuy nhiên, Quyết định ngày 12-3-1885 vẫn có hiệu lực trong một thời gian dài sau đó và vẫn mang lại những kết quả đáng khích lệ về giáo dục. 5 năm sau ngày Paul Bert mất, không kể một trường tiểu học dành cho người bản xứ với 230 học sinh và 6 giáo viên người Việt đã tồn tại ở Hà Nội từ trước khi Paul Bert tới, Hà Nội đã có thêm 7 trường Pháp - Việt được thành lập[12].
2. Giai đoạn 1906 - 1916
Năm 1906, Toàn quyền Paul Beau cho thực hiện cuộc cải cách giáo dục lần thứ nhất theo mô hình giáo dục của Pháp (1906 - 1916). Cuộc cải cách này được thể hiện ở việc ban hành và thực thi các nghị định của chính quyền thuộc địa.
Bước đột phá đầu tiên trong lĩnh vực giáo dục của Toàn quyền Paul Beau là việc ban hành Nghị định thứ nhất vào ngày 8-3-1906[13] về thành lập Hội đồng Hoàn thiện nền giáo dục bản xứ (Conseil de Perfectionnement de l’Enseignement indigène) với nhiệm vụ nghiên cứu các vấn đề cải tổ nền giáo dục cũ, cải cách các kì thi Hương ở Bắc và Trung Kì.
Nghị định này được hoàn thiện bởi 4 nghị định ban hành cùng ngày 16-5-1906 về cải cách nền học chính bản xứ tại Đông Dương[14] trong đó có Nghị định mở cuộc thi biên soạn sách giáo khoa cho các trường học bản xứ tại Đông Dương và thành lập tại mỗi xứ ở Đông Dương một Hội đồng Hoàn thiện nền giáo dục bản xứ với nhiệm vụ:
“- Nghiên cứu mọi vấn đề liên quan đến thiết lập hoặc cải tổ nền giáo dục bản xứ tại Đông Dương;
- Hợp tác với các nhà xuất bản [trong việc xuất bản sách giáo khoa] sau khi được chính quyền cho phép;
- Nghiên cứu cách thức tuyển dụng và đào tạo giáo viên bản xứ;
- Nghiên cứu, thu thập, bảo quản, và nếu cần, cho tái bản những tác phẩm cổ đại, cận đại về văn học, triết học, lịch sử”.
Theo tinh thần của Nghị định ngày 16-5-1906, mỗi xứ sẽ có một Hội đồng với các tiêu chí hoàn thiện về giáo dục riêng đặt ra cho xứ mình.
Ở Bắc Kì có Nghị định số 1551bis ngày 16-11-1906 của Thống sứ Bắc Kì quy định hệ giáo dục bản xứ tại Bắc Kì gồm 3 bậc: ấu học (dành cho trẻ từ 6 đến 12 tuổi), tiểu học (dành cho những người đã có bằng ấu học với độ tuổi tối đa là 27) và trung học[15], trong đó chương trình giáo dục công ở bậc ấu học do các xã đảm nhiệm còn bậc tiểu học và trung học do Nhà nước phụ trách. Nghị định số 1551bis ngày 16-11-1906 có những điều khoản quy định rõ về chương trình giảng dạy cụ thể cho các bậc học nói trên.
Ở bậc tiểu học, chương trình mang tính bắt buộc đối với các trường công được mở tại các huyện, phủ của mỗi tỉnh, gồm hai phần: dạy chữ Hán và dạy chữ Quốc ngữ (các lớp tiếng Pháp được khuyến khích tổ chức dưới mọi hình thức song không mang tính bắt buộc). Tại các trường công của mỗi tỉnh, giáo dục trung học là chương trình bắt buộc, gồm ba phần: dạy chữ Hán, chữ Quốc ngữ và tiếng Pháp.
Ở Trung Kì, Toàn quyền Đông Dương đã kí cho ban hành cùng ngày 30-10-1906 ba Nghị định về tổ chức Sở Học chính, gồm Nghị định quy định thành phần đội ngũ giáo viên Pháp và bản xứ thuộc Sở Học chính Trung Kì; Nghị định về việc đưa chương trình giáo dục Pháp vào giảng dạy tại các trường học ở Trung Kì và Nghị định quy định về các kì thi diễn ra tại Trung Kì[16].
Theo Nghị định thứ hai, các trường Pháp - Việt dành cho dân bản xứ được thành lập tại mỗi tỉnh lị ở Trung Kì, toàn bộ kinh phí do chính quyền Bảo hộ chu cấp với chương trình giảng dạy gồm các môn giáo dục đạo đức; tập đọc; tập viết; số học; khái niệm về hình học thực hành và đo đạc; kế toán; tiếng Pháp; chữ Quốc ngữ; khái niệm về lịch sử; địa lí Đông Dương; khái niệm về khoa học vật lí và khoa học tự nhiên; ứng dụng khoa học trong nông nghiệp; vệ sinh; mĩ nghệ; chữ Hán…
Một nhiệm vụ quan trọng khác của Hội đồng Hoàn thiện nền giáo dục bản xứ là “nghiên cứu những điều kiện để thành lập và hoạt động của một trường đại học gồm các môn giảng dạy ở bậc đại học dành cho người bản xứ và người châu Á”[17]. Theo đề nghị của Hội đồng này, ngày 16-5-1906, Toàn quyền Beau đã kí Nghị định số 1514a về việc thành lập Đại học Đông Dương với nhiệm vụ “thông qua tiếng Pháp để phổ biến kiến thức khoa học và phương pháp của người Âu tại Viễn Đông”[18].
Về cơ cấu tổ chức, Đại học Đông Dương gồm có 5 trường thành viên đều gọi chung là trường cao đẳng: Trường Luật và Pháp chính (Ecole supérieure de Droit et d’Administration); Trường Khoa học thực hành (Ecole supérieure des Sciences appliquées); Trường Y khoa Đông Dương (Ecole de Médecine de l’Indochine); Trường Xây dựng dân dụng (Ecole supérieure du Génie Civil); Trường Văn khoa (Ecole supérieure des Lettres). Những trường này có trụ sở tại Hà Nội hoặc Sài Gòn. Một số trường có phạm vi hoạt động tại cả hai thành phố.
Về mặt quản lí, Đại học Đông Dương đặt dưới quyền chỉ đạo trực tiếp của Toàn quyền, do một Hội đồng quản trị điều hành với thành phần bao gồm: Giám đốc Nha Học chính Đông Dương làm Chủ tịch, Giám đốc các trung tâm khoa học tại Đông Dương, hiệu trưởng các trường chuyên ngành được sáp nhập vào Đại học Đông Dương và một số giảng viên là đại diện của nhiều đơn vị, trường học. Hàng năm, đội ngũ giảng viên này do Toàn quyền bổ dụng. Chi phí cho hoạt động của các lớp và của trường do ngân sách chính quyền liên bang và ngân sách địa phương chi trả.
Nghị định số 1514a trên đây là một văn bản pháp lí quan trọng, đánh dấu sự ra đời chính thức của Đại học Đông Dương với tư cách là một trung tâm giáo dục đại học theo mô hình hiện đại nhất lúc đó, có kết hợp giữa đào tạo với nghiên cứu khoa học. Tính chất đa ngành và liên ngành cùng cơ chế liên thông trong đào tạo và nghiên cứu khoa học giữa các trường thành viên bước đầu đã được xác định.
Như vậy, theo tinh thần của cuộc cải cách giáo dục năm 1906 do Toàn quyền Paul Beau khởi xướng, giáo dục bậc tiểu học trước đây vốn phó mặc cho thôn xã hay tư nhân, nay trở thành của nhà nước với chương trình học sửa đổi, thêm vào những nội dung của khoa học phương tây và những tri thức thực hành thông dụng nhất...
Với cuộc cải cách giáo dục lần thứ nhất, việc giảng dạy hoàn toàn bằng chữ Hán đã bị xóa bỏ, thay vào đó là phương pháp giảng dạy mới: ở cấp một, học sinh học cả chữ Hán và chữ Quốc ngữ; lên cấp hai chỉ còn lại chữ Hán, chữ Quốc ngữ và một phần tiếng Pháp không bắt buộc nhưng ở cấp ba thì chữ Hán, chữ Quốc ngữ và tiếng Pháp đều bắt buộc như nhau. Tuy vậy, cuộc cải cách này hầu như chỉ được thực hiện ở các xứ Bảo hộ là Bắc Kì và Trung Kì.
3. Giai đoạn 1917-1945
Bước khởi động đầu tiên cho chương trình cải cách giáo dục mà Albert Sarraut tiến hành ở Đông Dương trong giai đoạn này là ban hành Nghị định số 904 ngày 6-4-1917 quy định những loại giáo trình được đưa vào giảng dạy tại các trường học ở Đông Dương[19]. Theo Nghị định này, tất cả các ấn phẩm như sách, bản đồ… (trong đó bao gồm cả các ấn phẩm định kì dành cho giáo viên) dùng trong các trường công ở Đông Dương bắt buộc phải có tên trong danh sách được Toàn quyền phê chuẩn. Cũng theo Nghị định số 904 ngày 6-4-1917, việc đăng kí các ấn phẩm sử dụng tại khối trường công lập đều phải được ghi trong đơn đề nghị do chính tác giả hoặc nhà xuất bản hay một thành viên của ngành Học chính gửi tới Chánh Sở Học chính cấp kì, đồng thời phải nêu rõ lợi ích của việc sử dụng những ấn phẩm đó.
Các tác giả, nhà xuất bản, hiệu sách muốn đăng kí tên ấn phẩm vào danh sách được Toàn quyền phê chuẩn phải nộp 2 bản lưu chiểu: một tại Ban Chỉ đạo các công việc chính trị và Thanh tra - Cố vấn Học chính của Phủ Toàn quyền và một tại Văn phòng và Sở Học chính cấp kì, nơi có nhu cầu sử dụng ấn phẩm. Danh sách ấn phẩm được chọn do Toàn quyền quyết định và được đăng trên Công báo. Điều này đảm bảo tính thống nhất trong việc chỉ đạo và sử dụng những ấn phẩm nói chung và sách giáo khoa phục vụ chương trình giảng dạy nói riêng cho học sinh trong hệ thống các trường công dưới sự quản lí của Chính quyền thuộc địa, không phân biệt các xứ thuộc chế độ Bảo hộ hay chế độ thuộc địa như trong hai giai đoạn trước.
Chương trình cải cách giáo dục lần thứ hai chính thức được bắt đầu ngày 21-12-1917 bằng Nghị định ban hành bộ “Học chính tổng quy” (Règlement général de l’Instruction publique) của Toàn quyền Albert Sarraut với 7 chương, 558 điều[20], chia nền giáo dục công tại Đông Dương làm 2 hệ thống (giáo dục phổ thông và dạy nghề), trong đó giáo dục công tại các trường Pháp - Việt được chia thành 3 cấp:
+ Đệ nhất cấp tức hệ tiểu học (enseignement primaire), bao gồm các trường tiểu học toàn cấp (école primaire de plein exercice) và các trường sơ đẳng tiểu học (école primaire élémentaire).
+ Đệ nhị cấp tức hệ trung học (enseignement secondaire) gồm cao đẳng tiểu học, học trong 4 năm để thi lấy bằng cao đẳng tiểu học (bằng Thành chung hay Diplôme) và trung học, học trong 2 năm để thi lấy bằng Tú tài (Diplôme de bachelier).
Toàn bộ các trường tiểu học và trung học đều nằm trong hệ thống các trường Pháp - Việt, chương trình giảng dạy được quy định cụ thể trong bộ “Học chính tổng quy”. Việc miễn phí đối với các trường tiểu học công được quy định tại cuộc cải cách giáo dục năm 1906 vẫn được giữ nguyên.
Bên cạnh các trường tiểu học và trung học nằm trong hệ thống các trường Pháp - Việt còn có một số trường thuộc hệ thống trường Pháp, chủ yếu dành cho con em người Pháp sống tại thuộc địa và một số ít con em thuộc các gia đình thượng lưu người bản xứ.
Theo quy định của bộ “Học chính tổng quy”, các trường dạy nghề có tính chất chuyên nghiệp đã được thành lập từ giai đoạn trước nhằm đào tạo một đội ngũ công chức người bản xứ bậc thấp, đáp ứng nhu cầu của công cuộc xây dựng và khai thác thuộc địa của người Pháp như Trường Hậu bổ Hà Nội (Ecole d’Administration de Hanoï) thành lập năm 1897, Trường Dạy nghề Hà Nội (Ecole professionelle de Hanoï) do Phòng Thương mại Hà Nội lập ra vào năm 1898, Trường Công chính (Ecole des Travaux Publics) thành lập năm 1902 và Trường Y khoa Hà Nội (Ecole de Médecine de Hanoï) năm 1902... đều nằm trong hệ thống các trường dạy nghề hai cấp thuộc giáo dục phổ thông (đệ nhất cấp và đệ nhị cấp). Kinh phí hoạt động của các trường này do ngân sách địa phương hoặc ngân sách hàng tỉnh, thành phố hoặc hàng xã cấp, đặt dưới sự giám sát về phương diện hành chính của các chủ tỉnh. Thống đốc Nam Kì, các Khâm sứ và Thống sứ quyết định việc thành lập trường đệ nhất cấp và quy định chi tiết cách thức tổ chức của các trường cũng như việc tuyển giáo viên cho các trường, theo đề nghị của Thanh tra giáo dục nghề có thẩm quyền.
- Đệ tam cấp (hệ cao đẳng) gồm các trường cao đẳng đã được thành lập từ trước và các trường chuẩn bị được thành lập tại Đông Dương. Theo quy định của bộ “Học chính tổng quy”, Ban chỉ đạo Giáo dục bậc cao đẳng được thành lập với nhiệm vụ tập trung và giải quyết công việc hành chính của tất cả các trường thuộc Đại học Đông Dương, chuẩn bị việc thành lập, tổ chức chế độ làm việc và soạn thảo chương trình của các trường cao đẳng lần lượt được mở cho sinh viên người Pháp và người bản xứ tại Đông Dương. Bộ “Học chính tổng quy” cũng có một số quy định cụ thể: Trường Hậu bổ (Ecole d’Administration) ở Huế và Trường Sĩ hoạn (Ecole des Mandarins) ở Hà Nội là những trường chuyên đào tạo quan lại sẽ chấm dứt hoạt động ngay sau khi những học sinh nhập học trước ngày 01-11-1917 kết thúc khoá học; các trường này cũng sẽ không được tuyển mới kể từ ngày trên. Các lớp luật (Cours de Droit) thành lập theo Nghị định ngày 29-3-1910 cũng bị bãi bỏ; hai trường vẫn hoạt động bình thường là Trường Y khoa Đông Dương (Ecole de Médecine de l’Indochine) thành lập theo Nghị định ngày 29-12-1913) và Trường Thú y Đông Dương (Ecole Supérieure Vétérinaire de l’Indochine) thành lập theo Nghị định ngày 15-9-1917; Trường Công chính (Ecole des Travaux publics) được tổ chức lại theo Nghị định ngày 15-4-1913 thì được đặt dưới quyền giám sát trực tiếp của Ban chỉ đạo bậc cao đẳng…
Sau 10 năm thực hiện, chương trình giảng dạy tại các trường tiểu học Pháp - Việt được quy định trong bộ “Học chính tổng quy” đã có một vài sửa đổi. Những sửa đổi này được nêu trong hai Nghị định ngày 7-7-1927[21] và ngày 12-8-1935[22] của Toàn quyền Đông Dương. Năm 1938, tại Nghị định ngày 18-1-1938 của Toàn quyền Đông Dương[23], bậc giáo dục sơ học và trung học Đông Dương đã được tổ chức lại. Theo đó, chương trình học tại các trường được gọi là chương trình tiểu học bản xứ và tiểu học Pháp - Việt được đổi tên là sơ học yếu lược Đông Dương và bổ túc tiểu học Đông Dương. Chương trình mới có hiệu lực từ đầu năm học 1938 - 1939, được đính kèm theo bảng phân bổ chương trình hàng tuần có trong nội dung của Nghị định.
Ở bậc đại học, từ những quy định sơ lược trong bộ “Học chính tổng quy”, Đại học Đông Dương đã được hoàn thiện thêm về mặt cơ cấu, tổ chức và đội ngũ giáo viên, kể cả giáo viên người Pháp và người bản xứ. Điều đó được thể hiện trong Nghị định các ngày 25-8-1918, 13-12-1923, 17-10-1924, 8-5-1926, 02-7-1926, 19-10-1927, 26-4-1928, 04-11-1928, 31-7-1929 và 30-11-1930 của Toàn quyền Albert Sarraut, trong đó quan trọng nhất là Nghị định đầu tiên ngày 25-8-1918 ban hành Quy chế chung về giáo dục bậc đại học ở Đông Dương (Règlement général de l’Enseignement supérieur)[24]. Một số trường thành viên của Đại học Đông Dương đã được thành lập như Trường Cao đẳng Sư phạm (Ecole supérieure de Pédagogie) thành lập theo Nghị định ngày 15-10-1917 và được tổ chức lại theo Nghị định ngày 24-7-1932, Trường Khoa học thực hành (Ecole des Sciences appliquées) được thành lập theo Nghị định ngày 30-10-1922, Trường Cao đẳng Văn khoa với các giờ dạy và hội thảo dành cho công chúng (Ecole supérieure des Lettres - cours et conférences publics) được thành lập theo Nghị định ngày 26-7-1923, Trường Mĩ thuật Đông Dương (Ecole des Beaux-Arts de l’Indochine) được thành lập theo Nghị định ngày 17-10-1924 (năm 1938 được tổ chức lại thành Trường Mĩ thuật và Mĩ nghệ thực hành (Ecole des Beaux-Arts et des Arts appliqués)…
Rõ ràng là, mặc dù còn có những hạn chế nhất định song cuộc cải cách giáo dục của Albert Sarraut năm 1917 đã mang lại những thành quả đáng ghi nhận. Nhờ có cuộc cải cách này, toàn bộ nền giáo dục ở Đông Dương nói chung, Việt Nam nói riêng đã có những chuyển biến đáng kể. Trong xu thế chung của giáo dục Đông Dương lúc đó, sự phát triển của Đại học Đông Dương thực sự có một ý nghĩa to lớn, đặt cơ sở vững chắc cho những bước phát triển tiếp theo của toàn bộ hệ thống giáo dục bậc đại học ở Việt Nam.
Nội dung cuốn “Giáo dục Việt Nam thời kì thuộc địa qua tài liệu và tư liệu lưu trữ (1858-1945)” đã chứng tỏ, sau hai cuộc cải cách, nền giáo dục ba cấp ở Việt Nam đã căn bản hình thành. Hệ thống trường học, cấp học, lớp học được tổ chức một cách bài bản với hình thức dạy học tập trung. Học sinh học theo lớp có cùng độ tuổi, cùng đặc điểm tâm sinh lí, cùng một chương trình thống nhất. Chương trình đó được xây dựng với nội dung giáo dục toàn diện, không chỉ có khoa học xã hội mà cả khoa học tự nhiên, kĩ thuật, ngoại ngữ.
Những tài liệu trong cuốn “Giáo dục Việt Nam thời kì thuộc địa qua tài liệu và tư liệu lưu trữ (1858-1945)” còn cho thấy một điều đặc biệt, đó là chương trình học của học sinh tiểu học. Ngoài môn đạo đức phải học ngay từ lớp đồng ấu (7 tuổi), học sinh còn được học môn lịch sử ngay từ lớp dự bị (8 tuổi). Từ việc làm quen với môn lịch sử lần đầu tiên qua các truyện ngắn, giai thoại, tiểu sử trích từ lịch sử địa phương, các sự kiện lịch sử hoặc địa danh lịch sử trong vùng ở lớp dự bị đến việc ôn tập có phát triển những khái niệm đã học ở các lớp sơ đẳng, trung đẳng, học sinh còn được học về các xứ thuộc nước Nam (Nam Kì, Trung Kì, Bắc Kì) và các thời kì lịch sử cùng các nhân vật lịch sử như các vua triều Nguyễn; giai đoạn Trịnh - Nguyễn phân tranh; cuộc nổi dậy của quân Tây Sơn, vua Gia Long và các hậu duệ … Điều đó chứng tỏ rằng, ngay từ cấp tiểu học, học sinh đã được trang bị những kiến thức cơ sở về lịch sử đất nước, về lòng tự hào dân tộc…
Vì thế, mặc dù lên các lớp trên thuộc cấp trung học và sau này là đại học, được đào tạo trong các trường học của Pháp, chịu ảnh hưởng của nền văn hoá Pháp, học lịch sử nước Pháp nhiều hơn lịch sử nước Nam nhưng tầng lớp trí thức tân học ở Việt Nam lại có một nền tảng giáo dục truyền thống rất vững chắc. Từ đó, có thể rút ra kết luận: mặc dù những nỗ lực của người Pháp về giáo dục chủ yếu nhằm mục đích phục vụ công cuộc cai trị, tức là vì “Mẫu quốc” hơn là để “khai hóa văn minh” cho Việt Nam nhưng lại đem lại điều mà chính quyền thực dân không mong đợi. Đó là thông qua chính sách giáo dục của Pháp, người Việt đã tiếp thu những kiến thức mới của văn minh phương Tây một cách có chọn lọc và làm phong phú thêm nền văn hóa của dân tộc Việt Nam.
Với những thông tin xác thực, giàu tính khoa học, hi vọng cuốn “Giáo dục Việt Nam thời kì thuộc địa qua tài liệu và tư liệu lưu trữ (1858-1945)” của Trung tâm Lưu trữ quốc gia I sẽ góp phần tích cực vào công cuộc cải cách giáo dục của Đảng và Nhà nước; giúp các nhà quản lí về giáo dục trong việc “đổi mới chương trình, nội dung và phương pháp dạy” nhằm mục tiêu xây dựng một nền “giáo dục phổ thông từng bước đạt chuẩn mực và đi vào kỉ cương, nền nếp; giáo dục đại học hướng tới chất lượng và sản phẩm đầu ra đáp ứng tốt nhu cầu thị trường lao động”[25] trong thời đại hiện nay, khi Việt Nam đang bước vào quá trình hội nhập khu vực và quốc tế với xu thế toàn cầu hóa.
TS. Đào Thị Diến

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Mỹ rút khỏi TPP và nhân quyền ở VN



Quốc Phương
BBC - Việc Hoa Kỳ rút ra khỏi Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) có những hệ quả trực tiếp tới tình hình dân chủ, nhân quyền và cải cách thể chế hiện nay và trong tương lai của Việt Nam, các ý kiến quan sát, bình luận từ Việt Nam và Bắc Mỹ nói với BBC hôm 22/01.

Trao đổi với BBC Việt ngữ từ Sài Gòn hôm Chủ nhật, chỉ hai ngày sau khi chính quyền của tân Tổng thống Donald Trump tuyên bố rút Mỹ ra khỏi Hiệp định, Tiến sỹ Phạm Chí Dũng, Chủ tịch Hội nhà báo Độc lập Việt Nam nói:

"Không có TPP, thứ nhất là công đoàn độc lập sẽ không được thành lập, không được thí điểm thành lập, thứ hai không chấp nhận, không thừa nhận xã hội dân sự, thứ ba là sẽ không có thả tù nhân lương tâm, nếu không vì một yêu cầu đặc biệt, chẳng hạn như yêu cầu can thiệp của Tổng thống Francois Holland của Pháp trong chuyến đi (Việt Nam) năm 2016.

"Và thứ tư là sẽ 'đàn áp' nhiều hơn. Chúng ta biết là mới chỉ có ngày hôm qua, (công an) bắt chị Trần Thị Nga, là một dân oan, một người đấu tranh nổi tiếng cho dân oan Hà Nam, rồi bắt một người thuộc nhóm thanh niên Công giáo là Nguyễn Văn Oai và... nói chung là trong vài ngày qua công an bắt tới 4 người và đó đều là những người đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền.

"Thế thì sắp tới, cái gì còn lại để đỡ cho, hỗ trợ cho dân chủ nhân quyền?", Tiến sỹ Phạm Chí Dũng nói với chuyên mục tọa đàm thời sự cuối tuần của BBC Tiếng Việt.
Từ Ottawa, Luật sư Vũ Đức Khanh, Phó Tổng thư ký Đảng dân chủ Việt Nam tại Canada, đưa ra quan sát:

"Việt Nam luôn luôn nằm trong bàn cờ chính trị của thế giới và đặc biệt đối với Hoa Kỳ, người Mỹ có mặt ở khu vực châu Á, Thái Bình Dương trên 150 năm qua, không có lý do gì mà ông Donald Trump sẽ phải rút vai trò của Hoa Kỳ ra khỏi khu vực. Cho nên Việt Nam vẫn nằm trên bàn cờ đó.

"Tôi nghĩ rằng đi theo TPP, thì sẽ đi theo một lịch trình khác, không có TPP, thì... ông Donald Trump dùng các Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Hoa Kỳ và vấn đề đó ảnh hưởng trực tiếp đến vận mạng chính trị của Việt Nam."

Nếu Hoa Kỳ bận?

Và Luật sư Vũ Đức Khanh phân tích tiếp:

"Vì vấn đề đó, mà chính phủ Việt Nam có những hành động mà chúng ta thấy là đã 'đàn áp' trong những ngày qua, tức là phía Việt Nam đang làm để 'có những lá bài' mà chuẩn bị đàm phán với Hoa Kỳ trong tương lai và vấn đề nhân quyền và tự do, dân chủ hóa Việt Nam vẫn là những vấn đề nằm trong nghị trình của bất cứ chính phủ nào và đặc biệt đối với chính phủ của Donald Trump.

"Tôi nghĩ rằng những người trong đảng Cộng hòa, họ muốn có một sự thay đổi trong chính sách đối với Việt Nam, họ muốn rằng Việt Nam phải tỏ rõ thái độ nhiều hơn nữa và nếu Việt Nam chấp nhận một lộ trình nào đó, thì Việt Nam sẽ hưởng không những một số ưu đãi trong quan hệ kinh tế song phương, mà còn có những vấn đề quan hệ về chính trị, ngoại giao, cũng như chủ yếu về vấn đề quân sự.

"Việt Nam đang chờ có một số thay đổi rất lớn về quan hệ quân sự giữa Washington và Hà Nội," Luật sư nói với BBC từ Canada.

Trước câu hỏi của BBC rằng trong trường hợp nước Mỹ, được coi là 'ngọn cờ đầu' cổ vũ dân chủ, tự do và nhân quyền trên Thế giới, nay có thể đang thay đổi chính sách, hoặc 'bận rộn' với quá trình chuyển giao, đặc biệt là với ưu tiên 'nước Mỹ 'là trước hết', giới vận động, cổ súy cho dân chủ và nhân quyền Việt Nam có thể có những động thái, phản ứng như thế nào, Tiến sỹ Phạm Chí Dũng đáp:

"Cho dù Hoa Kỳ bận rồi, thì người Việt Nam vẫn xác định trách nhiệm chính trong công cuộc đấu tranh dân chủ, nhân quyền - đó là do người Việt Nam. Thành thử là vẫn tiếp tục và nếu Hoa Kỳ bận, thì vẫn còn có Liên minh châu Âu.

"Có lẽ theo tôi, từ giữa năm 2016, là đã bắt đầu diễn ra một cuộc chuyển giao tế nhị giữa Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu, người Mỹ sẽ không còn quá hỗ trợ vấn đề dân chủ nhân quyền của Việt Nam như trước đây, và thay vào đó có lẽ sẽ là Liên minh châu Âu. Và dường như là phía Việt Nam, tâm lý muốn 'chơi' với châu Âu dễ dàng hơn là với Mỹ.

"Do đó, tôi nghĩ là năm 2017 sẽ có một số động thái của người Tây Âu đối với Hà Nội về vấn đề dân chủ, nhân quyền và mở đầu năm cũng đã thấy có vụ thả ông Đặng Xuân Diệu rồi, tôi cho đó cũng là le lói một chút nào đó hy vọng cho việc thả (tù nhân), (xét) riêng khía cạnh thả tù nhân chính trị của Việt Nam trong năm 2017.

"Nhưng chỉ có điều... là thả nhiều hơn, hay là bắt nhiều hơn, thì cái đó tôi không biết, cho nên là luôn luôn vẫn phải xác định là vẫn có thể 'đàn áp', thậm chí đàn áp mạnh... Và ngay cả tôi, cũng có thể một lúc nào đó mọi người sẽ không còn gặp nữa, mà có thể tôi sẽ nằm ở trong xà-lim, ví dụ như vậy.

"Chúng tôi luôn luôn phải xác định chuyện đó, nhưng mà phản biện vẫn phải phản biệt, đấu tranh vẫn phải đấu tranh, nhân quyền thì vẫn phải là nhân quyền," Tiến sỹ Phạm Chí Dũng nói với chuyên mục tọa đàm thời sự cuối tuần này của BBC Việt ngữ.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

THƠ VỤN:

DHG

17. Nợ ..
Hết năm rồi..
Sách gối đầu giường chưa đọc,
bài thơ tình chưa viết xong,
bàn tay lom lom những mực,
điêu ngoa..
chuyện cũ dài dòng ..
Hết năm chưa về quê cũ,
đường quê chưa gặp người quen.
Bao nhiêu việc còn dang dở
nhìn trời
mong ngày nắng lên..
Ta tìm thấy gì năm cũ ?
Hành trang ngực lép mơ màng!
Tự lừa.
Tự ru.
Hớn hở.
Ngơ ngác bên đường đứng trông !
Dở hay bước qua một nhịp,
qua cầu,
vội dừng ngắm sông..
Thời gian như là mất cắp,
còn được bao nhiêu,
cho mừng ?
Lại những câu thơ nhạt nhẽo
ru tình.. bằng ngực,
bằng mông.
Tình suông như là hàng giả
khổ người tin ta đợi trông!
Viết gì cho em,
cho phải ?
Ngày mưa
lũ ngập trắng đồng,
biển xa..
Âm thầm mắt bão,
động đất?
Sóng thần?
Hay là cuồng phong?..
Ai mượn mà mình lo hão?
chẳng qua một kiếp thơ đày!
Thêm một năm này ta nợ..
Buồn vui
thây kệ
đừng buông!
18. Say
Làm gì có: "cánh đồng bất tận" ?
Chỉ có nỗi lo không cùng.
Tôi hiểu
vì sao người ta thích hội hè,
chuyện phiếm,
và vì sao người ta không muốn ..
mở lòng ?
Thì thôi ..
cứ khoác chiếc áo hồng tình cũ..
Để đi qua,
hết mùa đông.
Tự nhủ mình đó là màu lửa,
chẳng biết rồi ngày có ấm lên không ?
Ưu tư làm chi nào ta đi nhậu..
Đắng rượu
cho qua đắng lòng
Tạm quên nỗi buồn lơ lửng
Phút giây này say..
tưng bừng


Phần nhận xét hiển thị trên trang