Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Tư, 28 tháng 12, 2016

28/12/1973: Cuốn ‘Quần đảo Ngục tù’ được xuất bản

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng
Vào ngày này năm 1973, cuốn Quần đảo Ngục tù (The Gulag Archipelago, 1918-1956) của Aleksandr Solzhenitsyn – tác phẩm “điều tra” về nhà nước cảnh sát (police state) Liên Xô – đã được xuất bản tại Paris, bằng tiếng Nga. Đây là tập đầu tiên trong bộ sách ba tập của Solzhenitsyn, mô tả lại những đợt đàn áp chính trị và khủng bố tàn bạo và không khoan nhượng ở Liên Xô. Cuốn sách nhanh chóng được dịch ra nhiều thứ tiếng và đã được xuất bản tại Mỹ chỉ vài tháng sau đó.
Bộ sách đồ sộ của Solzhenitsyn đã ghi lại chi tiết những mưu đồ của nhà nước cảnh sát Xô-viết từ Cách mạng Bolshevik cho đến năm 1956. Tuy nhiên, trong phần lời tựa, tác giả cũng đã cảnh báo những người Nga đang sống trong giai đoạn 1973, rằng việc đọc cuốn sách là “rất nguy hiểm.”
Điểm quan trọng của Quần đảo Ngục tù là nó cho rằng việc đàn áp (hay khủng bố) của cảnh sát là luôn luôn cần thiết đối với sự tồn tại của nhà nước Liên Xô. Điều này đi ngược lại tuyên bố của Liên Xô rằng những đàn áp kiểu như vậy chỉ xuất hiện trong thời kỳ cầm quyền của Stalin và biến mất khi ông qua đời vào năm 1956.
Solzhenitsyn thừa nhận rằng đàn áp chính trị đã giảm bớt trong thời gian Khruschev tại nhiệm – chính tác giả cũng đã được giải thoát khỏi nhà tù chính trị trong thời gian này. Tuy nhiên, Solzhenitsyn tin rằng, kể từ khi Khruschev bị lật đổ vào năm 1964, chính quyền Liên Xô lại phải viện đến đe dọa và khủng bố. Sự thất vọng trước việc đất nước mình quay lại chiến thuật đe dọa này đã ảnh hưởng đến quyết định xuất bản sách của ông.
Quần đảo Ngục tù đã ngay lập tức được đón nhận ở phương Tây, nhưng các quan chức Liên Xô thì vô cùng tức giận. TASS, hãng thông tấn chính thức của Liên Xô, đã tuyên bố rằng cuốn sách là “lời vu khống vô căn cứ” chống lại người Nga. Ngày 12/02/1974, Solzhenitsyn bị bắt, bị tước quyền công dân, và bị trục xuất. Sau này, ông chuyển đến định cư tại Mỹ. Trong thập niên 1980, ông từ chối lời đề nghị phục hồi quyền công dân Liên Xô từ Mikhail Gorbachev, nhưng đã quyết định trở về Nga sinh sống vào năm 1994. Solzhenitsyn qua đời vì suy tim tại Moskva vào ngày 03/08/2008, hưởng thọ 89 tuổi.
- See more at: http://nghiencuuquocte.org/2016/12/28/quan-dao-nguc-tu-xuat-ban/#sthash.EiAxagjj.dpuf

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Ba, 27 tháng 12, 2016

BẠN BA CHI KHƯƠN


H.G

Kết quả hình ảnh cho Hình ảnh châm biếm bạn văn nghệ?

Hắn mới về đất này, nơi mà hắn có lúc nghĩ chẳng bao giờ sống lâu dài ở đây cả . Ba mặt núi, một mặt sông, đi cả cây số mới có một nóc nhà, đến những làng đông dân cư gần nhất cũng hàng cây số. Không có chủ ý mà cứ như người đi ở ẩn . Lúc đầu không quen, hắn buồn đến phát khóc vì xung quanh quá vắng vẻ. Nhất là những lúc chiều buông, hoàng hôn như bị ma đuổi vội vã chìm vào khe núi . Đêm đến lại càng nản, chỉ có tiếng cú rúc trên rừng, tiếng mèo động đực rên rỉ thảm thiết . Cả tháng mới có tuần trăng, nhưng trăng ở nơi thiếu hình bóng con người cũng lạnh lẽo vô duyên ..
Vì thế gặp người, hắn mừng lắm, bất luận người đó thế nào hắn cũng quý lắm..
Một gã sơn tràng cần chỗ trọ, hắn chẳng đắn đo gì mà không nhận lời, có khi còn mất công đi hàng cây số mua rượu về cùng uống cho vui. Bọn buôn lậu, hay đám cờ bạc, hay một ả gái điếm hết thời son phấn, lánh mặt lên rừng, hắn cũng chẳng nề hà, miễn là trong nhà có thêm tiếng nói, tiếng cười của con người . Như thể đấy là cách xua đuổi tâm trạng mình bị xã hội loài người bỏ rơi ở một nơi bất đắc dĩ như thế này.
Người đời thèm ăn, thèm chơi, thèm tiền và thèm mọi thứ trên đời, còn hắn, hắn thèm người lắm lắm ..
Khi đó, là lúc ở đây chưa thành thị trấn như bây giờ, người với người còn quý, còn thương nhau, không như bây giờ!
Một hôm hắn đang sửa lại bộ bàn ghế cũ thì có khách đến nhà. Hắn mừng như bắt được của, như khách là sứ giả đến báo một việc tốt lành. Con chó nằm đầu hồi nhà cũng ve vẩy đuôi, không cắn một tiếng. Hình như nó cũng biết phụ họa với chủ, chả cắn ai bao giờ, như sợ người ta mất lòng. Hay con chó cũng biết phận hắn nghèo, chả có của nả gì để mà dữ tợn, hung hãn với ai. Chỉ về đêm, có con chuột chạy qua hay con mèo lạ, nó mới sủa lên vài tiếng. Chó nhà nghèo thường vẫn lười, không hăng hái như chó của người khá giả.
Khách cười cười như thể đã từng quen nhau rồi, mà hắn chịu chẳng nhớ anh ta là ai? Đã gặp nhau ở đâu, bao giờ và ở nơi nào nhỉ?
Đời hắn lang bạt kỳ hồ, chẳng thiếu đâu, quen không biết bao nhiêu người, bao nhiêu cảnh ngộ.. Làm sao một chốc có thể nhớ ngay ra được?
Nhưng rõ ràng anh chàng đứng trước mặt hắn đây, hắn chưa gặp bao giờ. Khổ người anh ta đậm, béo tốt lại để hàng ria mép. Thêm cái mũ hàng phở màu trắng đội trên đầu, rất khó đoán thuộc hạng người nào. Kiểu người này tuy hắn trước đây quảng giao, nhưng rất ít va chạm. Nom nửa như con buôn, nửa như anh giáo làng, lại có phần giống bọn buôn bè ..
Khách đưa tay :
- Ông có còn nhớ tôi không ?
Hắn định nói mình thực sự không nhớ anh ta là ai, nhưng nghĩ lại, hắn yên lặng. Ai lại bảo như thế, vô tình quá!
Anh ta lại cười cười, nói tiếp :
- Tiến ở phòng văn hóa đây mà, hôm ông gặp tôi ở nhà ông già, quên rồi sao?
Bây giờ thì hắn nhớ ra rồi. Hắn mời anh ta vào nhà. Đúng là cách đây hai tháng hắn có gặp người này, ở nhà bố đẻ anh ta. Ông Quyết già trước làm trưởng phòng văn hóa huyện, về hưu giờ chụp ảnh, cải thiện thêm.
Ông có cái máy ảnh cũ, Jido hay bị hóc thường nhờ hắn đến sửa hộ. Vài lần anh ta về qua nhà một lúc rồi đi ngay. Có lần nói chuyện với hắn vài câu, hắn đang sửa máy nên cũng không để ý, bây giờ làm sao nhớ được?
Còn hôm nay thì vì duyên cớ gì mà anh ta tới đây? ( Mãi sau này hắn mới biết lý do của buổi gặp mặt lần đầu ấy. Có một người nhờ Tiến tiếp xúc để tìm hiểu hắn là người thế nào, vì người ấy không tiện gặp hắn, nhằm đảm bảo an ninh xã hội ). Khi hiểu ra đã là cả một quá trình dài, hai người trở thành thân mật, thật khó biểu lộ sự bất bình vì động cơ chả lấy gì làm hay ho lúc đó nữa ).
Tiến lại vác cái máy đến nhờ hắn sửa. Cái máy Ca non quá đát, đáng lẽ có thể quẳng đi rồi, nhưng ở nơi khỉ ho, cò gáy này nó vẫn còn giá trị, vẫn là chiếc cần câu cơm, hắn có muốn cũng chẳng được!
Chuyện trò thế nào lại tòi ra câu chuyện văn chương giữa hai người. Tiến khoe anh ta là tay “cầm cọ” chắc tay ở tỉnh này, vừa chuyển ở vùng cao về, tạm thời coi thư viện của huyện nhà. Nói đến sách, mắt hắn sáng lên, hai người thân nhau từ đó.
Lâu lâu Tiến mang đến cho hắn vài cuốn sách, tất nhiên đọc xong phải gửi trả, vì đó là sách của thư viện. Ở một nơi như thế này thế là quý lắm rồi, trong thâm tâm, hắn coi Tiến như người tri kỷ, như một ân nhân. Nó làm cho cuộc sống của hắn bớt ngột ngạt, tối tăm, thêm giá trị, chút ánh sáng tinh thần.
Làm sao hắn không cảm động cho được?
**
Bẵng đi mấy năm, hắn không gặp Tiến. Hắn cứ nghĩ anh ta đã thuyên chuyển công tác đến một nơi khác. Thời mà xã hội phát triển chủ yếu bằng tuyên truyền, công việc vẽ panô, áp phích của Tiến rất được coi trọng, anh ta bận cũng phải thôi.
Hắn hoàn toàn không biết chuyện lúc bấy giờ người ta đã biết thực ra hắn chẳng có “vấn đề” gì như người ta tưởng, và đã được đặt ra ngoài “vòng ngắm”. Những tình nguyện viên an ninh kiểu như Tiến không cần phải có nữa.
Sự “quan tâm” ngấm ngầm đã đến kỳ kết thúc.
Bấy giờ hắn chỉ cho là không gặp, là do Tiến bận công việc, hoặc hoàn cảnh của hai người quá khác nhau.
Tiến không đến với mình, cũng dễ hiểu, xưa nay người ta phù thịnh, làm gì có ai phù suy? Người ta tìm đến nơi khá giả để được nhờ cậy, chứ ít cũng không bị phiền hà bởi sự nhờ vả. Nghèo khó như mình ai tìm đến làm gì ? Tiến đến hay không là quyền của y, trách sao được?
Hắn thấy cũng không cần day dứt quá về chuyện này. Xét cho cùng, y cũng chỉ là người dưng, như bao người mình đã từng gặp trong đời, có kỷ niệm nào gắn bó với nhau đâu?
Mình không phải bạn học một thời, không cùng làm một cơ quan, thậm chí không ở gần nhau thời gian nào lấy một, hai ngày. Chẳng nên bận tâm quá về chuyện này, vì thực ra y không là gì đối với hắn.
Hắn còn bao việc phải lo toan trước mặt.
Bảo là hỏng hẳn thì chưa phải, nhưng đời hắn kể như mọi chuyện đã kết thúc sau cái “tai nạn” mà hắn chỉ là kẻ liên quan. Nguyên nhân sâu xa cũng bởi tính xuê xoa, dễ dãi trong nhiều mối quan hệ. Đúng như người ta nói : “Tính cách tạo nên số phận”. Cả trong tình bạn, tình yêu và sau nữa hạnh phúc gia đình.
Cái sảy nảy cái ung, ban đầu chỉ là “Tai nạn hôn nhân”, dẫn đến định kiến xã hội, rồi những mối nghi ngờ vớ vẩn. Mà ở đời không khi nào thiếu kẻ vô công rồi nghề, luôn dòm ngó, soi mói đầy ác ý. Những con kền kền không cánh, chuyên đi bằng đầu gối, luôn soi mói, tìm nỗi bất hạnh của kẻ khác, chả khác nào loài có cánh tìm xác chết!
Hắn không nợ, nhưng phải trả giá. Sự khốn nạn, éo le, phi lý của cuộc đời phải đâu chỉ mình hắn chịu?
Bao nhiêu người có đức, có tài, có tâm còn phải chịu đắng cay, oan khuất. Hắn đã là cái gì mà than thân, trách phận? Chỉ là hạt cát nơi thế gian này, là con ong, cái kiến trong cuộc sinh tồn khốc liệt mà thôi!
Thì thôi, “liệu đường ăn ở”, để làm một người thường như bao người khác, tự nuôi sống mình và tròn bổn phận không thể nào thoái thác.
Ai thông cảm đến với mình thì chơi, ai không hiểu hoặc có ý này khác, hắn bất cần .
Hắn lao vào cuộc mưu sinh để quên đi mọi chuyện.
Hắn không ngờ mình lại làm được những công việc mà trước đây tưởng chừng không thể làm.
Hắn hiểu ra khả năng tiềm ẩn ở mỗi con thật là vô cùng. Đó là lẽ hiếu sinh của tạo hóa dành cho những kẻ kém may mắn.
Quan hệ giữa hắn với Tiến mờ đi dần, như thể chưa hề có những lần gặp gỡ, trò chuyện trước đây.
Thôi thì ai lo phận ấy, “Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”, bận tâm đến nhau làm gì cho mất công?
Đã có lúc hắn nghĩ như thế, không phải hắn là kẻ vô tình, chóng quên, mà cái chính bởi sự mặc cảm, tự ái pha chút phẫn uất trong lòng.
Nhưng chuyện đời đâu có giản đơn như người ta tưởng . Hình như luôn có sự sắp đặt vô hình, con người ta vốn có một cái “Duyên”, đã gặp nhau ở đâu, lúc nào đấy rồi, thế nào cũng còn có sự liên quan, như một “món nợ” với nhau .
***
Một buổi sáng, có người lạ ở đâu tới, lom khom chụp ảnh ở bến sông trước nhà.
Bề ngoài ông này chẳng có dáng vẻ gì của những tay thợ ảnh xưa nay hắn từng gặp, dáng điệu bệ vệ kiểu công chức của ông ta khiến hắn tò mò. Bắt gặp cái nhìn của hắn, ông này bắt tay cười nói thân thiện. Ông tự giới thiệu là người của hội văn nghệ tỉnh.
Hắn mời ông khách vào nhà uống nước.
Hắn có nghe tỉnh này cũng có một hội văn nghệ, nhưng từ lâu, hắn chẳng quan tâm.
Văn nghệ, văn nghẽo với hắn là câu chuyện buồn, hắn đã muốn quên đi cho lòng thanh thản. Hắn cứ nghĩ theo chủ quan của hắn như vậy, chỉ coi đó là một tổ chức tuyên truyền hơn là một cơ quan học thuật. Lợi lộc chẳng đáng là bao lại quá nhiều phức tạp.
Ý nghĩ sai lầm ấy khiến gã bấy lâu khi buồn vẫn viết, cốt giải tỏa tâm trạng chứ không bao giờ gửi bài đi đăng hay có ý nghĩ tham gia vào một cái hội nào đấy.
Buổi gặp mặt nghệ sĩ nhiếp ảnh có tuổi đời và tuổi nghề, tình cờ đã làm hắn thay đổi định kiến bấy lâu.
Khách quý đến nhà không có hẹn, nên hắn chẳng chuẩn bị trước, chỉ đón tiếp sơ sài. Cuộc rượu ngoài món lạc rang ra, chẳng có gì, thế mà vui. Lâu lắm rồi, hắn mới lại gặp được người để nói những câu chuyện đã lâu chỉ giữ kín trong lòng. Nhiếp ảnh gia cũng tỏ vẻ quý mến hắn.
Ông bảo người ta đang cần người như hắn, anh em mất nhiều công sức mà lâu nay chưa tìm được đối tượng để phát triển hội.
Tìm một anh kỹ sư, một bác sĩ, hay cán bộ bất cứ ngành nào cũng không khó lắm. Nhưng tìm một người viết có năng lực thật không dễ chút nào.
Ngoài những thứ người ta gọi là “trình độ” ra còn cần có chút năng khiếu, vốn sống và hiểu biết nhất định. Người như hắn sao lại bị quên lãng ở một nơi như thế này?
Hắn tin là ông nói thực, cho dù trong lời nói có phần hơi quá lên một chút, chẳng qua cũng để khích lệ hắn, hắn thầm nghĩ như vậy!
Trước lúc ra về, ông bảo hắn chép lại mấy bài thơ lúc cao hứng vừa rồi hắn đọc cho ông nghe, nói là làm kỷ niệm.
Chuyện chỉ đến thế, rồi hắn cũng lại quên đi bởi công việc thường ngày.
Cũng chẳng phải là chuyện lạ lùng gì bây giờ hắn mới gặp.
Phần nhiều những câu chuyện của văn nhân, nghệ sĩ là chuyện trời ơi, nói cho vui là chính, bận tâm mà làm gì?
Hắn không ngờ nửa tháng sau, có chiếc xe con đến đỗ ngay trước cổng nhà. Ông chủ tịch hội và mấy ông trong ban chấp hành có việc ngang qua ghé vào chơi. Họ đưa cho hắn số báo mới có đăng bài của gã. Đã lâu lắm rồi cảm giác hồi hộp ngày nào khi hắn còn cặm cụi viết lách lại trở về..
Người ta cho hắn biết: Sắp tới có cuộc thi “viết về nông nghiệp nông thôn” và mời hắn tham gia.
Hắn viết mà không ngờ lại được giải khá cao.
Hắn trở thành hội viên từ đấy, rồi hội ở cấp cao hơn ..
**
Nói, nhanh hơn làm, nhanh hơn mọi diễn biến của đời người.
Để đến ngày hôm nay, hắn mất gần mười năm trời. Nếu con sông chảy ngang qua nhà nước được giữ lại không chảy, tích cả lại, nước đã thành biển khơi. Đã bao vật đổi sao rời kể từ đận hắn đến ở gần khúc sông này..
Gã trưởng công an ngày nào cho người bí mật theo dõi gã giờ đã chỉ còn là chủ nhân của túp lều, sống vất vưởng bên con đường heo hút ít người qua lại vì đã mất tất cả. Gã lại không có khả năng thích nghi với hoàn cảnh mới. Gã quá quen với việc ngày ngày cắp cặp lên chầu chực văn phòng. Cầm con dao, cái cuốc gã không quen. Chỉ biết ăn tiêu, gã đâu biết bán mua, hay làm bất cứ việc gì? Mọi việc bây giờ trông cả vào cô vợ mới lấy sau này, đã yếu lại hậu đậu không hơn gì mình, thêm bệnh thấp khớp, đang kỳ biến chứng.
Gã khổ cũng là phải thôi, dù chẳng ai làm hại gã cả.
Chính thói hách dịch, cửa quyền cộng thói trăng hoa, giả dối của gã đã thay đổi gã.
Từ một cán bộ năng nổ, gia đình khá giả, vợ con đề huề gã trở thành trắng tay, chấp nhận cuộc sống chồng vợ với một cô ả từng làm thư ký văn phòng cho gã trước đây, để rồi mất tất cả.
Tiến, cái anh chàng được tin cậy, chỗ thân tín của gã công an cũng mấy cuộc ba đào.
Y đã thôi làm ở phòng văn hóa về đuổi gà cho vợ. May mà cô vợ gia đình khá giả, lại là cô giáo nên cuộc sống không đến nỗi nào. Cô nhiều năm dạy học vùng cao, khi chuyển vùng đã quá lứa nhỡ thì. Gặp được anh “họa sĩ”
nửa mùa, thế đã là may mắn lắm rồi.
Nhiều cô trẻ đẹp hơn cô còn phải chấp nhận lấy một anh người Mông, người Dao suốt ngày lúi húi trên nương, chữ nghĩa, học hành thua kém không bằng vợ. Với lại lấy vợ cô giáo thời buổi ấy cũng là lẽ rất thường. Cuộc sống giáo viên nào có hơn gì người nông dân mưa nắng trên đồng? Còn có câu: “Đầu giáo, áo ướt”, lương ba cọc ba đồng, mỗi tháng vài chục ngàn không đủ mua gạo ăn!
Nói ra như thế để biết Tiến có vợ làm cô giáo chả có gì là ghê gớm cả. Ngay như hắn, vợ cũng là giáo viên. Hai người dạy cùng trường, hắn và Tiến thêm một cái cớ để gần gũi nhau ..
Sống lâu mới biết đêm dài.
Hiểu một con người không phải ngày một ngày hai mà hiểu. Chả cần nói, tự Tiến cũng cảm thấy ái ngại việc trước đây mình đối với hắn thế nào. Y có vẻ ngượng mỗi khi hai người gặp nhau. Cho dù hồi đó Y chủ quan cho rằng mình đang được người ta nhờ làm một việc tốt, có ý nghĩa phục vụ xã hội, chống lại các “Phần tử khả nghi” !
Vẫn là lối nói ụ ợ trong miệng, không dứt khoát. Trước đây hắn cho rằng
“ Phàm những anh làm việc bằng trí óc, nhất là việc sáng tạo, do tập trung tinh thần cao, nên nói năng thiếu lưu loát. Có thể họ vẽ giỏi, viết hay, nhưng lại nói rất dở. Có anh còn nói cà lăm, nói ngọng. Vì rằng họ không làm việc bằng mồm, được cái này phải thôi cái khác chứ, mấy ai được cả đôi đường?”
Gần gụi sau này, hắn mới hiểu, hoàn toàn không phải như vậy. Nó là kiểu mà người ta vẫn bảo là : "Ú ớ Việt gian, ngậm miêng ăn tiền", cách “giả chết bắt quạ” của bọn đá cá lăn dưa, đâm bị thóc, chọc bị gạo và nhất là hay “Ôm váy, nịnh thần” !
Nếu không vì vợ cùng dạy chung trường, có lẽ hắn đã tránh, chả bao giờ gần gụi con người này.
Hắn đã bỏ qua chuyện cũ, giúp Tiến vài việc làm ăn. Va chạm đồng tiền bát gạo, mới càng hiểu thêm tính cách con người.
Ngày bố Tiến mất, anh em trong hội tổ chức đi thăm viếng, lúc đó hắn mới ngã ngửa người ra là y đã là hội viên từ bao giở bao giờ rồi!
Hắn không ngờ y giữ kín tiếng đến thế! Dù không vẽ vời nữa, quay sang viết thì y việc gì phải dấu kín đến thế chứ? Hình như cả vùng này chả ai biết y là “nhà văn” của tỉnh, cứ y như là hoạt động bí mật!
Y giữ như thế để làm gì, viết thế nào chứ? Chả lẽ công việc sáng tạo văn chương chữ nghĩa cần phải thận trọng, bí mật đến thế sao?
Ngay đến như hắn cùng ở thị trấn này với nhau còn không hay, vậy bạn đọc xa gần có bao nhiêu người biết đến y với tư cách là người cầm bút, nói lên khát vọng của những con người đang cùng sống với y trên mảnh đất này?
Chưa nói đến cái cao xa hơn của người “Thư ký thời đại”, “ Tiếng nói lương tri”, hay“Nhạy cảm của tiến bộ xã hội”!
Hắn thật bất ngờ khi nhận ra rằng thời buổi bây giờ lại có những người cầm bút như vậy!
Cũng có thể bảo rằng đó là “Đức khiêm tốn, tự dấu mình, nuôi chí lớn, không muốn huyênh hoang, không khoác lác. Lấy hiệu quả sáng tác làm đầu chứ không cần ồn ào, khoe mẽ”!
Ôi là miệng lưỡi của người đời!
Thế mới có chuyện một ông nhà văn chả nhớ nước trong, nước ngoài nào, nói:
“ Con người ta có mấy cái lưỡi. Một cái thường xuyên ngậm trong miệng và mấy cái nữa cất kín trong tủ lạnh!”.
Nghe mà buốt hết cả chân tay!
***
Thời buổi tan vỡ lòng người, muốn tìm người kết bạn thật chẳng dễ gì.
Nhất là bạn văn chương, chữ nghĩa.
Ba bề bốn bên đang sôi sục không khí kim tiền, chuyện thế sự mỗi người một phách. Càng nói, càng không hiểu nhau.
Phần lớn theo kế sách “ngậm miệng ăn tiền”. Tìm bạn lúc này khác gì tìm nguồn nước trên sa mạc người?
Khốn nạn, trò viết lách không có bạn tâm giao chả khác nào cờ không có gió, đũa không đủ đôi? Một mình độc diễn mãi rồi tự chán!
Nhà hắn đã từng nuôi một chú gà trống chuồng, khi cả khu thị trấn gà bị dịch, gà trống chết không còn con nào, nó cũng quên luôn, thôi không gáy nữa.
Giống vật đã vậy, huống chi con người ?
Anh có tài giỏi ra mười, ở nơi không thầy, không bạn rồi anh cũng thành người vô dụng! Cũng thành kẻ ẩm ương mà thôi!
Viết là cuộc Maraton với chính mình, học hỏi không ngừng là cái không thể thiếu. Có người bạn như Tiến còn hơn chẳng có ai. Mặc dù tính cách hai bên hoàn toàn khác biệt.
Một hôm hắn đến, thấy Y đang hí húi bên bàn. Hắn nghĩ bụng có lẽ y sửa soạn đồ nghề đi vẽ ở đâu chăng?
Lâu rồi y có còn nhớ đến cây cọ đâu ? Vẽ mãi panô, áp phích không khá lên được, từ lâu y đã bỏ không cầm cọ nữa.
Không có nghề nào thờ ơ với nó, chểnh mảng với nó mà thành công quả, nếu không chí thiết một lòng, khó mà đi được tới nơi. Chưa nói thành giỏi, thành tài!
Tiếng là nhà văn của tỉnh, y cũng phải kiếm ăn, kiếm sống như bao người khác. Ngoài vợ y ra có ai nuôi y đâu? Cho dù bất đắc dĩ thì cũng vẫn phải làm. Đấy là cái lý do sau này hắn mới được biết vì sao y dấu kín nhẹm việc viết lách của mình. Không nuôi nổi bản thân và gia đình ắt là việc chẳng ra gì, cho dù sang trọng đến đâu, cũng là chuyện hão huyền, vô bổ, có lẽ y nghĩ như vậy nên chả muốn nói cùng ai!
Từ ngày thôi làm lá mai, hai người ít gặp nhau. Hắn bỏ trò mua bán này vì ác cảm với nó.
Tuy kiếm được tiền, nhưng nó cứ như trò lừa đảo, lá mặt lá trái, chẳng có gì làm chuẩn. Không thế chỉ làm mướn không công cho chủ ở mãi bên Đài Loan. Có kiếm được đồng nào cũng chỉ “béo hàng đò, no hàng nước”.
Chẳng thà làm cái khác bền bỉ, thảnh thơi hơn. Còn có thời gian đọc hay viết cái gì đó.
Suốt ngày suốt đêm chạy rong trên đường, rủ rê, gạ gẫm như phường bạc giả của cái nghề buôn lá này hắn ớn đến tận cổ rồi.
Hắn bỏ thì y cũng bỏ, vì ngoài hắn ra y còn có mối nào khác đâu? Chả có ma dại nào rủ y làm cái việc đó ngoài hắn. Tính cách chậm chạp, ụ ợ, cò kè của y không hợp với nghề này. Hắn mời y tham gia với hảo ý muốn giúp bạn. Muốn y đỡ khó lúc chưa tìm được việc thích hợp. Đỡ bị vợ con khinh rẻ vì vô công rồi nghề.
Cũng chỉ có hắn mới chịu đựng được tính nết của y. Ai đời bạn hàng với nhau, sáng đòi thêm một giá, chiều lại thêm một giá, cứ như tiền bằng lá cây. Chung quy là bởi y không hiểu, cứ nghĩ nghề lá mai này hái ra tiền như người ta đồn thổi.Tưởng đâu thứ “hàng xuất khẩu” này ăn dày, ăn đậm lắm! Làm ăn với người nước nào không nói, chứ với người Trung Hoa, “Quốc đảo” hay “Đại lục” cũng là bọn keo kiệt chả khác gì nhau. Những năm hắn sống trong Chợ Lớn, hay chạy chợ qua Bằng Tường hắn không lạ việc này.
Người Mỹ còn phải mắc nợ người Trung Quốc bởi tính hà tiện, tiết kiệm, dành dụm suốt đời của họ.
Từ “ăn chơi phóng khoáng” không có trong đầu óc người Trung Hoa. Họ bòn mót, nhặt nhiệm còn hơn cả người Việt keo kiệt nhất. Chỉ được mỗi nết là ưa sòng phẳng mà thôi !
Điều đó thì y không hiểu, không gặp nhau thì thôi, hễ gặp là nằn nì thêm một vài giá. Hắn bỏ làm lá mai cũng một phần vì những chuyện này. Nếu còn làm nữa, quan hệ giữa hai người khó lòng tồn tại. Nhiều lúc hắn thất vọng vì bạn, tính cách như thế liệu y viết lách ra sao, bởi văn là người, là cách ứng xử của người cầm bút ?
Hắn thì đã xoay ra việc khác, nhân sinh bách nghệ, đâu có thiếu gì nghề? Hắn chỉ áy náy, bỏ công việc vừa rồi không hiểu y quay sang làm gì? Chính vì thế hắn mới đến đây.
Vẻ mặt y có vẻ khó chịu, đăm chiêu hơn ngày thường . Thấy hắn vào y định cất tờ giấy khổ rộng đang trải trên bàn, nhưng không kịp. Thì ra đây là bản sơ đồ của một công trình nào đấy, hắn chưa biết nó là cái gì?
Chả lẽ y xuay ra làm thiết kế công trình xây dựng?
Y có học ngày nào ở các trường người ta dạy cho nghề ấy đâu? Mấy năm học trung cấp văn hóa, nghề y được học là hội họa cơ mà?
Nhưng cũng chẳng biết đâu được chuyện đời, thời nay thiếu gì kẻ học hành không đâu vào đâu, thâm chí bằng cấp rởm, vẫn cứ làm hết công trình này đến công trình khác cơ mà.
Công trình có hỏng, đổ gãy thì làm làm lại, tốn tiền nhà nước, đã thấy ai ngồi tù hay chết thằng tây nào đâu?
Để ý kỹ một chút, hắn thấy tấm kính tủ nhà y vỡ một miếng, đồ đạc để lộn xộn một đống nơi góc nhà.
Hình như vừa có cuộc “cách mạng”, cuộc xô xát xảy ra trong ngôi nhà này, nên nét mặt y mới đăm chiêu như thế.
Hắn chú ý đến tờ giấy khổ rộng, thì ra đấy là sơ đồ thiết kế làm vườn rau của Tiến!
Thật khổ, vườn nhà y có rộng rãi gì đâu? Chưa được nửa sào đất, làm thì cứ làm, định sẵn trong đầu, vẽ vời ra làm chi cho tốn giấy?
Tiến than thở hôm qua vợ y đoảng quá. Bản vẽ đã hoàn chỉnh rồi, cô nàng không biết lại đem ra lót, nhấc nồi cám lợn. Vì thế y đã dồn cho một trận, sáng nay y phải làm lại từ đầu. Bực ơi là bực!
Hắn xem bản vẽ y đang vẽ dở, thấy đường đi lối lại, các liếp trồng rau, chỗ xây bể nước tưới..
Chỗ nào trồng thứ gì, y ghi chú bằng các màu khác nhau. Cũngkhông có gì đặc biệt lắm. Với người khác, không cần phải tỷ mỷ đến thế, cũng có thể làm được vì nó vốn chẳng có gì phức tạp.
Tính Tiến thế, làm bất cứ việc gì y đều ghi ra giấy. Ngay viết một bài báo y cũng cẩn thận làm dàn bài, đâu vào đấy rồi mới viết.
Hai người ngồi uống trà, vẻ mặt Tiến thư thái trở lại, bớt căng thẳng hơn lúc hắn vừa đến.
Thấy Tiến đang mải lo làm vườn, hắn thôi ý định rủ y cùng làm một việc hắn vừa tìm được mối.
Có lẽ chăn nuôi, trồng trọt hợp với tạng của y hơn là làm việc khác. Mặc dù y chưa có kinh nghiệm gì, nhưng việc nhà nông học không mấy nỗi, cái chính cần phải chịu khó, kiên trì.
Hắn có nghe người ta nói một chuyện, tiện đây muốn hỏi Tiến xem hư thực thế nào? Lúc đầu Tiến còn lúng búng chưa muốn nhận ngay, sau rồi mới bảo:
- Ừ thì cũng có, vợ mình chỉ xem hộ người ta làm phúc chứ chưa lấy tiền của ai. Nhưng chuyện này ông đừng nói chuyện với ai kẻo ảnh hưởng!
Hắn thực lòng khuyên bạn :
- Mê tín dị đoan là việc không nên, tôi không coi thường tâm linh, nhưng làm việc này không hợp với vợ chồng cậu đâu. Dù sao cô ấy cũng là cô giáo, cậu không sợ nhà trường phê bình sao?
Tiến cười :
- Cái đấy cậu không cần phải lo. Các cô giáo ở trường này còn tin hơn cả bọn mình ấy chứ. Ngày rằm mồng một nào cũng bảo vợ mình ra thắp hương ở văn phòng nhà trường đấy. Có việc gì hệ trọng, cô hiệu trưởng lại nhờ vợ mình hầu đồng hỏi kỹ rồi mới làm. Cũng nhờ thế cô ấy rất nể vợ mình. Tuy chuyên môn yếu nhưng năm nào cũng được xếp loại “Giáo viên dạy giỏi”, không bị sài sẻ như các cô khác, dù trình độ các cô ấy khá hơn!
Giờ thì hắn hiểu những thắc mắc của vợ mình về những công việc ở trường. Hóa ra trường học bây giờ lại có cả thứ “văn hóa tâm linh” lạ lùng như vậy.
Vợ hắn còn bảo trường của cô được bình xét là “trường chuẩn của tỉnh”, một phần là nhờ công lao của “Bà thầy” cô giáo là vợ Tiến. Thật đáng kinh ngạc!
Đã vậy hắn còn cần khuyên can gì nữa? Hắn ngại cho bạn hàng ngày vợ cứ gọi “vong”, “quan binh đường âm” về, sau rồi họ ở lỳ không chịu đi, sẽ bất lợi, nếu thực sự có một thế giới vô hình như vợ chồng Tiến đang tin cậy. Nghe nói vậy, tiến nói việc này vợ y đã tính đến rồi, cô ấy chu đáo lắm, lễ lạt đầy đủ, tháng mấy ngày ăn chay, lại kiêng khem rất kỹ.
Nói thì nói vậy, xem ra y có vẻ không hài lòng.
Nếu sự việc chỉ có thế, giữa hai người sẽ chẳng có chuyện gì. Cho đến một lần xảy ra một vài việc hắn thấy không sao chịu nổi ..
**
Không biết Tiến có nói lại điều gì với vợ y hay không, nhưng thấy vợ y thái độ khác hẳn.
Trước thì thi thoảng thị vẫn ra nhà, trò chuyện với vợ hắn bài vở, công việc nhà trường. Cả những chuyện chả dính dáng gì đến công việc ấy.. Từ sau đận hắn góp ý với Tiến, cả vợ lẫn chồng hình như có ý xa lánh, không tới chơi nhà.
Hắn có đến vợ chồng Tiến cũng không vồn vã như xưa. Hắn không hiểu mình đã sai ở chỗ nào mà vợ chồng y lạnh nhạt ra mặt như thế? Chẳng lẽ y nghĩ mình có ác ý với việc làm gần đây của vợ y?
Hắn chỉ nói thế thôi đâu có để bụng? Đã vậy mình chỉ khi nào thật cần thiết việc gì mới đến, kẻo y lại suy bụng ta ra bụng người, cho mình soi mói để ý như y từng làm đối với mình. Mình ghét nhất thói dò la, tăm tia để hại người khác, nhưng y không hiểu thì thôi, cũng không cần bận tâm.
Quan hệ giữa hai người tưởng chừng đóng băng từ đấy.
Đột nhiên ông chủ tịch hội nảy ra sáng kiến thăm hỏi hội viên. Cùng đi với ông còn vài ba người nữa. Cơm rượu xong, ông bảo hắn cùng tới nhà Tiến chơi trước lúc đoàn về. Hắn đã định từ chối. Thứ nhất hôm đó là ngày chủ nhật, ngày mà cô giáo vợ Tiến bảo là “các quan cho làm”. Nghĩ cũng lạ nhỉ, hóa ra “các quan”cũng làm theo ngày giờ hành chính như ở cõi trần sao? Chắc cô nói vậy cho tiện mọi bề để không ảnh hưởng đến công việc nhà trường. Nên ngày chủ nhật nhà Tiến rất đông khách xa gần đến đặt lễ, cầu vong, xem chỗ ở, hay việc đang làm lành dữ ra sao? Đến vào lúc này cũng không tiện. Thứ hai trong đoàn còn có một ông nhà thơ hiện đang tại vị “phòng điều tra” công an tỉnh. Biết đâu con người đa nghi và hay để ý vặt như y sẽ cho là mình sắp đặt để chơi xỏ y? Muốn phơi bày những việc y không muốn ai để mắt tới, nhất là anh em trong hội.
Nhưng không đi cũng dở, mọi người sẽ cho hắn và y có khúc mắc với nhau. Anh em văn nghệ cả tỉnh có một dúm người, không chơi được với nhau còn nói gì nữa? Mỗi người rủ thêm vài câu, hắn tặc lưỡi lên xe.
Tới nơi, người từ đâu đến vòng trong vòng ngoài. Vợ tiến đang nhập đồng, khua chân múa tay phán lời của “vong” mới được gọi về.
Mấy anh em đứng cả ngoài sân vì trong nhà không còn chỗ ngồi. Anh chàng công an nổi hứng lôi cái máy ảnh ra chụp cây cọ bị đốt cháy đang hồi sinh ra những tàu lá quăn queo rất lạ.
Ông chủ tịch hội là người nhạy cảm, hình như ông đánh hơi thấy có điều bất tiện, nháy anh em ra về. Đến lúc đó Tiến mới biết anh em trong hội đến chơi, y chạy trong nhà ra, mọi người đã lên xe rồi.
Hôm Tiến có việc về hội, có anh thóc mách, đã hỏi soi móc thì chớ, lại có ý cười cợt vì anh ta không tin chuyện đồng cốt khi nào.
Tiến càng tức!
Từ bữa ấy Tiến giận hắn ra mặt. Vợ y còn bắn tin là hắn xấu chơi, có ý không tốt với bạn, nên mới đưa người đến không đúng lúc, chủ ý muốn phơi bày việc vợ chồng Tiến chưa muốn công khai vào lúc này. Bây giờ mới chỉ là bước dẹp đường cho ngày sau, khi cô đã nghỉ hưu. Giờ rất nên kín đáo!
Từ đó y tuyệt nhiên không đến nhà. Gặp từ xa y đã có ý lảng tránh. Dự hội nghị cùng có mặt, cũng tìm chỗ ngồi thật xa, như thể hai người chưa từng quen nhau.
Y đã không thích thì hắn cũng chẳng cần. Bạn bè cần ở nhau ở chỗ cảm thông, chia sẻ và giúp đỡ nhau những khi có thể. Bạn cho có, nắm mớ, vô bổ, cốt tào lao chi khươn thì cần cái cóc gì?
Hắn nghĩ như thế mặc dầu trong lòng hắn rất buồn !
**
Nỗi buồn nào rồi cũng qua đi, sự đời nó thế, buồn lâu làm gì ?
Hắn cặm cụi viết những gì lâu nay ấp ủ trong lòng, thờ ơ với tất cả mọi sự đang diễn ra hàng ngày ở xung quanh. Hắn định thế nhưng không được..
Có một cuộc thi viết về giáo dục. Hắn biết tỏng đây là chủ ý của những người nắm trọng trách trong ngành này.
Tác phẩm hay hay không, không quan trọng bằng qua đó phát hiện ra ý tưởng khả dĩ hiến kế có thể cứu nguy nền giáo dục đang sa đà vào chỗ bế tắc. Chứ không phải tô vẽ như bấy lâu nay người ta quen làm. Cải cách mãi rồi mà không khá lên được.
Đụng đến nó là đụng đến cả mớ bùng nhùng, khen cũng dở mà chê cũng rất khó.
Không khéo đụng chạm đến người này người khác, trong lúc vợ mình còn đang theo nghề.
Người ta không nói là bắt buộc phải tham gia, nhưng không viết chắc chắn là có người sẽ không bằng lòng. Trách nhiệm của hội viên là phải tham gia đóng góp với hội, không thể thờ ơ.
Hắn chọn thể loại “Bút ký văn học” là loại dễ đề cập đến vấn đè gai góc, nhạy cảm này. Nó khác ký sự ở chỗ, ngoài sự thể hiện sự thật khách quan, người viết có thể hư cấu thêm và đưa ý tưởng của mình vào trang viết, gần với tùy bút, gợi trí tưởng tượng.
Bài của hắn được đăng trang nhất, có dư luận nó sẽ được vào giải. Hắn chỉ coi như xong phận sự của mình. Được giải hay không, không quan trọng. Gần đây có nhiều ý kiến và dư luận cho rằng các loại giải thưởng, nhiều khi không nói lên được điều gì. Không đánh giá đúng chất lượng hay giá trị đúng của tác phẩm.
Tự mình hắn chỉ coi đó là bài báo đơn thuần ghi lại những gì mắt thấy tai nghe, cảm nghĩ và những ý tưởng của hắn về sự kiện này. Đã là bút ký văn học không nhất thiết phải ghi rõ tên người, tên việc cụ thể..
Đã giữ gìn như thế mà còn xảy ra chuyện !
Hắn được điện gọi về tòa soạn để hỏi về bài báo của mình.
Tổng biên tập hỏi hắn có bịa đặt, vu không hay bài xích một người nào không? Ông kể cách đây mấy hôm có người đến hỏi mua toàn bộ số báo mới phát hành vừa rồi. Một điều xưa nay chưa từng có của tờ báo “Văn” bé nhỏ của tỉnh nhà, vốn tia ra rất hạn chế, thường chỉ “biếu” chứ bán được mấy khi?
Hôm qua ban tuyên giáo vừa gọi ông đến và thông báo là có đơn kiện về bài báo của hắn: “Đã phản ánh sai sự thật, có ý xúc phạm đến tập thể giáo viên nhà trường, mang dụng ý xấu, gây mất đoàn kết, sự ổn định và uy tín của trường”
Hắn trả lời ông là không có chuyện đó. Hắn không phản ảnh một trường hợp, một trường học cụ thể nào, càng không có ý nói xấu, đả kích bất kỳ ai. Hắn chỉ nêu những hiện tượng phổ biến có tính bao quát chung những tiêu cực, tồn tại của ngành này mà thôi.
Mượn chữ nghĩa để chửi bới, moi móc người này, người khác một cách hèn hạ là điều hắn không bao giờ làm. Dù khả năng, trình độ kém đến đâu, hắn cũng biết đó là điều người có lòng tự trọng không nên làm . Hắn chỉ viết những gì hắn cảm thấy, hắn suy nghĩ một cách thành tâm, thành ý.
Ông ta bảo: “ Vậy thì được rồi, tớ sẽ bảo vệ cậu, chỉ sợ cậu xuyên tạc sai sự thật, hoặc có ý đả kích vì mâu thuẫn cá nhân. Chứ đả phá cái sai, cái xấu thì không vấn đề gì. Còn biểu dương cậu lần đầu đã có công trong sự kiện “Cháy” báo đấy !”
Hắn về vắt óc suy nghĩ do đâu lại có chuyện này ?
Nói: “ Văn học phục vụ quần chúng nhân dân..” là để mà nói. Thực ra có mấy ai đọc sách báo bây giờ đâu?
“ Quần chúng công, nông, binh” lại càng ít đọc. Một là họ đang phải đánh vật với cuộc mưu sinh hàng ngày. Hai là giá điện, giá xăng, vật giá leo thang không cho đầu óc con người rảnh rỗi. Ngay những thành phần khá giả trong xã hội còn phải than trời. Huống chi “Quần chúng công, nông, binh” thường ở tầng lớp nghèo, ít thời gian và tiền bạc đầu tư cho loại sản phẩm “tinh thần” này. Ba là cuộc chạy đua của lối sống đề cao vật chất càng ngày càng ô nhiễm nặng bầu không khí xã hội. Chưa kể đến sự cạnh tranh của các phương tiện nghe nhìn hiện nay. Tóm lại, văn hóa đọc với họ như một cái gì xa lạ!
Sách báo xuất bản, quanh đi quẩn lại mấy ông nhà văn, hội viên đọc với nhau. Một số ít gửi tới các phòng ban chủ yếu để theo dõi, nắm tình hình.. Vậy thì tại sao cô hiệu trưởng trường vợ hắn dạy học lại có được số báo đăng bài của hắn?
Một buổi sáng chủ nhật có hai cô đèo nhau đến nhà Tiến. Chuyện ấy cũng bình thường vì họ là đồng nghiệp đến chơi nhà nhau. Chỉ không bình thường ở chỗ còn có một mâm lễ, đủ vàng, tiền, hoa quả. Cô hiệu trưởng nhờ vợ Tiến kêu các quan triệu vong bà nội cô về, vì bố mẹ cô còn sống cả chưa ai quy tiên. ( Nghe nói khi còn ở dương gian, cụ hợp và yêu cháu gái lắm ). Cô muốn hỏi cụ sắp tới đây trên phòng ban khi nào xuống kiểm tra và họ quan tâm đến những chuyện gì?
Ý nguyện của người lãnh đạo với công việc chung chẳng có gì phải bàn nhiều .. Chuyện này lâu nay đã thành quen lệ chẳng ai bận tâm xem nó hay, dở, đúng, sai thế nào. Xin không kể lại nữa, vì nó không phải nội dung chính của câu chuyện này.
Khi xong việc đáng lý hai cô “trở ra về” vui vẻ như mọi khi. Ngồi lan man một lát, thấy Tiến lấy ra tờ báo, làm như vô tình đưa cô hiệu trưởng. Lần đầu cô thấy có tờ báo văn nghệ này ( Mặc dù nó ra đời cũng khá lâu ). Y bảo :
- Trong đây có bài viết về giáo dục hay lắm, hình như tác giả muốn nhắm vào trường ta thì phải, chị đọc xem có thấy thế không?
Cô hiệu trưởng giở ra đọc, đến đâu nét mặt cô thay đổi đến đấy, từ đỏ lên rồi tái dần đi.. Cô hỏi:
- Anh có biết tác giả bài này là ai không?
Tiến cười, bong bóng sùi li ti hai bên mép, ấy là khi đắc chí lắm, y bảo:
- Người ta ký bút danh nên tôi chịu, không biết là ai. ( Điều này thì y nói dối), nhưng phải là người trong cuộc mới biết rành rẽ thế được. Công nhận bài viết hơi ác, nêu cả những việc nhạy cảm, lẽ ra chỉ nên đóng cửa bảo nhau..
Cô không nói gì thêm, chỉ mượn tờ báo mang về, sáng hôm sau cô cho người đến tòa soạn, như ông tổng biên tập vừa nói ..
Thực ra bài báo chỉ nêu lên ở số trường thiếu thực thi dân chủ. Hiệu trưởng có quá nhiều quyền, thậm chí chuyên quyền, mạt sát, mắng mỏ giáo viên như người ăn, kẻ ở trong nhà. Giáo viên cứ nem nép như rắn mồng năm, chẳng ai dám ó é lên tiếng. Lợi dụng trường có các phân hiệu xa, đi lại khó khăn, hiệu trưởng thường phân cho những ai không ăn cánh và không cung phụng mình.
Chuyện tài chính không minh bạch khi mua sắm trang thiết bị cho trường. Các buổi tập huấn mang tính hình thức, bắt giáo viên đóng góp cho những chuyện không rõ ràng.. Nêu các vấn đề này hắn đã có ý tránh không nói cụ thể là ai và ở đâu ? Chỉ muốn nêu một vấn đề mà người ta chưa nói, là “quan hệ giữa thày với thày” thiếu trong sáng, vậy thì các thày cô yêu thương học trò sao được?
Ngày xưa hắn đi học các thày kính trọng, yêu thương và giúp đỡ nhau, cao quý lắm. Đó là tấm gương để trò noi theo, sao bây giờ các thày cô lại cư xử với nhau như vậy? Làm sao môi trường giáo dục “ Thân thiện” cho được? Các vấn đề khác người ta nói nhiều rồi, y chỉ nêu ở khía cạnh này trong khuôn khổ quy định số chữ của cuộc thi.
Nếu không có sự gợi ý của Tiến, dù cô có đọc, chưa chắc cô hiệu trưởng có phản ứng gì, mặc dù những biểu hiện nêu ra có phần “giông giống” trường cô. Tờ báo cũng không phải tài liệu mật “lưu hành nội bộ”cần hạn chế độc giả, Tiến có tặng cô cũng là việc nên làm, thêm phần quảng bá cho hội!
Ôi là lời nói đọi máu! Hắn nghĩ đến cuộc thăm viếng tình cờ của mấy người bạn tới nhà Tiến trước đây mà hắn là kẻ vô tình, biết đâu đây chả là việc “ăn miếng, trả miếng” của ông bạn vàng này?
May mà sau đó mọi chuyện cũng êm ả. Khi xét giải thưởng, bài của hắn được cho sang bên cạnh. Không phải vì thế mà hắn giận y đến bây giờ. Với hắn giải chẳng là gì cả, ngoài cuộc bia bọt với bạn bè, vinh quang nào có đáng là bao để mà khổ tâm về nó?
Hắn buồn ở nỗi mình chê người không biết thương yêu đùm bọc nhau, mà chính mình lại rơi vào vòng luẩn quẩn của sự đố kỵ, ghen ghét tầm thường.
“Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài” là câu châm ngôn không còn thích hợp với ngày nay nữa. Hình như mọi khái niệm xưa cũ đã dần thay đổi. Người ta đổ lỗi cho “kỳ gian” Song Ngư chuyển giao cho Bảo Bình, nên mọi chuẩn mực đều thay đổi, kể cả những giá trị thuần khiết nhất.. Chả biết có đúng thế không?
Chỉ biết, về sau mỗi lần hắn gửi bài, tổng biên tập thường soi đi soi lại, (cẩn thận không bao giờ thừa ). Ông làm vậy là đúng, chỉ có hắn là ái ngại vô cùng!
Có lẽ hắn phải gặp Tiến để nói rõ chuyện này mới được!

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Không khí ngày tết tại Sagon 1971

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Toàn Cảnh Miền Bắc Việt Nam Trước 1975 - North Vietnam before 1975

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trật tự thế giới 2.0: Vấn đề về Nghĩa vụ Chủ quyền


Tác giả: Richard N. Haass
Dịch giả: Song Phan
Số tháng 1/ 2 năm 2017
Gần bốn thế kỷ, tính từ Hòa ước Westphalia, kết thúc Cuộc chiến tranh Ba mươi năm, khái niệm về chủ quyền—quyền của các quốc gia đối với việc tồn tại độc lập và nền tự chủ—đã chiếm vị trí cốt lõi trong trật tự quốc tế đã có. Điều này có ý nghĩa, vì như mỗi thế kỷ, kể cả thế kỷ hiện tại đã chứng kiến, một thế giới trong đó các đường biên giới bị xâm phạm bằng vũ lực, là một thế giới của sự bất ổn và xung đột.
Tuy nhiên, một cách tiếp cận trật tự quốc tế chỉ dựa trên tiền đề về việc tôn trọng chủ quyền cùng với sự duy trì cân bằng quyền lực cần thiết để giữ nó an toàn không còn đủ nữa. Hệ điều hành truyền thống của thế giới—gọi nó là trật tự thế giới 1.0—đã được xây dựng xung quanh việc bảo vệ và đặc quyền của các quốc gia. Nó ngày càng không thích đáng trong thế giới toàn cầu hóa ngày nay. Bây giờ không còn bao nhiêu thứ vẫn còn giữ tính địa phương; dù là về con người hay bất cứ thứ gì, từ khách du lịch, kẻ khủng bố, và người tị nạn đến e-mail, bệnh tật, đô la, và khí nhà kính, đều có thể vươn tới gần như bất cứ nơi nào. Kết quả là những gì diễn ra bên trong một nước không còn có thể xem là mối quan tâm của chỉ một mình nước đó. Tình thế hiện nay đòi hỏi phải cập nhật hệ điều hành—gọi nó là trật tự thế giới 2.0—bao gồm không những các quyền của các quốc gia có chủ quyền mà còn các nghĩa vụ của các quốc gia đối với quốc gia khác nữa.
Một khái niệm về “nghĩa vụ chủ quyền” như thế, đáng chỉ ra, khác với khái niệm “chủ quyền như là trách nhiệm”, vốn nằm ở trung tâm của các chủ thuyết pháp lý gọi là “trách nhiệm bảo vệ”, hoặc R2P (responsibility to protect). R2P đề cập đến nghĩa vụ một chính phủ phải có đối với công dân của chính mình—những cam kết được giả định là có thể bị các quốc gia khác cưỡng chế thi hành thông qua nhiều biện pháp lên đến và kể cả can thiệp quân sự, nếu chểnh mảng. Nó rõ ràng thể hiện một sự vi phạm tiềm năng chủ quyền Westphalia cổ điển, và nó có những người ủng hộ và kẻ phản đối vì chính lý do đó. Ngược lại, nghĩa vụ chủ quyền là về cái mà một quốc gia có trách nhiệm với các nước khác. Nó bắt nguồn từ nhu cầu mở rộng và làm thích ứng những nguyên tắc truyền thống của trật tự quốc tế trong một thế giới kết nối lẫn nhau.
Nghĩa vụ chủ quyền do đó vẫn giữ lại việc tôn trọng biên giới và chống lại việc biên giới bị thay đổi thông qua cưỡng ép hoặc vũ lực. Nó ủng hộ các hành động thực thi tiêu chuẩn chống xâm lược, dù vụ việc liên quan đến Iraq xâm lược Kuwait hay Nga xâm lược Crimea. Và nó vẫn giữ lại việc tôn trọng quyền được hành động nói chung của các chính phủ theo ý họ bên trong biên giới của mình, với điều kiện chịu sự ràng buộc của các quy định được chấp nhận rộng rãi của luật pháp quốc tế, chẳng hạn như Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền và Công ước chống diệt chủng. Nghĩa vụ chủ quyền không chối bỏ hoặc thay thế cách tiếp cận truyền thống đối với trật tự—một cách tiếp cận vẫn còn cần nhưng không còn đủ nữa— nhiều như nó được xây dựng trên đó.
TỪ TRẠNG THÁI QUỐC GIA ĐẾN KHỦNG BỐ VÀ BOM
Một trật tự quốc tế mới sẽ đòi hỏi phải mở rộng bộ các chuẩn mực và thỏa thuận, bắt đầu với một cơ sở đồng ý chung cho trạng thái quốc gia (statehood). Không thể có một quyền không giới hạn cho mỗi và mọi cộng đồng để đạt được quyền tự quyết chính trị. Việc đạt được một sự đồng thuận về việc hạn chế quyền này như thế nào sẽ không dễ dàng, nhưng cần thiết để tránh các hành động đơn phương gây ra xung đột. Một khởi đầu tốt sẽ là sửa đổi khái niệm về quyền tự quyết để nó được coi như là một cái gì đó không những phải được khẳng định mà còn phải được trao cho. (Thoả thuận 1978 ở Trại David giữa Ai Cập và Israel, chẳng hạn, không mở rộng các nguyên tắc về quyền tự quyết cho người Palestine mà là ủng hộ quan điểm cho rằng “các đại biểu của dân Palestine phải tham gia vào các cuộc đàm phán về việc giải quyết các vấn đề Palestine trong mọi khía cạnh của nó”.)
Toàn cầu hóa là chuyện lâu dài, và những bất cập của phương pháp truyền thống với trật tự sẽ chỉ trở nên rõ ràng hơn theo thời gian.
Với cách tiếp cận như vậy, ủng hộ cho quyền tự quyết sẽ ít tự động hơn là trong thời kỳ giải thuộc địa. Các chính phủ hiện tại sẽ đồng ý xem xét các đề xuất cho trạng thái quốc gia trong những trường hợp ở đó có một sự biện minh lịch sử, một lý lẽ thuyết phục, sự ủng hộ phổ biến, và khả năng tồn tại khi xét tới thực thể mới được đề xuất. Tác động của một động thái như vậy về việc có thể có nước từ bỏ lãnh thổ và dân số cũng sẽ cần phải được xem xét, và các chính phủ sẽ đồng ý tham vấn với nhau trước khi thực hiện các động thái ngoại giao.
Yếu tố cốt lõi của một khuôn khổ cho trật tự quốc tế dựa trên nghĩa vụ chủ quyền sẽ là những cấm đoán về việc thực hiện hoặc ủng hộ khủng bố theo cách nào đó, được định nghĩa như là việc sử dụng bạo lực vũ trang có chủ ý của các thực thể phi nhà nước chống lại dân thường và những người không là chiến binh để theo đuổi các mục tiêu chính trị. Trong những thập kỷ gần đây, thế giới đã rời xa khỏi việc dung túng bọn khủng bố nếu thấy rằng mục tiêu của họ không chính đáng. Việc quốc tế lên án khủng bố cũng như việc ủy quyền cho hành động tập thể chống lại nó đã thành lệ. Chừng nào mà các chính phủ theo đuổi việc tấn công chống khủng bố vào các cá nhân hoặc nhóm là khủng bố thực sự, và vạch ra các cuộc tấn công sao cho chúng phù hợp với các tiêu chuẩn pháp lý và đạo đức, bao gồm việc thực hiện các bước để bảo vệ thường dân vô tội, thì họ sẽ không bị chỉ trích đáng kể.
Gây tranh cãi nhiều hơn sẽ là việc ủng hộ tiêu chí chống lại sự phổ biến hoặc sử dụng vũ khí hủy diệt hàng loạt. Có một khuynh hướng quốc tế hiện hành (được Hiệp ước không phổ biến hạt nhân nhấn mạnh) ngăn chặn phổ biến vũ khí bằng cách hạn chế các nước tiếp cận với công nghệ và chất liệu có liên quan, và sự chống đối của các cường quốc chính với việc Iran có được khả năng hạt nhân cho thấy cách tiếp cận đó có thể tạo dễ dàng cho tiến trình ngoại giao. Nhưng sự đồng thuận thường bị phá vỡ khi đi vào các chi tiết về những điều gì cần nhấn mạnh và những khuyến khích hoặc trừng phạt nào cần đưa ra—và các chính phủ đã cho thấy khả năng họ phát triển hoặc có được vũ khí hạt nhân chống lại sự phản đối quốc tế, nếu họ làm việc đó tới mức thành một ưu tiên.
Thậm chí tranh chấp nẩy sinh nhiều hơn về những gì phải làm một khi việc phổ biến [vũ khí hạt nhân] đã xảy ra. Một lựa chọn là cứ sống với nó, như đã xảy ra trong trường hợp Israel, Ấn Độ, Pakistan, và cho đến nay, Bắc Triều Tiên. Tuy nhiên, việc chấp nhận trên thực tế như vậy có thể có nguy cơ, vì nó có thể làm hành vi nguy hiểm thành có khả năng lẫn vì nó có thể tiếp tục pha loãng chuẩn mực không phổ biến hạt nhân, do đó có khả năng khuyến khích sự phát triển thêm. Một giải pháp thay thế cho việc chấp nhận là những nỗ lực ngoại giao bổ sung, được hậu thuẫn bằng cấm vận, nhằm rút lại năng lực hạt nhân của nước phát triển hạt nhân. Vấn đề là những nỗ lực như vậy thường thất bại. Vì vậy, một giải pháp thay thế khác là phải sống với sự phát triển hạt nhân cho đến khi tình báo cho thấy rằng vũ khí sắp được sử dụng hoặc chuyển giao cho một nhóm khủng bố—tại thời điểm đó khả năng xuất hiện cho một cuộc tấn công quân sự phủ đầu chống lại một mối đe dọa sắp xảy ra. Một cuộc tấn công như vậy sẽ đòi hỏi tin tình báo chính xác và tương đối không mập mờ, cùng với ý chí và các phương tiện để thực hiện nó. Có một sự ủng hộ nào đó trong luật pháp quốc tế cho một tư thế như vậy.
Còn một giải pháp khác nữa là cố đạt được sự ủng hộ quốc tế cho tính chính đáng (legitimacy) của hành động phòng ngừa để ngăn chặn phổ biến vũ khí. Các hành động chặn trước nhắm vào các mối đe dọa sắp xảy ra; những hành động phòng ngừa nhắm vào các mối đe dọa trước đó, khi chúng vẫn còn đang gom tụ lại. Hành động phòng ngừa có thể làm gián đoạn chương trình hạt nhân của một nước trước khi bất kỳ loại vũ khí nào được sản xuất hoặc tiêu huỷ chúng sau đó. Nhưng sẽ có không nhiều sự ủng hộ quốc tế cho một lập trường như vậy, vì nó sẽ bị những chính phủ thấy đó như là việc cấp giấy phép cho Hoa Kỳ tấn công các nước, như Bắc Triều Tiên hay Iran, phản kháng. Nó cũng không nhất thiết được mong muốn, vì bên cạnh những điều khác, một thế giới có các cuộc tấn công phòng ngừa thường xuyên sẽ hung bạo và nguy hiểm hơn.
Syrian migrants cross under a fence as they enter Hungary at the border with Serbia, near Roszke, August 27, 2015. REUTERS/Bernadett Szabo/File Photo To match story
Người di cư Syria chung qua dưới một hàng rào để vào Hungary tại biên giới với Serbia, gần Röszke, August 2015.BERNADETT Szabo / REUTERS
Có một sự ủng hộ rất đáng kể cho việc chống phổ biến vũ khí hạt nhân nhưng không nhiều cho hành động quân sự để ngăn chặn nó hoặc giảm nó lại một khi nó đã xảy ra. Ủng hộ cho hành động chặn trước khi đối mặt với các mối đe dọa sắp xảy ra sẽ phụ thuộc vào các chi tiết của trường hợp cụ thể và sẽ tăng đến mức có thể được chứng minh rằng những hành động đó là cần thiết. Bắc Triều Tiên vốn đang phát triển khả năng đặt các đầu đạn hạt nhân vào tên lửa đạn đạo có thể bay tới Hoa Kỳ, hứa hẹn sẽ là một trường hợp đang nói. Đưa điều này thành một chủ đề thảo luận tại các cuộc họp song phương và đa phương là có ý nghĩa, không phải vì có khả năng nó sẽ dẫn đến một thỏa thuận chính thức mà còn vì nó sẽ tập trung sự chú ý vào các loại hoàn cảnh có thể dẫn đến việc xem xét hành động dự phòng, hoặc chặn trước—một cái gì đó tới lượt có thể giảm cơ hội cho những hoàn cảnh như vậy nổi lên.
TỪ KHÍ HẬU ĐẾN KHÔNG GIAN MẠNG VÀ XA HƠN
Biến đổi khí hậu theo nhiều cách là biểu hiện tinh túy của toàn cầu hóa. Nó phản ánh tổng số của những gì đang xảy ra; những nước tiếp xúc với và bị ảnh hưởng bởi vấn đề này không đều nhau bất kề phần đóng góp vào nó. Biên giới tính ra vô nghĩa. Có một sự nhất trí rộng rãi, nếu không phải là phổ biến, rằng thay đổi khí hậu là có thật, phần lớn là do hoạt động của con người gây ra, và tạo thành một mối đe dọa lớn đối với tương lai của hành tinh và cư dân của nó. Nhưng sự đồng thuận bị phá vỡ khi nói đến việc xác định cái gì cần phải làm và do ai làm.
Trên nguyên tắc, biến đổi khí hậu là một cái gì đó vốn phải nằm gọn trong khuôn khổ nghĩa vụ chủ quyền, vì những thứ mà một nước thực hiện bên trong biên giới của mình trong việc thải ra carbon có tác động cho toàn thế giới. Nói một cách khác, biến đổi khí hậu là một hệ quả tích lũy của hoạt động địa phương. Như vậy, nó khác một cách cơ bản với, chẳng hạn ô nhiễm nước hoặc ô nhiễm không khí vốn phần lớn là một hệ quả của hoạt động địa phương.
Vấn đề là việc đánh giá phần chia sẻ thoả đáng của mỗi quốc gia trong gánh nặng chống lại nó, qua việc giảm lượng thải carbon của chính mình hay giúp đỡ các nước khác giảm đi lượng thải của họ. Những nỗ lực để thiết lập mức trần toàn cầu, phân bổ phần chia sẻ của từng nước, hoặc gán một cái giá cho carbon đã bị phản kháng. Tuy nhiên, Hội nghị Paris năm 2015 cho thấy một số hiện thực cũng như tính sáng tạo qua việc tiến hành một cách tiếp cận khác nhau. Một mục tiêu tổng thể đã được thiết lập để hạn chế biến đổi khí hậu, nhưng không đưa ra những hướng dẫn cụ thể cho các nước về những gì cần phải làm để đạt được mục tiêu đó. Điều đó là hoàn toàn tự nguyện và ước vọng hơn là bắt buộc. Thật vậy, người ta đãt hoả thuận rằng mỗi nước sẽ tư thiết lập cho mình những mục tiêu đầy tham vọng nhưng có thể đạt được trong việc giảm lượng carbon và sau đó cố thực hiện theo cam kết của mình.
Đó là một bước tiến về hướng nghĩa vụ chủ quyền, và chính phủ các nước giàu có nên đưa ra các hình thức khuyến khích để giúp các nước khác đạt được mục tiêu của họ, cũng như xem xét hình phạt loại này hay loại khác cho những nước không thực hiện. Cũng có nhiều việc sẽ phải làm để giúp các nước thích ứng với hậu quả của biến đổi khí hậu vốn đang diễn ra; biết rằng qua nhiều thập kỷ các nước phát triển đã góp phần đáng kể trong việc tạo ra vấn đề này, việc họ nên giúp trang trải các chi phí giảm thiểu và thích ứng của các nước khác như một phần của nghĩa vụ chủ quyền là điều hợp lẽ.
Không gian mạng là lĩnh vực hết sức mới trong hoạt động quốc tế, một lĩnh vực được đánh dấu bằng cả hợp tác lẫn xung đột. Một số hoạt động trong không gian mạng là vô hại và ít dính dáng tới an ninh quốc gia, trong khi các hoạt động khác được kết nối mật thiết với chính sách đối ngoại, tình báo, và việc cạnh tranh quốc gia. Mục tiêu trong lĩnh vực này nên tạo ra các thỏa thuận quốc tế nhằm khuyến khích những cách dùng vô hại không gian mạng và làm nhục chí những cách dùng ma mãnh. Sau đó, các chính phủ sẽ phải duy trì và hành động nhất quán trong chế độ này như là một phần của nghĩa vụ chủ quyền.
Một chế độ như vậy có thể liên quan đến điều gì? Lý tưởng nhất, nó sẽ duy trì một hệ thống không gian mạng tích hợp duy nhất cho toàn cầu, giới hạn những cái chính phủ có thể làm trong việcngăn chặn dòng chảy tự do của thông tin và truyền thông bên trong nó, cấm gián điệp thương mại và trộm cắp tài sản trí tuệ, và giới hạn và làm thui chột ý chí các hoạt động gây rối trong không gian mạng trong thời bình. Các ngoại lệ cần thiết là cho phép tấn công mạng để làm hỏng cả việc phát triển hạt nhân lẫn khủng bố. Cuối cùng, có thể cần phải xây dựng một phụ lục cho luật về chiến tranh trên không gian mạng quy định cụ thể những hành động nào trong phạm vi này được coi là được phép làm và những hành động nào là bị cấm. Và cũng như với khủng bố, với không gian mạng: chính phủ sẽ có nghĩa vụ không chỉ tránh tham gia vào các hoạt động bị cấm mà còn làm mọi thứ trong quyền lực của mình để ngăn chặn các bên khác thực hiện những hoạt động đó từ lãnh thổ của họ và để ngăn chặn và trừng phạt những ai thực hiện.
Đạt được thậm chí sự đồng thuận có giới hạn trên các nguyên tắc như vậy và làm cách nào để duy trì chúng sẽ cần nỗ lực rất lớn. Nhưng vì những vấn đề này vẫn còn tương đối mới, mục tiêu hiện nay là nên bắt đầu xây dựng một bộ quy tắc ứng xử thích hợp cho các quốc gia đi theo lĩnh cực này.
Y tế toàn cầu bày ra những thách thức khác nhau. Trong một thế giới toàn cầu hóa, một đợt bùng phát bệnh truyền nhiễm ở một nước có thể nhanh chóng phát triển thành một mối đe dọa nghiêm trọng đến sức khỏe ở những nơi khác, như đã xảy ra trong những năm gần đây với tất cả mọi thứ từ SARS đến Ebola đến Zika. Khái niệm về nghĩa vụ chủ quyền đã đi trước rất xa trong lĩnh vực này, và các nước đã được giả định là phải cố phát hiện các vụ bùng phát bệnh truyền nhiễm, thông báo cho những nước khác trên thế giới, và phản ứng một cách thích hợp khi đối mặt với một cuộc khủng hoảng. Nhưng tất cả những điều đó thì nói dễ hơn làm, và các chính phủ cùng Tổ chức Y tế Thế giới không phải lúc nào cũng có khả năng (và trong một số trường hợp, ý chí chính trị) để thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình. Nhiều trợ giúp kỹ thuật và tài chính trong khu vực này là cần thiết, và có thể việc chỉ đích danh và bêu xấu những kẻ né việc sẽ khiến họ cải thiện hon hành vị của mình.
Về vấn đề người tị nạn, không có cách nào thay thế cho hành động có hiệu quả tại chỗ để cho các tình huống không làm phát sinh mà tạo ra dòng người tị nạn lớn. Trên nguyên tắc, đây là một lập luận cho việc can thiệp nhân đạo dưới sự bảo trợ của R2P. Nhưng diễn dịch nguyên tắc này vào thực tế đã cho thấy là bất khả và có khả năng vẫn khó khăn dù cócác chương trình nghị sự chính trị khác nhau (có rất ít, nếu quả có, tình huống là phi chính trị hoặc chỉ đơn thuần là nhân đạo) và cái giá phải trả cho sự can thiệp có hiệu quả là cao ngay cả khi các mục tiêu có chỗ trùng lắp nhau. Tuy nhiên, ngay cả khi không có một sự đồng thuận, vẫn có lập luận để tăng kinh phí cho những người tị nạn, đảm bảo việc họ được đối xử nhân đạo, và thiết lập hạn ngạch công bằng cho việc họ tái định cư, tất cả các điều đó đều có thể và nên được làm thích nghi theo nghĩa vụ chủ quyền.
Nghĩa vụ chủ quyền mang một màu sắc khác trong lĩnh vực kinh tế, vì các chính phủ đã có nhiều sáng kiến tự quan tâm để hành động một cách có trách nhiệm qua việc duy trì một đồng tiền có thể đứng vững được, đảm bảo rằng các tổ chức tài chính giữ dự trữ thoả đáng, thực thi kế toán trung thực, đẩy lùi tham nhũng, tôn trọng hợp đồng, mở rộng thương mại, và chăm bón một môi trường thu hút được đầu tư. Việc tuân theo những cách làm tốt nhất về kinh tế, nói cách khác, là một cái gì đó mà các quốc gia nên làm cho chính mình hơn cả. Nhưng có một số khía cạnh hoạt động kinh tế liên quan khác nằm trong khuôn khổ nghĩa vụ chủ quyền.
Chẳng hạn các thoả ước thương mại, theo định nghĩa, là các hiệp định về nghĩa vụ chủ quyền tương hỗ nhau liên quan đến thuế quan và các hàng rào phi thuế quan. Khi một bên cho rằng nghĩa vụ đó không được đáp ứng thì nhờ đến trọng tài; thực sự, điều đột phá chính của Tổ chức Thương mại Thế giới là cung cấp một cơ chế thường trực để giải quyết các tranh chấp liên quan đến các cách thực hành giao thương và đi đến các dàn xếp. Tuy nhiên, nhiều điều ít rõ ràng hơn ở một số khu vực khác của hoạt động kinh tế, chẳng hạn như việc cung cấp các khoản trợ cấp hoặc việc thao túng tiền tệ của chính phủ để được lợi thế xuất khẩu cho nước mình và gây bất lợi cho nhập khẩu. Thách thức này sẽ phải nêu rõ ràng nghĩa vụ chủ quyền thích hợp trong các lĩnh vực này trong các hiệp ước thương mại trong tương lai và tạo ra các cơ chế để buộc các chính phủ phải có trách nhiệm.
TỪ LÝ THUYẾT ĐẾN THỰC HÀNH
Sẽ khó để đi đến ngay cả một thỏa thuận thô về những nghĩa vụ chủ quyền cụ thể nào mà các quốc gia phải có và các nghĩa vụ đó nên được thực thi như thế nào. Việc biến khái niệm được chấp nhận thành một trụ cột trong trật tự quốc tế sẽ mất nhiều năm hoặc thậm chí hàng chục năm tham vấn và đàm phán, và thậm chí sau đó, việc nó được tuân theo và tác động của nó vẫn sẽ không đều. Nhưng thay vì là lý do từ bỏ dự án, đó là lý do để bắt đầu về nó một cách nghiêm túc và sớm, vì thời đại toàn cầu sẽ tiếp tục phát triển, và các thỏa thuận hiện có sẽ ngày càng không thích hợp để đối phó với các thách thức.
Như một bước đầu tiên, Washington nên nghiền ngẫm những nghĩa vụ nào mà họ sẽ chấp nhận cho chính mình và những nghĩa vụ nào họ sẽ đòi hỏi ở nước khác, cố gắng để vạch ra một bộ quy tắc tổng quát về hành vi thích hợp mà Washington có thể tuân theo cùng với các nước khác. Một bộ quy tắc như thế có khả năng cung cấp một cái gì đó như một la bàn cho chính sách đối ngoại của Mỹ vì nó lèo lái cái hứa hẹn sẽ là một kỷ nguyên địa chính trị phức tạp đặc trưng bởi một số lượng ngày càng tăng các thách thức cho sự ổn định ở cấp khu vực cũng như cấp toàn cầu.
Những nhà quyết định chính sách Mỹ cũng phải đối mặt với thực tế rằng bất kỳ trật tự thế giới nào cũng sẽ hạn chế các lựa chọn của Mỹ cũng như các lựa chọn của những nước khác. Cho dù đúng là Hoa Kỳ có một vai trò đặc biệt trong thế giới và trách nhiệm duy nhất mà đôi khi đòi hỏi có các hành động táo bạo đơn phương, bất cứ khi nào Hoa Kỳ đòi hỏi nước khác nhiều hơn đòi hỏi chính mình thì nó có vẻ đạo đức giả và đánh mất thẩm quyền và sự tin cậy. Ví dụ, ở biển Đông, Washington từng chỉ trích Bắc Kinh không tuân theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển—ngay cả khi Quốc hội Mỹ không chịu phê chuẩn chính điều ước đó. (Trường hợp tương tự khác, chẳng hạn như việc Mỹ từ chối gia nhập Tòa án Hình sự Quốc tế, có thể được tìm cách xoay xở qua việc chạy vòng quanh, chẳng hạn như cho phép lập ra các tòa án để xử lý các sự kiện lịch sử cụ thể.) Tương tự như vậy, khả năng Hoa Kỳ thuyết phục khác nước giúp người tị nạn nhiều hơn bị cản trở bởi những giới hạn rõ ràng về những gì nước Mỹ tự mình sẵn sàng để làm trong lĩnh vực này. Hoa Kỳ cũng phải chăm lo để được minh bạch: nó chỉ thực hiện ít ỏi cho mục đích của R2P khi vụ can thiệp vào Libya năm 2012 nhanh chóng biến thành một vụ can thiệp thay đổi chế độ; các can thiệp nhân đạo phải hẹp về phạm vi.
Trong một số lĩnh vực như y tế công cộng hoặc biến đổi khí hậu, tấm gương do hành vi tốt của chính Washington lập ra, cùng với viện trợ tăng thêm, có thể đủ khiến các nước khác đáp ứng nghĩa vụ của họ. Trong các lĩnh vực khác, chẳng hạn như khủng bố và phổ biến vũ khí, ý muốn sử dụng vũ lực quân sự đôi lúc có thể được đòi hỏi —nhưng nếu vũ lực cho thấy trở nên cần thiết, bất kỳ hoạt động quân sự nào sẽ phải chịu sự săm soi cả lý giải lẫn việc thực thi.
Với vai trò của đồng USD là đồng tiền dự trữ trên thực tế (de facto) của thế giới, Hoa Kỳ cần phải chấp nhận nghĩa vụ đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế. Điều này có nghĩa là phải tính đến quan điểm của các nước khác khi quyết định về lãi suất hoặc mua sắm tài sản (còn được gọi là “nới lỏng định lượng”). Tham vấn thường xuyên, nghiêm ngặt giữa Ngân hàng dự trữ liên bang ( Federal Reserve) và các đối tác ngân hàng trung ương trên thế giới là rất cần thiết. Và các tranh chấp thương mại nên được đưa tới Tổ chức Thương mại thế giới hơn là hành động đơn phương.
Cổ vũ Trật tự Thế giới 2.0 sẽ đòi hỏi tham vấn rất nhiều. Trong một số lĩnh vực như y tế toàn cầu, việc đối thoại đã tiến xa, và thách thức chính là việc xây dựng năng lực quốc gia ở các nước còn thiếu nó. Trong các lĩnh vực khác, chẳng hạn như không gian mạng, thế giới vẫn còn xa mới đạt thỏa thuận về những nghĩa vụ nào cần phải được đòi hỏi . Và trong các lĩnh vực khác nữa, chẳng hạn như phát triển vũ khí, chuẩn mực đã được thoả thuận, nhưng việc thực thi thì rất nhiều tranh cãi. Như một quy luật, Hoa Kỳ có thể và nên đưa ra những ý tưởng, nhưng không phải ở vị thế về trí tuệ hay về chính trị để trình bày một kế hoạch chi tiết cho các nước khác ký vào. Ngược lại, những nước khác phải tham gia trong việc thêm da thịt cho khái niệm cũng nhiều như việc thực thi nó.
Tiến bộ tích cực về chương trình này sẽ cần đạt đến một cách tự nguyện, từ chính các nước hơn là kết quả của một lệnh nào đó từ trên xuống của cơ quan hay diễn viên được coi là có thẩm quyền. Nhìn thẳng vào sự không ăn khớp giữa bản chất và quy mô của các vấn đề đương đại và khả năng của các thoả thuận hiện có để giải quyết chúng, các chính phủ sẽ phải quyết định xem họ có sẵn sàng hy sinh một số quyền tự chủ để đổi lấy hành động tập thể được cải thiện. Loại suy nghĩ này đã phổ biến trong lĩnh vực thương mại (mặc dù hiện nay đang bị phe dân tuý cáu giận ở nhiều nước công kích), và nó đang bắt đầu trở thành hiện thực trong đấu trường khí hậu và không gian mạng, nhưng triển vọng của nó là pha tạp nhiều hơn trong lĩnh vực chính trị-quân sự.
Nhưng sức mạnh của thảo luận và thuyết phục trong việc thúc đẩy thay đổi trong thời gian dài thường bị đánh giá thấp. Nhiều vấn đề chưa đủ chín muồi để đem ra đàm phán chính thức thành công, và trong thời gian chuyển tiếp, tham vấn có thể làm được nhiều thứ để tạo ra sự hiểu biết và khoan dung về một vài hành động nhất định, làm rõ những hành vi nào được xem là phải chăng hoặc chấp nhận được, và làm rõ cái giá phải trả và các hậu quả có thể có của việc vượt quá các giới hạn. Vai trò của Ngoại trưởng và các quan chức Mỹ cao cấp khác sẽ cần phải thay đổi trong tương lai gần, nhấn mạnh nhiều hơn vào tham vấn trên các diễn biến của trật tự quốc tế và ít hơn vào các cuộc đàm phán giải quyết các vấn đề tường minh.
Hầu hết các tham vấn ban đầu nhất thiết sẽ phải dính dáng tới các cường quốc lớn khác, bao gồm Trung Quốc, Pháp, Đức, Ấn Độ, Nhật Bản, Nga, và Vương quốc Anh. Các cuộc đàm phán sẽ cần phải diễn ra song phương và ở các diễn đàn không chính thức khác; sẽ là quá sớm để nghĩ tới G-20 hoặc Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc như một nơi dùng đàm phán. Tiến bộ sẽ khó nắm bắt trong điều kiện có những bất đồng rõ ràng về những ưu tiên; cụm từ “cộng đồng quốc tế” thường được viện dẫn trong khi thực tế có rất ít bằng chứng thấy nó tồn tại. Và các cuộc đàm phán này sẽ được diễn ra trong bối cảnh quan hệ của các cường quốc lớn đang xấu đi, một phần bị thúc đẩy bởi chủ nghĩa toàn trị đang hồi sinh tại Nga và Trung Quốc và chủ nghĩa dân túy ở các nơi khác, kể cả ở Hoa Kỳ.
Tuy nhiên, không có lựa chọn tốt nào khác. Toàn cầu hóa đến và ở lại đây, và những bất cập của cách tiếp cận truyền thống với trật tự, chỉ dựa trên một mình chủ quyền, sẽ chỉ trở nên rõ ràng hơn theo thời gian. Di chuyển về hướng một loại trật tự mới lồng ghép nghĩa vụ chủ quyền vào là cách tốt nhất để đối phó với vấn đề, nhưng sẽ đòi hỏi thời gian, đàm phán, và nỗ lực. Do đó, trật tự thế giới ít trở thành một đề xuất kiểu ‘được ăn cả ngã về không’ hơn thành một vấn đề về mức độ, ít trở thành một thỏa thuận chính thức hơn thành một quá trình, tiến trước ở một số lĩnh vực xa hơn ở những lĩnh vực khác. Tuy nhiên, điều chắc chắn nó là cốt yếu cho một thế kỷ trong đó toàn cầu hóa sẽ trở thành hiện thực, dù có vui vẻ chào đón hay không. Xây dựng một trật tự thế giới dựa vào nghĩa vụ chủ quyền chắc chắn là điều tham vọng, nhưng đó là một tham vọng sinh ra từ hiện thực, chứ không phải từ lý tưởng.
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chưa thể vội kết luận số tài sản của ông Tuấn


Trần Vũ Hải - Công an tỉnh Yên Bái cần tiếp tục thu giữ số tiền 100.000 USD, 1,5 tỷ đồng và nhẫn để xác định chủ sỡ hữu hợp pháp thực sự hay là tang vật của một vụ phạm luật. Nếu ông Tuấn đã khai số tài sản này trong hồ sơ ứng cừ đại biểu HĐND tỉnh cũng như hồ sơ cán bộ của tỉnh uỷ Yên bái, đương nhiên cần trả lại số tài sản này cho gia đình ông Tuấn. Còn nếu ông không kê khai, có căn cứ pháp lý để khẳng định, ông Tuấn chưa sở hữu hợp pháp số tài sản này vào tháng 4/2016. 



Chiều qua 26/12/2016, Công an tỉnh Yên Bái đã họp báo công bố kết luận vụ Đỗ Công Minh bắn chết hai lãnh đạo tỉnh Yên Bái, trong đó có ông Ngô Ngọc Tuấn, chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh kiêm Trưởng Ban tổ chức Tỉnh uỷ Yên bái. Cá nhân tôi cho rằng do mức độ đặc biệt chưa từng có của vụ án này và hai nạn nhân là hai lãnh đạo cao nhất của địa phương, lẽ ra việc điều tra phải do cơ quan điều tra của Bộ Công an tiến hành.

Đáng chú ý, trong cuộc họp báo này có thông tin :"Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định... trong phòng ông Tuấn có két sắt, bên trong có 100.000 USD, 1,5 tỉ đồng và 1 số nhẫn chưa xác định chủng loại, giá trị. Về số tiền thu được 100.000 USD, 1,5 tỉ đồng, đã thẩm tra, Ban tổ chức tỉnh ủy xác định Ban tổ chức không giao cho ông Tuấn số tiền này, ông Tuấn không vay nợ ai....Đã lấy lời khai của bà Vũ Thị Thu Hiền, vợ ông Tuấn và bà Hiền khai số tiền này là tiền tích cóp của hai vợ chồng từ nhiều năm nay. Do hai vợ chồng đi làm thường xuyên, ở nhà có mẹ già nên ông Tuấn mua két sắt để tại phòng làm việc sử dụng để cất tiền cá nhân"

http://tuoitre.vn/…/hop-bao-ket-qua-dieu-tra-v…/1242391.html

Theo tôi, chưa thể vội kết luận số tài sản trong phòng làm việc của ông Tuấn thuộc sở hữu hợp pháp của gia đình ông Tuấn. Do ông Tuấn là Chủ tịch HĐND tỉnh kiêm trưởng ban Tổ chức, nên đều có hồ sơ khai về tài sản. Gần nhất, tháng 4/2016, các ứng cử viên HĐND phải khai theo mẫu http://haiphong.gov.vn/…/Mẫu%20số%208%20-%20Ke%20khai%20tai….

Theo mẫu này ông Tuấn phải khai tài sản, trong đó có tiền mặt, tiền cho vay, tiền gửi nếu tổng trị giá từ 50 triệu đồng trở lên. Tương tự với tài sản khác như nhẫn, dá quý..

Nếu ông Tuấn đã khai số tài sản này trong hồ sơ ứng cừ đại biểu HĐND tỉnh cũng như hồ sơ cán bộ của tỉnh uỷ Yên bái, đương nhiên cần trả lại số tài sản này cho gia đình ông Tuấn. Còn nếu ông không kê khai, có căn cứ pháp lý để khẳng định, ông Tuấn chưa sở hữu hợp pháp số tài sản này vào tháng 4/2016. Nếu gia đình ông Tuấn khẳng định, số tài sản này thuộc sở hữu hợp pháp của họ, họ cần chứng minh từ tháng 5 đến tháng 8/2016 (đến khi ông Tuấn bị bắn chết) ông Tuấn và gia đình họ có thu nhập bất thường như được tặng cho, trúng sổ xố, thắng chứng khoán...Nếu họ không chứng minh được có thu nhập bất thường trong thời gian trên, có cơ sở để nhận định tài sản trên thuộc sở hữu hợp pháp của người khác hoặc vô chủ. 


Để xác định chủ sỡ hữu hợp pháp số tài sản này, cần thực hiện các quy định theo Bộ luật dân sự (đề nghị các đồng nghiệp luật sư phân tích thêm). Tất nhiên không loại trừ có kẻ xấu định hại lãnh đạo tỉnh Yên bái, như vứt tài sản vào phòng làm việc của ông Tuấn để vu khống ông Tuấn nhận hối lộ, ông Tuấn mới phát hiện, cho vào két bảo quản, chưa kịp trình báo đã bị bắn chết.

Nếu số tiền 1,5 tỷ đồng hoặc 100.000 USD được bọc trong cọc của ngân hàng, công an sẽ dễ dàng tìm ra ngân hàng nào đã trao cho ai cọc tiền đó trước khi nó nằm trong két tại phòng làm việc của ông Tuấn, xác định ngay kẻ xấu (nếu có). Ngoài ra, theo quy đinh chặt chẽ về ngoại hối, việc giao dịch bằng ngoại tệ bị cấm tại Việt nam (ngoài hệ thống ngân hàng), những người thực hiện bị phạt nặng (ít nhất 500 triệu đồng) và tang vật bị tịch thu.

Tóm lại, nhiều khả năng có thể xảy ra, rất có thể nếu không xác định chủ sở hữu là ai, cuối cùng số tiền trên sẽ thuộc công quỹ.

Vì vậy, Công an tỉnh Yên bái cần tiếp tục thu giữ số tài sản thu được trong phòng làm việc của ông Tuấn khi bị bắn chết, làm các bước đúng quy trình trong Bộ Luật Dân Sự và các luật khác để xác định ai là chủ sở hữu hợp pháp số tài sản này, có hay không hành vi phạm luật liên quan số tài sản đó. Nếu thật sự gia đình ông Tuấn chứng minh được mình là chủ hợp hợp pháp số tiền trên, trả lại cho họ cũng không muộn, sau khi thận trọng làm "đúng quy trình theo luật".

Xin mời các đồng nghiệp và các bạn cho ý kiến thêm!

Trần Vũ Hải
(FB Vũ Hải Trần)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nơi giấu tiền an toàn nhất là phòng làm việc của lãnh đạo


Kết luận của Phọt Phẹt: Nơi cất giữ tiền an toàn nhất là phòng làm việc của lãnh đạo chứ không phải tư gia hay ngân hàng. Bọn đạo chích khỏi phải bói chân gà hay xem tay người bị sét đánh nữa nhé. Tháng củ mật đến rồi.



Vậy là rõ rồi nhé, tiếng súng Yên Bái đã kết thúc rất...có hậu. Ấy là do bức xúc trong việc sắp xếp nhân sự chứ tịnh không cừu thù ân oán trong làm ăn hay ái tình. Hơi băn khoăn một chút là khám xét phòng làm việc của đồng chí Ngô Ngọc Tuấn có 1 két sắt, trong két có 100.000 USD, 1,5 tỷ đồng và 4 chiếc nhẫn màu vàng, mặt đá không xác định trọng lượng và chất lượng. Đồng chí Ngô Ngọc Tuấn trước khi bị hạ sát là đương kim chủ tịch HĐND kiêm trưởng ban tổ chức Tỉnh ủy.



Đại tá Phạm Ngọc Thắng – Phó giám đốc Công an tỉnh Yên Bái cho biết, đây là số tiền mà 2 vợ chồng ông Tuấn tích góp nhiều năm nay, để ở đây cho an toàn.

Kết luận của Phọt Phẹt: Nơi cất giữ tiền an toàn nhất là phòng làm việc của lãnh đạo chứ không phải tư gia hay ngân hàng.

Bọn đạo chích khỏi phải bói chân gà hay xem tay người bị sét đánh nữa nhé. Tháng củ mật đến rồi.

Chiến thôi:))


http://www.photphet.info/2016/12/ung-quy-trinh.html

Phần nhận xét hiển thị trên trang