Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 24 tháng 12, 2016

Ba triều đại Lê Trịnh, Tây Sơn, Nguyễn nối tiếp đòi trả đất tại phủ An Tây, Hưng Hóa.


Hồ Bạch Thảo
Lịch sử Việt Nam thời cận đại có ba triều đại Lê Trịnh, Tây Sơn và Nguyễn, đối nghịch lăm le tiêu diệt lẫn nhau, gây cuộc chiến tranh cốt nhục tương tàn hàng thế kỷ. Các triều đại này xung khắc nhau như nước với lửa, tưởng không thể chia sẽ với nhau bất cứ chính sách nào; tuy nhiên có điều thú vị là cả ba cùng một ý nguyện tìm cách đòi lại phần đất bị mất bởi Trung Quốc, tại 10 châu thuộc phủ An Tây,  Hưng Hóa.

Lai lịch đất 10 châu có thể tóm lược như sau: Năm Tân Tỵ Cảnh Hưng thứ 22 [1761] Hoàng Công Thư [tức Hoàng Công Toản] chiếm cứ 10 châu tại biên giới Việt Trung, thuộc vùng đất tại các tỉnh Ðiện Biên và Lai châu ngày nay và một phần đất thuộc huyện Kiến Thủy, tỉnh Vân Nam thời nhà Thanh. Mười châu gồm: Chiêu Tấn, Quỳnh Nhai, Lai, Luân, Tung Lăng, Hoàng Nham, Hợp Phì, Lễ Tuyền, Khiêm Châu và Tuy Phụ (1). Ðến đời con Hoàng Công Chất là Hoàng Công Toản bị chúa Trịnh Sâm sai Giám quân  Ðoàn Nguyên Thục đánh tan vào năm 1769. Hoàng Công Chất và đồng bọn chạy trốn sang Vân Nam và  đất đai trong 10 châu cũng bị chiếm mất 6 châu, Trung Quốc gọi đất này là Lục Mãnh [六猛 ]. Ðại Nam Nhất Thống Chí xác nhận rằng 6 châu bị mất vào nhà Thanh gồm: Tung Lăng, Hoàng Nham, Hợp Phì, Lễ Tuyền, Tuy Phụ, Khiêm. Riêng 4 châu còn lại thì đời đầu Nguyễn thuộc phủ An Tây, đến thời Thiệu Trị trích lấy đất lập châu Lai, tức tiền thân của tỉnh Lai Châu, năm Tự Ðức thứ 4 [1851] trích lấy châu Quỳnh Nhai và châu Luân cho lập phủ Ðiện Biên, tức tiền thân của tỉnh Ðiện Biên ngày nay.

Sau khi Hoàng Công Toản chạy sang Trung Quốc, nhà Lê sai Trấn thủ Hưng Hóa gửi thư sang huyện Kiến Thủy Vân Nam, để đòi trả lại, nhưng viên Tri huyện Kiến Thủy lúc đầu trả lời rằng không có Hoàng Công Toản đến nội địa Trung Quốc. Bởi Hoàng Công Toản là nhân chứng quan trọng trong việc xác định đất đai biên giới, nên vua nhà Lê đích thân gửi thư cho Tổng đốc Vân Quí để đòi cho được Hoàng Công Toản. Nhà Thanh ở thế không thể dấu nhẹm được, nhưng nếu trả về thì lòi ra ánh sáng việc chiếm đất, nếu không trả về thì sai với qui định ngoại giao giữa hai nước đã từng thỏa thuận việc dẫn độ tội phạm từ nước nọ chạy trốn sang nước kia. Trước tình thế đó, vua Càn Long bèn dàn dựng một vở kịch công phu, sai bộ tham mưu trung ương là Quân cơ đại thần soạn các văn thư nhân danh Tổng đốc Lưỡng Quảng hoặc Tuần phủ Quảng Tây , rồi sai dịch trạm chuyển đến các nơi này, bắt các viên Tổng đốc, Tuần phủ đích thân chép lại để gửi sang giao thiệp với An Nam. Nội dung chối là không nhận được văn thư đòi xin Hoàng Công Toản, nên đại Hoàng đế [Càn Long] đã cho an sáp y tại Ô Lỗ Mộc Tề , Tân Cương. Có hàng chục văn bản liên quan đến sự dối trá này, hiện còn lưu lại trong Thanh Thực Lục , sự việc này xin trình bày riêng tại bài sau.

Trãi qua mấy năm [1770-1773] thư từ qua lại để đòi hỏi bằng chứng sống Hoàng Công Toản trở về, nhưng bị thất bại. Năm Cảnh Hưng thứ 36 [1775] nhà Lê sai Ðoàn Nguyễn Thạc làm Cống sứ, bày tỏ về việc mất 6 châu tại Hưng Hóa, nhưng không được nhà Thanh xét đến (2).

Năm Cảnh Hưng thứ 43 [1782] nhà Lê lại gửi văn thư cho Tổng đốc Vân Quí Phú Cương đề cập đến việc về mất đất; lần này quyết liệt hơn, đòi đến hiện trường để giải quyết:

‘ Cứ lời trình của viên Quốc vương khai rằng Thập Châu thuộc An Tây đường sá xa xôi, nhân sau cơn binh lửa, dân nội địa thừa cơ hội trà trộn vượt chiếm nhận đất thuộc Quảng Lăng, Lai Châu đổi tên thành Mãnh Lạt, Mãnh Lại, rồi cho lệ thuộc vào nội địa. Nên đợi đến mùa mát, sai người đến Thập Châu, tìm bắt phạm nhân giải tống sang, điều tra ra vùng đất biên giới chưa rõ ràng đáng được hoạch định lại…..(Cao Tông Thực Lục quyển 1164, trang 39-41)
Viên Tổng đốc soạn văn thư trả lời để phản đối, trước khi chuyển đi bèn gửi lên triều đình duyệt, nhưng bị sửa. Cẩn thận về việc này, vua Càn Long sai Quân cơ đại thần soạn thư khác, chuyển cho Phú Cương chép lại, rồi nhân danh viên Tổng đốc này để gửi đến An Nam; sự việc như sau:

Ngày 13 Ðinh Mùi tháng 9 năm Càn Long thứ 47 [19/10/1782]

Lại dụ:
“ Phú Cương tâu rằng ‘ Nước An Nam gửi một văn thư trong đó xưng rằng du dân nội địa [Trung Quốc] hỗn độn vượt biên, chiếm giữ đất biên giới, rồi đổi tên cho lệ thuộc vào nội địa, nên xin phân hoạch [biên giới].  Hiện tại đã nghĩ ra bản thảo thư trả lời, cùng thông sức các quan trấn thủ biên giới lưu tâm tra xét.’

“ [Phú Cương] cứ làm như vậy đi; về việc nước An Nam làm bầy tôi thờ bản triều vốn được coi là cung thuận, nay nhân thổ dân nước này đặt điều để trốn thuế, bảo rằng du dân nội địa chiếm đất đổi tên rồi cho vào nội địa, thì đáng bác bỏ. Duy trong bản thảo nghĩ ra để gửi cho viên Quốc vương, có vài chổ chưa hợp, nên đã sai Quân cơ đại thần sửa lại thư trả lời như sau:

‘ Cứ lời trình của viên Quốc vương khai rằng Thập Châu thuộc An Tây đường sá xa xôi, nhân sau cơn binh lửa, dân nội địa thừa cơ hội trà trộn vượt chiếm nhận đất thuộc Quảng Lăng, Lai Châu đổi tên thành Mãnh Lạt, Mãnh Lại, rồi cho lệ thuộc vào nội địa. Nên đợi đến mùa mát, sai người đến Thập Châu, tìm bắt phạm nhân giải tống sang, điều tra ra vùng đất biên giới chưa rõ ràng đáng được hoạch định lại.’

‘ Lời nói thật không hiểu sự thể! An Nam tiếp giáp với phủ Lâm An, biên giới trong ngoài đã rõ ràng, không có sự lộn xộn. Còn đất Lục Mãnh nhập vào bản đồ đến nay đã đến một trăm mấy chục năm xa xôi, ngạch lương các trại còn sổ sách có thể kê cứu, không thể trộn vào đất Di do nước ngươi quản lãnh. Vả lại địa giới nước ngươi nếu chưa rõ ràng, do tại thổ dân nước người đặt điều để mong ẩn lậu tô thuế tại nước ngươi, chỉ đáng tra hạch trong nội bộ, không nên hướng nội địa xin hoạch định địa giới.

‘Nay nước ngươi xin những điều khó nghe như vậy, đều do tại nơi hoang dã, không hiểu lễ pháp qui định. Bản bộ đường (3)  nếu cứ thực tình mà tâu, đưa lên bộ bàn, sẽ kết tội nước ngươi vượt phận nói xàm. Nghĩ đến việc nước ngươi vốn xưng cung thuận, nên không trình tấu ngay. Nay đem sổ hộ tịch chép về biên giới, ghi rõ các trại do Lục Mãnh quản hạt để bảo cho biết biên giới tỉnh Vân Nam đã được thiên nhiên phân chia, không có chỗ nào là không rõ ràng; nên cái việc nước ngươi xin phân hoạch là điều mạo muội. Ví thử có những chỗ không ghi tại bản thư tịch này, chỉ mạo danh bày đặt ra, cái mà thổ dân các ngươi xưng là đất nội phụ, thông đồng với dân gian nội địa tại đó gây chuyện hỗn độn, thì viên Quốc vương hãy lấy tên rồi tìm bắt, phân biệt giải tống; căn cứ vào đó Bản bộ viện chuyển đạt lên bộ, để chiếu theo luật mà trừng trị.

‘Từ nay trở về sau viên Quốc vương cần tỏ ra cung kính, cẩn thận giữ chức Phiên phong, chớ riêng nghe lời Trấn mục rồi trình lên một cách sơ suất, vi phạm đức ý của Thiên triều. Ðại Hoàng đế phủ ngự các nước ngoại Phiên, bao gồm đức và uy; Quốc vương được phong từ lâu, đối xử chung lòng nhân như tại nội địa; Quốc vương nên suy nghĩ nhiều để vĩnh viễn nhận quốc ân. Nay viết  thư chiếu hội để Quốc vương tiện tra khảo biện lý.’

“ Viên Tổng đốc tuân theo bản thảo trên, chép nguyên văn gửi đi; lại thông sức các Trấn tướng quan chức nơi biên giới nghiêm mật điều tra quan sát, kinh lý ỗn thỏa. Mang dụ này theo độ khẩn 500 lý [1 ngày] dụ để hay biết.”(Cao Tông Thực Lục quyển 1164, trang 39-41)

Văn thư về việc đòi lại đất mới gửi đến cho Tổng đốc Vân Quí Phú Cương, thì mùa thu năm đó chúa Trịnh Sâm mất, nên mọi việc đành bỏ dở.

Ðến đời Tây Sơn, sau khi thiết lập ngoại giao với nhà Thanh, vua Quang Trung đòi lại số đất mất tại Hưng Hóa, nhưng bị bác. Sách địa chí triều Nguyễn, Ðại Nam Nhất Thống Chí  chép như sau:

“… Nguyễn Quang Bình nhà Tây Sơn khi mới lấy được Bắc Hà, làm biểu xin lại cương giới Hưng Hóa, lại bị Tổng đốc Lưỡng Quảng Phúc Khang An bác…(4).

Ðến đời Gia Long, nhà Nguyễn; Trấn thần Hưng Hóa chấp nhận lời xin của các châu trưởng Lai Châu và Văn Bàn là Ðèo Chính Ngọc và Ðèo Quốc Uy cho gọi các dân phiêu tán từ các châu Tung Lăng, Hoàng Nham, Tuy Phụ, Hợp Phì trở về. Lời kêu gọi được dân phiêu tán hưởng ứng:
“ Bấy giờ những tù trưởng Mường Tè, Mường Phù Phương, Mường Tôn Na Y (thuộc Lai Châu), Mường Ẳm (thuộc châu Hoàng Nham), động Bình Lư (thuộc châu Tuy Phụ) cùng đưa nhau theo về…(5)

Lúc bấy giờ Tổng đốc Vân Quí gửi thư sang phản đối, có đoạn như sau:

“ Sáu trại Mãnh: Mãnh Lại, Mãnh Thích, Mãnh Ðinh, Mãnh Thoa, Mãnh Bạng, Mãnh Lộng (đều thuộc huyện Kiến Thủy nước Thanh), khoảng năm Khang Hy đã vào đồ bản, kể hơn 100 năm, yên ỗn không việc gì. Nay đầu mục ở trấn Hưng Hóa, lại dụ dỗ họ về, thực là rất lạ (5).

Tổng trấn Bắc Thành Nguyễn Văn Thành cho chạy trạm đưa thư lên vua Gia Long. Vua cho rằng công việc biên cương là quan trọng, hạ lệnh cho quan Bắc Thành tra rõ địa giới Hưng Hóa và sự tích 6 Mãnh dâng lên. Nguyễn Văn Thành lấy lời khai của 2 hai Châu trưởng người địa phương là Ðèo Quốc Ngọc châu Chiêu Tấn, và Ðèo Chính Ngọc tại Lai Châu như sau:

“ Mãnh Thoa là Mường Thu châu Chiêu Tấn, Mãnh Lợi là Mường Thích của Lai Châu, hai mường này ở hẻo lánh nơi biên giới, lẫn lộn vào dân huyện Kiến Thủy nước Thanh. Vả lại hai động Phong Thu , Bình Lư thuộc châu Chiêu Tấn và động Hoài Lai thuộc Lai Châu đều bị bọn quan lại nhà Thanh ở biên giới ức hiếp thu thuế bạc (ba động Phong Thu, Bình Lư, Hoài Lai bị huyện quan nước Thanh mỗi năm thu thuế bạc mỗi động 220 lạng). Nay nước Thanh lại đem dân hai Mãnh kể lại là dân nước họ, thì đất hai châu không còn được mấy (6).”

Tổng trấn Nguyễn Văn Thành phân tích vấn đề, rồi xin triều đình viết thư cho Tổng đốc Vân Quí giải quyết cương giới của hai châu Chiêu Tấn và Lai Châu trước, sau đó đề cập đến đất 6 châu bị mất:

“ ….Từ đời Lê đến đời Tây Sơn vẫn muốn chia vạch lại mà không được. Thế thì trong 10 châu của phủ An Tây trấn Hưng Hóa thì 6 châu (Hoàng Nham, Hợp Phì, Tung Lăng, Tuy Phụ, Lê Tuyền, Khiêm Châu) đã bị mất vào nước Thanh lâu rồi. Nay Chiêu Tấn và Lai Châu chính thuộc sổ Hưng Hóa mà người Thanh lại đem dân các mường động hai châu chép lẫn làm các trại Mãnh, chẳng qua đó là bọn quan lại ở biên giới thấy đất đai và nhân dân ấy có lợi nên lập riêng xưng hiệu, mưu toan bá chiếm, mà Tổng đốc Vân Quí thì cứ một mực nghe theo. Xét lời lẽ trong thư đều mơ hồ không căn cứ. Nay xin trước viết thư trả lời cho Tổng đốc Vân Quí tách bạch rõ ràng cương giới của hai châu yêu cầu sai người sang hội đồng chia vạch lại, để xem ý họ ra sao, rồi sau lại nói chuyện cũ cương giới về 6 châu. Như thế thì Tổng đốc Vân Quí hẳn là lo ta hoặc có sinh việc tại biên giới, không thể không trù liệu, dân hai châu do đó mà cũng có thể khỏi thuế má nặng nề (7).

Tờ tâu đến triều đình Huế, vua Gia Long cho rằng nhà nước đang lúc bắt đầu khai sáng, chưa rỗi mà liệu công việc biên cương, nên việc để đấy không trả lời.

Ðến thời Minh Mệnh thứ 11 , nhà vua gửi văn thư sang Trung Quốc, coi như đất Lục Mãnh thuộc về Việt Nam, rồi vạch ra việc Châu mục người họ Ðèo bị phía Trung Quốc bắt giữ; sự việc được Tổng đốc Vân Quí tâu lên, vua Ðạo Quang ban dụ ra lệnh viên Tổng đốc này phản bác:

Ngày 24 tháng 10 năm Ðạo Quang thứ 10 [8/12/1830]

Bọn Nguyễn Nguyên [Tổng đốc Vân Quí] dâng tấu triệp rằng ‘Quốc vương Việt Nam gửi văn thư sang kêu rằng quan huyện tại nội địa [Trung Quốc] tự tiện bắt Di mục [ viên chứcViệt Nam]. Sai điều tra thấy chổ này không phải là lãnh thổ của họ, nên gửi văn thư thông báo cho biết.’

Phía ngoài sông Lễ Xã (8), trong vùng sông Ba Phát, thuộc huyện Kiến Thủy tỉnh Vân Nam là đất Lục Mãnh ; đầu thuận nội phụ từ đầu triều Thanh đến nay, đã lệ thuộc vào bản đồ từ lâu. Vào thời Càn Long, nước An Nam mấy lần xin vạch lại cương giới, đều bị bác. Vào đời Gia Khánh, Trấn mục Việt Nam gửi lời đến các Mãnh, ý muốn vượt chiếm, lại được tâu rõ lên và bác bỏ; cùng sai các trại, các Mãnh viết lời thanh minh, rồi báo cho Việt Nam biết, để giữ theo qui mô cũ. Nay nước này lại gửi văn thư sang, xưng là Ðèo Quốc Lân bị bắt giam chết, lại xưng là Ðèo Chính Ðịnh tại châu Chiêu Tấn bị bắt. Cứ theo lời tra rõ của viên Tổng đốc, thì những người này là những người trong các Mãnh của nội địa, đáng trị tội và bắt điều tra. Nước này giả bộ không biết, can dự vào việc tra vấn, thực do ý muốn cũ lại nỗi lên, thử trước để gây đầu mối chiếm đất các Mãnh. ……( Tuyên Tông Thực Lục, quyển 178, trang 16-17)

Qua văn bản nêu trên, lập luận của vua Ðạo Quang tuy cố dành lấy được, nhưng còn để lộ ra một chút sự thực rằng “Phía ngoài sông Lễ Xã, trong vùng sông Ba Phát, thuộc huyện Kiến Thủy tỉnh Vân Nam là đất Lục Mãnh ; đầu thuận nội phụ từ đầu triều Thanh đến nay, đã lệ thuộc vào bản đồ từ lâu.” Câu hỏi được đặt ra là vùng đất Lục Mãnh do ai đã “đầu thuận và nội phụ”? Lẽ dĩ nhiên không phải là nhà Lê, triều đình cầm quyền đương thời, vì theo sử liệu trích dẫn ở trên, vua Lê đã từng sai Sứ thần cùng gửi văn thư sang phản đối. Vậy đây chỉ có thể là kẻ phản loạn như bọn Hoàng Công Toản đã đầu thuận nạp đất. Ðường đường nước đại Trung Hoa lại dấm dúi giao thiệp với những kẻ phản loạn để dành đất, thực trái nguyên tắc ngoại giao mà hai nước đã từng thỏa thuận, và sự dành đất này hoàn toàn bất hợp pháp.

*
Hồ sơ về vụ mất đất tại phủ An Tây vẫn còn đó, dù hiện nay ta chưa lấy được, nhưng không có nghĩa rằng sẽ không lấy được trong tương lai. Kinh nghiệm trước đây dưới thời nhà Hồ đã từng nạp đất cho nhà Minh tại phía bắc tỉnh Lạng Sơn, kíp đến khi Vương Thông hối hả rút quân về Tàu, thì phần đất cũ ta lấy lại được. Sự kiện còn lưu lại trong Minh Thực Lục như sau:

“…. Năm đầu Tuyên Ðức, Lê Lợi làm phản, triều đình cho lại đất cũ. Chúng bèn chiếm cả châu Ninh Viễn và Lộc Châu thuộc phủ Thái Bình, Quảng Tây. Lúc bấy giờ cơ quan hữu trách không kiểm soát nên bị mất vào tay người Di.” (Minh Thực Lục, Hiến Tông, quyển 7, trang 1a, 1b).
Là một dân tộc quả cảm, chúng ta luôn luôn tin tưởng rằng cái thời oai hùng dưới triều vua Lê Lợi sẽ có ngày trở lại.

Chú thích:

1. Ðại Nam Nhất Thống Chí, Bản dịch NXB Thuận Hóa, Huế, 2006; tập 4, trang 332.
2. Ðại Nam Nhất Thống Chí, sách đã dẫn, tập 4, trang 334.
3.Bản bộ đường: Tổng đốc, hoặc Tuần phủ Trung Quôc thường tự xưng là Bản bộ đường, hay Bản bộ viện.
4. Ðại Nam Nhất Thống Chí, sđd, trang 334.
5. Ðại Nam Thực Lục, Bản dịch NXB Giáo Dục, 2006, tập 1, trang 666.
6. Ðại Nam Thực Lục, sđd, tập 1, trang 667.
7. Ðại Nam Thực Lục, sđd, tập 1, trang 668.
8.Sông Lễ Xã: còn gọi là sông Nguyên Giang, tức thượng lưu sông Hồng Hà.

Hồ Bạch Thảo

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trung Quốc từng dùng thợ mỏ giúp xâm lăng Việt Nam



Tác giả: Hồ Bạch Thảo 
Việc Trung Quốc sử dụng công nhân tại các hầm mỏ như là đạo quân mai phục sẵn tại nước ta, không chỉ là sự tiên liệu của các nhà quân sự cẩn thận lo xa. Thực sự điều này đã xẩy ra dưới thời nhà Thanh, bằng cớ có thể dẫn ra từ chánh sử Trung Quốc Thanh Thực Lục.[1]
Mùa thu năm 1788, khi Tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị nhận lệnh từ vua Càn Long, truyền hịch chuẩn bị xâm lăng nước ta; thì Phan Khải Ðức, viên trấn thủ Lạng Sơn của nhà Tây Sơn đầu hàng giặc; đám công nhân người Hoa làm việc tại các xưởng mỏ thuộc vùng thượng du Bắc Việt mà sử Trung Quốc gọi là “ xưởng dân   ” cũng nổi lên, sẵn sàng làm đạo quân tiên phong:
Ngày 28 Tháng 8 Năm Càn Long Thứ 53 [26/9/1788]
Lại du : Lê Duy Kỳ [Lê Chiêu Thống] đến Sơn Nam chiêu tập nghĩa binh nhưng bị giặc bức bách , chỉ còn một vài người tùy tùng, cùng chạy vào núi trốn tránh. Xem ra y là người không có khả năng, khó trông cậy có thể chấn tác khôi phục được. Hiện tại Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ thấy Tôn Sĩ Nghị phát hịch văn, nên sợ sệt trốn tránh. Phan Khải Đức[2] vốn là tâm phúc của Nguyễn Huệ, nhận được hịch văn cũng biết bỏ nghịch theo thuận. Tên nầy đã được lệnh của Tôn Sĩ Nghị cho thu thập binh mã của 7 châu, cùng xưởng dân  lập tức tiến phát, chắc sẽ đến thành nhà Lê không đến nỗi khó khăn. Viên Tự tôn [ Lê Chiêu Thống] hiện ở tại địa phương phía đông, Tôn Sĩ Nghị đã mộ dân bản xứ đi trước để thám thính, khi các Trấn Mục phía đông nhận được mật trát của Tôn Sĩ Nghị sẽ hộ tống Tự  tôn trở về …(Cao Tông Thực Lục quyển 1311 , trang 689- 690).[3]
Theo Lịch Triều Hiến Chương của Phan Huy Chú, mục Quốc Dụng Chí,[4] thì các xưởng khai mỏ tại nước ta phần nhiều thuộc 4 tỉnh biên giới phía bắc: Tuyên Quang [Tuyên Quang, Hà Giang, Lao Cai], Hưng Hóa [Lai Châu, Ðiện Biên, Sơn La], Thái Nguyên, Lạng Sơn:
  • Tuyên Quang: Xưởng đồng Tụ Long, xưởng bạc Nam Xương là Long Sinh.
  • Hưng Hóa: Xưởng đồng Trình Lạn và Ngọc Uyển.
  • Thái Nguyên: Xưởng đồng Sàng Mộc, Yên Hân, Liêm Tuyền, Tống Tinh và Vụ
  • Nông, xưởng vàng Kim Mã và Tam Lộng, xưởng chì Côn Minh.
  • Lạng Sơn: Xưởng đồng Hoài Viễn.
Xưởng dân đã nhiều lần gây sự lôi thôi tại các tỉnh gần biên giới, nên vào thời Lê Dụ Tông năm thứ 13[1717] triều đình qui định hạn chế mỗi xưởng mỏ không quá 300 người:
Tháng 12. Định thể lệ hạn chế số người làm ở trường khai mỏ tại các trấn. Lúc ấy, các mỏ vàng, bạc, đồng, thiếc ở các trấn phần nhiều mộ người nhà Thanh khai quật để lấy, phu mỏ quần tụ mỗi ngày một nhiều. Triều đình e rằng sẽ sinh sự biến động, bèn định thể lệ: số phu mỗi mỏ, nhiều nhất 300 người, thứ đến 200 người và ít là 100 người, không mỏ nào được dùng quá số đã định. Từ đấy, số phu làm ở trường xưởng khai mỏ mới có hạn chế.[5]
Tuy nhiên dưới thời Lê mạt, nội bộ nước ta có sự tranh chấp gay go giữa vua Lê, chúa Trịnh, rồi đến nhà Tây Sơn; nên không rảnh để kiểm soát số lượng xưởng dân tại các hầm mỏ, bởi vậy con số tăng lên nhiều. Thanh Thực Lục không cho biết đích xác số lượng xưởng dân được nhà Thanh huy động đến xâm lăng nước ta là bao nhiêu; tuy nhiên trong văn bản dưới đây cho biết Tuần vũ Quảng Tây Tôn Vĩnh Thanh định cấp cho xưởng dân 3, 4 vạn thạch gạo. Hãy làm phép tính với con số nhỏ 3 vạn thạch, 1 thạch bằng 100 lít, 1 lít gạo bằng 0.8 kg; như vậy tổng số sẽ bằng 2.400.000 kg hay 2.400 tấn. Ðây là một số lượng lớn, cần đến dăm vạn người mới khiêng nỗi:
Ngày 13 Tháng 10 Năm Càn Long Thứ 53 [10/11/1788]
Theo lời tâu: Tôn Vĩnh Thanh đã ban hịch tại Tầm Châu, Ngô Châu, Liễu Châu vùng phụ cận phủ Thái Bình; cùng vận chuyển  3 vạn thạch gạo đến các vùng Ninh Minh, Thái Bình , Long Châu  để tồn trữ, chờ ngày ban cấp. Lại gặp Tổng đốc Tôn sĩ Nghị  bàn bạc thêm,  định thưởng  ba, bốn vạn thạch gạo cho xưởng dân trong trại, số nầy sẽ tiếp tục chuyển đến……. (Cao Tông Thực Lục , quyển 1314 , trang 759)
Tuy nhiên lực lượng xưởng dân vốn từ nhiều xưởng mỏ họp lại, nên không tránh khỏi tình trạng ô hợp. Tôn Sĩ Nghị hiểu điều này, nên chọn một người có uy tín trong đám này tên là Lâm Tế Thanh, cho làm Thống lãnh; cấp cho y mũ đỉnh đái[6] và ban phẩm hàm Tri huyện, nên y tỏ ra đắc lực. Lực lượng xưởng dân do Lâm Tế Thanh chỉ huy, cùng quân đầu hàng của Phan Khải Ðức được điều đi trước, hướng đến thành Thăng Long:
Ngày 12 tháng 9 năm Càn Long thứ 53 [10/10/1788]
Lại dụ: Bọn xưởng dân nhận được hịch dụ của Tôn Sĩ Nghị, lại nghe tin được ban cấp lương thực nên hân hoan tình nguyện đi trước đánh giặc. Viên Tổng đốc lo rằng xưởng dân rời rạc, không có người thống lãnh, còn bọn Nguyễn Huy Túc thì sợ sệt lưỡng lự không dám ra khỏi quan ải; chúng đều thuộc loại thiếu khả năng, nếu ra lệnh đi trước cũng không được ích gì. Hỏi han đám tùy tùng thì dưới trướng có tên Lâm Tế Thanh, ở trong tổ chức xưởng dân cả năm, mọi người đều phục, giao chức thống lãnh diệt giặc có thể tận tâm phục vụ. Lâm Tế Thanh nghe tin được bổ nhiệm từ viên Thông phán Trần Tùng nên hết sức cố gắng; lại được viên Tổng đốc cấp ấn tín, thưởng hàm Tri huyện, nếu tương lai công việc thành công sẽ được bổ dụng thực thụ. Lâm Tế Thanh chủ trì mọi việc trong tổ chức xưởng dân đã lâu, nay lại được thưởng hàm Tri huyện; mọi người trong tổ chức này thấy Thiên triều chiếu cố thêm cho y, lại gia ân cấp mũ Đỉnh Đái; nên ai cũng phục tùng, hô ứng càng linh nghiệm, thêm đắc lực trong việc diệt giặc. Đến nay xưởng dân theo Lâm Tế Thanh hăng hái khởi hành, còn Phan Khải Đức đốc suất quân lính của 7 châu cũng được Tôn Sĩ Nghị ra lệnh tiến phát….. (Cao Tông Thực Lục quyển 1312 trang 710)
Ðọc sử, chúng ta đều biết đại quân của Tôn Sĩ Nghị chỉ được phép làm “khách ngủ trọ” tại thành Thăng Long trong vòng một tháng trời, chiến thắng  mùa xuân năm Kỷ Dậu [1789] của vua Quang Trung đã trừng phạt chúng; số phận của xưởng dân cũng nằm chung với tập thể quân Thanh. Tuy nhiên có một số xưởng dân sống sót trở về, còn tiếc rẻ thời vàng son làm dân khai mỏ, nên xui dục quân Thanh trở lại phục thù. Riêng vua Càn Long, người nắm vận mệnh nước lớn lúc bấy giờ , có một cái nhìn thực tế hơn về tình hình:
“….Xứ này thủy thổ ác liệt không thể ở lâu, dân tình lại trí trá phản phúc vô thường; đời trước đã chia đất này thành quận huyện, rồi không bao lâu lại xẩy ra biến cố, lấy bánh xe trước đổ để làm răn, thực khó giữ được vài chục năm mà không gây ra việc….”[7]
Nên nhà vua đã quyết liệt bác bỏ  ý kiến của xưởng dân. Nhắm hạ uy thế của bọn này, để không còn cản trở ý định của nhà vua sẽ hòa hoãn với vua Quang Trung trong tương lai, vua Càn Long mạnh mẽ hài tội xưởng dân rằng bọn chúng vốn là những người có tội bỏ nước ra đi và đã không lập được thành tích nỗi bật trong thời gian đánh phá nước ta:
Ngày 1 Tháng 3 Năm Càn Long Thứ 54 [27/3/1789]
Dụ các Quân Cơ Đại thần: Trước đây đại binh xuất quan , viên Thổ tù Điền Châu Sầm Nghi Đống mang lính Thổ tiến tiễu, rất gắng sức. Đến lúc bị giặc bao vây, còn sai người mang ấn tín trở về, rồi xông pha đánh giặc bị trận vong, thực đáng thương xót. Viên này có con trai không, Phúc Khang An điều tra rõ rồi tâu lên để được ưu ái thưởng tuất. Viên này mang binh đi theo Tôn Sĩ Nghị vào thời điểm nào? Quân lính của y trở về quan ải có đầy đủ không? Phúc Khang An phải điều tra rõ rồi tâu lên.
Viên Di quan Phan Khải Đức không chịu theo quân giặc, từng làm hướng đạo cho đại binh, nay lại mang cả gia quyến vào quan ải. Bọn Nguyễn Đình Phái 5 người, tuy công sức không thể so sánh với Phan Khải Đức được, nhưng họ cũng không chịu theo giặc, tình nguyện làm dân nội địa, tình cũng đáng thương. Phan Khải Đức đáng được thưởng mũ đỉnh đái và lục dụng. Bọn Nguyễn Đình Phái cần được cấp lương ăn , an sáp một cách ổn thỏa, để khỏi bị mất nơi nương tựa. Những quan binh chưa trở về, nếu thực sự trận vong, Phúc Khang An phải điều tra minh bạch, rồi gữi hồ sơ lên bộ để được cấp tiền tử tuất.
Còn như bọn xưởng dân trước kia trốn ra khỏi nước không xin phép, vốn là người có tội, nhưng vì tình nguyện đi đánh giặc nên được tha. Khi đại binh đi đánh, bọn xưởng dân chỉ đi theo đám đông, chưa thấy đoạt được thành tích nào nổi bật. Nay công việc tại An Nam có nên đánh hay không do ta quyết định, chẳng vì bọn xưởng dân tình nguyện đánh giặc, rồi các ngươi có hành động thiếu suy nghĩ. Tuy nhiên bọn xưởng dân đã từng theo quan binh đánh trận, nay lại không chịu theo Nguyễn Huệ, không nỡ để chúng bị sát hại, vậy nên liệu biện cách nào cho ổn thỏa.
Các quan binh vừa mới trở về quan ải, bị bức bách bởi thế giặc quá đông, nên phải lâm vào hoàn cảnh bất đắc dĩ, trong đó có những người đánh trận bị thương, nên ước lượng để ban thưởng. Hôm qua nhân bàn về những quan binh từ thành nhà Lê chưa được tống xuất, số này theo Hứa Thế Hanh thâm nhập, bị giặc lưu giữ; đã giáng chỉ rằng khi bọn này được tống xuất, cho trở về quân ngũ, được thưởng cấp một tháng lương. Tôn Sĩ Nghị tâu, tất cả các quan binh trở về có hoặc không được gia thưởng? Ra lệnh Phúc Khang An xét tình hình để phân biệt đối xử.
Còn Tôn Sĩ Nghị sau khi khắc phục thành nhà Lê, không tuân theo chiếu chỉ cho cấp tốc triệt binh, lại sơ suất trong việc đề phòng, nên biến cố bất ngờ xẩy ra, sự sai lầm này không bào chữa được; chỉ nên gia tăng cố gắng, phụ giúp Phúc Khang An liệu biện ổn thỏa, để chuộc lỗi lầm trong quá khứ. (Cao Tông Thực Lục quyển 1324, trang 919-920).[8]
——————–
[1] Hồ Bạch Thảo, bản dịch Thanh Thực Lục. Hà Nội: NXB Hà Nội, 2007.
[2] Phan Khải Đức người xã An Ấp , huyện Hương Sơn, nay thuộc tỉnh Hà Tĩnh ; là Trấn thủ đất Lạng Sơn của nhà Tây Sơn , đã đầu hàng nhà Thanh.
[3] Thanh Thực Lục, sđd, trang 18.
[4] Dẫn theo Khâm Ðịnh Ðịnh Việt Sử Thông Giám Cương Mục. Hà Nội: Nhà xuất bản Giáo dục,1998, tập 2, trang 410.
[5] Khâm Ðịnh Việt Sử Thông Giám Cương mục, sđd, trang 410.
[6] Mũ đỉnh đái: loại mũ thuộc đời nhà Thanh, có tua trên chóp, dùng để ban cho người có công.
[7] Thanh Thực Lục, sđd, trang 108-109
[8] Thanh Thực Lục, sđd, trang 93-95
- See more at: http://nghiencuuquocte.org/2016/12/25/trung-quoc-dung-tho-mo-xam-lang-viet-nam/#sthash.tGKVKngq.dpuf

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tàu sân bay Liêu Ninh bất ngờ lộ diện bằng thông báo bất thường: Biển Đông "dậy sóng"?


Hải Võ
Tàu sân bay Liêu Ninh bất ngờ lộ diện bằng thông báo bất thường: Biển Đông "dậy sóng"?

Tàu sân bay Liêu Ninh của Trung Quốc hôm 23/12 cùng một số tàu khu trục, nhiều máy bay J-15 và trực thăng tham gia huấn luyện, hoàn thiện phối hợp tác chiến trên biển Hoàng Hải.

Thông báo "bất thường" về hoạt động của tàu sân bay Liêu Ninh
Trong thông báo về cuộc tập luyện của tàu Liêu Ninh được truyền thông nhà nước Trung Quốc đăng tải tối muộn ngày 23, tờ Thời báo Hoàn Cầu chỉ ra hai điểm "bất thường".
Thứ nhất là Ủy viên Quân ủy trung ương Trung Quốc, Tư lệnh Hải quân Trung Quốc, Đô đốc Ngô Thắng Lợi đã trực tiếp lên tàu sân bay để giám sát. Đây là điều chưa có tiền lệ ở Trung Quốc, hé lộ khả năng thực chiến của tàu Liêu Ninh "đã đạt tới tiêu chuẩn tương đối cao".
Thứ hai là báo cáo chỉ ra "bước tiếp theo, biên đội tàu Liêu Ninh sẽ theo kế hoạch triển khai tập luyện, thử nghiệm xuyên các vùng biển". Theo Hoàn Cầu, kế hoạch huấn luyện "xuyên biển" sẽ diễn ra từ Hoàng Hải, Bột Hải tới biển Hoa Đông và biển Đông.
Lý Kiệt, chuyên gia về tàu sân bay của Trung Quốc, trả lời Hoàn Cầu ngày 24 đánh giá, khu vực biển Đông có điều kiện khí hậu tốt, nhiệt độ khá cao, diện tích mặt biển lớn, độ sâu bình quân 1.200 m, rất có lợi cho hoạt động huấn luyện của các lực lượng quân sự.
"Động thái ngày 23/12 cho thấy [biên đội tàu Liêu Ninh] muốn tiến hành một cuộc tâp trận xuyên biển quy mô lớn vào đúng thời gian chuyển giao giữa hai năm. Và biển Đông là địa điểm lý tưởng," ông Lý nói.
Nếu suy đoán của Lý Kiệt chính xác, đây sẽ lần thứ hai kể từ khi đi vào phục vụ, tàu sân bay Liêu Ninh được đưa tới biển Đông để tiến hành hoạt động huấn luyện quân sự và nghiên cứu.
Tàu sân bay Liêu Ninh bất ngờ lộ diện bằng thông báo bất thường: Biển Đông dậy sóng? - Ảnh 1.
Tàu sân bay Liêu Ninh tham gia huấn luyện trên Hoàng Hải ngày 23/12/2016 (Ảnh: 81.cn)
Thời điểm nhạy cảm
Hoạt động ngày 23/12 của Liêu Ninh nhận được sự quan tâm lớn không chỉ bởi nó là tàu sân bay đầu tiên của quân đội Trung Quốc, hay lần đầu huấn luyện chung với một biên đội tác chiến, mà còn là một tín hiệu ở biển Đông.
3 ngày trước lần gần đây nhất tàu sân bay này tới biển Đông (26/11/2013), Trung Quốc đã tuyên bố lập Vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) trên biển Hoa Đông, làm leo thang căng thẳng trong khu vực. Động thái bị dư luận quốc tế cho là lời đe dọa của Bắc Kinh nhằm vào các đối thủ.
Một điều trùng hợp khác là thời điểm ra mắt lần này của tàu Liêu Ninh cũng mang lại cho giới quan sát quốc tế đầy đủ "không gian suy diễn". Chỉ hơn 1 tuần trước, Mỹ đã trao công hàm phản đối tàu Hải quân Trung Quốc thu giữ thiết bị lặn không người lái (UUV) từ tàu khảo sát biển của Hải quân Mỹ ngày 15/12.
Dù Bắc Kinh khẳng định đã "trao trả êm xuôi" chiếc UUV này cho phía Mỹ vào ngày 20/12, nhưng vụ việc bị phương Tây cho là màn phô trương sức mạnh và quyền lực của Bắc Kinh ở biển Đông.
Đồng thời, chính phủ Trung Quốcbị cho là tỏ thái độ cứng rắn nhằm cảnh cáo chính quyền Tổng thống đắc cử Donald Trump "hành động cẩn thận", trong khi mâu thuẫn giữa Mỹ-Trung trên biển Đông leo thang.
Tàu sân bay Liêu Ninh bất ngờ lộ diện bằng thông báo bất thường: Biển Đông dậy sóng? - Ảnh 2.
Tư lệnh hải quân Trung Quốc Ngô Thắng Lợi lên tàu Liêu Ninh giám sát cuộc tập luyện ngày 23/12. (Ảnh: Sina)
"Sóng ngầm" ở biển Đông?
Hoàn Cầu bình luận, chính phủ Trung Quốc đã dùng một thông báo "bình thường" ở mức có thể để công bố hoạt động huấn luyện của tàu Liêu Ninh ngày 23, nhằm tránh cho phương Tây có ấn tượng "Trung Quốc thách thức".
Bên cạnh đó, việc khẳng định "kế hoạch huấn luyện thường niên của quân đội Trung Quốc không bị ảnh hưởng bởi 'sự cố' UUV Mỹ" là một cách để nói với Washington rằng "chúng tôi rất cứng rắn".
Chuyên gia Lý Kiệt nói: "[Tàu Liêu Ninh tới biển Đông] ở một mức độ nào đó chính là tín hiệu gửi đến các bên khiêu khích Trung Quốc. Trong vụ việc UUV Mỹ, Trung Quốc đã thể hiện thiện chí trao trả thiết bị cho Mỹ, nhưng không có nghĩa là Bắc Kinh e sợ hay mềm yếu."
"Tàu sân bay là tượng trưng cho sức mạnh hải quân và năng lực tổng hợp của một quốc gia. Nó đại diện cho sức đe dọa.
Không cần nghi ngờ rằng việc đưa tàu sân bay Liêu Ninh tới biển Đông huấn luyện chính là quyết tâm bảo vệ chủ quyền và lợi ích bất khả xâm phạm (mà Bắc Kinh áp đặt trái phép-PV) của Trung Quốc tại các đảo đá trên biển Đông," ông Lý ngang ngược tuyên bố.
"Trong vai trò sức mạnh bảo vệ và chiến đấu trên biển được hiện đại hóa, tàu sân bay có thể đối phó với nhiều vấn đề. Nếu các nước khác dám sử dụng vũ lực thì Trung Quốc đều có thể chống lại, dù là trên/dưới mặt nước hay trên không," Lý Kiệt tuyên bố.
Sự lộ diện của tàu sân bay Liêu Ninh vào thời điểm nhạy cảm này cũng khơi dậy một làn sóng mới những suy luận xoay quanh tình hình biển Đông.
Đầu tiên là ngày 8/12, các máy bay ném bom chiến lược H-6K của Mỹ bay dọc theo "đường 9 đoạn", mà Bắc Kinh dùng để áp đặt yêu sách chủ quyền phi lý trên biển Đông, nhằm cảnh cáo ông Trump điện đàm với lãnh đạo Đài Loan Thái Anh Văn.
Ngày 13/12, Sáng kiến minh bạch hàng hải châu Á (AMTI) thuộc Trung tâm Chiến lược và Nghiên cứu Quốc tế (CSIS), Mỹ đã công bố các hình ảnh vệ tinh cho thấy Bắc Kinh đã lắp đặt các hệ thống phòng không trên 7 đảo nhân tạo xây phi pháp ở quần đảo Trường Sa, thuộc chủ quyền Việt Nam, làm dấy lên thông tin Bắc Kinh đẩy mạnh quân sự hóa trái phép.
Sau khi Bắc Kinh trao trả UUV cho Mỹ ngày 20, Lầu Năm Góc đã cứng rắn tuyên bố hành động "thu giữ" thiết bị lặn là "phi pháp" và yêu cầu Trung Quốc "tuân thủ luật quốc tế".
Mới đây nhất, Fox News ngày 23/12 cho hay, các cơ quan tình báo Mỹ nói rằng chính phủ Trung Quốc sẽ triển khai (trái phép) thêm các hệ thống tên lửa phòng không CSA-6b và HQ-9 từ đảo Hải Nam tới các đảo nhân tạo xây phi pháp trên biển Đông.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Khám Phá Nơi Tận Cùng Thời Gian Thuyết minh - Khoa Học Vũ Trụ

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nước Nga đã sống sót như thế nào? Posted on 20/12/2016 by The Observer

Nguồn: Anders Åslund, “How Russia Stays Afloat,” Project Syndicate, 28/11/2016.
Biên dịch: Đậu Thế Hoàng | Hiệu đính: Nguyễn Huy Hoàng
Tính bền vững trong dài hạn của nền kinh tế Nga là một câu hỏi còn bỏ ngỏ. Chủ nghĩa thân hữu đang tràn lan, và việc Nga phụ thuộc nặng nề vào doanh thu từ dầu mỏ đồng nghĩa với việc nước này sẽ phải chịu ảnh hưởng bất cứ khi nào giá dầu giảm. Song nếu chúng ta học được gì từ Liên Xô thì đó là các hệ thống không bền vững vẫn có thể sống sót qua nhiều năm.
Hệ thống của nước Nga ngày nay khiến tôi nhớ về hệ thống của Liên Xô mà tôi từng trải nghiệm vào năm 1983, khi đang sinh sống ở Moskva, còn vị giám đốc KGB cứng rắn Yuri Andropov (còn gọi là “Tên đồ tể của Budapest”)[1] vẫn đang nắm quyền (dù sức khỏe đã yếu). Những đặc trưng chung của hai nền kinh tế, khi đó và bây giờ, bao gồm giá dầu thấp, một hệ tư tưởng kinh tế phi thực tế, nhà nước sở hữu các ngành công nghiệp chủ đạo, và chế độ chuyên chế.
Nhưng có một khác biệt đáng chú ý là phương thức quản trị nền kinh tế vĩ mô của Nga ngày nay hiệu quả hơn so với ngày trước. Nga không có nguy cơ cạn kiệt nguồn tài chính bất chấp các lệnh trừng phạt liên tiếp từ phương Tây. Nhưng nguồn tài nguyên eo hẹp đã hạn chế các lựa chọn chính sách đối ngoại của Điện Kremlin cũng như làm trầm trọng thêm căng thẳng trong giới chóp bu Nga.
Kể từ khi giá dầu bắt đầu giảm vào tháng 6 năm 2014, Nga đã tụt từ vị trí thứ sáu xuống vị trí thứ 14 trong bảng xếp hạng kinh tế toàn cầu của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF); GDP của nước này (tính bằng đồng đô la Mỹ hiện nay) đã giảm từ 2,1 nghìn tỷ đô la xuống còn 1,1 nghìn tỷ đôla – chỉ bằng 6% GDP của Hoa Kỳ. (Và mức chi cho quốc phòng của Nga chỉ bằng 8% so với Mỹ).
Tuy nhiên, dù Nga không thể cạnh tranh được với Mỹ về mặt kinh tế, chính phủ nước này vẫn duy trì được sự cân bằng kinh tế vĩ mô đáng ngưỡng mộ, cho dù các triển vọng tăng trưởng đã trở nên mờ nhạt. Chính phủ Nga cần một khoảng thời gian để có thể đưa mọi thứ trở lại quỹ đạo, và các khoản dự trữ ngoại tệ của nước này đã sụt giảm nghiêm trọng trong năm 2014; nhưng đến tháng 12 năm đó, Ngân hàng Trung ương Nga (CBR) cuối cùng đã thả nổi tỷ giá hối đoái của đồng rúp, nhờ đó mà tình hình kinh tế vĩ mô đã trở nên ổn định.
Trong các tuyên bố công khai của mình, Tổng thống Nga Vladimir Putin nhấn mạnh năm chỉ số của sự ổn định: dự trữ ngoại tệ, cán cân thanh toán quốc tế, cán cân ngân sách, lạm phát, và tỷ lệ thất nghiệp. Trong số đó, ông coi dự trữ ngoại tệ có tầm quan trọng  hàng đầu. Tại diễn đàn đầu tư “Russia Calling!” thường niên hồi tháng 10, Putin nói “dự trữ ngoại tệ đang gia tăng” và “hiện đang có khoảng 400 tỉ đô la Mỹ” – đây rõ ràng là mục tiêu mà ông hướng tới.
Dự trữ ngoại tệ của Nga bao gồm cả Quỹ Dự trữ của Bộ Tài chính, dự kiến sẽ cạn kiệt vào năm 2017. Nhưng đối với Putin, vấn đề nằm ở quy mô tổng thể của các quỹ dự trữ ngoại tệ của Nga. Bằng cách thả nổi tỷ giá hối đoái với giá dầu, CBR đã có thể duy trì một khoản thặng dư tài khoan vãng lai lớn, ngay cả khi giá hàng hóa cơ bản thấp hơn đã làm giảm kim ngạch xuất nhập khẩu xuống còn một nửa kể từ năm 2013.
Tương tự, Bộ Tài chính đang duy trì thâm hụt ngân sách trong khoảng 3% GDP, và tỷ giá hối đoái giảm cũng giúp thu ngân sách tính bằng đồng rúp tương đối ổn định, ngay cả khi doanh thu tuyệt đối (bằng đồng đô la) đã giảm. Chính phủ cũng bù vào các khoản thâm hụt ngân sách bằng cách cắt giảm mạnh chi tiêu dành cho giáo dục, y tế, và giờ là cả tiền lương hưu.
Khi đồng rúp mất giá vào đầu năm ngoái, lạm phát đã tăng trên 16%; song chính sách tiền tệ thắt chặt của CBR sau đó đã giúp giảm lạm phát xuống còn 6%, và có khả năng còn 4% vào năm tới. Đáng chú ý, tỷ lệ thất nghiệp hiện là 5,4%, và Nga đã cố gắng duy trì con số này dưới mức 6% kể từ khi giá dầu sụt giảm; hơn nữa, nợ công chỉ chiếm một phần nhỏ trong GDP ở mức 13%.
Bất chấp những chỉ số tích cực này, tổng mức đầu tư, GDP, và mức sống đều đang giảm. Mức thu nhập khả dụng thực tế đã giảm 10% trong năm ngoái, và có thể sẽ giảm thêm 5 đến 6% trong năm nay. Năm trước, đầu tư đã giảm hơn 8% và có thể sẽ giảm còn 4% trong năm nay; còn GDP đã giảm 3,7% trong năm 2015, và có khả cũng giảm tiếp trong năm nay (dù ít hơn 1%).
Đối với một người phương Tây thì những con số này là không thể chấp nhận được. Song người dân Nga lại trân trọng việc mức thu nhập thực tế (đã điều chỉnh theo lạm phát) đã tăng gấp hai lần trong giai đoạn 1999-2008. Và dù sao đi nữa thì họ cũng không thể biểu tình dưới chế độ hiện nay.
Tuy nhiên, Putin từng coi tăng trưởng kinh tế là nền tảng cho tính chính danh của mình. Giờ đây khi ông không còn có thể thực hiện được lời cam kết cải thiện mức sống, ông bắt đầu đi theo khuyến nghị của bộ trưởng Vyacheslav von Plehve của Đế quốc Nga năm 1904: “Chúng ta cần một chiến thắng nhỏ.” Putin đang được hưởng lợi từ ba cuộc chiến như vậy tính đến thời điểm hiện tại: cuộc chiến năm 2008 ở Gruzia, cuộc sáp nhập Crimea năm 2014, và cuộc can thiệp hiện vẫn được duy trì ở Syria từ tháng 9 năm 2015.
Thế nhưng một Putin từng e ngại rủi ro giờ lại phải gánh chịu nhiều rủi ro lớn hơn, đặc biệt là ở miền Đông Ukraine, nơi cuộc xung đột mà ông thúc đẩy không hề nhỏ và cũng không mang lại thắng lợi gì. Miền Đông Ukraine thể hiện một thất bại trong chính sách đối ngoại, và điều này chứng tỏ rằng, dù có ưu thế quân sự so với các nước láng giềng thì Nga cũng không đủ khả năng theo đuổi các cuộc chiến tranh kéo dài. Phương Tây đã lợi dụng điểm yếu này bằng các lệnh trừng phạt tài chính, điều khiến GDP của Nga mất đi khoảng 1% mỗi năm.
Giới chóp bu trong nước của Nga cũng là một mối đe dọa khác đối với Putin, đó là lý do vì sao ông đã lần lượt sa thải các tướng lĩnh KGB kể từ tháng 8 năm 2014, đồng thời tìm cách loại trừ các đối thủ tiềm tàng. Nhưng cuộc thanh trừng của ông đã bị đình trệ, với việc các tướng lĩnh Nga vẫn chiếm đa số trong “Bộ Chính trị đích thực” của đất nước, tức Hội đồng An ninh Nga.
Ngày 15 tháng 11, Putin đưa cuộc thanh trừng của mình đi theo một hướng mới với việc bắt giữ Bộ trưởng Phát triển Kinh tế Alexei Ulyukaev, một trong các nhà kỹ trị theo hướng tự do chủ nghĩa còn lại. Ngày hôm sau, khi Putin phát biểu tại Bộ Quốc phòng trên sóng truyền hình với một văn bản được chuẩn bị sẵn, các vị tướng lĩnh có mặt khi đó đã nhìn ông với ánh mắt khinh bỉ rõ ràng, và vị Bộ trưởng Quốc phòng đầy quyền lực Sergey Shoigu có vẻ còn làm ngơ ông.
Putin là một người am hiểu về chính trị và thường che giấu các ý định thực sự của mình. Ông cũng thường xuyên khiến thế giới ngạc nhiên trước các cuộc chiến cùng các sáng kiến ngoại giao bất ngờ, như ở Ukraine và Syria. Ông đang chịu sức ép về mặt kinh tế, song tình hình không phải là đã hết hy vọng, và chúng ta nên sẵn sàng đón nhận những điều bất ngờ từ ông. Giờ đây, khi chiến thắng của tổng thống mới đắc cử Donald Trump đã tạo ra một khoảng trống quyền lực ở Washington, Putin có một cơ hội lớn để nâng cao vị thế của mình ở trong nước. Chúng ta có thể chắc chắn rằng ông sẽ tìm cách khai thác triệt để cơ hội này.
Anders Åslund, nghiên cứu viên cao cấp tại Hội đồng Đại Tây Dương, Washington, DC, là tác giả của cuốn Ukraine: What Went Wrong and How to Fix It.
- See more at: http://nghiencuuquocte.org/2016/12/20/nuoc-nga-da-song-sot-nhu-the-nao/#sthash.WvcFlS9s.dpuf

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Sáu, 23 tháng 12, 2016

Tin buồn cho Trung Quốc: Có trả bao nhiêu tiền Nga cũng không bán VU KHI...

Phần nhận xét hiển thị trên trang

KỈ NIỆM MỘT LẦN GẶP VĨ NHÂN


Tem in kỷ niệm 100 năm ngày sinh Trần Đại Nghĩa.
Bài viết của Nhà Khoa học, Toán học Nguyen Canh Hoang


KỈ NIỆM MỘT LẦN GẶP VĨ NHÂN
Năm 1988 đi hội nghị ở Ba lan, transit ở Moscow. Sẵn có lá đa trong túi, vào hẳn nhà khách Sứ quán ở cho oai, mỗi ngày mất 1 $, đỡ phiền bạn bè.
Tối, xuống CLB xem TV, thấy có 1 cụ già tầm 75 tuổi mặc áo lông Đức ngồi co ro ở đó. Hết TV, thấy cụ không về, hỏi thì cụ bảo:
- Tôi transit qua đây, vào nhà khách nhưng không có tiền, nên không được ở. Xin mãi, họ mới cho ngồi nhờ ở đây đợi mai đi tiếp. May, vì ngoài phố tuyết rơi, lạnh quá!
Liền mời cụ về phòng ngủ cùng, vì có 2 giường đầy đủ chăn đệm. Đoán cụ đói, nên lấy bánh mì bơ và xúc xích mời cụ ăn, xong mới leo lên giường. Trái múi giờ, 2 ông cháu chưa ngủ được nên nói chuyện mãi. Kì lạ, cụ già cái gì cũng biết, càng nói chuyện càng ngạc nhiên về độ uyên bác phi thường của cụ. Gần sáng, mới tò mò hỏi, cụ đi đâu mà qua cái đất Moscow lạnh lẽo này, và sao mà cụ không có lấy 1 $ để ngủ ở nhà khách. Cụ đáp:
- Tôi được Viện Hàn lâm KH Hungary mời sang báo cáo hội nghị KH. Họ lo vé MB đi lại, ăn ở bên kia chu đáo. Mỗi tiền đi đường thì họ không nghĩ tới, mà hưu rồi nên Nhà nước ta cũng chẳng cấp cho tôi, và tôi cũng chẳng có!
Ngạc nhiên ghê gớm, lúc chia tay hỏi tên, cụ đáp:
- Tôi tên là Trần Đại Nghĩa!
Ôi chao ôi, thì ra đây là nhà khoa học lừng danh, một trong những người chế tạo bom bay V1, V2 nổi tiếng trong Thế chiến thứ 2. Con người này từng theo Cụ Hồ về Việt Bắc, chế tạo bom ba càng, súng không giật SKZ, bazooka, thủy lôi áp suất ABS, đạn bay, ..., góp phần không nhỏ cho đất nước trong cuộc kháng chiến thần kì của dân tộc. Và, chỉ vì không có 1 $, cụ không được ngủ ở nhà khách Sứ quán Vn tại Moscow!
-----------------
Xin nhắc vài lời về Nhà khoa học, Viện sĩ, Thiếu tướng, Anh hùng Lao động Trần Đại Nghĩa
Ông tên thật Phạm Quang Lễ , sinh ngày 13 tháng 9 năm 1913 trong một gia đình Công giáo nghèo tại xã Chánh Hiệp (nay là xã Hòa Hiệp), huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long.
Mồ côi cha lúc 6 tuổi, năm 1933, Phạm Quang Lễ đã thi đỗ đầu hai bằng tú tài: Tú tài Việt và Tú tài Tây. Nhà nghèo, không có tiền đi Hà Nội để học, Phạm Quang Lễ đi làm giúp đở gia đình.
Sau hai năm làm việc tại các Đại sứ quán Mỹ, ông đã gặp nhà báo Dương Quang Ngưu người đã giúp ông có được một học bổng Chasseloup-Laubat du học tại Paris. Năm 1935, ông đi du học Pháp và tốt nghiệp kỹ sư và cử nhân toán học tại các trường: Đại học Bách khoa Paris (École Polytechnique), Đại học Mỏ (École nationale supérieure des mines de Paris), Đại học Điện, Đại học Sorbonne, Đại học Cầu đường Paris. Sau đó ông ở lại Pháp làm việc tại Trường Quốc gia Hàng không và Vũ trụ (École nationale supérieure de l'aéronautique et de l'espace). Năm 1942, ông sang Đức làm việc trong xưởng chế tạo máy bay và Viện nghiên cứu vũ khí.
Trong quân đội từng giữ các chức vụ: Cục trưởng Cục pháo binh, Phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật. Ông được phong quân hàm Thiếu tướng.
Sau đó ông chuyển sang lĩnh vực dân sự giữ chức: Thứ trưởng Bộ Công thương, Thứ trưởng Bộ Công nghiệp nặng, Ủy viên Ủy ban Khoa học Nhà nước, Chủ nhiệm Ủy ban Kiến thiết Cơ bản Nhà nước, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước, Viện trưởng Viện Khoa học Việt Nam, Chủ tịch đầu tiên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kĩ thuật Việt Nam (nhiệm kỳ 1983-1988), Đại biểu Quốc hội khoá II, III.
Ông được phong quân hàm Thiếu tướng trong đợt đầu tiên năm 1948. Ông đã được trao tặng Huân chương Hồ Chí Minh và danh hiệu Anh hùng Lao động (tại đại hội Anh hùng, chiến sĩ thi đua toàn quốc đầu tiên năm 1952).
Năm 1996, ông được Nhà nước Việt Nam trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1 về Cụm công trình nghiên cứu và chỉ đạo kỹ thuật chế tạo vũ khí (Bazooka, súng không giật, đạn bay) trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp 1945-1954. Các công trình nghiên cứu của ông được quốc tế đánh giá cao, được ứng dụng rộng rãi trong Quân đội Nhân dân Việt Nam và là nỗi kinh hoàng của quân đội đối phương.
Năm 1966, ông được bầu làm Viện sĩ nước ngoài của Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô.
Những năm cuối đời, ông cùng gia đình trở về quê hương miền Nam, sinh sống tại quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ông mất vào 16 giờ 20 phút ngày 9 tháng 8 năm 1997, hưởng thọ 84 tuổi. Năm 2015, tỉnh Vĩnh Long đã lập khu lưu niệm giáo sư, viện sĩ, anh hùng lao động, thiếu tướng Trần Đại Nghĩa, tọa lạc ấp Mỹ Phú I xã Tường Lộc, huyện Tam Bình, Vĩnh Long.

Phần nhận xét hiển thị trên trang