Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Năm, 24 tháng 11, 2016

Về Hà Nội





Mỗi khi nhắc về Hà Nội ngày hôm nay tôi lại nhớ tới một bài “thơ buột miệng” mà Trần Dần bất ngờ đọc cho Nguyễn Quang Lập, 20 năm trước, trên một vỉa hè phố Nguyễn Du. Bài thơ một câu ấy là thế này: “Tôi muốn nuốt Hà Nội vào lòng, trớ ra đô thành dởm”. 20 năm đã qua, 20 năm nữa sẽ tới. Nhưng thành phố băn khoăn của nhà thơ, có thể nguyên vẹn đi qua mọi cơn bàng hoàng của thời đại?
Những năm cuối thế kỷ 20, Hà Nội bắt đầu một cuộc xây cất khổng lồ và vô tận. Thành phố đầy thêm những phố không địa chỉ và những địa chỉ không số. Để sau đó tôi mỗi lần ra phố lại một lần không tìm được lối về. Cùng với năm tháng trôi Hà Nội lớn dần, khoảng cách con người cũng kéo dài hơn, để con đường tôi về quá khứ nhỏ hẹp lại, đến mức chỉ một người đi lọt.
Mỗi khi nhắc về Hà Nội ngày hôm nay tôi cũng nhớ tới một thành phố toàn bộ nhuộm vàng một màu vàng không thể định nghĩa, vỏ bọc cho những căn hộ xanh nhạt một màu xanh không thể gọi tên. Thành phố ấy mặc đồng phục trong những màu sắc không ổn định, theo thời tiết thay đổi mỗi ngày. Những khi mưa xuống màu vàng của mọi phố đậm đà hơn. Những khi ẩm ướt các căn hộ cũng sẫm tối hơn. Lỗi tại loại vôi pha thêm bột màu ấy vốn nhạy cảm quá mức với độ ẩm của không khí. Lỗi cũng bởi vì lòng ưa thích đồng phục của dân thành thị, bất kể loại đồng phục nào miễn là đồng phục.
Mùa hè, toàn bộ những tường vàng bắt nắng để lòng phố chảy nhựa để thành phố nóng nực làm sao. Mùa đông, chúng uống no hơi nước để thành phố vàng ảm đạm thế nào, với lá bàng đỏ rơi vãi khắp nơi. Đấy là Hà Nội những năm 70, 80 của thế kỷ trước. Tôi còn nhớ hồi ấy, mỗi khi bóng tối tràn vào thành phố tôi lại lấy xe đạp ra. Nhưng không biết đi đâu tôi lên hồ Hoàn Kiếm. Và chỉ về nhà sau khi đã làm nhiều vòng quanh hồ, trống rỗng và mệt mỏi. Tôi cũng nhớ bóng tối của Hà Nội dưới ánh đèn vàng đắm đuối, để thấy ở đấy muôn vàn màu sắc đắm đuối. Nhưng rất thường xuyên bóng tối biến mất, để lại nhiều cơn đắm đuối trong mắt tôi dang dở. Lỗi tại mất điện.
Thành phố mất điện, nhất là vào những khi mất điện, tuổi 20 của tôi lại thao thức làm sao, bởi lũ thanh niên tiểu khu. Bọn chúng cứ đêm đến lại rủ nhau ra ngồi giữa lòng phố, đệm ghi-ta và hát nhạc vàng. Khi thành phố đã ngủ yên những ca sĩ không chuyên ấy trở thành bọn ăn trộm chuyên nghiệp. Chúng bẻ khóa, bắt gà, lấy quần áo và vật dụng của hàng xóm. Cả phố khiếp sợ.
Tôi cũng sợ, sợ tất cả những kích thước nhỏ bé ấy của Hà Nội, bởi lẽ chúng cân xứng với cơ thể và trí óc tôi, với toàn bộ bạn bè tôi và đồng nghiệp. Mỗi khi trở mình vì mỏi mệt thể nào tôi cũng phải va đụng vào một ai đó. Mỗi khi một ai đó thầm thì những câu riêng tư thể nào tôi cũng nghe thấy toàn bộ, để không thể cảm thông với những riêng tư không phải của mình. Hà Nội vốn là như thế trong những kích thước dường như cân xứng với người Việt Nam – những con người còn nhỏ bé hơn cả những kích thước mà thành phố dành cho họ.
Nhiều thế hệ sau tiếp nối nhau, Hà Nội được nhân lên gấp 10, 20, 50 lần, và có thể hơn nữa. Nhưng những thay đổi dường như quá vội vã, để mỗi lần trở về từ nơi xa tôi lại phải đối diện với một thành phố mang kích thước khác, không bao giờ vừa được với một tôi nhỏ bé. Những thành phố ấy che khuất những thành phố đến trước, mặc dù chúng thực ra giống nhau ghê gớm. Trong những thành phố này thật khó lòng tìm thấy nguyên vẹn ký ức tuy nhiên tôi không chủ tâm cứ về Hà Nội là phải tìm về ký ức. Không bao giờ như thế, nhưng bao giờ cũng thế, tôi không hết ham muốn được quay về ngồi im lặng, trong những địa chỉ cũ.
Lũ thanh niên phố tôi hình như không còn nhiều. Đa phần đã chết cả rồi vì nghiện ngập. Phố nhỏ vắng người qua lại trở thành khu ăn nhậu. Hà Nội chậm chạp ngày nào trở thành một đĩa nộm thập cẩm khổng lồ. Màu vàng nổi tiếng của thành phố dịu dàng biến mất. Cả bóng tối Hà Nội nữa cũng không mang bên trong nó những màu sắc đã không hết khiến tuổi trẻ tôi đắm đuối. Hà nội của một thời đói nghèo và khổ đau nhưng có lẽ không giống bất cứ một nơi không hạnh phúc nào trên thế giới. Hà Nội hôm nay sẵn lòng nhắc lại những thành phố văn minh châu Á khác, sao chép lại những kiến trúc có ở khắp nơi. Để xây nên một thành phố không kiến trúc.
Tôi không biết có phải rằng mỗi người đều mang trong mình một thành phố. Không liên quan đến nơi sinh nơi trưởng thành. Cũng không liên quan tới sở thích thẩm mĩ và lòng yêu ghét. Giống như một bí ẩn cuộc đời, không giải thích được. Tôi mang Hà Nội trong mình – thành phố mà tôi không thể nói lời yêu. Tôi tiếp tục trở về Hà Nội – thành phố mà tôi cho rằng không rất đẹp. Để thấy mỗi lần trở về số người quen của tôi lại giảm bớt đi, và dân số Hà Nội lại tăng nhiều hơn nữa.
Ngày cuối cùng của lần trở về Hà Nội này tôi nhận được một bức thư điện tử, của một người bạn, một phụ nữ, một đồng nghiệp, một học trò của 27 năm về trước. Người bạn ấy kể rằng cô đã đến dự buổi thảo luận về một cuốn sách của tôi, đã nhận ra ngay thầy giáo cũ, nhưng đã không đến bắt tay tôi vì không chắc tôi vẫn còn nhớ. Cô cũng kể, rằng cô sống với con gái, sau khi chồng cô đã tự vẫn, bốn năm trước trong phòng làm việc, của một tòa soạn chuyên chống tham nhũng, tại Hà Nội.
Ngày cuối cùng ở Hà Nội tôi vào một quán giải khát máy lạnh. Tôi chọn cửa sổ, để nhìn ra phố nơi nóng ẩm và khó chịu vô cùng. Có nhiều người qua lại. Rất nhiều người qua lại. Tất cả với đầy đủ các loại xe cơ giới. Họ đi đâu họ đến từ đâu? Họ làm gì? Những ai trong số họ chưa hề may mắn được sống một ngày bi kịch? Những ai có thể diễn đạt lại uẩn khúc cuộc đời họ những ai không thể? Ai đang đến chỗ hẹn một quán bia? Ai đang đi mà không biết đi đâu? Ai đang trên đường về nhà? Ai đang đi tư vấn tâm lý?
Nhưng hỏi để làm gì khi tất cả đều vui khỏe làm sao, trong một hình ảnh không bao giờ sâu sắc. Vả lại, Hà Nội là như thế, sẽ dễ chịu hết sức khi dân du lịch ngắm đường phố từ cửa sổ một quán giải khát máy lạnh, một khách sạn máy lạnh, không cần nhỏ một giọt mồ hôi nào. Hà Nội là như thế một kích thước khổng lồ một không gian ầm ĩ. Bên trong nó là những uẩn khúc con người không mấy ai hiểu được.
2014

Phần nhận xét hiển thị trên trang

KHEN AI KHÉO VẼ BỂ KHỔ LUNG LINH


Friday, November 11, 2016

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Sững sờ 8 lời khuyên cuối đời của bậc thầy phong thuỷ nổi tiếng


Trần Lãng là một trong 10 thầy phong thuỷ nổi tiếng nhất Hồng Kông. Trong cuộc đời, ông đã xem tướng mệnh cho không biết bao nhiêu người, hầu hết đều là những nhân vật nổi tiếng. Tính riêng tại Hồng Kông có thể kể đến: Lý Triệu Cơ, Trịnh Dụ Đồng, Lưu Gia Linh, Chương Tiểu Huệ, Dương Thụ Thành, Dung Tổ Nhi, Tạ Đình Phong, Lê Tư, Lữ Lương Vĩ, v.v… còn có cựu Tổng thống của Indonesia. Họ đều rất tôn trọng Trần Lãng và coi ông như khách quý.

 Những câu chuyện lưu truyền về Trần Lãng
Năm 30 tuổi, Lý Gia Thành chân ướt chân ráo thử sức kinh doanh bất động sản tại Hồng Kông. Một hôm, hai người ngẫu nhiên gặp nhau tại một bữa tiệc. Trần Lãng sau một hồi xem cho Lý Gia Thành, liền hỏi: “Trong cuộc đời ông, kiếm được bao nhiêu tiền thì ông thấy thoả mãn?”. Lý Gia Thành nói: “Tôi có thể kiếm được 30.000 đôla Hồng Kông (tương đương với gần 90 tỉ VNĐ) là quá đủ rồi!”. Trần Lãng cười và nói: “Trong mệnh của ông, kho tiền tài vừa không nông, vừa trải rộng khắp nơi, ông sau này sẽ là người giàu có nhất Hồng Kông.”
 
Đúng như vậy, chỉ hai năm sau đó, Lý Gia Thành đã thành công trong việc mua bán hai bất động sản lớn ở Hồng Kông. Liên tiếp những năm sau, ông từng bước mở rộng quy mô phát triển sang các lĩnh vực khác. Tập đoàn của ông luôn nằm trong top 10 doanh nghiệp có ảnh hưởng nhất Hồng Kông. Năm 2016, ông được tạp chí Forbes vinh danh là người giàu nhất Hồng Kông và nằm trong top 15 người giàu nhất thế giới với tổng tài sản lên tới 27,8 tỉ USD.
 
Lại cũng rất nhiều năm trước, Trần Lãng đang ăn cơm thì gặp phải một thanh niên trẻ tuổi. Ông liền tới gặp ông chủ công ty giải trí Anh Hoàng và bảo ông ấy hãy nhận cậu bé này vào làm. Ông nói cậu ta tương lai sẽ phát triển rất thuận lợi. Và cậu thanh niên ấy chính là Tạ Đình Phong.
 
8 lời khuyên cuối đời của Trần Lãng:
Trước khi qua đời ở tuổi 78, trong lúc chữa trị tại bệnh viện, ông đã nhiều lần đưa ra lời khuyên cũng như lời tâm sự với nhiều người ở đây. Những lời này được ghi chép lại và truyền ra ngoài, gây ra cơn sốt không nhỏ trong cộng đồng mạng tại Hồng Kông.
 
Dưới đây là những lời ông Trần đã nói:
1. Tôi vì sao lại muốn giúp mọi người? Bởi vì các bạn sẽ lại giúp được nhiều người hơn nữa.
 
2. Những người có nhiều tiền ấy, kỳ thực đó không phải phúc của một đời trước họ tích được, mà họ đã tu tâm tích đức từ hằng bao nhiêu đời trước nữa rồi. Hiếu kính cha mẹ, tôn sư trọng Đạo, cứu giúp chúng sinh, mới có được địa vị tiền tài như ngày hôm nay.
 
3. Hiện nay có rất nhiều người đi nhầm đường. Họ dùng mọi thủ đoạn và quyền thế hoặc kiến thức bản thân biết được để kiếm tiền. Nhưng họ không biết được bản chất của những việc này đều là duyên phận, bản thân phải có “nhân” thì mới gặt được “quả”. Mà “nhân” ấy gieo bằng việc “hiếu kính cha mẹ, tôn sư trọng Đạo, cứu giúp chúng sinh”.
 
4. Bây giờ tại sao tôi lại chịu khổ như thế này (ông nói đến 3 lần phẫu thuật của mình đã chịu đau đớn rất nhiều), dù tôi có ý tốt muốn giúp mọi người thay đổi số phận, để thành công nhanh hơn một chút, giúp được nhiều người hơn nữa, nhưng vốn là Đạo Trời, ai thay đổi chúng thì đều phải chịu phạt, Ông Trời có cái Lý của Ông.
 
5. Muốn thành công, ngoài phúc đức của bản thân ra, vẫn còn phải có duyên tốt. Người Trung Quốc có câu: “Hoà khí sinh tài”. Đây là câu nói đúc kết từ trí huệ hàng nghìn năm trước. Muốn nói rằng: làm người phải chính nghĩa, thần sắc hoà ái, mới có thể kết nên “duyên tốt”. Sau này chính những người đó sẽ giúp bạn thành công. Tuyệt đối không cậy tiền tài mà nâng cao khẩu khí, tính tình cao ngạo, điều này sẽ làm tổn đức. Người xưa dạy: “Tự mãn chiêu tổn, khiêm tốn thụ lợi” chính là ý này.
 
6. Người làm ăn phải đi con đường chân chính, bản thân lại có “nhân” (phúc đức) thì thành công sẽ sớm đến thôi. Phúc dày thì duyên đến sớm, có muốn vội cũng chẳng được. Là người chân chính cũng chính là đang tạo phúc, làm tấm gương cho người sau học tập, cái phúc này không chỉ vài tỉ có thể tính được. Tuyệt đối không đi con đường bất chính, nếu không sẽ tổn đức rất nhanh. Trong mệnh đáng lẽ kiếm được vài trăm tỉ, làm việc bất chính, bị giáng xuống còn vài tỉ. Bản thân cảm thấy như thế đã là rất thành công rồi, kỳ thực không biết rằng chính vì mình bất chính mà tạo nghiệp nhận báo ứng, cũng không biết hưởng được bao lâu.
 
7. Hiện nay xã hội đều trở nên bại hoại, con người vì cầu danh, cầu lợi mà không từ thủ đoạn, cũng do không có thánh nhân chỉ dẫn, liêm sỉ cũng chẳng còn, chứ đừng nói đến đạo đức nhân nghĩa. Con người ấy mà, nếu muốn đời đời kiếp kiếp hưởng phú quý, thì hãy bảo họ bái sư tầm Đạo, ai ai cũng có liêm sỉ, thì nhân hoạ sẽ ít đi. Nhân hoạ ít, thì thảm hoạ thiên nhiên cũng giảm xuống.
 
8. Mọi người ở đây đều có ảnh hưởng lớn đến xã hội, đều là những người có học thức, được thầy tốt chỉ dẫn, thì hãy đem những điều bản thân học được phổ biến hơn nữa, thì đất nước sẽ ổn định, các nước khác cũng sẽ theo đó mà học. Làm việc này chính là tích được phúc lớn, hành được “quả Thiện” lớn nhất, ai làm thì người đó hưởng được lợi ích, đời đời kiếp kiếp hưởng đại phú đại quý.
 Sưu tầm

Phần nhận xét hiển thị trên trang

The Sympathizer Câu trả lời là… không có gì cả!


Nguyễn Vạn Phú 
Độc giả Mỹ phải nói sướng thiệt, họ có thể đọc The Sympathizer của Nguyễn Thanh Việt một cách thoải mái như đọc một tác phẩm văn học vừa đoạt giải Pulitzer, không mảy may vướng bận chuyện chính trị, chính em. Chẳng ai hơi đâu thắc mắc vì sao tác giả hư cấu cho một viên chức CIA sau năm 1975 rồi mà còn tìm kênh không chính thức để tài trợ cho một nhóm lính Việt Nam Cộng Hoà về Thái Lan lập căn cứ phục quốc! 
Dân Việt không được cái sướng này. Ai đọc cuốn tiểu thuyết dành giải Pulitzer (dù đó là hạng mục hư cấu) này cũng sẽ săm soi coi ông nhà văn này miêu tả cuộc chiến như thế nào, lập trường hậu chiến ra sao? Và nếu xét theo góc độ đó, thiết nghĩ nếu cuốn sách được dịch sang tiếng Việt, người đọc rộng rãi hơn bây giờ, có lẽ tác giả sẽ bị ném đá từ cả hai phía và e rằng phía "Cộng Hoà" sẽ dữ dội hơn phe “Việt Cộng” dù kỹ thuật của tác giả lường trước chuyện này để hoá giải đạt mức khá thượng thừa. 
Đó là một bi kịch mà người điểm sách muốn vượt qua. Tại sao không cố quên đi chuyện chúng ta, một cách nào đó,  cũng là nhân vật trong cuốn tiểu thuyết hư cấu này, thân phận chúng ta được phơi bày trần trụi để đọc nó như đa phần độc giả trên khắp thế giới? 
Nhưng đọc với tâm thế như vậy, e rằng sẽ có người thất vọng. The Sympathizer không tạo dựng được một không khí văn học thuần tuý như những tác phẩm mà Nguyễn Thanh Việt chịu ảnh hưởng như “The Quiet American” của Graham Greene. Nó không có sự lạnh lùng của "The Spy Who Came in from the Cold" của John le Carré 
Trước hết đó là bởi tác giả chọn lối viết là một tập hợp 295 trang “tự kiểm” mà nhân vật tôi viết và nộp cho Cán Bộ (các từ loại này được viết hoa vì nó được xem là tên nhân vật)Góc nhìn này làm bó tay người viết khi muốn tạo dựng hình ảnh ba chiều cho các nhân vật chính – phần lớn họ xuất hiện như những hình nhân hai chiều, buồn tẻ, đơn điệuHọ xuất hiện chỉ để làm nền cho một dòng văn chính luận được viết theo dạng mỉa mai, hai mặtNhân vật chính xưng tôi là Đại Úy trong quân đội Sài Gòn nhưng là điệp viên do Việt Cộng cài vào. 295 trang tự kiểm này kể lại cuộc đời của anh ta mà các bạn có thể đọc được ở các bài điểm sách tóm tắt cốt truyện.  
Nhưng chính góc nhìn này đã làm cho tác phẩm thành công với độc giả Mỹ, hay ít nhất là với thế hệ baby boomers lớn lên cùng chiến tranh Việt Nam. Bởi nó cung cấp một góc nhìn châm biếm, cay độc và hài hước về xã hội Mỹ, chính trị Mỹ, điện ảnh Mỹ cùng các vấn đề của nó như sự kỳ thị ở tầng sâu nhất. Trường đoạn kể chuyện nhân vật tôi tham gia làm phim The Hamlet (lấy nguyên mẫu là bộ phim nổi tiếng Apocalypse Now) đủ để nhiều người Mỹ khoái trá khi đọc miêu tả đạo diễn lừng danh Francis Coppola hay diễn viên huyền thoại Marlon Brando dưới một con mắt khác.  
Còn ở góc cạnh "kể chuyện" thì cách viết "kiểm thảo" đó lôi cuốn chẳng khác gì một phim Hollywood như "đại cảnh" tháo chạy bằng C130 tại sân bay Tân Sơn Nhất dưới làn đạn pháo rồi "cận cảnh" cái chết của đứa con và vợ của Bốn, người bạn thân của Đại Úy bằng một viên đạn không biết từ phe nào khi còn vài bước chạy là lên được máy bay. Có lẽ với nhiều người Mỹ đây là lần đầu tiên họ được đọc miêu tả chiến tranh Việt Nam nhìn từ góc lính Cộng Hòa, bị phản bội, bị bỏ rơi nhưng chỉ biết phẫn uất với đồng đội 
Bao trùm lên đó là tính hai mặt mà tác giả muốn khoác lên mọi thứ, từ bản thân nhân vật tôi (Đại Úy) từng thú nhận ngay đầu tiểu thuyết: “am a spy, a sleeper, a spook, a man of two faces (tất cả danh từ này đều miêu tả một kẻ hai mang)kể về xuất thân (con hoang của một linh mục Pháp và một phụ nữ Việt), kể về hai vai phải đóng (vừa là đại úy quân đội Sài Gòn vừa là điệp viên do Cộng Sản cài vào) đến hai người bạn cắt máu ăn thề như ba chàng ngự lâm pháo thủ (Mẫn, cấp trên trực tiếp của Đại Úy và Bốn, lính Sài Gòn chuyên giết người trong Chiến dịch Phượng Hoàng tuy hai nhưng thật ra là một). Cả nước Mỹ dưới mắt tác giả cũng hai mặt như thế, vừa văn minh vừa thực dânvừa hiện đại, siêu mọi thứ lại tàn nhẫn, khốc liệt 
Với độc giả người Việt, nếu bỏ qua được cái xét nét nói ở trên, vẫn sẽ có nhiều người thấy thú vị với những nhận định của tác giả về mặt sau của cuộc chiến, về cuộc sống của người dân tỵ nạn, của cộng đồng nàyNgay cả Ông Tướng khi nghe tay CIA trấn an, "Chính thức mà nói không có chuyện di tản đâu" cũng phải thốt lên"Còn không chính thức mà nói các ông đang bỏ rơi chúng tôi".  
Nhưng có lẽ sẽ có nhiều người khác khó vượt qua các chi tiết như Ông Tướng thu xếp để Đại Úy ám sát một nhà báo dám kêu gọi hòa hợp hòa giải vì chiến tranh đã qua rồi hay ra lệnh ngầm để Bốn giết Thiếu Tá mập vì nghi là Việt Cộng cài lại. Trường đoạn Đại Úy nhớ lại cảnh ba tay cảnh sát cộng hòa hãm hiếp một cách dã man người nữ điệp báo Việt cộng trong khi tay cố vấn CIA đứng nhìn chẳng kém gì những đoạn văn bạo dâm của de Sade.  
Đến khi Đại Úy cùng Bốn trở về Thái Lan tìm cách vượt biên vào Việt Nam để tiền trạm cho Ông Tướng đem quân về phục quốc, cả hai bị bắt và tống vào trại cải tạo, người đọc trong nước có lẽ sẽ thấy chuyện “kiểm thảo” là bình thường, chuyện Cán Bộ đòi Đại Úy phải tự kiểm mạnh hơn nữa để thấy mình bị "phương Tây đầu độc" như thế nào là bình thườngThậm chí sẽ có những nụ cười khi Cán Bộ so sánh sao không trích "Thép đã tôi thế đấy" mà trích toàn Phạm Duy với Beatles! Nhưng sẽ có những luồng dư luận phản ứng với góc nhìn "phản tỉnh" của Đại Úy, dưới sự thúc dục của chính Mẫn, sau nhiều màn tra tấn chủ yếu bằng tâm lý đã ngộ ra Không có gì quý hơn độc lập, tự do” chính là “Không có gì”  không có gì cả.  
Quay trở lại với yếu tố văn học, tác giả như sợ người đọc không hiểu được tính hai mặt của câu khẩu hiệu nổi tiếng này như Đại Úy vào cuối truyện chợt hiểu ra ý nghĩa của cuộc đời mình ra nên phải dành cả đoạn nói cặn kẽ cái ý đó (Mẫn Chính Ủy cứ gặn hỏi Cái gì quý hơn độc lập, tự do? Để hướng đến câu trả lời Không có gì cả)Đây là chỗ yếu nhất của sách, làm hỏng cả phần sau mang hơi hướm thực ảo trộn vào nhau, khác với lối kể chuyện ở phần trước.  
Bỏ qua các chi tiết này, bỏ qua nhiều chỗ cường điệu (như tranh luận với ông đạo diễn về chuyện phim về Việt Nam sao không cho nhân vật Việt Nam nào nói gì cả, như cho Cán Bộ trích nhiều câu thơ của Tố Hữuthì cuốn sách hấp dẫn người chịu đọc nhờ giọng văn tưng tửng của tác giảTưng tửng ngay cả khi miêu tả cặn kẽ cách nhân vật chính giết tay nhà báo bằng những phát súng vụng về, bằng sự ân hận ám ảnh trước cái chết của Thiếu Tá do lỗi Đại Úy sợ lộ thân phận nên gán cho anh ta tội làm gián điệp hay cả khi kể chuyện "tự sướng" bằng con mực ống! Giọng văn tưng tửng này chuyển thành dòng chảy ý thức (stream of consciousness) rất thành công ở các chương gần cuối khi tác giả thoát cảnh viết kiểm thảo. 
The Sympathizer là một cách tóm tắt thông minh số phận người dân Việt phải trải qua trong hơn 40 năm quaNó sẽ thành công hơn nếu tác giả biết tiết chế, không đưa vào những đoạn "tuyên ngôn" lộ liễuĐọc nó với tâm thế đọc một bài luận dài thì dễ vào hơn là đọc nó như một tác phẩm văn học vì các nhân vật xuất hiện, nói năng, hành động chỉ như để minh họa cho điều tác giả muốn nói hay đúng hơn là thể hiện những điều tác giả sử dụng chất liệu của nguồn khác (như trong lời bạt) để nói điều muốn nói 

Phần nhận xét hiển thị trên trang