Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 25 tháng 9, 2016

Thăm thẳm đường về ( 3 ) TT


 Kết quả hình ảnh cho Hình ảnh người đi xa về?

3.
 
G
ã đã gặp may. Người ta bảo rằng những kẻ vừa ở chốn lao tù ra đời thường gặp may lúc đầu như thế. Kiểu như nắng mãi rồi phải có lúc gặp trời mưa. Nắng mãi, mưa mãi những người như gã khó lòng tồn tại. Mà cũng chẳng riêng những người như gã. Phần đông nhân gian cũng đều như vậy cả. Vận, hạn của kiếp người giống như bốn mùa liên tục đổi thay. Phúc hoạ luôn như ngày đêm chuyển đổi. Không như thế lúc này gã không biết xoay sở thế nào để sống.
Mọi khi ở nhà chỉ có hai bà cháu, tằn tiện chắt bóp qua ngày, lượm lúa, quả ngô nhặt được trên đồng cũng đủ rau cháo ngày hai bữa. Nuôi thêm con lợn con gà dành dụm chút quà mọn mỗi lần thăm gã. Còn thêm phần bát gạo, nắm rau cho ông cậu đông miệng ăn. Sống nơi đồng rừng đất đai rộng rãi cho tới giờ ông vẫn chưa thoát cảnh nghèo. Vẫn thường xuyên đứt bữa. Tiếng là nông dân ông vẵn chưa thạo cày bừa, tính toán làm ăn như người trên trời rơi xuống. Cả đời làm cán bộ, chỉ lo việc lớn. Toàn là chủ trương, đường lối, chính sách, tiền nong. Ông không giỏi làm những công việc cụ thể như trồng trọt, chăn nuôi để kiếm ra đồng tiền. Bà vợ chỉ được mỗi cái hiền lành, lành quá hoá độn, không biết trao trác, buôn bán kiếm đồng mua gạo. Người ta lên rừng, dân khai hoang chỉ đôi năm là dễ chịu. Ông bà lúc nào cũng như vừa mới lên. Lúc nào cũng sơ sài tạm bợ. Xoay đằng trước ra đằng sau mỗi ngày mỗi bế tắc.
Người em trai những ngày anh chưa về ở riêng. Ngôi nhà xin mẹ dỡ về dựng mãi cuối thôn. Thôn đồng rừng xa hàng cây số. Hai vợ chồng hăm hở làm ăn. Chồng xuất ngũ về hưởng một tý chính sách nên cũng đỡ. Nhưng trời chưa cho khá. Lũ con trứng gà trứng vịt chưa biết trông nhà. Bố mẹ đi lên nương, chúng ở nhà nghịch  lửa. Mới tháng trước hoả hoạn thiêu trụi hết nhà cửa, giống má, quần áo chỉ còn một bộ mặc trên người. Còn đang lo đến từng nhà trong thôn xin cây tre về làm lại chỗ ăn chỗ ở.
Nếu có khá cũng chưa chắc giúp đỡ được gì. Thằng chồng thì im ỉm vẻ hiền lành. Con vợ tác quái, mồm nhọn như mũi dùi, luôn nỉ non với chồng về chuyện con đẻ, con nuôi. Gây hiềm khích với nhà chồng. Lòng thương người của bà mẹ nuôi trở thành mối oán giận.
Chỉ tiếp xúc vài lần gã nhận ra điều ấy ngay. Anh em sống với nhau cả thời thơ bé quý hoá nhau không khác gì ruột thịt. Người ngoài không ai biết ai là con đẻ ai là con nuôi. Nợ từ kiếp nào, kiếp này bà mẹ quý nó còn có phần hơn con đẻ của mình. Bà thương nó xấu số thiệt phận từ lúc chào đời. Bố mẹ đứt ruột đẻ ra không thương tiếc. Bà thiếu sót với nó lại sợ miệng tiếng bạc đãi với đứa con không phải mình sinh ra. Sợ nó tủi thân.
Vào cái thời mà ruột thịt còn không thương được nhau thì trách gì kẻ khác máu tanh lòng. Gã cay đắng nhận ra như vậy.
Thực ra thì trời không bỏ ai. Cho dù có lúc trời éo le trăm nỗi. Như đã nói gã đã gặp may. Không phải là nhặt được tiền ai đó đánh rơi. Cũng không phải có mạnh thường quân nào cưu mang giúp đỡ. Gã đã gặp một cơ hội. Với người khác có thể chả là gì, chỉ là những khúc củi trên rừng. Nhưng với gã, gã mừng hết đỗi, như vớ được vàng. Cả một vạt rừng mỡ, bồ đề miên man trước nhà người ta khai thác để trồng lứa cây mới. Gỗ cây gã chẳng hy vọng gì, kể cả việc đốn cây để kiếm đồng công. Nhưng cành ngọn là thứ người ta bỏ lại. Đó là món hời cho những người dân trong vùng trong đó có gã.
Không biết khi xưa đức phật ngồi dước gốc cây bồ đề tâm trạng của người buồn vui thế nào? gã ngồi bên gốc cây bồ đề với tâm trạng phấn khích vô cùng. Những gốc cây bồ đề cao gần một thước do sự ngay lưng của công nhân lâm nghiệp. Người ta đã cắt cao như thế để đỡ phải cúi lưng và dễ chạy kia cây đổ. Chính những gốc cây này về sau là nguồn sống của những người làm nghề Thạch Sanh, quanh năm sống bằng nghề kiếm củi.
Người ta chỉ cắt phần thân thẳng, tròn đều, dùng trâu kéo ra bến gỗ. Phần ngọn và cành bỏ lại.
Gã thấy bố con ông Chỉ xúm xít dùng cưa, dùng dao cắt ngọn, chặt cành. Cả những người trong xóm cùng kéo nhau lên đồi, cười nói vang động cả khu rừng.
Mẹ gã bảo:
- Lâm trường khai thác. Người ta cho thu ngọn và cành. Con mới về còn yếu, không thì cũng kiếm được chút tiền.
Gã nói:
- Sợ người ta không cho, chứ con ốm đau gì đâu.
Gã tìm khắp nhà, có độc con dao quắm. Con dao bỏ lâu lưỡi mòn chỉ nhỏ bằng hai ngón tay. Gã mài một lúc, lưỡi nó sáng lên, nhưng con dao nhẹ quá, chặt cây không phải lối. Hì hục mãi, gã mới chặt được đoạn ngọn. Con dao nhẹ chủ yếu phải dùng sức, cũng chẳng ăn thua là mấy. Lưỡi dao cứ nhảy tâng tâng. Bàn tay phồng rộp mới chặt được vài đoạn. Giá mà có con dao sắc cầm đằm một tay chút thì đỡ vất vả. Chầy chật như thế từ sáng tời trưa, gã cũng chặt, bó lại và chuyển được hơn chục bó củi. Được như thế là vì từ chỗ khai thác về tới nhà chỉ vài trăm mét. Bữa cơm trưa hôm ấy gã ăn rất ngon miệng mặc dù chẳng có gì ngoài canh rau bí hái trong vườn. Thấy con làm vất vả bà mẹ đập vào đấy thêm quả trứng.
Tự dưng gã thấy lâng lâng bởi những ý nghĩ lan man. Ai đó nói rằng: " Lao động làm cho con người tư do. Tư tưởng làm cho họ trở thành cao quý ". Điều đó quá đúng với hoàn cảnh của gã hiện thời. Chẳng sung sướng gì ngày hai buổi leo đồi, nhưng ít nhất mỗi ngày gã cũng kiếm được yến gạo. Lo được cái ăn cho cả nhà. Con gái gã không phải có hôm nhịn đói đến trường. Gã sẽ mua sắm được vài thứ. Trước mắt cái gì cũng thiếu, gian cửa gian nhà là thứ to tát chưa làm được đã đành. ít nhất phải có cái giường nằm, cái chăn cái màn tàm tạm. Hôm hai mẹ con Tâm đi, cô mang theo luôn cái giường lên nhà tập thể. Mẹ gã bảo đó là cái giường cô ấy mua mang về. Cũng không đẹp đẽ gì, chỉ là thứ đóng bằng gỗ xoan, để mộc. Nhà còn độc nhất cái giường thì hai bà cháu nằm. Nom nó cũng xộc xệch. Cứ vài hôm bà cụ lại dùng hòn đá đâp mấy cái cho nó khít mộng. Chắc cũng không được lâu.
Tạm thời gã trải chiếu nằm trên hai tấm ván canh của ông cụ hàng xóm cho mượn. Ông cụ Mận cùng cảnh gã sống nuôi con. Bà cụ mất đã lâu. Anh con trai đang học trường nội trú ngoài tỉnh. Ông cụ có mấy con bò thỉnh thoảng chăn gần nhà gã. Cụ thường ghé vào khi cho cái rổ mới đan, khi nắm lạt hồi gã vắng nhà.
Người đời không phải ai cũng vô tình cả. Suốt quãng đời gian truân gã gặp không ít những người tốt mà cử chỉ của họ khiến gã rưng rưng.
Gã đang chuẩn bị đi làm buổi chiều thì ông cụ lại đến. Ông nhìn con dao gã đeo bên người có vẻ ái ngại. Ông bảo:
- Hẵng còn sớm. Cậu đợi tôi một chút. Bên nhà có cái cưa tôi không dùng đến. Để tôi về lấy cho. Dao dựa thế này thì làm ăn gì.
Trời vẫn còn sớm thật. Mùa này thôi nắng sớm, nhưng vẫn chưa thấy ai lên đồi. Gã bảo:
- Ông cho mượn để con theo sang, ai lại để ông đi đi lại lại vất vả.
Ông lão cười đỏ lợi:
- Sang tôi chơi chút cũng được. Tiện thể cầm mấy quả mướp về cho bà lão nấu canh.
Gã thầm khâm phục ông cụ là người làm ăn cơ chỉ. Chỉ có một mình mà nhà cửa ngăn nắp. Rào rậu kín đáo. Trong vườn cây cối tươi tốt, ngay hàng thẳng lối. Thì ra dù cảnh ngộ có éo le đến đâu nếu người ta chịu khó vẫn sắp xếp được cuộc sống căn cơ. Một ông lão gần bảy mươi tuổi mà vẫn sống ung dung còn có tiền nuôi con ăn học. ông cụ cũng là người muộn đường vợ con. Chỉ duy nhất người con chưa đến hai mươi tuổi. Có phải vì thế mà ông có sự đồng cảm với mình không? Có thêm cây của buổi chiều hôm đó gã làm việc kết quả hơn. Gã bỏ qua đám cành nhỏ, chọn những khúc ngọn cắt từng chữa một. Những khúc bồ đề cắt nhanh và khi chuyển nhẹ hơn nhưng không bằng ngọn mỡ. Cụ Mận bảo chịu khó vác nặng một chút nhưng mang về thị xã bán được tiền hơn. Người ta tận dụng làm đồ lặt vặt. Bồ đề thì chỉ để làm củi. Ông cụ là người ở đây lâu năm kinh nghiệm ông cụ biết. ông cũng nói thật lòng. Không phải như bố con lão Chỉ Đen. Bề ngoài thì thế nhưng lão khoảnh lắm. Lão gợi ý cho anh chỉ nên lấy bồ đề khi đóng mảng không bị chìm như anh mỡ tươi. Không, chìm gã không ngại. Gã đã nhìn thấp thoáng những bụi nứa dọc khe suối. Khai thác đại trà thế này, nứa không ai giữ. Đằng nào cũng phải phát quang hết rồi mới trồng mới được. Gã sẽ đóng thành mảng, nứa cụm thành hai bó. Sẽ có một cái mảng nổi không sợ chìm. Cuối chiều, áo quần gã ướt đẫm như vừa gặp mưa, mồ hôi rịn cả chân tóc. Thấm mệt, gã ngồi nghỉ nhìn lơ đãng ra ngoài mặt sông. Giữa dòng một mũi bè dài hàng trăm mét đang xuôi dòng. Những đạy gỗ hình chữ nhật nối tiếp nhau bằng những sợi song uốn theo dòng nước. Đầu và cuối bè có những người đàn ông cởi trần, đánh độc quần đùi đang ra sức chống chèo. Chỉ cần bè đi lệch luồng một chút có thể mắc cạn, hoặc đứt đoạn vài đạy. Lại phải dừng lại đóng gói mất hàng tuần. Vì thế họ luôn mồm inh ỏi gọi nhau mồng, lái sau cho phối hợp. Không có chuyện ông chằng bà chuộc trong nghề sông nước. Gã thầm nghĩ: Trời lặng, sóng yên mà người ta còn hò hét như thế. Khi lên thác xuống gềnh thì sẽ ra sao nhỉ? Lại nhỡ không may giông gió, mưa bão? Chả thế mà có câu ca:
" Thứ nhất là mồ côi cha
Thứ nhì gánh vã thứ ba Sơn Tràng "
Cái nghề Sơn Tràng luôn gắn liền với sông nước. Trong ba nỗi cơ cực nhất ở đời thì cái thứ nhất gã đã từng trải qua. Cái thứ nhì cũng từng nếm trải những năm trong tù. Còn cái thứ ba là cái vài ngày nữa thôi gã sẽ được biết phong vị của nó. Thoáng một chút thương mình. Gã vội vàng đứng dậy. Mẹ gã có lần nhắc một trong mười bốn điều dăn của phật: " Đáng sợ lớn nhất của đời người là tuyệt vọng " gã biết bà nhớ không chính xác lắm. Đúng ra là phá sản lớn nhất chứ không phải là đáng sợ lớn nhất. Nhưng mà ý nghĩa của nó có khác gì nhau? Gã biết vào lúc này chỉ cần một chút chán nản là không có cơ gượng lại. Con bè kia có thể sơ sểnh một chút mắc cạn, nhưng người ta còn có thì giờ để đóng lại, để tiếp tục xuôi dòng. Còn với gã ở tuổi này còn vấp váp lần nữa sẽ khó lòng đứng dậy. Dù khổ tới đâu cũng không được mềm lòng. Khôi hài một chút là " Cứ cứng ". Công việc gã đang làm, xét cho cùng chỉ là công việc đơn giản. Chủ yếu là dùng cơ bắp, chịu khó và nhẫn nại cộng với chút kinh nghiệm vặt vãnh.
Gã là lính mới trong nghề sông nước tới đây. Mấy chục cây số đường sông với bao hòn, vật không đơn giản. Nếu thông thuộc thì chỉ từ sáng tới chiều là về tới bến ngoài thị xã. Đóng cón cho chắc, đi theo đúng luồng, xuôi dòng nước chảy có thể coi là đi chơi đối với người thuộc từng bờ bãi hai bên sông. Rẽ đường thuỷ không phải tới nơi rồi mới tránh. Phải biết bỏ sát bờ bên này để tránh bên kia cả cây số mới qua trót lọt. Qua thác nước phải đánh mũi bè cho thật chuẩn. Nếu không sẽ bị chui vào hàm ếch hoặc mắc ngõng cối xay, ra không ra được, vào không vào được. Cái bè sẽ xoay tít như chong chóng rồi bị xé tung ra từng mảng. Lớ sớ còn nguy tới tính mạng. Mùa này lũ không hung dữ, nhưng cũng không phải vì thế mà coi thường. Lâu lâu lại có vụ đắm thuyền, lật mảng cướp đi mạng sống của người đi sông.
Nhà gã ở gần sông gã biết, chẳng có đêm nào không nghe tiếng người đi bè la hét, chửi bới nhau ngoài bến. đúng là cái nghề thuận dòng xuôi gió thì chén chú chén anh. Khi lên thác xuống gềnh thì của anh, của chú... Đấy mới chỉ là qua một bãi nổi giữa dòng. Mắc cạn vào còn xeo mồng, chống đẩy ra được. Không phải vật mõm xấu hay hòn nanh sói. Không lành nghề, lại nhát gan thì chớ nghĩ đến chuyện mượn đường sông nước kiếm ăn. Đành là đắp chăn chờ thời hoạ có vận may nào chăng, hay chấp nhận bới đất lật cỏ, lam lũ rau cháo qua ngày.
Không. Gã không chấp nhận cuộc sống như thế. Dù khó mấy cũng phải vượt qua. Có qua được đận này mới mong sáng sủa hơn ở những ngày sau. Giống như con tốt trong bàn cờ bắt buộc phải sang hà nếu không muốn đứng yên chờ chết. Ông cụ Mận là Người chu đáo, ân cần. Kinh nghiệm đi sông nước có bao nhiêu cụ chỉ bảo cho gã cặn kẽ. Những năm còn khoẻ cụ từng đi bè xuôi về mãi Hà Nam, Phủ Lý. Nhưng mà nó chỉ là kinh nghiệm trên lời nói. Thực tế nó khác hơn nhiều. Cụ bảo vậy, ông cụ lấy làm tiếc là giờ sức yếu không đi được. Vừa thêm chút tiền chuẩn bị cưới vợ cho anh con trai, vừa là ông con đi với nhau vài chuyến cho vui. Khi xưa đi bè lậu, cứ nhằm những đêm tối trời mà đi. Chờ lúc canh khuya mới dám qua trạm. Không những Nhà nước thu mất bè mà có khi còn bắt cả người nếu họ vớ được. Đi đêm trên sông nhận ra luồng đường bằng đôi tai và nhớ độ đường. Nghe tiếng nước réo ào ào là biết có hòn ở phía trước. Quãng nào tĩnh lặng là chỗ nước sâu, bè đi chậm phải cố mà đánh xeo cho kịp thời gian qua trạm.
Ông bảo đi bây giờ như đi chơi. Ban ngày ban mặt không lo gì vật, bãi. Vài đám củi cành không sợ kiểm lâm vày vò. Bất quá qua trạm biếu con gà chai rượu, vài bao thuốc lá là xong. Đất có thổ công, sông có hà bá chuyện ấy cũng là thường chẳng thời nào không thế. Ông khuyên gã nên theo lão Chỉ một chuyến cho biết đường. Lão ấy khoảnh, chẳng giúp ai bao giờ những có tính ưa nịnh, thích được người ta tâng bốc. Vừa ý, có khi lão còn moi cả ruột cả gan, chẳng tiếc thứ gì. Chẳng thế mà có gã thợ xẻ đến cứ nhận bố bố con con. Lão sắm cho cả xe đạp. Cái thằng mất dạy ấy chơi cho con gái lão phềnh bụng rồi mất tăm. Cái nhà lá con con dựng ở góc vườn là làm cho đứa con gái ấy ở riêng. Mấy tay kiểm lâm ở trạm thay nhau vào ra nơi ấy. Chính vì thế lão là đầu nậu lâm sản trong vùng. Không có cánh đi bè nào tới đây mà không qua lão. Họ đặt tiền cho lão mua hàng, nhờ lão lo thủ tục giấy tờ. Lão già thô kệch, chữ nghĩa sơ sài trở thành một đầu mối quan trọng. Nhưng gã cảm thấy ngại. Tâng bốc và nịnh bợ là thứ gã không quen làm. Không phải vì sĩ diện, đơn giản là gã không ưa, gã cảm thấy như vậy có cái gì nhục nhã, tanh tưởi thế nào ấy. Tối nay gã sẽ sang nhà lão. Gã sẽ không nịnh hót, không thổi phồng lão lên như có người từng làm. Gã chỉ thực thà xin đi theo lão một chuyến. Tất nhiên của ai người ấy lo. Gã chỉ xin đi theo lão cách một quãng phía sau, gã sẽ để ý lão làm thế nào sẽ làm theo như thế. Như thể theo người lội sông để biết chỗ nào nông chỗ nào sâu.

ó
ó   ó

Nhà lão Chỉ có thằng con trai út chột một bên mắt rất giỏi mò tôm cá. Nó chột bên mắt ấy cũng do từ tôm cá mà ra. Cái năm nó mười ba mười bốn tuổi chơi với trẻ trong xóm. Mấy đứa rủ nhau đi tìm nan hoa xe đạp gẫy về mài nhọn làm tên. Thêm mẩu gỗ hình khẩu súng lục và đoạn dây chun chúng làm súng bắn tôm. Trưa nắng tôm ra phơi mình bên khe đá dưới bờ sông chúng bắn được kha khá. Thường được những con tôm càng to tướng. Chúng chậm chạp lại dễ trúng tên.
Rửng mỡ thế nào có đứa lấy súng trêu nhau. Chuyện trẻ con đùa hoá thật. Sợi giây cao su ướt nước cướp cò. Cái nan hoa xe đạp nhọn hoắt vút vào bên mắt con lão. Thằng bé giãy dụa ôm mặt. Lão phải thuê thuyền đưa con về bệnh viện tỉnh mới lấy mũi tên ra được. Nó ra cũng tròng một bên mắt. Khi ấy còn chưa có luật bảo vệ trẻ em và nhi đồng. Nhà có con gây nên tai nạn đền cho lão con trâu mộng và đôi lời xin lỗi. Cũng đành phải chịu chứ làm sao được. Thịt người là thứ không ăn được, có đánh có giết con người ta cũng không lấy lại con mắt cho con mình. Bỏ tù con người ta nó chưa tới tuổi thành niên. Cũng là trò trẻ con vô tình không phải cố ý. Lão hận cả nhà nó cho tới tận bây giờ.
Từ ngày thằng Tồ hỏng một bên mắt, hình như nó sát cá hơn. Nó thường câu được những con cá chiên tay xách đuôi quyệt chấm đất. Giọ tôm cái nào nhấc khỏi mặt nước ít nhất cũng ba lạng tôm. Toàn những con nần nẫn như ngón tay tươi rói.
Mấy năm trước lão còn cho đem bán. Từ năm ngoái trở lại đây lão để nhà dùng. Ai thiếu tiền, bòn nhặt từng đồng chứ lão không thiếu. Con kiếm được bao nhiêu lão cho thả vào vại nước. Vừa để ăn, vừa tiếp khách đỡ tốn tiền. Mâm rượu bưng lên thấy cá tươi có người hỏi lão cá ao nhà hay sao mà không phải đi chợ vẫn có ngay? Lão phởn nửa đùa, nửa thật:
- ừ ao nhà. Ao nhà này rộng mãi tới Sơn Tây, Hà Nội...
Cuộc rượu hôm nay thì vẫn là những người bạn cũ. Vẫn là Khánh kiểm lâm, Sinh béo cửa hàng bách hoá và Hoằng mặt bánh dầy.
Họ thành một nhóm giống như sau này gọi là Công ty Cổ phần. Góp vốn chung nhau làm ăn, đợt lâm trường khai thác gỗ là một cơ hội. Họ không xuôi mỡ, bồ đề là những thứ rẻ tiền, ít nhất phải là gỗ từ loại ba trở lên. Đánh loại gỗ người ta đánh loại xuôi chứ không đánh ngược như xếp loại thương binh. So sánh thế này kể ra hơi khập khiễng, nhưng nói thế để biết giá trị gỗ. Chuyến hàng này giấy tờ Khánh chịu trách nhiệm lo. Hàng ông Chỉ đi đặt. Sau đó Hoằng và ông Chỉ sắp xếp xuôi bè. Hình thức bề ngoài là mảng củi tận thu lâm sản phụ. Thực chất là găm đinh thối, vảy ốc dưới gầm bè. Vì thế củi cành bố con ông Chỉ đi lấy chỉ để làm " Cốt " cho dễ thông đồng bén giọt. Khi gã sang tới nơi cuộc rượu chưa tàn. Khác với mọi hôm thức nhắm hôm nay còn có thịt trâu nướng. Nhà lão Chỉ hơn người trong vùng ở điểm này. Món thịt trâu nướng lão học được ở người Thái Đen ở Sơn La, khi lão còn là lính com măng đô nhảy dù xuống Điện Biên Phủ. Vùng này người ta thịt trâu thịt chó không mấy người biết ăn. Phải sang thế kỷ sau nó mới là món đặc sản. Phần thì gia giảm không đủ, thiếu gia vị, phần con trâu gần gũi với mình nên người tra không nỡ ăn. Thịt trâu lúc này ở nhiều nơi trong vùng rẻ hơn thịt lợn. Kể cả thịt lợn giá cả không giống mọi nơi. Người ta ưa mỡ hơn nạc. Giá thịt lợn bao giờ cũng khác hơn. Cũng dễ hiểu vì sao như vậy. Một cân thịt nạc ăn được một bữa. Trong khi một cân thịt mỡ có thế nấu rau được nhiều ngày. Giá cả đôi khi nó phụ thuộc vào mức độ cần thiết đến mức nào, chứ không phụ thuộc vào chất lượng của hàng hoá.
            Lão Chỉ ướp tẩm gia vị công phu, dùng than soan quạt thật hồng. Thịt trâu vừa thơm vừa bùi lại có vị đậm rất đặc biệt. Một đĩa thịt trâu đắp có ngọn dùng với rau thơm đã gần hết. Gỏi tôm quấn hành vẫn còn quá nửa đĩa to. Món nhắm không cứ thức ăn ngon. Nhiều khi hấp dẫn bởi lạ miệng, hoặc ngồi với ai. Không còn là thời có thứ ngon phải ăn giấu ăn vụng như nhiều năm trước. Sợ người ta để ý theo dõi rồi kết luận phần tử này nọ. Nhưng vẫn phải ý tứ đừng chọc vào mắt thiên hạ. Thói đời xưa nay nghèo thì người ta kinh miệt. Kha khá một chút người ta ghen tức. Người ta soi mói việc làm ăn. Lão Chỉ biết cả những điều ấy. Nhưng lão không ngại, cánh vế của lão đủ mạnh " Không ngại bố con thằng nào " kinh tế lão tự lực, tự cường không lệ thuộc ai. Lão là hòn đất to trong làng, ngoài xã không có địch thủ. Nhưng từ khi có gã hàng xóm về lão phải xét lại. Tốt xấu thế nào chưa biết. Nhưng đã có những thằng ra tù không vừa. Lúc đầu đi tù về tội đánh bạc án phạt chỉ một năm. Vốn trước ở nhà là kẻ nhút nhát, mắc mỗi tội cờ bạc, còn biết đường ăn ở. Còn có vẻ chất phác, con người ruộng đồng. ở tù chưa được một năm vì được giảm mấy tháng. Khi ra trở thành con người khác, xăm trổ đầy người, ăn nói rất giọng côn đồ. Trong người lúc nào cũng thủ con dao nhọn.
            Thằng ấy người cùng xã này nhà ở bến Nhãn. Từ khi hắn về lôi kéo bọn tứ chiếng ở đâu thỉnh thoảng tụ họp cả tuần. Có cả hai đứa con gái tóc cắt ngắn như đàn ông, hút thuốc lá ám đen mấy đầu ngón tay. Chúng làm những gì chính quyền biết cả mà không trị được. Đám này thành tinh, ranh ma như cáo. Chúng làm cho nhiều nhà mất ăn mất ngủ. Xưa trâu thả trên nương chỉ lâu lâu người nhà có trâu mới đi xem, không bao giờ mất. Nhưng giờ chúng làm cách nào đưa về xuôi bán mà không ai biết. Có những bè gỗ ngoài sông, qua đêm mất hẳn vài đậy. Biết là những việc ấy chúng làm nhưng không điều tra được. Đụng chạm đến chúng, sẽ bị triệt kinh tế bằng mọi cách. Nương ngô đang trổ cờ, phun râu bị phạt ngang cây, ao cá thả bị ruốc lá, cá chết phơi trắng bụng...
            Chúng trở thành mối lo của nhiều người.
Gã hàng xóm mới về liệu có trở thành người như thế? Gã chẳng từ cái lò của những kẻ vô lại đó mà ra đó sao? Lão nhìn bề ngoài xem chừng gã không có vẻ là loại như thế. Nhưng biết đâu được trong bụng nó thế nào? Nó lại là đứa có học. Người ta bảo rằng bọn lưu manh có học còn nguy hiểm hơn bọn vô học nhiều. Kẻ dốt nát hành động hồ đồ, dễ đối phó. Đứa có đầu óc, không thể xem thường. Tốt nhất là lôi kéo nó làm tay chân của mình. Dù sao hàng xóm láng giềng cũng là phên dậu. Tỏ ra thân thiện với nó cái lợi nhiều hơn là hại. Vợ nó vừa bỏ đi, nếu nó ưng đứa con gái nhỡ nhàng nhà mình thì vun cho nó. Nó sẽ thành cánh tay phải của mình để trị những đứa cứng đầu trong lúc xã hội còn nhiều lộn xộn. Chiến tranh còn dập rình ở ngoài biên giới, an ninh nhiều vùng bị xáo trộn. Lúc này ai có thân thì phải lo thân, Nhà nước còn bận nhiều việc lớn hơn ở bên ngoài.
Chỉ bằng bản năng và kinh nghiệm sống lão cảm nhận được không khí của thời lão đương tồn tại, dự cảm phần nào những gì đang tới. Lão chưa kịp bày tỏ với gã như thế nào thì hôm nay gã vác xác tới. Đỡ cho lão cái thể diện. Nghiêng xuống gã một chút, lão hơi lăn tăn trong lòng.
Gã không ngờ được lão lôi kéo ngồi vào mâm một cách quá nhiệt tình. Đã lâu lắm rồi không ai ân cần với gã như thế. Bởi vì gã chẳng có gì đáng để người khác quan tâm. Trước cử chỉ ấy gã có phần cảm động. Nhưng mà ăn có mời, làm có khiến. Không thể tự nhiện đột ngột ghé vào. Gã từ chối không được. Cuối cùng gã buộc lòng ngồi vào mâm. Ba vị khách chỉ nhìn gã không nói gì. Nhưng gã cảm nhận được cái nhìn của họ, cái nhìn từ trên cao nhìn xuống. Điều này có phần làm gã tự ái, tuy không biểu hiện ra mặt. Gã tới đây không phải vì bữa cơm. Cũng không vì các vị này. Thật khó chịu với cái mặt của thằng cha Hoằng. Kiểu mặt không có nét rõ rệt. Cái gì cũng bầu bầu, bèn bẹt, lờ mờ. ẩn trong cái vẻ bề ngoài đó đôi lúc loé lên nét tự phụ, khôn khéo đến khó tin cậy. Phải như cách đây mấy năm thế nào gã cũng kiếm cớ tẩn cho hắn một trận. Hắn nợ gã một món danh dự, làm cho gã tổn thương mà chưa bị trừng bị phạt. Đây là hạng người có đồng tiền trong tay coi người khác luôn dưới tầm mắt. Có lẽ trong đời hắn chưa có lần nào được một bài học nên chưa biết sợ là thế nào. Người ta không giận cái người ta khinh. Gã nghĩ vậy và chỉ thấy hận hắn đã xúc phạm tới mình. Ngay sau buổi Tâm mang con lên tập thể ở, hắn đã đi lại tự nhiên không hề giấu diếm. Khi nãy thấy gã xuất hiện hắn hơi chút chột da. Không thấy gã có biểu hiện gì hắn làm bộ vô tâm không để ý. Lão Chỉ lại xếp hai người ngồi gần nhau, gã phải cố nén không để lộ tình cảm của mình. Hoằng là kẻ lõi đời, y sợ cuối cuộc rượu không hay nên một lúc sau xin phép có việc bận phải đi ngay. Khác hẳn mọi ngày y đến, có khi còn ngủ lại. Mấy người kia hiểu ý cũng không giữ chân y lại. Tự dung không khí bữa cơm trầm xuống. Gã cũng nâng lên hạ xuống vài lượt chỉ nhấm chút ít chứ không cạn chén, nói Thác là vừa cơm xong, sang bàn ngồi uống nước. Bây giờ gã mới để ý đến số đèn nhà lão Chỉ thắp hơi nhiều. Chưa có điện mà trong nhà ngoài sân chỗ nào cũng sáng. Thắp toàn đèn toạ đăng. Có khi một đêm nhà lão dùng dầu bằng nhà khác dùng cả tháng.
Gã nghĩ ý định của mình chắc thế nào cũng được lão Chỉ chấp nhận, thôi, cũng là may.
ó
ó   ó

Nhổ cày thả cho bè xuôi vào lúc nửa đêm, chỉ sau buổi tiếng thơ trên đài vài tiếng đồng hồ. Không phải là đi giấu đi vụng, mà chủ yếu là vì độ đường. Làm sao để đến tầm quá trưa một chút là bè về đến bến tỉnh. Mảng củi của gã kịp bán cho người mua buôn ngoài thị xã. Lão Chỉ và mấy người nữa cũng dừng lại lên chợ mua thêm đồ ăn, thức uống. Họ còn đi nhiều canh nước nữa, về mãi dưới xuôi. Sơn Tây Việt Trị gì đó, qua rất nhiều trạm. Trạm nào tránh được thì cứ tránh. Nếu bị gọi vào cũng đủ giấy tờ, thủ tục. Hơn nữa toàn chỗ quen cả không đáng ngại. Làm luật với trạm chút tiền làm êm ngay.
Nhà nước lập các trạm kiểm soát trên sông là nhằm để bảo vệ rừng, không cho vận chuyển lâm sản trái phép. Nhưng rừng thì cứ như miếng da lừa bé lại dần dần. Cây rừng không giữ được. Tốn không biết bao nhiêu phương tiện, còn cả tiền lương một số đông cán bộ, nhân viên. Xem ra giữ được rừng lại là chuyện lực bất tòng tâm. Bảo tại người dân thiếu đói phá rừng cũng không hẳn đúng. Nếu không có những người như lão Chỉ hay tên Hoằng hoặc sự quản lý lỏng lẻo ở các trạm ngay từ đầu, thì về sau rừng không cạn kiệt.
Có đi cùng một chuyến với lão, gã mới thấy trong việc làm ăn họ bạo gan như thế nào. Gọi là lâm tặc cũng không có gì là sai. Thế mà trong con mắt người đời họ vẫn là những người đàng hoàng, đính chính. Người tốt, người lương thiện. Vậy mà gã đã làm gì để trong mắt họ mình là thứ công dân hạng hai, nhân cách không được tôn trọng? ý nghĩ ấy chỉ thoáng qua. Gã tặc lưỡi. Có thế nó mới là cuộc đời. Sự trái khoáy ấy cũng chẳng là cái quái gì cả, nhiều điều mơ hồ, khuất tất hàng vạn lần hơn vẫn ngang nhiên tồn tại thì có làm sao? Lề luật giống như nhà văn nào nói: Nó không khác gì mạng nhện. Ruồi muỗi dính vào mất xác, còn bọ hung và cánh cam không sợ. Nó vù một cái đứt bung mà bay đi.
Gã có quan tâm đến cũng không đổi thay được gì. Để lộ ý nghĩ ấy ra chắc chắn lão Chỉ sẽ không ưa. Lão sẽ từ chối ngay việc cho gã đi cùng. Trong hoàn cảnh hiện tại gã quan tâm tới những điều ngoài thân phậm mình thì thật khôi hài. Tốt nhất là không nên nghĩ đến làm gì. Hãy sống đã.
Đêm cuối tháng trăng muộn. Đôi bờ im lìm trong tấm màn sương bàng bạc. Nghe rõ tiếng mái chèo khoát nước. Thanh vắng đến rợn người. Giờ này mọi người mọi vật xung quanh đang chìm trong giấc ngủ, chỉ còn bốn con người trên bè này là đang tỉnh táo, chốc chốc lại vốc nước lên mặt cho đỡ buồn ngủ. Xuôi một quãng nữa là tới vật, thử thách đầu tiên của chuyến đi.
Bốn người trên bè có một thanh niên to khoẻ đen trũi tên gọi là Ba Đẻn. Em cùng bố khác mẹ với Hoằng. Lão Chỉ vẫn cho con gái đi theo để nấu cơm đun nước trên bè. Về đến bến tỉnh gã đỗ lại bán xong củi rồi quay lên. Khi ấy lão sẽ đón thêm hai người thạo sông nước để đi đường dài. Dọc đường họ còn phải lo tránh cầu, phà, ca nô trên sông. Không có sức, không nhanh mắt, nhanh tay thì đừng nói chuyện thả bè. Giỏi nghề thì nhàn như đi chơi. Lóng ngóng mệt như đánh vật. Cố tránh mà cứ chui vào gầm sà lan như bỡn. Lão cũng có ý rủ gã xuôi về dưới bán cho được tiền. Lão hỏi:
- Đằng nào cũng một công khuân vác, bó buộc. Mang về cho bõ cái đấm cái đạp. Bán ở trên này nó trả như bèo không bõ.
Gã thành thực:
- Cháu cũng muốn, nhưng vừa về giấy tờ chưa kịp làm, đi xa không yên tâm.
Hành trình trên sông nước là thứ hành trình lặng lẽ, hạn chế việc phô trương. Nói ít, làm nhiều, đôi mắt và đôi tai phải thính nhạy, chăm chú. Một động tác bơi chèo thiếu chính xác có thể gây tai hoạ. Cái mảng của gã buộc nhùng nhằng ở phía sau nom có vẻ sơ sài nhưng lại rất có ý nghĩa cho việc seo bè. Người ta lái xe trên bộ thì hai bánh trước gắn bó với tay lái, rẽ trái rẽ phải tuỳ thuộc hai bánh này chuyển động như thế nào. Nhưng mũi bè chuyển về phía nào lại do mồng phía sau quyết định. Bởi nó còn có sự tương hợp với dòng nước chảy của sông. Phải dựa vào sức nước mà di chuyển chứ không phải động lực của bè. Đường bộ đối với xe cộ và đường sông đối với bè mảng là hai cách vận động khác hẳn nhau.
Gã và Ba Đẻn cùng ở trên cái mảng của gã. Ba Đẻn cởi trần mặc quần đùi, da đen bóng, bắp thịt nổi cuồn cuộn. Trăng cuối tháng lại về khuya nom y như bức tượng đúc bằng xi măng. Y hút thuốc lá liên tục, miết dầm cái nào ra cái ấy. Nước chỗ cây dầm của y cứ như từ dưới sông đùn lên. Gã lần đầu cầm chiếc dầm có phần lúng túng. Mấy lần bị nước cản gạt dầm khiến gã suýt lộn xuống sông. Gã để ý xem Ba Đẻn làm thế nào rồi làm theo. Thứ nhất phải chọn thế đứng chân cho chắc. Chân trái hơi chùng về phía trước. Chân phải lui rộng về phía sau. Thứ hai tay phải phải nắm chặt, tay trái hơi lỏng. Có thế đầu dầm mới miệt khoẻ, không tốn sức mà vẫn chèo được lâu. Nghề nào cũng có những bí quyết của nó, không thể cứ dùng sức mà được. Gã đã lấy lại tự tin, vỡ vạc được đôi chút trong nghề sông nước. Không khua ùm ùm mà chẳng xi chuyển tý ty như lúc ban đầu. Những bến sông lạ có những bụi tre đen thẳm giống như những cánh buồm to lớn trôi lại phía sau. Phía dưới Hạ Lưu một quầng trăng sáng lấp lánh như đám vảy vàng của con rồng hư ảo. Đám bè xuôi tới đâu quầng sáng xuôi tới đó. Một cuộc đuổi bắt không bao giờ gặp.
Đã nghe tiếng nước cộn ào ào phía trước. Tiếng lão Chỉ không vang nhưng chắc nịch:
- Bỏ vào bờ bên phải!
Bè uốn cong theo hình chữ S rồi trườn qua mép vật. Không đầy bước chân bên này là vật xoáy hum húm. Có những bụi cây to bị nhấn chìm một lúc lại chồi lên. Rồi lại nhấn chìm. Như có ai đó trong trò chơi ma quái với sức lực kỳ dị lôi lên, dìm xuống mọi vật không ngừng trong lòng miệng vực.
Đã qua lại nhiều lần, lão Chỉ thản nhiên như không. Bên cái lều che bằng mấy tàu lá cọ đã thấy ánh lửa loe loé, rồi tiếng rít điếu cày rõ mồn một.
Không ít bè đã sa vào vật Bà này. Một khi bị như vậy có khi bị giam chân ở đây hàng mấy ngày trời. Cho đến khi phải nhờ thuyền cột palăng trên bờ kéo ra. Đấy là bè to, đóng gói chắc chắn. còn mảng nhỏ sẽ bị dòng nước xé vụn ra, giập gẫy không còn hình thù. Người ngồi trên mảng sẽ bị dòng nước nhấn chìm không thấy tăm hơi ít ngày sau người ta sẽ tìm thấy những xác người, quần áo rách tươm, chương phềnh nổi lên ở một khúc sông phía hạ lưu không thể nhận ra hình hài. Một trăm bảy mươi ba thác gềnh từ thượng nguồn về đây còn là một trăm bảy mươi ba hung dữ, rùng rợn. Vật Bà chưa là gì. Nó mới chỉ là thử thách xoàng trên quãng sông này.
Gã nhớ lại một thời người ta nói: " Cải tạo thiên nhiên, bắt sông nhường bước, bắt núi cúi đầu ". Sức mạnh của con người trong nỗ lực cộng đồng là ghê gớm thật. Nhưng nói như trên thật hết sức chủ quan. Con người chỉ có thể tựa theo, hoặc chủ động đối phó chứ làm sao đánh bại được tự nhiên? Là chưa nói đến động đất, núi lửa, sóng thần... Con người liệu làm được gì để ngăn cản nó? Duy ý chí trong những trường hợp nào đó có thể khôi hài.
Đây cũng không phải lần đầu gã nhận ra điều đó. Đã có lần gã chứng kiến sức mạnh huỷ hoại của tự nhiên đối với đời sống con người. Gã còn nhớ trận lũ vào năm Tân Hợi ( 1971 ). Trận lũ mà trong ký ức nhiều người trải qua nó sẽ không bao giờ quên. Ngay cả mức tàn phá của B 52 vào năm sau đó ( 1972 ) cũng chưa là gì. Hậu quả để lại là những năm đói kém kéo dài, đời sống khủng hoảng, bất ổn mãi tới sau này. Biết đâu trong sự đổ vỡ của cuộc đời gã không nhiều thì ít khởi nguồn từ những bi kịch to lớn chung? Những năm chủ nghĩa thực dụng chỉ cao ngang cái ăn cái mặc. Tình yêu, nhân nghĩa, lý tưởng là những cái xa xôi được nhìn một cách méo mó với tâm trạng hoài nghi ngờ vực? Bài thơ của gã có câu: " Khi người ta còn ăn miếng cơm ngô. Người ta chẳng thiết gì âu yếm ". Bài thơ ấy gã chỉ viết chơi, không gửi đi in. Vậy mà bằng cách nào đó tới tay lớp trưởng lớp gã học. Mọi tai ương cũng từ đó nảy mầm.
Đến giờ gã còn nhớ như in cảnh đi mảng trên sông Thao xuôi về hà Nội. Năm đó, một chuyến bất đắc dĩ mà đi. Nước ngập mênh mông, không còn phân biết được đâu là dòng sông, đâu là ruộng đồng. Làn nước chảy xiết uốn cong ngọn những khóm tre gai dập dờn theo làn nước chảy. Những cây cổ thụ tróc gốc trôi băng băng như điên, như dại.
Gã ngồi trên mảng nứa nhỏ cùng hai mẹ con một người bạn của bác họ gã thả xuôi từ ga ấm Thượng về. Không có bơi chèo dầm lái gì cả. Chỉ có hai mảnh khoát to bằng hai bàn tay chụm lại. Mới bơi đựoc một hồi sợi lạt đầu khoát bung ra, những nan nứa gép tuột mỗi nơi một chiếc cuối cùng chỉ còn trơ lại dóng tre dài hơn một gang tay. Mảng vướng vào chỗ nào lại lấy tay đẩy ra. Cứ liên tục một ngày như thế mới băng qua cánh đồng. Khi mảng trôi ra giữa dòng sông thì trời chập tối. Đèn đóm không có, bốn bề tối đen như mực. Thỉnh thoảng sáng loè lên nhìn rõ cảnh vật hãi hùng. Dòng nước bạc sáng loà như dựng ngược lên trời. Cái mảng như chiếc lá nhỏ nhoi trôi giữa dòng sông.
Hai mẹ con bà khách đi cùng chẳng biết bơi chèo gì cả. Họ phải về gấp vì dưới nhà có đám không thể chờ đến khi nước rút. Mà khi nước rút còn phải chờ người ta sửa đường tàu ít cũng cả tuần. Bà mẹ là cán bộ phụ nữ huyện Hạ Hoà. Cô con gái theo mẹ lên học cấp III. Quê họ ở mãi phía dưới thị xã Sơn Tây một chút.
Gã cũng sắp hết hạn nghỉ hè, phải về trường. Lên thăm người nhà được mấy hôm thì lũ ập tới. Không ai ngờ năm ấy nước lại lên to đến thế, lúc đầu gã chủ quan mặc dầu ông bác đã khuyên can hết lời.
Gã bảo:
- Cháu sống từ nhỏ bên sông, bơi lội không kém gì dái cá bác đừng ngại. Mẹ con bà khách nhìn thân thể chắc nịch, nhanh nhẹn của gã với con mắt tin cậy. Tình thế buộc cả ba người không thể nấn ná được. Nước chẳng những không chịu rút mà ngập mỗi ngày một dâng cao. Nước đã ngập hết khu vườn và một khoảng sân trên sườn đồi nhà ông bác. Lợn gà nhao nhác, bối rối trăm bề, ông bác đành lòng để cho ba người đi với một gói cơm nếp to tổ bố và bi đông nước chè thật đặc.
Ngồi trên mảng rồi gã mới cảm thấy hối hận. Lúc đó dù muốn thay đổi ý định cũng không kịp. Thôi thì đã liều ba bảy cũng liều. Tình cảnh của mấy người lúc này chẳng khác những chú kiến bám vào cộng sậy đang băng băng theo dòng nước. Có cảm giác trên thế gian này có bao nhiêu nước thì dồn cả bấy nhiêu về đây. Sức mạnh của muôn nghìn thác thúc cho mặt nước sôi trào ngầu đục. Sông Hồng ngày thường đã mênh mang nước, lúc này càng chẳng biết đâu là bến là bờ. Những con trâu mộng còn sống mà bất lực không bơi thoát dòng nước xiết. Chúng bị cuốn đi như những đụn dạ nát rồi chìm ngỉm. Có một cái mảng nhỏ đóng ghép bằng mấy cây chuối áp sát vào mảng của gã. Bên trên là những gióng tre quây một con lợn còn sống. Chắc là phía thượng lưu người ta làm để chống lũ. Để nước ngập tới đâu mảng dâng tới đo. Lợn không chết chìm. Con lợn đói thóp bụng vì bị bỏ đói nằm dán mình xuống mảng. Gã vớt một đoạn dây buộc mảng chuối vào đuôi mảng của mình.
Rồi như có một phép lạ, cả mấy người với con lợn cũng về tới Sơn Tây, một chiếc thuyền cứu nạn đã kịp đưa họ vào bờ, gã trả công cho người chủ thuyền con lợn nhưng ông ta dứt khoát không nhận. Ôi là cái thời thiếu đói mà sao vẫn còn những con người thừa thãi tình người. Cho đến bây giờ gã chưa quên nét mặt của con người ấy. Dáng khắc khổ, sống mũi cao, con mắt như kẻ chán đời. Thế mới lạ chứ! ở lại chơi nhà mẹ con bà bạn đường một ngày. Bà ta đổi con lợn lấy một chiếc xe đạp cho gã về Hà Nội. Cô con gái còn ghi lại cho gã địa chỉ hẹn khi nào gã lên chơi.
Nhưng rồi những rối ren, khốn nạn của đời gã sau đó đã khiến gã không có điều kiện quay lại đó lần nào nữa. Chỉ là thoáng qua. Một bà mẹ tử tế với cô con gái dễ thương như câu chuyện cổ. Nếu một lần quay lại, biết đâu cuộc đời gã đã khác, không chìm đắm bao nhiều năm trời. Nhiều lúc gã nghĩ như vậy và lấy làm tiếc. Gã thử hình dung ra nếu qua những năm chiến tranh sau đó mà mẹ con cô còn sống thì giờ họ sống như thế nào? Nghe nói vùng đó vào năm sau là trọng điểm đánh phá của máy bay Mỹ, người chết rất nhiều. Họ ở giữa vùng hai bên sông là khu công nghiệp, có sân bay quân sự và kho xăng dự trữ chiến lược...
Gã cứ thả dòng suy tư của mình như thế cho đến khi bè về gần tới trạm. Lão Chỉ ra hiệu cho gã và Ba Đẻn ngừng bơi. Giữ được im ắng là tốt nhất vào lúc này. Mãi chẳng sao, gã lại thấy ngứa ngáy ran trong cổ. Phải cố nén không thể ho hắng vào lúc này. Nếu qua được trạm mà không bị phát hiện sẽ đỡ được khoản tiền. Lão Chỉ nói như thế, mặc dù bè có đủ giấy tờ. Nhưng dù thủ tục đầy đủ tới đâu mà không làm luật cũng khó mà qua được. Gã thì không vấn đề gì. Một mảng củi lồng cồng người ta không bõ thu. Mà có làm luật cũng chỉ vài chục bạc. Nhưng nếu người ta giữ lão Chỉ ở đây thì gã cũng phải chờ. Không thể bỏ lão mà đi được. Có làm thế chăng nữa nào gã biết bờ bến ở đâu. Nơi đỗ chặng dừng, có khi tuốt mãi về xuôi. Hết địa giới tỉnh Xuân Quang về dưới kia khác tỉnh thì củi người ta cũng lấy. Vùng dưới đâu có sẵn củi và rẻ rúng như trên này. Gã thầm mong cho bè trôi nhanh qua khỏi quãng sông có trạm. Gần sáng sương lạnh thế này chắc người trong trạm ngủ say như chết. ác nỗi những nơi có trạm thường là nơi nước đứng. Dòng chảy cứ thúc thẳng vào chỗ nhà bè bên trên lập trạm. Chỉ khẽ động là đèn pha sáng loá cả khúc sông. Có cảm giác như bè đứng im không di chuyển. người ta đã tính toán chán mới lập trạm như thế. Trừ mùa lũ to nước chảy xiết hoạ hoằn mới có mũi bè qua được mà trạm không biết. Mùa này ít khi qua mà trạm không gọi vào.
Chỉ còn cách trạm vài trăm mét trong trạm vẫn im lìm. Đám sương dày như cái chăn bông trắng khổng lồ che phủ chỉ nhìn thấy một quầng vàng đục của cây đèn báo treo trước cửa trạm. Chắc mẩm là chuyến qua trạm êm thấm. Bỗng có tiếng va chạm lách cách của kim khí. Tiếng lên đạn súng hoặc tiếng xích sắt neo thuyền. Đèn pha to không bật nhưng loang loáng ánh đèn bin. Mũi bè đã bị phát hiện. Có tiếng hô dõng dạc:
- Đánh vào kiểm tra! A lô trên bè nghe rõ không? Lão Chỉ lẩm bẩm một câu rất tục rồi lên tiếng.
- Chúng tôi vào ngay đây!
Lố nhố những người trên thuyền, tay cầm đèn pin. Nhưng họ không bơi ra ngay mà chờ mũi bè áp dần vào trạm. Họ chỉ bơi thuyền đuổi theo nếu bè cố tình bỏ chạy. Còn trong trường hợp này họ không vội vàng gì. Điều ấy đã khá quen đối với họ. Những người ban ngày thay nhau ngủ. Còn ban đêm tỉnh táo nhanh như bọ nước.
Hai bố con ông Chỉ ôm một gói lên trạm. Bè tạm thời neo lại bằng sợi xích sắt to tướng của nhà trạm. Cuộc thương lượng diễn ra khá lâu. Khi quay ra chỉ có mình lão Chỉ. Đứa con gái ở đó làm gì nhỉ? gã không dám hỏi. Lão đang bực vì vừa phải tốn kém lại vừa phải để con lại. Lão dặn con:
- Ngày mai có tàu qua đây thì về luôn trên nhà.
Không thấy đứa con gái nói gi. Mãi sau này gã mới hiểu tại sao chuyến bè nào lão cũng cho đứa con gái xinh xắn nhất nhà đi. Còn lúc này đây gã chỉ nghĩ trong lòng: Xuôi bè là nghề dễ kiếm ra đồng tiền. Cũng là nghề không thiếu gian truân, những người trong cuộc phải mất mát rất nhiều. Sức lực, tiền của, có khi cả danh dự phẩm giá của mình.
Bè tháo xích tiếp tục xuôi trên sông vắng. Một vài vì sao thưa thớt nhạt nhẽo run lên lẩy bẩy ở phía chân trời.




Phần nhận xét hiển thị trên trang

So sánh lập trường kinh tế của Clinton và Trump


Nguồn: Michael J. Boskin, “Clintonomics vs. Trumponomics”, Project Syndicate, 02/09/2016, Biên dịch: Nguyễn Hồng Nhung | Biên tập: Lê Hồng Hiệp

Chưa đầy hai tháng trước cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ, Hillary Clinton đang dẫn trước Donald Trump năm điểm trong các cuộc thăm dò ý kiến trên phạm vi toàn quốc và tại một số bang quan trọng hiện còn đang dao động. Nhưng chưa có gì được quyết định cả, đặc biệt trong bối cảnh cuộc cải tổ nhân sự cùng các bài phát biểu chính sách quan trọng trong chiến dịch của ông Trump, đó là chưa kể đến những vụ bê bối email đang tiếp tục làm suy yếu chiến dịch của bà Clinton, bao gồm các trao đổi bằng email được công bố trong thời gian gần đây giữa các nhân viên cấp cao của Quỹ Clinton và các quan chức trong Bộ Ngoại giao thời bà Clinton còn làm ngoại trưởng.

Cho tới nay, các phương tiện truyền thông và công chúng đã tập trung vào vấn đề nhập cư, khủng bố, chính sách đối ngoại, và đặc điểm cá nhân với những rắc rối tiềm tàng của mỗi ứng cử viên, nhưng ít bàn tới chính sách kinh tế. Đây là một sơ suất nghiêm trọng, bởi có sự khác biệt đáng kể giữa các cương lĩnh chính sách kinh tế của hai ứng viên.

Đầu tiên, hãy xem xét vấn đề chi tiêu công. 

Bà Clinton ủng hộ các chi phí phúc lợi như mở rộng các phúc lợi an sinh xã hội (các khoản nợ không có nguồn chi trả của quỹ này đã vượt quá nợ quốc gia), miễn học phí tại các trường đại công lập và giảm nợ vay cho sinh viên, cũng như một “lựa chọn công” được thêm vào Luật Chăm sóc y tế giá phải chăng năm 2010 (2010 Affordable Care Act), còn được gọi là Obamacare. Bà cũng nói rằng bà sẽ ủng hộ chính sách công nghiệp năng lượng xanh tốn kém của Tổng thống Barack Obama, trong đó ưu tiên một số nguồn năng lượng, và thậm chí một số doanh nghiệp cụ thể, với thiệt hại được đẩy sang cho các doanh nghiệp khác.

Trái lại, Trump cho biết ông sẽ giữ nguyên an sinh xã hội như hiện nay, bãi bỏ và thay thế Obamacare, và khiến cho chi tiêu chính phủ hiệu quả hơn (mặc dù ở đây ông đã không đưa ra những chi tiết cụ thể).

Về thuế, bà Clinton nói rằng bà sẽ làm cho hệ thống thuế của Mỹ mang tính lũy tiến hơn, mặc dù nó đã là hệ thống lũy tiến nhất trong số các nền kinh tế phát triển. Cụ thể, bà Clinton đã kêu gọi tăng thuế bất động sản và thuế suất cá nhân đối với những người có thu nhập cao nhất – điều cũng ảnh hưởng đến các doanh nghiệp nhỏ – đồng thời đặt mức giới hạn đối với các khoản khấu trừ chi tiết. Bà hầu như không thể hiện khuynh hướng sẽ giảm các loại thuế doanh nghiệp.

Ông Trump đang đề xuất mức thuế suất thấp hơn đối với cá nhân và các doanh nghiệp Mỹ. Nước Mỹ hiện có mức thuế doanh nghiệp liên bang là 35%, cao nhất trong khối OECD. Trump đang kêu gọi giảm xuống dưới mức trung bình 15%, với các khoản đầu tư kinh doanh trong năm đầu có thể được khấu trừ toàn bộ.

Về thương mại, 

bà Clinton đã bất ngờ phản đối Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), một thỏa thuận thương mại đa quốc gia được đàm phán bởi chính quyền Obama và 11 quốc gia Thái Bình Dương khác. Khác với chồng mình, người đã ủng hộ và ký kết những thỏa thuận thương mại tự do trong suốt nhiệm kỳ tổng thống của ông, bà Clinton đang nhích gần hơn sang phe những người theo chủ nghĩa bảo hộ của Đảng Dân chủ.

Lập trường thương mại của bà Clinton không có gì nhiều để ủng hộ, nhưng của ông Trump thậm chí còn tệ hơn. Trong đó, ông Trump đã đe dọa một cuộc chiến tranh thương mại với Trung Quốc và Mexico, đồng thời nói rằng ông sẽ đàm phán lại những hiệp định thương mại hiện có của Mỹ. Có thể hiểu là bà Clinton và ông Trump đang trao tiếng nói cho những người lao động ở tầng lớp trung lưu và thấp hơn, những người đã bị bỏ lại phía sau bởi toàn cầu hóa. Nhưng phản hồi chính sách tốt nhất là không nên áp dụng chủ nghĩa bảo hộ (điều sẽ khiến cho cuộc sống của nhiều người còn trở nên tồi tệ hơn), mà nên hỗ trợ tốt hơn cho những người lao động bị mất việc làm.

Cuối cùng, bà Clinton và ông Trump khác nhau trên phương diện thâm hụt ngân sách và nợ quốc gia. 

Việc mở rộng an sinh xã hội và các chi tiêu khác cùng những kế hoạch của bà Clinton nhằm duy trì lâu dài hệ thống chăm sóc sức khỏe Obamacare mà không kiềm chế các chi phí phúc lợi trong tương lai – vốn được dự đoán sẽ tăng vọt, cho thấy những khoản thâm hụt lớn sẽ tiếp tục tăng lên trong suốt nhiệm kỳ tổng thống của bà. Điều này khác quá xa với những điều chồng bà đã làm: ông Bill Clinton đã làm việc với một Quốc hội do đảng Cộng hòa kiểm soát để cân bằng ngân sách trong những năm cuối cùng nhiệm kỳ tổng thống của mình.

Trump mới đây đã giảm bớt chi phí ngân sách trong đề xuất cắt giảm thuế của mình để đem chúng đến gần hơn với các mục tiêu của các nghị sĩ đảng Cộng hòa. Kể cả khi thu ngân sách có gia tăng nhờ tăng trưởng kinh tế, thì ông vẫn sẽ cần cân bằng lại những khoản cắt giảm thuế của mình bằng cách kiểm soát chi tiêu, đặc biệt là về các phúc lợi. Nếu không, một nhiệm kỳ tổng thống của Trump cũng có thể có những vấn đề nghiêm trọng về nợ.

Một đề xuất mà cả hai ứng cử viên đều đồng ý là chi tiêu mạnh tay cho cơ sở hạ tầng. Thật không may, trong khi phần nào điều này là hợp lý đối với chính phủ liên bang, không ứng cử viên nào đảm bảo được rằng tiền sẽ không bị chi tiêu sai lệch thông qua chính trị hóa hay chủ nghĩa thân hữu. Nước Mỹ không cần lặp lại những việc làm vô ích nhằm kích thích chi tiêu thông qua xây dựng cơ sở hạ tầng dưới thời chính quyền Obama.

Về tổng thể, bà Clinton sẽ ưu tiên phân phối lại thu nhập hơn so với tăng trưởng kinh tế, trong khi ông Trump ưu tiên hơn cho tăng trưởng. Tăng trưởng của nước Mỹ là mối quan tâm toàn cầu vì nó thúc đẩy tăng trưởng ở mọi nơi khác thông qua nhu cầu của người tiêu dùng và thương mại với Mỹ. Nhưng hai nguồn chính của tăng trưởng, tăng năng suất và đầu vào lao động (chẳng hạn như tổng số giờ công lao động), đều đã giảm đi đáng kể trong những năm gần đây. Nền kinh tế Mỹ đã tăng trưởng với tốc độ trung bình hàng năm là 3% trong những thập kỷ sau Thế chiến II, nhưng nó thậm chí đã không đạt được ba quý nào liên tiếp tăng trưởng ở mức 3% trong suốt thập niên qua.

Có những lý giải khác nhau cho việc tăng trưởng năng suất chậm. Nhà kinh tế Robert Gordon thuộc Đại học Northwestern chỉ ra rằng đổi mới công nghệ hiện nay góp phần nhỏ hơn vào tăng trưởng kinh tế so với những đột phá (về công nghệ) trước đây như điện, đầu máy xe lửa, hàng không, và điện toán. Nhà kinh tế Lawrence Summers thuộc Đại học Harvard đã nhắc tới “tình trạng trì trệ trường kỳ” (secular stagnation), một thuật ngữ được nhà kinh tế Alvin Hansen đưa ra vào những năm 1930 để mô tả tình trạng nhu cầu ảm đạm và thiếu cơ hội đầu tư có lợi nhuận dài hạn. Quan điểm riêng của tôi là chính sách kinh tế yếu kém đã không khuyến khích được đầu tư, kinh doanh và làm việc.

Các cuộc thăm dò ý kiến cho thấy rằng các cử tri còn đang do dự không tin tưởng sâu sắc vào cả hai ứng cử viên. Để được bầu và thực sự có quyền đưa ra chương trình nghị sự của mình, bà Clinton sẽ cần phải minh bạch và trung thực hơn về những sai lầm trong quá khứ. Đồng thời về chính sách kinh tế, bà nên trung dung hơn, hướng tới các biện pháp tập trung vào tăng trưởng, đồng thời nên xa rời lập trường thiên tả mà bà áp dụng trong chiến dịch tranh cử sơ bộ chống lại Thượng nghị sĩ bang Vermont Bernie Sanders. 

Ông Trump, về phần mình, sẽ cần phải thể hiện một chút khiêm tốn và sự bao dung, và cởi mở hơn với lời khuyên từ những người khác trong những vấn đề mà ông thiếu kinh nghiệm.

Trong khi Đảng Cộng hòa đang ở trong một cuộc chiến căng thẳng với Đảng Dân chủ để tiếp tục giữ quyền kiểm soát Thượng Viện, họ có thể vẫn sẽ duy trì được đa số trong Hạ viện. Kết quả là, trên nhiều vấn đề chính sách, mọi con mắt sẽ đổ dồn vào Chủ tịch Hạ viện Paul Ryan, người có khả năng sẽ đóng vai trò là một đối trọng, và đôi khi là đối tác, của bà Clinton, hoặc là một cố vấn và một đối tác thường xuyên hơn của ông Trump.

Michael J. Boskin, giáo sư kinh tế học của đại học Stanford, là thành viên cấp cao của Viện Hoover. Ông cũng là chủ tịch hội đồng cố vấn kinh tế của George H. W. Bush từ năm 1989 đến năm 1993 và đứng đầu Uỷ ban Boskin – một bộ phận tham mưu của Quốc hội giúp chỉ ra các sai sót trong dự báo lạm phát chính thức ở Mỹ. 
Copyright: Project Syndicate 2016 – Clintonomics vs. Trumponomics- http://nghiencuuquocte.org/2016/09/20/sanh-lap-truong-kinh-te-cua-clinton-va-trump/#sthash.Ywdsxxyx.dpuf
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đáng tiếc cho báo chí Việt một cơ hội câu view tuyệt vời. Tuy cơ hội cho báo chí vẫn còn đó, nhưng chắc phải sau khi cô ta hết hạn nghỉ đẻ!

Vụ Bí thư tỉnh Thanh Hóa, tên cô Trần Quỳnh Anh là có thật
LS Trần Vũ Hải: Cô trưởng phòng ở Sở Xây dựng tỉnh Thanh tên Trần Quỳnh Anh, hoá ra là có thật. Tên đầy đủ của cô là Trần Vũ Quỳnh Anh, ngoài chức trưởng phòng, còn là Phó bí thư Đoàn thanh niên Sở xây dựng tỉnh.

Báo chí Việt đã lỡ một vụ đình đám có thể câu view? Chuyện cổ tích: được chọn làm hạt giống đỏ vì "trí tuệ" không phải từ "tiền tệ, quan hệ hay hậu duệ"?

Vụ bí thư tỉnh Thanh bị tố có bồ nhí có vẻ bị chìm xuống. Chính quyền tỉnh Thanh khẳng định tin tức từ mạng xã hội là vu khống bịa đặt cho cán bộ tỉnh, nhưng không đưa ra chi tiết nào có thể dân chúng tin rằng là vu khống, bịa đặt.

Riêng về cô trưởng phòng ở Sở Xây dựng tỉnh Thanh tên Trần Quỳnh Anh, hoá ra là có thật. Tên đầy đủ của cô là Trần Vũ Quỳnh Anh, ngoài chức trưởng phòng, còn là Phó bí thư Đoàn thanh niên Sở xây dựng tỉnh. Theo thông tin từ tỉnh Thanh, cô đang nghỉ đẻ.

Lẽ ra báo chí sẽ có cơ hội tìm hiểu cô trưởng phòng này có phải xuất thân từ "tạp vụ" không, và nay là thạc sỹ, học lý luận chính trị cao cấp để quy hoạch lãnh đạo Sở Xây Dựng khi mới 30 tuổi? Nếu đúng vậy, cô ta là một gương sáng, đi lên từ "lao động chân tay và trí tuệ" không phải nhờ "tiền tệ, quan hệ hay hậu duệ", có khả năng thành lãnh đạo địa phương, thậm chí có thể lên trung ương!

Ngoài ra tài sản của cô nếu đúng khủng như tin đồn, càng chứng minh cô là một người phụ nữ giỏi. Thực ra cô có thể kiếm tiền nhiều bằng chính năng lực của mình, mà không dựa dẫm nhiều vào người khác hay chức vụ của mình. Ví dụ cô chơi chứng khoán giỏi, từ 100 triệu đồng ban đầu cô kiếm 10 tỷ đồng, rồi buôn bán môi giới nhà đất cho các sếp có nhu cầu, nay kiếm được mấy bất động sản giá trị và siêu xe, chuyện vẫn thường thấy ở nhiều phụ nữ giỏi, năng động. Nếu những kinh nghiệm làm giàu của cô được tiết lộ, các em nữ lẫn cánh mày râu phải "thần tượng" cô lắm!

Lẽ ra một câu chuyện như cổ tích về người phụ nữ trẻ đẹp, đi lên bằng sự "chăm chỉ và thông minh" từ vị trí "tạp vụ" thành người cán bộ giỏi, giàu và nhiều tiềm năng như Trần Vũ Quỳnh Anh sẽ thu hút bạn đọc hơn rất nhiều so với câu chuyện của hoa hậu Phương Nga và lại đúng chủ trương nêu gương "người tốt, việc tốt" của Đảng ta.

Đáng tiếc cho báo chí Việt một cơ hội câu view tuyệt vời. Tuy cơ hội cho báo chí vẫn còn đó, nhưng chắc phải sau khi cô ta hết hạn nghỉ đẻ!

FB Trần Vũ Hải


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thăm thẳm đường về ( 2 )

 Kết quả hình ảnh cho Hình ảnh người đi xa về?
2.
 
            "R
ốt cuộc gã cũng về. Gã về sau bảy năm biền biệt xa nhà. Nói đúng hơn là năm năm trước gã cũng qua nhà với thời gian thật là ngắn ngủi. Thời gian chỉ chưa đầy một tiếng đồng hồ rồi vội vã đi ngay. Lúc đó trời khuya lắm rồi. Ngoài trời sáng trăng suông, bốn bề im lìm như chỗ không người. Gã dúi vội vào tay mẹ gã một món tiền nhỏ, đứng một lúc lâu bên giường đứa con gái chưa đầy năm tuổi rồi đi. Bóng gã chìm vào đêm rồi mà mẹ gã chưa hiểu đang xảy ra chuyện gì..." Sau này nghe kể lại thị biết đó là sau lần gã trốn trại ra ngoài. Gã ở chỗ thị một thời gian. Thị đã sắm sửa cho gã về thăm nhà. Lần ấy cũng là lần duy nhất gã về thăm nhà cho đến bây giờ. Suốt thời gian đó gã đi những đâu? Làm những việc gì thị vẫn chưa kịp hỏi. Kể cả việc gã bị bắt lại như thế nào. Mỗi lần đến thăm thời gian được gặp rất ngắn ngủi. Mà những chuỵên như thế theo nội quy lại không được nói đến. Luôn luôn có cán bộ trại giám sát cuộc gặp mặt. Nếu vi phạm rất có thể lần sau gã sẽ không được phép gặp người nhà. Thành ra con người gã thị chỉ nghe qua những người thân trong gia đình. Mà kể thì mỗi người một phách. Mười bảy tuổi gã đã thoát lý gia đình. Có ai gần gũi gã đâu mà hiểu chân tơ kẽ tóc? Ngay gã với thị cũng chỉ gặp gỡ ít ngày rồi gã đi biền biệt, sở dĩ thị tìm thấy gia đình gã rồi theo gia đình gã lên đây là nhờ địa chỉ gã để lại. Chỉ riêng việc ấy thị cho rằng gã không phải là người bội bạc. Nếu gian dối gã sẽ không nói địa chỉ thực của mình. Dù khờ đến đâu gã cũng thừa biết đằng sau lưng gã người ta đang truy đuổi, người ta sẽ tìm đến kỳ cùng tới khi nào bắt được gã lại. Đó là nguyên tắc của trại giam. Tội trốn trại được coi là tội nặng chỉ sau tôi giết người. Lần ấy nếu không trốn trại gã đã được về lâu rồi, không phải tới hôm nay gã mới được tự do.


            Người bạn tù ở với gã ra gặp người nhà về báo với gã một tin không vui. Mẹ gã đang ốm nặng trong lúc bà đang nuôi đứa cháu nhỏ. Mẹ nó thì không đoái hoài gì đến, cô ta đã lấy chồng và chuyển đi nơi khác. Không cầm được lòng, gã đã tìm cách trốn ra ngoài. Dọc đường về xuôi tình cờ gã tới gia đình thị. Đó là tất cả những gì thị biết về gã, qua lời gã kể. Chính xác độ bao nhiêu phần trăm thì thị cũng không rõ. Nhưng thị tin có một phần sự thật.
            Bây giờ gã trở về, đáng lý ra thị phải vui mừng mới phải. Sau những năm tháng đợi chờ, giờ là lúc xum vầy. Nhưng không, thị lại cảm thấy bối rối và lo sợ. Liệu thị có được gã thông cảm như mình đã cảm thông với gã không? Liệu gã có chấp nhận cuộc hôn nhân mà thị là người chủ động? Rồi những ngày tháng mẹ con bà cháu sống ở đất này? gã sẽ bỏ qua mọi chuyện? Khi tàu vào bến, tự nhiên hai chân thị cứ ríu lại. Gã bước lên bờ, đầu không mũ nón, một bên cánh tay băng vải trắng. Thị chào hỏi, gã chỉ khẽ gật đầu. Cử chỉ đó làm cho thị hoang mang. Gã bảo thị cứ đạp xe đi trước, gã đi cùng hai bố con ông Chỉ Đen cho vui. Thị thấycó cái nhìn khang khác trong mắt gã. Nhất là khi gã đi cùng chuyến tàu với lão hàng xóm mà thị không ưa. Biết đâu lão chả thêu dệt những chuyện không hay? Một lão già đổ đốn. Trẻ không tha già không buông. Bát rượu vào rồi là chòng ghẹo không từ ai. Người lão chắc nịch mà bà vợ gầy như cái mõ mương. Cứ thấy đàn bà con gái là mắt lão sáng lên. Một buổi  tối sáng trăng thị ra sông tắm lão mò tới. Lão rút trong bọc ra miếng vải mới rúi vào tay thị, định giờ trò. Nếu thị có ham muốn thì là ham muốn với người khác kia chứ phải đâu với lão? Một lão già lỗ mãng vô học lại hôi nách sặc sụa? Bữa ấy thị đã làm cho lão bẽ mặt. Cả xóm xúm lại xem. Lão lủi thủi chạy vào đám ngô. Vợ con lão phải xin mãi thị mới cho qua, nếu không người ta lập biên bản, và chuyện gì xảy ra tiếp theo không ai lường trước được. Sau lần ấy lão tránh mặt một thời gian và có ý thù. Một thân một mình ở nơi quê người xứ lạ thị cũng không muốn căng thẳng với lão làm gì. Gặp lão thị vẫn chào hỏi nhưng hai bên trong bụng không bằng lòng. Thế nào chuyện thị quan hệ với mấy tay đi bè gần đây lão cũng nói cho gã biết. Nếu như không nói lúc này thì sẽ nói vào khi khác. Lấp ao lấp giếng ai lấp được miệng thế gian? Kể như lão không hở ra rồi cũng có người nói cho gã biết.
            Đấy là lý do khiến thị bối rối, lo sợ khi gã trở về. Có thể hoàn cảnh trước mắt sẽ buộc gã chấp nhận tất cả. Khi sa cơ thất thế mấy ai còn đòi hỏi nọ kia? Nếu gã tỏ ra biết điều thị sẽ an phận. Còn không thì thôi. Gã có gì để thị phải nuối tiếc? Ngoài hai bàn tay trắng, gã đâu có gì để mình ham muốn? Nếu mình không lỡ làng, chưa chắc mình đã đợi gã từng ấy năm trời. Phải mất rất nhiều công sức mình mới chuyển được về dạy học ở nơi khỉ ho cò gáy này. Nếu gã phụ công, mình sẵn sàng chia tay với gã mà lòng không ân hận. Nhưng dù sao gã cũng chưa nói gì. Mình vẫn phải chuẩn bị cuộc đón tiếp vui vẻ. Mọi việc sau này muốn ra sao thì ra... Tuỳ thuộc ở gã. Nghĩ trong bụng như vậy, thị lên xe, đạp thẳng về để lại gã vẫn đang chuyện trò với Lão hàng xóm phía sau. Con đường men theo bờ sông. Hai bên tre nứa, lau lách um tùm. Mấy con trâu bê bết đất bùn đứng giữa đường ngơ ngác nhìn họ một hồi, rồi bất thần phóng rào rào lên đồi đan đầy dây mắc húm: Một loài cây thân mềm nhưng chi chít gai nhọn sắc.
            Rồi gã sẽ quen với quang cảnh này. Nhưng trước mắt gã tỏ ra thất vọng, mình sẽ sống sao đây ở nơi thiếu cả bóng dáng con người? Nói gì đến tiện nghi của cuộc sống văn minh? Một gã trí thức nửa mùa như mình liệu có thể tồn tại được ở đây không? Cuộc sống có còn mảy may ý nghĩa gì? Nỗi ân hận lại trào lên miệng gã đắng ngắt. Tuổi trẻ nông nổi gã đã làm mất đi bao nhiêu thứ quý giá của đời người. Trước đây gã không thể nào ngờ cuộc sống của mình lại như thế này. Quá khứ đau buồn, hiện tại ê chề, còn tương lai thì mờ mịt, giống như câu thơ mà một gã chán đời nào đó ngâm vào lúc nửa đêm văng vẳng ở phòng giam riêng.
            Lão hàng xóm không để ý đến hoặc không biết tâm trạng lúc này của gã. Với lão vùng đất này là thiên đường so với ở dưới quê. Đất đai bạt ngàn, lại toàn đất tốt. Những khi giáp hạt hoặc cần tiêu món gì là vác dao vào rừng. Chỉ vài buổi là có mảng nứa tươi, dăm chục bó củi mang về xuôi có tiền ngay. Cuộc sống cổ cày vai bừa thì cần gì hơn nữa? Cứ chịu khó bới đất lật cỏ, khoẻ lo gì không có cái ăn? Người ta bảo dân lấy ăn làm trời, và lão, lão cũng có khoảng trời riêng của lão. Cả đời lão không mò tới quyển sách, sờ đến tờ báo mà có sao đâu? Khối anh chữ nghĩa hàng bồ mà vợ con đói lên đói xuống. Lão giáo Ngọ cùng trà với lão quanh năm quần là áo lượt, đầu chải rẽ ngôi. Nhưng đó chỉ là cái vẻ bề ngoài. Mỗi lần lão về quê, đến nhà lão giáo chơi, lại thấy vợ ông giáo len lén đi lối sau nhà sang hàng xóm vay gạo. Bữa cơm khách mà chỉ có mỗi đĩa trứng pha quá nửa bột mì đen rán lên. Ăn cứ như thể bánh đúc ngô! Lão lấy làm mừng vì mình đã tìm đường lên đây. Nếu tiếp tục ở quê với đàn con đông với người vợ chậm chạp chẳng biết cuộc sống sẽ ra sao. Đúng là trong cái rủi có cái may. Hết đợt học tập cải tạo tại chỗ, ông anh trai rủ lão lên rừng. Bỏ quê hương bản quán lúc ấy lão cũng buồn. Nhưng cuộc sống dễ chịu làm lão quên dần. Hễ gặp người làng ở dưới xuôi lên là lão rất mừng. Cứ y như gặp người nhà vậy. Có người đi làm thuê làm mướn ở lại chơi vài hôm. Cũng có anh đóng bè ở cả tháng. Nhà lão giống như trạm tiếp đón ở bến này. Sự giao lưu ấy lão có một chút tốn kém, đổi lại cái lợi nhiều hơn, lão mua được những món ở đây chẳng ai mua được, hoặc chỉ mua rẻ. Bán được những thứ ấy ở đây chẳng ai mua, hoặc chỉ mua rẻ với giá cao hơn. Một người mới gặp luôn hứa hẹn những điều tốt lành. Vì thế gặp ai lão cũng niềm nở đón bằng được về nhà.
            Nhưng với gã mà lão gặp hôm qua lại hơi khác. Buổi chiều qua tình cờ gặp gã ở cửa hàng ăn lão cũng không để ý lắm. ở những nơi như thế không nên tỏ ra vồn vã với bất cứ người nào. Kể cả những người quen lâu ngày không gặp. Ai biết họ làm những gì khoảng thời gian mà mình không hay? Nhưng buổi tối hai bố con nghỉ lại nhà quen lão đã nhớ lại tất cả. Khi còn ở quê lúc lão còn là đối tượng phải kiểm thảo thì mẹ thằng này đang là cán bộ chủ chốt ở địa phương. Phong trào phụ nữ ba đảm đang lên như diều gặp gió. Nam giới chỉ còn lác đác vài ba người, chính quyền xã chủ yếu cán bộ là nữ. Mẹ gã rất nguyên tắc, động một tý là xử lý hành chính ngay. Một lần lão bán giấu con lợn của nhà nuôi không báo cáo chính quyền mụ gọi lão lên xã hỏi căn vặn mãi. Suýt nữa lão còn bị tống vào lò thúc mầm vì tội cãi bãi bây. ấy rồi quả đất tròn, lớ xớ thế nào bà ta lại lên chỗ lão khai hoang. Lão đang thắng thế, ở nơi xứ mù thằng chột làm vua. Chữ nghĩa lão chỉ vọc vạch mà người ta vẫn cử lão làm đội trưởng sản xuất. Hợp tác xã trồng rừng chỉ tập hợp được vài năm. Về sau chỉ còn trên danh nghĩa. Nó tồn tại chỉ cốt để dễ thu thuế. Còn mùa vụ của ai có đất người ấy làm. Công việc của anh đội trưởng không phức tạp lắm. Nó giống như việc của anh trưởng thôn bây giờ. Nhưng nó quan trọng và rất hách. Hộ khẩu, hộ tịch sát nhất là anh trưởng thôn. Quyền sinh quyền sát nhiều cái cũng từ đó mà ra.
            Khi mẹ gã lên phải nói mãi lão mới đồng ý cho bà nhập khẩu. Lão chỉ nhận năm lít rượu mang ở dưới quê lên, còn mấy trăm bà đưa, lão trả lại. Thời ấy thì chưa nhũng lạm như sau này. Lão xử sự như vậy cũng là lẽ tự nhiên. Có lần bà cũng nói qua với lão về đứa con trai mình. Một kẻ được ăn học hẳn hoi, ra Hà Nội từ năm mười bảy tuổi. Không biết nó theo đòi bạn bè ngông ngạo thế nào. Dính vào chữ nghĩa bỏ cả công ăn việc làm ở cơ quan. Điều mà cùng lứa tuổi nhiều đứa còn mơ không được. Cuối cùng dính dáng vào một án mạng ở quê. Vụ án không thành, người ta đưa nó đi tập trung cải tạo. Lão cứ hình dung nó là thằng có tướng mạo dữ tợn, cao lớn, xăm trổ đầy mình. Lão không ngờ gã nhỏ nhắn, nói năng dè dặt như anh giáo làng. Một kiểu người từ trước tới giờ lão ít tiếp xúc. Khi xưa lão giúp mẹ gã nhập khẩu ở xã này cũng là một cách trả ơn. Dù sao thì bà đã không khó dễ khi lão chuyển thủ tục giấy tờ từ dưới quê lên đây. Khi ấy việc quản lý hộ khẩu hộ tịch khắt khe lắm.
            Còn với gã mọi việc lại khác. Lão nhớ lại câu chuyện buổi tối hôm nào ở ngoài bến sông với vợ gã. Cái bọn vào tù ra tội không phải bọn vừa. Ân oán giang hồ là cái chúng hay giở ra, con vợ gã thế nào chẳng nói với chồng? Lạ nỗi là gã về, gặp vợ mà hờ hững như người dưng. Thật là một thằng khó hiểu. Mọi chuyện về thằng này cứ mờ mờ mịt mịt không rõ làm sao. Lão thấy tốt hơn hết là cứ tỏ vẻ thân thiện với gã. Cẩn thận là một đức tính không bao giờ thừa. Còn mọi việc biết đến đâu, xâu đến đấy. Tà tà hẵng hay... Sáng nay gặp một cô gái đèo xe đưa gã ra bến tàu. Lão đã thấy lạ. Định đến lúc ngồi trên tầu lão sẽ hỏi xem quan hệ thế nào, rồi lại thôi. Mình là người lớn hỏi những chuyện ấy e là không thích hợp. Lúc gã gặp vợ ở bến tàu lão nghĩ rằng giữa hai người đang có chuyện. Nhưng bảo rằng có liên hệ với cuộc gặp gỡ kia chắc không phải. Gã mới vừa ra ngoài mới một ngày làm gì có chuyện nhanh chóng đến thế được? Còn gã lúc này nét mặt đăm chiêu. Gã có cái nhìn chăm chú đến mọi vật hai bên đường như để ghi nhớ. Xuống khỏi đoạn dốc này là tới nhà lão. Từ nhà lão nhìn qua vạt ngô non có thể nhìn thấy mái nhà lợp tranh của gã dưới lùm cây um tùm. Ngồi nhà ẩn khuất như thể chủ nhân của nó muốn xa lánh mọi việc của thế gian. Lão mời bằng được kẻ vừa nhập cư vào nhà mình. Đó là ngôi nhà ngói năm gian, cửa bức bàn. Ngôi nhà thật oai vệ giữa những tranh tre, nứa lá trong vùng. Ngói lợp là ngói bầu sao chở theo đường thuỷ từ dưới xuôi lên. Lão rất hãnh diện về tầm vóc của ngôi nhà. Khách mời đến bao giờ lão cũng dẫn vòng quanh nhà để khoe những cây cột bằng gỗ nghiến hoặc đinh thối, vẩy ốc. Nhà lợp ngói trong vùng cũng có dăm cái. Phần lớn lợp bằng ngói gia công. Tức là thứ ngói thợ dưới xuôi lên đóng và đốt ngay tại chỗ. Không được nung bằng lò bầu nên chất lượng rất kém. Trông rõ nào ra viên đấy, nhưng rờ tay vào thì bở như đất. Ngôi nhà nằm chênh chếch trên chân đồi ngoảnh mặt ra sông. Nom thì thoáng, có phần đẹp cảnh quan. Nhưng để ý kỹ lại không được hướng. Nó nhằm chính hướng tây bắc mà người coi trọng phong thuỷ rất kỵ. Nhưng muốn xoay hướng khác cũng không được. Không lẽ úp mặt vào gò cao. Quay lưng ra sông? Lão bảo: " Địa lý không bằng địa ý. Miễn trông được thì thôi " Vài chục năm sau nữa khi lão đã qua đời, gia cảnh nhà lão xa sút không ngờ. Nhưng đó là chuỵên sau này, còn bây giờ hiện diện trước mắt là con người phong lưu, dáng vẻ tự tin của một thương lái. Tóc lão vuốt ngược qua đỉnh đầu, khuôn mặt rắn rỏi, cằm hơi bạnh. Thêm vào cặp mắt linh hoạt, sống mũi cao hơi gồ. Cái áo mầu trứng sáo cổ bẻ, may ba túi nổi bật trên khuôn viên vườn nhà xanh mượt, tạo vẻ viên mãn có phần tự phụ. Gã nhớ lại buổi tối hôm nào khi còn ở dưới quê, cũng con người này trong cái áo tơi tả mang theo quả mít. Thật khó tin trước những đổi thay của một phận người. Không. Gã không cảm thấy ghen tỵ với lão. Nó chỉ gợi lên một ý nghĩ thoáng qua, gã cảm nhận như một lời an ủi. Đường đời không có con đường nào cụt. Mỗi một khúc quanh sẽ là một lối rẽ. Phải nhẫn nại đừng vội nản lòng.



Gã nhận ra cái dáng đã hơi còng của mẹ, đứng bên cạnh là vợ gã và đứa con gái. Thị đang lúi húi nấu gì trong bếp thằng con trai đang túm sau lưng áo mẹ. Trong nhà đang có ba bốn người đang ngồi uống nước. Ngôi nhà vốn là cái bếp cũ nên trần và vách mồ hóng đen kịt. Ngoài trời sáng mà trong nhà tối nhờ nhờ. Có lẽ là do cái mái gianh quá thấp mà cửa ra vào lại hẹp, có độc nhất cái cửa sổ lại bị che bằng mảnh phên nứa. Ngôi nhà với chừng ấy con người quả là chật chội. Nó chỉ có hai gian, mỗi gian chưa đầy ba mét. Thêm một cái chái vảy giả gian làm buồng. Gã hỏi mẹ, dắt đứa con gái nhỏ vào nhà. Con bé được bà báo trước vẫn không khỏi e dè sợ sệt. Bố nó vắng nhà từ ngày nó còn quá nhỏ không nhớ mặt cha. Suốt chừng ấy năm nó ở nhà với bà. Ngay cả mẹ đẻ ra nó cũng ít gặp. Nó gặp mẹ nó lần cuối hơn hai năm rồi không gặp nữa. Gã  thấy con bé có ngấn nước mắt, lòng dạ gã nao nao. Gã khổ ải thì đã đành rồi. Gã còn làm cho bao nhiêu người thân trong gia đình khổ theo. Cảm giác ứ nghẹn khiến gã không cất nổi nụ cười chào những người khách vừa mới đến. Gã chỉ nói nho nhỏ:
- Chào các ông, các bác. Tôi vừa mới về đến. Mời mọi người uống nước…
Ông già cậu ruột gã thì gã biết. Gã nhận ra ngay mái đầu và chòm râu bạc của ông. Sau vụ bê bối ngày vùng gã sát nhập vào thành phố Hà Nội ông gầy đi trông thấy. Thành phố mở rộng, vùng gã trở thành ngoại thành. Nhưng suốt từ chân núi Tản Viên dọc theo bờ sông Đà trở xuống thay đổi chưa thấy đâu. Nhưng tai vạ ập xuống gia đình gã. Mà khởi đầu từ ông già gã gọi bằng cậu này. Ông là người cởi mở, ham vui, thích giúp người. Đức tính ấy nếu ông làm công việc khác thì rất tốt. Người hay cả nể mà lại làm công tác quản lý tiền bạc thì lại là chuyện không hay. Nhiều năm liền ông làm chủ nhiệm hợp tác xã tín dụng. Khi người ta cải tạo đê sông Hồng với nguồn ngân sách lớn, hợp tác xã của ông lại được chọn làm nơi mở tài khoản phục vụ cho công trường. Ngoài nhiệt tình với công việc, ông không có nghiệp vụ ngân hàng. Tiền thu vào phát ra chủ yếu ở cô kế toán và ông thủ quỹ. Bằng cách nào đó họ đã lũng đoạn quỹ ông không kiểm soát được. Họ xây những ngôi nhà to vật vã trong vùng. Khi chưa sát nhập vào thành phố trên huyện về họ cũng có kiểm kê. Những người trong ban quản lý tìm cách thu xếp với cấp trên nên nhiều lần không xảy ra việc gì. Mỗi lần họ về ăn uống tiệc tùng và một chút quà. Cô kế toán xinh đẹp chồng đi bộ đội lại rất khéo léo và gợi cảm. Mọi chuyện  không có gì xảy ra. Nhưng số tiền thâm thủng mỗi ngày một lớn. Đan lát bằng sổ sách chứng từ, càng đan càng lỗi. Dốt nát mà lại tham lam, nguy cơ càng lớn. Đến khi ban thanh tra thành phố về, mọi chuyện vỡ lở. Người trên phủi tay, người dưới chối trách nhiệm. Bao nhiêu tội lỗi trút lên đầu ông. Số tiền bốn mươi ngàn đồng ông phải hoàn trả ngân hàng. Vào thời giá 1978 là số tiền không nhỏ. Một chỉ vàng bán đắt mới được ba mươi đồng. Một cây vàng mới ba trăm đồng. Ông thủ quỹ sợ trách nhiệm nửa đêm treo cổ tự tử. Cô kế toán nhờ có chồng đi bộ đội hy sinh trước ngày giải phóng tạm thời người ta chưa xử lý. Ông sẽ phải ra toà nếu người ta không xét đến gia đình ông là gia đình chính sách. Các cụ thân sinh ra ông là cơ sở kháng chiến. Ông có một người anh và một người em là liệt sĩ. Bản thân ông lại là thương binh chống Pháp. Chiến dịch Điện Biên Phủ ông được tặng thưởng huy chương. Tất cả những cái đó vẫn là chưa đủ. Nếu từ trước đến nay bản chất con người ông không phải là con người ngay thẳng. Rất ít người nghĩ ông tham nhũng số tiền lớn đến như vậy. Người ta chỉ cho là ông kém năng lực và quá tin người. Tình ngay, lý gian. Tiền của Nhà nước không phải bằng lá mít, nếu ông không hoàn trả sẽ không tránh khỏi ngồi tù. Mọi chuyện xảy ra sau ngày gã bị bắt. Mẹ gã và ông cậu đã bán vườn tược nhà cửa của hai nhà để lo số tiền đó và lên đây. Hoạ vô đơn chí, năm đó cũng là năm đứa em ở đơn vị hậu cần đánh đổ cả một xe chở téc xăng. Mẹ gã còn phải vạy mượn thêm để bồi thường cho quân đội. Khi mấy chị em, bà cháu lên Xuân Quang, hơn chục con người sống nhờ đất rừng. Nhà ông cậu vợ chồng con cái cả thảy chín người, trong đó có một cụ già gần tuổi chín mươi. Sống nhờ những quả ngô người ta thu bỏ sót trên nương, những củ sắn trồi còn sót lại và đám rau rừng. Tất cả những chuyện đó mẹ gã chỉ nói cho gã biết chừng nào. Gần đây khi biết gã sắp được tha bà mới nói hết. Nhưng mọi chuyện đã đoạn rồi. Dù có biết hay không gã còn có thể làm gì khác? Không biết có ai báo cho ông không mà giờ ông cậu đã ngồi đây? Nét mặt mệt mỏi, ngại ngần. Mấy người kia một người là cán bộ kiểm lâm. Một người cửa hàng trưởng và một tay buôn bè. Họ là chỗ quen biết của gia đình hay là bạn bè của vợ gã? gã chưa biết tiếp xúc với họ như thế nào ngoài phép lịch sự xã giao. Trông họ béo tốt, ăn mặc lành lặn khác hẳn những người trong vùng. Họ mang giày dép chứ không đi chân đất như những người gã gặp hồi sáng trên tàu, những người gặp cả ngày hôm nay. Ông cậu đến là điều không cần phải suy nghĩ. Nếu lúc này ông không tới gã còn hận ông nữa kia. Năm ngoái có một lần ông xuống trại thăm gã. Lần ấy mẹ gã ốm nhờ ông đi vì lâu lâu bà cũng không xuống cho con gà và ít gạo. Cán bộ trại cho phép gã nấu nướng ngoài nhà khách để có bữa cơm ăn với gia đình. Gã nấu nướng xong xuôi bày lên bàn nhưng ông nhất định không ăn và xin phép anh cán bộ trại ra về. Ông bảo ông còn một số việc trên tỉnh mà khi quay về phải giải quyết. Nếu ở lại ăn cơm cùng với gã sẽ không kịp thời gian. Nhìn mâm cơm trên bàn gã ứa nước mắt. Sau bao nhiêu ngày thiếu thốn, thứ gì gã cũng thèm. Gã sẽ có bữa cơm ngon lành nếu ông cậu cùng ngồi, dù ông dùng nhiều hay ít. Nhưng ông một mực dứt về. Gã nghĩ là ông ngại con mắt của những người xung quanh. Dù sao cháu ông đang là một thằng tù. Nó tù tội gì không phải là ai cũng hiểu. Nhất là lại có người mặc sắc phục thỉnh thoảng để mắt tới. Có lẽ ông không chịu nổi cảm giác ấy. Cái liêm sỉ của con người ở đời là đáng quý. Nhưng nhiều khi nó cũng vô lý vô tình biết bao. Hôm ấy gã trở lại trại với nét mặt của kẻ mất hồn. Phải rất lâu gã mới quên được hình ảnh ông hôm ấy. Cái dáng thất thểu của ông đi như chạy trên con đường ra khỏi khu vực trại.
Những phạm nhân ở buồng cho rằng nhà gửi ít quà nên gã không vui. Có những kẻ như thế thật. Có đứa vất trả không nhận quà khi người nhà mang tới ít. Hoặc vùng vằng ra mặt. Gã lại khác. Cảnh nhà như vậy gã biết chứ. Gã đâu dám đòi hỏi và oán trách gì? Giờ ông cậu ngồi đây, gã chỉ thoảng nhớ qua thế thôi. Không nỡ giận. Thực ra ông chỉ là người đáng thương không đáng trách. Một con người sống gần hết đời được xã hội quý trọng. Ông không ra khỏi thói thường của những lề thói tự bao đời nghiễm nhiên ngự trị trong đời sống hàng ngày. Một kiểu danh dự mơ hồ đôi khi viển vông. Nó giống như thứ trang phục đắt giá dùng cho người nghèo. ẩn chứa sự tạm bợ, bất an. Đôi khi trở thành giả dối. Vợ gã tíu tít pha trà mời khách. Thị có vẻ vui mừng trước việc gã về. Nhưng nhìn ánh mắt của mấy vị khách kia có điều khó hiểu. Gã vốn là con người nhậy cảm, đôi khi quá nhậy. Một phần vì lẽ đó mà gã khổ. Đối với người khác có những việc không quan trọng và không đáng xúc động. Gã lại không thế. Rồi những năm tháng chìm nổi đầy eó le, trắc trở, cái vốn nhạy cảm của gã càng trở nên sắc nhọn. Gã linh cảm trong những người ngồi đây không phải là họ đều thiện chí. Còn có cái gì đó ngoài việc thăm hỏi thông thường. Lác đác một vài người nữa tới thăm. Căn nhà trở nên chật chội. May mà bóng chiều đổ xuống vội. Cây mít già nua và cái mái tranh xoà xuống khoảng đất trống dùng làm sân trước căn nhà. Mẹ gã trải hai tấm chiếu mời khách. Bà mang nải chuối chín mời mọi người uống nước. Gã không nhớ mình đã nghe những gì, nói những gì. Phần nhiều là những câu xã giao chung chung. Hoàn cảnh thực không thể hỏi và nói rõ điều gì vào lúc này. Tâm trạng gã vui buồn lẫn lộn. Gã chưa quen với cảnh quan ở nơi đang gọi là nhà mình. Mười năm trước khi gã còn là sinh viên gã có theo người nhà lên vùng này dự một đám cưới. Lúc đó gã rất lạ lẫm khi vào chơi một làng người Dao - Khi ấy gọi là động mán. Nhữngcô gái thanh y, quần trắng nhuộm răng đen. Hai bên khóe miệng có những chiếu răng bít đồng vàng choé. Tay cô nào cô ấy đen kít mầu chàm. Họ mặc những chiếc áo có hai vạt đằng trước thả dài quá gối. Các cô sẵn lòng đón nhận nếu có trai lạ đến muốn ngủ " thăm ".
Một khung cảnh hoang sơ với chồn sóc, kỳ nhông thỉnh thoảng chạy ngang đường. Có con chim gì cánh xanh mỏ đỏ kêu ríu rít trên cành cây. Trên vách đá lũ khỉ chuyền cành, bứt quả trọi nhau kêu chí choé.
Bến sông có những người cởi trần xách con cá dài cả mét đi xăm xăm trên bãi cát. Khi về xuôi cảnh sắc thiên nhiên còn lưu luyến gã.  Con người lúc đó thực thà, quý khách. Có cô gái ở bến sông còn đưa gã phong thư kèm theo vài bao thuốc Tam Đảo là thứ hàng hiếm lúc bấy giờ. Chẳng biết bây giờ cô đi đâu, chồng con gì chưa?
So với ngày ấy quang cảnh bây giờ khác rất nhiều. Gã có cảm tưởng những rặng núi phía xa thấp hơn độ ấy. Cây cối thưa hơn, sương phủ nhiều hơn. Đã nhìn thấy những vết lở lói trên triền nương mờ xa. Một nét gì khan khan, nghèo nghèo bàng bạc bao trùm lên tất cả. Có lẽ gã là người nghèo nhất trong những người nghèo ở đây, khi gã nhìn thấy cái cuốc cũ mòn, lưỡi cuốc chỉ bằng bàn tay dựng ở hồi nhà. Cái ấy không đáng sợ. Cái gã cảm thấy trờn trợn trong cảm giác về một cái gì đó rất khó gọi tên. Hình như là khung cảnh mờ hồ pha chút hoài nghi loang loáng trong thái độ và cử chỉ của những người vừa gặp. Cảm giác chênh vênh tựa như người ta đứng trên cao nhìn xuống đất. Gã cũng không hiểu tại sao lại có cảm giác ấy. Gã tự nhủ mọi việc rồi sẽ quen. Quãng thời gian vừa qua cho gã thấy khả năng thích nghi đến kỳ lạ của con người. Có những lúc, những việc tưởng không sao chịu nổi rồi cũng qua đi. Số phận đôi lúc là những trò chơi không mấy thú vị.
Buổi chiều qua nhanh. Vùng núi đêm tối thường đến rất vội vã. Nhiều khi người ta không kịp thu dọn công việc trong ngày. Ngày hôm nay cũng vậy. Gã chân ướt chân ráo về nhà, chưa kịp thu dọn nhà cửa đêm tối đã ập xuống. Cũng may không có đồ đạc gì nhiều. Gã sửa lại cây đèn hai dây treo lên giữa nhà. Chỉ có vài người ở lại ăn cơm cùng gia đình. Tay cửa hàng trưởng và tay cán bộ kiểm lâm về trước. Tay thợ bè và ông cậu gã còn ngồi nói chuyện thêm một lúc. Toàn những chuyện sông nước, thuế khoá và các trạm trên sông. Hắn tỏ ra thông thạo, giỏi mánh lới, biết nhiều mánh lối trong nghề sông nước. Ông cậu gã nghe nói cũng đã bám càng theo hắn được vài chuyến. Củi đóm là thứ bán ở đằng ngược này với giá bèo bọt. Nhưng mang về xuôi đắt lên ba bốn lần. Vì thế có mối với cánh đi bè chuyên nghiệp này ai cũng muốn. Trên danh nghĩa họ là những người chở bè cho Nhà nước theo hợp đồng. Nhưng tiền lương của họ các công ty Nhà nước trả cho họ chỉ có ý nghĩa tượng trưng. Chỉ đủ họ trà thuốc, xà phòng, khăn mặt. Nguồn thu chính lại ở dưới các gầm bè tre, nứa hoặc gỗ loại thường, bập sẹo dóng dấu kiểm tra. Đó là những súc gỗ vào loại tứ thiết: Nghiến, đinh, trò chỉ. Có khi có cả đinh, lát. ( vào thời xảy ra câu chuyện này các thứ gỗ đó vẫn rất sẵn, chỉ cần có tiền có thể mua được của tư thương ) Mỗi chuyến xuôi ngược mọi người bỏ ra vài cây vàng. ở đời nhiều tiền không phải ai có cũng hay cả. Phần nhiều lại là mầm mống của sự bất nhân bất nghĩa. Khởi đầu cho việc mờ ám thối nát cờ bạc, trai gái, nghiện ngập. Người tử tế có thể người ta chia sẻ, giúp đỡ người nghèo. Lòng trắc ẩn khiến người ta thông cảm những cảnh đời thiếu may mắn, người ốm đau, hoạn nạn. Kẻ giả dối, ích kỷ thì càng nhiều càng ít. Ngoài miệng là chuyện ân nghĩa, đức cao đạo trọng nhưng thấy khó ngoảnh mặt đi. Rất có lý khi người ta nói rằng: Kẻ giàu có thường tham lam keo kiệt. Dân gian đã từng có câu: " Hà tiện mới giàu, cơ cầu mới khá " Người ngồi trước mặt gã bây giờ thuộc nhóm có tiền sinh lưu bại. Hắn có tiếng trong làng cờ bạc, ăn chơi nổi nhất trong đám thợ bè. Quê hắn ở Bắc Ninh hay Hưng Yên gì đó, không ai biết chính xác. Trong người hắn có đến hai ba tấm chứng minh nhân dân. Cái nào cũng có chữ ký của giám đốc công an, đóng dấu đỏ hẳn hoi. Căn cước thật một trăm phần trăm chứ không phải là giả mạo. Hắn chẳng thiếu giầy tờ gì. Nhưng hắn trôi chảy trong công việc không phải là trông cậy vào mớ giấy ấy. Còn một loại giấy hiệu nghiệm hơn là giấy bạc. Thứ này cửa nào cũng qua. Nhất là lúc biên giới phía Bắc, phía Nam có nhiều biến động. Một thời kỳ chênh chao, lẫn lội nhiều giá trị. Một chút hoang mang pha trong cảm giác bất an vô hình, là môi trường tốt để những kiểu người như gã thao túng.
Hình như đọc được câu hỏi trong cái nhìn của gã. Hắn bảo:
- Tôi thường khi vẫn trọ bên nhà ông Chỉ đợi hàng. Chuyến nào nhanh cũng độ nửa tháng. Chậm có khi cả tháng. Cô nhà đây vẫn thường mua hộ rau canh, lúc con cá khi chai rượu. Bà cụ cũng coi tôi như người nhà. Có việc gì là cụ nhờ tôi không phải do dự. Anh về đợt này nếu có việc gì làm thì thôi. Không thì phụ một tay với chúng tôi. Cũng chả được nhiêu lắm đâu nhưng so với các việc khác cũng còn hơn thế.
- Để tôi còn xem, cũng phải nghỉ ngơi ít ngày cho nó lại người đã.
Cái mặt bánh dày nhiều đường cong, lông mày lờ mờ của hắn nở dãn ra:
- Tất nhiên rồi tuy tôi không phải qua cảnh ấy, tôi cũng không lạ. Người ta bảo:"Nhất nhật tại tù ". Tù thì ở đâu, bao giờ chả thế? Cứ bồi bổ cho khoẻ hẳn đi đã. Làm ăn lâu dài lo gì; có khi cặm cụi cả đời mà không đâu vào đâu. Vấn đề là biết phát hiện và chớp lấy cơ hội.
Gã gượng gạo, không mặn mà lắm:
- Cũng phải có bột mới gột nên hồ. Tôi bây giờ trắng tay tính việc gì cũng khó.
Hắn cười khùng khục, rất tự tin xoè hai bàn tay ra trước mặt :
- Nhiều người nghĩ thế. Tôi cho là chưa đúng hẳn. Nếu sẵn có đồng tiền trong tay thì nói làm gì? Mà vốn ở đâu ư? ở hai bàn tay mình! Đồng tiền nó rơi trên đường. ai biết là nhặt được. Vấn đề là có biết nhân nó lên không!
Hắn còn dài dòng thêm một lúc rất nhiều "Vấn đề là ". Gã đã thấy khó chịu trước vẻ dạy đời của hắn. Nhất là những điều mờ ám của hắn với "vợ" mình. Những điều mà mẹ gã chỉ nói sơ sơ. Nhưng bây giờ trực tiếp nói chuyện với con người này gã đã hình dung ra tất cả. Một kiểu người cậy có đồng tiền luôn thích dạy bảo người khác còn mình không kể xấu tốt có thể làm bất cứ chuyện gì. Nếu là những năm trước, lòng tự ái như con ngựa bất kham cồn lên trong lòng gã, không khéo thằng cha này, đã lỗ mũi ăn trầu rồi. Nhưng lúc này đây gã cố kiềm chế chỉ có nét mặt gã hơi tái đi một chút.
Tên lái bè là kẻ nhạy cảm, hắn đã nhận thấy thái độ khang khác của gã. Hắn vội đứng lên:
- Thôi cũng muộn rồi. Con xin phép bà và cô cậu đi làm nốt một vài cái thủ tục. Thời buổi nhiêu khê lắm cửa quá. Khi nào rảnh con lại chơi. Còn cậu nếu có khó khăn gì ới anh một tiếng. Trước lạ, sau quen không phải giữ ý làm gì.
Gã lạnh lùng:
- Vâng cảm ơn!
Sự xuất hiện bất ngờ của tay thợ bè có cái tên là Hoằng này làm cho gã thay đổi ý định.
Ban đầu gã định từ từ, xem xét cụ thể rồi mới giải quyết việc nhà những ngày gã đi vắng. Chuyện yêu ghét ở đời không bao giờ là chuyện đơn giản. Nó phức tạp ngay tự thuở xa xưa khi con người biết sống có ý thức về mình và xã hội.
Quan hệ mẹ chồng nàng dâu vốn là quan hệ nặng nề, gay gắt dễ nhìn nhận thiếu khách quan.
Nhưng mẹ gã là người có lòng thương người hiếm có. Có thể nói bà là mẫu người còn sót lại cuối cùng của thế kỷ hai mươi này. Chồng mất sớm, bà nuôi bà mẹ chồng mù loà và đứa con oặt ẹo nay ốm mai đau. Cảnh nhà nghèo túng bà vẫn sẵn lòng nuôi thêm đứa con nuôi khi mẹ nó mới đẻ nó mấy ngày. Một năm hai vụ, cũng  là hai lần mẹ đứa con nuôi dắt đàn em vài ba người lên thăm con. ăn ở cả tuần khi về mỗi người còn mang theo một gánh không ngô thì khoai. Một kiểu đóng thuế không do một cam kết hay quy định nào. Việc đó kéo dài tới lúc anh con nuôi đi bộ đội. bà vui vẻ chấp nhận không một chút phàn nàn. Có người mẹ trẻ sinh con không may qua đời. Người này nghèo không chút đắn đo, áo quần cho người chết mang đi là điều người sống kiêng kỵ. Nhưng bà bảo: " Người ta khổ, đến lúc chết sang thế giới bên kia không có nổi manh quần tấm áo thì tội quá ". Ai có khó khăn gì, máy môi giúp được là bà giúp ngay. Không phải người chị nào cũng xử sự với em trai mình như thế, người ta chỉ có thể giúp được phần nào. Không mấy ai hy sinh toàn bộ tài sản để cứu em. Để chấp nhận cuộc sống trông vào việc đi mót đi hái. Vì ai cũng cho rằng trước hết mình phải tồn tại, mới cứu giúp được kẻ khác. Có bơi được mới cứu được người chết đuối. Không phải ai cũng chấp nhận cái nghiệt ngã của số phận trước thử thách vì mình hay vì người...
Gã ngồi trầm ngâm rất lâu bên bộ sa lông cải tiến đã long gẫy. Những miếng tay vịn có lúc rời ra rơi xuống đất. Mặt bàn cũ mẻ, xung quanh những đầu đinh chồi lên. Thứ sản phẩm bằng gỗ tốt nhưng thợ tồi nên mộng mẹo lỏng lẻo, vừa dày vừa thô. Một sự phí phạm của ai đó có của không biết dùng. Hẳn người ta chê quá nên bán thanh lý cho mẹ gã mang về. Không đáng mấy đồng tiền. Kể cả cái tủ kê sát vách cũng thế, người ta cố tạo ra bộ đế của nó cho có vẻ cầu kỳ, nom lại càng vô lý. Nó nặng như cái cùm nhưng lại không mấy chắc chắn, cánh tủ khi mở vô ý có thể bị đập ngay vào đầu. Hiện giờ trong cái tủ cũ có một đàn ong mật. Cách đây mấy ngày vào buổi chiều có một đàn ong xà xuống. Lúc đó chỉ có mỗi đứa con gái gã ở nhà. Con bé sợ hãi kéo chăn chùm đầu. Đàn ong từ trên cây mít một hồi rồi từ từ từng con một chui qua lỗ thủng sau tủ, vào làm tổ. Bây giờ gã ngồi đây vẫn nghe đàn ong rũ cánh ù ù. Đã sắp sang mùa lạnh, mùa đàn ong chuyển, tìm nơi tránh rét.
Gã thấy quyết định đứt khoát của mình lúc này là cần thiết. Mình như người vừa trải qua trận ốm, cần phải thải hết độc tố và mầm mống bệnh tật ra ngoài. Cơ thể có lẽ sẽ tổn thương thêm một chút nhưng mới có cơ lành bệnh. Nếu nó còn âm ỉ sót lại trong người, một ngày nào đó bệnh sẽ tái phát. Giống như cánh tay giập nát không thể cứu được phải cắt bỏ nếu không sẽ hoại thư nguy hiểm đến mạng sống của mình. Một lẽ nữa, sẽ không ai bảo rằng gã lần lữa lợi dụng cô ta. Đợi đến lúc trơn lông đỏ da mới giở rói trở mặt. Gã không oán hận Tâm. Nhưng không thể chấp nhận sống với Tâm, gã sẽ bị day dứt dày vò suốt một đời. Gã đã thề sau ngày chia tay với người vợ cũ là sẵn sàng sống với một người vợ què, mù còn hơn ăn ở với người ăn ở hai lòng. Đầu ở với chồng đít ở với trai. Theo gã quan hệ ấy không có ý nghĩa gì. Dù có bạc tỷ trong tay thì cũng không thể gọi là hạnh phúc. Không phải gã không nghĩ đến ơn nghĩa của gia đình cô ta và của Tâm đối với gã.
Trong lúc gã bị truy đuổi đến kiệt sức, nằm vật trên nương sắn, mẹ Tâm đã đưa gã về. Gã ở lại nhà bà ít ngày đến khi khỏi cơn sốt rét hành hạ. Tâm coi gã như người anh trai. Cô đã thuốc men, chăm sóc cho gã lành bệnh. Nếu không có cuộc gặp gỡ ấy không biết gã sẽ như thế nào? Và sau này, khi tìm được gia đình gã trong lúc ba đào Tâm ăn ở một lòng cho đến ngày gã trở về thì còn có gì phải nói. Dù Tâm không đẹp, dù gã chưa hề yêu thương gã sẽ chấp nhận cuộc hôn nhân tình cờ gặp ấy. Những mọi việc không phải thế. Tâm đã có những chuyện không hay. Những việc ngang nhiên trắng trợn trước mắt bà mẹ gã. Tiếng là về sống với gia đình, mẹ con cô vẫn ăn riêng ở riêng. Cô đi, về không một lời nói với mẹ gã. Đưa hết người này người khác đến nhà không cần giấu diếm. Số gã thật là khốn nạn. Người vợ đầu tiên xinh đẹp nàng cậy mình là con gái nhà giàu. Nàng tác oai tác quái đến nỗi tan nát gia đình. Đến nỗi gã lâm vào vòng lao ly... Đến Tâm là cô gái nhà nghèo, chẳng có nhan sắc gì mà cũng không xong. Mà cả hai cuộc hôn nhân gã luôn là kẻ thụ động. Ngay cả với Tâm bây giờ, cô về đây phải chăng là vì nghĩa vì tình? Hay vì chút sĩ diện? Hay quan trọng hơn là để đối phó với nhà trường? Những năm tháng còn nhiều quy định khắt khe. Có một đứa con ngoài giá thú là một tội nặng không cơ quan nhà nước nào tha thứ. Cô chuyển về đây có phải cái chính là giữ được nghề dạy học. Hợp thức hoá một quan hệ thiếu rõ ràng. Ngay cả với gã thực chất mối quan hệ ấy đến giờ gã vẫn chưa hiểu hết.
Giờ đây cái vẻ mặt nhơn nhơn của tay lái bè khiến gã hình dung ra phần tính cách của Tâm.
Trời đã khuya mà Tâm vẫn đang lúi húi soạn bài. Nét mặt có phần căng thẳng, như cố luôn tin chuỵên một điều gì đó. Gã ngỡ ra rằng: Người ta thường cho những người con gái xinh đẹp hay có tính lẳng lơ là một sai lầm. Không thiếu người nhan sắc mà vẫn đoan trang. Ngược lại nhiều cô chẳng có vẻ quyến rũ nào mà tính cách lại nhăng nhít. Nhìn nhận đánh giá con người qua vẻ bề ngoài và một cách nhìn nhận chủ quan không mấy chính xác.
Gã Chưa biết bắt đầu câu chuyện với Tâm thế nào cho phải. Cuối cùng gã bảo:
- Tôi mới về, người còn yếu. Không nên gần nhau vào lúc này...
Gã sửng sốt khi thấy Tâm khẽ nhếch miệng nói thản nhiên:
- Tôi biết ngay mà. Người ta nói không sai về anh. Thể nào khi anh thoát nạn anh cũng phụ tôi mà. Nhưng không sao, ngày mai mẹ con tôi sẽ lên tập thể ở. Anh đừng lo.
Gã không ngờ cô ta bình tĩnh đến thế. Cô ta còn có ý xúc phạm mình. Cô ta nghe những gì về mình nhỉ? gã thấy nhói trong ngực. Đã nói thế, không còn gì để nói nữa. Gã đứng dạy đi ra sân. Bên ngoài sương mù giăng giăng che kín tầm mắt. Không nhìn thấy gì rõ nét. Mái nhà tranh giống như tấm buồm đen nham nhở vừa hạ từ cột buồm nào xuống, nằm nghiêng về phía bờ sông mờ mịt. Đâu đó lẻ loi tiếng gà gáy vọng. Trời đã thật khuya. Gã đứng lặng cho đến khi sương đêm ướt đẫm mái tóc còn chưa kịp mọc dài.
Hai bà cháu sau lúc cơm buổi tối dắt nhau đi chơi đâu. Có lẽ bà và đứa cháu ngủ lại nhà hàng xóm. Bà muốn để hai người chuỵên trò tự nhiên. Bà sẽ rất ngạc nhiên trước chuỵên vừa rồi. Gã nghĩ như thế và cố nén một tiếng thở dài.





Phần nhận xét hiển thị trên trang

Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 18)


Lời Ai Điếu
Lời Ai Điếu
Sau phim đầu tay “Con rắn hổ mang” khá thành công, tôi viết kịch bản phim tài liệu “Nghề nuôi cá ở nước ta”. Lúc đó, đang có phong trào “Ao cá Bác Hồ” rất rầm rộ. Nghề nuôi cá phát triển mạnh sau khi những loài cá mới ở miền Nam như cá rô phi được chuyển cá giống ra Bắc, cá bột mè giống được chuyển vô Nam bằng máy bay vận tải DC. Tôi đã được Bộ Thủy sản mời đi những chuyến chuyển cá giống vào Nam ra Bắc bằng những chuyến bay như thế. Máy bay cánh quạt DC bay 4 giờ đồng hồ từ Gia Lâm mới vô đến Tân Sơn Nhất. Rất vất vả vì phải ngồi chung với những bao ni long bơm ôxy chở cá giống, ướt át, tanh tưởi. Để thực hiện được phim tài liệu 20 phút này, chúng tôi phải quay được các hình thức nuôi cá. Từ cách nuôi cá hồ chứa ở miền núi phía Bắc, nuôi trong ao hồ ở các hợp tác xã đồng bằng Bắc Bộ và cả hình ảnh nuôi cá bè ở Châu Đốc-An Giang v.v… Khi phát sóng, lần đầu tiên khán già miền Bắc được thấy hình ảnh nuôi cá bè ở miền Nam trên sông Hậu rất hấp dẫn. Minh Đại, phóng viên quay phim của ê kíp chúng tôi đã reo lên khi anh quay cận cảnh hàng trăm con cá nhao lên đớp mồi khi các chủ bè cá cho chúng ăn… Cũng trong chuyến đi này, chúng tôi được sang thăm cù lao Mỹ Hòa Hưng, quê hương Bác Tôn và quay được những thước phim tư liệu giá trị. Khi Bác Tôn qua đời, Đài truyền hình trung ương có ngay được những thước phim về quê hương của ông do chúng tôi cung cấp để phát sóng vào chương trình thời sự ngày đưa tiễn bác.
Khi phát sóng phim “Nghề nuôi cá ở nước ta”, có một chuyện đáng nhớ với một người làm báo như tôi. Và, có lẽ cả cho các đồng nghiệp của tôi nữa. Đó là, trước giờ phát sóng chừng vài tiếng, bỗng Tổng biên tập Đài là anh Lý Văn Sáu kêu tôi lên hỏi: con cá tra viết “ch” hay “tr”? Tôi hoảng quá, vì lúc đi làm phim, lúc viết kịch bản tôi không để ý đến chi tiết “nhỏ” này! Lần đầu tiên đồng bào miền Bắc biết đến con cá tra ở Nam Bộ. Phát âm “cá tra” như thế nào? (ch hay tr không ai biết cả). Kể cả Tổng biên tập Lý Văn Sáu người Nghệ Tĩnh cũng không biết. Anh Sáu là một nhà báo dày dạn kinh nghiệm, từng đi học báo chí bài bản ở Liên Xô. Anh thông thạo nhiều ngoại ngữ, nói được tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha. Nghe nói khi anh là phát ngôn viên cho đoàn Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam ở hội nghị Paris, khi họp báo anh nói rất mạch lạc, từ tốn, dễ nghe, dễ hiểu những vấn đề phức tạp nhất nên các nhà báo phương Tây rất thích. Anh bảo tôi: phài xác minh được từ “tra” có uốn lưỡi hay không uốn lưỡi để phát thanh viên phát âm cho chuẩn. Anh còn nhấn mạnh: cậu nhớ Đài ta là Đài Truyền hình trung ương cơ mà. Trung ương phải làm gương cho các Đài địa phương phát ầm cho đúng từ nghữ tiếng Việt. Tôi xin phép anh Sáu 1 giờ để đi xác minh từ “cá tra”. Anh Sáu lại nói: nếu 1 giờ cậu không trả lời được, tôi sẽ cho thay chương trình khác. Nghe vậy tôi lo cuống cuồng vì đã trót khoe khoang và báo cho nhiều người biết giờ phát sóng chương trình, kể cả báo cho thứ trưởng Bộ Thủy sản Nguyễn Tấn Trịnh biết để xem, vậy mà chương trình bị cắt thì… còn mặt mũi nào! Tôi chạy bang qua ruộng rau muống rất rộng để đi tắt sang Bộ Thủy sản ở ngay khu Giảng Võ, sau lưng Đài Truyền hình. Nếu đi cổng chính thì xa hàng cây số vì “gần nhà xa ngõ”. Nhớ lại, lúc đó tôi quần áo lấm lem đứng bên hàng rào gọi vọng vô tên anh Ánh, vụ trưởng vụ nuôi cá của Bộ. Phòng anh Ánh ở ngay cạnh hàng rào nên anh ra ngay. Anh mời tôi trèo qua hàng rào vô nhà anh uống trà. Thường ngày thì tôi hưởng ứng ngay nhưng  hôm nay tôi không còn bụng dạ nào để trà lá nữa. Tôi chỉ hỏi anh về các viết từ “cá tra” dùng “ch” hay “tr”. Anh cười và bảo: có thế mà cũng phải hỏi, viết “tr” nhà báo ạ. Nghe xong tôi mừng rơn, không kịp chào anh, cứ thế cắm đầu chạy về Đài (chắc là anh Ánh lúc đó cứ tưởng tôi bị lên cơn thần kinh!) Vẫn quần áo lấm lem vì bùn, tôi lên gặp ông Sáu để báo cáo cách phát âm cho con cá là “tr”. Ông Sáu nhìn tôi cười tươi!
Khỏi phải bình luận nhiều. Người làm báo phải có tinh thần trách nhiệm trước cộng đồng dân tộc trong sự “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”. Đó là câu chuyện của “ngôn từ” như nhà báo Phan Quang đã viết. Các nhà báo thế hệ trước tôi, các anh đã nêu một tấm gương sáng về sự nghiêm túc của nghề cầm bút. Tôi không “thù” gì anh Sáu cả, trái lại mỗi lần đi qua một hồ nuôi cá tra, được xem là mặt hàng thủy sản xuát khẩu quan trọng sau lúa gạo ở Nam Bộ ngày nay, tôi lại bất giác nhớ đến Tổng biên tập Lý Văn Sáu (giờ này ông đang ở đâu?)
Sau phim tài liệu nghề nuôi cá, tôi viết kịch bản “Cây hồi Lạng Sơn”. Với truyền hình – hình ảnh động – thì làm phim về động vật dễ hơn làm phim về thế giới thực vật (vì khó tạo nên hình ảnh sinh động như con rắn hổ mang múa, con cá quẫy từng đàn). Vì thế, kịch bản phải chuẩn bị kỹ về nội dung khoa học và cảnh quay phải đa dạng phong phú. Chúng tôi phải thuê xe com-măng-ca của Đoàn 12 để đi dài ngày. Để quay được toàn cảnh rừng hồi Lạng Sơn, trời rét như cắt ruột, chúng tôi phải vác máy leo lên tận đỉnh của những quả núi cao. Khi bắt đầu leo núi thì rét run, nhưng khi leo lên đến đỉnh thì phải cởi bớt quần áo ấm vì mồ hôi vã ra như tắm. Nhưng ngồi đợi suốt cả ngày vẫn không quay được thước phim nào vì trời âm u không đủ sáng. Quay phim nhựa là như thế. Cứ thế, mấy ngày trời leo núi mới quay được một cảnh vài giây. Vì vậy khi đi đường số 4 sang Cao Bằng để phỏng vấn ghi hình lãnh đạo tỉnh Cao lạng về chương trình phát triển rừng hồi thì đồng chí chủ tịch tỉnh nói ngay: mấy ngày các anh leo lên núi quay phim, bộ đội biên phòng đều theo dõi và báo cáo chúng tôi, biết các anh vất vả lắm!
Xin mở ngoặc nói thêm, khi hai tỉnh Lạng Sơn và Cao Bằng sát nhập thành tỉnh Cao lạng theo ý đồ của tổng bí thư Lê Duẩn thì dân tình khốn khổ vô cùng. Thủ phủ của tỉnh mới Cao Lạng đóng ở Cao Bằng nên người dân muốn xin giấy tờ phải đi đường núi số 4 cheo leo vực sâu, vách đá từ Lạng Sơn sang Cao bằng và phải ngủ lại vì không thể về ngay trong ngày. Thằng thực dân Pháp đểu cáng là thế, nhưng chúng có khoa học cai trị. Các tỉnh lỵ trên toàn cõi Đông Dương chỉ cách nhau 60 km. Người dân ở nơi giáp ranh có đi xin giấy tờ cũng chỉ phải đi 30 km là cùng và có thể về ngay trong ngày. Cả nước Việt Nam chúng ta, dưới thời thực dân Pháp, chỉ có 2 tỉnh lỵ là Mỹ Tho và Bến Tre là cách nhau hơn 10 km vì cách con sông Tiền rộng lớn. Nay có cầu Rạch Miễu rồi thì 2 trung tâm Mỹ Tho và Bến Tre chỉ nửa tiếng xe máy là có thể gặp nhau. Về phương diện địa lý, thổ nhưỡng, tập quán canh tác… người Tây khi lập tỉnh họ cũng tính kỹ. Tỉnh Gò Công là vùng nhiễm mặn, tỉnh Mỹ Tho là vùng nước ngọt. Hệ canh tác của 2 vùng này khác nhau. Khi vô cớ sáp nhập 2 tỉnh này thành tỉnh Tiền Giang thì mỗi lần tỉnh họp để chỉ đạo canh tác, cán bộ Mỹ Tho cũ phải nghe cả phần chỉ đạo về vùng mặn Gò Công. Cuối cùng phải triệu tập 2 cuộc họp khác nhau để chỉ đạo hai vùng mặn-ngọt khác nhau…
Có xe hơi mà chúng tôi đi từ Lạng Sơn sang Cao Bằng để gặp lãnh đạo Cao Lạng phải toát mồ hôi hột thì nhân dân, cán bộ trong tỉnh miền núi này đi lại vất vả biết nhường nào. Chỉ sau một giấc ngủ, các nhà lãnh đạo trong thể chế toàn trị độc tài hứng chí lên là có thể sáp nhập các tỉnh trong cả nước một cách vô lối và điên rồ như thế. Sau đó thấy tai hại quá lại chi tỉnh về như cũ, như thời Tây đã làm. Tốn kém nhân dân chịu!
Về chuyện đi từ Lạng Sơn sang Cao Bằng, ba anh em trong ê kíp làm phim chúng tôi đã quyết định đi từ sớm, nhưng cậu lái xe của đoàn 12 mà chúng tôi đã thuê lại bảo để đến tối mới đi. Trời đất thiên địa ơi, đi cả trăm cây số đường núi vòng vèo cheo leo vách đá vực sâu mà ban ngày ban mặt lại không đi, phải đợi đến tối mới đi thì ra làm sao? Chúng tôi vặn hỏi cậu lái xe, cậu ta bảo: các anh là nhà báo thì biết gì, lái xe là việc của em để em lo, khi nào đi thì em sẽ nói. Giục mãi, xế chiều cậu ta mới cho xe lăn bánh. Đi được vài chục cây số thì một chiếc xe tải chở gỗ lao ầm ầm vào chúng tôi khiến xe phải nép sát vào vách đá. Tài xế cho xe đỗ lại và chờ đến tối mịt mới đi. Cậu ta giải thích cho lũ chúng tôi – “các nhà báo thì biết gì” – rằng: ở trên này, các lái xe người dânh tộc đi chở gỗ cho lâm trường, uống rượu xong rồi lên ca bin cầm vô lăng chạy như bay. Xe của họ chở gỗ nặng lấn đường của xe con, hất xe bọn chúng em xuống vực là chuyện thường. Tai nạn xảy ra thường xuyên, bị hất xuống vực là chuyện cơm bữa. Người miền xuôi không ai chịu lên lái xe ở đây cả, nên lâm trường vẫn phải mượn người dân tộc lái vì thế cánh lái xe con chúng em phải đợi ban đêm mới dám đi đường này, khi các xe tải lâm trường nghỉ hết đã mới dám đi. Thì ra là vậy.
Xe chúng tôi bật đèn sáng quắc, dò dẫm đi trên con đường quanh co vòng vèo, có chỗ vừa đi qua lại như vòng lại chỗ cũ vì đường phải men theo các triền núi. Từ ánh đèn của xe, trong đêm tối chúng tôi nhìn thấy nhiều biển chỉ dẫn có dấu chấm than(!), cậu tài xế giải thích đó là những chỗ rất nguy hiểm. Đá từ trên núi có thể lăn xuống bất kỳ lúc nào. Khi xe vào một hang đá, cậu lái xe nhá còi thì một tiếng vang như sét đánh ngang tai làm chúng tôi giật bắn. Cậu ta cười rồi nói, đó là tiếng dội lại của vách đá. Có điều lạ là, tiếng vọng ấy vang lên đủ ba lần mới tôi. Cậu lại cho biết, chỉ có núi đá ở đây mới có tiếng vọng ba lần như thế.
Đi suốt đêm, gần sáng chúng tôi mới đến được thị xã Cao bằng còn đầm đìa trong sương đêm. Chúng tôi phải ngủ gục trên xe chờ đến giờ hành chính mới vào trong Ủy ban nhân dân tỉnh xin làm việc. Chánh văn phòng ủy ban nhân dân tỉnh tiếp chúng tôi rất niềm nở. Tôi nhìn thấy trên bàn của ông có tờ tạp chí “Thời mới” của Liên Xô bằng tiếng Pháp. Tôi cầm lên khen: đồng chí chánh văn phòng đọc được “Temps Nouveaux” thì giỏi quá rồi. Ông kể với tôi, xưa kia nhà cũng khá giả nên được gia đình cho về Hà Nội học trường Bưởi cạnh Hồ Tây. Tôi nói: vậy là đồng chí cũng học một trường với bố tôi rồi. Chúng tôi trở nên thân mật và chính ông đã bố trí lịch để chúng tôi được gặp, ghi hình, cảnh (dựng lại) Ban thường vụ tỉnh ủy Cao Lạng họp để bàn về việc duy trì và phát triển rừng hồi ở Lạng Sơn. Cũng chính ông là người đã lục lại văn bản từ thời Pháp về quyết định trồng cây hồi ở Lạng Sơn để chúng tôi ghi hình. Nếu hình ảnh con hổ mang bành cổ múa điệu nghê thường với cô y tá mặc blu trắng, đàn cá basa hàng trăm con lao lên đớp mồi ở bè cá Châu Đốc … làm nên sự sinh động hấp dẫn cho phim truyền hình thì những văn bản được giới thiệu trên màn ảnh nhỏ về cây hồi Lạng Sơn tăng thêm chất lượng thông tin cho phim tài liệu mà chúng tôi làm.
Trước khi về, tôi thấy cậu lái xe Đoàn 12 vay được 100 lít xăng của văn  phòng ủy ban tỉnh Cao Lạng một cách ngon ơi. Tôi hỏi cậu ta: xa xôi thế này biết đến bao giờ Đoàn 12 các cậu trả được xăng cho người ta? Cậu giải thích: cán bộ các tỉnh miền núi về Hà Nội họp phải chở theo xăng trên xe, có lần do đường xóc, phi xăng đã nổ tung, gây tai nạn chết người. Vì thế họ đã nghĩ ra cách khi về Hà Nội thì vay xăng của chúng tôi để đi, khi nào chúng tôi chở khách thuê lên làm việc ở trên này thì họ trả lại. Lợi cả đôi đường nên đã thành lệ như thế lâu rồi. Cậu còn phán: “Các anh nhà báo thì biết gì” mà hỏi về chuyện xăng dầu!
Kết thúc công việc, cậu lái xe về Hà Nội bằng đường Thái Nguyên cho gần hơn. Chúng tôi mừng rơn vì không phải quay lại đường 4, phải đi đêm. Nhưng có một sự việc làm chúng tôi nhớ đời: vừa rời thị xã Cao bằng được chục cây số thì thấy một cảnh rợn người. Một chiếc xe tải bị lật xuống ruộng, bốn bánh chổng lên trời. Tài xế và lơ xe mặt mày dính đầy dầu mỡ chỉ còn thấy 2 con mắt. Họ ngồi bên chiếc xe bị lật ngược như 2 pho tượng. Chúng tôi xuống xe và hỏi thăm nhưng không ai trả lời, rồi một người chỉ tay ra mé bờ ruộng. Tôi thất kinh thấy bốn cái xác chết xếp liền nhau. Mặt các nạn nhân được úp cái nón lên. Tôi lần lượt nhấc nón lên thì được biết ba người phụ nữ, một đàn ông, Mặt mũi họ đều lành lặn không chút xây xước. Cả đoàn quay phim chúng tôi đứng cúi đầu 1 phút mặc niệm họ, sau đó tôi bảo Minh Đại quay toàn cảnh tai nạn này để làm tư liệu. Người tài xế thấy chúng tôi có thiện ý như  vậy nên bây giờ anh mới kể: một chiếc xe tải chở gỗ chạy ngược chiều, lấn đường lao rất nhanh về phía xe chúng tôi. Vì vội tránh dạt sang bên, nên bánh xe lọt khỏi mặt đường, xe lật ngược … Bốn người dân tộc đi nhờ xe họ ngồi trên các bao xi măng chất đầy thùng xe ở phía sau. Khi xe lật, cả bốn người bị xi măng đè lên. Lúc đó, tài xế và lơ xe bị choáng ngất đi ít lâu. Khi tỉnh lại cả hai vác xi măng ra để cứu họ như vì va đập mạnh và ngộp thở lâu nên đã tắt thở hết. Tôi hỏi: “Cái xe gây tai nạn đâu rồi?” Người tài xế không nhìn rõ mặt chỉ thấy 2 con mắt than phiền: tài xế gây tai nạn bỏ chạy rồi! Họ đã nhờ người đi đường chạy xe về phía thị xã Cao Bằng báo công an đến làm biên bản nhưng công an chưa tới (!) Tới lúc này thì chúng tôi tin tưởng tuyệt đối vào vốn sống của cậu lái xe.
Chúng tôi đã chia tay các nạn nhân trong buổi sáng ảm đạm đó. Nhưng điều đau xót nhất với chúng tôi là khi phim tài liệu khoa giáo “Cây hồi Lạng Sơn” được phát sóng thì ngày 17/2 năm 1979 bọn Trung Quốc xâm lược tràn sang đã cướp phá, đã san bằng nhà máy tinh dầu hồi Lạng Sơn của ta nhập toàn bộ thiết bị hiện đại từ Pháp vừa mới được xây dựng xong. Cái nhà máy xinh đẹp mà từ xa chúng tôi đã ngửi thấy hương hoa hồi thơm nức cả núi rừng khi đến ghi hình nó. Cả ngôi trường phổ thông cấp 3 Việt Bắc, ngôi trường trung học lâu đời nhất của chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa vừa mới xây dựng xong, chờ năm học mới cũng bị san phẳng. Tôi đã chụp được hình ngôi trường này và viết một bài đăng trên báo “Người giáo viên nhân dân” sẽ ra ngày 15/8/1978. Bài có ảnh minh họa ấy, tôi còn giữ đến hôm nay, vừa tròn 34 năm khi tôi viết những dòng hồi ký này (17/2/2013). Bài viết có tên là: Ngôi trường nhiều tuổi nhất và “mới” nhất.
Ngôi trường như tôi viết trong bài: Tên trường do bác Hồ đặt cho trong lễ khai giảng năm học 1946-1947 tại Kéo Kong. Đó là trường cấp 3 đầu tiên của nước Việt Nam mới. Hồi đó trường nhận học sinh của 6 tỉnh chiến khu Cao, Bắc, Lạng, Hà Tuyên, Thái và cả Quảng Ninh, Hải Phòng. Trong kháng chiến chống Mỹ lại dời đi Cao Lộc… Năm 1973 về lại thị xã lạng Sơn. Yêu mến ngôi trường đầu tiên do Bác Hồ đặt tên, nhân dânthị xã Lạng Sơn đã cử cán bộ đi nhiều nơi để nghiên cứu mẫu trường đẹp. Đoàn đã chọn trường cấp 3 Hồng Quang thị xã Hải Dương. Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Hưng đã cử một đoàn cán bộ xây dựng gồm 45 người lên giúp thị xã Lạng Sơn xây trường. Năm học 1978-1979 này, học sinh các dân tộc thị xã Lạng Sơn sẽ chính thức làm lễ khai giảng ngôi trường to và đẹp, vừa được xây dựng xong.
 Vậy mà, sau ngày 17/2/1979 ngôi trường vừa xây xong còn thơm mùi vôi vữa đã bị quân Tàu san phẳng. Có lẽ đây là bài viết mang kỷ niệm buồn nhất trong đời làm báo của tôi. Ít lâu sau ngày 17/2 quân Trung Quốc thua trận rút khỏi các tỉnh vùng núi phía Bắc của ta, “sếp” Hán đưa tôi một truyện ngắn mag tên “Người con gái bản Nà Lầu” của nhà văn Hoàng Quốc Hải đăng trên báo Văn Nghệ Hội nhà văn, ông bảo tôi; mày chuyển thể cái truyện ngắn này sang kịch truyền hình để dựng. Tôi đọc kỹ và thấy đây là một truyện ngắn hay, mang tính nhân văn sâu sắc. Câu chuyện về bi kịch của một cặp vợ chồng trẻ, vợ người dân tộc, chồng là người gốc Hoa sống ở một làng biên giới 2 nước Việt-trung. Cặp vợ chồng này đã trở thành nạn nhân rất bi thương khi hai nhà nước có chiến tranh với nhau. Đầu năm 1979, Đài truyền hình trung ương nhập thiết bị truyền hình màu đầu tiên và làm thử chương trình màu. Lúc này Ban khoa giáo Đài truyền hình đã được “sếp” Hán tổ chức thành Trung tâm nghe nhìn trực thuộc Đài, chuyên sản xuất các chương trình văn hóa-xã hội-văn nghệ cho Đài. Chính nó là tiền thân của VTV3 sau này. Vở kịch “Người con gái bản Nà Lầu” được trung tâm nghe nhìn sản xuất. Đây là một trong những chương trình màu đầu tiên của Đài. Khi ghi hình vở kịch này trong trường quay, các chuyên gia kỹ thuật truyền hình màu Cộng hòa Dân chủ Đức – nước giúp ta thiết bị này – cũng có mặt. Vở kịch diễn ra khá sinh động. Đạo diễn Trần Đức, sắm vai tên sĩ quan Trung Quốc xâm lược rút súng bắng đoàng đoàng trên sân khấu… Một vị chuyên gia hỏi “sếp” Hán, ai là tác giả kịch bản này? “Sếp” Hán trỏ tay vào tôi, gã đàn ông gầy còm ốm yếu chưa đến 40 tuổi đang đứng ở một góc trường quay. Vị chuyên gia lại gần, bắt tay tôi, rồi nói (qua phiên dịch): ở đất nước chúng tôi, viết kịch cho Đài truyền hình quốc gia phải là những nhà văn nổi tiếng và đã lớn tuổi. Tôi giải thích: tôi chỉ là tác giả chuyển thể một truyện ngắn cùng tên của một nhà văn cùng tuổi với tôi. Nghe xong ông tỏ ý rất vui và kéo tôi ra hành lang trường quay chụp hình.
(Còn tiếp)
Đọc những phần khác ở trang Lời Ai Điếu

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đánh nhà báo rồi đánh ai nữa?



ĐỨC HIỂN
(PL)- Thương tích của nhà báo Quang Thế (báo Tuổi Trẻ) có thể chưa trầm trọng như Thế Dũng của Người Lao Động và hàng trăm nhà báo khác từng bị hành hung khi tác nghiệp bởi lâm tặc, côn đồ.

Nhưng sự việc này nghiêm trọng hơn nhiều so với các vụ việc trước đó. Bởi nó cho thấy sự coi thường pháp luật, coi thường nhân dân và công luận của một số kẻ nhân danh pháp luật. Bởi đây là một nhà báo bị tấn công ngay giữa nơi công cộng khi anh ta không có hành vi sai phạm, người tấn công là công an.

Điều 13 Luật Báo chí 2016 quy định: Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình. Báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ. Điều 9 Luật Báo chí quy định: Nghiêm cấm việc đe dọa, uy hiếp tính mạng, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của nhà báo, phóng viên; phá hủy, thu giữ phương tiện, tài liệu, cản trở nhà báo, phóng viên hoạt động nghề nghiệp đúng pháp luật.

Khi một nhà báo bị tấn công trong lúc hành nghề bởi nhân viên công lực, câu chuyện không chỉ dừng lại như một vụ xô xát. Không thể coi là xô xát khi tương quan rất bất bình đẳng giữa một nhà báo bình thường với một đội ngũ những người có quyền lực và công cụ hỗ trợ. Nó cho thấy ý thức pháp luật của lực lượng chấp pháp đang có vấn đề. Nó cho thấy sự coi thường pháp luật và lộng quyền của một bộ phận những người mặc sắc phục công an. Nó cũng cho thấy việc coi thường ấy tiếp diễn và tăng cấp là bởi những vụ việc trước đó không được xử lý nghiêm và chấn chỉnh trong phạm vi rộng.

Khi một nhà báo bị tấn công trong lúc hành nghề đúng pháp luật thì chủ thể bị thiệt hại không chỉ là cá nhân nhà báo hay cơ quan báo chí ấy. Tấn công nhà báo trong trường hợp này là xâm hại quyền tự do ngôn luận và quyền được biết của công chúng, hai nhóm khách thể được quy định tại Luật Báo chí và Luật Tiếp cận thông tin vừa được Quốc hội thông qua.

Quan điểm của đội phó Cảnh sát hình sự Công an huyện Đông Anh cho rằng việc đánh nhà báo Quang Thế chỉ là “thái độ không đúng” do “áp lực công việc” của một số cảnh sát trẻ lập tức bị dư luận phản ứng. Mỗi ngành nghề, mỗi cơ quan đều có những áp lực nhất định, nó đều được dự liệu. Mỗi cơ quan, tổ chức đều có những quy chuẩn hành xử mà thành viên của cơ quan, tổ chức ấy buộc phải chấp hành. Không thể nói là không biết, lỡ tay hay áp lực gì ở đây cả.

Khó mà cấm người dân suy diễn: Nhà báo tác nghiệp đúng pháp luật còn bị đánh như thế thì người dân ở nơi không ai chứng kiến sẽ bị đánh tới đâu? Tới đâu ư? Hôm 22-9 là phiên phúc thẩm vụ công an Tuy Hòa đánh chết dân trong nhà tạm giữ, cùng lúc xảy ra chuyện công an tấn công một PV VTC ở Đắk Lắk. Hôm 23-9 là phiên xử vụ CSGT quận Tân Bình gọi giang hồ đánh chết người dân cự cãi, các báo đưa tin cả vụ này và Quang Thế gần như cùng lúc. Có thể là tới vậy đó!

Vụ tấn công nhà báo Quang Thế vì vậy không thể dừng lại ở lời xin lỗi. Điều quan trọng, đây là dịp để lãnh đạo ngành công an xử lý, chấn chỉnh và nêu rõ quan điểm của mình trước rất nhiều dư luận sau những vụ việc đã xảy ra. Đây cũng là dịp để Hội Nhà báo TP.HCM và Hội Nhà báo Việt Nam bày tỏ thái độ của mình trong việc bảo vệ quyền hành nghề của nhà báo.

Hôm nay là nhà báo, ngày mai sẽ đến ai? Thật khó đoán định. Nhưng chắc chắn có một điều là nếu bạn chấp nhận sự lộng quyền xảy ra với người khác vào hôm nay thì nạn nhân ngày mai có thể là bạn.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Oan sai


Xứ này đã từng um lên về nhiều vụ oan sai, mà gần đây nhất là vụ ông Chấn Bắc Giang và ông Nén Bình Thuận. Những oan sai ấy được gỡ bỏ không phải là nhờ pháp luật công minh mà nhờ chính người nhà nạn nhân kiên trì theo đuổi đòi công lý cho thân nhân mình.

Tôi không có ý coi nhẹ vụ oan sai nào, ai bị oan sai cũng khổ. Nhưng xã hội đang khá nông nổi với tình trạng này. Những oan sai của ông Chấn, ông Nén thông thường chỉ ảnh hưởng tới một cá nhân, vài cá nhân, hoặc rộnghơn là một gia đình, dòng họ; còn có những vụ oan sai khác, thì khi hiểu lướt qua tưởng chỉ gây hậu quả cho một người cụ thể nào đó, nhưng thực chất là thiệt thòi của cả cộng đồng, thậm chí cả dân tộc.

Những án oan sai áp lên ông Vươn Tiên Lãng, ông Cù Huy Hà Vũ, ông Trương Duy Nhất, ông Hải Điếu Cày, và gần đây nhất là ông Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh chính là dạng oan sai thứ 2. Họ bị án tù, đồng nghĩa với việc những khát vọng chính đáng của số đông, của nhân dân về dân chủ, tự do, quyền con người bị dập tắt, vùi dập.

Dường như ngay cả nhà cai trị lẫn người dân đều vẫn chưa rút được bao nhiêu kinh nghiệm sau những vụ oan sai "lừng lẫy" như Cải cách ruộng đất, Nhân văn giai phẩm, Xét lại chống đảng, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Văn Trấn, Nguyễn Hộ... những năm trước kia. Lịch sử oan sai cứ lặp đi lặp lại.

Buồn ở chỗ, dư luận thường chỉ quan tâm đến dạng oan sai thứ nhất mà không dám bày tỏ gì về dạng thứ 2.

Nguyễn Thông

Phần nhận xét hiển thị trên trang