Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Sáu, 23 tháng 9, 2016

Người Nga nói thật về Chiến tranh Việt Nam


Cũng như không ai giấu diếm sự tham gia của các quân nhân chúng ta (Liên Xô) trong các hoạt động tác chiến tại Việt Nam.

Nhưng không phải của các phi công mà là của các chiến sỹ tên lửa. Khác với pháo cao xạ và MiG, người Việt Nam nắm bắt việc sử dụng tên lửa khó khăn hơn. Chính vì vậy mà ở giai đoạn đầu của cuộc chiến tranh (phá hoại bằng không quân của Mỹ -ND), chính các chiến sỹ tên lửa Liên Xô đã sử dụng S-75.

Những quả tên lửa S-75 đầu tiên được phóng trên lãnh thổ Việt Nam là vào ngày 25/7/1965 – các tổ hợp tên lửa của Trung đoàn tên lửa phòng không số 236 Quân khu phòng không Matxcova (đang có mặt tại Việt Nam) đã bắn hạ 03 chiếc F-4 “Con ma”.
Người Nga nói thật về Chiến tranh Việt Nam
Phi công Mỹ lắp vũ khí cho máy bay lên thẳng UH-1 chuẩn bị đánh nhau với các du kích Việt Cộng tại tỉnh Vĩnh Long, Nam Việt Nam, 18/3/1963 . (Ảnh: Horst Faas/AP)
Không quân Mỹ có vinh dự là Lực lượng không quân đầu tiên trên thế giới đối đầu với các đợt tấn công bằng tên lửa phòng không ồ ạt. Cho đến tận ngày cuối cùng của chiến tranh (Việt Nam) - phải nói rằng trên thực tế đã diễn ra một cuộc chiến thực sự giữa các bộ não của các Trung tâm nghiên cứu khoa học và các phòng thiết kế Xô Viết và Mỹ.
Chính họ (các nhà khoa học và thiết kế) là người góp phần quyết định ai mạnh hơn – không quân hay bộ đội tên lửa phòng không. Hiệu quả tác chiến rất cao thời kỳ đầu (tức là số lượng tên lửa phải sử dụng để tiêu diệt một máy bay) của S-75 đã giảm xuống nhiều lần do Mỹ sử dụng phương tiện tác chiến điện tử, tên lửa chống radar và các chiến thuật mới.
Mặc dù vậy, người Mỹ vẫn không thể nào giải quyết được vấn đề các tổ hợp tên lửa phòng không (của Bắc Việt Nam-ND). Đến nay, phía Mỹ đã chính thức thừa nhận tổn thất của Mỹ từ S-75 (sau đây lần lượt xếp theo các kiểu máy bay) như sau:
15 máy bay ném bom chiến lược B-52, 02 hoặc 03 máy bay ném bom chiến thuật F-111, 32 máy bay tiêm kích F-4, 08 F-105, 01 F-104, 11 F-8, 04 máy bay trinh sát RB-66, 05 RF-101, 01 O-2, 26 máy bay cường kích A-4, 09 A-6, 18 A-7, 03 A-3, 03 A-1, 01 AC-130, 01 máy bay vận tải C-123, 01 máy bay lên thẳng CH-53.
Thiệt hại trên thực tế chắc chắn phải cao gấp nhiều lần (số lượng tối đa máy bay Mỹ bị các tổ hợp tên lửa phòng không (Bắc Việt Nam-ND) bắn rơi -1.770 chiếc), nhưng bây giờ thì đã rất khó xác định (và cũng không nhất thiết phải làm thế).
Tổng cộng từ năm 1965 đến năm 1972 Liên Xô đã cung cấp cho Việt Nam 95 tiểu đoàn (cơ số đạn và tổ hợp phóng –ND) S-75 và 7.658 quả tên lửa phòng không.
Đến cuối chiến tranh đã có 6.806 quả đạn đã sử dụng và bị mất (trên lãnh thổ Trung Quốc), lực lượng còn sẵn sàng chiến đấu đến thời điểm kết thúc chiến tranh – 43 tiểu đoàn.
Ngoài ra, vào giai đoạn cuối chiến tranh chống Không quân Mỹ, tổ hợp tên lửa phòng không vác vai “ Strela-2” cũng được bắt đầu sử dụng. Từ đầu năm 1972 đến tháng 01/1973, các chiến sĩ cộng sản Việt Nam đã dùng “Strela-2” bắn hạ 29 máy bay Mỹ (01 F-4, 07 O-1, 03 O-2, 04 OV-10, 09 A-1, 04 A-37) và 14 máy bay lên thẳng ( 01 CH-47, 04 AH-1, 09 UH-1).
Ngoài các chiến sỹ tên lửa phòng không Liên Xô, đặc nhiệm GRU (Tổng cục Tình báo quân sự Bộ Tổng tham mưu Các lực lượng vũ trang Liên Xô-ND) cũng tham gia chiến đấu tại Việt Nam, tuy không được công bố công khai nhưng cũng không ai giấu diếm thái quá.
Ví dụ, tháng 5/1968 một nhóm đặc nhiệm GRU gồm 9 người đã tấn công một căn cứ bí mật của Mỹ trên lãnh thổ Campuchia có biệt danh “Flying John” được sử dụng để tung các nhóm gián điệp- biệt kích vào Bắc Việt Nam và cứu các phi công của các máy bay Mỹ bị bắn hạ.
Trong căn cứ này có gần 20 máy bay lên thẳng, trong đó có 04 chiếc máy bay lên thẳng tấn công mới nhất thời kỳ đó là “ SuperCobra”. Tuy bị hy sinh 03 người, nhưng đặc nhiệm GRU đã đưa được 01 chiếc “Super Cobra” về Bắc Việt Nam, phá hủy hoặc phá hỏng những chiếc còn lại, giết và làm bị thương 15 quân nhân Mỹ. Còn bao nhiêu chiến dịch như vậy, rất khó xác định.
Con số tổn thất trong tác chiến của Các lực lượng vũ trang Liên Xô trên lãnh thổ Việt Nam trong giai đoạn từ tháng 7/1965 đến cuối năm 1974 được công nhận chính thức là 13 người.
Nhưng tất nhiên, chính người Việt Nam mới là người giành chiến thắng trong chiến tranh. Giai đoạn bước ngoặt của cuộc chiến có lẽ là năm 1968. Lần đầu tiên trong lịch sử người ta mới “ngộ” ra rằng, những hình ảnh trên truyền hình về chiến tranh có khi còn quan trọng hơn cả chính chiến tranh.
Người Nga nói thật về Chiến tranh Việt Nam
Máy bay C-123 rải chất diệt cỏ tại các địa điểm đóng quân của bộ đội Việt Nam ("cộng sản") tại một khu vực giữa Sài gòn và Đà lạt tại Miền Nam Việt Nam, 02/8/1963. (Ảnh: Horst Faas/AP Photo)
Ngày 30/01/1968, 84.000 du kích Nam Việt Nam và các chiến sỹ Bắc Việt đã bắt đầu cuộc Tổng tấn công “Tết Mậu thân”, công kích mãnh liệt 36 trong 43 tỉnh lỵ Nam Việt Nam. Các chiến sĩ cộng sản đã chiếm cố đô Huế, những trận chiến ác liệt diễn ra ngay trên các đường phố Sài gòn.
Toàn nước Mỹ được tận mắt chứng kiến những hình ảnh này trên màn hình TV ngay trong nhà của mình. Và đến lúc này thì không ai và không cái gì có thể thuyết phục được người dân Mỹ nữa – mọi công dân Mỹ đã hiểu rằng người Mỹ đã thua và cần phải nhanh chóng chấm dứt cuộc chiến.
Đến đầu năm 1968 thì lực lượng của Quân đội Mỹ, Quân đội Việt Nam Cộng hòa, Quân đội Úc, Quân đội Nam Hàn đang có tại Nam Việt Nam là 17 sư đoàn bộ binh, 02 sư đoàn lính thủy đánh bộ, 02 sư đoàn kỵ binh (đường không) – tổng cộng 1,4 triệu tay súng (trong đó có hơn nửa triệu quân Mỹ- chính xác hơn là 550.000 ), 500 xe tăng, 4.500 khẩu pháo, 4.100 máy bay và máy bay lên thẳng.
Chiến dịch Mậu Thân này đã làm suy yếu rất mạnh tiềm lực tác chiến của những người cộng sản. Nhưng bản thân một cuộc tấn công quy mô lớn như vậy (vào các đô thị lớn –ND) cũng làm cho tâm lý –tinh thần của người Mỹ suy sụp không kém.
Không những thế, một nhóm (đại đội-ND) binh sỹ Mỹ của sư đoàn bộ binh số 23 dưới sự chỉ huy của trung úy Calley đã thảm sát dân thường tại làng Mỹ Lai (Sơn Mỹ- nổi tiếng toàn thế giới với cái tên này). Quân nhân Mỹ đã sát hạt toàn những người dân thường vô tội.
Các quân nhân của quân đội chính quy (Mỹ-ND) không có kinh nghiệm tác chiến chống du kích, hơn nữa là chống lại một đối phương cực kỳ thông minh và cũng cực kỳ cứng rắn như những người du kích cộng sản Việt Nam, - họ (những người du kích -ND) chiến đấu trong những điều kiện tự nhiên, khí hậu địa hình quen thuộc (của họ) nhưng lại hoàn toàn xa lạ đối với quân Mỹ.
Vụ thảm sát Sơn Mỹ đã tạo ra những sự thay đổi lớn trong Các lực lượng vũ trang Mỹ . Lầu Năm góc buộc phải ra một sắc lệnh yêu cầu các quân nhân Mỹ phải tuyệt đối tuân thủ các chuẩn mực của luật chiến tranh. Nhưng điều đó đã quá muộn. Uy tín của Quân đội Mỹ đã sụp đổ trong con mắt của toàn thế giới và ngay chính cả trong nhân dân Mỹ.
Nhưng vấn đề chính của người Mỹ lúc này không chỉ còn là sự xâm nhập của lính Bắc Việt vào Miền Nam mà còn là sự tha hóa ngay từ bên trong. Cũng chỉ trong năm 1969, 37 sỹ quan và hạ sỹ quan Mỹ đã bị chính các binh sỹ dưới quyền bắn (giết) chết.
Trước đây trong Quân đội Mỹ chưa từng có trường hợp nào như vậy. Còn ngay trong lòng nước Mỹ thì hiện tượng lính quân dịch (nghĩa vụ- ND) đào ngũ và các hoạt động phản chiến của nhân dân Mỹ đã trở thành một phong trào không thế nào ngăn chặn được.
Cuộc chiến tranh thông tin đã thất bại hoàn toàn (đối với Chính quyền Mỹ) và chính vì thế mà những thắng lợi quân sự (trong năm 1969) đã không còn một chút ý nghĩa nào.
Chính quyền Mỹ nhận thức được rằng trong một đất nước “dân chủ” thì không thể sử dụng một đội quân “nghĩa vụ” để tiến hành một cuộc chiến tranh mà dư luận xã hội (của đất nước đó-ND) không thể chấp nhận (cuộc chiến tranh đó-ND).
Đây là lý do vì sao mà ngay sau khi kết thúc cuộc chiến tranh Việt Nam, Chính quyền Mỹ đã bãi bỏ chế độ quân dịch và xây dựng Quân đội chuyên nghiệp.
Súng máy Gutling lắp trên F-4 để tấn công MiG,17/5/1967. (Ảnh:
Súng máy Gutling lắp trên F-4 để tấn công MiG,17/5/1967. (Ảnh: AP)
Những thử nghiệm trong hơn 50 năm qua cho thấy (ví dụ gần đây nhất là Iraq và Pakistan) là một quân đội đánh thuê (chuyên nghiệp-ND) không thể tiến hành chiến tranh, nếu như không được dư luận xã hội của nước mình chấp nhận (cuộc chiến tranh đó- ND).
Có nghĩa là nếu như một đất nước nào đó có dân chủ thì đất nước đó chỉ có thể tiến hành một kiểu chiến tranh duy nhất – đó là một cuộc chiến tranh phòng thủ chính nghĩa (hoặc là không có một cuộc chiến tranh nào).
Nếu như chính phủ muốn tiến hành một cuộc chiến tranh kiểu khác thì họ buộc phải lựa chọn giữa chiến tranh hoặc dân chủ hoặc là phải học được cách đánh nhau mà không có tổn thất (đây là tư duy của tác giả - ông là người rất phản đối thành lập một đội quân chuyên nghiệp-ND).
Trong các năm 1970 -1971, người Mỹ đã tiến hành các đợt đột kích sang lãnh thổ Lào và Campuchia nhằm cắt đứt tuyến chi viện từ Bắc vào Nam. Cuộc tấn công vào Campuchia mang lại một số kết quả hạn chế, nhưng vụ can thiệp vào Lào đã thất bại thảm hại. Sau các sự kiện đó, Hà nội quyết định là phải giải quyết dứt điểm vấn đề.
Ngày 31/3/1972, một đội quân Bắc Việt Nam quân số không ít hơn 40.000 người và 400 xe tăng – thiết giáp đã tấn công Nam Việt Nam.
Đây thực sự là một cuộc chiến tranh cổ điển điển hình giữa các quân đội chính quy. Sau nhiều trận giao tranh ác liệt, Lực lượng cộng sản đã chiếm được một vùng lãnh thổ rộng lớn ở phía Bắc Nam Việt Nam nhưng cũng chịu tổn thất nặng. Đến nỗi mà thời điểm mà Hà nội lên kế hoạch “Tổng tiến công” được xác định là vào tận năm 1976 (tức 4 năm sau đó).
Nhưng trên thực tế, những người cộng sản Việt Nam đã đạt những điều mình muốn (qua đợt tấn công này-ND), Mỹ buộc phải quyết định rút hoàn toàn lính Mỹ ra khỏi Việt Nam. Tuy nhiên trước khi (ra khỏi nhà) rút người Mỹ cũng đã đóng sập cửa rất mạnh bằng cách tiến hành một đợt không kích ồ ạt chống lại Bắc Việt Nam (chiến dịch “Linebacker-2”) và tự tuyên bố là đã chiến thắng để giữ thể diện.
Trong chiến dịch này Mỹ đã ném xuống Bắc Việt Nam gần 50.000 tấn bom, phá hủy 1.600 công trình. Nhưng cũng trong chiến dịch này Không quân Việt Nam, tuy mất 03 chiếc MiG-2 1 những đã hạ 02 B-52, 04 F-4, 01 RA-5C.
Các tổ hợp tên lửa phòng không S-75 đã bắn hạ, theo các số liệu khác nhau là từ 15 đến 32 B-52, 02 F-111, 02 F-4 trong khi chịu tổn thất là 01 tiểu đoàn (tên lửa phòng không S-75). Có lẽ vì thế mà cái gọi “ chiến thắng” mà Mỹ tự nhận trong chiến dịch này hoàn toàn không thuyết phục một chút nào.
Đầu năm 1973, Hiệp định Paris được ký kết, Mỹ phải rút quân khỏi Việt Nam. Trong cuộc chiến tranh này, Mỹ đã phải trả giá bằng 58.169 binh sỹ và sỹ quan thiệt mạng hoặc mất tích, hơn 200 xe tăng, 3.700 máy bay, 4.800 máy bay lên thẳng, hàng trăm tỷ đô la “cuốn theo chiều gió” và một cú sốc tâm lý cực mạnh.
Người Mỹ rút đi nhưng để lại cho Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa một khối lượng vũ khí khổng lồ.
Quân đội Nam Việt Nam về mặt hình thức đã là một trong những quân đội mạnh nhất trên thế giới (nếu tính về số lượng máy bay chiến đấu thì Quân đội này đứng thứ ba trên thế giới, chỉ sau Quân đội Mỹ và Quân đội Liên Xô) và hơn Quân đội Bắc Việt Nam nhiều lần nếu tính về quân số và vũ khí- trang bị kỹ thuật. Nhưng điều đó đã không còn ý nghĩa gì nữa.
Số phận Chính quyền Nam Việt Nam đã được định đoạt, và có lẽ những người (cầm quyền) ở Sài gòn có khi còn hiểu rõ hơn là ở Hà Nội. (Những người cầm quyền) ở Sài Gòn hiểu rằng người Mỹ sẽ không bao giờ quay trở lại và chỉ còn chờ ngày kết thúc. Yếu tố tâm lý tỏ ra quan trọng hơn nhiều so với số lượng và chất lượng vũ khí.
Nhờ có các căn cứ ở Lào và Campuchia mà quân Bắc Việt có thể tấn công lãnh thổ Nam Việt Nam đồng thời trên toàn bộ tuyến biên giới (với hai nước này).
Tháng 3/1975, khi Khi quân Bắc Việt tấn công Tây Nguyên, Sài Gòn cho rằng đây là một cuộc tổng tấn công nhằm chia cắt Nam Việt Nam thành hai phần. Vì thế họ đã tập trung lực lượng quanh thủ đô (Sài Gòn), gần như tự nguyện nhường toàn bộ phía Bắc (Nam Việt Nam-ND) cho lực lượng cộng sản.
Nhưng bất hạnh (đối với Chính quyền Sài Gòn –ND ) là ở chỗ chính khu vực phía Bắc (Nam Việt Nam-ND) lại là nơi tập trung những lực lượng tinh nhuệ nhất của Quân đôi Sài Gòn. Cuộc “di tản” các lực lượng này đã nhanh chóng biến thành một cuộc tháo chạy hỗn loạn.
Nắm được thời cơ, Hà Nội không còn một chút do dự gì nữa, tất cả các mặt trận đồng loạt tấn công và lúc này thì không ai và không cái gì có thể ngăn cản nổi. Quân đội Việt Nam Cộng Hòa tan rã. Đúng 11 giờ trưa ngày 30/4/1975, lá cờ có ngôi sao vàng được kéo lên trên đỉnh nóc Dinh tổng thống ở Sài Gòn.
Xét tổng thể, nếu tính từ góc độ những hệ quả địa chiến lược và tầm ảnh hưởng đối với nghệ thuật quân sự (thế giới-ND) thì cuộc chiến tranh Việt Nam chỉ đứng sau hai cuộc chiến tranh thế giới trong thế kỷ XX (Chiến tranh thế giới lần thứ nhất và Chiến tranh thế giới lần thứ hai-ND).
Sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc thì hình thái chiến tranh cổ điển này càng lùi sâu vào quá khứ. Thay thế hình thái chiến tranh này (chiến tranh cổ điển-ND) là cuộc chiến tranh công nghệ cao và phương án đáp trả phi đối xứng đối với nó (công nghệ cao-ND) là các cuộc chiến tranh nổi dậy (du kích-khủng bố).
Ngoài ra, chiến tranh thông tin ngày càng có ý nghĩa quan trọng, đôi khi còn thay thế hoàn toàn các hình thái chiến tranh khác.
 Theo Lê Hùng (lược dịch)
Đất Việt

Phần nhận xét hiển thị trên trang

31 bức ảnh về chiến tranh Việt Nam mà bạn có thể chưa bao giờ nhìn thấy


Chiến tranh Việt Nam, những hình ảnh ghi lại một thời bom đạn đã lấy đi xương máu của biết bao người con đất Việt. Những bức hình được chia sẻ trên mạng xã hội sau đây có thể cho bạn một cái nhìn ở góc độ khác về lịch sử. Trong sự đau thương và khốc liệt của chiến tranh, đâu đó vẫn hiện lên tình người ấm áp.
 
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trâu Thiến - Truyện Ngắn Hay của Mạc Ngôn | Trò Chuyện Đêm Khuya

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Một đạo diễn lừng danh cả đời khốn đốn giữa vinh quang và cay đắng


Andrei Tarkovsky, đạo diễn lừng danh của Điện ảnh Nga và Thế giới sinh năm 1932. Tốt nghiệp Khoa đạo diễn Đại Học Điện ảnh Quốc Gia Liên Bang Nga ( gọi tắt là VGIK ). Với bộ phim đầu tay Tuổi thơ Ivan”  nhận ngay Giải Sư Tử Vàng tại LHP Venise ( Italy ) năm ông 30 tuổi. Ông bắt tay soạn thảo kịch bản và dàn dựng bộ phim sử thi 3 tập Andrei Rubliov” mang tên người họa sỹ vẽ tranh thánh cho các ngôi nhà thờ Chính thống giáo ở Nga. Phim đề cập tới mối quan hệ giữa chính trị và nghệ thuật, giữa người nghệ sỹ và nhà cầm quyền… Có lẽ vì thế nên bộ phim này gặp rất nhiều trắc trở!



ANDREI TARKOVSKY: VINH QUANG VÀ CAY ĐẮNG

TÔ HOÀNG

…Andrei Tarkovsky thuộc lớp đạo diễn điện ảnh khẳng định như những nghệ sỹ vào một thời kỳ ngắn ngủi nhưng rất may mắn mà bây giờ người ta quen gọi bằng mấy chữ “ Thời kỳ ấm nóng lại”. Thuở ấy trên màn ảnh của đất nước cũng đã chiếu rộng rãi các bộ phim như “ Số phận một con người”, “ Bài ca người lính”, “ Nhà tôi ở”, “ Hai Phedo”, “ Đàn sếu bay”, “ Bài thơ biển cả”, “ Hòa bình cho người mới vào đời” và những phim khác.. Nhiều bộ phim như “ Chín ngày trong một năm”, “ Nếu đó là tình yêu” cũng sắp sửa được phát hành. Vào đầu những năm 1960, ngay sau khi tốt nghiệp Trường Đại học Quốc gia Điện ảnh Toàn Liên bang ( VGIK) bắt tay vào dàn dựng những bộ phim mới là lớp đạo diễn còn rất trẻ: A.Kontsalovsky, E. Klimov, V.Suksin, L.Sepitko, A.Santưkov, A.Mitta, E.Senghelaia, B.Masurov, G.Danheli, I.Talankin, V.Zalakiavitsus, V.Skuibin…Đó là sự phục sinh thật sự của nghệ thuật điện ảnh.Nó biểu lộ không khí tinh thần của thời đại và trong một mức độ đáng kể tạo nên ý thức xã hội.
Vào năm 1962 trên màn ảnh đất nước công chiếu phim “ Tuổi thơ Ivan” của A.Tarkovsky. Thậm chí dù được chiếu cùng lúc với nhiều bộ phim khác của những năm tháng đó, “ Tuổi thơ Ivan” vẫn gây ấn tượng mạnh, ở cả người xem lẫn các nhà điện ảnh chuyên nghiệp. Giới điện ảnh tiếp nhận tác phẩm đầu tay của A.Tarkovsky vô điều kiện; họ hiểu rằng trong lĩnh vực điện ảnh của xứ sở vừa xuất hiện một nghệ sỹ tầm cỡ với cách cảm thụ thế giới rất riêng, với phong cách riêng.Người xem thì ngạc nhiên vì trong phim của đạo diễn trẻ này có gì đó không giống với những bộ phim họ đã xem;vì cái lạ của sự độc đáo trong hình tượng thị giác kết bện giữa chất tài liệu với chất nghệ thuật; giữa cái thực và cái mơ; giữa hồi ức và sự thật nghiệt ngã của chiến tranh. Trong bộ phim mọi điều càng đạt tới độ hài hòa hơn do công sức của nhà quay phim V.Yusov và nhà soạn V. Ovtsinhikov góp phần.Tại Venise bộ phim “ Tuổi thơ Ivan” được trao giải “ Sư tử vàng thánh Mark “.
Mọi điều diện ra dường như rất suôn sẻ, A.Tarkovsky được cổ súy bởi thành công của bộ phim đầu tay đã cùng với A.Kontsalovsky bắt tay viết kịch bản phim “ Chặng đường đầu tiên” ( về nhà danh họa Nga Andrei Rubliov ). Nhưng trong thời gian này điện ảnh đã bắt đầu chịu những đòn phản công dữ dội. Nào bị buộc tội rơi vào “ chủ nghĩa nhân đạo trìu tượng”, “căn bệnh hòa bình chủ nghĩa”, sa vào “ngõ cụt không lối thoát”, tạo ra “sự đối kháng giữa các thế hệ”, “ bắt chước chủ nghĩa hậu hiện đại tư sản” và nhiều nhiều “ kiểu mũ” khác. Trong phạm vi bài viết này không có chỗ để phân tích cho đầy đủ những nguyên do dẫn đến tình trạng vừa nói. Chỉ biết rằng hoàn cảnh ấy ảnh hưởng nặng nề tới kịch bản của A.Tarkocsky và A.Kontsalovsky. Có thể nói kịch bản ra đời trong hoàn cảnh về cơ bản là hoàn toàn không thuận lợi.Người ta kết án kịch bản xa rời thực tại, đào sâu vào quá khứ. Và không ai giơ tay tán đồng đưa kịch bản này vào sản xuất.
Hai tác giả gửi thư trần tình tới Phân ban Điện ảnh ( vừa ra đời vào năm 1963) trực thuộc Cơ quan tư tưởng của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô ( đứng đầu là A.V Romanov, cũng đồng thời là Chủ tịch Ủy ban Điện ảnh của Hội đồng nhà nước ). Một cuộc thảo luận diễn ra khá kỹ càng tại Phân ban Điện ảnh xung quanh kịch bản và việc sẽ đưa nó vào sản xuất hay không.G.I Kynhitsin điều hành cuộc thảo luận này. Ông hiểu sâu sắc ý tưởng của kịch bản phim và là người nhiệt thành nhất ủng hộ việc biến kịch bản thành phim. Tôi ( 1 ) vẫn nghĩ rằng nếu không có sự ủng hộ ấy, bộ phim bây giờ vẫn còn nằm nguyên trên giấy.Trong buổi thảo luận ấy lần đầu tiên tôi làm quen với A.Tarkovsky. Tôi ngạc nhiên vì niềm tin sắt đá của anh vào sự đúng đắn trong những ý định của mình;vì khả năng đặc biệt diễn tả bằng lời những lý giải phức tạp của bộ phim tương lai.Đối với tât cả chúng tôi-những ai có mặt trong buổi thảo luận hôm ấy đều không hề hoài nghi chúng tôi đang có công việc với một tác phẩm tầm cỡ. Phân ban Điện ảnh đã phát biểu ý kiến hoàn toàn xác đáng về khả năng biến kịch bản thành phim, tuy rằng cũng đề nghị các tác giả sửa chữa một số đoạn liên quan tới sử sách. Ý kiến này được L.F Ilistsev-vào thời kỳ đó là Bí thư Ban Chấp hành T.Ư Đảng Cộng sản Liên Xô ủng hộ.
Vào năm 1966 việc dàn dựng bộ phim “Andrei Rubliov” kết thúc.Phân ban Điện ảnh thấy rằng cần phải thảo luận về bộ phim vừa xuất xưởng. Những tên tuổi của nền Điện ảnh đất nước như X.Gherasimov, X.Yutkevist, G.Chukhrai, G.Rosan, L.Arnstam, X. Rostovsky, M.Khusiev đều đánh giá cao bộ phim. Đồng thời cũng chỉ ra phim cần tước bỏ đi một số chi tiết phạm lỗi tự nhiên chủ nghĩa. Đạo diễn đồng ý sẽ sửa chữa. Ấy thế nhưng những tin đồn đại về một bộ phim không bình thường nhanh chóng truyền lan như tuyết đổ ngày đầu đông. Giữa những người hoạt động điện ảnh cũng không ít những kẻ thiếu thiện chí, căm ghét việc làm trong sạch trong công tác tư tưởng. Còn chính trong giới điện ảnh cũng không ít những kẻ hoạt đầu tỏ thái độ ghen tức với bộ phim của Andrei Tarkovsky.Vào thời điểm ấy lại xuất hiện bài viết đổ thêm dầu vào lửa trên tờ “ Moskva buổi chiều”tựa như phim bị kiểm duyệt, cắt xén ngay trong khi đang ghi hình.Tất cả những việc như vậy đương nhiên đến tai những người lãnh đạo. Trong những căn phòng nhỏ nẩy sinh ý kiến rằng “ Andrei Rubliov” là bộ phim xuyên tạc lịch sử, đối nghịch với nước Nga, thâm độc, thậm chí có hại.Ủy ban điện ảnh nhà nước buộc phải trả bộ phim về tình trạng chưa hoàn thiện.
Andrei Tarkovsky dũng cảm tiếp tục giải thích, chứng minh nhưng số người lắng nghe, hiểu anh không nhiều.Những ai đồng tình với anh thì trở về giữ thái độ im lặng.Mỗi người theo đuổi suy nghĩ riêng của mình. Hình thành một tình thế không bình thường.Đã diễn ra một sự náo loạn trong buổi chiếu phim này ở Nhà Điện ảnh khiến tình thế càng thêm căng thẳng.Người ta yêu cầu đạo diễn phải cắt bỏ chỗ này, bổ xung chỗ kia. Vào tháng hai năm 1967 Andrei Tarkovsky gửi một bức thư cho A.V Romanov. Một bản sao của bức thư này được chuyển cho tôi với dòng chữ viết thêm: “ Đồng chí Phillip Timopheevist.Tôi gửi tới ông bản sao bức thư tôi gửi tới A.V Romanov. Để ông biết và với hy vọng ông sẽ giúp đỡ tôi trong hoàn cảnh phức tạp này. Andrei Tarkovsky”.
Tôi đánh giá cao bộ phim này, nhưng vào thời điểm ấy ý kiến của cá nhân tôi không thể là đại diện cho sự đánh giá bộ phim. Ý kiến quyêt định được hình thành từ những kênh khác , lúc thế này lúc thế kia, nhưng tuyệt nhiên không có sự nhân nhượng.Tôi gặp A.V Romanov. Ông tỏ ra khá lung túng trước cả số phận của bộ phim lẫn bức thư của Andrei Tarkovsky. Ông cho rằng bộ phim cần phải được sửa chữa, bởi trong phim có nhiều tình huống dễ làm sai lạc cảm thụ toàn bộ tác phẩm.của người xem. A.V Romanov một lần nữa đề nghị đạo diễn suy nghĩ về những gì cần phải sửa chữa, bổ xung. Nếu Andrei làm được như thế người xem sẽ hiểu bộ phim đúng đắn hơn.
Hình như cũng trong hôm ấy G.Tsukhrai có việc tìm đến gặp tôi. Trong câu chuyện trao đổi giữa chúng tôi có động chạm tới phim” Andrei Rubliov”. G.Tsukhrai nói như đinh đóng cột rằng bộ phim ấy hoàn toàn không cần sửa chữa, bổ xung điều gì cả.
Trong những ngày ấy tại Hội Điện ảnh diễn ra cuộc họp của Tiểu ban phim truyện.Các đạo diễn gay gắt phát biểu,tỏ ra không hài lòng về một số mặt công tác của Ủy ban điện ảnh, đặc biệt trong cách nhìn nhận, đánh giá các bộ phim nghiêm túc. Tại cuộc họp này Andrei Tarkovsky cũng phát biểu. Anh nói tới sự cô lđộc tuyệt đối của giới nghệ sỹ điện ảnh. Quan hệ giữa anh và giới lãnh đạo-theo cách nghĩ của anh,đã trở thành quan hệ đối kháng khi họ đã coi anh là kẻ cứng đầu, cả anh lẫn phim của anh cũng không cần cho họ nữa.
Tình thế càng trở nên căng thẳng.Tôi lại gặp Andrei Tarkovsky. Có thể hiểu tình trạng anh bị rơi vào lúc đó: Phim không được tiếp nhận, viễn cảnh mờ mịt, cũng không bên nào chịu thương lượng với bên nào. Tôi muốn an ủi, động viên anh, nhưng an ủi như thế nào và an ủi điều gì đây? Trong thời gian này vai trò của tôi quá nhỏ bé.Tôi chỉ có thể nói với anh ta rằng tôi hiểu ý định tốt đẹp của bộ phim và sẽ trợ giúp anh.Tôi tìm tới I.T Phrolov, khi đó đang là trợ lý của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô. Anh ta cũng là người ủng hộ phim “ Andrei Rubliov”. Hai chúng tôi thuyết phục để P.N Demitsev xem bộ phim này và tham gia ý kiến vào việc bảo vệ nó, bởi lẽ việc không cho bộ phim chiếu trên màn ảnh không mang lại lợi lộc gì, trái lại sẽ làm ô nhiễm bầu không khí đang trong lành trở lại.Trong những ghi chép của tôi vào ngày 16 tháng 3 năm 1967 có trích những nhận xét của P.N Demitsev về phim “ Andrei Rubliov”, về thực chất, ông ta đã tỏ ý phê phán bộ phim này. Sự việc được kết thúc tại một cuộc hội nghị quan trọng của Ban Chấp hành Tư Đảng cộng sản Liên Xô diễn ra trong những ngày đầu tháng tư năm 1967. Tại cuộc hội nghị này người ta phê phán gay gắt không chỉ bộ phim “ Andrei Rubliov” mà nói chung là toàn bộ tình hình điện ảnh xứ sở lúc đó.Dự định của I.S Tsernoytsan-Phó Phân ban Văn hóa trực thuộc Đảng Cộng sản Liên Xô sẽ làm cho người ta thay đổi nhận thức cũng như việc đánh giá bộ phim cũng không mang lại kết quả gì.
Phim “ Andrei Rubliov” phải nằm trên giá một thời gian khá dài. Không một kiến nghị nào, một biện minh nào được tiếp nhận.Mãi sau này tôi may mắn được nghe giải thích rằng tất cả đều xuất phát từ M.A Xuslov-người vừa trở thành nhà tư tưởng chủ yếu của đất nước.
Phải đợi mãi tới đầu năm 1969 khi sắp tới dịp kỷ niệm lần thứ 50 ngày Điện ảnh Xô Viết ra đời P.N Demitsev trong buổi gặp gỡ với A.V Romanov và L.A Kulitzanov khi bàn tới việc cho chiếu “ Andrei Rubliov” mới tuyên bố rằng cần phải cho chiếu, cho quảng cáo rộng rãi và có thể bán bộ phim này cho các chủ phim ở nước ngoài.
Vâng, phải đến thời điểm đó “ Andrei Rubliov” mới có những bước đi cụ thể cho việc chiếu bộ phim này rộng rãi trên màn ảnh.
Tiếp theo diễn ra những gì chưa từng thấy bao giờ. Cơ quan phát hành phim Nga-Xô Viết đã bán bộ phim này cho một hãng phim Pháp để phát hành. Người Pháp cho chiếu “ Andrei Rubliov” tại LHP Cannes thường kỳ diễn ra vào năm 1969 và nhận được giải thưởng của Ban Giám khảo báo chí. Giới báo chí nước Pháp và không chỉ báo chí Pháp phản ứng với bộ phim bằng những lời khen ngợi, cổ vũ nồng nhiệt. Sự đón nhân “ Andrei Rubliov” trở thành một ngày hội, tuy ngày hội ấy chỉ không diễn ra ở nước Nga-Xô Viết.Bản thân việc chiếu bộ phim này ở LHP Cannes và việc người ta trao giải cho nó đã khơi lên sự giận dữ. Romanov và Phân ban Văn hóa bị phê phán về việc bán phim cho nước ngoài.Cả Demitsev cũng bị phê phán vì sự “vô trách nhiệm”. Và “ Andrei Rubliov” đã khơi mở được con đường đến với người xem nay lại bị cấm. Chúng tôi vừa mới chia vui với đạo diễn nay lại như “ há miệng mắc quai”. A.Tarkovsky cay đắng kể cho tôi nghe câu chuyện một nhà thơ nổi tiếng rất muốn làm vụ cấm đoán này om xòm lên để ở nước ngoài biết tới.Bản thân A.Tarkovsky tuyệt nhiên không tán đồng kiểu phản ứng như vậy. Anh muốn làm việc và nài nỉ tôi đọc cuốn tiểu thuyết “ Soliarit” của nhà văn Ba Lan S.Lem.
 Anh kể cho tôi nghe những gì anh đã nghĩ tới nếu cuốn sách này được dựng thành phim.Tôi đã đọc và hoàn toàn ủng hộ anh. Andrei Tarkovsky bắt tay viết kịch bản. Tại Pháp “ Andrei Rubliov” bắt đầu cuộc du ngoạn qua các màn ảnh, dù về phía Xô Viết vi phạm hợp đồng đã không cung cấp cho phía Pháp những bản phim in tiếp…
 ( Từ báo “Văn hóa Xô Viết tháng 9/1989 )

Ghi Chú:
(1)Tôi: Phllip Ermas-nguyên cán bộ cao cấp phụ trách điện ảnh Nga-Xô Viết vào những năm 1960-1970.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Viết cho Nguyễn Hữu Vinh


PHẠM XUÂN NGUYÊN (nhà văn, Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội)

Với mình anh gọi Ba Sàm
Với dân với nước anh làm thông tin

Giữa thời nhũng loạn niềm tin
Anh đưa ra một hướng nhìn hướng nghe
Giữa thời thật giả bạn bè
Dân quyền anh muốn vỉa hè lạ quen
Giữa thời hỗn độn trắng đen
Anh ngồi chép sử trước đèn Việt Nam

Với mình anh gọi Ba Sàm
Với dân với nước anh làm thông tin

Phạm Xuân Nguyên
Sài Gòn 23h43, 23/3/2016
Ngày xử án sơ thẩm Ba Sàm.
(theo Facebook Phạm Xuân Nguyên, https://www.facebook.com/photo.php?fbid=1215084225214977&set=a.531204876936252.1073741828.100001402346694&type=3&theater)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Người phụ nữ mất tích 8 năm kể lại quãng đời tủi nhục bên Trung Quốc


Dân trí Suốt 8 năm bị bán sang làm vợ xứ người, chị Ngọc bị cả chồng cùng bố chồng đánh đập, hành hạ, ăn đói, mặc rách. Nhiều lần bỏ trốn nhưng không thành, chỉ đến khi chính người chồng của chị đưa chị đến cửa khẩu đuổi về, chị mới thoát “địa ngục trần gian”.

Tưởng đi làm thuê rồi bị bán luôn

Đó là câu chuyện của chị Phạm Thị N. (SN 1983, ở xã Thiệu Tiến, Thiệu Hóa, Thanh Hóa). Người phụ nữ mới ngoài 30 tuổi nhưng có lẽ 8 năm khốn khổ ở xứ người khiến chị già đi cả chục tuổi.
Đã gần 2 tháng trở về Việt Nam rồi thế nhưng mỗi khi nhắc về câu chuyện bị bán sang Trung Quốc làm vợ, chị N. vẫn rùng mình. Điều khiến chị đau đớn và lưu luyến duy nhất là 2 đứa con của chị sinh ra từ cuộc hôn nhân mua bán, không giá thú với người chồng Trung Quốc.
Mỗi lần nhớ con, chị chỉ biết khóc. Người đàn bà ấy bất lực vì sau những trận đòn roi ở xứ người, sức khỏe chị yếu hẳn, đầu óc lúc nhớ, lúc quên. Ngay cả tên mảnh đất nơi chị ở 8 năm qua chị cũng không nhớ và không biết là gì. Chị chỉ nhớ đó là một vùng quê nghèo hẻo lánh của Trung Quốc.

Sau 8 năm bị bán sang xứ người, điều khiến chị N. lưu luyến nhất là 2 đứa con do chị dứt ruột đẻ ra.
Sau 8 năm bị bán sang xứ người, điều khiến chị N. lưu luyến nhất là 2 đứa con do chị dứt ruột đẻ ra.
Nhớ lại câu chuyện 8 năm về trước, chị kể: “Vào một ngày cuối tháng 11/2009, chị đang làm thuê cho một gia đình ở xã Thiệu Giao (Thiệu Hóa, Thanh Hóa) thì được một người phụ nữ tên T. làm cùng chị rủ về nhà chơi vài ngày. Nhà người phụ nữ này cũng ở xã Thiệu Giao. Chị nhận lời về chơi và ăn cơm ở đó.
Vào buổi tối, chị được người chồng người phụ nữ tên T. nói có muốn đi làm thuê ở chỗ nhiều tiền không. Chị N. nói để về hỏi ý kiến bố mẹ xem có được không nhưng người đàn ông này nói nếu về hỏi biết đâu ông bà không cho đi. Vậy là chị “tặc lưỡi” đồng ý đi theo người này.
Chị được người này đưa đi một quãng đường rất xa và lâu, sau đó đến một gia đình có vợ chồng người Việt. “Gia đình này chắc ở gần cửa khẩu, và có thể đây là nhà chứa những cô gái là nạn nhân như tôi vì khi đến đây, tôi thấy có một cô gái tên Thúy cũng là người Thanh Hóa đang ở đây. Sau này tôi biết, Thúy cũng bị bán cho một người đàn ông Trung Quốc, nhưng cô ấy may mắn hơn tôi là sau khi sinh một đứa con với người chồng này không bao lâu thì cô ấy trốn thoát được” – chị N. kể.
Sau một đêm ở lại gia đình lạ này thì chị bị bán cho một người đàn ông Trung Quốc gần 40 tuổi.
Hàng ngày chị phải đi cuốc đất làm nương rẫy; thỉnh thoảng lại bị chồng và bố chồng lôi ra đánh đập, hành hạ. Chị chỉ được ăn cơm vào bữa trưa, bữa chiều thì ăn cháo.
Không chịu được những trận đòn roi vô cớ, nhiều lần chị tìm cách bỏ trốn nhưng bất thành. 8 năm trôi qua, chị lần lượt sinh hạ 2 người con, một trai, một gái cho người chồng hờ độc ác. 8 năm trôi qua chị tưởng như cuộc đời chị chôn vùi mãi mãi nơi đất khách quê người.
Thế nhưng, thật may là thời gian gần đây, công an liên tục ráo riết kiểm tra người nơi cư trú khiến nhiều lần chị N. phải trốn. Thấy tình thế không thể giữ chị lại được nữa, chồng chị đã đưa chị ra cửa khẩu và bỏ rơi ở đó.
Chị trở về Việt Nam được là nhờ có một người lái xe sang cửa khẩu Trung Quốc mua hàng, thấy chị đi lang thang nên họ đã đưa chị về công an phường Cát Bi (Hải An, Hải Phòng) nhờ tìm người thân.
Cuộc hội ngộ bất ngờ sau 8 năm
Ông Phạm Văn Ngọ, bố chị N. cho biết nhiều khi ông còn không tin chuyện con gái ông trở về, cứ tưởng mình đang nằm mơ. Đã 8 năm trôi qua, ông vẫn cầu nguyện con bình an nhưng thâm tâm người cha đã chấp nhận có lẽ con gái ông đã không còn.
“Ngày đó, nó đi làm thuê ở Thiệu Giao, cứ dăm bữa nửa tháng nó lại về nhà thế nhưng lần đó 10 ngày trôi qua vẫn không thấy tin tức gì, cho em trai xuống tìm thì được người ta nói nó đi theo vợ chồng cô T đi làm thuê chỗ khác rồi. Gia đình tôi có làm đơn lên xã báo con mất tích nhưng họ cũng không tìm ra manh mối nào. Sau này, tôi còn viết đơn nhờ chương trình “Như chưa hề có cuộc chia ly” tìm giúp nhưng họ cũng không tìm được. Nói dại chứ tôi nghĩ nó bị bán sang Trung Quốc mổ lấy nội tạng rồi” – ông Ngọ xúc động kể lại.

Sự trở về của người con gái sau 8 năm mất tích mà ông Ngọ cứ ngỡ như mơ.
Sự trở về của người con gái sau 8 năm mất tích mà ông Ngọ cứ ngỡ như mơ.
Khi những hy vọng dần tắt đối với những người trong gia đình, chị N. lại bất ngờ trở về.
“Đó là vào lúc gần 12h đêm, công an xã gọi điện đến cho tôi nói công an ở Hải Phòng gọi báo có người tên N. ở xã bị bán sang Trung Quốc và đã được đưa về. Anh công an cũng nói, khả năng lớn là con gái của anh đã về. Tôi cầm điện thoại mà tay run không nói nên lời. Cả đêm hôm đó hai vợ chồng chỉ mong trời sáng để ra đón con gái về” – ông Ngọ xúc động.
Sáng sớm ông Ngọ khăn gói ra bắt xe đò đến đồn công an phường Cát Bi để nhận lại chị N. Gặp nhau sau 8 năm ròng rã mất liên lạc, cha con ông Ngọ mừng mừng tủi tủi ôm nhau khóc.
Ông bảo, con về rồi nhưng nhìn con mà đau lòng lắm, nhiều lúc nhớ con hay nhớ lại những năm tháng tuổi thanh xuân bị chôn vùi ở xứ người mà rơi nước mắt.
Trao đổi với phóng viên, ông Hoàng Văn Hùng, Trưởng Công an xã Thiệu Tiến xác nhận, ông có nhận được số máy điện thoại của Công an Cát Bi gọi đến và thông báo có trường hợp người xã Thiệu Tiến đang ở cơ quan công an.
Công an xã Thiệu Tiến đã thông báo cho gia đình ông Ngọ và có nối máy với chị N., qua điện thoại gia đình đã nhận ra con và đã đến Hải Phòng đón chị N. về.
Nguyễn Thùy

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Dù cực thâm độc Trung Quốc vẫn chịu thua trước dân tộc Việt

Phần nhận xét hiển thị trên trang