Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Ba, 13 tháng 9, 2016

Triều Tiên: Lãnh đạo thử hạt nhân liên tiếp, dân chết hàng loạt vì thiên tai

thiên tai
Lũ lụt, thiên tai giết chết hàng trăm người ở Triều Tiên, trong khi lãnh đạo chỉ mải thử hạt nhân. (KCNA)

Đất nước Triều Tiên đang gánh chịu thiên tai liên tiếp sau hàng loạt vụ thử hạt nhân của giới lãnh đạo, khiến hàng trăm người thiệt mạng và mất tích, nhân dân lầm than.

Thiên tai gần nhất là trận lụt kinh hoàng sau vụ thử hạt nhân mới đây tại Triều Tiên đã cướp đi sinh mạng của 133 người, gần 400 người vẫn đang mất tích, nhiều ngôi nhà và công trình công cộng bị phá hủy, Reuters dẫn truyền thông nhà nước KCNA của Triều Tiên đưa tin ngày 11/9.
Thông tin về thảm họa thiên nhiên kinh hoàng này diễn ra khi Triều Tiên ngày càng bị các quốc gia láng giềng và quốc tế cô lập nhiều hơn sau vụ thử hạt nhân lần thứ 5 hôm 09/9 vừa qua. 
Văn phòng phụ trách điều phối và các vấn đề nhân đạo của LHQ (OCHA) cho biết, trên 35.500 ngôi nhà đã bị tàn phá, 2/3 trong số này bị phá hủy hoàn toàn, 107.000 người phải đi sơ tán vì lũ lụt. 
Theo cơ quan này, tổng số người chết và mất tích được dựa trên dữ liệu của chính phủ Triều Tiên. 
Truyền thông Triều Tiên đưa tin, mưa lớn vào cuối tháng 8 và đầu tháng 9 đã gây thiệt hại lớn gần sông Tumen. Trong những báo cáo mới nhất, truyền thông Triều Tiên không tiết lộ tổng số người chết vì lũ lụt. 
(OCHA) cho biết, đánh giá thảm họa được dựa trên chuyến thăm tới khu vực lũ lụt hồi tuần trước của các đại diện LHQ, Hiệp hội Chữ Thập Đỏ Quốc tế, Trăng Lưỡi liềm Đỏ, cùng các nhóm phi chính phủ. 
Hãng thông tấn KCNA của Triều Tiên hôm 11/9 đưa tin, trận lũ lụt tệ nhất trong hơn 70 năm qua đã quét qua phía Bắc quốc gia gây “thiệt hại lớn”, và tiến trình phục hồi đang được tiến hành. 
Nạn phá rừng tràn lan đã khiến quốc gia nghèo đói này dễ bị thiên tai, đặc biệt là lũ lụt.
Theo Reuters

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đại học Mỹ chính thức cho sinh viên học Pháp Luân Công để nâng cao đạo đức và rèn luyện thể chất

Pháp Luân Công
Các giáo viên và học sinh đại học South Carolina Aiken, Mỹ tập bài công Pháp của Pháp Luân Công. (NTDTV)

Một trường đại học uy tín ở Mỹ vừa chính thức đưa Pháp Luân Công trở thành môn học nhằm giáo dục đạo đức và nâng cao đạo đức cho sinh viên thông qua giáo lý hướng tới giá trị cao đẹp của Chân-Thiện-Nhẫn cùng 5 bài tập khí công giúp điều chỉnh cơ thể khỏe mạnh hơn.

Trường đại học Mỹ cho sinh viên học Pháp Luân Công là Đại học South Carolina Aiken.
Đây là lần đầu tiên kể từ khi môn tu luyện truyền thống Phật gia Pháp Luân Công do ông Lý Hồng Chí truyền giảng từ năm 1992 tại Trung Quốc được chính thức đưa vào một trường đại học để giúp sinh viên hướng tới giá trị đạo đức tốt đẹp và nâng cao thể chất.
Khóa học kể trên sẽ giới thiệu một cách hệ thống và bài bản cho sinh viên về Pháp Luân Đại Pháp, giúp họ hiểu được Pháp Luân Công là môn tu luyện truyền thống thuộc Phật gia và ý nghĩa lớn lao đối với những người may mắn trở thành học viên của môn học hay còn gọi là “đắc Pháp”. Các sinh viên sẽ được giới thiệu về cuốn “Chuyển Pháp Luân”, với giáo lý rèn giũa con người về đạo đức, kết hợp 5 bài tập khí công, trong đó có 1 bài thiền định. Các sinh viên còn được nghe kể rõ về cuộc đàn áp Pháp Luân Công kéo dài suốt 17 năm qua ở Trung Quốc, về tội ác mổ cướp nội tạng học viên Pháp Luân Công ở nước này cũng như nỗ lực không ngừng nghỉ của học viên Pháp Luân Công khắp thế giới để giúp mọi người có cơ hội học Pháp Luân Công, nói rõ chân tướng về những lời bôi nhọ và bóp méo sự thật về môn tu luyện khí công thượng thừa Phật gia.
Nằm ở bang South Carolina miền nam Hoa Kỳ, đại học South Carolina Aiken không chỉ cấp bằng cử nhân mà còn đào tạo để cấp bằng Thạc sĩ Quản trị kinh doanh. Trường được tờ US News and World Report xếp hạng là một trong ba đại học công lập tốt nhất ở bang giai đoạn 2012-2016.
Giáo sư chuyên ngành Marketing của trường là Tiến sĩ Tạ Điền-thành viên hiệp hội John M. Olin Palmetto, cho biết ông từng mong các sinh viên của trường được học Pháp Luân Công để nâng cao đạo đức vốn ngày càng xuống cấp hiện nay, cũng như giúp các em nâng cao sức khỏe nhờ sự thần kỳ của môn tu luyện Phật gia. Ông cũng bày tỏ hy vọng sắp tới tất cả các trường học ở Mỹ cũng như người dân đất nước ông được may mắn học Pháp Luân Công.
pháp luân công
giáo sư Tạ Điền giới thiệu về Pháp Luân Công ở đại học South Carolinea Aiken, Mỹ. (NTDTV)
Ông bày tỏ niềm hạnh phúc khi cuối cùng ước nguyện trên của mình đã được thực hiện và bắt đầu từ năm học mới (7/9), các sinh viên sẽ được học Pháp Luân Công. Ông cũng chia sẻ, rất nhiều sinh viên đăng ký học Pháp Luân Công. Vì môn học không chỉ gồm giáo lý và những kiến thức về văn hóa truyền thống Trung Hoa cổ xưa, kết hợp bài công Pháp nên nhà trường đã nhanh chóng chuẩn bị địa điểm và phòng học rộng rãi để đáp ứng.
Lớp học ngày một đông và nhà trường chuẩn bị rất kỹ lưỡng các thiết bị hỗ trợ cho môn học như máy vi tính, máy chiếu, màn hình lớn, âm thanh, tai nghe…để toàn bộ người tham gia có thể nghe rõ giáo trình được thuyết giảng.
Tiến sĩ Tạ cũng cho biết, khóa học “giới thiệu về Pháp Luân Công” đang ngày càng thu hút các sinh viên từ nhiều khoa tham dự. Ngay sau những ngày đầu của khóa học, rất nhiều sinh viên đã tới cảm ơn ông và nói rằng họ vô cùng hạnh phúc vì được học Pháp Luân Công. Một số nói họ chưa từng nghe về Pháp Luân Công, một số có biết nhưng chưa hiểu rõ, một số đã được xem chương trình biểu diễn nghệ thuật Thần Vận và biết được những thông điệp liên quan đến Pháp Luân Công.
Nghiên cứu sinh Thomas Hallman tại đại học sau khi tham dự khóa học giới thiệu về Pháp Luân Công đã hồ hởi chia sẻ: “Đây là lần đầu tiên tôi được học Pháp Luân Công. Tôi rất muốn được học nữa và luyện các bài công Pháp của Pháp Luân Công vì tôi biết sẽ rất hữu ích cho mình”.
Pháp Luân Công
Nghiên cứu sinh Thomas Hallman chia sẻ cảm tưởng sau khi học Pháp Luân Công. (NTDTV)
Sinh viên Kelly Moshina, một trong những người tham dự khóa học cũng phát biểu cảm tưởng của mình như sau: “Tôi rất thích học Pháp Luân Công, thật là tuyệt vời….học Pháp Luân Công giúp tôi giải tỏa căng thẳng khi vừa học vừa chăm sóc con gái 5 tuổi. Bài giảng về Pháp Luân Công rất hữu ích, thú vị, khai mở cho chúng tôi nhiều điều chưa biết. Chúng tôi cũng tập công, thật thư giãn và sảng khoái”.
“Thầy giáo của chúng tôi (nói tiến sĩ Tạ) thực sự tuyệt vời, ông đã giúp chúng tôi được học một môn hay đến vậy. Chúng tôi thực sự cảm ơn ông và rất hạnh phúc”, cô Kelly nói tiếp.
Pháp Luân Công
Sinh viên Kelly Moshina thấy hạnh phúc vì được học Pháp Luân Công. (NTDTV)
Cô từng tập yoga, và cô nói rằng, “Pháp Luân Công tốt hơn nhiều so với yoga, tôi thực sự muốn chuyển sang tập bộ công Pháp của Pháp Luân Công. Tôi thấy mình may mắn khi đăng ký tham gia khóa học này”.
Những thông tin về cuộc đàn áp tàn bạo nhắm vào Pháp Luân Công tại Trung Quốc cũng khiến các sinh viên cảm thấy bất bình và nể phục học viên môn tu luyện. Họ chia sẻ rằng không gì tàn độc hơn khi đối xử như vậy đối với những con người có tâm nguyện tu luyện hướng tới giá trị đạo đức cao đẹp của Chân-Thiện-Nhẫn. Qua đó các sinh viên nói rằng họ sẽ học tập đức hy sinh và tâm từ bi của các học viên Pháp Luân Công, luôn giữ được phẩm chất tốt đẹp bất chấp cuộc đàn áp bạo tàn bởi chính quyền Trung Quốc.
Cô Lind Soyars quốc tịch Pháp là giảng viên của trường chia sẻ: “Tôi rất vui vì được học Pháp Luân Công. Tôi được nghe về những kiến thức lịch sử bổ ích cũng như tập các bài công Pháp giúp nâng cao sức khỏe, chúng tôi cảm thấy khỏe khoắn sau khi tập”.
Pháp Luân Công
Cô Lind Soyars nói học Pháp Luân Công tốt cho cô và mọi người. (NTDTV)
‘Tôi nghĩ đây là một trong những khóa học tốt nhất của trường”, cô nói tiếp.
Cô Linda còn nói thêm, chắc chắn cô sẽ đọc thật kỹ những giáo lý trong cuốn “Chuyển Pháp Luân” và biết chắc rằng sau khóa học giới thiệu về Pháp Luân Công, sẽ rất nhiều người tiếp tục tìm hiểu và học giáo lý của môn tu luyện.
Biên dịch từ NTDTV
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thủy tổ người Việt thực sự ở đâu?


Fb Dao Pham Viet

Hà Văn Thùy
Văn hóa Nghệ An
10:00' CH - Chủ nhật, 20/09/2015
Trong bài “Kính gửi ông Tạ Đức và ông Nguyễn Dư” đăng trên Văn hóa Nghệ An, tác giả Phan Lan Hoa có viết: “Thiết nghĩ, khi mà sử sách, địa danh và di chỉ chứng tích đã trùng khớp, cớ sao lại có người còn muốn đẩy đưa thủy tổ người Việt sang bên Trung Hoa là vì cớ chi? (Đoạn này, xin được gửi cả đến ông Hà Văn Thùy, người khẳng định Kinh Dương Vương và nước Xích Quỷ ở bên Trung Hoa?).”*
Từ lâu, tôi tâm niệm sẽ làm một khảo cứu nghiêm túc xác định nơi sinh thành của thủy tổ người Việt nhưng vì chưa đủ duyên nên chưa thành. Nay nhân có người “đòi”, xin được trả món nợ.
Tìm ra chính xác tổ tiên người Việt là việc vô cùng khó vì thế mà suốt 2000 năm qua, dù bỏ bao công sức và tâm trí, chúng ta vẫn đi tìm trong vô vọng. Nhìn lại cuộc tìm kiếm trong quá khứ, ta thấy, cả người xưa, cả hôm nay chỉ có tư liệu từ thời điểm quá gần, khoảng 2000 năm trở lại. Với một ngưỡng thời gian như vậy, không cho phép có cái nhìn xa hơn!
Sự thực là, muốn biết tổ tiên 5000 năm trước là ai, chỉ có thể đi tới tận cùng lịch sử, để biết con người đầu tiên xuất hiện trên đất Việt là ai?
I. Khởi đầu từ lịch sử
Rất nhiều người tin rằng nước Xích Quỷ của Kinh Dương Vương ra đời năm Nhâm Tuất 2879 TCN. Nhưng nếu hỏi: từ đâu có con số đó thì không ai trả lời được! Con số ấy tồn tại như một niềm tin, như cái mốc “quy ước” mà người Việt bám vào để tạo dựng cội nguồn. Dẫu biết rằng niềm tin không đủ làm nên lịch sử thì cũng không ai nỡ cật vấn cái niềm tin ấy! Bởi lẽ, sau cật vấn là sự sụp đổ! Rồi cả Đế Minh cháu ba đời Thần Nông nữa, lấy gì làm chắc? Mà sao người Trung Hoa cũng tự nhận là con cháu Thần Nông? Những hoài nghi ấy, nếu không hóa giải được thì mọi chuyện bàn về tổ tiên chỉ là câu chuyện phiếm! Vì vậy, muốn tìm chính xác tổ tiên, cần phải đi xa hơn cái cột mốc 2879. May mắn là sang thế kỷ này, khoa học thực sự giúp soi sáng cội nguồn.
Thưa rằng, không phải chỉ từ những mẩu xương và những hòn đá – hiện vật khảo cổ - mà chính từ vết tích được lưu giữ trong máu của toàn dân châu Á, một nhóm nhà khoa học gốc Hán của nhiều đại học nước Mỹ, vào năm 1998 phát hiện rằng: 70.000 năm trước, người tiền sử từ châu Phi theo ven biển Ấn Độ đặt chân tới nước ta. Sau khi chung sống 30.000 năm trên đất Việt Nam, người Việt đã đi lên khai phá Trung Hoa. Từ Hòa Bình, tổ tiên chúng ta mang chiếc rìu, chiếc việt đá mới lên nam Dương Tử và gọi mình bằng danh xưng đầy tự hào NGƯỜI VIỆT với tư cách chủ nhân chiếc việt đá mới, công cụ ưu việt của loài người thời đó(Việt bộ Qua -戈).20.000 năm trước, tại Động Người Tiên tỉnh Giang Tây, tổ tiên chúng ta làm ra đồ gốm sớm nhất thế giới và 12400 năm cách nay trồng ra hạt lúa đầu tiên của loài người. Lúc này tổ tiên ta tự gọi mình là NGƯỜI VIỆT, chủ nhân cây lúa(Việt bộ Mễ -粤)!Rồi từ đây, người Việt mang cây lúa, cây kê, con gà, con chó làm nên văn hóa Giả Hồ 9000 năm trước, văn hóa Hà Mẫu Độ 7000 năm trước… Theo đà Bắc tiến, người Việt vượt Dương Tử lên lưu vực Hoàng Hà, xây dựng nền nông nghiệp trồng kê trên cao nguyên Hoàng Thổ. Tại đây, người Việt hòa huyết với người sống du mục trên đồng cỏ bờ Bắc, sinh ra chủng người Việt mới, sau này được khoa học gọi là chủng Mongoloid phương Nam, là chủ nhân văn hóa Ngưỡng Thiều suốt từ Thiểm Tây, Sơn Tây, Hà Nam, Hà Bắc. Một con sông dài 1500 km từ Thiểm Tây tới Hà Nam, đổ vào Dương Tử ở Vũ Hán, được đặt tên là sông Nguồn. Cùng với chi lưu của nó là Sông Đen, tạo nên đồng bằng Trong Nguồn, là trung tâm lớn của người Việt, nối với Thái Sơn. Đấy là nơi phát tích của người Việt hiện đại chủng Mongoloid phương Nam.
Vào khoảng 4000 năm TCN, người Việt chiếm hơn 60% nhân số thế giới và xây dựng ở Đông Á nền văn minh nông nghiệp rực rỡ. Để có được thành quả như vậy, người Việt phải chung lưng đấu cật trị thủy hai dòng sông lớn là Hoàng Hà và Dương Tử. Từ những dấu vết mong manh trong truyền thuyết, ta nhận ra, thời gian này người Việt luôn phải đối mặt với những cuộc xâm lăng của người du mục phương Bắc. Trong điều kiện như vậy, những thị tộc phải liên minh với nhau, vừa để trị thủy vừa chống trả quân xâm lăng. Cuộc liên minh dưới sự lãnh đạo của những thị tộc lớn mạnh do những vị anh hùng bán thần dẫn dắt. Một cách tự nhiên nhà nước nguyên thủy ra đời. Đó là nhà nước phương Đông, khác với nhà nước theo định nghĩa kinh điển phương Tây, sản sinh từ chiếm hữu nô lệ và thặng dư lương thực. Điều kiện cho nhà nước nguyên thủy phương Đông ra đời càng thuận lợi hơn khi toàn bộ dân cư khu vực lúc đó cùng cội nguồn, văn hóa và tiếng nói. Kinh Dịch viết “Phục Hy thị một, Thần Nông thị xuất” chính là mô tả thời kỳ này. Truyền thuyết cho hay, vua thần Phục Hy xuất hiện khoảng 4000 năm TCN. Tiếp theo là Thần Nông khoảng 3080 năm TCN. Truyền thuyết nói Đế Minh, cháu đời thứ ba của Thần Nông, chia đất, phong vương cho con là Đế Nghi và Kinh Dương Vương, lập nước Xích Quỷ năm 2879 TCN... Trong bối cảnh như vậy, ta thấy, dù không biết xuất xứ từ đâu nhưng cái mốc thời gian ra đời nước Xích Quỷ là hợp lý. Một câu hỏi cần được nêu ra: phải chăng có điều gì đó sâu thẳm trong ký ức mà tổ tiên ta ghi nhớ được một cách tường minh? Từ nhiều tư liệu, có thể suy ra, thời kỳ này trên lục địa Đông Á có ba nhà nước: Thần Nông Bắc của Đế Lai thuộc lưu vực Hoàng Hà, Thần Nông Nam (Xích Quỷ) thuộc lưu vực Dương Tử tới Việt Nam và quốc gia Ba Thục ở phía Tây, gồm vùng Ba Thục qua Thái Lan và Miến Điện.
Thời gian này, cuộc tranh chấp giữa hai bờ Hoàng Hà trở nên khốc liệt mà bằng chứng là trận Phản Tuyền. Truyền thuyết Trung Hoa nói Hoàng Đế và Viêm Đế là hai thị tộc anh em, lúc đầu Viêm Đế đứng chủ. Sau đó Hoàng Đế mạnh lên, đánh thắng Viêm Đế ở Phản Tuyền, chiếm ngôi thống soái. Viêm Đế chấp nhận vai trò phụ thuộc. Đây chỉ là uyển ngữ do người Hoa Hạ bày đặt để che lấp cuộc xâm lăng, với mục đích gắn Hoàng Đế với Viêm Đế vào cùng chủng tộc để rồi cho ra đời thuyết Hoa Hạ là Viêm Hoàng tử tôn, trong đó Hoàng Đế là chủ soái! Nhưng thực ra đó là cuộc xâm lăng của người bờ Bắc. Ta có thể hình dung, chỉ hình dung thôi vì không bao giờ tìm ra chứng cứ xác thực, rằng trước tình thế nguy cấp sau trận Phản Tuyền, Đế Lai liên minh với Lạc Long Quân cùng chống giặc. Nhưng tại trận Trác Lộc năm 2698 TCN, quân Việt thất bại. Đế Lai tử trận, (sau này vì căm hờn Đế Lai, người Hoa Hạ gọi ông là Si Vưu với nghĩa xấu), Lạc Long Quân dẫn đoàn quân dân vùng Núi Thái-Trong Nguồn dùng thuyền xuôi Hoàng Hà ra biển, đổ bộ vào Rào Rum-Ngàn Hống xứ Nghệ. Gợi cho chúng tôi ý tưởng này là đoạn chép trong Ngọc phả Hùng Vương: “Đoàn người từ biển vào. Họ rất hiền lành tốt bụng, đã giúp dân nhiều việc tốt. Dân bầu người giỏi nhất trong số họ làm vua, hiệu là Hùng Vương, lúc đầu đóng đô ở Rào Rum-Ngàn Hống, sau chuyển lên vùng Ao Việt.” (Chính cái niên đại xảy ra trận Trác Lộc 2698 TCN cũng giúp cho thời điểm năm 2879 lập nước Xích Quỷ trở nên khả tín. Nó cho thấy, một điều hợp lý là những quốc gia của người Việt được lập ra trước cuộc xâm lăng, vì chỉ như vậy mới phù hợp với lịch sử.)
Về Việt Nam, người Núi Thái-Trong Nguồn hòa huyết với người Việt bản địa da đen Australoid, sinh ra người Mongoloid phương Nam Phùng Nguyên. Việc khảo cổ học phát hiện di cốt người Mongoloid phương Nam tại văn hóa Phùng Nguyên khoảng 4500 năm TCN là bằng chứng xác nhận cuộc di cư này.
Nếu những điều trình bày trên chưa hài lòng quý vị thì xin dùng chứng lý theo lối quy nạp sau:
Khoa học xác định mã di truyền của người Việt hôm nay thuộc chủng Mongoloid phương Nam. Vì vậy, nếu là thủy tổ của dân tộc Việt, các ngài Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân… cũng phải là người Mongoloid phương Nam. Một câu hỏi được đặt ra: người Mongoloid phương Nam có mặt trên đất Việt Nam vào thời gian nào? Khảo sát 70 sọ cổ phát hiện ở nước ta, cổ nhân chủng học cho biết: “Suốt Thời Đá Mới, chủng Australoid là dân cư duy nhất sống trên đất nước ta cũng như toàn Đông Nam Á. Sang Thời Kim khí, người Mongoloid phương Nam xuất hiện và trở thành chủ thể dân cư khu vực. Người Austrtaloid biến mất dần, không hiểu do di cư hay đồng hóa.” Khảo cổ học cũng cho thấy, người Mongoloid phương Nam có mặt trên đất nước ta vào thời Phùng Nguyên, khoảng 4500 năm trước.
Một câu hỏi khác: họ từ đâu tới? Ta thấy, suốt Thời Đồ Đá, trên toàn bộ Đông Nam Á kể cả Việt Nam không có người Mongoloid. Trong khi đó, như phân tích ở trên, người Mongoloid phương Nam xuất hiện tại văn hóa Ngưỡng Thiều và Hà Mẫu Độ (cửa sông Chiết Giang) từ 7000 năm trước. Lẽ đương nhiên, họ chỉ có thể từ hai nơi này xuống Việt Nam. Nhưng do di ngôn của tổ tiên “Công cha như núi Thái Sơn/ Nghĩa mẹ như nước Trong Nguồn chảy ra,” ta hiểu, là từ Núi Thái-Trong Nguồn các vị di cư tới Việt Nam.
Như vậy, có hai giai đoạn hình thành người Việt: giai đoạn đầu, người Australoid từ Việt Nam đi lên khai phá Trung Hoa. Tại Núi Thái-Trong Nguồn, khoảng 7000 năm trước, người Việt hỗn hòa với người Mông Cổ phương Bắc, sinh ra chủng người Việt mới mang mã di truyền Mongoloid phương Nam, đó là tổ tiên của các vị Phục Hy, Nữ Oa, Thần Nông, Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân. Khoảng năm 2698 TCN, do thua trận Trác Lộc, người Việt của Lạc Long Quân chạy xuống Việt Nam, lai giống với người Việt tại chỗ, sinh ra người văn hóa Phùng Nguyên, tổ tiên trực tiếp của chúng ta.
Vào nam Hoàng Hà, người Mông Cổ chiếm đất và dân Việt, lập vương triều Hoàng Đế. Họ cũng hòa huyết với người Việt, sinh ra người Hoa Hạ, được coi là tổ tiên người Trung Hoa. Nhận được ưu thế từ hai nền văn minh, người Hoa Hạ trở nên lớp người ưu tú của các vương triều Hoàng Đế, góp phần quan trọng làm nên thời Hoàng Kim của văn hóa phương Đông. Nhưng sau thời Chiến quốc, với sự bành trướng của nhà Tần, nhà Hán người Việt thì người Hoa Hạ bị đồng hóa, tan biến trong cộng đồng Việt đông đảo. Hoa Hạ chỉ còn là một danh xưng, bị các vương triều Trung Hoa chiếm dụng làm phương tiện thống trị các tộc người khác. Người Hoa đổi đồng bằng Trong Nguồn thành Trung Nguyên. Sông nguồn thành sông Hòn, sông Hớn rồi thành Hán Thủy. Do mất đất mất tên nên hơn 2000 năm nay, người Việt ngơ ngác không biết Trong Nguồn là đâu?!
Họa tiết trên trống đồng Đông Sơn
II.Quá trình hình thành di tích, tài liệu về cội nguồn tổ tiên trên đất Việt.
1.Quá trình hình thành
Lớp di dân đầu tiên đổ bộ vào Rào Rum-Ngàn Hống. Theo đà xâm lăng của kẻ thù, nhiều thế hệ người Núi Thái-Trong Nguồn di cư tiếp, tiến vào những khoảng đất cao của đồng bằng sông Hồng vừa được tạo lập là Sơn Tây, Hà Đông, Bắc Ninh... Chạy giặc, bỏ quê hương tới nơi xa lạ là nỗi đau của người biệt xứ. Có thể, sau hàng vạn năm cách biệt, người Núi Thái-Trong Nguồn không thể ngờ rằng nơi dung dưỡng mình hôm nay lại là đất gốc của tổ tiên xưa. Vì vậy, mặc cảm mất nước luôn nặng nề, dai dẳng. Hướng về nguồn cội là nỗi khắc khoải khôn nguôi. Nỗi nhớ thương đã kết đọng thành câu ca Công cha như núi Thái Sơn/ Nghĩa mẹ như nước Trong Nguồn chảy ra. Có lẽ câu ca lúc đầu chỉ là nỗi lòng của người dân mất nước vọng cố hương nhưng rồi nó thành tấm bia ghi nguồn cội để muôn đời con cháu tìm về. Không dừng lại đó, những người tâm huyết nhất, theo tục xưa, đắp những ngôi mộ gió để từ xa bái vọng tổ tiên Phục Hy, Nữ Oa, Thần Nông, Kinh Dương Vương… Đó là công việc mà ngày nay người dân đảo Lý Sơn vẫn làm để không quên người không trở về sau những chuyến đi! Khi khá giả hơn, những ngôi đền thờ được dựng lên. Khi có chữ, những vị lão thành lục trong trí nhớ những gì “được nghe ông bà kể” về tổ tiên xưa, ghi thành tộc phả, ngọc phả. Sự thật được “thêm mắm dặm muối” cùng những yếu tố huyền ảo để thêm phần linh thiêng, cao cả và đáng tin. Đọc một số thần phả, ngọc phả do Đại học sĩ Nguyễn Bính chép, tôi bất giác nghĩ tới chuyện “chạy di tích” thời nay. Lâu ngày mới về quê, gặp dịp làng xã đình đám rước “Bằng công nhận di tích”. Thấy trên giấy vinh danh một vị còn văn tế ở đình tế vị thần khác, tôi hỏi ông chú họ, đầu trò câu chuyện này. Gạn hỏi mãi, ông thú thực: “Lúc đầu viết theo thần tích ông thánh trong đình. Nhưng mấy ông văn hóa tỉnh nói: “Tra mãi không thấy ông nào tên như vậy để làm giúp các bác. Chỉ có ông trạng X hơi gần với hồ sơ của các vị. Nếu đồng ý thì chúng tôi giúp.” Anh tính, mất bao nhiêu tiền rồi chả nhẽ xôi hỏng bỏng không, đành gật đầu chấp nhận cho họ làm!” Phải chăng, ngày trước, cũng nghe ông bà kể lại, rồi với thứ chữ Nho của thày đồ quê, các vị tiên chỉ trong làng mang đơn lên phủ cậy quan. Sau khi nhận đồng lớn đồng nhỏ vi thiềng, quan phủ đưa hồ sơ lên triều đình. Rồi dựa vào văn bản của địa phương, Đại học sĩ Nguyễn Bính sáng tác hàng loạt ngọc phả, như người vẽ truyền thần. Đó là cái chắc, chỉ có điều ngờ là không biết đại học sĩ có nhận tiền thù lao như hôm nay không?
Hàng trăm năm qua đi, đám hậu sinh chúng ta có tất cả: những ngôi mộ cổ, những ngôi đền với những pho tượng sơn son thiếp vàng linh thiêng mà cha ông từng đời đời tế tự. Những thần phả, ngọc phả chữ Nho với giấy bản xỉn màu thời gian, gáy mòn, góc vẹt, loáng thoáng lỗ mọt… Và hơn cả là tấm lòng chúng ta hướng về tổ tiên cộng với sự ganh đua của những họ tộc tranh nhau xem họ nào xuất hiện sớm nhất? Thế rồi, với tiền của bá tánh, tiền thuế dân nhận từ dự án, những nấm mộ, những ngôi đền được phục dựng khang trang hoành tráng, cùng với những hội thảo trưng ra vô vàn “bằng chứng lịch sử”…
2. Đôi lời nhận định
Người viết bài này có lúc hăm hở theo dõi những “phát hiện mới” với hy vọng tìm được dấu vết khả tín của tổ tiên. Nhưng rồi sớm thất vọng! Cổ Lôi Ngọc Phả chỉ mới ra đời vài trăm năm ghi Phục Hy, Thần Nông vùng Phong Châu làm sao có thể phản bác Kinh Dịch 2500 năm trước viết “Phục Hy thị một, thần Nông thị xuất”? Mấy ngôi đền Phục Hy, Thần Nông… trên đất Phong Châu làm sao phủ định bài vị các ngài được thờ trên lăng mộ ở Thái Sơn? Làm sao có thể tin Phục Hy họ Nguyễn, trong khi cả truyền thuyết lẫn cổ thư đều ghi rõ: Phục Hy thị, Thần Nông thị, Hồng Bàng thị… “Thị” cũng là họ, nhưng đấy là họ theo mẹ của thời mẫu hệ. Qua mẫu hệ hàng nghìn năm mới sang phụ hệ, để “tính” - cách gọi họ theo dòng cha ra đời! Thời đó, con người chỉ được đánh dấu bằng một từ duy nhất chỉ tên hoặc thêm tước “đế” phía trước như Đế Minh, Đế Nghi… Vậy thì làm sao có ông Phục Hy tên là Nguyễn Thận? Làm sao tin những bức tượng sơn son thiếp vàng lòe loẹt trong đền là Phục Hy, Kinh Dương Vương khi trang phục trên người các ngài là của quan lại triều Minh, triều Thanh?! Vì sao sống cách nhau nhiều nghìn năm mà các vị tổ lại tụ họp trong khoảnh đất hẹp vậy? Vì sao, chỉ là tổ người Việt mà truyền thuyết về các vị lan ra rộng khắp từ Quảng Đông tới Ba Thục? Chỉ là tổ của người Việt với lãnh thổ từ Bắc Bộ tới miền Trung mà sao lại có đền thờ Kinh Dương Vương trên Ngũ Lĩnh? Nhiều, nhiều lắm những câu hỏi không thể trả lời!
Khi không trả lời được những thắc mắc trên, trong trí tôi nảy sinh câu hỏi: Vì sao lại có sự tình như vậy? Phải rất lâu sau, cùng với sự trưởng thành của nhận thức, tôi nhận ra, những ngôi mộ được đắp, những ngôi đền được xây chỉ là việc thu nhỏ một lịch sử từng diễn ra trên địa bàn rộng lớn. Đó chỉ là sự sa bàn hóa một thực tế lịch sử vĩ đại! Tôi bỗng hiểu và thông cảm với tiền nhân. Từ ký ức và tâm nguyện của mình, các vị đã tạo những mộ gió, những ngôi đền bái vọng. Tấm lòng thành của bao kiếp người đã tạo nên một tín ngưỡng dân gian vô cùng nhân văn nhớ về nguồn cội, thờ kính tổ tiên... Nhưng rồi đám cháu con không hiểu cha ông, u mê biến tín ngưỡng dân gian trở thành chính sử, để tự sướng và lừa thiên hạ thì đã là tai họa!
Những người chủ trương việc này nghĩ rằng mình đã sáng suốt, khám phá lại lịch sử là vì dân tộc, vì kính ngưỡng tổ tiên. Không ai phủ nhận nhiệt huyết, tấm lòng của họ. Nhưng thực tế cuộc sống đã bày ra trước mắt: yêu nhau như thế bằng mười phụ nhau!
Trước hết, là xuyên tạc lịch sử:
Do chủ quan, do ít hiểu biết, họ không hiểu rằng, giang sơn xưa của tổ tiên Việt là khoảng trời, khoảng đất mênh mông toàn cõi Đông Á. Từng hàng chục nghìn năm thống lĩnh hai con sông Đông Á (Hoàng Hà, Dương Tử) và xây dựng trên đó nền văn hóa kỳ vĩ. Việc “quy tập,” co cụm tổ tiên về dải đất hẹp Phong Châu chính là phủ định cả cội nguồn lẫn giang sơn vĩ đại của giống nòi! Đó chính là cái tội chối bỏ lịch sử, cũng đồng thời chối bỏ nguồn cội!
Không chỉ vậy, khi làm việc này, họ tự tước đi của mình vũ khí mạnh mẽ chống lại những mưu toan xuyên tạc sử Việt. Họ từng biết, người Trung Hoa có cuốn sách “Thông sử thế giới vạn năm” hơn 5000 trang, phủ định toàn bộ lịch sử Việt Nam với những dòng ngạo mạn: “Khoảng 2000 năm TCN, bán đảo Đông Dương bước vào thời kỳ đồ Đá Mới… 1000 năm TCN, những bộ lạc cư trú quanh vùng sông Hồng Hà bắt đầu định cư..” Họ cũng biết, ông giáo sư người Mỹ Liam Kelley chống báng tới cùng sự hiện hữu của Kinh Dương Vương. Ông ta chỉ coi thủy tổ tộc Việt là do đám trí thức Hán hóa thời Trung đại dựa vào cổ thư Trung Hoa bịa tạc ra. Một trong những lý cứ khiến ông ta nghĩ vậy, chính là ở chỗ, truyền thuyết về Kinh Dương Vương phổ biến khắp Trung Hoa. Nếu cứ theo “sa bàn” như quý vị hoạch định hôm nay thì làm sao phản bác được vị giáo sư thông thái nọ? Nhưng nếu nắm được lịch sử trọn vẹn của tổ tiên thì ta có thể nói, chính chứng cứ ông học giả người Mỹ đưa ra đã chống lại ông ta! Đó là do, cộng đồng Việt vốn là khối thống nhất trên toàn đông Á, cùng chung máu mủ, ngôn ngữ và văn hóa. Từ thời Chiến quốc, bị tan đàn xẻ nghé, người Việt mang theo truyền thuyết nguồn đi khắp nơi…
III. Kết luận
Có một thời tăm tối, chúng ta được cổ thư Trung Hoa và những vị thầy Tây dạy rằng, người từ Trung Hoa xuống đồng hóa dân Annam mông muội. Dân Việt là lũ Tàu lai. Tất cả văn hóa Việt là sự bắt chước Trung Hoa chưa trọn vẹn. Người Việt không có chữ, phải mượn chữ Trung Hoa, tiếng Việt mượn 70% từ tiếng Hán… Hàng nghìn năm ta tin như thế!
Trong cái thời tăm tối ấy, chúng ta tìm mọi cách “thoát Trung” bằng việc viết ra lịch sử riêng của mình. Trong đó có những ý tưởng “quy tụ” tổ tiên về đất Phong Châu để tạo ra một cội nguồn, một lịch sử hoàn toàn độc lập với phương Bắc. Ý tưởng như vậy được nuôi bởi bằng chứng là những ngôi mộ, ngôi đền, những cuốn ngọc phả… khiến không ít người tin vì có nguồn cội “thoát Trung”!
Nhưng sang thế kỷ này, nhờ khám phá khoa học, ta biết rằng, lịch sử đã diễn ra theo con đường ngược lại: tổ tiên ta từ xa xưa đi lên khai phá Trung Hoa và xây dựng trên toàn bộ Đông Á một nền văn hóa vĩ đại! Không những tiếng Việt, chữ Việt là chủ thể tạo nên tiếng nói và chữ viết Trung Hoa mà nền văn hóa Trung Hoa cũng được xây dựng trên nền tảng văn hóa Việt! Chính đó là cơ sở của ý tưởng từ lâu in sâu trong tâm cảm dân Việt: Trong khi các nhánh khác bị Hán hóa thì người Lạc Việt ở Việt Nam vẫn giữ được giang sơn, đất hương hỏa cuối cùng của tổ tiên.
Vì vậy, trong những “đồ án phục dựng lịch sử Việt” ra đời lâu nay thì việc sa bàn hóa, quy tập tổ tiên về đất hẹp Phong Châu là sai lầm tai hại nhất. Trong khi những phương án khác chỉ là những ý tưởng trên giấy thì “đồ án” này tác động sâu rộng không chỉ tới lịch sử, tâm linh mà tới cả cuộc sống dân tộc.
Thưa ông Phan Lan Hoa, thời trẻ làm báo, tôi chỉ viết sự thực cho dù có rước lấy tai họa. Nay vào tuổi cổ lai hy, tôi chỉ viết sử theo sự thật vì biết rằng, chỉ sự thật là còn lại. Vì vậy, tôi không hề dám làm cái việc bạo thiên nghịch địa là “đẩy đưa thủy tổ người Việt sang bên Trung Hoa” như ông ghép tội. Phải đâu là chuyện cá ao ai nấy được? Tôi chỉ làm cái việc trung thực là phát hiện sự việc của quá khứ rồi đặt nó vào đúng chỗ, thưa ông! Theo thiển ý, nếu như có ngôi mộ nào sớm nhất của tổ tiên trên đất Việt thì chỉ có thể là mộ Lạc Long Quân ở Rào Rum-Ngàn Hống hay tại kinh đô Ao Việt!
Đáng buồn và đáng sợ là, những người “quy tập” tổ tiên về đất hẹp Phong Châu không ngờ rằng mình đang làm cái việc nguy hại tham bát bỏ mâm. Trong khi hất đi cái mâm thật, không chỉ đầy của cải quý giá mà còn có cả văn tự ghi quyền sở hữu giang sơn vĩ đại của tổ tiên xưa thì quý vị ôm lấy cái bát ảo! Cái mâm quẳng đi rồi, một khi cái bát được chứng minh là giả, không hiểu quý vị tính sao?!
Sài Gòn, Vu Lan năm Giáp Ngọ
Nguồn:Văn hóa Nghệ An

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Học giả vờ


Hồi bé tôi được nghe, lớn lên được đọc khá nhiều về cụ Hồ. Thày tôi là người kính trọng cụ nên tôi cũng giống thày tôi. Tôi nghe kể nhà nước dành 2 chiếc ô tô cho cụ đi công tác, khi chiếc xe Pobeda hơi cũ người ta đề nghị cụ cho đổi xe mới Volga đen (loại thượng đẳng lúc bấy giờ) nhưng cụ không đồng ý, bảo vẫn chạy được thì chả cần đổi, vả lại cần làm gương về sự tiết kiệm trong khi nước còn nghèo, dân còn khổ. Cụ dùng cái xe đó cho đến khi mất năm 1969.

Bây giờ, hậu sinh của cụ luôn kêu gào học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh nhưng trên thực tế họ chỉ ép dân học chứ bản thân họ học giả vờ. Bà con thử nhác xem xe mà họ sử dụng để thấy họ học thế nào. Tinh những xe trị giá mấy tỉ đồng, mà thay đổi xoành xoạch. Lại còn tự đặt ra quy định cỡ nào được quyền dùng xe xịn mức nào, ai được xài xe công cho đến chết... Xe Lexus 570 mà Trịnh Xuân Thanh dùng chả là cái đinh gì so với xe của mấy ông học giả vờ này. Nhà báo nào rảnh rỗi, cứ chụp cho dân coi cái ảnh về mấy chiếc xe các ông dùng hằng ngày là biết ngay sự giả vờ ấy.

Tôi hoàn toàn nhất trí việc học theo gương tiết kiệm giản dị của cụ Hồ, nhưng trước hết các ông ấy cần phải làm gương. Thử đi cái xe do Trường Hải lắp ráp xem nào, người Việt dùng hàng Việt xem nào. Còn nếu không thực hiện được thì nên chấm dứt cuộc vận động đó đi, để dân chúng tự giác học cụ, chứ nói một đằng làm một nẻo khó coi lắm. 

Nhân đây tôi cũng nói luôn, những bố nào cứ thò ra đường là chễm chệ chĩnh chiện trên ô tô nhưng lại gào phải hạn chế xe máy để giảm ùn tắc giao thông thì tôi khinh. Đâu có cái thói thế được.

Nguyễn Thông
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thủy điện Sông Bung 2 vỡ cống dẫn dòng, dân hạ du phát hoảng


Dân trí Sự cố nghiêm trọng này xảy ra vào chiều tối nay, 13/9, tại dự án thủy điện Sông Bung 2 (huyện Nam Giang, Quảng Nam). Theo nguồn tin của Dân trí, sự cố xảy ra khoảng 17h ngày 13/9.

Theo thông tin ban đầu, vào khoảng thời gian trên, dòng nước chảy mạnh đã cuốn trôi cống dẫn dòng ngay dưới chân đập chính.
Sự cố này gây hoang mang trong dư luận trong suốt chiều tối ngày 13/9 vì người dân truyền tin nhau là “Vỡ đập thủy điện Sông Bung 2”, khiến dư luận ở vùng hạ du rất lo lắng.

Đập dâng của dự án thủy điện Sông Bung 2, bên dưới là cống dẫn dòng, bên cạnh là đập tràn.

Trao đổi với PV Dân trí, một cán bộ đang công tác tại BQL dự án thủy điện Sông Bung 2 giải thích về sự cố này: Khi thi công đập phải có một cống dẫn dòng thiết kế dưới thân đập cho nước chảy qua. Khi việc xây dựng đập hoàn thành, cống này được bịt lại cho nước trong đập dâng lên.
Từ ngày 3/9 đến nay, cống này được đóng lại để tích nước trong hồ. Tuy nhiên, do mưa lớn, nước thoát ra khỏi cống này chảy xuống dòng sông Bung với khối lượng lớn. Thông tin này khiến người dân hoang mang cho rằng đập thủy điện Sông Bung 2 bị vỡ.
Về nguyên nhân đường cống dẫn dòng bị vỡ, cán bộ của BQL thủy điện Sông Bung 2 cho hay, hiện chưa thể xác định được. Cũng chưa có thông tin cụ thể sự cố có thiệt hại con người hay không.
Theo thông tin, ngay sau khi sự cố, từ lãnh đạo tỉnh Quảng Nam đến lãnh đạo huyện Nam Giang đã lên đường tiếp cận hiện trường để tìm hiểu vụ việc.
Dự án thủy điện Sông Bung 2 nằm trên địa bàn 2 huyện Tây Giang và Nam Giang, trong đó, vùng lòng hồ nằm gọn trên địa bàn huyện Tây Giang, còn thân đập và nhà máy nằm ở huyện Nam Giang. Từ trung tâm huyện Nam Giang đến địa điểm đặt nhà máy cách xa khoảng 50km với đường rừng núi hiểm trở.
Dự án này có vốn đầu tư trên 5.200 tỉ đồng với 2 tổ máy có công suất 100MW. Dự kiến, tổ máy số 1 sẽ phát điện vào cuối năm nay.
Dân trí sẽ tiếp tục đưa tin về vụ việc.
Công Bính
Phần nhận xét hiển thị trên trang

MẤY LỜI VỀ CUỘC TRAO ĐỔI..


MẤY LỜI VỀ CUỘC TRAO ĐỔI GIỮA ÔNG NGUYỄN VĂN BÌNH VỚI TUẦN VIỆT NAM MỚI ĐÂY.
Trong một lần trao đổi với Tuần Việt Nam, ông Nguyễn Văn Bình, UV Bộ Chính trị, Trưởng ban Kinh tế TW nói (đại ý) : 30 năm trước, nhờ Đổi mới (có khoán 10) giao ruộng lại cho hộ, chúng ta đã có bát cơm trắng mà ăn, chứ không còn phải ăn độn như trước nữa (tức là như thời còn HTX) lại còn dư gạo để xuất khẩu.
Ông Bình đã nói đúng về điểm này. Nhưng cần nhấn mạnh hơn: Dân đã cứu Đảng một bàn thua thấy rõ (không tan rã như Đông Âu) nhờ vào kỹ năng sản xuất, sức sáng tạo của mình.
Nhưng điều ông Bình nói tiếp theo thì không hoàn toàn đúng. Ông nói: Đến nay, sau 30 năm, nền nông nghiệp của chúng ta vẫn thế, vẫn manh mún do lấy hộ làm đơn vị; trong khi, chúng ta cần chuyển tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa lớn, cho nên cần làm HTX kiểu mới, mô hình này hộ không góp tư liệu SX gì, chỉ chung đầu mối (Ban Quản trị hoặc Giám đốc HTX như có nơi gọi) mua phân bón thuốc sâu như nhau, chung đầu mối bao tiêu sản phẩm.
Như vậy có 2 cái hại nhãn tiền và 1 nguy cơ tiềm ẩn:
1: Nông dân dựa vào HTX, triệt tiêu sức cạnh tranh
2: Ban Quản trị sẽ lại tham nhũng (gửi giá đầu vào và đầu ra với doanh nghiệp) ngoài các thứ phí (có khoảng vài ba chục thứ phí thu theo đầu sào) nông dân vẫn phải nộp tới 20% sản lượng.
Có 1 nguy cơ tiềm ẩn, một khi có HTX ra đời, bất biết theo mô hình nào, thì điều 4 Hiến pháp đã nói rõ, Đảng lãnh đạo toàn diện và trực tiếp. Rồi sẽ xảy ra, Đảng ủy viên (có thể còn là Thường vụ) phải trực tiếp làm Chủ nhiệm HTX, vẫn theo quy trình Đảng cử dân bầu…Như thế thì rồi xã viên sẽ không còn bát cơm trắng mà ăn, như suốt từ 1958 đến 1988 (chẵn 30 năm.)
Ông Nguyễn Văn Bình từng buôn bán làm ăn ở nước ngoài, trên cương vị Thống đốc Ngân hàng ông đã đi đây đi đó, hẳn ông biết rất rõ: Nông dân và nông nghiệp là người lao động phi hành chính, sáng tạo trong tự do. Buổi tối, nông dân lo liệu việc ngày mai, đang ngủ có sương muối hay sấm chớp phải vục dậy lót rơm cho lợn, che cho sân mạ hay đám rau dưa. Như thế, HTX chưa biết làm lợi gì cho họ, nhưng chắc chắn đã triệt tiêu sức “lao động” ban đêm của họ. Còn Đảng ủy, Thường vụ thời nay là một dạng quan chức; không còn là nông dân, biết cái gì mà lo lắng cho nông hộ?
Đi nhiều nước, hẳn ông biết rõ, phải tích tụ ruộng đất. Hạt nhân của tích tụ là trí lự và đồng vốn; ở mọi địa phương đều sẵn có một vài người như vậy, họ sẽ là hạt nhân của thể chế Dân chủ trong vài ba thập niên nữa. Có vốn, họ mua ruộng; có trí lự, họ tự biết phải làm gì để có hiệu quả nhất, sản lượng cao nhất trên một đơn vị diện tích canh tác. Còn nông hộ sau khi bán ruộng, sẽ trở thành người làm thuê. Nếu Đảng nói vì Dân, vì Nông dân thì hãy soạn thảo Luật Lao động có mức lương sàn 100.000đ / công theo thời giá khi Luật có hiệu lực; từ sàn này, các ông chủ sẽ cạnh tranh mức lương với nhau và đòi hỏi kỹ năng và hiệu quả lao động của nông dân.
Khi có sản phẩm hàng hóa, các ông chủ tự biết phải làm thế nào; có cách để bán giá cao nhất hoặc mang cà chua và khoai tây đổ ra đường như cánh điền chủ Pháp năm xưa. Chính phủ Kiến tạo là vậy, là mở một lối khiến tất cả phải cạnh tranh nhau lành mạnh trong một hành lang pháp luật không ai tham nhũng nổi của ai, không ai có thể dựa dẫm vào ai.
Chứ cái mô hình HTX kiểu mới mà ông Bình nói, theo thiển ý của tôi, là chỉ tái lập cái túi tiền cũ nhưng may bằng vải mới mà thôi. Mấy lời chân thật, xin ông suy xét!
ThíchHiển thị thêm cảm xúc
Bình luận
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chỉ còn điều băn khoăn, không biết ông Bộ trưởng có tự nhận biết được sự ngụy biện của mình hay không.


CẢM ƠN THI ĐÀO VÀ TÁC GIẢ NGUYỄN ĐÌNH CỐNG
Tôi đọc stt của Thi Đào chia sẻ bài của Nguyễn Đình Cống từ boxivn, đã comment: Chu Xuân Phàm có vợ Việt, người Hải Dương. Tôi ko mở được Boxitvn chỉ đọc stt Thi Đào thấy đúng, Lao Động đã đặt ra một ngụy vấn đề. Một thường dân Việt cũng biết 90% đều tẩy chay dự án thép Cà Ná mà còn thăm dò làm gì nếu không ngô nghê hoặc có mục đích xấu?
Thi Đào liền FB hóa để cho tôi đọc. Đọc sướng quá, bèn cppy về
NGỤY BIỆN VỀ THÉP VÀ CÁ
Nguyễn Đình Cống
Trước đây Chu Xuân Phàm láo xược đưa ra lời thách thức “Dân miền Trung chọn sắt thép hay tôm cá”. Câu đó đã bị lên án mạnh mẽ vì sự xấc láo. Ngoài ra nó còn ngụy biện trắng trợn. Thế mà ngày 22 tháng 8 nhiều báo chí đưa tin về lời tuyên bố của ông Bộ trưởng Trần Hồng Hà: “Miền Trung sẽ có cả thép, cả cá và biển an toàn”
Ngụy biện của Chu Xuân Phàm được Trần Hồng Hà nhắc lại (không biết vì vô tình hay cố ý) nằm ở chỗ đánh tráo khái niệm. Đó là chủ ngữ của hành động chọn trong câu của ông Phàm và chủ ngữ của vị ngữ có trong câu của Bộ trưởng.
Tôm, cá, biển là đúng của Việt Nam, nhưng theo luật pháp thì đó là của toàn dân do những người trong chính quyền quyết định, muốn cho ai thì cho, muốn làm gì thì làm, chứ người dân Miền Trung có được phép làm chủ đâu. Nhưng thôi, cứ công nhận tôm cá đánh bắt được là thuộc quyền sở hữu của ngư dân sau khi đóng thuế.
Tập đoàn Formosa thuê đất trong 70 năm để sản xuất thép. Tổng giá tiền thuê khoảng 90 tỷ đồng. Số tiền ấy đúng là Miền Trung được hưởng, tuy chưa biết số tiền ấy là nhiều hay ít, mang lại lợi hay hại, ai được hưởng bao nhiêu... Còn thép sản xuất ra là của ai, có phải của nhân dân không. Nhân dân Miền Trung có quyền gì trong việc sử dụng thép ấy. Không có quyền gì cả. Toàn bộ thép là của Formosa. Thế thì tại sao lại đánh tráo khái niệm là dân chọn thép hay cá. Dân chẳng có quyền gì trong việc chọn hay không chọn thép.
Câu: Miền Trung có cả thép và cá… là một ngụy biện dưới 2 dạng. Dạng 1- Khi cho rằng vị ngữ CÓ là bao gồm cả quyền sở hữu thì Miền Trung không có quyền đó. Thép là tài sản của Formosa, Miền Trung, dù là dân hay quan cũng không có quyền gì. Dạng 2- Khi cho rằng vị ngữ CÓ là để chỉ trạng thái, rằng trên mảnh đất Miền Trung có tồn tại sản phẩm thép, không cần biết của ai. Lúc này là cách dùng chữ lập lờ để đánh lừa sự nhận thức. Như vậy là trên đất Miền Trung có thép nhưng cả quan và dân Miền Trung chỉ có quyền nhìn thấy nó mà không có quyền dùng nó. Thế là có mà không có . Ngụy biện đến thế là cùng.
Trước đây nghe câu của Chu Xuân Phàm, một số người chỉ mới vạch ra sự láo xược mà bỏ qua sự ngụy biện, tôi định viết vài lời nhưng rồi cho qua. Nay nghe tuyên bố của ông Bộ trưởng mà không giữ im lặng được. Chỉ còn điều băn khoăn, không biết ông Bộ trưởng có tự nhận biết được sự ngụy biện của mình hay không.
Vài lời thô thiển, nếu có chỗ nào chưa chính xác, mong nhận được sự chỉ giáo của các bậc cao minh, tốt nhất là nhận được lời phản biện của ông Bộ trưởng.
N.Đ.C.

Phần nhận xét hiển thị trên trang