Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 5 tháng 9, 2016

Nhìn lại lịch sử Bách Việt và quá trình Hán hóa Bách Việt


Trần Gia Ninh

Tượng Thừa tướng Nam Việt Lữ Gia
ở Linh Tiên Đạo Quán, Hoài Đức, HN.
Khi đọc những câu hỏi “Vì sao đã thống trị Việt Nam hơn ngàn năm mà cuối cùng Trung Quốc vẫn không thể đồng hóa Việt Nam?”. Hoặc “Người Việt Nam (tộc người Kinh) vì sao mà khó đồng hóa như vây?(1), nhiều người nghĩ chắc là ý kiến của những anh chàng người Việt nặng đầu óc dân tộc chủ nghĩa. Nhưng thật bất ngờ, những câu hỏi này và tương tự như vậy hiện là những chủ đề nóng của các diễn đàn tranh luận trên mạng Internet của người Trung Hoa, bằng tiếng Trung chứ không phải của người Việt. 
Họ đã chất vấn nhau, đại loại thế này: Hơn một nghìn năm, trước khi nhà Tống lên ngôi, Giao Châu là thuộc Trung Hoa, dù chị em họ Trưng có nổi dậy cũng chỉ mấy năm là dẹp yên. Thế mà vì sao từ đời Tống trở đi các triều đại Trung Hoa không thể thu phục nổi Việt Nam. Hơn nữa, dân tộc Việt Nam, người Kinh ấy, từ đâu mà ra, hình thành từ lúc nào? Người Hán chúng ta từ cổ xưa đã có sức đồng hóa cực mạnh. Số dân tộc đã bị Hán tộc đồng hóa không đếm xuể. Tại sao chừng ấy năm đô hộ vậy mà không đồng hóa nổi Việt Nam… Nếu An Nam là thuộc Trung Quốc từ thời đó, liệu bây giờ quần đảo Nam Sa (VN gọi là Trường Sa) có thành vấn đề không? Việt Nam có còn chiếm được nhiều đảo ở Nam Sa như bây giờ không?
Là người Việt Nam, chắc ai cũng muốn chính mình tìm câu trả lời cho những câu hỏi thú vị đó. Chúng ta từng nghe nói rằng, từ xa xưa một dải giang sơn mênh mông từ Nam sông Dương Tử trở về Nam là nơi các tộc dân Việt sinh sống và phát triển nền văn minh lúa nước rực rỡ. Thế rồi ngày nay, hầu hết đều trở thành lãnh thổ và giang sơn của người Hán, dùng Hán ngữ và văn hóa Hán. Quá trình đó người ta quen gọi là Hán hóa. Vì vậy nhìn lại lịch sử Bách Việt và quá trình Hán hóa Bách Việt, và quá trình Hán hóa Bách Việt, là một cách ôn cố tri tân hữu ích. Đáng tiếc là thời xa xưa đó lịch sử chủ yếu ghi chép lại bằng Hán ngữ cổ ở Trung Hoa, không dễ tiếp cận với đa số hiện nay. Vì lẽ đó người viết bài này cố gắng tóm tắt những gì mà sử sách cổ còn ghi lại, kết hợp với những tài liệu khoa học đã công bố của một số học giả uy tín trên thế giới, ngõ hầu cung cấp một vài thông tin hữu ích, nhiều chiều, kể cả còn đang tranh cãi.
Bách Việt là ai và ở đâu?

Vào thời thượng cổ, từ đời nhà Thương 商朝 (khoảng 1600-1046 TCN), trong văn tự thì chỉ có một chữ Việt 戉 (nghĩa là cái rìu), cũng là tên chung cho tộc người ở phía Nam không phải là người Trung Hoa, do tộc người này sử dụng rìu (Việt) làm công cụ. Về sau, vào thời Xuân Thu Chiến quốc 春秋 戰國 (722-221 TCN) bắt đầu trong văn tự có hai chữ Việt là 越 và 粤, đều chỉ bộ tộc Việt, dùng như nhau (Sách cổ viết là 越粵互通-Việt Việt Hỗ Thông), ta hay gọi 越 là Việt bộ tẩu 走 (đi, chạy) và Việt 粤 là Việt bộ mễ 米-(lúa)2.
Trong Hán ngữ cận, hiện đại, hai chữ Việt này (có thể từ sau đời Minh) thì dùng có phân biệt rõ ràng. Chữ Việt bộ tẩu 越 là ghi tên tộc Việt của nước Việt có lãnh thổ ở vùng Bắc Triết Giang, ngày nay là vùng Thượng Hải, Ninh Ba, Thiệu Hưng (Cối Kê 會稽 xưa). Một loại ca kịch cổ ở vùng này vẫn còn tên là Việt Kịch 越剧. Chữ Việt bộ tẩu này cũng là tên của tộc Nam Việt (Triệu Đà) Âu Việt và Lạc Việt (Việt Nam ngày nay), Mân Việt (Phúc Kiến), Điền Việt (Vân Nam, Quảng Tây)… Chữ Việt 粤 bộ mễ 米 ngày nay dùng ghi tên cư dân vùng Quảng Đông, Hồng Kong, Ma Cao… những cư dân này sử dụng ngôn ngữ gọi là tiếng Quảng Đông (Cantonese). (Ai đến Quảng Châu đều thấy biển xe ô tô đều bắt đầu bằng chữ 粤 là vì vậy).
Bởi vì xưa có đến hàng trăm tộc Việt, cho nên sử sách gọi chung là Bách Việt 百越 hoặc 百粤. Tên gọi Bách Việt xuất hiện trong văn sách lần đầu tiên trong bộ Lã thị Xuân Thu 吕氏春秋 của Lã Bất Vi 呂不韋 (291–235 TCN) thời nhà Tần.
Trong lịch sử Trung Hoa, toàn bộ vùng đất Giang Nam (tên gọi vùng Nam Sông Dương Tử), rộng bảy tám ngàn dặm từ Giao Chỉ đến Cối Kê, từ trước thời Tần Hán đều là nơi cư ngụ của các tộc Bách Việt.
Thời nhà Hạ gọi là Vu Việt 于越, đời Thương gọi là Man Việt 蛮越 hoặc Nam Việt 南越, đời Chu gọi là Dương Việt 扬越, Kinh Việt 荆越, từ thời Chiến quốc gọi là Bách Việt百越.
Sách Lộ Sử của La Bí (1131 - 1189) người đời Tống viết3: Việt thường, Lạc Việt, Âu Việt, Âu ngai, Thả âu, Tây âu, Cung nhân, Mục thâm, Tồi phu, Cầm nhân, Thương ngô, Việt khu, Quế quốc, Tổn tử, Sản lí (Tây Song Bản Nạp), Hải quý, Cửu khuẩn, Kê dư, Bắc đái, Phó cú,  Khu ngô (Cú ngô)…, gọi là Bách Việt.
Hán Hóa Bách Việt - Giai đoạn từ thượng cổ đến trước thời Tần-Hán
Gọi Hán hóa chỉ là để cho tiện thôi, thực ra không đúng, vì lúc này làm gì đã có nhà Hán. Hai nước Ngô - Việt là những tộc Bách Việt được ghi chép rất sớm trong sử sách. Nước Ngô 吴国,còn gọi là Cú Ngô 句吴, Công Ngô 工吴,攻吾… lập quốc vào thời Chu Vũ Vương (thế kỷ 12 TCN), kinh đô ở Tô Châu 苏州 ngày nay, từ thủy tổ là Ngô Thái Bá 吳太伯 truyền đến Phù Sai夫差 thì bị diệt vong bởi nước Việt (473 TCN). Thực ra ghi chép sớm nhất trong sử sách là Vu Việt 于越, tiền thân của nước Việt 越 国 thời Chiến quốc. Nước Việt đã tồn tại muộn nhất cũng từ thời nhà Thương, không tham gia vào sự kiện Vũ Vương Phạt Trụ (1046 TCN), nhưng sử có ghi là khá lâu trước đó đã làm tân khách của Chu Thành Vương 周成王(1132 - 1083 TCN). Nước Việt đã có một văn hóa dân tộc đặc sắc, gọi là Văn hóa Mã Kiều 馬橋文化, mà các chứng tích đã tìm thấy khi khai quật di chỉ Thái Hồ 太湖地區. Nước Việt định đô ở Cối Kê 會稽 (Thiệu Hưng ngày nay) truyền đến đời Câu Tiễn句踐 (496 - 464 TCN) thì bành trướng lên phía Bắc, năm 473 TCN sau khi diệt nước Ngô, mở rộng bờ cõi Bắc chiếm Giang Tô 江蘇, Nam đoạt Mân Đài 閩台 (tức Phúc Kiến ngày nay), Đông giáp  Đông Hải 東海, Tây đến Hoàn Nam 皖南 (phía Nam An Huy ngày nay), hùng cứ một cõi Đông Nam. Đến năm 306 TCN, nước Sở 楚國 nhân nước Việt, triều vua Vô Cương, nội loạn, bèn liên kết với nước Tề 齊國 tiến chiếm nước Việt, đổi thành quận Giang Đông, nước Việt tuyệt diệt và bị Sở hóa từ đó. Những sự kiện này được ghi chép tỉ mỉ trong bộ sử Ngô Việt Xuân Thu 吳越春秋 do Triệu Diệp 赵晔 thời Đông Hán soạn (~năm 25). Các nhà khoa học thế giới ngày nay cũng đã phục dựng đầy đủ lịch sử này, ví dụ xem Eric Henry4.
Đến đây cần nói rõ, Sở là gốc Hoa Hạ (sau này gọi là Hán) hay là Bách Việt, hiện còn nhiều tranh cãi. Dân Hoa Hạ (chính là tộc Hán sau này) nhận mình là con cháu của Tam Hoàng, Ngũ Đế. Tam Hoàng thì rất thần tiên, mơ hồ, Ngũ Đế có vẻ cụ thể hơn. Theo Sử Ký của Tư Mã Thiên5 thì đó là năm chi: Hoàng Đế (黃帝), Chuyên Húc (顓頊), Đế Cốc (帝嚳), Đế Nghiêu (帝堯), Đế Thuấn (帝舜). Dân nước Sở tự nhận thuộc chi Chuyên Húc, họ Cao Dương 高阳 tức là tộc Hoa Hạ (Hán). Đất nước Sở nằm ở đoạn giữa sông Trường Giang, vùng Nam Bắc Hồ Động Đình, quen gọi là vùng Kinh Sở (Hồ Bắc - Hồ Nam của Trung Hoa ngày nay). Vùng Kinh Sở nằm chồng lấn phía Nam lưu vực sông Hoài sông Vị của dân Trung Nguyên Hoa Hạ. Đó là vùng đất đầu tiên mà một chi của dân Hoa Hạ (chi Chuyên Húc) thiên di xuống. Nhà thơ Khuất Nguyên (340 - 278 TCN) người nước Sở, mở đầu bài thơ Ly Tao đã viết6Bá Dung nhớ cha ta thuở nọ, /Vốn dòng vua về họ Cao Dương(Nhượng Tống dịch thơ). Trước khi con cháu Cao Dương nam thiên đến đây, dân bản địa là tộc nào? Nước Sở lập quốc vào cuối đời Thương đầu đời Chu (1042 TCN). Sách Sử Ký - thiên Sở Thế gia viết rằng người Sở là dân Man (Sở Man), vua Sở nhận mình là dân Man Di7. Man là chữ người Hoa Hạ gọi dân miền Nam không phải là Trung Hoa. Những khai quật khảo cổ ở vùng Kinh Sở gần đây cũng cho thấy rằng thực ra cư dân tối cổ ở vùng Kinh Sở có nguồn gốc Tam Miêu, một dân tộc thuộc nhóm Bách Việt. Đây có thể là nhóm Âu Việt ở phía Tây nên còn gọi là tộc Tây Âu, để phân biệt với Đông Âu là tộc Âu Việt phía Đông, tức vùng Mân - Đài (Phúc Kiến). Tộc Tây Âu, theo các nhà dân tộc học, có thể là tổ tiên các tộc H’mông, Lào, Miến, Thái… hiện nay, ít nhiều cũng có cùng huyết thống người Việt Nam cổ. Như vậy là quá trình Trung Hoa hóa dân Man (Miêu tộc bản địa) đã bắt đầu từ cuối Thương đầu đời Chu rồi. Có thể tạm gọi đó là đợt đồng hóa thứ nhất.

Sự Trung Hoa hóa theo thế lực nước Sở, bành trướng đến Trùng Khánh, Quý Châu, về sau sang tiếp phía Đông, trở thành một trong thất hùng thời Chiến quốc. Đặc biệt là quý tộc Sở cổ đều có họ Hùng (熊 - con gấu), vua Sở là Hùng Vương, phải chăng có liên hệ gì đó đến Hùng Vương ở Việt Nam, chỉ khác chữ Hán viết 雄 - hùng mạnh, (trong sử Trung Hoa cổ không tìm thấy ghi Hùng Vương 雄 này, có lẽ đây là do các nhà Nho Việt Nam viết lại sau này!). Tóm lại đến thời Khuất Nguyên, rồi sau đó là lúc Sở diệt Việt phía Đông, thì Sở đã hoàn toàn biến thành dân Trung Hoa, và quá trình Trung Hoa hóa Ngô - Việt là quá trình đồng hóa thứ hai, tiến hành thông qua nước Sở.
Các nhà khoa học Nhật, Mỹ, đã có nhiều phát hiện, chứng minh nền văn minh Ngô Việt sau khi nước Việt bị diệt và Trung Hoa hóa (đúng hơn là Sở hóa), đã theo dòng người Ngô Việt chạy ra biển sang Nhật Bản (tiếng Nhật Bản đọc Hán tự theo kiểu nước Ngô, nên gọi là ごおん-Go On- Ngô âm 呉音). Nền văn minh đó chủ yếu theo bộ phận tinh hoa của dân Ngô Việt chạy xuống phía Nam hợp lưu cùng Việt bản địa, thành ra văn minh Việt kéo từ Lĩnh Nam (phía Nam dãy Ngũ Lĩnh - tức Bắc Lưỡng Quảng ngày nay) đến Giao Chỉ. Theo phát hiện của Jerry Norman và Tsu-lin Mei (Washington University và Cornell University) thì nhiều từ cổ của tộc Việt nước Ngô Việt hiện vẫn thông dụng trong tiếng Việt ngày nay, ví dụ các từ: chết; chó, đồng (trong đồng cốt), sông, khái (hổ), ngà (trong ngà voi), con (trong con cái), ruồi, đằm (trong đằm ướt), sam (con sam), biết; bọt , bèo…8 Điều này chứng tỏ rằng dân Lạc Việt ít nhiều có cùng huyết thống với dân Ngô Việt xưa. (Xem bản đồ).

Hán hóa Bách Việt- Giai đoạn sau thời Tần-Hán
Cho đến trước khi Tần Thủy Hoàng diệt được sáu nước, dẹp bỏ nhà Chu, thống nhất Trung Hoa (221 TCN) thì dân Hoa Hạ (Hán tộc) chỉ chiếm lãnh và đồng hóa được dải đất từ Hoàng Hà xuống đến Ngũ Lĩnh9, còn từ Ngũ Lĩnh trở về Nam (Lưỡng Quảng, Giao Chỉ, Hải Nam... gọi tắt là Lĩnh Nam) thuộc về Âu Việt (gọi chung Tây Âu và Đông Âu) và Lạc Việt. Từ Kinh Sở trở về Tây, Tây Nam (Vân Nam) vẫn còn thuộc về Điền Việt, Tây Âu, Đại Lý…
Vùng Bách Việt phía Tây Nam này (Vân Nam) thì mãi đến thế kỷ 12 còn độc lập, dù người Hán có tiến hành nhiều cuộc chiến tranh xâm chiếm lẻ tẻ. Chỉ sau khi Mông Cổ chiếm Đại Lý (1253), Vân Nam, rồi sau đó chiếm nốt Trung Hoa, lập ra nhà Nguyên, thì Vân Nam mới nhập vào Trung Hoa. Năm 1381, Minh Thái Tổ mới bình định xong Vân Nam và cuộc Hán hóa hoàn tất rất nhanh. Ngày nay hơn 61% cư dân Vân Nam là người Hán.
Vùng Lĩnh Nam chiếm làm đất Trung Hoa từ thời Tần - Hán, nhưng quá trình Hán hóa thì khá khó khăn và cho đến nay vẫn chưa xong hết (!). Cổ sử Trung Hoa chép thì Lĩnh Nam có nhiều bộ tộc Việt lập quốc như Tây Âu, Lạc Việt… có nước Dạ Lang (nhưng không thấy chép Văn Lang!). Âu và Lạc10 là một tộc Việt hay là hai tộc Việt khác nhau, cho đến tận ngày nay vẫn còn tranh cãi. Sách “Hoài Nam Tử” (139 TCN) thì chỉ viết có Tây Âu11 không có nói đến Lạc chỗ nào cả. Sách “Sử Ký” (94 TCN) muộn hơn một ít thì cũng có viết Âu, không tìm thấy chữ Lạc đứng riêng một mình, mà luôn luôn chỉ có chép Âu Lạc liền nhau12. Tuy nhiên trong Lã thị Xuân Thu (291–235 TCN) sớm nhất thì có chép” Việt Lạc-越骆”13. Việt Lạc rất có thể chính là nước Lạc Việt trong sử sách sau này, Việt Lạc là ghi âm trực tiếp từ ngôn ngữ người Việt, theo ngữ pháp Việt, còn sau này ghi Lạc Việt là ghi chép qua thông dịch sang Hán Ngữ, theo ngữ pháp Hán.
Luận theo sử sách chép, có thể thời tiền Tần thì Âu và Lạc là hai chi Việt khác nhau. Thời kỳ chiến đấu chống lại Tần thì có thể hai chi Việt này liên minh lại với nhau thành một khối Âu Lạc. Lúc đó trung tâm là ở Nam Trung Hoa, vùng Vũ Minh Mã đầu (Nam Ninh - Quảng Tây ngày nay). Chỉ sau khi Hán Vũ Đế bình Nam Việt của Triệu Đà thì hai chi này mới lại phân chia ra, và trung tâm di về vùng quanh Hà Nội ngày nay.
Đồng thời với nước Lạc Việt có nước Tây Âu hay Âu Việt mà người đứng đầu trong sử chép là Thục Phán. Tuy nhiên Âu Việt lập quốc lúc nào và Thục Phán từ đâu ra thì sử sách không ghi rõ. Rất nhiều ý kiến cho rằng Thục Phán là hậu duệ của vương triều nước Thục. Quả thực sử có chép một quốc gia tên là Thục Quốc, ở Tây Nam Trung Hoa ngày nay. Thường Cừ (347)người đời Tấn viết trong Sách “Hoa Dương Quốc Chí”14: “Nước Thục Đông giáp nước Ba, Nam giáp Việt, Bắc phân giới với nước Tần, Tây tựa Nga Ba”. Vị trí địa lý như vậy nên cư dân ở đây bao gồm người Khương, người Việt, người Hoa Hạ. Dòng họ Khai Minh làm vua nước Thục, truyền được 12 đời, đến năm 316 TCN đời Chu Thận Vương thì bị nhà Tần diệt15, hậu duệ chạy về phương Nam. Sử chép đến đây thì đứt đoạn, không nói gì tiếp. Cho nên về sau nói Thục Phán là hậu duệ Khai Minh thị, cha Thục Phán là Khai Minh Chế chiếm lưu vực Diệp Du Thủy (tức thượng nguồn sông Hồng)16, xưng là An Tri Vương vua nước Tây Âu, sau truyền ngôi cho con là Phán, cũng chỉ là một giả thuyết, chép lại theo truyền thuyết của tộc dân Đại Y17.
Lúc này cũng là thời kỳ theo truyền thuyết là có nước Văn Lang ở phía trung và hạ lưu sông Hồng (trong cổ sử Trung Hoa không có tên nước Văn Lang, chỉ có tên một nước là Dạ Lang, liệu có liên quan đến Văn Lang không?), do dòng họ Hùng làm vua. Việc Thục Phán là hậu duệ nước Thục, cũng như nước Văn Lang có vua Hùng trị vì 18 đời trong sử An Nam là ghi lại theo truyền thuyết. Tuy nhiên Thục Vương Tử tên Phán, Hùng Vương vua Lạc Việt, Thục diệt Hùng Vương chiếm lãnh thổ, xưng là An Dương Vương thì có ghi trong sử cổ Trung Hoa từ đầu Công nguyên.
Theo quyển “Việt sử lược”18, của tác giả không rõ tên, có lẽ là người Việt Nam khắc in ở Trung Hoa vào quãng cuối Nguyên đầu đời Minh (~1360), có viết về nước Văn Lang, vua là Đối Vương 碓王, sau bị Thục Phán đánh đuổi, Phán xưng là An Dương Vương.
Sách cổ “Thủy kinh chú” dẫn lại lời ghi trong “Giao châu ngoại vực ký” rằng19 “… Thục Vương Tử dẫn binh tướng ba vạn đánh lại Lạc Vương 雒王, Lạc hầu 雒侯, thu phục các Lạc Tướng. Rồi đó Thục Vương Tử xưng là An Dương Vương”. Sách “Cựu Đường thư” dẫn lại “Nam Việt chí” chép20“Đất Giao Chỉ vô cùng màu mỡ, xưa có vua xưng là Hùng Vương 雄王, có Lạc hầu phò tá. Thục Vương Tử dẫn quân tướng ba vạn tiến đánh, diệt được Hùng Vương. Thục xưng làm An Dương Vương, cai trị Giao Chỉ”. Như vậy thì sử sách có ba tên gọi cho vua nước Lạc Việt: Lạc Vương, Hùng Vương, Đối Vương. Có nhiều ý kiến cho rằng ba tên gọi này là một, chính là Lạc Vương, các tên khác do về sau sao chép nhầm chữ Lạc 雒 của Hán ngữ mà thành21. Dầu sao thì cũng có hai lý giải về truyền thuyết danh xưng Hùng Vương, một là dòng dõi họ Hùng Vương nước Sở, hai là Lạc Vương vua của dân Lạc Việt. Dù tên tuổi đúng sai thế nào, thì Hùng Vương không chỉ thuần túy là truyền thuyết của Việt Nam, mà cũng có ghi trong cổ sử Trung Hoa. Nhân vật Thục Phán tuy nguồn cội chưa xác định, nhưng cũng có thật, đánh chiếm Lạc Việt lập nên nước Âu Lạc xưng là An Dương Vương cũng là có thật, có ghi trong chính sử không chỉ của Việt Nam22.
Tần diệt Sở, rồi đánh chiếm Lĩnh Nam, Đô Úy Triệu Đà được Tần cắt cử quản lĩnh Quế Lâm, Tượng Quận. Nhân khi nơi nơi nổi lên chống Tần, năm 204 TCN Triệu Đà bèn chiếm Lĩnh Nam lập nước Nam Việt, đóng đô ở Phiên Ngung (Quảng Châu) và đánh chiếm Âu Lạc. Sách “Giao Châu ngoại vực ký” chép: “Nam Việt Vương Úy Đà cử binh đánh An Dương Vương. An Dương Vương có thần nhân Cao Thông phù tá, chế ra nỏ thần cho An Dương Vương, một phát giết được ba trăm mạng”23. Sách “Thái Bình Ngự Lãm” dẫn “Nhật Nam truyện” còn chép phóng đại hơn, nỏ một phát giết ba vạn người và còn kể tỉ mỉ chuyện tình Mỵ Châu Trọng Thủy, chuyện mất nỏ thần, dẫn đến An Dương Vương thất bại24. Nước Âu Lạc từ đó nhập vào nước Nam Việt25. Triệu Đà lập nước Nam Việt năm 203 TCN, giữ độc lập với nhà Hán được 92 năm, truyền 5 đời vua, đến đời Triệu Kiến Đức và thừa tướng Lữ Gia26 thì mất nước vào tay Hán Vũ Đế năm 111 TCN. Một dải Lĩnh Nam và Đông Hải bị Hán chiếm và Hán hóa kéo dài hơn ngàn năm, ngoại trừ Lạc Việt, còn lại hoàn toàn trở thành Hán. Lạc Việt, sau hơn 1000 năm nô lệ và Hán hóa, vẫn giữ được bản sắc và nền văn minh Việt, cuối cùng thì giành được độc lập và trở thành Đại Cồ Việt, Đại Việt, Nam Việt và Việt Nam đến tận ngày nay. Đó là một trường hợp duy nhất mà Trung Hoa không thể Hán hóa được.
Vì sao Đại Việt không bị Hán hóa?
Đồng hóa dân tộc (national assimilation) gồm: 1 - Đồng hóa tự nhiên: đây là một xu hướng tự nhiên trong tiến trình lịch sử loài người. 2 - Đồng hóa cưỡng chế: sự cưỡng bức một dân tộc bị trị chấp nhận ngôn ngữ, chữ viết, phong tục, tập quán của dân tộc thống trị; đây là một tội ác.27 Người Hán đã thực hiện cả hai biện pháp đồng hóa này hơn một ngàn năm mà Đại Việt vẫn không bị đồng hóa, người Trung Hoa ngày nay tìm mọi lý lẽ để biện minh nhưng chính họ cũng không thấy thuyết phục lắm. Chẳng hạn:
* Việt Nam ở xa Trung Nguyên, núi sông cách trở không tiện đồng hóa. Phản bác lại: Tại sao Vân Nam cũng xa, núi sông cách trở hơn nhiều mà chỉ trong mấy trăm năm đã bị đồng hóa hoàn toàn.
* Việt Nam ở phương Nam, nóng ẩm, người Hán không ở được. Thế tại sao Hải Nam cũng như vậy mà lại ở được, đồng hóa xong rồi.
* Tại vì số lượng người Hán di dân xuống Việt Nam ít. Thực ra, không có bằng chứng nào là ít hơn Hải Nam, Vân Nam cả. Chỉ riêng số quan lại cai trị và số quân chiếm đóng trong hơn một ngàn năm, cũng không ít hơn số dân bản địa. Chỉ có thể hiểu người Hán ở đây đã bị Việt hóa. Cũng có ý kiến cực đoan bênh vực, nói rằng thực ra đã Hán hóa dân Việt rồi nhưng từ sau năm 1945, Việt Nam đã thanh lọc lại hết!
Cũng có một số kiến giải của người Trung Hoa bình thường ngày nay, xem ra cũng ít nhiều có lý, ví như:
* Người Kinh có ba nguồn gốc: Người Lạc Việt, Người Thục, Người Hán. Do vậy người Kinh hấp thụ được tinh hoa của ba chủng tộc nên trở thành một tộc người ưu tú.
* Người Hán ở Việt Nam kể cả các tầng lớp cai trị không đồng hóa được người Kinh, trái lại bị đồng hóa ngược trở thành người Việt. Người Kinh là một tộc người có năng lực đồng hóa mạnh, bằng nếu không nói là còn hơn người Hán. Hãy xem họ mở rộng về phía Nam thì rõ.
Nhưng đó chỉ là những lý do bề ngoài mà những người bình thường có thể nhận thấy được. Thực ra, theo các nhà chuyên môn, đồng hóa dân tộc là một vấn đề khoa học lớn, rất nhạy cảm và vẫn chưa có được một lý thuyết nào đứng vững cả, vì vậy tạm thời không bàn đến lý luận trong bài này. Thông thường đồng hóa dân tộc là một sự tổng hòa gồm:
* Đồng hóa chủng tộc, thường được thực hiện bằng một cuộc chinh phục và kẻ chinh phục hoặc diệt chủng dân bị chinh phục, hoặc xua đuổi dân bị chinh phục để thay thế bằng cư dân của phía chinh phục, hoặc pha loãng huyết thống.
* Đồng hóa về văn hóa, tín ngưỡng.
* Đồng hóa về tổ chức cộng đồng, xã hội.
(Về vấn đề Văn Hóa, Ngôn Ngữ, Tín Ngưỡng, đều là những yếu tố bảo tồn dân tộc Việt, xin dành cho bài sau).
Sự đồng hóa dân tộc sẽ khó được thực hiện.
1. Nếu một dân tộc có sức sống sinh học và xã hội mãnh liệt thì sự đồng hóa chủng tộc khó thành công, ví dụ điển hình là dân tộc Do Thái.
2. Đồng hóa về văn hóa, tín ngưỡng phụ thuộc vào trình độ văn minh của dân tộc. Một dân tộc mạnh về chinh chiến, có thể chiến thắng trong cuộc chinh phục, nhưng nếu trình độ văn minh thấp hơn thì sẽ bị kẻ bại trận đồng hóa, điển hình như tộc Hung Nô, Nữ Chân, Mãn Châu… đều chiến thắng người Hán nhưng lại bị Hán hóa.
3. Khi một cộng đồng dân tộc có tổ chức tốt, cố kết các thành viên bền chặt, thì dân tộc đó rất khó bị đồng hóa.
Nhìn lại thì thấy người Việt (người Kinh) có đủ cả ba yếu tố 1,2,3: Người Kinh hiện nay là nơi tập hợp các thành phần ưu tú nhất của Bách Việt, bởi lẽ khi Bách Việt bị Hán hóa, các thành phần ưu tú, tinh hoa trong xã hội Việt là mục tiêu tàn sát của người Hán, do đó các thành phần này phải tháo chạy, và nơi dung nạp họ là mảnh đất cuối trời Bách Việt, tức Việt Nam ngày nay. Hãy xem thí dụ về ngôn ngữ Ngô Việt còn lưu lại trong tiếng Việt (như đã nói ở trên), đó là một bằng chứng cho sự dịch chuyển của người Ngô-Việt xuống đây. Vì vậy tộc người Kinh có sức sống mãnh liệt.
Tinh hoa của văn minh Bách Việt được cô đọng lại ở người Kinh, chắc chắn không kém nền văn minh Hoa Hạ. Người Việt dù không có văn tự riêng (hay có mà bị xóa sạch sau ngàn năm nô lệ) nhưng vẫn phát triển và bảo tồn được ngôn ngữ dân tộc, dù phải mượn Hán Ngữ để ghi chép, thì thật là một kỳ tích, chẳng kém gì người Do Thái vẫn giữ được tiếng Do Thái dù bị diệt chủng và xua đuổi hai ngàn năm.
Tổ chức xã hội của tộc Việt, điển hình là làng xã đã cố kết cộng đồng rất chặt. Tổ chức nhà nước cũng có rất sớm, từ thời Chiến quốc, do đó rất khó phá vỡ, nó tồn tại dấu tích sau khi khi đã độc lập. Hãy nhớ đến Hội Nghị Diên Hồng thời Trần để thấy tinh thần của tổ chức xã hội gắn kết người dân với triều đình chặt chẽ đến mức nào. Ngay cả một vương triều thất thế, bị truy đuổi như Triều Mạc, cũng không bán rẻ đất nước cho ngoại bang. Năm 1594, Mạc Ngọc Liễn chiếm giữ Vạn Ninh, trước khi chết để di chúc cho Mạc Kính Cung: “Nay vận khí nhà Mạc đã hết, họ Lê lại phục hưng, đó là số trời, dân ta vô tội mà để phải mắc nợ binh đao, sao lại nỡ thế… Lại chớ nên mời người Minh vào trong nước ta mà để dân ta phải lầm than đau khổ, đó cũng là tội lớn không gì nặng bằng”28.
Quân Minh đầu TK 15 cũng khó mà có thể chiếm được Đại Việt làm quận huyện nếu không có những nhóm quý tộc như nhóm Mạc Thúy, vì quyền lợi riêng bán rẻ dân tộc cho người Minh. Nên biết Mạc Thúy là hậu duệ của danh nhân Mạc Đĩnh Chi, một đại thần nhà Trần... Nhà Thanh không thể chiếm Thăng Long nếu không có vua quan bán nước Lê Chiêu Thống, tiếc thay y lại là dòng dõi của anh hùng dân tộc Lê Lợi…
Than ôi! truyền thống thì hào hùng rực rỡ, tổ tiên phải đổ bao mồ hôi, xương máu mới có, nhưng bán rẻ nó đi thì thật dễ dàng. May sao tự ngàn xưa số những kẻ bán rẻ dân tộc như vậy là vô cùng nhỏ trong cộng đồng người Việt.1

CHÚ DẪN
1为什么经历了一千多年的统治,中国始终不能同化越南?“Vì sao đã thống trị Việt Nam hơn ngàn năm mà cuối cùng Trung Quốc vẫn không thể đồng hóa Việt Nam?”. http://bbs.tianya.cn/post-no05-226522-1.shtml
越南人(京族)为何难以同化 “ Người Việt Nam (tộc người Kinh) vì sao mà khó đồng hóa như vây?”  http://lt.cjdby.net/thread-1440161-1-1.html
2 Có học giả Việt đương thời theo tự dạng vội suy đoán rằng viết như vậy có lẽ chỉ tộc người vác rìu đi (chạy) săn và tộc  người trồng lúa trong ruộng. Chứng tỏ thời bấy giờ tộc Việt thuộc văn minh săn bắn và trồng trọt. Có lẽ không phải đơn giản như vậy. Khảo sát lịch sử văn tự thì thấy rằng Việt 越 và Việt粵  âm đọc  giống nhau, “Sử ký” viết là 越, “Hán thư” viết là 粤. Âm đọc 粤 là từ âm đọc của chữ Vu 于, người cổ đọc 越 là于. Vu 于 viết theo lối chữ triện 篆 là 亏, hài thanh là chữ vũ 雨-mưa, viết lên trên thành 雩. Trong “Hán Thư” còn tồn nhiều chữ cổ, nên chữ Việt 越 đều cải viết thành雩, sau theo lối chữ lệ 隶, chữ khải 楷 mới viết thành ra 粤, tức biến hóa hình chữ vũ 雨 đặt trên chữ Vu亏.
3 “路史” 罗泌 (1131—1189) 宋朝 : 越裳, 雒越, 瓯越瓯皑,  且瓯, 西瓯, 供人, 目深, 摧夫, 禽人, 苍梧, 越区, 桂国, 损子, 产里(西双版纳), 海癸, 九菌, 稽余, 北带,仆句, 区吴(句吳), 是谓百越。
#4 http://www.sino-platonic.org/complete/spp176_history_of_yue.html
 The Submerged History of Yuè. By Eric Henry, University of North Carolina
5 史記-司馬遷 (145 – 86 TCN)
6屈原在《离骚: 帝高阳之苗裔兮,朕皇考曰伯庸- Ðế Cao Dương chi miêu duệ hề, Trẫm hoàng khảo viết Bá Dung.
7《史记.楚世家》记载: “封熊绎于楚蛮- phong Hùng Dịch ư Sở Man “, “ 熊渠曰: 我蛮夷也不与中国之号谥- Hùng Cừ nói: Ta là dân man di, không cùng hiệu, thụy của Trung quốc. Hùng Dịch (~1006 TCN) là vua lập ra nước Sở, Hùng Cừ (~877 TCN) là vua Sở về sau. Sở Man là tên nhà Thương, Chu gọi dân Kinh Sở bản địa, Man tức là Man Việt, tên tộc Việt thời nhà Thương.
8 Jerry Norman and Tsu-lin Mei, Monumenta Serica, Vol. 32 (1976), pp.274-301, Published by: Taylor & Francis, Ltd.
9 五岭 Ngũ Lĩnh-dãy núi phía Nam Trung Hoa chạy qua biên giới các tỉnh Quảng Tây, Hồ Nam, Giang Tây, Quảng Đông, có năm đỉnh cao (Ngũ lĩnh) là 越城 (Việt Thành)、都庞 (Đô Lung), 萌渚 (Manh Chử), 骑田 (Kỵ Điền), 大庾(Đại Dữu).
10 Chữ Lạc có nhiều cách viết, đều đọc là Lạc. Hai chữ  雒,骆 thường dùng như nhau để chép Lạc Việt trong sách cổ. Tiếng Bắc Kinh đọc là Luo, Quảng Đông đọc lok, Đời Đường đọc lak. Nhiều học giả cho rằng nguồn gốc chữ Lạc là do người Hán ghi âm chữ Lúa, Ló của người Việt, người Mường mà ra. Người Việt là tộc người có nền văn minh lúa nước.
11《淮南子·人间训:“(秦皇)又以卒凿渠而通粮道,以与越人战,杀西呕君译吁宋。Hoài Nam Tử. Nhân gia huấn: (Tần Hoàng) cho quân đào kênh thông đường vận lương, rồi đánh người Việt, giết được vua Tây Âu là Dịch Hu Tống”.
12《史记·南越列传》赵佗上呈汉文帝的“谢罪书”:“且南方卑湿,蛮夷中间,其东闽越千人众号称王,其西瓯骆裸国亦称王。” Triệu Đà dâng thư tạ tội với Hán Văn Đế: “ đất phương Nam thấp, ẩm ướt. Trong các tộc man di ở đây, (chỉ dám) xưng vương phía Đông với dân Đông Âu vài ngàn khẩu, phía Tây với nước Âu Lạc khỏa thân (ý nói  đóng khố cởi trần).
13《吕氏春秋·孝行览·本味篇》:“和之美者:阳朴之姜,招摇之桂,越骆之菌。”高诱注:“越骆,国名。菌,竹笋。”  Lã thị Xuân Thu-Hiếu hạnh lãm, bản vị thiên:” Những thứ hoàn mỹ  là gừng Dương Phác, quế Chiêu Diêu, Khuẩn (Măng) Việt Lạc” Cao Dụ chú giải:” Việt Lạc là tên nước, Khuẩn là măng tre”.
14 常璩(347)华阳国志-(卷三蜀志): Thường Cừ, “Hoa Dương Quốc Chí” (quyển 3-Thục Chí): “历夏、商、周,武王伐纣,蜀与焉。其地东接于巴,南接于越,北与秦分,西奄峨嶓。” Trải qua Hạ, Thương, Chu,Vũ Vương phạt Trụ, cùng có nước Thục. Nước đó đông giáp nước Ba, nam giáp nước Việt, bắc phân giới với Tần, Tây dựa Nga Ba” (vì vậy cư dân ở đây có thể là người Khương, Hoa Hạ và Việt-TGN).
#15“华阳国志·蜀志:“周慎王五年秋,秦大夫张仪、司马错、都尉墨等从石牛道伐蜀,蜀王自于葭萌拒之,败绩。王遁走,至武阳为秦军所害,其相、傅及太子退至逢乡,死于白鹿山。开明氏遂亡,凡王蜀十二世 ““Hoa Dương Quốc Chí, thiên Thục Chí”: “Mùa thu đời Chu Thận Vương thứ năm, các Đại Phu nhà Tần là Trương Nghi, Tư Mã Thác, Đô úy Mặc v.v theo đường Thạch Ngưu tiến phạt Thục. Thục Vương thân cùng Gia Mạnh cự địch, bị thất bại. Vương tháo chạy đến Vũ Dương thì bị quân Tần hại, Thái tử thoái lui về và chết tại núi Bạch Lộc. Dòng họ Khai Minh, truyền được 12 đời, đến đây bị diệt”. Vũ Dương nay là huyện Bành Sơn,Tứ Xuyên.
16 叶榆水
17岱依人
18《越史略》卷一载:“周庄王时嘉宁部有异人焉,能以幻术服诸部落,自称碓王,都于文郎,号文郎国。以淳质为俗,结绳为政,传十八世,皆称碓王。越勾践尝遣使来谕,碓王拒之。周末为蜀王子泮所逐而代之。泮筑城于越裳,号安阳王,竟不与周通。” .: Việt sử lược: “thời chu Trang Vương, ở Gia Ninh bộ có người tài, dùng xảo thuật thu phục được các bộ lạc, tự xưng là Đối Vương, đô ở Văn Lang, nước là Văn Lang. Tục lệ thuần hậu, chính sự nghiêm chỉnh, truyền 18 đời, đều xưng là Đối Vương. Việt Vương Câu Tiễn đã từng đến dụ, Vương đều từ chối. Vào cuối đời nhà Chu bị Thục Vương Tử tên là Phán đánh đuổi,  thay thế trị vì. Phán xây thành Việt Thường, hiệu là An Dương Vương, tuyệt giao với nhà Chu”.
19《水经·叶榆水注》中注引《交州外域记》云:“交趾昔未有郡县之时,土地有雒田,其田从潮水上,民垦食其田,因名为雒民。设雒王、雒侯主诸郡县。??后蜀王子将兵三万来讨雒王、雒侯,服诸雒将。蜀王子因称为安阳王。Sách “Thủy Kinh.Diệp Du Thủy chú”, dẫn theo “Giao Châu Ngoại Vực Ký” viết rằng: Giao Chỉ thời chưa có quận huyện, đất đai thì có Lạc điền, nước ruộng lên xuống theo triều, dân làm ruộng sinh sống, nên gọi là Lạc dân. Thiết đặt Lạc Vương, Lạc hầu cai quản các quận huyện. ?? về sau Thục vương tử xua quân tướng ba van đánh Lạc Vương, Lạc Hầu, thu phục các Lạc Tướng. Thục vương tử xưng là An Dương Vương.
20《旧唐书·地理志》则引《南越志》云:“交趾之地,最为膏腴,旧有君长曰雄王,其佐曰雄侯。后蜀王将兵三万讨雄王,灭之。蜀以其子为安阳王,治交趾。Sách “Cựu Đường Thư” dẫn lại “Nam Việt Chí” viết rằng: Đất Giao Chỉ rất mầu mỡ, xưa có vua gọi là Hùng Vương, phò tá là các Hùng Hầu. Về sau ba van quân tướng của Thục vương đánh bại Hùng Vương. Con của Thục Vương xưng là An Dương Vương, cai trị Giao Chỉ.
21 So sánh các sách thì “Giao Châu ngoại vực ký” là cổ nhất, ít nhất là trước đời Ngụy Tấn (TK3), “Nam Việt Chí” soạn sau thời Bắc Ngụy, còn “Việt sử lược” có lẽ soạn thời Hồng Vũ (~1358) nhà Minh sau này. Quân Vương của nước Lạc Việt theo  sách cổ  nhất (“Giao châu ngoại vực ký”) ghi là Lạc Vương 雒王, sách về sau (Việt sử lược, Nam Việt chí) thì ghi là Đối Vương 碓王, Hùng Vương 雄王. Một số học giả Trung Hoa và Quốc tế ngờ rằng ba chữ 碓, 雄, 雒 (bộ thủ “chuy 隹 “) nguyên chỉ là chữ 雒 (Lạc) do mấy trăm năm sau sao chép nhầm phần các chữ ghép (chữ các 各thành chữ thạch 石 hay chữ quăng 厷) mà ra. Tuy nhiên nhiều học giả Viêt Nam không nhất trí, vì cho rằng các nhà Nho Việt Nam ngày xưa đều rất uyên thâm, khó mà lầm lẫn được. Ai cũng có lý cả!
22 Các sách của Việt Nam có nói đến Hùng Vương, An Dương Vương cổ nhất như Lĩnh Nam Chích Quái 嶺南摭怪, Việt Điện U Linh Tập 粵甸幽靈集 hay Đại Việt sử ký toàn thư 大越史記全書  thì cũng soạn vào thời Trần, muộn hơn nhiều so với các sách của Trung Hoa như Giao Châu Ngoại Vực Ký 交州外域记, Thái Bình Ngự Lãm 太平御览. Cho nên các sự tích và tên tuổi như Hùng Vương, An Dương Vương… chắc là chép lại từ sách Trung Hoa, vì Việt lúc đó không có chữ viết… Tất nhiên, cũng không loại trừ có những ý kiến khác.
23《交州外域记: “南越王尉佗举众攻安阳王。安阳王有神人皋通,下辅佐,为安阳王治神弩一张,一发杀三百人”: Nam Việt Vương Úy Đà cử binh đánh An Dương Vương. An Dương Vương có thần nhân Cao Thông xuống phù tá, chế ra nỏ thần cho An Dương Vương, một phát giết được ba trăm mạng”.
24《太平御览》卷348:《日南傳》曰:一發萬人死,三發殺三萬人。佗退,遣太子始降安陽。安陽不知通神人,遇無道理,通去。始有姿容端美,安陽王女眉珠悅其貌而通之。始與珠入庫盜鋸截神弩,亡歸報佗。佗出其非意。安陽王弩折兵挫,浮海奔竄: “Thái Bình Ngự Lãm, quyển 348 dẫn “Nhật Nam Truyện” viết:.. một phát giết vạn người, ba phát giết ba vạn người. Đà lui, sai thái tử Thủy hàng An Dương. An Dương không biết Thông là thần nhân, thấy (vua) không hiểu đạo lý, Cao Thông bèn bỏ đi. Thủy có tư dung đoan mỹ, con gái An Dương Vương là Mỵ Châu vì thích y đẹp mà xiêu lòng. Thủy sai Châu vào kho cưa đứt nỏ thần rồi về nước báo tin. Đà liền xuất kỳ bất ý (tiến đánh). An Dương Vương nỏ gãy binh tan, trốn chạy ra biển. (Thái Bình Ngự Lãm là sách soạn vào thời Bắc Tống (977 -984), trích dẫn “Nhật Nam Truyện” thì chắc là còn cũ hơn. “Nhật Nam Truyện” hình như đã thất truyền, chỉ thấy trích dẫn lại ở sách này-TGN).
25 Người viết bài này đã đến thăm và khảo sát khá kỹ Bảo Tàng Nam Việt Vương ở Quảng Châu. Bảo tàng xây trên khu lăng mộ của Triệu Mô, vua kế vị Triệu Đà (Thủy chết sớm, Mô là con Thủy thay). Ngôi mộ được phát hiện năm 1983, hầu như còn nguyên vẹn, đồ tạo tác rất kỳ vĩ, tinh xảo chứng tỏ trình độ văn minh của người Việt lúc đó khá cao, nếu không nói là hơn hẳn người Hán. Xem bảo tàng thấy các cổ vật trưng bày như thạp đồng, trống đồng, vũ khí… giống in và còn phong phú hơn nhiều so với Bảo Tàng Lịch Sử quốc gia Việt Nam giai đoạn lịch sử đó.
#26 Lữ Gia, Thừa tướng nắm quyền hành của nước Nam Việt, chống lại nhà Hán,  thua trận bị chém chết. Lữ Gia và người ở Quận Cửu Chân (Thanh Hóa ngày nay), lăng mộ và đền thờ hiện còn ở Ân Thi, Hưng Yên
27Nguyễn Hải Hoành: Tại sao Việt Nam không bị đồng hóa sau 1.000 năm Bắc thuộc? - http://nghiencuuquocte.org/2015/09/07/viet-nam-khong-bi-dong-hoa-1000-nam-bac-thuoc/#sthash.0FZriY2F.dpuf.
28 Đại Việt sử ký toàn thư - NXB VHTT năm 2000, tập 3, trang 294.

* Người viết bài này xin bày tỏ lời cảm ơn nhà Hán học, dịch giả Trần Đình Hiến về những thảo luận, góp ý quý giá cho phần dịch các đoạn trích trong các sách sử cổ viết bằng văn ngôn trên đây.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

"Rồi các mẹ sẽ lại tự đẻ để hồi phục dân số..."


FB Dao Hieu




















Bọ chưởng Trần Hồng Hà phát biểu:"Biển miền Trung sẽ tự làm sạch, từ đào thải độc tố". Theo tôi đây là phát biểu rất sáng tạo và nhanh trí. Giả sử ông Hà ngồi ở 1 vài vị trí khác, ông ấy sẽ nói sao:

Khi là bộ trưởng giáo dục: không cần lo về chất lượng giáo dục. Các em giỏi sẽ tự biết cách giỏi hơn người khác.

Là bộ trưởng quốc phòng: đánh nhau cứ nướng quân, rồi các mẹ sẽ lại tự đẻ để hồi phục dân số.

Là bộ trưởng Y tế: tỷ lệ bệnh vì mất VS ANTP không đáng ngại, người khoẻ sẽ tự khỏi bệnh.

Là bộ trưởng giao thông: số người chết vì TNGT là ko đáng kể, người có ý thức giao thông sẽ tự sống sót về nhà

Là bộ trưởng tài chính: quá nhiều thuế cũng không ảnh hưởng. Người dân sẽ tự tìm cách kiếm ra tiền

Là bộ trưởng công an: nạn ăn cướp ở Sài Gòn ko đáng ngại, người dân sẽ tự biết cách bảo vệ mình qua các hình thức anh hùng đường phố.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

NGẪU HỨNG THƠ



Mấy hôm nay, tôi nghe các vị giáo sư, tiến sĩ danh tiếng cho rằng: Dạy chữ Hán để khỏi tụt hậu, dạy chữ Hán để giữ gìn sự trong sáng tiếng Việt, dạy chữ Hán để bảo tồn văn hóa dân tộc, dạy chữ Hán để trở thành người của toàn cầu... vân vân và vân vân. Tôi cho đó chỉ là lối ngụy biện của những kẻ "vong quốc nô" thời hiện đại. Vậy có thơ rằng:
PHÁP TRỊ: HỌC TIẾNG PHÁP
THEO NGA: HỌC TIẾNG NGA
THÂN TÀU: HỌC CHỮ HÁN
THAN ÔI ! NƯỚC NAM TA !
Huế, 6-9-2016
Mai Văn Hoan

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Hàng trăm người dân Venezuela xuống đường và đuổi theo Tổng thống Nicolas Maduro để bày tỏ ...

Hàng trăm người dân Venezuela xuống đường và đuổi theo Tổng thống Nicolas Maduro để bày tỏ sự giận dữ, phản đối với chính quyền của ông này trong một sự kiện chính trị được tổ chức vào ngày 1/9 vừa qua..
04venezuela-facebookJumbo
Hàng trăm người dân Venezuela xuống đường và đuổi theo Tổng thống Nicolas Maduro để bày tỏ sự giận dữ.
Trang Daily Mail đăng tải đoạn video ghi lại cảnh tượng gây sốc khi hàng trăm người dân Venezuela xuống đường và đuổi theo Tổng thống Nicolas Maduro để bày tỏ sự giận dữ, phản đối với chính quyền của ông này trong một sự kiện chính trị được tổ chức vào ngày 1/9 vừa qua.

Được biết, sự việc này xảy ra trong bối cảnh đa số người dân Venezuela đòi phế truất Tổng thống Maduro và yêu cầu tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý khác để bầu Tổng thống mới, ngoài ra họ phản đối các chính sách hà khắc của ông Maduro, liên tục kêu khổ vì đói nghèo.

Bản thân ông Maduro muốn xuống đường cùng dòng người biểu tình để xoa dịu họ nhưng đen đủi thay ông lại bị họ rượt đuổi phải bỏ chạy bán sống bán chết trong hàng rào bảo vệ của lực lượng an ninh.

Những người biểu tình mặc áo trắng chiếm lĩnh các con đường ở phía đông thủ đô, liên tục hô vang khẩu hiệu chỉ trích chính phủ Tổng thống Maduro bất lực trước nạn thiếu hụt thực phẩm, hàng tiêu dùng, thuốc men cũng như hàng loạt khó khăn kinh tế của đất nước. Được biết khoảng vài chục người đã bị bắt trong cuộc biểu tình quy mô này.


H. Nam

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Duyên nợ văn chương


(Đọc Giọt nước trong lá sen, chân dung văn học - đàm luận văn chương
 của Khuất Bình Nguyên, Nxb Hội Nhà văn, 2016)
                                                                                                
          Cuộc trở về với văn chương của Khuất Bình Nguyên thật ngoạn mục. Sau gần bốn mươi năm trằn trọc, lên bổng xuống trầm, buồn vui với nghề kiểm sát (chót vót tới chức Phó Viện trưởng Viện KSNDTC), đã thấy ông bạc đầu sớm hơn tuổi tác. Có lẽ cái nghề này nó dữ dội, và cả hiểm nguy khôn lường, nên có lúc tự bạch: “Trên đường đời xa xăm đã 40 năm, nhiều lúc trong cuộc mưu sinh, đứng giữa những thử thách to lớn về nhân cách làm người, cuộc tranh đấu khốc liệt giữa cái thiện và cái ác (…). Những lúc biết nhận phần thiệt thòi về mình để được làm người lương thiện”. Nên dễ hiểu thơ là một sự điều hòa, cân bằng tâm thế và phóng chiếu cảm xúc như một cách thuần hóa nỗi đau, giải thoát tinh thần hữu hiệu nhất. Với người khác thì khi đã có cái danh lợi như thế, dễ bằng lòng sống nốt phần đời còn lại trong nhàn nhã. Nhưng như một định mệnh, duyên nợ văn chương đã đưa đường chỉ lối cho ông đến với Nàng Thơ. Ông cầm bút viết thơ như không thể nào khác. Viết như một đam mê không thể cưỡng lại được. Viết như lên đồng. Viết như là sự tuẫn tiết của kẻ tín đồ sùng Đạo Thơ. Tuổi sáu mươi mới lên hương thơ ca. Liên tục ra mắt các tập thơ: Người lữ hành thời gian (2009), Nơi thời gian trở về (2010), Cành tục ngữ hóa đá (2011), Bỏ quên trong rừng thu (2012), Hoa Hoàng Đàn nở muộn (2012). Bốn năm in liền năm tập thơ, không kể hai tập in chung Bảy con đường của số phận (2010) và Mùa thu lứa đôi (2010), thì đó là một con số biết nói. Nó nói về một nội lực thơ. Nó nói về một “trầm tích” thơ. Khuất Bình Nguyên, tôi cứ hình dung, như một khối than nóng rẫy được che ủ bằng tro lạnh. Là người yêu thơ Chế Lan Viên, viết khóa luận về Thơ Chế Lan Viên trước và sau Cách mạng, luận văn tốt nghiệp Những tìm tòi nghệ thuật của thi ca Việt Nam hiện đại  thời học đại học, có thể vì thế chăng mà nhà thơ lớn Việt Nam thế kỷ hai mươi họ Chế đã truyền cho Khuất Bình Nguyên cái thơm thảo của thơ ca, cái triết lý nhuần nhuyễn của chất suy tưởng (may mắn cho độc giả là không phải gánh lấy những triết lý vặt), và kinh nghiệm thanh lọc ngôn từ nghiêm cẩn, công phu. Thơ Khuất Bình Nguyên thuộc dòng thơ trí tuệ nhưng không khô cứng mà luôn giữ được sự run bật của cảm xúc, đốt cháy cảm xúc nâng lên thành trí tuệ. Đó là thơ của những người thơ có cái căn cốt văn hóa. Trong cùng trang lứa tôi thấy thơ Khuất Bình Nguyên gần gũi với Hoàng Nhuận Cầm, Vũ Đình Văn (đã hi sinh), Đỗ Minh Tuấn, Lâm Huy Nhuận. Nhưng lúc mới “tục huyền” với Nàng Thơ sau đằng đẵng mấy chục năm tạm gác bút, riêng tôi vẫn thấy cái run rẩy, rụt rè đôi lúc e lệ của Khuất Bình Nguyên, thậm chí như là khép nép để quan sát, học hỏi, tìm nẻo lối riêng vào thơ ca. Đó là một hành xử vừa chân thành cầu thị, nhưng không thể nói là không khôn ngoan. Thơ Khuất Bình Nguyên, riêng tôi nghĩ, nương vào cái gọi là “ thi pháp chân thành”.
          Có nét gì đó gần gũi giữa bậc thầy văn chương Chế Lan Viên và người học trò thơ nhỏ Khuất Bình Nguyên khi ông vừa viết thơ và vừa viết phê bình thơ. Tập chân dung văn học và đàm luận văn chương Giọt nước trong lá sen của Khuất Bình Nguyên, trong cảm nhận của riêng tôi, là sự hòa âm giữa tư duy hình tượng và tư duy phê bình thơ. Tập sách gồm 25 bài (có 16 bài chân dung thơ, theo tôi, là đặc sắc hơn). Vừa làm thơ vừa phê bình thơ, sau Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Hoàng Trung Thông, như là những bậc tiên chỉ, thì lớp hậu sinh không nhiều, có Vũ Quần Phương, Mã Giang Lân, Trần Mạnh Hảo, Vũ Bình Lục, Nguyễn Trọng Tạo, Khuất Bình Nguyên, Đỗ Minh Tuấn. Nhưng đọc các vị này một cách kĩ lưỡng tôi thấy Khuất Bình Nguyên vẫn có cách mở lối của mình vào phê bình thơ. Đó là cách đi vào trung tâm thơ ca qua những giá trị tinh túy, kết tinh, được sàng lọc nghiêm khắc qua thời gian (nói như thi sỹ Xuân Diệu, thời gian “vặt lông” các giá trị). Hãy xem Khuất Bình Nguyên tiếp cận thơ của những thi sỹ nào trong nền thơ ca Việt hiện đại? Đó là Tản Đà, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính, Nguyễn Đình Thi, Văn Cao, Quang Dũng, Phùng Cung, Phạm Tiến Duật, Hữu Thỉnh, Nguyễn Đức Mậu, Việt Phương, Trần Vàng Sao, Ngô Thế Oanh, Nguyễn Hoa, Nguyễn Quang Thiều. Xem cái tỷ lệ 4/16 giữa các nhà thơ trước và sau năm 1945 sẽ thấy Khuất Bình Nguyên nỗ lực sống với văn chương cùng thời trong địa hạt thơ ca. Cái hay, cái tinh tế của sự thẩm thơ, bình thơ, và cao hơn là phác vẽ những chân dung thơ ca hiện đại, nghiêng về đương đại, ở Khuất Bình Nguyên là có cái lý và cả cái tình của nó. Không thấy anh thiên vị một ai dẫu cho đối tượng được viết có vị thế xã hội hay chỉ là người bình thường, đôi khi khúc khủy gập ghềnh, thậm chí oan khuất như Trần Vàng Sao. Ở đây là sự công tâm, công bằng trong khoa học. Cao hơn là tình yêu thơ ca đích thực. Ở đây là bản lĩnh của người viết. Ở đây là đức tin vào chân lý của nghệ thuật có thể cao hơn chân lý đời sống. Phát lộ ra cái sở trường và sở đoản của Khuất Bình Nguyên khi tiếp cận các hiện tượng thơ cá thể thường tinh tế và sâu sắc hơn khi bàn luận về một thế hệ, đội ngũ hay vấn đề chung của thơ ca như trường hợp Khúc tâm tình của một thời đạn lửa (trong bài này ông khảo về lớp nhà thơ chống Mỹ như Lê Anh Xuân, Nguyễn Trọng Định, Nguyễn Mỹ, Vũ Đình Văn - 4 nhà thơ liệt sỹ trong một đội hình trùng điệp từ Nguyễn Khoa Điềm, Dương Hương Ly, Thanh Thảo, Nguyễn Duy, Hoàng Nhuận Cầm, Nguyễn Trọng Tạo, Anh Ngọc, Xuân Quỳnh, Ý Nhi, Phan Thị Thanh Nhàn, Lâm Thị Mỹ Dạ,…). Hãy nói theo cách của bạn - cái slogan của tập đoàn viễn thông Viettel lại gợi mở trong tôi khi đọc và nhận ra cái sở trường của Khuất Bình Nguyên trong thẩm thơ, bình thơ.
          Khuất Bình Nguyên quan tâm đến khía cạnh nào trong những chân dung thơ mà ông tạo dựng? Tôi nghĩ đây là vấn đề then chốt để xác nhận đóng góp của một cây bút phê bình thơ. Tôi thấy tác giả tri nhận và cảm thụ văn chương từ phương diện văn hóa. Văn hóa là một đại lộ. Vì nếu tách văn chương ra khỏi cái cuống rốn văn hóa thì đôi khi ta sẽ thấy văn chương cũng không có ý nghĩa gì thật sâu lắng, bền chặt và quan thiết đối với đời sống tinh thần của con người vì sự sống của nó sẽ ẻo lả, nhợt nhạt. Nhưng cái căn cốt, cội rễ của văn hóa Việt là ở đâu, từ đâu ra? Dĩ nhiên không phải là ngoại nhập dẫu bị ảnh hưởng cả hàng nghìn năm văn hóa Hán, cũng không chỉ nương nhờ ngọn gió từ trời Tây, dẫu cho cuối cùng thì dân tộc cũng phải hội nhập với xu thế toàn cầu hóa trong một thế giới phẳng. Đã có ý kiến đúng đắn cho rằng hiện đại hóa văn chương thời hiện đại chính là đi hết “cái dân tộc” để phát huy tinh hoa truyền thống. Cái vốn liếng của cha ông như là một “văn sản” mà chúng ta chưa khai thác hết. Bởi vì nếu nói đến tính hiện đại thì Nguyễn Du cách đây hơn hai trăm năm còn hiện đại hơn bất cứ thi sỹ nào thời nay.
           Ba ví dụ cho thấy Khuất Bình Nguyên quan tâm đến mối quan hệ giữa văn hóa và văn chương khi tiếp cận từng trường hợp thơ cụ thể. Với Nguyễn Bính, ông nhận ra: “Nguyễn Bính còn giữ lại cho chúng ta cáiphông văn hóa rộng rãi đầy bản sắc của làng quê Việt nửa đầu thế kỷ 20. Những cảnh những người bây giờ đã mai một huống hồ gì là cho đến ngày sau”. Có lẽ vì thế mà tác giả đã nâng niu ca dao như là “bánh chưng xanh” của thi ca Việt Nam, là thể thơ “đặc sản” Việt Nam. Nguyễn Bính là một thi sỹ đã có cái công lao không nhỏ khi “Góp mặt vào làng Thơ mới trước hết ở việc sử dụng thể thơ 6.8, bánh chưng của thơ truyền thống Việt Nam (…). Cũng trên nền tảng văn hóa dân gian làng quê Việt Nam, Nguyễn Bính đã chuyển hóa thành công lối nói lặp chữ, điệp ngữ của dân ca tạo nên những cảm xúc thẩm mỹ đặc sắc riêng có của thơ ông”.
          Tiếp cận Hữu Thỉnh như một đại biểu của thế hệ trải qua lửa đỏ và nước lạnh của chiến tranh với tâm thế “làm thơ ghi lấy cuộc đời mình”, Khuất Bình Nguyên lại có cách định tính khác khi nhìn ra cái chất “nặng tình đời” của thơ được viết bởi một người lính trận mạc đích thực. Nghệ thuật sinh ra là để chống lại sự lãng quên. Hữu Thỉnh không màu mè khi viết một cách chân thành: “Nếu thi ca là lịch sử được viết bằng số phận của con người thì nhà thơ xứng đáng là người chiến sỹ tiên phong chống lại sự lãng quên. Thi ca là trí nhớ của lịch sử”. Những câu thơ nhớ được lâu của Hữu Thỉnh không ai có thể ghen tị được: “Hai mươi năm chị tôi đi đò đầy/Cứ sợ đắm vì mình còn nhan sắc”, hoặc: “Một mình một mâm cơm/Ngồi bên nào cũng lệch”. Văn hóa của thơ ca chính là ứng xử của thi sỹ với số phận con người. Và quan trọng nhất là biết nhìn ra mình giữa nhân quần, khi tự nhận thấy: “Tôi ấy mà, một gốc rạ bơ vơ”. Ai đó nói cô đơn như là mặt trái của tình yêu là chí lí, ít nhất trong trường hợp Hữu Thỉnh. Và nữa, Hữu Thỉnh là một thi sỹ biết cách “thương lượng với thời gian”. Thơ ông chứa đầy một thời để sống, thời để yêu. Hữu Thỉnh là một trong số các thi sỹ đương đại biết cách gia tăng hàm lượng văn hóa của thơ ca.
           Tiếp cận Nguyễn Quang Thiều như một đại biểu của đổi mới thơ thời hậu chiến tác giả nhận ra phẩm tính văn hóa của một người được cái diễm phúc của số phận đặt vào giữa một thung thổ văn hóa rất mới mẻ so với thế hệ mình – văn hóa Mỹ La tinh với cái chất mê đắm của sự sống, cái cuồng nhiệt của cảm xúc, cái phá cách của kỹ thuật, cái tận hiến tận hưởng của cá thể giữa đồng loại, cái táo bạo bất ngờ của những phát kiến, nghĩa là: “Ông đã được tận hưởng nền văn hóa châu Mỹ La tinh đầy bản sắc hứng khởi. Nhất là nền văn hóa ấy lại được đốt lên bởi những xúc cảm cuồng nhiệt của một cuộc cách mạng với những lãnh tụ râu dài và đôi mắt đa tình đặc sắc”. Một đặc điểm trong ứng xử (được coi như là một phạm trù trong phạm trù vĩ mô văn hóa) của hế hệ Nguyễn Quang Thiều là với quá khứ thì ngưỡng vọng và chiêm bái, nhưng rất có thể không theo cái cách “người đi sau giẫm lên dấu chân người đi trước theo lối đi rừng” như cách Trần Đăng đã miêu tả tuyệt vời chính xác trong thiên bút ký nổi tiếng viết liền ngay sau Cách mạng tháng Tám 1945 Một lần tới thủ đô. Khuất Bình Nguyên, tôi nghĩ, chính xác và tinh tế khi viết: “ Cuộc sống đánh vào thơ muôn vàn lớp sóng và Thiều đã cùng thế hệ mình không ngần ngại ngã vào lớp sóng ấy. Dù chưa biết cái gì xẩy ra ở phía trước”.
          Đọc Giọt nước trong lá sen của Khuất Bình Nguyên, riêng tôi, có được cái nhã thú như đọc một thiên sáng tác thơ trong những chân dung thơ. Có nhiều người nói, nếu với tấm bằng tiến sỹ luật học và cương vị xã hội như thế thì cuộc đời Khuất Bình Nguyên có thể rẽ sang một nẻo khác, sẽ thành danh ở chốn quan trường. Nhưng dường như duyên nợ văn chương đã là tiếng gọi của tiềm thức, đã kéo ông về với một cái “nghiệp” đầy những gian truân, khổ ải. Là đồng môn Văn khoa Tổng hợp với tác giả từ cuối những năm sáu mươi của thế kỷ trước, tôi thấy ông đã kiên trì chí hướng, nuôi dưỡng khát vọng văn chương để đi tới cái đích được sống là mình và với những gì mình mong muốn. Giọt nước trong lá sen gợi cho tôi và văn giới nghĩ tới một phong cách phê bình thơ đặc sắc mang dấu ấn Khuất Bình Nguyên luôn tạo hứng thú thẩm mỹ và kích thích đối thoại văn hóa./.
                                                                             Hà Nội, tháng Tư năm 2016
                                                                                                B.V.T                         

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Vì sao Nguyễn Đổng Chi phải viết bài phê phán Phan Khôi?


Sự khả kính của hai bậc thức giả là cha và con khiến người viết bài này tự hỏi: Chẳng lẽ chỉ vì vướng cái đinh là bài phê phán Phan Khôi cách đây những 50 năm, mà công trình Nguyễn Đổng Chi toàn tập cứ phải dừng lại, và dừng đến bao giờ?
Phê phán trên phương diện học thuật...
Cuối tháng 10/1954, Phan Khôi chuyển về Hà Nội và làm việc ở Hội Văn nghệ, còn Nguyễn Đổng Chi sau một thời gian lao đao trong cải cách ruộng đất, đến năm 1955 mới được đưa về Ban Nghiên cứu Văn Sử Địa.
Những năm sau đó là khoảng thời gian Nguyễn Đổng Chi đang ở độ tuổi sung sức, sự dày công sưu tầm, tích lũy, nghiên cứu bao lâu nay đã đến độ chín, bút lực nơi ông trở nên sung mãn, và nhờ thế, ông trở nên nổi tiếng.
phan khoi.JPG
Ngược lại, Phan Khôi đã bước vào tuổi thất thập, tài cũng đã gần chạng vạng như ông tự nhận, và quan trọng hơn là chỉ ít lâu sau ông rơi vào vòng xoáy của vụ Nhân văn - Giai phẩm. Trên các tập Giai phẩm, Phan Khôi đăng bài Phê bình lãnh đạo văn nghệ, truyện ngắn Ông bình vôi, một chùm ba bài thơ Hớt tóc trong bệnh viện quân y, Hồng gai và Nắng chiều. Ông nhận lời mời của các văn nghệ sĩ trẻ chủ trương tờ Nhân Văn để làm Chủ nhiệm của tờ báo này mặc dầu ông không tham gia bất cứ việc gì của tờ báo. Trên báo Nhân Văn của Hội Nhà văn, ông đăng truyện ngắn Ông Năm Chuột.
Sự xuất hiện của Phan Khôi trong cái gọi là Nhân văn - Giai phẩm của các năm 1956 - 1958 chỉ có thế. Đến ba, bốn chục văn nghệ sĩ, nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu trong quân đội, ngoài dân sự, các vị giáo sư ở các trường đại học, già có, trẻ có, đã tham gia viết bài cho hai ấn phẩm nói trên đều bị coi là mắc vào nhiều tội, nhưng tội chung là phản động.
Nhiệm vụ đặt ra là phải vạch rõ chân tướng bọn phản động này, đấu tranh tiêu diệt tư tưởng độc hại của chúng và phải xử lý nghiêm khắc từng người tùy theo tội trạng nặng, nhẹ. Phan Khôi bị liệt vào hàng đầu sỏ, bị coi là có tội nặng, nhưng vì ông tuổi cao, uy tín cũng cao nên chỉ bị hai lần điều đến chỗ ở kém tiện nghi hơn, bị khai trừ khỏi Hội Nhà văn, và nghe nói là còn bị cấm công bố tác phẩm.
Đã có nhiều người viết nhiều bài phê phán, chửi rủa, thóa mạ Phan Khôi, thậm chí dựng đứng nhiều chuyện cho ông, nhưng như vậy vẫn chưa đủ. Cần có những bài nghiên cứu đi sâu vào học thuật cũng theo chủ đề ấy để giúp mọi người thấy rõ hơn Phan Khôi là kẻ phản động không phải chỉ ở đầu môi chót lưỡi, mà ngay trong chiều sâu tư tưởng, trên tầm cao lý luận ông ta cũng phản động lắm. Có khó mấy cũng phải tìm cho ra cái tội ấy. Ai cũng đã có việc của người ấy rồi, chỉ còn Nguyễn Đổng Chi, và thế là ông được nhắm đến.
Nguyễn Đổng Chi và con trai ông - Nguyễn Huệ Chi, lúc đó đang là sinh viên Khoa Văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội - trong học thuật, đối xử với nhau bình đẳng như bạn bè, có gì cũng trao đổi với nhau. Khoảng tháng 3/1958, nhân một ngày chủ nhật, hai bố con ông cùng đi chơi phố, từ Ô Đống Mác lên phố Tràng Tiền là nơi có nhiều hiệu sách cả quốc văn lẫn ngoại văn. Đến ngã tư Tràng Tiền rẽ về phía Nhà Hát Lớn, tới gần hiệu Bôđêga, nhìn thấy hai bên đường có những tờ báo treo thòng xuống là chỗ bán sách báo, như sực nhớ ra, Nguyễn Đổng Chi nói với con trai:
Ông Liệu - tức nhà sử học Trần Huy Liệu, Trưởng Ban Nghiên cứu Văn Sử Địa, thủ trưởng trực tiếp của Nguyễn Đổng Chi - có nói với bố là: Phan Khôi thì rõ là sai rồi, bởi vì tự dưng lại đứng ra làm Chủ nhiệm báo Nhân Văn, để cho anh em trẻ nhân danh đòi tự do cho văn nghệ mà thoát ly đường lối lãnh đạo của Đảng, cho nên Phan Khôi phải chịu trách nhiệm về việc ấy. Thế nhưng đối xử với Phan Khôi như thế là không được, bởi vì Phan Khôi là một học giả nổi tiếng và một trí thức lão thành, không thể đánh đồng với những người khác.
Gần 1 tháng sau, một buổi chiều Nguyễn Đổng Chi đi làm về, thái độ lặng lẽ khác với ngày thường, chỉ đi đi lại lại mà không nói gì, rõ ràng là ông đang bận tâm vào một điều gì đó. Người con trai hỏi bố:
- Hôm nay có chuyện gì mà bố có vẻ ưu tư thế? Người bố đáp:
- Bố mới nhận một nhiệm vụ khó nghĩ quá. Người con hỏi nhiệm vụ gì, thì ông trả lời:
- Phải phê phán Phan Khôi. Người con ngạc nhiên, hỏi lại:
- Ủa, sao hôm trước bố đã nói thế rồi kia mà? Người bố đáp
- Nhưng hôm nay thì yêu cầu đặt ra là Tập san Văn Sử Địa phải có một bài phê phán Phan Khôi mà bố được lãnh cái trách nhiệm ấy.
Mấy hôm sau thì Nguyễn Đổng Chi bắt đầu đi thư viện rất miệt mài, đơn giản chỉ vì muốn phê phán Phan Khôi về phương diện học thuật thì phải biết ông ta đã viết gì, nói gì về phương diện ấy, mà về chuyện học thuật thì Phan Khôi đã bàn về quá nhiều lĩnh vực, biết chọn lĩnh vực nào? Khoảng nửa tháng sau, có vẻ là đã tìm ra đề tài, ông nói với con trai:
- Bố sẽ cố gắng chỉ nói về Phan Khôi trong giai đoạn từ 1945 về trước mà thôi. Còn giai đoạn sau, bố không nói, bởi vì xem ra, những bài ông ấy viết trên các báo vừa rồi thì không có gì để nói được. Là bởi vì ông ấy phê phán lãnh đạo văn nghệ, mà việc ông ấy phê phán một cái tập thể đứng ra thẩm định giải thưởng, đồng thời lại đưa tác phẩm vào để xin được trao giải, thế thì cái tập thể ấy có còn đạt được tiêu chuẩn gì gọi là dân chủ, gọi là công bằng nữa hay không? Thì bố thấy ông Phan Khôi nói chuyện ấy rõ là được chứ. Cho nên bố chỉ khoanh lại, nói về ông ấy từ 1945 trở về trước cho tiện.
Thật tội cho nhà học giả, về tri thức và lương tâm, rõ ràng là ông đã không thể làm được cái việc bị giao, nhưng vẫn phải làm, vì vậy muốn làm được thì phải vận dụng toàn bộ trí tuệ học giả của mình để làm một việc thậm chí ít trí tuệ là bới lông tìm vết. Người con chờ đợi bài viết của người bố với lòng tin rằng ông chỉ phê phán một cách chừng mực thôi.
Khi viết xong bài Quan điểm phản động, phản khoa học của Phan Khôi phải chăng là học mót của Hồ Thích? Nguyễn Đổng Chi đưa cho con xem thì anh hơi bị choáng vì thấy cha mình viết với lời lẽ nặng quá. Vì kính trọng bố, người con không nói gì, vả lại bấy giờ anh cũng nghĩ Phan Khôi sai mặc dù anh chưa biết được nhiều lắm về cụ. Anh tự trấn an: một người nghiêm cẩn như bố mà phê phán đến thế, thì chắc là phải đúng. Bài này sau đó đăng trong Tập san Văn Sử Địa số 41 tháng 6/1958.
Ông Nguyễn Đổng Chi. Ảnh IE
Học giả Nguyễn Đổng Chi, sinh ngày 6/1/1915, nguyên quán là làng Đông Thượng, xã Hậu Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Ông là nhà nghiên cứu văn học, sử học, văn hóa dân gian, nổi tiếng với bộ sách Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam và nhiều tác phẩm khác. Ông làm Viện trưởng Viện Hán Nôm thời kỳ 1978 - 1981, được phong Giáo sư Văn học năm 1984. Ông qua đời tại Hà Nội ngày 20/7/1984, thọ 70 tuổi.

Tuy chênh nhau đến 28 tuổi, nhưng Nguyễn Đổng Chi không lạ Phan Khôi bởi nhiều lẽ. Khi Nguyễn Đổng Chi bắt đầu nghiên cứu văn học và văn hóa dân gian, thì trước đó rất lâu ông đã nghe tiếng Phan Khôi cũng như đọc nhiều bài báo của ông về nhiều lĩnh vực. Rồi trong kháng chiến chống Pháp, công việc nghiên cứu giúp họ biết nhau nhiều hơn.
"Sau này con cố gắng sửa sai lầm của bố"
Chuyện đến đó coi như xong, mãi lâu sau bố con họ không đả động đến nữa. Thế nhưng có một lần, nhân câu chuyện gì đó, Nguyễn Đổng Chi có nói lại với người con trai:
- Bố ân hận quá, đã nói những chuyện không đúng về cụ Phan Khôi, bởi vì cụ Phan Khôi từ trước cách mạng đã được dư luận coi là Ngự sử văn đàn, là một người rắn rỏi, cứng cỏi, thẳng thắn. Ngay với chính quyền thực dân Pháp từ thập kỷ 20 ông ấy đã dám nêu lên nhiều vấn đề xã hội, chính sách cai trị của họ mà không sợ. Cho nên những điều ông ấy viết bao giờ cũng có tính chất đối thoại với người khác. Mà đối thoại chính là cái biểu hiện của sự dân chủ. Vì thế mà bố nghĩ, bố đã phê phán trúng vào chỗ đó thì chính là bố đã theo đuôi để góp phần đưa đến không khí mất dân chủ trong cái bài của bố.
Bây giờ nghe thuật lại điều này, chúng ta bắt đầu nhận ra sự can đảm của một nhà trí thức, chia sẻ với ông sự trầm ngâm rất lâu sau câu ông vừa nói với người con trai. Chắc chắn là ông đau lắm, nhưng ông cố nuốt nỗi đau đó vào trong để nó tiếp tục chà xát lương tri ông, để nó không cho ông sống yên ổn. Chẳng ai bắt ông phải làm thế, nhưng ông tự bắt mình phải làm thế, như là một sự sám hối. Và ông đã đi từ sự trăn trở, quặn đau để rồi đạt đến sự giải thoát, thanh thản. Giây phút ấy vụt lóe lên thứ ánh sáng của lương tri được bảo toàn, một lương tri hiếm thấy vào thời ấy ở những trí thức như ông.
Mùa xuân năm 1984, lần đầu tiên Nguyễn Đổng Chi được cử đi nghiên cứu ở Liên Xô chừng 2 tháng, ông không chịu nổi cái giá rét của xứ bạch dương, nên khi về bị ốm khá nặng. Nguyễn Huệ Chi đến thăm bố. Thấy con đến, như chỉ chờ có thế, Nguyễn Đổng Chi nói tiếp câu chuyện tưởng đã dừng lại từ ngày nào:
- Bố thấy ở Liên Xô có hai điều đáng lưu ý: Một là việc nghiên cứu Đông phương học của họ đến nơi đến chốn, chứ không phải là nóng đâu phủi đấy như chúng ta. Họ giải quyết việc gì cũng rất hệ thống. Nhưng điều thứ hai bố thấy họ có chỗ này không được: tức là họ vẫn đặt công việc nghiên cứu vào một đường rãnh (chính trị - khi thuật lại, con trai ông thêm vào cho rõ ý người nói) mà mọi người đều phải trượt trên cái đường rãnh ấy; cuối cùng thì người nào cũng quy về một điểm mà không còn nhìn thấy sự đa dạng trong nghiên cứu nữa.
Đến khi khỏe lại rồi, Nguyễn Đổng Chi vẫn tiếp tục mạch chuyện ấy với người con trai, ông nói:
- Thật ra nước mình không phải là một nước có lý luận và cũng không có triết học, chỉ là một nước thực tiễn thôi. Cho nên việc nóng đâu phủi đấy là chuyện bình thường. Và việc mà bố gán cho Phan Khôi là học mót cái thực dụng của Hồ Thích mà Hồ Thích thì học mót của J. Dewey, là sai.
Bởi vì một chủ nghĩa thực dụng như của J. Dewey nhìn cho thấu đáo là lớn lắm chứ không thể coi thường, và chuyện ông Hồ Thích cắt gọt chỗ này chỗ khác, ông ấy áp dụng vào Trung Hoa cho đúng theo điều kiện thực tiễn của Trung Hoa, cái đó cũng bình thường. Còn chúng ta vốn quen học lại của Trung Hoa cũng chẳng có gì lạ. Do đó, nói rằng Phan Khôi đã học mót Hồ Thích và Hồ Thích thì đã học mót J. Dewey, là một lời phê phán quá nóng vội.
Rồi ông dặn lại người con:
- Sau này nếu có điều kiện thì con cố gắng làm thế nào sửa được cái sai lầm của bố.
Ghi nhớ lời bố dặn như là một di chúc, nguời con trai của ông càng về sau càng thấy những lời bố mình nói là rất đúng, và theo ông, sự ân hận của bố ông là sự ân hận của một người có lương tri, có tư cách của một trí thức. Đã có nhiều người gợi ý với ông nên làm toàn tập Nguyễn Đổng Chi, nhưng ông chỉ cười, không nói gì.
Không nói gì, bởi vì ông biết là chưa thể làm được. Đã làm toàn tập thì nhất định phải đưa hết các bài nghiên cứu của tác giả vào, dù hay dù dở, tức là phải có cái bài không vẻ vang gì cho bố ông là bài phê phán Phan Khôi. Ông quyết không giấu diếm ai hết, để bạn đọc thấy rõ cái bài đó đã làm cho bố ông xấu hổ như thế nào.
Công khai lời bố dặn, đã là sự can đảm và trung hiếu của người con đối với bố. Ở đây, người con trai của ông còn làm hơn thế. Trong thời gian biên tập bộ Từ điển Văn học - Bộ mới, nhận lời ủy thác của Văn Tâm - một người cũng lao đao trong thời Nhân văn - Giai phẩm - ông đã bổ sung, chỉnh sửa lại mục từ “Phan Khôi” do Văn Tâm viết từ nhiều năm về trước, sau này Văn Tâm rất muốn sửa mục từ ấy đi cho đúng thực chất, giá trị của đối tượng mình viết, nhưng bệnh tật không cho Văn Tâm kịp làm. Tuy rằng nhận lời ủy thác của Văn Tâm, nhưng trong thâm tâm mình, người con trai của Giáo sư Nguyễn Đổng Chi muốn tự mình thực hiện lời di chúc của bố để rửa mối nhục mà bố ông đã bị buộc phải gây ra cho mình.
Cũng trong Từ điển văn học - Bộ mới, các mục từ viết về những tác gia Nhân văn - Giai phẩm, ông rất quan tâm và đều có sửa chữa hoặc trực tiếp viết để ít nhất cũng lấy lại được cái nhìn tương đối đúng đắn - tương đối thôi chứ vẫn chưa nói được hết giá trị thực mà họ có. Cũng ở cuốn từ điển này, ông tự mình đảm nhiệm mục từ “Hồ Thích”, cốt là để giải oan phần nào cho cái gọi là chủ nghĩa thực dụng (le pragmatisme) học mót J. Dewey của Hồ Thích mà bố ông đã cực lực phê phán.
Sự khả kính của hai bậc thức giả là cha và con khiến người viết bài này tự hỏi: Chẳng lẽ chỉ vì vướng cái đinh là bài phê phán Phan Khôi cách đây những 50 năm, mà công trình Nguyễn Đổng Chi toàn tập cứ phải dừng lại, và dừng đến bao giờ? 
Phan An Sa (Theo Tạp chí Xưa và Nay, số tháng 10/2009)
Phần nhận xét hiển thị trên trang