Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 5 tháng 9, 2016

MINH BẠCH LỊCH SỬ


Tỉnh Quảng Nam đã có một việc làm rất ý nghĩa là tổ chức Hội thảo khoa học về Phan Khôi ( 1887- 1959 ) và sau đó đã đặt tên đường phố Phan Khôi tại Tam Kỳ. Phan Khôi là một Nhân sĩ yêu nước, một Nhà văn hóa ưu tú của đất Quảng có nhiều đống góp to lớn cho giai đoạn khai sáng nền văn hóa quốc ngữ nước nhà nhưng đã chịu nhiều oan khuất trong vụ Nhân Văn Giai Phẩm.Tuy vậy còn rất nhiều việc phải làm để trả lại danh dự ven toàn cho ông. Mời các bạn đọc bài.
PHAN KHÔI TRONG BỐI CẢNH VĂN HỌC
TỪ THỜI CHIẾN SANG THỜI BÌNH 1954-1958

Thái Kế Toại
Bối cảnh chính trị và văn học miền Bắc sau 1954
1.Bối cảnh chính trị
Đêm ngày 20 rạng ngày 21-7-1954 Hội nghị Giơnevơ về Đông Dương kết thúc. Ngày hôm sau, từ lúc 0 giờ Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam ra lệnh ngừng bắn trên chiến trường Việt Nam.
Ngày 10-10-1954 Ủy ban quân chính và quân đội tiếp quản thành phố Hà Nội. Hồ Chủ tịch và chính phủ trở về thủ đô. Trong phạm vi 300 ngày chuyển quân tập kết do Hiệp định quy định, lần lượt sau đó Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa tiếp quản các thành phố, thị xã, nông thôn từ vĩ tuyến 17 trở ra phía Bắc. Việc tiếp quản kéo dài đến tận 16-5-1955, quân đội Pháp rút quân khỏi vị trí cuối cùng, đảo Cát Bà.
Như vậy miền Bắc bước vào một giai đoạn mới, chuyển sang xây dựng đời sống hòa bình và thực hiện Hiệp định Giơnevơ để tiến tới Tổng tuyển cử thống nhất đất nước.
Việc xây dựng đời sống hòa bình bao gồm những công việc như thành lập chính quyền các cấp, các tổ chức xã hội, ban hành các chế độ chính sách, hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế, cơ sở hạ tầng, củng cố quân đội...
Việc thực hiện Hiệp định Giơnevơ bao gồm các công việc rút quân khỏi những vùng của đối phương, di chuyển cư trú theo nguyện vọng (miền Bắc gọi việc di chuyển cán bộ và gia đình cán bộ khỏi miền Nam là tập kết, miền Nam gọi việc di chuyển giáo dân, dân chúng khỏi miền Bắc là di cư), lập ranh giới tạm thời tại vĩ tuyến 17 sông Hiền Lương tỉnh Quảng Trị...
Trong khi thực hiện hai nhiệm vụ có tính chiến lược nói trên, có những trở ngại tác động tiêu cực tới đời sống xã hội, nhất là đối với Hà Nội và các đô thị. Về kinh tế xảy ra thiếu lương thực, khan hiếm thực phẩm, nạn đói đã xảy ra tại nhiều địa phương. Các chính sách mới như hộ khẩu, mậu dịch, bài trừ văn hóa cũ, một vài quan niệm tệ lậu của đời sống chiến khu vẫn áp dụng vào quản lý đời sống mới, gây ra những căng thẳng trong tâm lý dân cư, học sinh, trí thức cũ và một bộ phận mới, đã có nhiều người tự tử. Về thi hành Hiệp định Giơnevơ xảy ra những xung đột căng thẳng, như một bên lợi dụng Hiệp định cưỡng ép người di cư, một bên chống lại việc cưỡng ép, dẫn đến một số cuộc bạo loạn. Ở một số địa phương miền Nam, trong khi Ngô Đình Diệm đang củng cố chính quyền của họ đã xảy ra hiện tượng đấu tranh manh động dẫn đến bị đàn áp, đổ máu.
Một sự kiện hết sức đáng tiếc là dưới sức ép của Quốc tế cộng sản và cố vấn Trung Quốc, Đảng lao động Việt Nam đã tiếp tục phát động cuộc Cải cách ruộng đất đợt 4 từ 27-6 đến 31-12-1955, đợt 5 từ 25-12-1955 đến 30-7-1956. Những sai lầm của cuộc CCRĐ đã làm cho xã hội miền Bắc hết sức căng thẳng, tâm lý bi quan, lòng người ly tán, tạo ra những mâu thuẫn mới.
Cũng vào thời gian này, cuộc cải cách dân chủ lần thứ nhất đang lan rộng ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu mà sự kiện tiêu biểu là Đại hội lần thứ XX Đảng cộng sản Liên Xô công bố những tội ác của Xtalin và công bố đường lối chung sống hòa bình giải trừ quân bị.
Để khắc phục hậu quả của CCRĐ, Đảng LĐVN đã ra Nghị quyết TW 9, Nghị quyết TW 10 tháng 8-1956 với nội dung kiên quyết khắc phục sai lầm của CCRĐ, chỉnh đốn tổ chức, mở rộng tự do dân chủ. Ngay lập tức chiến dịch sửa sai được thực hiện. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát biểu trước Quốc hội xin lỗi nhân dân và nêu rõ:
Một đảng mà giấu diếm khuyết điểm của mình là một đảng hỏng. Một đảng có gan thừa nhận những khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó vì đâu mà có và tìm mọi cách mà sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế mới là một đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính(1).
Tài liệu của Đại hội XX Đảng cộng sản Liên Xô được công bố. Trong bầu không khí đã giảm bớt căng thẳng, Tập san Giai phẩm mùa xuân bị cấm từ đầu 1956 được tái bản, Giai phẩm mùa thu tập I, tập II, tập III và tiếp theo ngày 20-9-1956 báo Nhân Văn ra đời...Những văn nghệ sỹ chủ trương hai tờ báo này gồm Nguyễn Hữu Đang, Văn Cao, Trần Duy, Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Đặng Đình Hưng, Tử Phác... Hưởng ứng Giai Phẩm và Nhân Văn còn có các báo Trăm Hoa của nhà thơ Nguyễn Bính, báo Sáng Tạo của nhóm nghệ sỹ điện ảnh với các nghệ sỹ Vũ Phạm Từ, Cao Nhị, Trần Công, Trần Thịnh, Phạm Kỳ Nam, Phan Tại, Phan Vũ.., tập san Đất Mới của nhóm giảng viên, sinh viên đại học Sư phạm, Tổng hợp Hà Nội gồm Văn Tâm, Phan Kế Hoành, Hà Thúc Chỉ, Bùi Quang Đoài, Cao Xuân Hạo, Phan Ngọc...
Như vậy phong trào NVGP là một trào lưu tư tưởng dân chủ xuất phát từ chính yêu cầu sửa chữa sai lầm, mở rộng dân chủ của Đảng Lao động Việt Nam. Ở giai đoạn này chưa đặt ra vấn đề đấu tranh thống nhất đất nước bằng phương pháp vũ trang. Khôi phục kinh tế miền Bắc vẫn là nhiệm vụ cấp thiết cho đến hết Kế hoạch 3 năm 1958-1960.
Việc chuyển hướng đấu tranh vũ trang cho cách mạng miền Nam chỉ thực sự rõ ràng từ khi có Nghị quyết 15 vào tháng 1-1959.
Trong suốt mấy chục năm qua có một cách lý giải nguồn gốc của Nhân Văn – Giai Phẩm ở trong và ngoài Việt Nam đã làm hại uy tín và thiện cảm đối với nó. Đó là việc gán cho nó động cơ chống đối, nhằm lật đổ chính quyền miền Bắc và Đảng lao động Việt Nam, phá hoại cuộc đấu tranh thống nhất đất nước. Những tiền đề văn nghệ của nó đã trở nên hung hãn sau những lời bình luận đầy kích động. Nếu sự thật của phong trào Nhân Văn – Giai Phẩm là như thế nó đã khó tồn tại và khó được gìn giữ trong ký ức của nhân dân cùng nhiều thế hệ văn nghệ sỹ Việt Nam.
2. Bối cảnh văn học
Tâm lý nói chung của nhân dân cũng như trí thức, văn nghệ sỹ, bộ đội sau khi về Hà Nội là hy vọng một sự thay đổi lớn về đời sống, thoải mái hơn về tư tưởng, hy vọng đó vấp phải một thực tế khắc nghiệt. Hầu hết văn nghệ sỹ từ vùng kháng chiến trở về đều lâm vào cảnh sống chật vật nghèo khổ.
Chúng ta không thắc mắc gì về cảnh sống chật vật trong kháng chiến. Bấy giờ, dù trèo rừng xanh, ăn mỗi ngày một miếng cơm cháy, người nào cũng vui lòng vì nghĩ rằng: trước mắt chúng ta, chỉ có hai chữ tự do hay nô lệ. Nhưng trở về Hà Nội, giữa những phố xá đầy lụa, tủ kính và ánh đèn xanh đỏ, có lẽ chưa bao giờ người nghệ sĩ cảm thấy cay đắng như lúc này.
Cần nói thẳng rằng ở một toà soạn báo văn nghệ, trong số tám biên tập viên có vợ, thì sáu người vợ đã thất nghiệp hay bán thất nghiệp.
Những trang giấy trắng đáng lẽ chỉ dùng viết những bài thơ, cũng đã bao nhiêu lần biến thành lá đơn xin việc. Nhưng những lá đơn ấy gửi đi, để rồi im lặng không nghe một tiếng trả lời.
Sự thực đã có những nhà văn viết đêm, không có một tách cà-phê để uống. Đã có những thi sĩ không làm thế nào mua được dăm điếu thuốc lá hút trong cơn nghiện. Và đã có một kịch sĩ bán chiếc đồng hồ đeo tay của mình để bồi dưỡng viết cho xong cuốn sách, nhưng sách in ra không đủ để chuộc lại đồng hồ.
Hữu Loan có thể nói cho chúng ta biết tình cảnh của anh hai năm nuôi vợ nuôi con đã chất đầy nợ trên vai gầy của người thi sĩ. Nằm trong bóng tối căn nhà nhỏ ngoại ô Hà Nội, khi không còn tiếng vợ kêu và trẻ con khóc, Hữu Loan chỉ mơ ước có một ngọn đèn dầu thức viết.
Văn Ký cũng có thể nói cho chúng ta biết tình cảnh của anh. Buổi sớm mai củ khoai luộc không có cho con ăn. Nghe tiếng con khóc mà đứt ruột.
Khoai không thể mua cho con, nói gì đến ước mơ có những con búp bê mang giá hai vạn đồng ở cửa hàng mậu dịch. Có một nhà văn, đau xót quá, viết vào nhật ký thế này: “Ừ nhỉ, người ta bày những con búp bê tóc vàng ấy trong ngăn tủ để làm gì? Tại sao người ta cứ muốn phô ra trước mắt những người cha một sự mỉa mai nhức nhói?”(2).
Sự phân hóa trong văn nghệ sỹ đã diễn ra, đặc biệt là khoảng cách giữa lãnh đạo các hội, cơ quan văn nghệ với anh em quần chúng văn nghệ. Lãnh đạo đã có chế độ, tiêu chuẩn, được đi tham quan nước ngoài. Những cái hố ngăn cách giữa lãnh đạo văn nghệ và văn nghệ sỹ trước đây ngày càng rộng ra, gay gắt hơn, nhất là khi mà những tệ lậu cũ, chủ nghĩa bè phái, thói coi thường dân chủ không được khắc phục kịp thời.
Đã có những đánh giá không hài lòng với sự nghèo nàn, đơn điệu, quản lý gò bó, tuyên truyền một chiều, ảnh hưởng sâu rộng của chủ nghĩa Mao lên văn học kháng chiến. Yêu cầu đổi mới đề tài, cách viết không chỉ riêng ở văn học cũng bức bách với các lĩnh vực khác, âm nhạc, hội họa, sân khấu, điện ảnh... Một số tác phẩm mới của văn học, sân khấu, điện ảnh phương Tây và Liên Xô đổi mới mang lại cho văn nghệ sỹ - những người nhiều năm nay bị cách biệt với thế giới trong núi rừng kháng chiến - hy vọng về một chân trời của một nền văn nghệ mới.
Trong cuộc sống đô thị, con người kháng chiến biến đổi, những cái xấu mới xuất hiện, cái tệ lậu cũ sống lại, những mẫu người cơ hội, vụ lợi làm vẩn đục mối quan hệ đồng chí lâu nay vốn trong sáng.
Hoàng Cầm viết:
Tôi người làng quan họ
Ngập ngừng trở lại quê hương
Tiếng hát lại bắt đầu bậc giếng bờ mương
Sao em tôi chưa hồng sắc mặt
Xác lão Tiên dễ vùi chưa chặt
Lổm ngổm bò lên
Những lùm cây đen
Vẫn lò dò theo chân từng đôi đôi lứa lứa
Trời chưa sáng rõ
Sương mù úp xuống nương dâu
Tay người yêu e thẹn tìm nhau
Ai nhầm trói tay kẻ trộm
Bóng Tiên chỉ trùm khăn áo mới
Lại nghênh ngang đi tuần làng(3)
Văn Cao viết:
Những con người không phải của chúng ta
Vẫn ngày ngày ngày ngang nhiên sống
Chúng nó còn ở lại
Trong những áo dài đen nham hiểm
Bẻ cổ bẻ chân đeo tội ác cho người
Chúng nó còn ở lại
Trong những tủ sách gia đình
Ở điếu thuốc trên môi những em bé mười lăm
Từng bước chân các cô gái
Từng con đường từng bãi cỏ từng bóng tối
Mắt quầng thâm còn nhỡ mãi đêm
Chúng nó còn ở lại
Trong những tuổi bốn mươi
Đang đi vào cuộc sống
Như nấm mọc trên những thân gỗ mục
Chung quanh còn những người khôn ngoan
Không có mồm
Mắt không bao giờ nhìn thẳng
Những con mèo ngủ yên trên ghế
Trong một cuộc dọn nhà
Những con sên chưa dám ló đầu ra
Những cây leo càng ngày càng, tốt lá(4)
Hữu Loan viết:
Một điều đau xót
Trong chế độ chúng ta
Trong chế độ dân chủ cộng hoà
Những thằng nịnh còn
thênh thang
đất sống
Không quần chùng, áo thụng
Không thang đàn bà
Nhưng còn
thang lưng
thang lưỡi
Những mồm
không tanh tưởi
Ngậm vòi đu đủ
Trợn mắt
Phùng mang
Thổi vào rốn cấp trên
“Dạ, dạ, thưa anh…
Dạ, dạ, em, em…”
Gãi cổ
Gãi tai:
… anh quên ngủ
quên ăn
nhiều quá!
Anh vì nước
vì dân
hơn tất cả
từ trước đến nay
Chân xoa
và xoa tay,
Hít thượng cấp
vú thơm
như mùi mít
Gọi như thế là
phê bình cấp trên
kịch liệt
...
Chúng nó ở đâu:
Thối thóc thuế
Mục kho hàng
Phong trào suy sụp
Nhân dân mất cắp
đang giữa ban ngày
To cánh và to vây
Những ai
không
nịnh hót
Đi, mang cao
liêm sỉ con người
Chúng gieo hoạ, gieo tai
Kiểm thảo
hạ tằng
Còn quy là phản động!
( Cũng những thằng nịnh hót. Giai phẩm Mùa Thu tập II)
Không chỉ ở các thành viên Nhân Văn – Giai Phẩm, ở một số nhà văn khác cũng đã manh nha xuất hiện một khuynh hướng hiện thực mới, nhân văn mới về con người trong cuộc sống hiện tại. Và ngay lập tức họ cũng đã bị phê phán.
Đó là Nguyễn Đình Thi với truyện ngắn Đường về
Nguyễn Tuân với tùy bút Phở
Tô Hoài với tiểu thuyết Mười năm
Kim Lân với truyện ngắn Ông lão hàng xóm
Sao Mai với Thôn Bầu thắc mắc
Xuân Thu với Đêm lang thang
Hữu Mai với truyện ngắn Đôi mắt, Mất hết, Những ngày bão táp.
Nguyễn Huy Tưởng với Một ngày chủ nhật, Một phút yếu đuối
Vũ Bão với tiểu thuyết Sắp cưới
Nguyễn Ngọc Tấn với truyện ngắn Im lặng
Nguyễn Thành Long với Một trò chơi nguy hiểm
Bùi Hiển với Ánh mắt
Văn Linh với tiểu thuyết Mùa hoa dẻ
v.v...
Như vậy, ở thời kỳ chuyển tiếp từ thời chiến sang thời bình sau 1954 có đòi hỏi thật sự về đổi mới văn học nghệ thuật cả về nội dung lẫn hình thức. Tức là cuộc sống đòi hỏi nhà văn phải có cách nhìn mới, nhìn thẳng vào những vấn đề của con người, của cuộc sống đang đặt ra và viết nó với cách viết mới. Đó là quy luật tất yếu. Sau này khoảng thời gian sau 1975 cũng xuất hiện tình trạng khủng hoảng sáng tác văn học và nhà văn Nguyên Ngọc với tư cách Bí thư Đảng đoàn HNVVN đã đưa ra bản Đề cương đề dẫn văn học như là một kiến nghị với Trung ương tìm cách tháo gỡ khủng hoảng đó.
Những văn nghệ sỹ khởi xướng, hưởng ứng và tham gia phong trào Nhân Văn - Giai Phẩm, do nhạy cảm, có cá tính mạnh mẽ, có thái độ dũng cảm, đã sớm phát hiện ra yêu cầu đổi mới đó và đi đầu như những người lính tiên phong.
Đã có người cho rằng sau này khi các tác gia Nhân văn - Giai phẩm được hoạt động công khai trở lại, văn đàn không thấy họ có tác phẩm ghê gớm như huyền thoại, tức là cũng “thường” thôi. Ý kiến này không hẳn chính xác, bởi vì Nhân Văn - Giai Phẩm xuất hiện với tư cách là một phong trào, hoặc có thể gọi là một “trường” văn học. Nó mới chỉ bắt đầu ở thời điểm sau 1954, đáng ghi nhận ở thời điểm khai phóng này. Sau nữa nó có tác động vào tiến trình văn học miền Bắc trên nhiều phương diện với ý nghĩa tích cực. Còn việc từng tác gia có tiếp tục thể nghiệm thành công hay không, thành công đến mức nào, lại cần được xem xét ở những góc độ khác nhau.

Hoạt động và sáng tác của Phan Khôi
Theo Phan An Sa, con trai út của Phan Khôi, cho biết trung tuần tháng 10-1954 Phan Khôi cùng Ban Văn Sử Địa từ Đại Từ (Thái Nguyên) chuyển về Hà Nội. Đến cuối năm thì vợ, các con và các cháu của ông lần lượt tập kết ra Bắc(5).
Tuy đã ở xấp xỉ tuổi 70, Phan Khôi vẫn hoạt động trên nhiều lĩnh vực.
Ông tiếp tục công bố các thành quả nghiên cứu về Lỗ Tấn trên báo Văn nghệ (truyện ngắn Khổng Ất Kỷ, số 83 từ 25-31 tháng 8-1955; Sự đấu tranh về văn học của Lỗ Tấn, số 92 ngày 27-10-1955), trên báo Nhân Dân (Lỗ tấn một đại văn hào Trung Quốc và thế giới, ngày 28-8-1955). Ngày 30-10-1955 trong buổi kỷ niệm Lỗ Tấn, tổ chức tại Nhà hát lớn, ông được mời thuyết trình bài viết Đời sống và sự nghiệp văn học Lỗ Tấn. Cuối năm 1955 ông cho xuất bản cuốn Tuyển tập tiểu thuyết Lỗ Tấn tập I gồm 7 truyện do ông dịch. Đến giữa năm 1957 ông cho xuất bản tiếp Tuyển tập tiểu thuyết Lỗ Tấn tập II gồm 9 truyện.
Tháng 10 - 1956 ông cùng nhà thơ Tế Hanh đi Trung Quốc dự lễ Kỷ niệm 75 năm ngày sinh và 20 năm ngày mất của Lỗ Tấn. Bản tham luận và bài thơ Tụng Lỗ Tấn của ông được hoan nghênh nhiệt liệt.
Tại sao trong văn học Trung Quốc hiện đại ông chú ý nhiều đến Lỗ Tấn? Có một lẽ là ông thấy Lỗ Tấn có điểm gần với ông ở quan niệm văn học phải có sứ mệnh tranh đấu xã hội và cải biến dân trí của đất nước.
Đầu 1955 ông cho xuất bản cuốn Việt ngữ nghiên cứu tại Nhà xuất bản Văn nghệ. Ông tập trung nhớ lại viết lại sự kiện Vụ xin xâu ở Quảng Nam năm 1908 và cuộc khởi nghĩa Duy Tân năm 1916 để in trong bộ sách Tài liệu tham khảo: Lịch sử cách mạng cận đại Việt Nam. Con trai ông cho biết ông còn có thói quen hay ghi chép tục ngữ ca dao, tiếp tục bổ xung vào cuốn vở ghi chép có tên là Quanh tục ngữ ca dao mà ông bắt đầu ghi từ hồi còn ở Việt Bắc.
Ông viết bài Không đề cao Vũ Trọng Phụng, chỉ đánh giá đúng cho tập sách Vũ Trọng Phụng và chúng ta do Nhà xuất bản Minh Đức in vào giữa tháng 10-1956.
Trong năm 1956 có việc ông được mời tham gia chấm Giải thưởng văn học 1954-1955. Đó là một sự kiện tác động mạnh mẽ trực tiếp đến tư tưởng dân chủ trong văn nghệ của ông.
Quan trọng nhất là việc Phan Khôi nhận lời làm Chủ nhiệm cho báo Nhân Văn, cộng tác với Tập san Giai Phẩm, báo Văn. Ông đã viết và công bố tiểu luận Phê bình lãnh đạo văn nghệ trên Giai phẩm mùa Thu tập I, tản văn Ông bình vôi trên Giai phẩm mùa Thu tập II, Ba bài thơ trên Giai phẩm mùa Thu tập III, Bài Trả lời một tờ báo ở Sài Gòn trên Nhân văn số 1, Tạp văn Tìm ưu điểm (ký là K. trên Giai Phẩm mùa Thu tập II) , truyện ngắn Ông Năm Chuột trên báo Văn số 36 ngày 10-1-1958. Ngoài ra còn một vài tác phẩm chưa công bố, hoặc không được công bố như bài thơ Bảy mươi tự thọ, tập tản văn Nắng chiều mất bản thảo tại Nhà xuất bản Hội Nhà văn..
Qua hoạt động xã hội và văn học của Phan Khôi, thấy rằng, trong tư tưởng của ông vẫn nhất quán những yếu tố như ý thức làm việc, xây dựng chính thể, sự trung thực, ghét những tệ lậu, thói khuất tất của một số lãnh đạo văn nghệ. Có điều là trong bối cảnh chuyển tiếp giai đoạn thời chiến sang thời bình, cảm hứng về cơ hội của sự chuyển biến cởi mở dân chủ đã cho ông nhiệt tình hăng hái với trách nhiệm của mình. Có người cho rằng Phan Khôi bị động khi nhận lời làm Chủ nhiệm cho báo Nhân Văn. Thực ra quyết định của Phan Khôi đã được ông cân nhắc kỹ lưỡng như trong bài thơ Nắng chiều:
Nắng chiều đẹp có đẹp.
Tiếc tài gần chạng vạng,
Mặc dù gần chạng vạng,
Nắng được thì cứ nắng.
1956
Khí tiết, lập trường của ông đã thể hiện rõ ràng ngay từ khi báo Nhân Văn số 1 ra đời. Trong bài Trả lời một tờ báo ở Sài Gòn ông đã tuyên bố:
. Vâng, tôi chỉ là một tên đầy tớ nhưng mà là đầy tớ của nhân dân chứ không phải đầy tớ của đế quốc và địa chủ.
. Còn những người cộng sản Việt Nam, họ cũng chỉ là đầy tớ của nhân dân như tôi.
Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà chưa phải là chính phủ cộng sản, còn lâu lắm mới đi lên chủ nghĩa cộng sản, nhưng các anh nói là "Việt cộng", thì riêng phần tôi, tôi lại sợ gì mà không nhận là "Việt cộng"?
Các anh nói hơi sai một chút: Tôi theo "Việt cộng", đồng ý và hợp tác với "Việt cộng" chứ không "làm đầy tớ cho Việt cộng" như các anh nói.
Tôi viết báo ở Sài Gòn tám chín năm, các anh há lại không biết tôi luôn luôn phản đối phong kiến triều Nguyễn vì thực dân Pháp sao? Trong thời kỳ từ 1939 đến 1945, là lúc dân tộc Việt Nam có cơ phục hưng, trông thấy nước Việt Nam Dân chủ Cọng hoà thành lập, tôi được làm một công dân, tôi lấy làm hân hạnh lắm. Đến khi thực dân Pháp toan xâm chiếm lần nữa, tôi chạy lên Việt Bắc theo chính phủ chống Pháp để lấy nước lại, sao các anh lại gọi tôi là "làm đầy tớ"?
Với khí tiết ấy, với tính cách nhà Nho xứ Quảng, ông quyết đấu tranh không chịu sống chung với những tệ lậu trong văn nghệ. Ông nói rõ quan điểm về phê bình và tự phê bình:
Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lập lên đã 12 năm rồi, vững như trồng rồi, được cả nhân dân toàn quốc tín nhiệm rồi, tha hồ cho đứa nào vu cáo, đặt điều nói xấu, cũng không còn sợ thay, nữa là thứ đồ xuyên tạc.
Bây giờ chúng ta làm gì? Đành rằng chế độ của chúng ta là tốt, nhưng chúng ta đây là ai? Chúng ta đây là những người từng sống dưới chế độ phong kiến, thực dân, đế quốc hoặc nhiều hoặc ít, những tư tưởng xấu xa tiêm nhiễm của chế độ xấu xa ấy còn rớt lại trong đầu óc chúng ta hoặc ít hoặc nhiều. Do đó sinh ra những hiện tượng xấu xa mà chúng ta chỉ có bịt mắt lại mới không thấy. Bây giờ chúng ta phải bạo gan nhìn thẳng vào những cái hiện tượng đen tối ấy, vạch trắng nó ra, yêu cầu nhau sửa chữa. Sửa chữa đến tận gốc tư tưởng. Có như thế, chế độ của chúng ta mới tốt đẹp thêm, bền vững thêm, chúng ta mới xứng đáng là người mác-xít, là người cộng sản chủ nghĩa, là công dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Chúng ta muốn “củng cố miền Bắc” à? Tôi tưởng đó là một việc trọng yếu trong chương trình phát triển văn hóa cũng như phát triển kinh tế để củng cố miền Bắc(6).
Ông chỉ ra cần hiểu đúng thái độ phục vụ của văn nghệ sỹ và bản chất vấn đề mâu thuẫn giữa lãnh đạo văn nghệ và văn nghệ sỹ:
Hồi còn ở Việt Bắc, đường lối văn nghệ có vẻ giản đơn lắm. Tóm lại là theo chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa hiện thực xã hội để phục vụ tổ quốc, phục vụ nhân dân, nhất là phục vụ cho cuộc kháng chiến trước mắt. Những người công tác văn nghệ lúc bấy giớ có làm đúng và đầy đủ như thế không, chưa nói đến; một điều có thể nói chắc là ai nấy đều cố gắng đi theo đường lối ấy. Đối với lãnh đạo, họ có thắc mắc gì không? Hầu như không có thắc mắc gì cả. Nếu có thì cũng đã chín bỏ làm mười, vì trong thời gian đó, cái vĩ đại, cái gian khổ mà vinh quang của cuộc kháng chiến ngập trên người họ, họ đang để lòng mà nghĩ đến kháng chiến, không nghĩ đến chuyện khác.
... Ở đây tôi không đi sâu hơn, không đi tìm cái cớ tại làm sao mà sau khi thắng lợi trở về thủ đô, lãnh đạo văn nghệ thành ra vấn đề, quần chúng văn nghệ thắc mắc đối với lãnh đạo; tôi chỉ đưa ra cái hiện tượng không tốt ấy sau khi trở về Hà Nội hai năm nay.
Thình lình tôi dùng cái danh từ “quần chúng văn nghệ” chắc có người thấy mà lấy làm chướng mắt. Nhưng không dùng thì không lấy gì đủ chỉ rõ một cái hiện tượng: cái hiện tượng đối lập, một bên là lãnh đạo văn nghệ, một bên là quần chúng văn nghệ. Trước kia, trong thời kháng chiến, lãnh đạo với thứ quần chúng ấy là một, mà bây giờ là hai. Thêm một điều đáng chú ý, là cái thứ quần chúng ấy, hiện nay, không chỉ là văn nghệ sĩ theo kháng chiến ở Việt Bắc, mà còn văn nghệ sĩ ở vùng mới giải phóng, mà còn văn nghệ sĩ ở vùng Nam bộ, ở khu V ra tập kết nữa, một thứ quần chúng khá đông đảo, hễ lãnh đạo không khéo thì nó dễ thành ra đối lập(7).
Ông cho rằng bản chất tự do của văn nghệ sỹ không đối lập với lãnh đạo mà chỉ ở phần sáng tạo nghệ thuật và kiên quyết bảo vệ quyền tự do ấy:
...Sau khi về Hà Nội không lâu, giữa một cuộc tọa đàm ở trụ sở Hội Văn nghệ, một cán bộ cao cấp lấy tư cách cá nhân đề ra cái vấn đề “tự do của văn nghệ sĩ”. Cái vấn đề ấy được giải thích là: Có một số văn nghệ sĩ nào đó đòi tự do hay là có ý đòi tự do, mà tự do một cách bừa bãi, đến nỗi “ví như một kẻ kia đi trên đường phố, thấy có người ôm cái cặp da đẹp, giật ngang lấy đi, rồi nói rằng đó là tự do của mình vì mình thích cái cặp da.” Do đó, kết luận là: phải có lãnh đạo, văn nghệ sĩ phải ở dưới quyền lãnh đạo.
Tôi thấy vấn đề đặt như thế không đúng. Sự thực trước mắt chúng ta không hề có như thế.
Bao nhiêu văn nghệ sĩ từng theo kháng chiến, không luận ở Việt Bắc, ở Nam bộ, ở Khu V, đều đã ở trong Hội Văn nghệ, đều đã bằng lòng chịu lãnh đạo rồi, nếu họ không bằng lòng chịu lãnh đạo thì họ đã không ở trong Hội Văn nghệ. Còn những văn nghệ sĩ ở vùng mới giải phóng, họ còn ở lại đây tức là họ rắp tâm chịu lãnh đạo, nếu không thì họ đã đi vào Nam. Tóm lại, văn nghệ sĩ hiện nay có mặt ở miền Bắc không ai đòi tự do bừa bãi hết, không ai định “đánh giật cặp da” hết, tôi không biết vì sao lại đặt ra vấn đề ấy.
Quả thật như vậy, văn nghệ sĩ của chúng ta chẳng những đáng yêu mà lại đáng thương nữa. Họ biết trước kia họ đã đi sai đường, họ ngoan ngoãn chịu lãnh đạo. Mồ ma Tô Ngọc Vân, anh là một họa sĩ cụp vẽ mỹ nhân, năm 1948, anh còn vẽ bức tranh màu đề là “Hà Nội đứng lên”, trình bày một người thiếu phụ tuyệt đẹp đứng hiên ngang trong đống lửa, chung quanh là những cái bếp đổ vì bom đạn. Thế mà sau đó anh chừa hẳn cái vai cụp ấy. Ở Triển lãm Hội họa năm 1952, trong một bức tranh không có thể không có phụ nữ, thì anh vẽ một đám bà già và gái bé. Còn Thế Lữ, có lần tôi hỏi tại sao anh không làm thơ như trước kia. Anh trả lời rằng đợi đến bao giờ anh “chỉnh” lại được tâm hồn, cảm thông được với quần chúng cần lao, bấy giờ anh sẽ làm. Thứ văn nghệ sĩ như thế, mà nói họ đòi tự do, dù chưa phải là tự do bừa bãi, cũng đã oan họ lắm rồi, oan mà không có chỗ kêu.
Có lẽ bởi nhìn thấy ở một khía cạnh nào rồi nhận định hẳn như thế, nên từ đó lãnh đạo gắt hơn, kỳ tiêu diệt thứ tự do ấy của văn nghệ sĩ. Nhưng, sự thực, thứ tự do ấy vốn không có thể bị tiêu diệt, mà cái cá tính của văn nghệ sĩ, cái nghệ thuật tính của văn nghệ, nhân đó, tuy chưa bị tiêu diệt, chứ cũng đã bị thương.
Chưa nói đến cá tính và nghệ thuật tính. Ngay đến ý kiến, ngôn luận của quần chúng văn nghệ dù rất bình thường, không có gì hại, cũng bị kìm hãm. Tôi là một người đã chịu cái điều khó chịu ấy, tôi nói ra đây tưởng không có ai ác đến nỗi bảo tôi là dựng đứng hay xuyên tạc như bên địch.
...Thực ra thì, như trên đã nói, văn nghệ sĩ không đòi tự do bừa bãi, họ chịu ở dưới quyền lãnh đạo, chỉ duy cái vấn đề họ đặt ra là lãnh đạo phải như thế nào. Nói như thế cũng chưa hết ý. Phải nói rằng văn nghệ sĩ cũng muốn được tự do, nhưng họ chỉ yêu cầu được tự do trong nghệ thuật(8).
Ông còn giải thích rõ ràng quan hệ biện chứng của văn nghệ với chính trị:
Đành rằng văn nghệ phục vụ chính trị, cho nên chính trị phải lãnh đạo văn nghệ. Nhưng phải hỏi: chính trị nếu muốn đạt đến cái mục đích của nó, thì cứ dùng những khẩu hiệu, biểu ngữ, thông tri, chỉ thị, không được hay sao, mà phải cần dùng đến văn nghệ? Trả lời cho thành thật, e chính trị phải vỗ vai văn nghệ mà nói rằng: Sở dĩ tao tha thiết đến mầy là vì tao muốn lợi dụng cái nghệ thuật của mầy. Đã cởi mở với nhau như thế rồi, văn nghệ đồng ý. Nhưng phần nghệ thuật nầy là phần riêng của văn nghệ, chính trị không bao biện được, nó phải đòi tự do trong phần ấy. Như thế, tưởng chính trị cũng lấy lẽ gì mà không đồng ý. “Hai bên đều có lợi”, cái nguyên tắc ấy, ở ngày nay, nó thích dụng trong bất cứ một sự hợp tác nào.
Nhưng hai năm nay, lãnh đạo văn nghệ của chúng ta đã đi quá trớn mà không giữ đúng cái giao ước bất thành văn ấy. Lãnh đạo đã xâm phạm mỗi ngày một hơn vào quyền riêng nghệ thuật của văn nghệ sĩ.
Trong văn nghệ, không cứ về ngành nào, sáng tác hay “sản xuất”, đều hầu như bị Ban Thường vụ của Hội xỏ sẹo dắt đi, hay quá lắm là nhúng tay vào. “Phục vụ công nông binh” và “phục vụ kịp thời”, cái đó đã đành rồi; “quần chúng văn nghệ” bực mình vì còn phải chịu mệnh lệnh của lãnh đạo ngoài những cái đó(9).
Ông phản đối cách làm việc tùy tiện của Hội Văn nghệ khi xử lý tập san Giai phẩm mùa xuân:
...Tôi nhớ có một vị bắt lỗi trong bài thơ Trần Dần có chữ “Người” viết hoa. Lấy lẽ rằng chữ “Người” viết hoa lâu nay chỉ để xưng Hồ Chủ tịch, thế mà Trần Dần lại viết hoa chữ “Người” không phải để xưng Hồ Chủ tịch. Tôi ngồi nghe mà tưởng như mình ở trong chiêm bao: chiêm bao thấy mình đứng ở một sân rồng nọ, ông Lê Mỗ tố cáo ông Nguyễn Mỗ trước ngai vàng, rằng trong phép viết, chỉ có chữ nào thuộc về hoàng thượng mới phải đài, thế mà tên Nguyễn Mỗ viết thư cho bạn, dám đài chữ không phải thuộc về hoàng thượng. Nhưng may cho tôi, tôi tỉnh ngay ra là mình ngồi trong phòng họp Hội Văn nghệ.
Rồi đến ông Hoài Thanh viết một bài trên báo Văn nghệ, bằng giấy trắng mực đen, ghép Trần Dần vào tội phản động, đứng về phía địch chống lại nhân dân ta [2] .
Thật cái tội phản động ở xứ nầy sao mà ghép một cách dễ dàng quá. Hồ Phong bên Trung Quốc, còn phải điều tra bao nhiêu năm, công bố “ba sắp tài liệu”, mới vạch mặt hắn là phản cách mạng, là tay sai của Tưởng Giới Thạch được. Tôi lại còn thấy một cái tài liệu, nói Hồ Phong từng bị bắt quả tang có một thanh gươm, ở cái nạm có bốn chữ “Tưởng Trung Chánh tặng”, ở cái lưỡi có ba chữ “đảng nhân hồn”. Như thế thì phản động là đáng lắm, có đâu chỉ một bài thơ mà đã là phản động?
...Đọc xong sau một hôm, hai chúng tôi nói chuyện với nhau. Tôi bảo ông Thi rằng ông đặt sai vấn đề. Vấn đề Giai phẩm là vấn đề lãnh đạo, chứ không phải vấn đề quần chúng. Tôi phân tích rõ ràng cho ông thấy rằng tại lãnh đạo văn nghệ có thế nào cho nên quần chúng văn nghệ mới bất bình mà phát biểu ra như thế. Ví dầu trong sự phát triển của họ có lầm lỗi cũng còn là cái ngọn, mà cái gốc, phải tìm đến ở chỗ do lãnh đạo gây ra. Thế mà cả ba bài của ông Thi không có một chữ nào đụng đến lãnh đạo hết, chỉ đổ lỗi cho mấy người viết trong Giai phẩm, thế là không công bình, thế là quá đáng. Khi viết đây, tôi ngồi dưới ngọn đèn điện 20 nến, tôi nói có mặt đèn làm chứng, ông Thi nhận cho lời tôi nói là đúng, hứa sẽ viết phê bình lãnh đạo, nhưng mãi tới nay chưa thấy viết(10).
Ông phê bình thóí bè phái trong Ban giám khảo Giải thưởng văn học 1954-1955:
...Hôm bình định về thơ, tôi phản đối tập Ngôi sao đứng giải nhì, tôi nói: có vớt vát lắm thì cũng chỉ nên để nó đứng giải ba. Tôi cử ra những câu bí hiểm không thể hiểu nghĩa được, thì ông Huy Cận (một trong Ban chung khảo) bảo rằng đó là tại tôi “muốn” không hiểu thì không hiểu. Quái, tôi “muốn” làm sao được? Theo lẽ, ông Huy Cận nếu binh vực cho Ngôi sao thì phải cắt nghĩa rạch ròi những câu ấy ra, chứ sao lại bảo rằng tôi “muốn” không hiểu? Nhưng cả ban làm thinh, tự hồ ai cũng hiểu những câu ấy, không ai tỏ đồng ý với sự chỉ trích của tôi. Tôi còn cử ra những câu tầm thường quá, không xứng đáng là thơ, và nói rằng thơ Xuân Diệu ngày nay trở kém thơ Xuân Diệu ngày trước. Một ông trong ban (quên là ai) cãi rằng nếu thế thì bao lâu nay Đảng giáo dục Xuân Diệu không có hiệu quả gì sao? May mà một ông khác (quên là ai) lập tức đưa tay ngăn cản lại, nói đó không phải là cái luận cứ vững, đừng đưa ra. Nhưng đồng thời tôi trót đã vọt miệng thốt ra câu này: Đảng giáo dục Xuân Diệu làm cách mạng, chứ có giáo dục Xuân Diệu làm thơ đâu, thật như đức Khổng tử đã dạy rằng: “Ngựa tứ chẳng kịp lưỡi”. Cũng vì tôi nên có sự mâu thuẫn, phải biểu quyết, thì tôi đứng về thiểu số, mà nhớ hình như thiểu số tuyệt đối.
Hôm khác bình định về tiểu thuyết. Tôi phản đối Truyện anh Lục của Nguyễn Huy Tưởng đứng giải nhì. Tôi cử ra sáu bảy chỗ, kết luận rằng cái tiểu thuyết này nhiều chỗ không giống với sự thực, trái với chủ nghĩa hiện thực bước thứ nhất, nếu nó được giải cao thì khi ngoại quốc dịch nó ra, nhất là khi bên địch đọc nó, bất lợi cho văn học của chúng ta. Cả ban không ai bác lại lời tôi, tuyệt nhiên không có một người nào bác lại tôi, nhưng thế nào không biết, cuối cùng cũng phải biểu quyết, và tôi vẫn đứng về thiểu số, và lại là thiểu số tuyệt đối.
Đến khi việc đã xong rồi, Ban Chung Khảo không còn có buổi họp nào nữa rồi, tôi mới tiếp được hai tác phẩm về ký sự, đều đứng giải ba, có thông tri bảo đọc và cho ý kiến. Tôi thấy cái Nam bộ mến yêu của Hoài Thanh chỉ là bài viết chạy như bài đăng trên báo, không có gì là giá trị văn học, còn cái Lên công trường của Hồng Hà viết có công phu hơn. Tôi nhớ ra mình đã từng hạ hai tác phẩm của hai ông Xuân Diệu, Nguyễn Huy Tưởng xuống mà không được, bây giờ không còn có đủ sức bướng để mà hạ của ông Hoài Thanh xuống nữa, bèn viết một mẩu giấy đề nghị đưa Lên công trường lên giải nhì. Nhưng mẩu giấy ấy về sau chìm đi đâu mất, không ai nhắc đến.
...Cho đến hết tháng bảy mà chỉ có hai bài phê bình trên báo Văn nghệ. Một bài ông Hoàng Xuân Nhị (một trong Ban Chung khảo) phê bình Truyện anh Lục, độc giả không lấy làm mãn nguyện, có người đã nói, đọc nó chỉ thấy cái vẻ mô phạm hiền lành của một vị giáo sư đại học mà thôi. Một bài ông Hoài Thanh viết để binh vực choNgôi sao mà binh vực một cách gắng gượng quá, nhất là yếu, không hề chống cãi lại những chỗ đả kích trong ba bài của báo Trăm hoa. Tôi rất không phục ông Hoài Thanh ở điểm này: ông viết bài ấy sau ba bài của Trăm hoa mà ông không hề nhắc tới Trăm hoa lấy một tiếng, ông cố dìm nó xuống cũng như Phạm Quỳnh đã dìm báoHữu Thanh của Ngô Đức Kế. Nếu không dìm thì là ông khinh, cũng như Phạm Quỳnh đã khinh báo Hữu Thanh của Ngô Đức Kế.
Về vụ này, có một điều, người ngoài không phải là tôi, không biết đến, thì không lấy làm quái. Ấy là điều, ba ông Xuân Diệu, Nguyễn Huy Tưởng, Hoài Thanh đều có tác phẩm dự thi mà đều ở trong Ban Chung khảo. Nếu chỉ ở trong Ban Chung khảo mà thôi, còn khá; thử điều tra lại hồ sơ, thì ba ông còn ở trong Ban Sơ khảo nữa. Sao lại có thể như thế? Trường thi phong kiến thuở xưa, tuy có ám muội gì bên trong, chứ bên ngoài họ vẫn giữ sạch tiếng: Một người nào có con em đi thi, thì người ấy vẫn có được cắt cử cũng phải “hồi tị”, không được đi chấm trường. Bây giờ cả đến chính mình đi thi mà cũng không “hồi tị”: một lẽ là ở thời đại Hồ Chí Minh, con người đã đổi mới, đã “liêm chính” cả rồi; một lẽ trắng trợn vì thấy mọi cái “miệng” đã bị “vú lấp”.
Người ta cứ sợ “bên địch xuyên tạc”. Sao trong việc nầy không sợ? Nó cần gì phải xuyên tạc? Đọc mấy tác phẩm được giải thưởng nầy, tha hồ cho nó đánh giá văn học miền Bắc.
...Gọi là phê bình, chỉ có thế; tôi chỉ trình bày mấy hiện tượng không tốt trong giới văn nghệ. Còn sửa chữa, mong ở Đại hội sắp tới, nếu toàn thể xét thấy lời tôi nói có đúng phần nào thì xin tùy đó mà sửa chữa.
Riêng tôi thì tôi chỉ muốn Hội chúng ta, trong việc lãnh đạo, thực hành cái nguyên tắc dân chủ tập trung, mà phải từ dưới lên trên rồi mới từ trên xuống dưới, nghĩa là theo ý kiến nguyện vọng của quần chúng văn nghệ để lãnh đạo văn nghệ. Đừng như hai năm nay, lấy ý kiến của ba năm ba người trong Ban Thường vụ, hoặc của một người nọ hay một người kia để lãnh đạo, mà cái ý kiến ấy số đông văn nghệ sĩ không tán thành.
Được như thế thì sẽ không còn có cái hiện tượng hai bên đối lập nữa. Đó là một điểm trọng yếu trong chương trình phát triển văn hóa để củng cố miền Bắc(11).
Tiếp tục những vấn đề về lãnh đạo văn nghệ, Phan Khôi viết tiếp truyện ngắn Ông Năm Chuột trên báo Văn số 36. Với một bút pháp hiện thực ông đã kể lại quan hệ gia đình ông, dân làng ông, vùng quê ông với một người thợ bạc tên là Năm Chuột. Năm Chuột là dân ngụ cư, bị người làng nhìn bằng con mắt miệt thị, khinh rẻ nhưng khi tiếp xúc, gân gũi, anh học trò là tác giả Phan Khôi lại phát hiện ra người thợ bạc này khéo tay, tài giỏi, biết một ít chữ nghĩa nhưng lại khí khái dám nói ra suy nghĩ của mình dù là trước mặt con quan như tác giả. Mối quan hệ trao đổi kiến thức giữa hai người cởi mở nhưng Năm Chuột vẫn giữ được ranh giới sòng phẳng về nghề nghiệp:
Người ta, cái gì biết ít thì chỉ nên nghe chứ không nên nói, tôi không nói chuyện văn chương chữ nghĩa với ông, cũng như ông không dạy nghề làm thợ bạc cho tôi(12).
Nguyên tắc này đúng với một xã hội phát triển văn minh, kể cả đối với văn học nghệ thuật nữa. Truyện ngắn Ông Năm Chuột cùng với tản văn Ông bình vôi, Tìm ưu điểm với bút pháp bậc thầy, nội dung hàm chứa nhiều thông điệp mang tính ẩn dụ cao còn có ý nghĩa cách tân văn học so với các truyện ngắn minh họa đơn giản trong thời điểm đó .
Sự phê bình của Phan Khôi đã góp phần cho thắng lợi đợt đầu của Nhân Văn - Giai Phẩm. Trong cuộc họp 18 ngày ở Thái Hà ấp do Nguyễn Hữu Đang được giao chủ trì trước tinh thần phê bình mạnh mẽ của văn nghệ sỹ Tố Hữu và Nguyễn Đình Thi đã phải thừa nhận các khuyết điểm của công tác lãnh đạo văn nghệ. Ban Thường vị Hội Văn nghệ đã nhận sai lầm trong thông báo ngày 2-10-1956 như sau:
Trong việc lãnh đạo sáng tác và phê bình có những hiện tượng hẹp hòi, máy móc, những quan niệm đơn giản, gò bó, thiếu chú trọng đến những đặc điểm của văn nghệ và của từng bộ môn văn nghệ.
Tác phong lãnh đạo thiếu tập thể, dân chủ, do đấy đã dẫn đến những đặc điểm hẹp hòi, độc đoán cá nhân(13).
Tiếp theo Ban Thường vụ Hội Văn nghệ đã thừa nhận những sai lầm của mình trong cách tổ chức và lãnh đạo cuộc phê bình bài Nhất định thắng của Trần Dần và phạm một số khuyết điểm trong tổ chức chấm Giải thưởng văn học 1954-1955. .
. Hoài Thanh trong bài Tôi đã phê bình như thế nào trong việc phê bình bài Nhất định thắng của anh Thần Dần cũng phải tự nhận sai lầm nghiêm trọng là đã nghiễm nhiên coi Trần Dần là một kẻ thù, cô lập và tranh thủ dựa trên ý định lấy nhiều người đàn áp một người(14).
Trong bài Một vài sai lầm khuyết điểm trong sự lãnh đạo văn nghệ, Nguyễn Đình Thi tự phê bình :
Các văn nghệ sĩ đều đồng ý với sự lãnh đạo chung của Đảng, nhưng một số khá nhiều anh chị em bực bội vì những cách lãnh đạo hẹp hòi, gò bó của một số cán bộ phụ trách. Có những người nhân danh đường lối chính sách của Đảng mà đặt yêu cầu theo lối mệnh lệnh, hoặc can thiệp thô bạo cả vào hình thức nghệ thuật. Trong cuộc triển lãm Cải cách Ruộng đất, một cán bộ đòi chữa đến từng ngón tay ở một pho tượng, cho rằng bàn tay phải giơ thẳng ra như thế này hay thế kia mới là đúng(15).
Nguyễn Đình Thi đã thừa nhận những căn bệnh sùng bái cá nhân trong văn nghệ :
...Sự sùng bái cá nhân trước đây chưa bị vạch ra chỉ trích, nhưng vẫn ngấm ngầm làm cho mọi người văn nghệ lo ngại. Vì tất cả lẽ sống của người nghệ sĩ chân chính là không ngừng sáng tạo. Sự suy nghĩ táo bạo, sự phát minh không lúc nào muốn nghỉ, đó chính là ngọn lửa đốt sáng cuộc đời của người nghệ sĩ. Và những tìm tòi lớn của nghệ thuật xưa nay không bao giờ chỉ là tìm tòi về hình thức. Người nghệ sĩ muốn tìm tòi, muốn phát hiện những cái mới, trước hết là về đời sống quanh mình, trước hết là muốn tìm một nội dung mới cho nghệ thuật. Nhưng sự sùng bái cá nhân thì hạn chế những tìm tòi đó lại, vì nó coi như một người có thể nghĩ thay cho tất cả. Nó làm cho trách nhiệm của người nghệ sĩ giảm đi trong cuộc đời. Người văn nghệ chân chính trái lại, thấy trách nhiệm của mình là phải tự mình đi vào cuộc sống, tự mình nhận xét suy nghĩ, tìm ra sự thực, và đem hết lòng tin tưởng hăng hái của mình chiến đấu cho lẽ phải, nói lên những gì có ích cho đời sống(16).
Và tác hại của nó đối với văn nghệ kháng chiến:
...Những điều nói trên là một nguyên nhân của bệnh sơ lược, công thức đang trầm trọng ở một số tác phẩm, nhất là của những người sáng tác còn non trẻ, chưa có đủ kinh nghiệm sống, chưa có đủ kiến thức căn bản về nghệ thuật, và chưa có bản lĩnh vững chắc để sáng tác. Những tác phẩm đẻ non, "ăn sống nuốt tươi" đã xuất hiện, đề tài gần giống như nhau, nội dung khô khan, tình cảm nghèo nàn và cứng nhắc, con người không "sống" thực, làm cho người đọc, người xem không tin. Thái độ của tác giả đối với đời sống, rơi vào lối ca tụng một cách dễ dãi, lẩn tránh những vấn đề gay go và nóng hổi, làm như mọi việc trong đời đã tốt đẹp. Một số truyện kịch viết về cải cách ruộng đất, trong một thời gian, đã rơi vào một lối công thức "ba giai đoạn" như vậy: nông dân khổ, đội về phát động đấu tranh, đấu tranh xong nông dân có ruộng có nhà hể hả sung sướng. Truyện nào cũng na ná thế(17).
Những yếu kém của phê bình văn nghệ:
...Phê bình văn nghệ đáng lẽ phải tiến lên trước, đấu tranh với những sai lầm đó, nhưng ngược lại, còn bị kìm hãm, ì ạch, vì thiếu dân chủ, và thiếu phát huy đấu tranh tư tưởng. Tình trạng phê bình một chiều, khuynh hướng chụp mũ đã làm hại nhiều đến sự phát triển của văn nghệ. Thái độ phê bình của một số người phụ trách đã tỏ ra là kiêu ngạo chủ quan, thiếu trân trọng đối với công trình lao động nghệ thuật. Có những trường hợp chỉ một vài ý kiến phê bình vội vã hoặc quyết đoán của một người có cương vị lãnh đạo văn nghệ đưa ra, là đủ làm cho một tác phẩm bị vùi dập không được thảo luận rõ ràng để xem sai lầm khuyết điểm của nó ở đâu, và có thể sửa chữa lại được không. Trường hợp phê bình vội vã và sai lầm đã có tác hại lớn nhất có lẽ là trường hợp Hội nghị sân khấu năm 1950 lên án hình thức cải lương là sa đọa trụy lạc; những lời phê bình nghiệt ngã đối với cải lương từ hồi đó đến nay vẫn làm cho một số khá đông nghệ sĩ cải lương còn bất bình. Và có một lúc, nhận định sai lầm đó của Hội Văn nghệ đã gây ra nhiều khó khăn rất lớn cho ngành cải lương và các nghệ sĩ sống bằng cải lương. Đối vói những tác phẩm có sai lầm, sự phê bình phũ phàng, nặng về đập mà không có thái độ bạn bè, thân ái thảo luận cùng tác giả để xem có thực sai lầm không, sai lầm ở đâu, ngoài mặt sai lầm ra thì còn mặt nào đúng và tốt để phát huy lên. Không những thiếu thái độ bạn bè, mà có trường hợp trong khi phê bình tư tưởng, đã có thái độ như với kẻ đối địch về chính trị, hạ lời phê bình không đủ cân nhắc thận trọng đối với sinh mệnh chính trị của tác giả; trường hợp đáng tiếc đó đã xảy ra khi phê bình bài thơ “Nhất định thắng” của Trần Dần(18).
Với tư cách lãnh đạo Hội Văn nghệ, Nguyễn Đình Thi tự nhận:
Trách nhiệm của Hội Văn nghệ Việt Nam:
Hội Văn nghệ Việt Nam trực tiếp chịu trách nhiệm về những sai lầm khuyết điểm nói trên.
1.Tình trạng non kém trầm trọng về lý luận.
2. Tổ chức thủ công nghiệp, du kích, tùy tiện.
3. Tình trạng hẹp hòi, độc đoán cá nhân, thiếu dân chủ và tập thể.
...Bộ phận lãnh đạo trở thành một nhóm đóng cửa, hẹp hòi, cô độc, nể nang lẫn nhau, khi có khuyết điểm thì xuê xoa, không thẳng thắn đấu tranh nội bộ và mạnh dạn tự phê bình trước dư luận.
Cái tác hại của bệnh hẹp hòi, cô độc đó là đã đưa sự nể nang hoặc phục tùng cá nhân vào việc nhận xét văn nghệ, làm cho thiếu sự phê bình khách quan và công bằng, do đó làm tổn thương đến tình đoàn kết trong những người cùng làm việc sáng tác(19).
Với uy tín trong văn đàn nước nhà từ trước cách mạng, với vai trò chủ nhiệm báo Nhân Văn, với những tác phẩm đã in trên báo Nhân Văn, tập san Giai Phẩm, báo Văn, dù số lượng không nhiều nhưng cho thấy Phan Khôi có một vị trí quan trọng trong phong trào Nhân Văn - Giai Phẩm, gây ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhiều trí thức, văn nghệ sỹ, quần chúng nhân dân. Gần đây có nhà nghiên cứu đã áp dụng lý thuyết trường văn học của Bourdieu để xếp loại các văn nghệ sỹ Nhân Văn-Giai Phẩm lúc đó vào thế hệ trẻ đối với lớp văn nghệ sỹ tiền chiến đã già hơn, thì theo tôi trường hợp của nhà văn Phan Khôi là một ngoại lệ đặc biệt.(20)
Đánh giá sự phê phán Phan Khôi
Nhận thấy sự nguy hiểm của Phan Khôi, lãnh đạo văn nghệ đã dành cho ông sự ưu ái đặc biệt như là đối với một thủ lĩnh của phong trào Nhân Văn - Giai Phẩm, cũng như đối với trường hợp giáo sư Trương Tửu. Những người viết bài riêng phê phán ông đều có vị trí quan trọng lúc đó.
Hồng Quảng. Là một bút danh giấu mặt cho đến nay vẫn chưa xác định được là ai. Những bài viết của Hồng Quảng phê phán Phan Khôi, Trương Tửu đều có tính chỉ đạo về chính trị, cặn kẽ, sâu rộng về học thuật chứng tỏ người viết là một nhà nghiên cứu chuyên ngành văn học sử. Bài Phê phán Phan Khôi hay : ngựa quen đường cũ trên Tạp chí Văn nghệ số 4-1958.
Nguyễn Công Hoan. Đương kim Chủ tịch Hội Nhà văn khóa I viết bài Hành động và tư tưởng phản động của Phan Khôi cho đến thời kỳ toàn quốc kháng chiến trên Tạp chí Văn nghệ số 12 tháng 5-1958.
Hà Xuân Trường : Bài Một thái độ phê bình không đúng, một quan niệm sai lầm.
Nguyễn Đổng Chi. Bài Quan điểm phản động, phản khoa học của Phan Khôi phải chăng là học mót của Hồ Thích. Đăng trên Tập san Nghiên cứu Văn Sử Địa số 41 tháng 6-1958.
Đào Vũ. Bài Tính cách và bộ mặt chính trị nhơ nhớp của Phan Khôi ngày nay. Tạp chí Văn nghệ số 12 tháng 5-1958
Thế Lữ. Báo Nhân dân số 1501 ngày 21-4-1958.
Phùng Bảo Thạch. Trong Ban chấp hành Hội Nhà báo Việt Nam Bài Một nhà nho tiết tháo Phan Khôi trên báo Hà Nội hàng ngày 22 và 23-4-1958.
Các bài phê phán Phan Khôi có chung đặc điểm giống như các bài phê phán Nhân Văn - Giai Phẩm khác với lời lẽ đao to búa lớn, nặng về quy chụp, lý lẽ hồ đồ, vu cáo thóa mạ... Người ta quy kết Phan Khôi như sau: Phan Khôi làm tay sai cho thực dân Pháp, chống phá cách mạng có hệ thống từ lúc còn trẻ cho tới làm báo Nhân Văn. Phan Khôi có tội bóc lột nhân dân Bảo An bằng cách chiếm đoạt ruộng đất, thu tô nặng lãi. Phan Khôi làm mật thám, tham gia Quốc dân đảng, đi kháng chiến vì bất đắc dĩ. Học thuật của Phan Khôi là phản động, học mót của một học giả phản động Trung Quốc là Hồ Thích. Sáng tác của Phan Khôi lập lờ hai mặt, xỏ xiên chửi Đảng , chửi Chính phủ...
Có thể dẫn ra lời của Đào Vũ, một người vào tuổi con của Phan Khôi:
Đối với Phan Khôi, hãy chấm dứt kiếp chuột, kiếp chó, kiếp rùa, kiếp lợn của mình đi, hãy đừng làm con cóc già nữa, mà phải cúi mặt xuống đầu hàng nhân dân vô điều kiện, hãy ngay thật trở lại làm kiếp người(21).
Hoặc bài thơ Nguyễn Công Hoan họa lại bài Bảy mươi tự thọ của Phan Khôi:
Nhắn bảo Phan Khôi khốn kiếp ơi
Thọ mi mi chúc chớ hòng ai
Văn chương! Đù mẹ thằng cha bạc
Tiết tháo! Tiên sư cái mẽ ngoài
Lô-gích, trước cam làm kiếp chó
Nhân văn, nay lại hít gì voi
Sống dai thêm tuổi cho thêm nhục
Thêm nhục cơm trời chẳng biết gai.
Trích theo Đào Vũ (22)
Cùng với sự kết tội là sự phủ nhận tất cả thành quả đóng góp suốt nửa thế kỷ của ông cho văn hóa nước nhà.
Hầu hết các bài phê phán Phan Khôi sau này không được xếp vào tuyển tập của các tác giả nói trên xuất bản sau đổi mới. Có người cảm thấy day dứt lương tâm, coi là một nỗi nhục, không nói lại cho con cháu thì chết không nhắm mắt như nhà nghiên cứu Nguyễn Đổng Chi. (23)
Tháng 7-1958 Phan Khôi cùng với Thụy An, Trương Tửu bị khai trừ vĩnh viễn khỏi Hội Nhà văn Việt Nam.
Sau khi đổi mới, năm 1992 Hội Nhà văn đã lặng lẽ khôi phục hội tịch cho ông(24).
Có lẽ Bộ Tuyển tập Văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám 1945 - 1993 Kỷ niệm 45 năm Nhà xuất bản Văn học lần đầu tiên giới thiệu trở lại tên tuổi Phan Khôi với bài Không đề cao Vũ Trọng Phụng, chỉ đánh giá đúng.
Bài học về một giai đoạn lịch sử đối với văn học
Cho đến hôm nay, trên hành trình đổi mới của đất nước, đa số những văn nghệ sỹ của phong trào Nhân Văn - Giai Phẩm đã được chiêu tuyết. Nhiều người được Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật. Hầu hết các tác phẩm của họ đã được tái bản, trong đó có nhiều tác phẩm của Phan Khôi.Gần ba mươi năm đổi mới đã làm thay đổi rất nhiều bộ mặt văn học nghệ thuật với sự phát triển hội nhập thế giới. Tuy vậy, dư âm và những vấn đề của Nhân Văn - Giai Phẩm vẫn còn ám ảnh các thế hệ hôm nay. Những bài học về một giai đoạn lịch sử đối với văn học nghệ thuật nước nhà vẫn còn cần thiết cho hôm nay và ngày mai.
_______________
Chú thích:
1.Hồ Chí Minh toàn tập tập 5 trang 261.
2. Một bản đề án về Đại hội Văn nghệ lần thứ hai. Hoàng Huế. Giai phẩm Mùa Thu tập II tháng 9-1956.
3. Tiếng hát quan họ. Hoàng Cầm. Tập thơ Cửa biển in chung của Hoàng Cầm, Lê Đạt, Văn Cao, Trần Dần. NXB Văn Nghệ Hà Nội đầu năm 1956.
4. Anh có nghe thấy không. Văn Cao. Giai phẩm Mùa Xuân tháng 1-1956.
5.Nắng được thì cứ nắng- Phan Khôi Từ Sông Hương đến Nhân Văn. Phan An Sa. NXB Tri Thức 2013
6.7.8.9.10.11. Phê bình lãnh đạo văn nghệ. Phan Khôi. Giai phẩm mùa Thu tập I tháng 8-1956.
12. Truyện ngắn Ông Năm Chuột. Phan Khôi. Báo Văn số 36(10-1-1958)
13. Thông cáo của Ban Thường vụ Hội văn nghệ Việt Nam. Ngày 2-10-1956. Tạp chí Văn Nghệ số 141( 4-10-1956).
14. Tôi đã sai lầm như thế nào trong việc phê bình bài “ Nhất định thắng” của anh Trần Dần. Hoài Thanh. Tạp chí Văn Nghệ số 139( 20-9-1956)
15.16.17.18.19. Một vài sai lầm khuyết điểm trong sự lãnh đạo văn nghệ. Nguyễn Đình Thi. Tạp chí Văn Nghệ số 140(27-9-1956).
20. Một số hoạt động văn học giai đoạn hòa bình lập lại (1954-1958) xét từ lý thuyết “trường” của Bourdieu. Phùng Kiên. Tạp chí Văn hóa Nghệ An. 11-2013
21.22. Tính cách và bộ mặt chính trị nhơ nhớp của Phan Khôi ngày nay. Đào Vũ, Tạp chí Văn Nghệ số 12 tháng 5-1958.
23. - Về tình trạng nghiên cứu văn học tại miền Bắc những năm 60 (Trò chuyện với Giáo sư Nguyễn Huệ Chi) ThụyKhuê.thuykhue.free.
- Vì sao Nguyễn Đổng Chi phải viết bài phê phán Phan Khôi? Phan An Sa. Tạp chí Xưa và Nay tháng 10-2009.
24. Trang 83, Nhà văn Việt Nam hiện đại. Hội Nhà văn Việt nam.1992.
Tháng 4-2014

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Giữa bốn bức tường, ai làm chứng chuyện bức cung?


NGÔ THÁI BÌNH (PLO)

1. Trong tuần qua, thời sự gây chú ý nhất trong lĩnh vực tư pháp là việc TAND tỉnh Bình Thuận thương lượng với gia đình “người tù thế kỷ” Huỳnh Văn Nén về số tiền bồi thường oan.

Sau ba lần thương lượng, tòa này đã đưa ra con số 9,8 tỉ đồng cho nhiều khoản bồi thường.

Nếu ông Nén và gia đình chấp nhận thì đây là số tiền bồi thường oan lớn thứ nhì mà Nhà nước phải chi trả cho người bị oan. (Lớn nhất là 23 tỉ đồng do TAND tỉnh Thái Bình bồi thường cho ông Lương Ngọc Phi, lớn thứ ba là 7,2 tỉ đồng do TAND Cấp cao tại Hà Nội chi trả cho ông Nguyễn Thanh Chấn ở Bắc Giang).

Làm oan thì phải bồi thường, luật đã quy định như vậy. Nhưng bài học đắt giá nào được rút ra cho các cơ quan tố tụng và người tiến hành tố tụng để giảm thiểu án oan mới là điều quan trọng. Quốc hội khóa XIII sau khi giám sát đã có hẳn một nghị quyết về chuyên đề này. Và mới đây nhất, Thủ tướng cũng đã ký ban hành chương trình để thực hiện nghị quyết này của Quốc hội. Có rất nhiều giải pháp được đặt ra, tổng thể có, cụ thể có, trong đó có việc chống bức cung, nhục hình.

2. Có một điều dễ nhận ra là đa phần những vụ án oan đều ít nhiều dính đến bức cung, nhục hình. Từ vụ ông Nguyễn Thanh Chấn ở Bắc Giang đến vụ ông Nén ở Bình Thuận hay vụ bảy thanh niên ở Sóc Trăng đều thế.

Thực tiễn cho thấy chuyện bức cung, nhục hình chỉ được thừa nhận sau khi cơ quan tố tụng đã minh định những người này bị oan rõ ràng. Còn trước đó tại tòa, khi bị cáo tố bị bức cung, dùng nhục hình thì sẽ bị phản bác bằng câu hỏi “bằng chứng đâu”. Trời ạ, giữa bốn bức tường chỉ có điều tra viên và bị can thì lấy đâu ra người làm chứng! Ngay cả khi lấy cung có luật sư chứng kiến thì cũng… chưa chắc, bởi có thể chuyện bức cung, nhục hình đã xảy ra khi “làm nháp”, còn khi “làm thật” có luật sư dự cung thì mọi chuyện diễn ra suôn sẻ (?!).

Hồi mới bàn dự án BLTTHS 2015, nhiều người nghĩ đơn giản quyền im lặng giống trong phim Mỹ, đại ý khi bị bắt, điều tra viên sẽ nói “anh/chị, ông/bà có quyền im lặng cho đến khi có luật sư”. Trên cơ sở này, người dân nói vui: “Im lặng có mà… chết à!”.

Quyền im lặng được BLTTHS 2015 (đang tạm lùi hiệu lực thi hành) ghi nhận cơ bản trong bốn điều luật. Theo đó, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can và bị cáo “không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội”. Đây là quy định tiến bộ góp phần chống oan, sai. Ấy thế người dân vẫn lo khi ra tòa thì không sao, còn lúc bị tạm giam thì liệu người bị bắt, bị tạm giữ hay bị can có dám khai trái ý điều tra viên. Nỗi lo này không phải là không có cơ sở bởi đã có không ít trường hợp bị can/bị cáo vì áp lực nào đó đã nhận tội bừa dù họ không có tội, để rồi khi ra tòa lời khai đó đã “chống lại chính họ”, tức bị tòa kết án.

3. Có cách nào để chống oan, sai mà còn vô hiệu hóa việc bức cung, dùng nhục hình không? Câu trả lời nằm ở bản lĩnh của VKS và tòa án.

Nếu chứng cứ kết tội có nhiều mâu thuẫn, đã yêu cầu điều tra bổ sung mà không đạt thì VKS kiên quyết không truy tố. Khi viện đã truy tố thì tòa phải kiên quyết tuyên vô tội nếu đã trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung mà vẫn không đáp ứng. Bởi cho dù ở giai đoạn điều tra bị can có nhận tội nhưng lời nhận tội ấy không phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án thì tòa mạnh dạn áp dụng “bửu bối” khoản 2 Điều 72 BLTTHS để phán quyết.

Một ví dụ điển hình về lời nhận tội của bị can/bị cáo trong vụ án “Chiếc áo đỏ oan nghiệt” mà Pháp Luật TP.HCM đã phản ánh gần đây. Khi ra tòa, đại diện cơ quan buộc tội lập luận (đại ý): Bị cáo nhận tội ở giai đoạn điều tra, bị cáo đã gọi điện thoại về gia đình thừa nhận có hành vi phạm tội, có băng ghi âm, ghi hình việc gọi điện thoại này.

Ơ hay, trong trại tạm giam mà bị can được thoải mái gọi điện thoại về nhà, cuộc gọi ấy lại còn được ghi âm, ghi hình. Thế thì nó là sản phẩm của bàn tay “đạo diễn” chứ còn gì nữa! Trước “biện pháp nghiệp vụ” hồn nhiên và non kém này, cuối cùng tòa đã trả hồ sơ, sau đó VKS đình chỉ, xác định ba thanh niên bị oan.

Có thể nói quyết định đình chỉ của VKS trong vụ này là thông điệp mạnh mẽ để chống ép cung, bức cung và dùng nhục hình.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

GS Ngô Đức Thịnh: "Tôi chọn tiếng Anh chứ không học chữ Hán"


>> Thư Thủ tướng Võ Văn Kiệt gửi Bộ Chính trị 21 năm trước
>> Phụ nữ Trung Quốc xem Putin là mẫu chồng lý tưởng
>> Anh cảnh báo phái đoàn G20 về “bẫy tình” của các nữ điệp viên Trung Quốc


Hoàng Đan
SOHA - "Trẻ giờ học quá nhiều, trong khi học chữ Hán rất nặng nhọc nên nếu bắt học thì không cần thiết. Chưa kể, một dân tộc đang hội nhập mà lại học chữ cũ như thế thì không đánh đổi...".

Không đánh đổi...

Ý kiến cho rằng, muốn dùng tiếng Việt trong sáng thì học sinh phổ thông phải học chữ Hán, do vậy, cần phải đưa chữ Hán Nôm vào dạy sớm cho học sinh đang nhận được nhiều ý kiến trái chiều.

Trao đổi với chúng tôi, Giáo sư Ngô Đức Thịnh, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Văn hóa Việt Nam cho hay, đúng là chữ Hán và Hán Nôm có nhiều thứ hay, quan trọng, nhưng cá nhân ông không đồng tình với việc bắt học sinh phải học chữ này.

Theo GS Thịnh, chữ Hán và Hán Nôm là vấn đề rất lớn, quan trọng của lịch sử dân tộc. Bởi nó là sự tích lũy của nhiều thế kỷ văn minh dân tộc Việt nên nếu chúng ta không giữ gìn nó sẽ có thể mất đi, khiến lịch sử, văn hóa dân tộc bị thiếu hụt.

"Tất nhiên, học được chữ Hán, Hán Nôm là tốt vì nó gắn với lịch sử của chúng ta, nhưng mà đặt vấn đề dạy chữ Hán, Hán Nôm cho tất cả các cấp học phổ thông, chưa nói đến dạy như thế nào thì nó sẽ không thực tế.

Trẻ em bây giờ học quá nhiều rồi, trong khi để học chữ Hán, Hán Nôm rất nặng nhọc nên nếu bắt học thì theo tôi là không cần thiết.

Chưa kể, một dân tộc với dân số lớn, đang hội nhập như chúng ta mà học lại chữ cũ như thế thì không đánh đổi...", GS Thịnh nói.

Ông Thịnh cũng nêu rõ việc cho rằng học chữ Hán, Hán Nôm để giữ sự trong sáng của tiếng Việt là không chính xác.

"Để giữ trong sáng của tiếng Việt thì không phải. Rõ ràng, sự tiếp thu vốn từ của chữ Hán làm cho tiếng Việt có độ sâu và tất cả những gì chữ Hán có được là trên cơ sở định hình hóa văn hóa Trung Hoa, tạo nên sự lâu bền hơn.

Nhưng nếu chúng ta đi vào con đường học chữ Hán để bảo giữ trong sáng tiếng Việt như vậy thì sẽ càng làm cho văn hóa Việt Nam phụ thuộc và việc sử dụng ngôn từ của thế hệ hiện tại có thể sẽ rối rắm hơn ", ông nhìn nhận.

Nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Văn hóa Việt Nam cũng đánh giá, đúng là ở một số khía cạnh thì người học chữ Hán, Hán Nôm có sự phát triển tốt hơn, sử dụng ngôn ngữ hiện đại của tiếng Việt chuẩn, chính xác, sâu sắc hơn.

"Nhưng để đổi lấy việc con em chúng ta phải mang vác một ngoại ngữ nặng nhọc, ghê gớm hơn thì không nên.

Chưa kể, cuộc sống bây giờ là lựa chọn, mình phải lựa chọn phương án nào tốt nhất cho mình.

Chúng ta đã lựa chọn, sử dụng chữ quốc ngữ (tiếng Việt - PV) nhiều thế kỷ nay và đưa nó vào hội nhập rất tốt thì không thể nào bắt những người sau phải đi học chữ Hán, Hán Nôm là những chữ cũ trước đây.

Trong lúc tiếng Anh là ngôn ngữ chung của hội nhập thì với hệ thống chữ Hán, Hán Nôm như vậy rất khó cho chúng ta hội nhập", ông bày tỏ.

Trước câu hỏi, nếu chọn giữa học tiếng Anh và chữ Hán, Hán Nôm ông sẽ chọn lựa thế nào, ông Thịnh trả lời:

"Tất nhiên, nếu học, tôi sẽ chọn học tiếng Anh chữ không học chữ Hán. Bởi, tiếng Anh sẽ giúp cho việc hội nhập được tốt và đây là tương lai của dân tộc chúng ta...".

Cần dứt bỏ văn hóa ngoại vi

Theo nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Văn hóa Việt Nam, thời gian trước đây cũng đã có những ý kiến đề xuất phải dạy, học tiếng Hán, Hán Nôm, tuy nhiên, việc làm rõ học như thế nào đã không làm rõ được.

"Như tôi đã nói, có học chữ Hán, Hán Nôm cũng tốt nhưng nếu dạy đại trà thì nó không thực tế chút nào cả và còn gây khó khăn.

Còn thực tế có một vấn đề quan trọng mà nên thấy rõ đó là hiện nay, chúng ta đang là ngoại vi của văn hóa Trung Hoa nên cần sớm dứt bỏ điều này để đi vào thế giới hiện đại. Nhật Bản đã làm điều này từ thời Minh Trị - Duy Tân, sau đó đến Hàn Quốc.

Tuy nhiên, chúng ta lại chưa làm được điều này...", vị này chia sẻ.

Về thông tin ở Nhật người tốt nghiệp phổ thông phải biết ít nhất 1.945 chữ Hán, đến hết ĐH thì phải biết khoảng 3.000 chữ, Trung Quốc cũng yêu cầu số lượng tương tự, Hàn Quốc thì hết phổ thông, học sinh phải biết khoảng 1.000 chữ, GS Ngô Đức Thịnh khẳng định, ở Việt Nam không cần như vậy. 

Bởi theo ông, đối với chữ Nhật và Hàn Quốc thì bên cạnh sự sáng tạo của họ vẫn có sự tiếp thu vốn từ rất cơ bản của chữ Hán.

"Như đối với lịch sử của tiếng Nhật thì ngoài sự sáng tạo thì có sự tiếp thu vốn từ rất cơ bản của chữ Hán cho nên họ quy định như vậy là có lý đối với bản thân sự phát triển nền văn hóa, chữ viết của họ", ông phân tích.

Nếu được đề xuất ý kiến thì theo ông Thịnh, đối với việc dạy chữ Hán, Hán Nôm chỉ nên thực hiện ở một số bộ phận để có thể nắm rõ, tiếp thu thứ tiếng này mà thực chất là tiếp thu, nghiên cứu văn hóa, lịch sử dân tộc ở một thời kỳ đã qua.

Từ việc nắm rõ, nghiên cứu chữ Hán, Hán Nôm sẽ dịch, chuyển văn minh đó thành văn minh chữ quốc ngữ để nhân dân tiếp thu, kế tục.

"Còn như tôi đã nói, nếu chọn học chữ Hán, Hán Nôm để đánh đổi với việc học tiếng Anh, tiếng Pháp... để hội nhập thì quả thực không thể đánh đổi được và chúng ta hãy nghĩ đến việc giải ngoại vi của văn hóa đó đi...", GS Thịnh nêu thêm.
***

PGS.TS Đoàn Lê Giang lên tiếng

Trong bài viết với tựa đề "Lời tạm kết cho cuộc tranh luận dạy chữ Hán trong trường phổ thông" đăng trên tờ Nhịp cầu thế giới online, PGS.TS Đoàn Lê Giang đã có những phản hồi sau khi đề xuất dạy chữa Hán được đưa ra gây xôn xao dư luận.

Ông cho hay, đề xuất này đã được đưa ra từ cách đây 6 năm, trong hội thảo ở Viện Hán Nôm hôm 27/8 ông chỉ nhắc lại, sau đó 1 vài ý tưởng của ông đã được báo giới trong nước tường thuật đưa lên mạng.

Sợ nhiều độc giả chưa hiểu hết ý của mình, ông đã phải đưa nguyên văn bài tham luận của ông đã trình bày trong Hội thảo "Phát triển và giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt trong thời kỳ hội nhập quốc tế" (2010).

Bài viết đó có tên "Khôi phục việc dạy chữ Hán trong nhà trường - một phương pháp quan trọng để giữ gìn tiếng Việt và văn hoá Việt Nam".

Xin lược trích ý kiến của PGS.TS Đoàn Lê Giang đăng trên Nhịp cầu thế giới online:

"Trên mạng đa số người ta chỉ đọc cái tít giật gân và tường thuật sơ lược... rồi "nhảy dựng" lên. Có người còn nhắn tin, gửi email riêng cho tôi gọi mày tao, dọa nạt như tôi có tư thù gì với họ.

Có người gửi email đến hạch sách: ông còn dám giữ ý kiến nữa không? (đến khi tôi gửi mấy bài đính kèm, nói ông đọc đi rồi mới trao đổi, người ấy đọc xong bèn "meo" lại: tôi không đồng tình hết, nhưng ông nói có lý. Rồi thôi!).

Ồn ào đến mấy ngày, lưu truyền trên rất nhiều trang FB cá nhân, và cả blog, website danh tiếng.

Người ta chỉ nghe cái tít thôi, có người còn rút tít xuyên tạc để dễ chửi: "Học tiếng Hán để cứu sự sụp đổ của Tiếng Việt" rồi vu cho tôi chủ trương quay lại dùng chữ Hán chữ Nôm thay cho chữ quốc ngữ La Tinh (!).

Thế rồi cứ hè nhau, đọc nhau rồi chửi, lại nhân đó mà trút mọi bực dọc xã hội, chửi hết những người có bằng cấp, giáo sư... hệt như những người chưa hề đến trường bao giờ.

Tất nhiên có rất nhiều người hiểu biết, phân tích, trình bày một cách có lý lẽ, người thì nhiệt liệt đồng tình, người thì đồng tình có mức độ, người thì nêu ra những khó khăn hay điều kiện để chủ trương ấy thành khả thi, v.v...

Nói cho công bằng, đề nghị đưa chữ Hán giảng dạy trong nhà trường thì tôi không phải là người đầu tiên hay duy nhất.

Tôi thì đứng từ điểm nhìn các nước văn hóa chữ Hán: Nhật, Hàn, Đài Loan (không phải Trung Quốc) - những nước vừa phát triển hiện đại vừa giữ gìn ngôn ngữ và bản sắc dân tộc của họ mà để đề nghị học chữ Hán (Hán - Việt), nhằm làm sao giữ gìn, phát triển tiếng Việt và văn hóa Việt Nam.

Tôi thuộc những người đánh giá rất cao vai trò của ngôn ngữ và văn hóa đối với sự trường tồn của dân tộc mà đề nghị như thế. Tôi tin rằng: Tiếng Việt còn thì văn hóa ta còn, văn hóa ta còn thì nước ta còn".

Phần nhận xét hiển thị trên trang

FORMOSA TO BE OR NOT TO BE?

Ảnh của Văn Chinh Đinh.

Văn Chinh
(Nhà văn & Tác phẩm số 18 tháng 7 - 8 năm 2016)
Tại Hội nghị Lý luận Phê bình Văn học Tam Đảo lần thứ IV ngày 25 – 6 - 2016, hội trường nóng lên khi nhà thơ Lê Minh Quốc đọc tham luận bằng thơ:
Thơ ở đâu trong những ngày biển động
Xác cá khô nằm xếp lớp buồn rầu
Thơ hoan ca qua bình minh chói sáng
Sao lại quên biên giới trắng hoa lau
Thành ý của Hội Nhà văn Việt Nam cử đoàn nhà văn vào Hà Tĩnh trong những ngày “động biển” đã được nhen nhóm cân nhắc rồi quyết định từ đó.
Sau một tuần nóng sốt Euro 2016, Chủ tịch Hội, nhà thơ Hữu Thỉnh gọi bảo tôi thảo công văn, giấy xin xe cùng danh sách đoàn nhà văn thăm Hà Tĩnh. Té ra viết được văn vào hạng đọc được, nhưng vị tất đã thảo được công văn. Hữu Thỉnh cặm cụi sửa bản thảo, chỉ còn lại đúng hai dòng Quốc hiệu là của tôi. Công văn gửi UBND tỉnh Hà Tĩnh đề ngày 15 tháng 7 của Hội Nhà văn Việt Nam do đó mà không có chữ ký nháy. Không thể ký nháy vào công văn khi chỉ có chẵn hai dòng Quốc hiệu là của mình!
Chúng tôi đi như người ra trận: Thuốc men, bông băng, lương khô, bánh mì, cam chuối và mặt nạ phòng độc. Họp đoàn ngay trên xe, Trưởng đoàn Hoàng Quốc Hải nói:
“Vào Vũng Áng chưa chắc đã viết được gì ngay. Nhưng nhà văn thì không thể không có mặt ở Vũng Áng lúc này, để chia sẻ với mất mát, với nỗi buồn thương của mọi người. Nó là trải nghiệm cần để nuôi dưỡng cảm xúc của giới ta. Nó là nhân cách nhà văn, nên hiện tại Hội hết tiền thì chúng ta Campuchia.” Mọi người nói đồng ý, riêng bác Trần Nhương (.com) còn nhấn mạnh: “Nhất trí với trên!” Hoàng Quốc Hải cười cùng mọi người, sau thì nói: “Làm việc lớn không thể bắt đầu từ việc vặt, thấy gì nghe gì hãy cứ ghi chép lại, không được phê búc phê biếc gì nhá!”
Bác Trần Nhương nói, “nhất trí với trên” thôi, mình đi với phương diện Hội, lại đã già có đâu lại lèm bèm để trẻ nó bắt bẻ có mà ra dại. Lúc ấy tôi nghĩ: Formosa là vết thương chí tử của đất nước trên hành trình công nghiệp hóa. Là cơn sốt vỡ da gây nhiễm trùng vốn thường xảy đến với người đi sau. Chưa làm gì được cho vết thương lành ngay, cũng chưa biết rõ phác đồ điều trị phải thế nào, nhưng ở bên cạnh nỗi đau là cần thiết. Và chả cứ là nhà văn.
Điều đáng nói là ở chỗ, nhà văn Hoàng Quốc Hải đã ngót nghét 80, mắt đã mờ, tai đã nặng mà còn thể lọc ra giữa ồn ào phức hợp cái tin sẽ diễn ra năm ngày sau đó. Khi bàn bạc với Chủ tịch Hội Hữu Thỉnh, ông Hải nói Chính phủ sẽ công bố thủ phạm cá chết hàng loạt vào cuối tháng Sáu. Tôi có nói nhận xét này, ông Hải nói, lão lai tài tận, không ai còn mạnh ở tuổi này. Nhưng chú mục vào một việc, tập trung thính lực, cảm lực vào có một việc thôi, thì có thể biết cái sắp diễn ra. Và có thể ứng xử tốt ngay cả khi gặp một rắc rối lớn chưa từng có trong đừi. Người xưa nói, 50 tuổi có thể cảm biết được mệnh giời là vì vậy.

Nhưng hóa ra chả phải chia chác gì. Ngoài bữa trưa tại nhà hàng Dạ Lan 1 Thanh Hóa, tôi chả phải rút ví thêm lần nào. Là nhờ trước hết cái FB Trần Lão đã đưa tin ảnh các nhà văn đi Hà Tĩnh, khiến mọi người xôn xao nhắn tin, chúc bình an, dặn dò cẩn thận. Bạn bè từng đi thực tế sáng tác với Trần Nhương gọi ông là Nhương Tác Nghiệp thật đúng, ông chụp ảnh nhoay nhoáy, gõ chữ máy Ipad nhoay nhoáy ngay trên ô tô gập ghềnh đường trường, đi đến đâu có hàng ngàn hàng vạn bạn bè biết tin và chen chúc like ập về. Lại nhờ cái tình nghĩa thầy trò của nhà văn Bùi Việt Thắng. Thật cảm động. Ông dạy người ta đã mấy chục năm, nay người ta đã là giảng viên đại học Hồng Đức, con người ta đã là sinh viên mẻ mới, người ta đã chồng vợ mỗi người mỗi ô tô, vậy mà nghe tin thầy vào Vũng Áng, trò đã mang rượu Macalan và phong bì đòi thanh toán bữa trưa Thanh Hóa. Không cho thì nói khó với thầy, thầy cầm tiền này rồi chiều mời cơm các nhà văn giúp em. Mọi người vô Vũng Áng, em bận việc không đi được, coi như là một chút lòng thành. Bữa tối và tính luôn ba phòng khách sạn Ngân Hà đêm đầu tiên “thuộc quyền chi” của nhà văn Đức Ban. Nói khó mãi, ông mới cho dùng rượu của khách mà ông nói, rứa thì được, rượu của hàng xách tay thì được. Bùi Việt Thắng đỏ mặt suýt giận. Quả thực, thầy trò chợ búa đâu không biết, chứ với thầy Thắng nó thiêng liêng cổ điển. Ngày thứ hai tại Vũng Áng, nhà báo Nguyễn Ngọc Vượng và nhà thơ Nguyễn Ngọc Phú đã hân hoan tiếp đoàn trong cái vất vả của nắng nóng ngột ngạt Vũng Áng 410 C ngoài trời cũng như trong nhà. Rượu cả can ngâm thảo dược quý, loại rượu mà Nguyễn Ngọc Phú nói “vợ em nấu riêng cho em uống, vì nó mà xa nhà đến 20 cây số nhưng em cứ đi về mỗi ngày, có khi trưa nhớ rượu quá cùng chạy về làm một choác.” Phú là Tổng biên tập Tạp chí Hồng Lĩnh, người Cửa Sót huyện Lộc Hà. Phú nói, vợ em người Vĩnh Phúc, của hồi môn chả nhiều tiền bạc, chỉ độc có nghề nấu rượu, mà chỉ nấu riêng cho chồng uống. Men mua ở vùng Bắc Ninh, ủ rượu bằng nước khe Hao Hao, ngọt và trong ít nơi nào còn được thế. Tôi nhấm thử, ngon thật, rất nhiều vị, vị nào cũng nồng nàn nhưng không tách bạch nổi có vẻ như chúng lịm vào nhau. Màu mật ong trong veo như tranh lụa, đặc trưng như bia Hà Nội không nơi nào có. Phú nói đấy đấy, cái nước khe Hao Hao vùng Cửa Sót nhà em nó tạo nên như nước sông Hồng ngấm qua cát lành mà lọc đến tinh khiết cho thành vị bia Hà Nội. Giờ Formosa mới chạy thử, đã thế, nhưng chưa làm bẩn nổi rượu nhà em. Nay mai nó chạy thật, khói than bụi bốc lên trời, gió Tây Nam nổi lên, nó sẽ giết nốt nguồn nước là hết, hết tất. Uống đi các bác, vâng, chúng tôi uống như rồi không chắc còn được uống cái vị thật nồng nàn mà thật trong trẻo này nữa. Trong veo như tuổi thơ cho còng còng uống “rượu” từ ống cỏ. Vâng, cạn!
Ngồi bên lò rượu đêm hôm ấy
Nhi rót đưa tôi nước rượu đầu
Khu kinh tế Vũng Áng được Thủ tướng Chính phủ thành lập tại Quyết định số 72/2006/QĐ-TTg ngày 03/4/2006 có diện tích 22.781ha với mục tiêu xây dựng, phát triển thành KKT đa ngành, đa lĩnh vực. Nó được lập trong giao thời quyền lực, sắp bầu cử Quốc hội khóa XI, Thủ tướng Phan Văn Khải sẽ nghỉ sau 2 tháng 24 ngày nữa để chính thức bàn giao cho Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vào ngày 27 tháng 6 năm 2006. Chắc rằng trong Giáo khoa thư Chính trị Kinh tế học sẽ phải có tiểu mục Formosa, với nội dung phải hết sức cảnh giác lúc giao thời. Nhân thể, ta có thể tham khảo thêm: Hạ Viện Mỹ đã bỏ phiếu chấp thuận Patriot Act (Luật Yêu nước), vào ngày thứ Năm lúc nửa đêm (đêm 5 rạng sáng ngày 6 - 3 – 2006) cho phép FPI nghe lén điện thoại. Hạ viện chạy đua với thời gian để thông qua, bất chấp một số thành viên nói rằng pháp luật cần phải được thay đổi để bảo tồn quyền tự do dân sự nhiều hơn và quả nhiên sau này nó bị cáo buộc vi hiến, các nguyên thủ Đức, Pháp cũng bị nghe lén, trở thành một vụ Formosa về cuộc chiến ngoại giao đầy tai tiếng. Nó cũng nhân danh vì Quốc gia đấy!
Dục tốc bất đạt.
Thực ra, các tỉnh Nghệ - Tĩnh và song Quảng Bình Trị nghèo đã thành độc quyền – bản sắc và các vị lãnh đạo tiền bối không phải không biết phi công bất phú. Chỉ các tài nguyên văn hóa phi vật thể là giàu, dân thông minh, giàu trí lự và ý chí cách mạng. Hà Tĩnh có tới hai Tổng bí thư, 80 nhà văn đang viết, biển đẹp và trong lành. Là một tỉnh, cùng với Bến Tre và Thái Bình, bậc nhất hiếu học và “chuyên” sản sinh ra các đại trí thức: Các cụ bác học Lê Quý Đôn, Trương Vĩnh Ký; các thi hào Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Đình Chiểu…Tôi không biết gì về phong thủy, nhưng nếu ai cũng nói “địa linh (thì) nhân kiệt”, vậy thì Hà Tĩnh là đất linh vào bậc nhất vậy. Nói chung, đặc sản vùng đất này là núi biển đất đai gió cát hun đúc lên khí thiêng để con người hít thở lại được cái nghèo tôi luyện mà thành tài cao chí lớn.
Nghèo chứ. Nghèo đến mức lãnh đạo Quảng Bình than thở với Đại tướng, Đại Tướng thở dài hỏi lại, xem có việc gì tôi có thể giúp quê không? Nói chỉ xin khi nào đến lúc, Đại tướng về lại quê nhà để dân lập đền thờ, tạo nên một điểm nhấn cho du lịch tâm linh. Và câu chuyện đảo Yến, Vũng Chùa đã ra đời như thế!
Không nghèo mới lạ. Cả Hà Tĩnh chỉ độc có mỏ sắt ở Thạch Hà. Nhưng khai mỏ sắt lên mà luyện cốc, eo ôi sẽ gây ô nhiễm môi trường để rồi, cùng với chút chút việc làm là bầu khí quyển các bon hủy hoại nguyên khí ư? Các nhà cựu lãnh đạo đã lắc đầu với rất, rất nhiều người và nhiều lần mời mọc năn nỉ. Tuy vậy, tuy Quyết định 72 năm 2006 là một dục tốc, nó chả của riêng ai, có lẽ là tại do cái nghèo quá đã xin được chữ ký ấy, nhưng Quyết định 72, Điểm thứ 3 của mục tiêu ghi rõ: “Xây dựng khu đô thị mới Vũng Áng, đồng thời ưu tiên phát triển các khu du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng biển trở thành các điểm du lịch quan trọng trong tuyến du lịch ven biển Bắc Trung Bộ.”
Người đệ trình Dự án Formosa đã vi phạm Điểm thứ ba, Quyết định 72/2006/QĐ-TTg. Có câu, bây giờ biển đã chết thì nói khôn ai chả “khôn”? Không phải, không thể nói thế. Bán đất, bán quặng, dầu thô và tài nguyên nói chung…là đệ nhất hạ sách. Bán hơn 300.000 ha đất biển trong lành và tiềm năng du lịch đến có thể có các điểm du lịch quan trọng trong tuyến du lịch ven biển Bắc Trung bộ để làm lò luyện quặng ra sắt thép là một tầm nhìn người dân có chút hiểu biết trung bình không thể chấp nhận. Vả lại, cái anh giai tế Hải Dương người Hán Chu Xuân Phàm nói dại. Anh nói “chọn thép hay chọn cá” là giả đề vô nghĩa. Ở đây cần nói, cá của tôi và thép của anh, chứ thép nào của tôi? Khi cần, tôi mua thép của Úc, Nhật, Hàn rẻ lắm vì nó là hàng đang khủng hoảng thừa. Cái tôi cần là việc làm, anh có việc cho vài nghìn người của cả nước rồi gây thất nghiệp cho hàng triệu người 4 tỉnh miền Trung; cái tôi cần là khí trời nước biển trong lành để sống thì nay anh làm chúng tôi khó sống. Anh con rể người Việt, hãy nhớ, khí độc tác động vào hệ thần kinh có thể biến các cô vợ xinh đẹp hiền thục thành những bà nạ dòng hung dữ, hãy nhớ lấy!
Vâng, hạ sách là đào quặng sắt lên mà xuất khẩu, như mười mấy năm trước người ta đã bán cát đen (titan) ở Hà Tĩnh hay mười mấy năm nay không biết là đất quặng gì mà xe trọng tải lớn vẫn chở ngày đêm ở Lào Cai bán qua biên giới. Là hạ sách, nhưng còn khả dĩ. Trung sách, thì 30 năm trước khi Formosa ra đời, lãnh đạo Hà Tĩnh đã dùng, là kiên nhẫn chờ các thế hệ mai sau hoặc khi nào con cháu sở hữu được công nghệ tân tiến cái đã, mới bàn. Của chìm trong nhà cứ để đấy, còn người là còn của.
Nghèo chưa chết. Chưa ai chết vì nghèo. Nhưng vội làm giàu thì không thể không gây ra chứng nọ tật kia như nó đã và còn sẽ gây ra.

Quan niệm cũ, quan như phụ mẫu, từ đấy có câu, cha mẹ giàu con có, cha mẹ khó con không. Không sao, cha mẹ nghèo đã sinh ra, đã nuôi ăn học cả hàng vạn cán bộ to. Nhưng nếu cha mẹ vừa ham giàu vừa dốt mới thật thảm họa.
Người ký cấp phép cho Formosa tại Khu Công nghiệp Vũng Áng từng là cán bộ Xã Đoàn xuất thân, lên đến Tỉnh Đoàn thì gặp thời “bung ra” chuyên xúc cát đen giàu titan mang bán mà trở nên giàu có, còn được tiếng là năng động. Khi hiểu được bí quyết và nhẽ thăng tiến từ bệnh thành tích, “cán bộ nào phong trào ấy” mà nên to, ông rước Dự án Formosa khủng này về. Một dự án lớn nhất nước.
Âu cũng là hết nạc (cát đen) vạc đến xương. Thủa hàn vi, nhà hết gạo tôi từng hầm xương gà với cơm cháy từ bữa trước bố mẹ đãi khách thành nồi cháo gà ngon nắc nỏm. Bí quyết là phải ninh nhừ cả buổi, để thúc chất bổ trong xương tủy quyện vào với cháo, chứ sốt ruột háu ăn thì trông bát cháo khác gì cái bát rếch của một bữa nhậu, lại còn dễ bị hóc. Hóc gì chứ hóc xương gà thì thảm họa tức khắc, hệt Formosa.
Vạc đến xương là cả một năng lực, một phép tắc làm ăn của mọi nền kinh tế. Nó khác hẳn quy trình xúc cát đen thiên nhiên tạo ra từ hàng triệu năm mang bán lấy tiền đếm trong vài giờ. Chúng tôi ngồi trong xe đi thăm khu luyện thép của Formosa, họ không cho xuống đất của họ, không được chụp ảnh. Phép tắc ở đây là thế. Vừa qua khỏi cổng, Nhương Tác Nghiệp đã nhanh nhảu bấm máy, thì ngay lập tức có tiếng hét ở bục bảo vệ rồi thấy có tay ăn mặc rằn ri bụng đeo máy bộ đàm, tay cầm dùi cui roi điện gõ vào xe chúng tôi như gõ lên đầu kẻ phạm tội, bảo phải xóa hết cái ảnh vừa chụp. Thật chả còn biết ra làm sao. Họ cứ làm như đất của họ với nghĩa sở hữu chứ không còn là đất thuê 70 năm, định ra phép tắc luật lệ riêng, bất chấp việc đoàn nhà văn nước chủ nhà đến địa chỉ cụ thể của đất nước mình, với lệnh của Chủ tịch tỉnh “cấp” lần lượt qua điện thoại và có hẳn Chánh Văn phòng Khu Kinh tế Hà Tĩnh ngồi xe dẫn đường. Ở đây đề nghị cần có ai giải thích chủ thuê đất với chủ sở hữu đất, cho các người có kinh nghiệm xả độc ở Campuchia, ở Mỹ biết rõ, dù thời gian họ còn ở đây hẳn là không còn lâu la gì. Nhưng một ngày ở lại đất này cũng phải biết phép tắc mới được. Tinh thần của Luật Đất đai mà ai cũng hiểu, nhà anh là nhà anh, bất khả xâm phạm; nhưng anh thuê đất làm nhà rồi trong nhà anh chứa vũ khí trái phép, làm ổ chứa mại dâm thì tôi có quyền ập đến bắt quả tang tội phạm chứ đâu phải là của anh thì tôi không còn quyền sở hữu thực? Ở cổng Formosa lại không hề có biển đề hoặc NO PHOTO hoặc 不罩相 nhưng kẻ ăn người ở lại dám gõ lên mái nhà di động của chúng tôi thì khác gì chúng tôi đang lạc đến xứ sở dã man? Đến đây mới thật ngấm cái mệnh đề kinh tế học của Mark: Chủ nghĩa tiền tích lũy tư bản dã man, chúng bất chấp lẽ phải và luật pháp. Nghĩ, càng nghĩ càng rã rời, nhưng đành nhẫn nhịn để ngồi xe đi vòng vèo xem vóc dáng của nó. Công tơ mét xe đếm được 16 km mà mới chỉ xem được một góc. Quả thực, nếu mệnh đề Formosa là một thảm họa thì hôm ấy chúng tôi đi vào lòng cái thảm họa mênh mông. Phải nói thẳng, thảm họa mênh mông vĩ đại này trông nhã nhặn và lịch sự. Màu, khối, mảng và đường đi đâu ra đấy. Giá đất thuê mỗi mét vuông một năm chỉ có giá mươi mười lăm ly trà đá có khác. Khối u ác của đất linh mang dáng dấp một thiên đường, đầy bí ẩn.
Không nghe tiếng máy chạy, không một đống rác sinh hoạt, ngay một bóng người đi lại cũng không.
Nhưng rời không gian nhã nhặn bí ẩn ấy, sà vào một xóm dân là sôi sục ngay.
Tôi đứng dưới mái hiên nhà chị Nguyễn Thị Vinh, người từ xã Kỳ Lợi di dời về đây, nhận 250 triệu đền bù để đất vườn nhà cho Formosa, xây xong được ngôi nhà ống trần thấp thì tay trắng giữa những người trắng tay khác ngày ngày chịu đựng cái nắng nóng không một bóng cây, hiện tại là nắng gió Lào. Ở Kỳ Lợi, chồng chị đi biển kiếm cá cho vợ bán, vợ ở nhà cấy trồng nuôi con gà con lợn rồi đón cá chồng kiếm về, đi chợ. Trẻ con dắt con bò một buổi, đi học một buổi. Một đời sống nghèo nghèo nhưng yên bình. Giờ biển chết, thuyền nằm úp mặt xuống cát bỏng, cong vênh như cái bánh đa nướng; còn vợ chồng chịu đựng cảnh thất cơ lơ vận. Da mặt sắt se. Tôi có cảm giác, rồi họ ngày càng hoặc teo gầy do bởi toàn bộ năng lượng phải dùng để tái tạo lớp da dày lên trong chịu đựng, hoặc họ sẽ nổ tung bởi lo âu phẫn uất. Tôi đứng dưới cái nóng từ trời dội xuống, từ mặt đường nhựa hắt lên. Mặt tôi lúc ấy hẳn xấu như ma bị cấu. Nghe các ngư phủ thất nghiệp dãi bày. Ông Nguyễn Văn Thành, 57 tuổi thì nhận được hơn 700 triệu đền bù, xây xong nhà thì hết tiền, hết cả tích lũy. Hết tiền cũng không lo, ông là một ngư phủ cự phách; nuôi 8 con, 4 đứa đã xong đại học, còn 4 đứa nữa “đang không biết lấy chi nuôi chúng ăn học.” Tôi mới tập thói quen ghi chép trên iPhon, nhưng lúc này ruột gan quặn thắt, đau nhói, mắt nảy đom đóm trong triệu triệu li ti ánh lóe từ đường nhựa múa may dưới nắng, bấm chữ nọ xọ chữ kia. Đành cứ đứng nhìn trân trối vào cơn nóng ngột ngạt đang dần quánh lại.
Chúng tôi xuống Vũng Áng, qua những mảnh làng hoặc xác xơ hoang phế hoặc đang tháo dỡ, ngổn ngang như vừa qua trận bom. Gần bãi biển hơn, đã có những bóng cây, những hơi nước biển. Nhưng gặp những cái quán phục vụ ngư dân hay du lịch vắng vẻ đến tuyệt đối thì cái ngột ngạt trở lại. Nóng dường như dữ dội hơn khi chúng tôi đứng bên cầu bến kè đá, nằm la liệt những thuyền lớn thuyền nhỏ úp sấp trên cát bỏng. Biển xanh ngắt ngoài khơi xa, hiện không có sóng gió, biển thành tấm gương phẳng mịn xanh phản quang cái nắng từ trời không ngừng dội xuống, không ngừng phát tỉ tỉ ánh lóe bung lên. Tuyệt đối không bóng người. Biển nằm thiêm thiếp mê man, mặc cho những con thuyền không người không buồm chèo như cái xác ve nằm úp lên da thịt người đang mệt mỏi đến không còn sức phủi đi. Cát trắng giống da người hơn, thuyền càng giống xác ve hơn. Biển Vũng Áng đẹp như mơ từ khai thiên lập địa giờ đã hoang tàn, thật sự hoang tàn.
Cạnh cảng Vũng Áng có trụ sở Hải quan, chúng tôi ghé qua nhờ máy điều hòa hạ nhiệt giúp. Không biết những ngày Formosa nhập hóa chất về súc xả thải thì sức sống của Hải quan ta thế ra sao chứ giờ nó cũng vắng ngắt. Nhưng tôi ngờ rằng, từ nay, nó chỉ còn dùng để phục vụ máy móc hóa chất của Formosa nhập về. Không thấy đồ dùng, máy móc phục vụ cho việc thông quan đâu, trụ sở Đồn Hải quan vắng ngắt vì thế nó không giống Hải quan, giống cái đồn biên phòng hơn nhưng lại không có súng ống gì. Lạ thật!
Lạ ở chỗ, Hà Tĩnh địa linh nhân kiệt lẫy lừng trăm ngàn năm nay mà có thời lại sinh ra một ông quan đầu tỉnh chuyên xúc cát bán rồi trưởng thành lên rước Formosa về, sinh ra một ông Chánh Văn phòng Khu Kinh tế Hà Tĩnh không bênh vực nổi việc đoàn khách do ông hướng dẫn khỏi bị gõ dùi cui gõ lên nóc xe – kẻ này cũng dân Hà Tĩnh nhưng nhân danh kẻ có tiền để gõ trên nóc xe của đoàn khách của ông và tại Vũng Áng này lại sinh ra một Trụ sở Hải quan mà không hề thấy dụng cụ nghề nghiệp.
Nhưng cái nhức nhối hơn lại ở chỗ, không riêng Hà Tĩnh là nơi con người và cảnh vật mà tôi vô cùng yêu kính mới trang bị sơ sài như vậy mà lại hăm hở cưỡi trên lưng những con hổ dữ là các nhà đầu tư nước ngoài hơn mình mấy trăm – mấy chục năm kinh nghiệm công nghiệp hóa và sức mạnh của kim tiền. Cần rút gọn lại Tư bản = Đầu tư = Tiền. Quản trị Tiền thì phải mạnh lắm, vô cùng mạnh mẽ hơn nó, mới không bị nó bắt nạt và đùa giỡn, biến anh từ Có về Mo, từ hẳn hoi nghiêm chỉnh hóa ngay ra thằng tội phạm!
Rõ hơn chả bõ hao, từ chỗ mát ra bãi cát bỏng, biển hoang, thuyền như mo nang như xác ve khiến cái ngột ngạt càng dữ dằn bỏng rát hơn. Có câu thơ Dịu dàng quá, dịu dàng không chịu nổi. Còn cái ngột ngạt như thế này thì sức đâu mà chịu? Ngột ngạt phối trộn bởi nắng, gió Lào 410 C trong bóng râm bạch đàn gầy cùng với bức bối cảm xúc, quyện lại, quánh lại đến có thể cắt ra từng miếng từng tảng.
Thật may, rượu ủ bằng nước suối Hao Hao do vợ Nguyễn Ngọc Phú nấu riêng cho chồng rồi ngâm vị thuốc gia truyền đã hạ hỏa chúng tôi. Vị nồng nàn mà mát thơm mùi thảo dược làm tan dần cái ngột ngạt đặc quánh, cái dịu ngọt thơm hiền như khí vị ngày xưa giúp hậ nhiệt. Gió từ quạt chủ quán vẫn là gió Lào, những chúng tôi đã mát lại tâm, tâm đã mát như vừa uống nước rau muống luộc dầm sấu thì còn sợ gì nữa. Thế rồi rượu vào thì lời ra, thơ ra. Lạ là Phạm Cảnh Nam, cháu gọi nhà thơ Phạm Ngọc Cảnh là chú ruột từ bàn nhậu bên cạnh dè dặt đến xin góp vui cùng đồng nghiệp bạn bè của chú. Và anh ta hát, hát rất hay. Ngôn ngữ, đúng hơn là tôi không đủ sức truyền đạt cái hay của giọng ca xót xa trầm buồn của Nam. Nó làm gió để biển đang mê man thức dậy, lao xao sóng. Nó làm chúng tôi đang như các cái xác khô đét dưới ngột ngạt gió Lào hiền lành rồi đi đến nghiêng ngả cùng nhau. Gõ thìa đũa, lẩm nhẩm theo ca từ, ư ư theo giai điệu rồi Nguyễn Ngọc Phú dường như không chịu nổi sự dịu mềm, đã vùng lên đọc trường ca Biển. Thơ Phú đã hay, giọng đọc như lên đồng mới thật đắm đuối, thật vang vọng.
Cũng cần kể ơn tại không gian thiêng liêng bí ẩn của Đền Chế thắng Phu nhân u huyền dưới bóng mát khu rừng đã làm dịu hẳn lòng tôi. Tâm linh thực quả có phép cân bằng!
Và như thế, hồn biển Vũng Áng đã trở lại, an ủi vỗ về tôi phần còn lại của ngày 19 – 7 - 2016!
Nhiều ý nguyện đòi hỏi truy tố Formosa và những kẻ tội phạm gây ra sự có mặt của nó ở Hà Tĩnh để nó gây ra thảm họa môi trường mấy trăm cây số dọc bờ biển đẹp như mơ của ta. Đó là việc của công quyền.
Nhưng trước khi Chính phủ, Viện Kiểm sát có quyết định chính thức, tôi đề nghị cần coi thảm họa này nguy hiểm ác độc ít nhất là bằng bom Mỹ và đạn pháo Trung Quốc bắn sang Vị Xuyên năm 1984 và cần gọi nó là giặc, giặc môi trường của cá, người và giá trị nhân văn không có gì thay thế nổi của Biển. Xin lỗi là trạng thái lỗi do vô tình gây ra, thì chấp nhận được. Còn đây là lỗi cố ý, không thể xin lỗi mà xong. Con số 500 triệu dollar khi đặt cạnh giá trị nhân văn bao la và bất tuyệt của Biển là một sự giễu nhại ghê gớm rồi. Còn chưa kể hàng triệu, nhiều triệu ngư dân và con em của họ (sao lại chỉ tính có con số vài trăm nghìn ngư dân?) từ nay sẽ sống bằng gì? Có cán bộ còn dại mồm dại miệng nói “ưu tiên ngư dân đi xuất khẩu lao động”, có khác gì bảo dọn dân đi chỗ khác để lấy đất cho cư dân nước khác sang làm giàu kiêm hủy hoại môi trường sống của người Việt? Nói trên TV thì gió thoảng qua, chứ chớ nói trước mặt ông Nguyễn Văn Thành ở Kỳ Lợi. Là ông chủ của biển khơi, sao ông lại thèm đi làm mướn? Ông Nguyễn Văn Thành nói: Biển là ruộng của chúng tôi cấy gặt, nay vùng biển quen thuộc của chúng tôi không còn tôm cá. Bảo ra khơi xa đánh bắt cũng khó. Ra may đánh bắt được, thì bán tôm cá không ai mua (nhà báo Nguyễn Ngọc Vượng có bài cá tôm ở bến Thiên Cầm chở ngược ra bán ở chỗ khác) mà ra khơi thì tàu Trung Quốc nó đâm, nó nạt, nó bắn nữa. Chụt đường sống mất rồi!
Xem ra, kinh nghiệm quản trị đất nước có lỗi ở vụ này. Kinh nghiệm quản trị dân Việt hiền lành giúp rất ít trong việc quản trị Tiền và những âm mưu tiềm ẩn dưới vẻ lịch sự nhã nhặn. Khi sự cố cá chết hàng loạt xảy ra, hai ngày sau Công an môi trường đã tìm ra, qua công tơ điện ở hệ thống xử lý xả thải thấp xuống đột ngột, qua đấu tranh, Formosa đã nhận do mất điện, khi có điện cứ thế đổ từ bể chứa ra biển; một tuần sau Bộ Nông nghiệp – PTNT đã có thông tin trong ruột cá chết có chất độc do kim loại nặng. Vậy mà gần 3 tháng sau, dân mới biết thông tin kèm một lời xin lỗi cúi đầu rất thấp. Trong ba tháng ấy, có biết bao bão tố ở trong dư luận, trong lòng mỗi người – phải nói là toàn Đảng toàn dân lo lắng hoang mang - có quá nhiều xử lý không đàng hoàng. Đã vậy, lại còn “trấn an dư luận” bằng cách cho mấy quan chức non dại nói trên TV, nói lấy được, đinh ninh như cụ Tản Đà nói, kẻ trong xi nê ma nói thì ta nghe, chứ ta nói nó không thể nghe được. Đó là 3 tháng sự khăng khít như cá với nước giữa dân với chính quyền xuống đến mức thấp nhất kể từ ngày lập nước. Sao không cứ nói ngay sự thật rồi cùng dư luận và các nhà khoa học đồng sức đồng lòng đấu tranh với tội phạm? Lại cứ phải dè dặt, chờ cho chắc chắn mới công bố?
Về quyết tâm (mà tôi không dám nghi ngờ ý chí thật) “sẽ đóng cửa Formosa nếu còn tái diễn” xem ra cũng vẫn còn là một giải pháp tình thế. Vâng, xin hỏi với công nghệ lạc hậu, lại coi thường chủ nhà như Formosa, nó sẽ mang chất xả thải xuất khẩu đi đâu nếu không đổ đây ở đó tại Việt Nam? Cần nhận rõ, nó vẫn đang tái diễn ý đồ, chỉ thay đổi mẹo mực, mánh lới. Hiện Formosa đã thuê Công ty Môi trường của một huyện ở Hà Tĩnh, với công nghệ chủ yếu là đào, chất lên xe rồi đem đi đổ ở đâu thì đổ rồi nhận thù lao hơn 400 tấn độc hại từ Formosa thải ra. Ngay một trung úy C 47 của Tổng cục Cảnh sát, cũng có thể trả lời rất nhanh kẻ phạm tội là A khi A thuê một đứa trẻ 40 ký, vác một bao tải ma túy nặng 70 ký đi từ điểm X đến Y. Vâng, kỹ năng suy luận tội phạm thật đơn giản; chứ nếu không thì để kẻ ác mà tinh ranh gây họa cho nhân loại còn biết đến bao giờ?
Tôi cũng như người xưa nói quốc gia hưng vong thất phu hữu trách (đứng trước sự mất còn, đến kẻ thất học cũng có trách nhiệm) tôi xin tham góp vào quá trình luận tội như vầy: Ông Võ Kim Cự ký giấy phép cho Formosa thuê 70 năm là hai lần sai phạm. Ông cho phép ngành kinh doanh sẽ tàn phá môi trường là luyện thép, là vi phạm điểm thứ 3 (nêu trên) Quyết định số 72/2006 của Thủ tướng Chính phủ. Vụ cá chết hàng loạt khi đó chưa diễn ra, nhưng sản xuất gang thép ở nơi mà sẽ phải xây dựng khu nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái và trở thành các điểm du lịch quan trọng trong tuyến du lịch ven biển Bắc miền Trung như quyết định của Thủ tướng đã nói rõ; như thế có là tội không? Tội thứ hai là làm quan đầu tỉnh mà lại đề xuất cho Formosa thuê 70 năm là vượt quá thẩm quyền.
Nay thì cái sự làm trái và lạm quyền đã gây ra hậu quả nghiêm trọng.
Ông Võ Kim Cự cũng vi phạm Điều 7, khoản 1 Luật Đầu tư (luật năm 2014, luật năm 2005 là điều 50) quy định về việc đảm bảo An ninh Quốc phòng trong Dự án đầu tư. Điều 31, khoản 1 điểm c: Khu công nghiệp gắn với cảng biển quốc tế…đều phải được Quốc hội cho phép hay không. Điều 30 Luật Đầu tư nói kỹ hơn về điều này, như sau:
“Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư đối với các dự án đầu tư sau đây:
1. Dự án ảnh hưởng lớn đến môi trường hoặc TIỀM ẨN khả năng ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường, bao gồm:
a) Nhà máy điện hạt nhân;
b) Chuyển mục đích sử dụng đất vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu bảo vệ cảnh quan, khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học từ 50 héc ta trở lên; rừng phòng hộ đầu nguồn từ 50 héc ta trở lên; rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay, chắn sóng, lấn biển, bảo vệ môi trường từ 500 héc ta trở lên; rừng sản xuất từ 1.000 héc ta trở lên;
2. Sử dụng đất có yêu cầu chuyển mục đích sử dụng ĐẤT TRỒNG LÚA NƯỚC TỪ HAI VỤ TRỞ LÊN với quy mô từ 500 HECTA trở lên; (riêng Formosa chiếm hơn 2000 ha ta lúa nước, đồng cỏ)
3. Di dân tái định cư từ 20.000 người trở lên ở miền núi, từ 50.000 người trở lên ở các vùng khác;
4. Dự án có yêu cầu phải áp dụng cơ chế, chính sách đặc biệt cần được Quốc hội quyết định.”
Vả lại, ông cựu Chủ tịch Hà Tĩnh từng huênh hoang Dự án gần 10 tỷ đô la lớn nhất nước là Nhà máy liên hợp luyện gang thép và cảng nước sâu Sơn Dương (dự án Formosa) do Công ty TNHH gang thép Hưng Nghiệp Formosa Đài Loan làm chủ đầu tư. Đến nay ông vẫn nhận thế chứ ạ?
Vâng, nếu nó lớn nhất nước thì chắc nó phải được Quốc hội xem xét quyết định. Vậy xin hỏi, Dự án Formosa được Quốc hội xem xét tại Kỳ họp nào và do ai quyết định cho Chủ trương đầu tư?
Xin hãy trả lời và đừng coi thường câu hỏi của dân như người trong phim, làm như là không nghe rõ. Nhân dân Việt Nam đã dành 30 năm đánh giặc để cứu Nước. Nay là thời kỳ Dân giữ Nước. Xin nhớ giữ Nước là việc không thể không có nhời nhẽ, sức lực, xương máu và tiền của Dân.
Nguồn: Nhà văn & Tác phẩm số 18, tháng 7 - 8 năm 2016
Chú thích ảnh thứ ba, từ trái sang: Bùi VIệt Thắng, Trần Nhương, VC, chú Khôi lái xe của Hội ngồi sau VC và lão nhà văn Hoàng Quốc Hải.
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Mỹ và Trung Quốc bàn luận những gì bên lề G20?



Tổng thống Mỹ Obama và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã họp song phương bên lề Hội nghị G20
Tổng thống Mỹ Obama và Chủ tịch Trung Quốc
Tập Cận Bình đã họp song phương bên lề Hội nghị G20 (Ảnh: Getty Images)
Tổng thống Mỹ và Chủ tịch Trung Quốc đã bàn luận những gì tại cuộc họp song phương bên lề Hội nghị Thượng đỉnh G20 – đây là điều mà giới quan sát quốc tế đều nghe ngóng. 
Hội nghị thượng đỉnh các nhà lãnh đạo từ 20 nền kinh tế lớn nhất thế giới chính thức bắt đầu vào hôm nay (4/9) tại Hàng Châu ở miền đông Trung Quốc, nhưng một loạt các cuộc họp song phương đã diễn ra trong suốt ngày hôm qua.
Biển Đông
Theo Sputnik News, Nhà Trắng cho biết trong một tuyên bố rằng Tổng thống Mỹ Obama và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã “trao đổi thẳng thắn” về phán quyết của Tòa án Trọng tài thường trực mới đây bác bỏ tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông.
Tuyên bố cho biết: “Tổng thống [Obama] đã tái khẳng định rằng Hoa Kỳ sẽ làm việc với tất cả các nước trong khu vực để giữ gìn nguyên tắc của luật pháp quốc tế, hoạt động thương mại hợp pháp không bị cản trở, và tự do hàng hải và hàng không“.
Cũng trong hôm qua, một cựu lãnh đạo Hải quân Hoa Kỳ đã viết một bài xã luận đại diện cho Viện nghiên cứu Hudson, dự đoán rằng xung đột hải quân với Trung Quốc là không thể tránh khỏi, theo Sputnik News.
“Một điều quan trọng trong chính sách đối ngoại của Tổng thống tiếp theo phải bao gồm việc ép buộc Trung Quốc tôn trọng luật pháp quốc tế. Nếu không, chúng ta có thể phải đối mặt với một cuộc xung đột với một lực lượng hải quân ngày càng lớn mạnh vào thời điểm khi mà chúng ta lại đang giảm dần về quy mô“, Cựu Phó Thứ trưởng Hải quân Hoa Kỳ Seth Cropsey khẳng định.
Nhân quyền
Ngoài vấn đề Biển Đông, ông Obama cũng ra sức ép đối với Trung Quốc về vấn đề nhân quyền. Đó không phải là chủ đề mới mẻ, nhưng lại đặc biệt nổi cộm gần đây khi chính quyền Trung Quốc bị phanh phui tội ác mổ cướp nội tạng của các học viên Pháp Luân Công.
Hôm 13/6, Hạ viện Mỹ đã thông qua nghị quyết yêu cầu Trung Quốc chấm dứt cuộc đàn áp Pháp Luân Công và hoạt động mổ cướp nội tạng ghê rợn. Nghị viện Châu Âu cũng ra thông cáo lên án tội ác diệt chủng này vào ngày 27/7.
Nhiều người dân thế giới và các luật sư nhân quyền đã đề nghị các nhà lãnh đạo thế giới gây sức với Trung Quốc. Hôm 20/7, người dân Canada, bao gồm cả cựu Quốc vụ khanh David Kilgour đã kêu gọi Thủ tướng Canada Justin Trudeau khi tham dự Hội nghị G20 cần hối thúc Trung Quốc chấm dứt hoạt động mổ cướp nội tạng.
Người dân Canada luyện Pháp Luân Công tại Montreal vào ngày 9/5/2015
Người dân Canada luyện Pháp Luân Công tại Montreal
vào ngày 9/5/2015 (Ảnh: Nathalie Dieul / Đại Kỷ Nguyên)
An ninh mạng và thương mại
Tại cuộc họp song phương, ông Obama cũng bày tỏ lo ngại về việc Trung Quốc không tuân thủ các cam kết an ninh mạng trước đó. Trung Quốc được biết đến rộng rãi về lực lượng tin tặc quân đội tấn công vào mạng lưới của các chính phủ, các doanh nghiệp và cá nhân, đem lại nguồn lợi không lồ cho nước này.
Không chỉ Mỹ là đối tượng tấn công thường xuyên của tin tặc Trung Quốc, Australia gần đây cũng công bố cuộc điều tra cho thấy những hệ thống mạng quan trọng của nước này là nạn nhân của hoạt động tin tặc của Bắc Kinh trong nhiều năm qua.
Vấn đề thương mại cũng được đề cập đến. Ông Obama lên tiếng đề nghị Trung Quốc  đảm bảo một “sân chơi bình đẳng” ở Trung Quốc, bảo vệ quyền lợi của các công ty Mỹ.
Quân nhân Trung Quốc trên một chiếc xe buýt tại quảng trường Thiên An Môn ngày 3/9/2015. Trung Quốc từ lâu đã phát triển một lực lượng tin tặc quân đội
Quân nhân Trung Quốc trên một chiếc xe buýt tại quảng trường Thiên An Môn ngày 3/9/2015. Trung Quốc từ lâu đã phát triển một lực lượng tin tặc quân đội (Ảnh: Andy Wong/Getty Images)
Triều Tiên
Chủ đề duy nhất mà cả ông Tập và ông Obama nhất chí cao là chương trình tên lửa của Triều Tiên. Cả hai nguyên thủ đều nhất chí rằng việc Bình Nhưỡng theo đuổi vũ khí hạt nhân và tên lửa đạn đạo đã đặt ra một mối đe dọa cho khu vực. Hai nhà lãnh đạo cũng tuyên bố sẽ hợp tác nhằm đạt được phi hạt nhân hóa trên bán đảo Triều Tiên theo như nghị quyết của Liên Hợp Quốc.
Mai Lan
(Đại Kỷ Nguyên VN)
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Forbes: 5 dấu hiệu cho thấy VN giống Trung Quốc 10 năm trước



Tạp chí uy tín Forbes mới đây đã đăng bài viết của chuyên gia theo dõi các vấn đề châu Á Ralph Jennings với nhận định: Việt Nam rất giống Trung Quốc 10 năm trước.
Tham nhũng, thích khoe của cải, giao thông ngày càng tệ, lao động nhảy việc thường xuyên, vi phạm bản quyền sở hữu trí tuệ,... đang diễn ra Việt Nam được xem là những nét tương đồng với những gì đã diễn ra tại Trung Quốc của 10 năm trước.
Theo Ralph Jennings, vào khoảng cuối thế kỷ trước đầu thế kỷ này, Trung Quốc chưa đủ nguồn lực để sản xuất. Tuy nhiên, các ưu đãi về thuế, nhân lực phong phú, nhân công giá rẻ... đã thu hút nhà đầu tư từ nước ngoài đổ tiền vào nước này, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khoảng 10% mỗi năm cho đến năm 2010.
Nhưng sau 10 năm, các lợi thế này không còn tồn tại ở Trung Quốc và rất nhiều doanh nghiệp đang tìm cách dịch chuyển khỏi quốc gia này. Khi chi phí nhân công tại Trung Quốc tăng lên, Việt Nam được xem là địa chỉ mới mà nhà đầu tư nhắm tới khi tìm kiếm thị trường tại châu Á. GDP của Việt Nam tăng trưởng ổn định ở mức khoảng 6% mỗi năm.
Tuy nhiên, Ralph Jennings cũng chỉ ra 5 mặt trái tương đồng giữa Việt Nam và Trung Quốc 10 năm trước khi đang ở giai đoạn đầu của đà phát triển mạnh mẽ.
Việt Nam theo quan sát của Forbes có nhiều nét tương đồng với Trung Quốc 10 năm trước. Ảnh AFP
1. Tham nhũng
Bài viết cho biết: "Nếu xin giấy phép kinh doanh mất quá nhiều thời gian và cán bộ cơ quan nhà nước nói bạn phải chờ hơn một tháng nữa mới được cấp phép, điều đó có nghĩa là bạn phải chi một số tiền "bôi trơn" hành chính cho các cán bộ này. Cảnh sát giao thông thì nhận tiền và không xử phạt lỗi vi phạm của người tham gia giao thông".
Trung Quốc đã từng rất nổi tiếng với những khoản hối lộ mà các công ty nước ngoài phải là người chi tiền khi tham gia kinh doanh tại nước này. Tình trạng hối lộ vẫn tiếp tục diễn ra tại Trung Quốc nhưng đã ít dần đi khi chiến dịch dịch chống tham nhũng của chính phủ Trung Quốc chính thức khởi động kể từ năm 2012.
2. Vi phạm bản quyền và thương hiệu
Ralph Jennings chia sẻ rằng: "Trong tháng này, tôi có nghe một câu chuyện tại TP HCM về một nhà cung cấp hạt điều sử dụng logo của Taco Bell (một chuỗi đồ ăn nhanh) in trên danh thiếp của mình. Người kể chuyện này nói với tôi rằng việc nhái nhãn hiệu ở Việt Nam là chuyện xảy ra bình thường".
Trung Quốc từng cho phép một chuỗi cửa hàng cà phê lấy nhãn hiệu "Starsbuck" (hãng cà phê nổi tiếng của Mỹ) hoạt động tại thành phố biển Thanh Đảo. Trung Quốc cũng cho phép các cửa hàng thời trang tại Bắc Kinh bán trang phục trông giống với sản phẩm của thương hiệu Gpa và ngang nhiên gắn mác Gpa.
Các công ty nước ngoài đang kinh doanh tại Trung Quốc thường phàn nàn rằng những vấn đề họ gặp phải trong bảo hộ nhãn hiệu là kết quả của những kẻ làm hàng giả nhãn hiệu, quan chức tham nhũng và sự yếu kém trong thực thi bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.
Trong hai thập kỷ qua, các nhà vận động hành lang nước ngoài đã gây sức ép để Trung Quốc dỡ bỏ việc kinh doanh vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, trong khi đó, các công ty Trung Quốc lại là những người kiện lại chính các nhãn hàng này.
3. Giao thông ngày càng tệ
Ở TP HCM, trung tâm tài chính của cả nước, và các đô thị lớn, tình trạng ùn tắc giao thông ngày càng phức tạp và diễn ra thường xuyên. Người đi đường có khi phải chờ đợi nhiều lượt để qua được một đèn đỏ. Giao thông tại các khu vực đông dân cư ở Bắc Kinh và Thượng Hải cũng rơi vào tình trì trệ như vậy vào khoảng năm 2000 khi ôtô xuất hiện trên đường nhiều hơn.
4. Lao động nhảy việc để kiếm thêm chút tiền
Ralph Jennings kể rằng: "Khi tôi sống ở Bắc Kinh trước năm 2005, bạn bè của tôi ở đây làm việc cho một công ty duy nhất cho đến khi họ tìm thấy một nơi khác trả lương cao hơn. Thời gian cho một công việc nhất định có thể chỉ đến nửa năm. Các công ty nước ngoài thường trả lương cao hơn các công ty địa phương, dẫn đến làn sóng nhảy việc tìm lương cao của người lao động. Tuy nhiên, họ không trung thành với bất cứ ai.
Trong khi đó, Ralph Jennings cho hay nhân viên văn phòng Việt Nam, những người rất khó để có thể tuyển dụng hoặc còn thiếu kỹ năng, cũng đang làm điều đó.
5. Thích khoe của
Ông Oscar Mussons, chuyên viên tư vấn kinh doanh quốc tế thuộc công ty tư vấn Dezan Shira & Associates tại TP HCM, nhận định: "Nếu bạn bước vào một ngôi nhà của người Việt Nam, họ có thể không có nhiều đồ đạc, họ có thể ngồi ăn trên sàn nhà, nhưng họ vẫn "xài sang" khi dùng điện thoại cao cấp như iPhone hay mua sắm các loại xe mới của của các thương hiệu nổi tiếng như Honda hoặc Yamaha vì đây là những thứ mà họ có thể trưng ra bên ngoài. Người Việt cũng chọn lui tới những nhà hàng phục vụ ẩm thực nước ngoài, đắt hơn so với thức ăn địa phương.
Trước khi diễn ra chiến dịch chống tham nhũng của Chủ tịch Tập Cận Bình, người tiêu dùng Trung Quốc nổi tiếng vì lối tiêu tiền không run tay với các bữa tiệc xa hoa hay đi mua sắm hàng hiệu xa xỉ ở nước ngoài. Đến nay, nhiều người Trung Quốc trở nên e dè khi móc hầu bao vì lo sợ trở thành mục tiêu của chiến dịch chống tham nhũng "đả hổ diệt ruồi", ngành kinh doanh mặt hàng xa xỉ ở Trung Quốc cũng đang bị ảnh hưởng nặng nề.
Phần nhận xét hiển thị trên trang