Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 22 tháng 8, 2016

Nhà báo có thẻ và công dân mạng?



Một bài viết rất lý thú (link bên dưới) nhưng cũng biện luận trời ơi của nhà báo Hoàng Hải Vân trên tờ Một Thế Giới cho thấy giới nhà báo đang ganh tỵ với công dân mạng.
Lý thú ở đây ông Vân, sau khi dẫn chứng từ nền báo chí Hoa Kỳ, trích dẫn Tu chính án thứ nhất của Hiến pháp Mỹ. Và nói rất chính xác rằng “đối với các nhà lập quốc Hoa Kỳ, đây là một trong những “quyền tự nhiên” của con người, không ai đủ tư cách ban phát, Hiến pháp chỉ ngăn chặn việc xâm phạm quyền tự nhiên ấy mà thôi. Có thể thấy Tu chính án thứ nhất được ban hành để “răn đe” chính quyền, không phải để “răn đe” người dân hay báo chí.”.
Lý thú hơn nữa ông Vân đã dẫn các “án lệ” để “cho thấy các đại thẩm phán Hoa Kỳ anh minh đã tiên liệu những hạn chế có thể có về tự do ngôn luận nên đã đưa ra một án lệ quan trọng để phòng ngừa, án lệ này còn có tác dụng ngăn chặn bớt sự tham quyền cố vị và thói háo danh ở nước Mỹ.”
Nhưng khi ông Vân liên hệ đến Việt Nam thì ông đã biện luận rất trời ơi, không tôn trọng sự thật, có cái nhìn phiến diện về mạng xã hội và công dân mạng, khi ông viết: “Các địa chỉ người dùng trên facebook, trên blog, các wesite tự tạo…, thường được gọi chung là “báo chí lề trái”, không bị cấm, mà muốn cấm cũng không cấm được, nên mặc nhiên chúng tồn tại hợp pháp.” Chúng là sao? Từ ngữ miệt thị này ông giành cho ai?
Và ông Vân cho rằng: “Ở Việt Nam, tôi không nghĩ là không có tự do ngôn luận”, nghĩa là ông khẳng định “VN có tự do ngôn luận” và “ở mức độ tự do ngang bằng với bất cứ một nước phương Tây nào”, khi ông dẫn chứng rằng: “Hơn thế nữa, mạng xã hội ở Việt Nam còn “tự do” đến mức thoải mái vu khống, bịa đặt, bôi nhọ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác nhưng chỉ bị luật pháp xử lý một cách lẻ tẻ, nghĩa là chỉ một số người bị xử lý còn đa số thì không, dù những địa chỉ phát tán các thông tin này là chính danh”.
Ông Hoàng Hải Vân à, tui đồng ý với ông mạng xã hội tại VN, ở một góc độ tào lao thì nó bát nháo thiệt. Nhưng nếu ông cho rằng đó là “tự do ngôn luận” thì ông quá phiến diện, cố tình đánh tráo khái niệm. Một người viết chính danh tại VN, viết về văn hóa xã hội thôi cũng đã có nhiều phiền lụy như những vụ phạt 5 triệu hay cho thôi việc. Còn viết về chính trị thì đã có bao nhiêu người đi tù vì những điều luật mơ hồ? Ông có thấy không? Ví dụ như ông Nguyễn Hữu Vinh, bút danh Anh Ba Sàm đến giờ vẫn chưa được xét xử. Ông ta dùng mạng xã hội chứ có phải cướp giật hay hiếp dâm tham nhũng đâu?
Vì vậy những cây bút chính danh viết về chính trị VN, sống tại VN không phải dễ dàng như ông nghĩ!
Dù vậy tôi hoan hô bài viết kêu gọi tự do ngôn luận của ông, nhất là ông nói rất đúng rằng: “Vấn đề là hệ thống luật pháp của chúng ta trên lãnh vực này đang bị “biến thái”” nhưng câu “Chính sự “biến thái” nói trên đang đẩy công chúng vào “lề trái”, nơi họ nghĩ sẽ tìm được “của ngon vật lạ””, là không chính xác, khi ông hàm ý rằng đó là những tin tức giật gân.
Ông Vân à, ở lĩnh vực chính trị xã hội, công chúng đọc mạng xã hội đơn giản vì họ tin nó là sự thật. Họ không tin nhà báo các ông, vì các ông luôn tự kiểm duyệt và bị kiểm duyệt. Thế thôi!
Dù sao cũng như ông, tôi luôn muốn có một nền báo chí tự do, đúng như một “quyền tự nhiên” của con người mà không ai có thể ban phát hay cấm cản!
Nhưng là nhà báo có thẻ, nếu ông không dám mạnh mẽ viết sự thật, nếu không đăng trên báo "chính thống" thì đăng trên mạng xã hội, mà cứ chờ sự ban phát thì nói làm gì? Và ông cứ chờ đi hen, chắc đến tết Công gô á!

http://motthegioi.vn/chuyen-hang-ngay/mang-xa-hoi-va-tu-do-ngon-luan-281678.html
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Xưởng sản xuất cơ thể con người

Tôi đi vào Xưởng sản xuất cơ thể con người để đặt một cái chân mới. Chàng nhân viên bán hàng đang ngồi trước màn hình máy tính, ngước lên khi tôi vào. Tôi nhìn các loại chân đủ màu đủ kiểu bóng loáng đang treo trên tường. Anh ta nhìn theo ánh mắt thích thú của tôi: “Bạn cần một cái chân mới?”
Tôi gật đầu.
Có chân thì màu vàng tươi, có chân thì màu tím, cong cong, trông khá thích mắt. Anh ta hỏi:
“Bạn muốn loại chân nào?”
“Một cái chân gỗ, nhưng phải thật nhẹ và êm.”
“Phía trên hay dưới đầu gối?”
“Phía dưới.”
“Bạn bị tật bẩm sinh hay tai nạn?”
“Bẩm sinh. Tôi không có ống quyển. Tôi lớn lên với chân giả. Tôi đã từng mượn chân em trai tôi một thời gian, nhưng bị dị ứng và ngứa. Vì vậy tôi phải đi lại bằng chân gỗ.”
Chàng nhân viên bán hàng cười: “Ừ, vợ tôi cũng bị ngứa khi mượn chân em gái nàng, sau đó nàng còn làm tổn thương cả tĩnh mạch cẳng chân khi dang ra quá rộng.” Tôi cau mày: “Đó là chuyện của vợ ông, còn vợ tôi có đôi chân dài tít tắp.”
“Tôi có thể xin thông tin về bạn?” Anh ta hỏi. Tôi đưa thông tin của mình ra. Anh ta nói tiếp: “Tôi có thể đặt cho bạn một nickname để phân biệt với các khánh hàng khác chứ?”
“Tôi không thích nickname.”
“A,” anh ta nhìn vào hồ sơ của tôi, “Hùng?”
“Ừ, Nguyễn Văn Hùng.”
Anh ta nói: “Nếu bạn thích một đôi chân dài, sao bạn không mổ? Chỉ mất vài tiếng, tập một tuần, và sau đó mọi thứ thật tuyệt vời. Da thịt bao giờ cũng êm và sướng...”
Tôi nghe qua giá tiền phẫu thật. Giá rất rẻ. Tôi không ngờ phẫu thuật lại nhanh và rẻ như vậy. Chàng nhân viên bán hàng nói thêm: “Bàn tay và cánh tay, đôi mắt và đôi tai… Bây giờ cái gì cũng có thể mổ thay mới dễ dàng. Nhưng khi thay chân thì bạn sẽ gặp một vấn đề.”
Tôi hỏi: “Về cái gì?”
Anh ta trả lời: “Về đường ống dẫn nước.”
“Là sao?”
“Là cái để đi tiểu, nó phải được thay theo chân của bạn cho đồng bộ, vì chúng tôi sẽ làm mới cả khớp háng.” Chàng nhân viên bán hàng nháy mắt.
Tôi trả lời: “Không có vấn đề.”
“Vậy bạn muốn thay đường ống dẫn nước cỡ lớn hay nhỏ?”
“Nhỏ, càng nhỏ càng tốt, vì như thế có lẽ sẽ tốt hơn.”
Anh ta cộng hóa đơn, tôi trả tiền. Anh ta không quên quảng cáo thêm: “Đây sẽ là đợt trang bị đầy đủ từ thắt lưng của bạn trở xuống. Màu vàng nâu ánh hồng. Bạn còn hỏi thêm gì nữa không?”
Tôi lắc đầu.
“Cảm ơn ông Nguyễn Văn Hùng. Tất cả đã lên chương trình, mặc định và không ai có thể thay đổi cuộc mổ và hoàn tiền lại.”
Tôi cười khi rời cửa hàng.
Tôi không phải là Nguyễn Văn Hùng. Đó là tên của người vẫn làm việc chung với vợ tôi. Tôi tưởng tượng lúc hắn tỉnh dậy trong phòng mổ.



Phần nhận xét hiển thị trên trang

những điều chưa bao giờ là thơ

 
1)
 
tôi thật đã đuối sức
tìm tôi
trong bản khai lý lịch
nhoè nát
 
2)
 
chẳng có gì phải vội
dù chuyến tàu cuối đã qua ga
cuộc chia tay cần phải nán lại dù
chỉ còn đợi một lời thề từ người con gái câm
 
3)
 
nửa đêm bỗng giật mình khi nhận ra
giấy tạm trú có thời hạn
cho giấc mơ của chính mình
hết hạn đã lâu
 
4)
 
những đồng coins ai đó vừa ném
loảng xoảng vào chiếc ca sắt của mình
tôi cúi nhặt lên toàn các con chữ
thì ra lâu nay mình vẫn hành khất chữ nghĩa
 
5)
 
máng tạm linh hồn lên vách
cùng mảnh giấy tạm trú ướt nhẹp cần phơi phong
riêng nỗi tủi nhục
quá lâu khô
 
6)
 
đừng vội kết tội đêm
những tên cướp trí trá đã cúp điện
để giở những trò
chúng đã xếp đặt trước từ ngoài ánh sáng
 
7)
 
nửa đêm tôi lại thấy mình bị kiểm tra hộ khẩu
trên chiếc xích-lô tôi đang ngáy
ghếch bánh sau vào hông chợ Sài Gòn
may quá
chiếc xích-lô cùng tôi vụt bay lên...
 

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Điệp viên hoàn hảo


tuan's blog
Đó là tựa đề cuốn sách "Perfect Spy" của tác giả Larry Berman. Hôm ra phi trường về Sydney, đi ngang qua một quầy bán đồ lưu niệm tôi chú ý đến cuốn sách này, nhưng còn ngần ngại mua, vì chưa biết nó có bị kiểm duyệt không. Tôi hỏi cô bán sách là cuốn này có phải là nguyên bản, chưa bị kiểm duyệt, thì cô ấy hơi ngớ ra, chẳng hiểu tôi nói gì. Tôi cũng hiểu ra là mình hỏi lầm người, nên tự "kiểm tra" bằng cách đọc vài trang. Sau khi tạm hài lòng là sách bản gốc, nên mua lên máy bay đọc để giết thì giờ. Bây giờ thì tôi đã đọc hết, nên có thể chia sẻ cùng các bạn vài cảm nhận.

Trong sách, Larry Berman phác hoạ cuộc đời và sự nghiệp của Phạm Xuân Ẩn, người mang hàm thiếu tướng tình báo trong Quân đội Nhân dân, nhưng cũng là một kí giả kì cựu của tạp chí lừng danh Time. Cuốn sách ghi lại từ những ngày ông theo học ở Trường Cao đẳng Cần Thơ đến ngày ông được Mai Chí Thọ và Mười Hương tuyển chọn làm điệp viên, và chọn để gửi sang Mĩ du học. Kế hoạch gửi Phạm Xuân Ẩn sang Mĩ học phải được Bộ Chính trị phê chuẩn và tốn nhiều năm mới thực hiện được. Năm 1957, ông Ẩn nhập học báo chí tại Trường Cao đẳng Orange Coast. Ông Ẩn có nói (rất đúng) rằng ông là người Việt đầu tiên sống ở Quận Cam, nơi mà hiện nay có khoảng 150 ngàn người Việt định cư. Trớ trêu thay, cơ quan tài trợ cho ông Ẩn theo học là Asia Foundation, một nhánh của ... CIA! Nhưng đến năm 1959, ông được triệu hồi về Việt Nam. Đến khi về Sài Gòn, ông sợ bị bắt, nên nhờ đến sự giúp đỡ của Trần Kim Tuyến (lúc đó là trùm tình báo của VNCH). Ông Tuyến tìm cho ông Ẩn một công việc ổ Việt Tấn Xã. Sau đó, ông Tuyến bị thất sủng, và ông Ẩn thì chuyển sang làm việc cho hãng thông tấn Reuters, rồi cho tờ Time. Trong vai trò kí giả, ông Ẩn viết bài thường xuyên cho Time, nhưng cũng đồng thời gửi thông tin cho cấp trên của ông ở trong rừng. Cuốn sách còn có nhiều tư liệu và hình ảnh quí báu do chính ông Ẩn cung cấp cho tác giả, nên có thể xem đây là một biography chính thức của ông.

Tác giả bắt đầu cuốn sách bằng một chương kể chuyện về buổi gặp Phạm Xuân Ẩn ở Nhà hàng Song Ngư (đường Sương Nguyệt Anh) vào năm 2001. Đó là lần gặp đầu tiên, mở màn cho nhiều lần gặp gỡ sau để tác giả có đủ chất liệu và tài liệu để viết thành một cuốn sách hay. Kết thúc chương sách, tác giả kể một câu chuyện đầy ý nghĩa. Chuyện kể rằng sau buổi ăn tối, ông Ẩn cùng Larry Berman rời nhà hàng, và có một ông đại tá quân đội nhận ra ông Ẩn và đến hỏi lễ phép: "Xin hỏi ông có phải là tướng Phạm Xuân Ẩn"; ông trả lời: "Ừ, tôi đây"; ông đại tá kia nói: "Rất hân hạnh được gặp ông," rồi hỏi một cách đùa giỡn, "Vậy ông là tướng của bên nào?" Không hề ngần ngại trong suy nghĩ, ông Ẩn nói ngay: "Cả hai bên". Khi ông đại tá tỏ ra không thoải mái, ông Ẩn nói: "Chỉ nói giỡn thôi". Sau đó, nhìn sang ông khách người Mĩ, ông Ẩn nói bằng tiếng Anh: "Ông thấy không, đây chính là lí do họ không cho tôi thoát ra ngoài; họ vẫn không chắc chắn tôi là ai."

Thật vậy, xuyên suốt cuốn sách, tác giả cho chúng ta cái bất định đó. Ông Ẩn là ai, làm việc cho phe Việt Nam Cộng Hoà, cho phe cộng sản, hay cho Mĩ? Có lẽ cả ba, vì trong thực tế ông đã phục vụ cho cả ba chế độ trong ba vai trò khác nhau. Nhưng điều tuyệt vời là ông Ẩn không phản bội ai. Đối với các đồng nghiệp trong chế độ VNCH, Ẩn là người thuỷ chung đến giây phút cuối cùng. Chính ông đã giúp trùm mật vụ Trần Kim Tuyến rời Việt Nam vào những ngày miền Nam hấp hối. Bác sĩ Trần Kim Tuyến còn nổi tiếng là một người chống cộng cuồng nhiệt (theo cái nhìn của nhiều người). Trong sách, tác giả Larry Berman còn thuật lại câu chuyện Phạm Xuân Ẩn đã vận động phe Mặt trận Giải Phóng (miền Nam) thả Rober Anson (lúc đó là kí giả của tạp chí Time) bị Mặt trận Giải Phóng và Khmer đỏ bắt ở Kampuchea.

Trong nhiệm vụ kí giả, Phạm Xuân Ẩn cũng hoàn thành xuất sắc. Trong suốt 20 năm liền, ông làm kí giả chính thức cho tạp chí lừng danh Time. Cần nói thêm rằng cho đến nay ông là người Việt duy nhất làm phóng viên (chứ không phải nhiều người khác chỉ làm phụ tá hay cộng tác viên) cho tờ Time. Ông được các hãng thông tấn quốc tế và cả tờ Christian Science Monitor mời làm cộng tác viên. Trong vai trò là một điệp viên cho phía cộng sản, ông cũng hoàn thành xuất sắc, vì những thông tin ông cung cấp giúp cho các tư lệnh quân sự miền Bắc [nói như ông Võ Nguyên Giáp] như đang ngồi trong phòng chỉ huy của quân đội Mĩ. Ông được phong hàm thiếu tướng trong Quân đội Nhân dân và vinh danh như là một "anh hùng".

Có lần phóng viên hỏi ông nghề gián điệp và phóng viên có gì khác nhau, thì ông trả lời vui rằng hai nghề rất giống nhau ở chỗ thu thập thông tin. Nhưng có một khác biệt quan trọng, nghề báo thu thập thông tin rồi công bố; còn nghề gián điệp thì thu thập thông tin và giữ lại. Nghề làm báo do đó phải là một nghề lí tưởng để chuyển hướng sang làm gián điệp. Thật vậy, những người cấp trên của ông đã chọn được một nhân vật rất tuyệt vời trong một vai trò rất lí tưởng để làm cái việc đầy gian nan và khó khăn.

Trong cuộc đời làm gián điệp, ông Ẩn không hề ăn cắp tài liệu của ai; ngược lại, người ta đem tài liệu đến ông để xin ý kiến phân tích. Thời đó, ông Ẩn nổi tiếng là một chuyên gia phân tích vỉa hè, được giới báo chí quốc tế tặng cho danh hiệu "Khoa trưởng báo chí", "Tiếng nói đài radio Catinat" (Catinat là tên đường Tự Do, tức Đồng Khởi ngày nay) vì ông tiếp cận được những thông tin độc đáo và có tư duy phân tích sắc sảo làm giới kí giả thán phục. Nhưng riêng ông, ông thích những danh xưng hài hước như "Tiến sĩ tình dục", "Giáo sư đảo chính", "Tư lệnh huấn luyện chó", "Tiến sĩ cách mạng", hoặc đơn giản hơn là "Tướng Givral" (vì ông tiêu ra nhiều thì giờ ở quán cà phê Givral để thu thập thông tin) (1).

Sau 1975, ông Ẩn có vẻ rất thất vọng với tình hình đất nước. Một điều khó ngờ là ông bị đi ... học tập cải tạo 10 tháng ngoài Hà Nội. Ông nói đùa rằng đó là những ngày tháng đi tẩy não. Ngay cả sau khi về Sài Gòn, ông cho kí giả David DeVoss biết rằng ông vẫn bị theo dõi, chứ không được tự do như người ta tưởng. Ông từng than thở trước sự lệ thuộc của Việt Nam vào Nga và Tàu, và tự mình chất vấn việc làm của mình trong quá khứ.

Với một cuộc đời và sự nghiệp có một không hai như thế nhưng tại sao ông Ẩn không viết hồi kí. Khi được hỏi, ông trả lời rằng ở Việt Nam người ta không có tự do để viết, "và đó là lí do tôi không viết về cuộc đời của tôi. Tôi sẽ bị rắc rối nếu tôi nói về cuộc đời tôi hay những gì tôi biết." Ông Ẩn cũng có những quan điểm về chủ nghĩa cộng sản. Ông nói rằng "Chủ nghĩa cộng sản là một lí thuyết rất đẹp, một lí thuyết nhân bản nhất. Chủ nghĩa cộng sản cũng giống như lời khải huyền của Thượng đế, của Đấng Sáng Tạo. Chủ nghĩa cộng sản dạy bạn thương yêu nhau, không giết nhau. Một cách duy nhất khác để biến những lí tưởng đó thành hiện thực là mỗi chúng ta trở thành anh em với nhau, nhưng điều đó có thể cần đến hàng triệu năm. Đó là một sự không tưởng, nhưng nó đẹp."

Nói chung, cuốn sách Perfect Spy hay, không chỉ nội dung phong phú và những tư liệu quí báu của ông Phạm Xuân Ẩn, mà còn hay ở phong cách văn chương. Một cuốn sách viết về một nhân vật Việt Nam phải có những thông tin về văn hoá và lịch sử Việt Nam, và không phải sách tiếng Anh nào cũng làm tốt việc chuyển tải những khái niệm văn hoá Việt sang tiếng Anh, nhưng cuốn sách của Larry Berman làm được cái việc đó. Dù sao thì tác giả là một giáo sư (Đại học Calfornia tại Davis), một học giả, nên cách hành văn sáng sủa và dễ hiểu. Phải ghi thêm là đối với các bạn đang học tiếng Anh thì đây là một cuốn sách rất đáng được tham khảo và đáng học.

Có lẽ tên của ông cũng là định mệnh. Tên của ông là Phạm Xuân Ẩn, và cuộc đời của ông cũng là một ẩn số. Đọc xong cuốn sách, tôi vẫn không biết hết ông là ai và theo lí tưởng nào. Có một điều chắc chắn là ông là người yêu nước Việt Nam, nhưng cũng là người yêu nước Mĩ, yêu tự do. Ông Ẩn cho tác giả Berman biết ông cảm thấy yêu nước Mĩ, yêu người Mĩ, và cách sống Mĩ. Tôi đọc một bài viết của Thomas Bass (một tác giả khác cũng viết về Phạm Xuân Ẩn) mà trong đó có đoạn thuật lại rằng tủ sách của ông Ẩn phần lớn là sách tiếng Anh và tiếng Pháp. Trong tủ sách đó, có một cuốn của nhà giáo Gérard Tongas (2) tặng cho ông mang tựa đề "Tôi đã từng sống với địa ngục cộng sản ở Bắc Việt Nam, và tôi đã chọn Tự do." Ông Ẩn rất thích cuốn sách này, và ông nói với Bass rằng "Anh phải đọc cuốn sách này trước khi viết bất cứ cái gì."

Ông Ẩn qua đời năm 2006, thọ 80 tuổi. Thuở sinh tiền, ông nói nửa đùa nửa thật với một nhà báo Mĩ (DeVoss) rằng khi ông chết, "xin đừng chôn tôi gần người cộng sản." Chẳng ai biết tại sao ông nói ra câu đó, nhất là nó xuất phát từ một người bỏ ra cả đời phục vụ lí tưởng cách mạng, nhưng ước nguyện này của ông đã thành sự thật.

===

(1) Những ngày sau 1975 ông Ẩn sống ẩn dật và làm bạn với 3 con vật: chó, chim, và cá. Ông giải thích cho tác giả Berman rằng chó là tượng trưng cho tính trung thành, con chim tượng trưng cho sự tự do, và con cá [không nói] nhắc nhở rằng phải giữ im lặng. Ba đặc điểm đó cũng chính là cách sống của ông.

(2) Gérard Tongas là nhà giáo dục người Pháp, người từng đến miền Bắc VN giúp chính quyền thành lập trường trung học sau năm 1954.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

như những con bò chỉ đi cày rồi về chuồng ngủ..


Không ít bạn tỏ ra kinh ngạc khi thấy vợ chồng tôi vẫn đều đặn đến rạp xem phim và hỏi, tôi làm sao có thời gian? Thời gian của tôi không nhiều hơn các bạn, nhưng nếu chỉ đi làm rồi về đi ngủ tôi cảm thấy thiếu gì đó, thấy đời sống của mình tầm thường đi, trở nên buồn chán, mệt mỏi, như con bò chỉ đi cày rồi về chuồng ngủ.

http://www.baogialai.com.vn/dataimages/201401/original/images917195_04_bhm.jpg
Đàn  bò
Những năm 80 khi là sinh viên ở châu Âu, tôi thường thèm thuồng đi qua cửa nhà hát lung linh dưới ánh đèn, nườm nượp người vào xem trong những bộ váy dạ hội, áo complet đẹp rực rỡ.

Chỉ dám nhìn thôi vì vé quá đắt và vì không có trang phục đẹp để vào nhà hát. Đến các công sở, tôi lại nghe các nhân viên bàn nhau chuyện đặt mua vé vào nhà hát từ hàng tháng trước, háo hức mỗi khi có ca sĩ hay chương trình opera mới nhưng phải ngượng ngùng tránh đi vì không biết gì về chủ đề họ đang nói.

Khi ấy tôi tự nhủ sau này có tiền, tôi dứt khoát phải mua vé đi xem cho biết.

Lúc ấy mỗi lần về nhà tôi rất thương cảm cho người Việt.Trên đường phố nhiều nước, con người đi lại với gương mặt bình an, thoải mái nói cười. Còn ở ta, dường như sự lam lũ vẫn còn đeo đẳng nhiều người.

Tôi tha thiết mong đến ngày đời sống khấm khá để được thấy lại nụ cười, vẻ bình an trên gương mặt người Việt và để các sinh hoạt văn hoá tinh thần không còn chỉ gói gọn trong vài bộ phim Nga chủ yếu với đề tài chiến tranh mà cũng không sao mua được vé.

Sau Đổi mới, đời sống kinh tế bắt đầu khá hơn, các chương trình hoà nhạc, nhạc kịch đã xuất hiện nhiều hơn ở Việt Nam và không chỉ giới hạn cho người trong ngành như trước. Nhưng bước vào nhà hát, tôi rất thất vọng vì sự ăn mặc, cư xử luộm thuộm của người Việt, tương phản với sự trang trọng của các khách nước ngoài.

Những người nghe hoà nhạc mặc nguyên quần áo đi làm hoặc đồ bộ nhàu nát, hút thuốc thả tàn xuống sàn nhà hát bóng lộn, thản nhiên trò chuyện trong khán phòng trước sự thờ ơ của các nhân viên. Trong khung cảnh đó khó có thể thưởng thức được âm nhạc, nghệ thuật đỉnh cao.

Đến các địa điểm du lịch, tôi thường gặp người Việt ở các trung tâm mua sắm nhưng rất hiếm khi gặp người Việt ở các bảo tàng, địa điểm văn hoá hoặc nếu có cũng chỉ đến chụp ảnh rồi đi.

Sự chi tiêu của người Việt cho đồ xa xỉ làm kinh ngạc nhiều người dân phương Tây, chứng tỏ kinh tế của VN đã tiến bộ rất nhiều trong thời gian qua. Tuy nhiên đời sống văn hoá tinh thần không phát triển tương ứng.

Nếu thời bao cấp, sách báo, phim ảnh vô cùng hiếm hoi nhưng đa phần dân chúng đều mong mỏi được tham gia, bất kể tuổi tác hay thu nhập. Một cuốn sách hay sẽ được mượn đến cũ nát và mọi người sôi nổi bàn tán về bộ phim mới ra ngoài rạp, so sánh nó với những cảnh đời xung quanh.

Sách báo, phim ảnh lúc ấy không chỉ để giải trí mà thực sự là món ăn tinh thần nhưng do số lượng hạn chế và đời sống vật chất quá thấp nên không phát huy được tác dụng.

Trái lại, vào thời mở cửa, thu nhập của người dân tăng lên nhưng đến các rạp chiếu phim hay ra hàng sách, ta sẽ thấy chủ yếu là thanh niên đến với mục đích giải trí. Chính vì vậy, các kiệt tác văn học, những cuốn phim có nội dung nghiêm túc chiếm tỷ lệ rất nhỏ ở Việt Nam.

Thậm chí khi tôi hỏi lớp với cả trăm sinh viên hàng đầu Việt Nam, cũng chỉ có 2-3 em có đọc sách, còn lại là toàn đọc truyện tranh.

Không ít bạn tỏ ra kinh ngạc khi thấy vợ chồng tôi vẫn đều đặn đến rạp xem phim và hỏi, tôi làm sao có thời gian? Thời gian của tôi không nhiều hơn các bạn, nhưng nếu chỉ đi làm rồi về đi ngủ tôi cảm thấy thiếu gì đó, thấy đời sống của mình tầm thường đi, trở nên buồn chán, mệt mỏi, như con bò chỉ đi cày rồi về chuồng ngủ.

Hơn nữa, vợ chồng con cái hàng ngày mỗi người mỗi việc, như xa lạ dần đi với nhau. Những giờ phút cùng đi xem phim, nghe nhạc... sẽ làm mọi người thấy đỡ nhàm chán, có thêm nhiều điều để chia sẻ và gần gũi nhau hơn.

Nhịp sống công nghiệp, sự phát triển của TV, Internet, các trò giải trí mới như game online giữ chân mọi người ở nhà, ngày càng xa rời với sinh hoạt văn hoá, tinh thần.

Phải chăng vì vậy, dù đời sống tăng lên rất nhiều nhưng đi trên đường, chúng ta vẫn chỉ nhìn thấy những gương mặt cau có, mệt mỏi, ra chỗ công cộng chỉ nghe thấy những lời than về đời sống đắt đỏ, bất an, nếu có vui vẻ cũng chỉ là những lời dô dô chúc tụng nhau chứ không nhìn thấy sự bình an, thanh thản?

Phải chăng vì người trẻ mải mê với học hành theo thành tích, người lớn lo chạy theo đời sống vật chất nên đã bỏ qua những hoạt động văn hoá, vốn cần thiết cho tinh thần như thức ăn cho thân thể?

Gần đây có một bài báo đã gây nhiều tranh luận của nhà báo Mỹ Linh, theo đó chị nói “Tôi nghĩ kiến thức nghề nghiệp chỉ chiếm 50%, phần còn lại là những tri thức khác nữa của nhân loại”. Chị thất vọng vì thấy du học sinh đáng yêu, năng động, biết kiếm tiền để phụ cha mẹ hoặc tích lũy cho bản thân nhưng ít khi chú ý đến các hoạt động tinh thần.

Và chị tự hỏi: “Phải chăng nỗi ám ảnh về cái nghèo và những năm tháng trí thức ít được coi trọng đã khiến nhiều bậc cha mẹ quên gói ghém trong hành trang du học của con tinh thần ấy”?

Bao giờ người Việt bớt lo lắng về vật chất để biết nuôi dưỡng tâm hồn?

PGS.TS Nguyễn Hoàng Ánh 
Đại học Ngoại thương - Hà Nội.

(VNN)
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chủ Nhật, 21 tháng 8, 2016

Linh tinh phộc!

Kết quả hình ảnh cho ảnh biếm hài háo danh?

                                    Hồng Giang

TRUYỆN NGẮN HAY LÀ CHUYỆN VẶT?

Cách đây mấy năm, đã từng có một hội nghị bàn về văn học như thế này. Lúc đó Đại công quốc XHCN Lybia còn đứng vững. Ngài Kadapi còn là người anh hùng, được coi như thần tượng trong lòng nhiều người căm thù sâu sắc chủ nghĩa đế quốc và tình hình biển đông chưa nóng lên như bây giờ. Tham nhũng chưa làm cho người ta cảm thấy bức bối, đạo đức xã hội và ô nhiễm môi trường chưa đáng lo ngại như hiện nay.
Nhưng hắn đã cảm thấy thất vọng. Hình như có sự lèo lái trong văn đàn, muốn hướng nó đi theo chiều hướng khác. Khi người ta bảo rằng : “Văn học ngày nay không còn mang tính hướng đạo, trách nhiệm tinh thần.. Nó chủ yếu nhằm giải trí cho công chúng..” Ông ta còn nói và dẫn ra nhiều ví dụ. Cho đến bây giờ hắn vẫn nhớ như in, dù suốt hội nghị ấy hắn không hề ghi chép như hầu hết những vị ngồi nghe. Người ta đã quen theo tập quán, nghe, ghi chép một cách thản nhiên. Ai biết trong lòng họ nghĩ gì?
Nhưng câu chuyện hôm ấy để lại trong hắn mặc cảm nặng nề. Suốt một thời gian dài hắn bứt dứt không yên, hắn không viết được cái gì cho ra hồn. Giữa thực tế và lý luận có một khoảng cách ghê gớm.
Không lẽ văn học không còn lý tưởng, bổn phận để nó hướng tới như nhu cầu tự thân của nó từ khi nó xuất hiện trong đời sống con người ?
Không phải không có văn chương giải trí.. Nói như N.H.T có nhiều loại văn chương. Như anh hàng thịt có loại thịt mông, thịt sấn, thịt bạc nhạc.. Không phải chỉ có một thứ “Văn học giải trí”. Nếu có, chỉ là một phần nhỏ, một họa tiết trong bức họa muôn màu của văn học của mọi thời đại. Nó không thể cầm trương, cầm trịch, mang tính đại diện cho văn học được, dù bất luận thời thế và hoàn cảnh nào!
Nếu đơn giản “Làm văn chương chỉ để chơi”, hắn nghĩ sẽ rất nhiều người bỏ cuộc. Nhất là những ai mang cả đời mình cống hiến cho nó. Họ đánh đổi cả công danh, lợi lộc, tiền bạc, thậm chí cả mạng sống mình, tự do của mình, không lẽ để được “chơi” như thế?
Ở đấy không có chuyện đòi hỏi bổng lộc, thú vui hưởng thụ, chấp nhận hy sinh, thua thiệt nếu người ta nghĩ và làm đứng đắn. Chắc chắn không ai muốn “Chơi” như thế, vì chơi là để vui, chứ buồn nhiều hơn còn ai chơi nữa không ?
Có lẽ không cần thiết phải bàn về chuyện này nữa. Đương nhiên người cầm bút bao giờ cũng tự biết phải trang bị cho mình hành trang cần phải có, những điều sơ đẳng này rồi.
Vậy thì tại sao, một nhà thơ nhớn như vậy lại đem đặt ra vấn đề khôi hài và kỳ quặc đó?
Có câu : “Ăn cơm chúa, phải múa tối ngày”. Không lẽ vì lẽ đó sao?
Hắn biết người như ông ấy không phải không biết. Đáng buồn ở chỗ điều không đáng, không nên nói, không muốn nói, lại được nói ra với sự hăm hở với vẻ chân thành!
Hình như có sự khuyến khích ngấm ngầm cho các loại chuyện vặt vãnh, tránh xa những điều “Nhạy cảm”, nóng bỏng, nhức nhối trong hiện thực đời sống hàng ngày. Những vấn đề hơn ai hết, người cầm bút, mệnh danh “Kẻ sĩ trong thiên hạ” phải quan tâm đến hàng đầu. Vào lúc này, anh ta không có quyền nỉ non “Cà, kê, dê, ngỗng, con cá, lá rau..” Nếu không muốn đánh mất mình, muốn bị lãng quên như một thứ đồ chơi nhất thời hết hạn xử dụng.
Không phải ngẫu nhiên phần lớn các tác phẩm trên báo chí và các phương tiện xuất bản dưới nhiều hình thức hiện nay “Nhạt” và ít được công chúng chú ý. Thậm chí nhiều ấn phẩm “ Cho không, biếu không” chẳng được hoan nghênh.
Nói gì thì nói, đó là hiện tượng có thực. Không có thế lực thù địch nào, kẻ xấu nào xuyên tạc, khích bác cả.
Thực ra văn chương và tư tưởng không thể tách rời. Hay nói cụ thể hơn: văn chương chính là cái đẹp của tư tưởng và tình cảm con người. Thiếu tư tưởng, không có chính kiến văn chương sẽ chết, hoặc sống lay lắt, nhố nhăng bằng sự bịa đặt thảm hại, làm trò hề mua vui cho một nhóm nhỏ người và bị lợi dụng mà thôi.
Một hội thảo về thơ mà không đả động gì đến các trào lưu tư tưởng hiện đại, không nhắc đến những diễn biến đương thời, thử hỏi ích lợi gì cho người làm thơ?
Dạy anh ta về cấu tứ, về ngôn ngữ, hình thức, về tu từ, về cách diễn đạt chẳng buồn cười lắm sao? Nếu chưa biết những điều sơ đẳng, đương nhiên ấy bàn đến thơ làm gì nữa nhỉ?
Người ta có thể dạy nấu ăn, dạy làm vườn, dạy làm nhiều công việc khác.. Nhưng tuyệt đối không thể dạy làm thơ, hay viết văn được. Cái đó là trời phú cho, là thiên bẩm của từng người. Có người học hành chẳng bao nhiêu mà làm thơ vẫn rất hay. ( Đương nhiên có học, có văn hóa vẫn hơn, nhưng không phải vì thế mà tác phẩm hay hơn). Hắn có nhiều người bạn học hàm, học vị rất cao chuyên về văn học mà không có lấy một sáng tác nào, tác phẩm nào. Suốt ngày chỉ biên tập, khen chê người khác, tự cho mình cái quyền nhận xét, đánh giá thiên hạ. Hắn không cho số người này là kém cỏi. Hắn chỉ lấy đó làm ví dụ cho việc có thể dạy người ta làm thơ hay viết văn được không mà thôi?
Làm gì có công thức, có định nghĩa nào cụ thể cho thơ? Nếu có chính là sự cáo chung của thơ rồi !
Lần này lại là một hội nghị khác, chuyên đề về văn xuôi. Hình như bây giờ xã hội phát triển, đời sống được cải thiện, được nâng cao, thiên hạ thái bình, lòng người thanh thản nên có nhiều thời gian, nhiều sự quan tâm hơn?
Những mối quan tâm cũ còn chưa kịp tiêu hóa hết, lại đến cuộc bàn về Truyện ngắn lần này.
Hắn cứ day dứt mãi : Truyện ngắn hay là chuyện vặt đây?
**
Hội nghị diễn ra trong hai ngày. Công văn gọi đích danh “Lớp tập huấn”. Chỉ riêng cái tên gọi cũng đã nhiều người thắc mắc. Thành phần gồm các nhà văn cỡ nhàng nhàng, không mấy tên tuổi. Loại như ông “Ma xó” thì nói luôn: “Tao đến làm gì cho nó nhớp?”
Một vài ông nữa, không nói, nhưng coi như không có chuyện gì. Sự thờ ơ ở một thời điểm nào đó cũng có thể “Thể hiện chính mình”!
Vài chuyện nữa, hắn không bận tâm. Không phải hắn sính họp, hay mong được có sự đãi ngộ be bé nào đó ( thường là có, khi có các sự kiện này). Cái chính là hắn cũng đang bức bối trong công việc viết lách của mình. Hắn mong có một gợi ý nào đó trong mớ bòng bong  suy tưởng.. Xã hội đã “Đổi mới” về kinh tế, “Cải cách” về chính trị, nhưng xem ra Văn học nghệ thuật vẫn y như lề lối cũ. Vẫn là HTXHCN với lối viết trần trụi, kể lể. . Vẫn những câu chuyện về chiến tranh na ná giống nhau. Một vài câu chuyện yêu đương nhạt nhẽo và gượng gạo.. Cần một sự cách tân, đổi mới triệt để mới mong bắt kịp diễn biến khôn lường đang xảy ra từng giờ từng phút trên đất nước này. Đâu là hướng đi? Mỗi người phải tự có cách tìm tòi, thể hiện. Có một cuốn sách gần đây của VXT mà hắn rất thích. Có đoạn ví định hướng như đường ray đến điểm cụt. Người ta không thể cứ lăn bánh theo hai thanh ray có sẵn. Tới đây mỗi người phải tự thay bằng bánh lốp. Tự lèo lái theo hoàn cảnh và khả năng của mình. Cái đó vừa là thách thức vừa là cơ hội..

Buổi sáng khai mạc có mặt tương đối đầy đủ. Nhưng đến chiều số người không đến khá nhiều. Mấy hàng ghế bỏ trống.
Hắn nhìn quanh, hóa ra đa số có mặt là các vị về hưu. Những vị không đến đây có lẽ cũng chơi cờ, hoặc ngồi uống bia, uống trà hay xem đá gà ở một nơi nào đó. Các vị này, dù có tập huấn hay không, tư duy và cảm xúc cũng vẫn như vậy. Khó có khả năng có “Đột phá” hay “Khởi sắc” lên được như mong muốn của nhà tổ chức.
Hắn chợt nghĩ, vào thời điểm này, khi người ta ráo riết kiếm tiềm với câu cửa miệng “kinh tế thị trường”, những người còn vương vấn với văn chương sẽ ngày một ít dần. Nơi mà không nói ai cũng biết sẽ mất gì? Được gì?
Dầu sao cũng phải kính trọng các vị ấy. Những người tuổi cao, vọng trọng còn mang chút quỹ thời gian ngắn ngủi của mình phụng sự cho nền văn học nước nhà. Một nền văn học được mệnh danh từ lâu là “Phục vụ nhân dân, đối tượng chủ yếu nhằm vào Công nông binh”. Một nền văn nghệ mang tính đại chúng, tính đảng khá cao!
Định hướng như thế, hèn gì văn học như quần áo may sẵn, có quy định rõ ràng về số đo về kiểu cách. Cái gì khác lạ rất khó chấp nhận. Chả trách NMC, đến lúc giã từ cõi này phải viết một “ai điếu cho một nền văn học”.
Số bỏ về, để ý kỹ đều là sinh viên, giảng viên đại học. Có thể những điều diễn giả trình bày không khác bao nhiêu giáo trình giảng dạy của nhà trường. Họ đến đây kỳ vọng học hỏi được kinh nghiệm sáng tác của nhà văn chứ không phải để nghe lại bài giảng trên lớp.
Hắn không hứng thú mấy, nhưng vẫn ráng ngồi nghe. Dù sao thì cũng có chút liên quan đến vấn đề mình quan tâm. Với lại, ở đời muốn học gì thì học, phải biết xem cả hai chiều. Hay cũng học, mà dở cũng phải xem chừng. Ý tưởng đôi khi lóe lên từ những phản cảm là chuyện không có gì lấy làm lạ.
Cũng không khác mấy buổi hội thảo về thơ năm nào. Đề luận.Phân tích. Khái niệm. Phương pháp.. Không có gì mới. Nếu chịu khó vào Google, mục tìm kiếm chỉ vài giây sau sẽ có hàng ngàn kết quả đại loại như thế. Thậm chí còn hay hơn rất nhiều.
Không phải nhà văn nào viết hay cũng nói được hay. Có những vị viết rất dở, nhưng lý luận văn học rất sâu sắc và tinh tế.
Nhà văn diễn giả là người viết truyện ngắn có nghề, có tài nhưng quả thật khi ông ta “lên lớp” lại không tài như vậy. Thay vì nói những kinh nghiệm sáng tác của mình, ông lại đặt vấn đề “Thế nào là truyện ngắn?”, “Phương pháp và cách thể hiện truyện ngắn?”..
Người ta có thể phân tích và kết luận về thành phần của không khí, của ánh sáng.. Nhưng Truyện ngắn, hay thơ cụ thể nó là thứ gì thì hoàn toàn không!
Có người đã ví von thế này mà hắn thấy cực hay: “ Truyện ngắn giống như tình yêu. Còn hỏi cụ thể tình yêu là gì thì bố ai trả lời được. Cứ yêu đi rồi sẽ biết!”  ( Tất nhiên tình yêu thường là quan hệ trai gái, quan hệ vợ chồng.. Nhưng không có nghĩa yêu nước, yêu thiên nhiên..vv không phải tình yêu? ) Nó vô cùng rộng, mênh mang và huyền bí lắm, làm sao có thể làm thành một định nghĩa, một quy chuẩn  cụ thể, rõ ràng được?
Còn nói “ Nó là nét chấm phá, là lát cắt, là khoảnh khắc..cảm xúc về một sự kiện, một tình huống..vv” thì xưa như mưa tháng bảy.
Có chuyện chỉ là câu chuyện khoảnh khắc, có chuyện là cả cuộc đời, thậm chí mấy đời nhân vật. Có chuyện đơn tuyến, chỉ có một vài nhân vật. Nhưng có chuyện đa tuyến có nhiều nhân vật. Có chuyện chỉ một tình huống, thúc đẩy đến cao trào để đến kết thúc bất ngờ.Nhưng có truyện miên man suy nghĩ và cảm xúc, thậm chí không có nhân vật cụ thể và kết thúc không rõ ràng, kết thúc mở chẳng hạn.. Không phải như vậy không phải là Truyện ngắn, là chuyện lan man không thành Truyện! “Giọt máu”, “Con gái thủy thần” của NHT là những truyện như thế, và ai cũng phải công nhận nó hay.
Đành rằng trước hết, truyện ngắn là phải viết ngắn, không thể dài như tiểu thuyết được. Nhưng hắn nghĩ như vậy chỉ là ước lệ. Theo hắn, dung lượng của một tác phẩm phải tùy theo câu chuyện, những vấn đề, sự kiện mà nó đề cập tới. Dài, ngắn đến đâu tùy theo cảm xúc và năng lực của nhà văn. Chả khác gì cũng là thịt cả, luộc, kho, nướng hay chế biến thế nào còn tùy vào tay nghề của người đầu bếp. Không thể cứ úp sọt cho là thịt lợn tất.
Chẳng qua giới hạn số từ là nhằm vào việc in báo cho nó tiện mà thôi. Không nhất thiết truyện ngắn chỉ từ một đến năm nghìn từ. Cũng như tiểu thuyết không nhất thiết phải dài. Hắn biết có tác phẩm gọi là tiểu thuyết số chữ in chỉ vài chục trang..
**
Đời người, niềm vui và sự thú vị ít khi lặp lại. Cái nhố nhăng, kệch cỡm, buồn lòng lại hay viếng thăm. Nhất là những kẻ thấp bé, nhẹ cân, chả vai vế gì trong xã hội. Nỗi bực mình luôn “Đi cùng năm tháng”, nửa bước không rời !
Làm cái anh văn sĩ cà mèng, lâu lâu được đi chơi xa một chuyến. Nói là đi chơi cho nó nhàn nhã, bay bướm chứ thực ra là đi đổi gió bằng trí não, tâm can mình. Ấy là các trại sáng tác thường kéo dài năm bữa, nửa tháng. Cũng ăn cơm Tàu, ở nhà Tây, đi về xe đưa xe đón, có lúc được đón tiếp đón long trọng. Có anh ngỡ mình lên mây, vinh dự tự hào. Sướng lên, rượu vào cứ gân cổ mà hát đến ướt hết cả quần lúc nào không biết. Đồng bọn phải lôi vào toalet thay quần thay áo cho, dỗ mãi mới chịu lên giường nằm ngủ.
Lần này tuy không đến nỗi như thế, lại có anh nằm ngửa tênh hênh, xòe chân, giang tay trong phòng khách sạn, lẩm bẩm một mình: “ Nói gì thì nói, tớ cũng là ông tá về hưu, khối anh muốn như mình chẳng được”!
Nghe thế, miệng hắn cười, mà nước mắt ngược vào trong. Ôi là cái anh văn sĩ nước mình! Đến bao giờ mới dám nghĩ lớn, làm lớn, viết khang khác đi được?
Còn nhớ cái lần ở nhà sáng tác Tam Đảo. Hôm ấy trăng thanh gió mát. Đi dạo một vòng qua thác Bạc, đền Mẫu, vòng về khu nhà một ông thủ tướng dưỡng bệnh những ngày cuối của kiếp người. Nghĩ linh tinh lang tang. Cả đêm không ngủ được. Ông bạn cùng phòng đã ngáy pho pho từ lâu. Trằn trọc mãi, thế là nảy ra ý muốn viết lại cái truyện hôm ở nhà mang theo. Thêm một tý dấm, bớt một tý ớt. Xoay đằng trước ra đằng sau.. Chẳng dè khi đọc lại lại thấy thinh thích.
Lúc ấy xem đồng hồ, cũng đã khuya lắm rồi. Chợt có tiếng cú kêu trên đồi thông già. Lần đầu tiên trong đời  hắn không cảm thấy ghét con vật vô duyên này. Thường người ta bảo cú kêu là điềm gở. Lúc đấy lại thấy nó hay hay. Không cay cú, không buồn, không có lúc bực, chưa chắc đã là điều tốt, chưa chắc đã nên người !
Không ngờ sáng hôm sau là buổi nhiệm thu tác phẩm. Cơm gạo của nhà nước, nói thế thôi, chứ chơi không thế chó nào được?
Hơn chục anh em, tác phẩm của người được khen hết nước hết cái. Toàn những chuyện “lành”, “Tính chân thật, rất có tâm của người cầm bút” có tính giáo dục cao, tính mỹ học HTXHCN tuyệt vời.. Còn Truyện của hắn, lãnh đạo bảo “Nó chưa thành truyện, còn lan man, chưa biết tác giả định đề cập cái gì?” Có gì khốn nạn bằng định làm một việc gì đó mà không nên việc?
Hắn không còn là trẻ con để thích được khen. Nhưng tự nhiên thấy buồn hết cả chân tay.
Một truyện dụng công nhiều nhất, tâm đắc nhất, chỉ vì giọng điệu chả giống ai, coi như đồ bỏ.
Tâm sự với ông cùng phòng ông ta bảo : “Trên đã đánh giá thì ít khi sai”. Đúng “ông trên” là ông giời, hắn đành ngậm miệng, không cãi.
Hôm sau về, hắn cứ như người vơ vẩn. Không hẳn vì sĩ diện, vì cái gì đó rất kỳ cục mà lúc đó hắn chưa hiểu ra là cái gì?
Điên tiết, hắn lên bưu điện gửi cuộc thi truyện ngắn của báo Văn. Năm đó hắn chưa biết I mêu, I mốc như bây giờ.
Cũng chỉ là cho bõ ghét đứa con tinh thần, soi mãi chả thấy nó sứt môi, lồi rốn ở chỗ nào?
Ai dè tuần sau, báo đăng, lại đăng ở trang nhất. Rồi vào chung kết. Được in trong tuyển “Truyện ngắn hay cuộc thi của báo Văn nghệ” do nhà sách Nhã Nam  phát hành. Nếu không có “ông trên” nhận xét kia, có thể còn vào giải. ( Ông ấy là thành viên quan trọng của ban giám khảo ) Đã chê rồi, hắn vào giải thế chó nào được nữa?
Chuyện qua lâu rồi, mãi đến cuộc tập huấn lần này hắn sực nhớ lại. Thì ra khen chê ở đời còn vì nhiều lẽ lắm.  Có thể còn tại cái “Gu” của từng người. Cái “Gu” chỉ kém cái “Ngu” một chữ đứng đầu, sao mà hắn ghét cái “Gu” đến thế ?
Thì ra giữa truyện ngắn và chuyện vặt, bề ngoài có vẻ giống nhau. Như anh em cùng cha cùng mẹ, lại khác ở cái tâm, cái tính. Đứa lành hiền, nhu mì, bảo sao làm vậy. Đứa cứng đầu cứng cổ, nói đúng mới chịu nghe. Nói sai, đánh què thì đánh, vẫn tính nào tật ấy.
Phàm làm cha làm mẹ, ai cũng thích con cái ngoan ngoãn nghe lời. Đứa cứng đầu, khó bảo luôn bị ghét bỏ.
Văn chương cũng vậy. Biết thì biết cả, song vì sao nói thế này ra thế khác cũng bởi nhiều lẽ. Chẳng thể ai dạy được ai!
***********

Thực ra, chuyện này y không muốn nhắc đến nữa. Cái gì nói lắm cũng cũng đâm nhàm, kể cả cái vĩ hay không vĩ đại. Cái to tát lớn lao hay cái nhỏ bé tầm thường. Nói mãi cũng thành nhảm, thậm chí gây phản cảm.. Nhưng người ta cứ hối mãi, đếm xỉa mãi thành ra cứ lấn cấn trong đầu.
Gọi là hội thảo thực ra cũng chỉ không quá ba chục người. Vẫn là chuyện làm sao để có truyện ngắn hay? Làm sao khắc phục tình trạng nhàn nhạt của hầu hết truyện ngắn đăng trên báo, thậm chí in thành sách bây giờ? Mà đâu có phải chỉ truyện ngắn? Theo y thì cả thơ và tiểu thuyết cũng vậy. Rộng hơn cả âm nhạc và hội họa lâu nay cũng không nằm ngoài tình trạng chung này. Chưa thể nói là đã “xứng tầm thời đại”, đáp ứng được mong mỏi của công chúng. Vậy thì nguyên nhân do đâu?
Một hai ý kiến cho rằng “Do ảnh hưởng của văn hóa đọc giảm sút, tác động nên người viết không đủ nhiệt huyết như trước đây. Người ta quan tâm đến những lợi ích thiết thực hơn, chưa toàn tâm toàn ý cho những trang viết của mình”. Người cho rằng “Sự quan tâm của xã hội đối với văn nghệ sĩ chưa đúng mức, chưa tạo được môi trường kích thích sáng tao”. Cũng có người đổ lỗi cho “ Gác cổng văn nghệ chưa thực sự có tự do, thông thoáng”. Có ông ra vẻ chiêm nghiệm, triết lý sâu xa, rằng thì là “ Văn chương cũng có vận số, khí số của nó. Mấy trăm năm hoặc vài chục năm mới có tài năng xuất hiện” vv.. Nghe ra các vị đều có cái đúng, có dẫn chứng cụ thể. Ngẫm nghĩ, y thấy vẫn chưa phải. Cái người ta đi tìm vẫn chưa gọi đúng tên. Tìm giải pháp cho một mơ hồ biết tìm cách nào? Thày thuốc không tìm ra, không gọi đúng tên của bệnh vậy kê đơn, bốc thuốc cách chi đây?
Rút cục lại vẫn như mọi lần, an ủi, động viên nhau, cảm ơn, chiêu đãi và chẳng đi tới đâu!
Y im lặng lắng nghe, cũng ghi ghi chép chép. Về đọc lại cũng chẳng thêm manh mối nào.
Ngay lúc hội thảo, ngứa ngáy cũng định có ý kiến. Nghĩ mình ăn nói vụng về, có khi gây hiểu nhầm, không nói được điểu đáng nói. Thể hiện sai, chả bõ cho chúng bạn cười. Nhấp nhổm rồi im lặng.
Có người viết được mà nói lại không. Có người thao thao bất tuyệt nhưng khi đọc cái anh ta viết không bằng nước ao bèo. Nghề viết nó vậy, không phải nói hay mà viết hay hoặc ngược lại. Bằng chứng là có nhà phê bình phán như thánh, như tướng, lúc anh ta viết thử một truyện đọc chẳng ra làm sao. Vẫn là nói dễ hơn làm, chỉ đạo dễ hơn người thực hiện.

Đêm về khách sạn, ở chung phong với một thằng bạn. Thằng này không biết bị lâu chưa, đặt lưng một tý là ngáy ò ò, òng ọc như người bóp cổ. Ngáy chán nó lại nghiến răng kèn kẹt. Y lo nó cứ  đà này, nghiến răng một thời gian nữa, thế nào cũng “Răng bỏ rơi lợi mà đi chơi”. Sáng ngày ra, nó chữa ngượng rằng là “Đang quá bức xúc”. Ý nói về kiến văn của hội thảo vừa rồi. Y chỉ cười, không nói gì. Chính cái câu đỡ ngượng của tên bạn lại là gợi ý cho nó để tìm ra nguyên nhân. Nó có mà “bức xúc” cái khỉ mốc ấy! Vẫn là thói giỏi giả dối và thích che đậy bấy lâu nay đã thành thói quen, thành tiềm thức ăn sâu trong não trạng mất rồi! Hễ có vấn đề, có tranh luận gì, thứ không hình không bóng ấy tự và nghiễm nhiên xuất hiện. Không riêng gì truyện ngắn, văn chương và văn nghệ nói chung đều ở trong căn bệnh này.
Trong hội thảo có vị nói rằng : “ Nhiều người chưa thoát ra được cái cá nhân của mình. Chưa có cái “mỹ học chung”, thiếu cái phổ cập phù hợp với cuộc sống hiện đại, có người mượn sáng tác để thỏa mãn mâu thuẫn cá nhân, mang sáng tác ra để bêu riếu người mình khúc mắc hoặc không ưa.”.  Y lấy làm ngạc nhiên? Bấy lâu nay chính cái chung chung ca ngợi, tô vẽ, ngâm vịnh ấy khiến cho bao nhiêu sáng tác trở nên nhạt hoét. Thiếu hẳn cái chiều sâu bản thể, sức nặng tâm tư và chính kiến độc lập của mỗi cá nhân. Đành rằng không thể mang nghệ thuật như một ngón nghề để trả thù, thỏa tính ích kỷ, giải quyết mâu thuẫn cá nhân. Không có vị tha, lòng nhân ái, người viết dựa vào cái gì để sáng tạo? Nhưng không có nghĩa thoát ly hẳn cái tôi cảm xúc, yêu ghét rõ ràng của mình. Cái người ta viết ra “Giông giống” một ai đó ngoài đời chính là cái thành công của tác giả. Bởi vì “văn” là bịa như thật. Đừng gán cho cái tội đả kích cá nhân. Nếu “Húy kị” như thế còn ai dám cầm bút viết cái gì? Ở đây trải nghiệm bản thân của người viết là vô cùng quan trọng. Sau đấy là kiến văn, chính kiến và cảm xúc của mỗi người. Nếu anh chưa biết yêu, biết ghét rõ ràng, đủ can đảm như Phùng Tiên sinh “Yêu ai cứ bảo rằng yêu..” Đương nhiên những trang viết của anh vía còn non, hồn chưa có là không thể tránh khỏi. Cái bệnh chung của người viết ngày nay là quá cầu an, né tránh những gay cấn, bức xúc thời đại, khát vọng của số đông đang cần củng cố lòng tin tưởng và được chia sẻ nỗi niềm. Anh ta làm như mình là người ngoài cuộc, né tránh, hoặc giả như không biết gì?
**
Có một lần tổng bảo với y: “ Mình rất buồn là hiện nay truyện ngắn của ta chất “Báo” nhiều hơn chất “Văn”. Thậm chí không ra văn mà cũng không ra báo”. Vô tình ông ấy đã tìm ra bệnh mà chưa biết chữa bằng cách nào? Báo chí của ta phần nhiều đã có định hướng, nói thẳng ra có mục đích tuyên truyền. Chủ yếu để minh họa diễn giải những chủ trương chính trị. Nhà nước đổ tiền vào đây không ngoài mục đích đó. Bất cứ ý kiến trái ngược nào cũng bị coi là có vấn đề. Đều không an toàn và không hay cả. Đừng đổ lỗi cho người làm biên tập. Anh ta có gan bằng trời cũng không dám vượt khỏi cái ngưỡng an toàn ấy. Phát hiện giới thiệu tác phẩm, tác giả góp phần làm phong phú văn đàn chưa thấy đâu, nhưng  cái giá phải trả của bản thân mình không thể không dè chừng. Nói như nhà thơ già y gặp tình cờ  dưới Vật Trì: “ Cuộc đời nó thế, thơ văn nó thế, không thể khác được. Chán không thích nữa thì thôi, chả tội gì dằn vặt mình. Chả tội gì mà buồn. Cuộc đời được mấy giấc mơ mà hão huyền”.
Còn một ý nữa, từ lâu y chưa dám nói với ai, vì dễ đụng chạm tới các nhà nọ nhà kia thời nay. Giả sử như người ta cho các vị thoải mái viết, đã chắc gì có tác phẩm hay? Còn lâu nữa mới có Nô Ben văn học dành cho Việt Nam. Một nền văn học non trẻ so với thế giới. Mới manh nha đã chịu bao nhiêu nghiệt ngã, éo le. Đường hướng thì dựa dẫm, chưa có cái gì thật sự riêng của mình. Chưa có một sự chuẩn bị kỹ càng bởi một nền văn hóa vững chãi, đáng tin cậy. Thiếu một sự đồng nhất trong nhìn nhận hướng đi và đích đến.
Giáo dục của ta chẳng những để lại tệ hại cho nhiều khu vực. Kinh tế, chính trị vv.. Văn chương cũng không là ngoại lệ. Ảnh hưởng của nền giáo dục xuôi chiều, thiếu khoa học, sự minh bạch, đứng đắn.. dẫn đến nhiều lệch lạc trong nhận thức và tư tưởng. Nước ta chưa khi nào có những nhà tư tưởng, những triết gia là linh hồn như ở Trung Hoa có Khổng Phu Tử,  ở châu Âu có Nitso, có Hê Ghen, có Mác..Chưa có một học thuyết khả dĩ do người Việt Nam sáng tạo cho nền văn hóa của mình. Hoặc giả đã có nhưng lại bị che lấp trong sự rối ren, khuất tất của thời cuộc diễn ra, khi thì quá chóng vánh, lúc lại chậm chạp lờ đờ. Đòi hỏi một sự chuyển mình “Mang tính thời đại” chỉ là điều mơ hồ!
Một thời gian dài, ngoài chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, mỹ học Mác lê, chúng ta gần như xa lạ với các trào lưu tư tưởng, mỹ học tiến bộ của thế giới. Sách báo công cụ chỉ đơn thuần một phía. Thiếu cái đối chứng, thẩm định một cách khách quan, vô tư, công bằng bất vụ lợi.
Không thể đổ lỗi do khó khăn đời sống. So với thời Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Nguyễn Bính vv.. thời trước, không ai trong chúng ta phải chịu khổ sở, thiếu thốn hơn các bác ấy.
Thậm chí chúng ta sống còn đàng hoàng hơn, khá giả hơn. Có nhiều bác đi xe hơi, ở nhà lầu. Điều này là có thật.
Nhưng tác phẩm giữa hai thời kỳ này là một trời một vực. Như vậy có thấy là quá vô lý không? Giả như nhà nước có quan tâm hơn nữa, văn tài chưa chắc đã  có nhiều hơn được. Cái thiếu ở đây không hẳn là cơm áo gạo tiền. ( Đương nhiên vẫn phải có thực mới vực được đạo).
Các bác ấy sống, đọc và học, dũng khí, tận tâm hơn chúng ta nhiều lắm!
Cốt lõi của vấn đề chính là lòng can đảm, khí phách và quyết tâm của người cầm bút. Còn phải học hỏi rất nhiều. Không thể không ngạc nhiên cho đến bây giờ người viết còn xa lạ công nghệ IT? Theo chỗ y được biết qua  nhiều mối quan hệ, các cuộc giao lưu, vốn ngoại ngữ, vốn đọc, vốn học của nhiều người còn hạn chế. Đó chính là cái rào cản thật sự mà vì lịch sự, chúng ta chưa nói với nhau một cách chân thành, thẳng thắn. Chứ chỉ dựa vào năng khiếu tự nhiên, hứng lên, nghĩ được cái gì viết cái ấy thì  còn lâu mới làm được việc muốn làm. Viết để “chơi” như một số người nói chính ra là câu nói “khiêm tốn” giả vờ. Viết là cực khổ. Chỉ khi nào đổ mồ hôi, sôi nước mắt trên trang viết của mình, may ra văn phẩm ấy mới có chút sinh lực, có sức nặng chút nào đó qua thử thách của thời gian..
**
Phía chủ nhà, nhà văn gạo cội M.T.N. từng có gần chục đầu sách, cả tiểu thuyết lẫn truyện ngắn, tản văn. Ông từng học trường viết văn Nguyễn Du khóa I cùng thời với nhiều nhà văn tên tuổi. Nói về kinh nghiệm viết truyện ngắn ông lại bảo “Tôi chả có kinh nghiệm gì, ngoài việc xây dựng bố cục, nhân vật và tìm chi tiết để thể hiện. Văn xuôi nói chung điều quan trọng là phải có chi tiết đặc sắc và có cốt truyện mới thành truyện được. Cái mà các bạn bây giờ đang bàn luận nhiều nhất, là đổi mới truyện ngắn như thế nào? Theo tôi đổi mới về nội dung cần và trước tiên hơn là về hình thức. Nếu ta chưa chưa làm được cách tân, thì hãy cứ quay về truyền thống. Hiện đại,hậu hiện đại gì gì đi nữa vẫn phải trên căn bản truyền thống..” Nữ nhà văn, nhà thơ C.T.Q. giờ đã là Phó chủ tịch kiêm tổng biên tập một lần nữa nhắc lại sự cần thiết phải thay đổi, không những truyện ngắn nói riêng và văn nghệ nói chung nếu không muốn bị người đọc quay lưng lại. Nhà Văn TR.H.V thẳng thắn đưa ra những ý kiến của mình. Y để ý mấy vị trong ban chủ tọa có ý không hài lòng. Mặc dầu câu chuyện nhà văn đưa ra là có thật. Ông cũng nói theo quan điểm của ông.
Cái đáng bàn, đáng nói lại chưa có ai đề cập đến. Hoặc có đụng đến chỉ mới mơn man bề ngoài.
Làm thế nào để có chuyện ngắn hay ư? Y nghĩ phải có người viết được hay cái đã. Lâu nay có một chủ trương bất thành văn là cào bằng, thật giả hay dở lẫn lộn. Thiếu sự đầu tư có trọng điểm. Cứ nghĩ “Báo là sân chung của hội, san sẻ đều cho mỗi người một tý” kiểu dàn hàng ngang. Người có năng lực, thôi, cũng không muốn gắng gỏi làm gì. Các giải thưởng hàng năm cũng như vậy, dẫn đến loạn chuẩn. Năm vừa rồi có một truyện rất nực cười, một truyện phim hoạt họa nước ngoài, được “Việt hóa” một cách cẩu thả lại được giải cao. May mà tác giả này không mấy tên tuổi, không ai để ý, nếu không tác giả nguyên tác nước người ta sẽ kiện ông này đánh cắp ý tưởng, cốt truyện của mình. Ở đây Y không chú ý lắm đến những vấn đề liên quan đến các giải thưởng. Không phải là câu chuyện chính, nhưng không ít thì nhiều nó cũng là một trong những nguyên nhân làm cho văn đàn trở nên bàng bạc, thiếu sức sáng tạo.
Đúng là không ai dạy ai được. Gọi “thày bà” là cách gọi vớ vẩn nhất mà ngay các nhà văn tên tuổi có lòng tự trọng đều khước từ một cách dứt khoát.
Người viết có khác gì người đầu bếp đâu? Muốn có món ngon phải có thực phẩm tươi sống, lành mạnh trước đã. Không thể mang thứ ôi thiu hâm lại. Càng không thể mua thịt tăng trọng, gia vị có hóa chất, cá ươn, rau héo để làm món. Đó chính là cách nhìn, quan điểm sống, có thể gọi không sai đó là trình độ sống như kiểu gọi trình văn hóa vậy. Chất liệu cuộc sống qua lăng kính thẩm thấu của mỗi cá nhân quyết định. Khi nào chưa có thái độ, chính kiến, ý kiến rõ ràng chừng ấy vẫn còn loanh quanh bên gốc sung già!
Sau đấy là tay nghề, bí kíp riêng của mình. Ở kinh nghiệm nhiều năm tìm tòi, tích góp, nhẫn nại học hỏi, không lúc nào tự thỏa mãn với bản thân, mới có được món đặc sắc.
Văn chương và văn học nói chung không có món nào là món truyền thống. Đây là chỗ khác biệt với ẩm thực. Các món ẩm thực cùng định và chất lượng có thể là món truyền thống có thương hiệu mãi mãi, còn văn chương thì không. Nó luôn đòi hỏi ngày hôm nay phải tốt hơn ngày hôm qua. Ngày mai phải hơn hôm nay. Mỗi tác giả không thể lặp lại ai và càng không nên lặp lại chính mình.
Cuộc ma ra ton như thế luôn vất vả, cực nhọc đâu phải chuyện chơi, để bàn hão tán nhàm?
Một cái gì đó, không phải hoang mang, nhưng rõ ràng là đang thấp thỏm trong lòng

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nếu mất kiểm soát, Mỹ - Trung Quốc có thể sử dụng vũ khí hạt nhân đáp trả nhau


VietTimes -- Mỹ sẽ duy trì trật tự khu vực và sẵn sàng đáp trả các hành động đe dọa. Ba thế hệ máy bay ném bom chiến lược B-52, B-1B và B-2 Mỹ sẽ tiến hành huấn luyện hiệp đồng ở Tây Thái Bình Dương.
Trung Dung - /
Đô đốc Harry B. Harris, Tư lệnh Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương Mỹ (Ảnh tư liệu)Đô đốc Harry B. Harris, Tư lệnh Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương Mỹ (Ảnh tư liệu)
Tờ Thời báo Tự do Đài Loan ngày 18/8 cho biết trong bối cảnh tình hình Biển Đông chưa dịu đi, ngày 16/8 Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương Mỹ công bố phương châm nhiệm vụ mới, nhấn mạnh trật tự quốc tế lấy quy tắc làm nền tảng, tái khẳng định sẽ duy trì thực hiện các hành động hàng hải và hàng không ở các vùng biển được luật pháp quốc tế cho phép. 

Đồng thời, Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương cũng tuyên bố, máy bay ném bom chiến lược B-2 triển khai ở Guam chuẩn bị triển khai huấn luyện hiệp đồng với các máy bay ném bom chiến lược B-1 và B-52, lần đầu tiên tiến hành nhiệm vụ đặc biệt bay hiệp đồng 3 thế hệ máy bay ném bom ở Tây Thái Bình Dương.

Nội dung Phương châm nhiệm vụ mới do Đô đốc Harry Harris ký bao gồm nhiệm vụ của Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương là tăng cường ổn định của khu vực Ấn Độ - châu Á - Thái Bình Dương, Mỹ sẽ duy trì vai trò đồng minh và đối tác mà họ đang tập trung và được tin tưởng, cam kết bảo vệ thịnh vượng, an ninh, ổn định và tự do lâu dài của khu vực.
Ba thế hệ máy bay ném bom chiến lược B-52H, B-1B và B-2A của Không quân Mỹ tập kết ở căn cứ Guam. Ảnh: Người quan sát, Trung Quốc.
Phương châm chiến lược của Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương bao gồm 4 yếu tố cốt lõi: Duy trì sức chiến đấu đáng tin cậy; Duy trì xây dựng mạng lưới an ninh có nguyên tắc với các nước đồng minh, đối tác có cùng chung chí hướng, tăng cường trật tự quốc tế lấy quy tắc làm nền tảng; 

Duy trì hàng hải, hàng không và các hoạt động được luật pháp quốc tế cho phép và khuyến khích các bên khác làm theo, đồng thời làm tốt chuẩn bị đáp trả các hành động đe dọa của đối thủ cạnh tranh khu vực; ứng phó với các mối đe dọa và thách thức xuyên quốc gia như chủ nghĩa khủng bố, buôn người phi pháp.

Trong lúc muốn gạt Mỹ và Nhật Bản ra ngoài khu vực, Trung Quốc cũng đang tăng tốc bàn bạc vấn đề Biển Đông với ASEAN. 

Vào ngày 16/8, các quan chức ngoại giao cấp cao Trung Quốc và ASEAN đã tổ chức hội nghị ở Khu tự trị Nội Mông, Trung Quốc để bàn về việc thực hiện Tuyên bố về Ứng xử giữa các bên ở Biển Đông (DOC).
Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN - Trung Quốc tổ chức vào ngày 25/7/2016 tại Vientaine, Lào. Ảnh: Tân Hoa xã.
Hai bên đạt được đồng thuận, tranh thủ hoàn thành dự thảo khung Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) vào năm 2017, đồng thời sẽ thiết lập đường dây nóng cấp cao ngoại giao giữa Trung Quốc và ASEAN để ứng phó với tình hình căng thẳng trên biển.

Phóng viên Andrew Browne của tờ Nhật báo phố Wall Mỹ ngày 16/8 cho rằng cùng với việc Trung Quốc phô trương vũ lực ở Biển Đông và biển Hoa Đông, rủi ro xung đột giữa Mỹ và Trung Quốc ở vùng biển này cũng ngày càng tăng lên.

Andrew Browne dẫn báo cáo nghiên cứu của Công ty RAND Mỹ cho rằng cuộc khủng hoảng Biển Đông làm cho một cuộc chiến tranh giữa Mỹ và Trung Quốc "không thể bị coi là không thể". 
Biên đội 2 tàu sân bay Hải quân Mỹ phô trương sức mạnh trên Biển Đông. Ảnh: Sina Trung Quốc.
Tình hình một khi mất kiểm soát, hai cường quốc mặc dù không thể sử dụng vũ khí hạt nhân, nhưng chiến tranh có thể kéo dài.
Washington và Bắc Kinh "cần cân nhắc đến khả năng xảy ra một cuộc xung đột nghiêm trọng, kéo dài, không được kiểm soát và có tính thảm họa, nhưng lại không có kết quả rõ ràng".


Phần nhận xét hiển thị trên trang