Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 20 tháng 8, 2016

Thơ Hoàng Xuân Họa:

Tự nhiên thấy chán mớ đời

Tự nhiên chán nhất là mơ 
Thứ nhì bia rượu, ỡm ờ - thứ ba
Thứ tư ghét đến quạt, cờ
Pháo, xe, sĩ, tượng trơ trơ như thì

Dấn thân vào cõi mê si
Thiên đường xa tít biết đi đường nào
Xem kìa thiên hạ nhao nhao
Mò kim đáy bể đã bao năm ròng

Tưởng là có, hoá ra không
Vẫn chờ vẫn đợi vẫn mong suốt đời
Sinh ra một bận làm người
Làm người nghe mãi những lời đầu đâu

Buồn từ chân đến tận đầu
Kiếp này đã thế, kiếp sau hơn gì
Mở toang cánh cửa vô vi
Thử xem trong ấy có chi để hòng

Để thôi đi mãi đường vòng
Chia xa với những ước mong mù mờ...

Đất Mẹ ơi

Đất này có đẻ nữa đâu
mà sao đến lắm khách Tàu, khách Tây
bỏ thầu mua đất trốc tay
ruộng đặt nhà máy, xóm xây nhà hàng
không khí ô nhiễm tràn lan
những dòng n­ước thải lấn làn nư­­ớc trong
không cày cấy, gạo ăn đong
các ông tiến sĩ cũng bằng lòng ­­ư?

Đất mẹ sao cứ vô t­ư
để cho người đến băm nhừ thế kia
thợ cày thành gã làm thuê
mấy cô thợ cấy b­ưng bê hầu bàn

cánh cò trắng muốt lang thang
còn đâu đồng lúa để đàn cò bay
khói đen, mờ đục kín mây
dăm mười năm nữa đất này đất chi?

Các ông chí sĩ nghĩ gì
có vì dân n­­ước có vì… đất đai?
Bán đất để nhậu lai rai
hùa nhau “ăn” đất, phục tài quý ông.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Sáu, 19 tháng 8, 2016

Di dời Trung tâm hành chính Đà Nẵng: Nước này, dân này đâu dễ như không


Tòa nhà Trung tâm Hành chính Đà Nẵng. (Ảnh: daonguyen.com.vn)
Tòa nhà Trung tâm Hành chính Đà Nẵng. (Ảnh: daonguyen.com.vn)
Nếu Trung tâm hành chính hiện đại của Đà Nẵng tiếp tục bị thay thế thì hơn 2.000 tỷ tiền thuế của dân bị sẽ coi như không. 
Khi cơn địa chấn Formosa chưa qua với hàng trăm làng chài xác xơ như mộ gió, hàng trăm con thuyền sấp ngửa mòn mỏi chờ đợi trên bờ và hàng triệu ngư dân lay lắt tha hương… giữa lúc ấy, nổi lên thông tin giới chức Đà Nẵng dự tính di chuyển Trung tâm hành chính dù mới đi vào sử dụng được 2 năm.
Lý do khiến hơn 2.131 tỷ đồng ngân sách được dùng để dựng lên tòa nhà hành chính hiện đại nhất nhì nước bỗng chốc trở nên ‘như không’ được giải thích là do lỗi thiết kế. Giới chức thành phố cho hay tòa cao ốc hiện đại được bọc bằng kính nên thiếu oxy, nóng bức, đồng thời gây ùn tắc giao thông vì lượng người làm việc tại tòa trung tâm hành chính quá lớn, tòa nhà lại nằm ở vị trí quá trung tâm.
Giải pháp trước mắt là mở thêm cửa và bơm khí tươi, cứu nguy cho khoảng 1.600 công chức thuộc 23 sở, ngành của thành phố. Ngày 12/8, Phó Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng Đặng Việt Dũng thừa nhận lãnh đạo TP đang tính xây dựng khu hành chính để thay thế. Còn trong một cuộc phỏng vấn trên báo Đà Nẵng điện tử ngày 14/8, TS, Kiến trúc sư Tô Văn Hùng, Trưởng ban Đô thị,  HĐND thành phố Đà Nẵng, Phó Chủ tịch Hội KTS thành phố hào hứng cho hay trong tương lai Đà Nẵng có thể không chỉ có một, mà là hai Trung tâm hành chính “khi thành phố có một tầm vóc mới của đô thị”.
Hơn 2.131 tỷ đồng lấy từ tiền ngân sách, tiền khai thác quỹ đất và bán các trụ sở cũ trôi nhẹ qua tay như thế. Sự “bạc đãi” đối với tiền tận thu từ thuế và đất công sẽ còn nhiều hơn thế, khi những dự án xây mới trong những phát ngôn trên được thông qua.
Trở lại với số phận của ngư dân, diêm dân bốn tỉnh phía Bắc miền Trung, gần một tháng sau khi phát hiện cá chết, gạo cứu đói được cấp phát. Sự bớt xén đáng xấu hổ đối với khẩu phần 15 kg/người/tháng được giải thích rằng vì có quá nhiều người cần cứu trợ, nên phải bớt để đủ chia (Báo Tuổi Trẻ ngày 5/8). Những ngày đầu biển chết, người làng chài xoay vần lặn mò sắt, thép vụn kiếm sống. Tới khi sắt vụn cũng hết, làng chài chỉ còn lại người già và trẻ con – miền Nam trở thành nơi bấu víu cho những phận làm thuê.
Cuối tháng 7 vừa qua, Hà Tĩnh, Quảng Bình nhận thông báo phải dừng tuyển chọn lao động xuất khẩu đi sang Hàn Quốc trong năm nay, do có số lượng lao động hết hạn hợp đồng không về nước quá lớn. Đứng đầu danh sách 10 tỉnh, thành (44/90 quận, huyện) không được tuyển dụng, con số lao động hết hạn hợp đồng bỏ trốn không về nước của Hà Tĩnh cao gấp gần 3 lần tỉnh đứng thứ 3 là Thanh Hóa. Còn tỉnh đứng thứ 2 – Quảng Bình thì gấp 1,6 lần. Văn bản của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội còn đậm dòng ghi chú: [huyện] ven biển, sự cố môi trường.
Đau biển. (Ảnh: Phạm Bá Thịnh)
Đau biển. (Ảnh: Phạm Bá Thịnh)
Gần đây hơn, ngày 12/8, báo chí đưa tin ngư dân đầu tiên phát hiện ống xả ngầm của Formosa bị bắt ở Úc đã được thả về nước. Anh không bỏ trốn vì lo sợ khủng bố như lo lắng của nhiều người dành cho anh. Anh cùng bạn đi biển vào vùng biển của Úc với suy nghĩ giản đơn: ngư trường vắng cá tôm thì tha hương để đánh bắt. Phận tha hương. Rốt cuộc bị cảnh sát biển bắt. Thế nhưng, người phụ nữ xoay vần với 4 đứa trẻ ròng rã suốt hai tháng khi chồng bị giữ, khi biển không còn cá tôm và nợ nóng vay tới kỳ trả vẫn nói không chút đắn đo khi nhắc tới quyết định đi trình báo về thủ phạm gây ô nhiễm biển của chồng: “Tôi rất tự hào về chồng mình làm việc có ích” (Báo Dân Việt ngày 5/7)
Biển chết và tòa cao ốc thiếu khí – hai câu chuyện tưởng như không liên quan nhưng đều có chung một mẫu số: có những bóng hình đứng sau và sẵn sàng thờ ơ như không khi xảy ra sự việc. Vì Formosa không tự nhiên mọc trên đất Hà Tĩnh, cũng như tòa cao ốc kia không tự dưng mọc lên trên khu đất vàng của thành phố. Không ai quên phát ngôn kỳ lạ của Phó Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng trước chất vấn của đại biểu Trần Văn Trường, rằng Trung tâm hành chính hiện tại đâu có lấy ý kiến của dân, thì lấy gì để tin rằng ý kiến của dân sẽ được tôn trọng khi xây Trung tâm hành chính mới:
Báo cáo anh Trường là trước đây không lấy ý kiến nhân dân để xây dựng trung tâm hành chính thì giờ mình lấy chứ không phải trước đây mình không lấy thì bây giờ cũng không lấy”, Phó Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng trả lời (Báo Pháp luật TPHCM ngày 11/8).
Điều này cũng tựa như việc một ngày nào đó, khi sự cố biển nhiễm độc lắng xuống, giới chức lại tuyên bố một Formosa Hà Tĩnh thứ 2 sẽ có thể được đưa vào Việt Nam kèm theo lời tín lần này sẽ lấy ý kiến của dân.
Hơn 2.131 tỷ đồng gần bằng 1/5 so với 500 triệu USD (khoảng 11.500 tỷ đồng) Formosa đền bù sự cố ô nhiễm biển miền Trung. Nếu trung tâm hành chính trên bị thay thế, điều ấy có nghĩa gì? 5 tòa nhà trung tâm hành chính tập trung sẽ tương đương với thảm họa môi trường gây nên cái chết của một thợ lặn, của hàng trăm tấn sinh vật biển, và nỗi lo sợ bị nhiễm độc triền miên của hàng triệu người Việt.
Phải mất nửa thế kỷ nữa hệ sinh thái biển miền Trung mới có thể hồi phục hoàn toàn. Nhưng ai dám chắc trong 50 năm ấy, Formosa không tiếp tục những đợt xả thải còn mạnh hơn, theo đúng ký kết đã được chấp thuận bởi chính quyền Hà Tĩnh? Trong 50 năm ấy, còn bao nhiêu đồng tiền thuế của người dân, vốn dĩ phải được dùng cho những dự án dân sinh, để bảo vệ môi trường, để cải thiện điều kiện giáo dục, y tế, nâng cao đạo đức – tinh thần của người dân, lại bị vung vào những dự án nghìn tỷ mà giá trị sử dụng không thực sự gắn bó với nhu cầu đời sống của người dân? Hơn 2.131 tỷ đồng tương đương với bát cơm, số ngày đi học và sức khỏe của bao nhiêu đứa trẻ vì biển chết mà ngác ngơ tha phận, tha hương? Mà thế hệ trẻ ấy là tương lai của quốc gia.
Như trước đây, ngư dân miền Trung cho hay, họ không cần 500 triệu USD. Họ cần biển (RFA ngày 2/7). Người dân Đà Nẵng hẳn cũng không cần cao ốc lấp lánh làm trung tâm hành chính tập trung. Điều họ cần là thủ tục minh bạch, không chi phí lót tay, không quan liêu, không hủ bại.
Dù cố gắng trì hoãn tới đâu, sau hơn 2 tháng, Formosa Hà Tĩnh vẫn phải nhận lỗi và chấp nhận đền bù. Siêu dự án trên sông Hồng sớm phải dừng khi đang ở mức nghiên cứu trước nguy cơ nhãn tiền hệ sinh thái và an ninh nội địa bị hủy hoại. Dự án lấp sông Đồng Nai có thể phá hủy dòng sông cũng đã phải dừng thi công. Đó là kết quả khi tiếng nói công luận được đưa ra.
Như lời của nhà chính trị và lãnh đạo tinh thần vĩ đại người Ấn Độ Mahatma Gandhi từng nói: “Tương lai phụ thuộc vào điều chúng ta làm trong hiện tại“, người dân luôn cất lên tiếng nói của họ.
Bởi vì nước này, dân này đâu dễ như không.
Lê Trai
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ai sẽ đánh thức những người đang ngủ say trong thời đại mới?


Có một chuyến tàu đi đến một nơi vô định, chở những người đang điềm nhiên say ngủ. Không có ai biết được lúc nào sẽ đến nơi, mọi người thậm chí còn không biết họ muốn đi đâu. Trong cơn mê, họ thậm chí không nhận ra đây có phải là thân thể của chính mình hay không. Tuy nhiên, vẫn còn có một hy vọng, đó chính là đứa bé con vừa thức dậy. Cho dù chỉ có thể chỉ tay để biểu đạt điều nó muốn, thì nó cũng không muốn bỏ cuộc.  Nó thậm chí còn muốn khóc to lên để có thể nhờ vậy mà đánh thức những người đang ngủ say…
(Ảnh: Pixabay)
(Ảnh: Pixabay)
Đoạn văn này giống như một đoạn trong cổ tích, hay có thể nói là một câu chuyện ngụ ngôn. Nó không thể không làm tôi phải nhớ lại chuyện giáo sư Quách Ô Hoa ở Đại học Thanh Hoa đã từng có một bài nói chuyện vô cùng thẳng thắn:
Tôi không có khả năng đánh thức những người xung quanh, tôi chỉ có thể đấu tranh để chính mình không ngủ mê đi mất; Tôi không có năng lực đạp đổ bức tường chắn, nhưng mà tôi nhất định không thể góp cho bức tường đó thêm một viên gạch nào; Số phận của tôi là không thể thay đổi được quyền thế, tôi chỉ chiến đấu để quyền thế không thay đổi tôi; Tôi có thể cả đời mình cũng không nhìn thấy được tương lai, nhưng tôi vĩnh viễn khắc sâu vào tim mình chính niệm và phương hướng”.
Trong sâu thẳm linh hồn của chúng ta, mỗi người đều có một hạt giống, có người thì lựa chọn vứt nó đi, có người lại đem gieo nó ở vùng thổ nhưỡng.
Hôm nay, khi đối mặt với thực tế, chúng ta chỉ có thể bất lực không tìm ra lựa chọn hoặc là trù trừ không quyết điều gì, hoặc là chỉ bàn chuyện cũ của Trung Quốc 100 năm trước mà thôi. Kim Mãn Lầu trong “Đế quốc điêu linh: 10 năm cuối cùng của Mãn Thanh” có nói, điều cốt lõi vào 10 năm cuối của Mãn Thanh là cuộc chiến giữa “cấp tiến và bảo thủ”, cuối cùng “cấp tiến” đã chiến thắng “bảo thủ” và thành lập chính quyền lập hiến, đã dùng bạo lực vũ trang để bức hoàng đế phải thoái vị, Trung Quốc được tiến về phía trước một bước lớn. Trên thực tế, sau khi Mãn Thanh tiến hành cải cách chính trị, căn bản không hề tồn tại câu chuyện bảo thủ, 10 năm cuối cùng của Mãn Thanh thay vì nói là cuộc chiến giữa “cấp tiến và bảo thủ”, thì nên nói là cuộc chiến giữa “cách mạng và cách tân”, cuối cùng chính là “cách mạng” chiến thắng “cách tân”.
Lật đổ hoàng đế cũng không thay đổi được chế độ chuyên chế độc tài. Cuộc cách mạng này cuối cùng chỉ là cuộc cách mạng về hình thức. Khi nói về cách mạng Tân Hợi, những người thuộc đảng cách mạng đều có cái nhìn rất lãng mạn về “dân chủ cộng hòa”, nhưng chỉ có giá trị về thẩm mỹ chứ không có giá trị gì thực tế. Công tích lớn nhất của cách mạng Tân Hợi chính là hạ bệ được hoàng đế, nhưng mà nó cũng để lại rất nhiều khiếm khuyết. Bởi vì mục đích của cách mạng vốn là lật đổ chế độ chuyên chế, chứ không phải chỉ là nhằm đến hoàng đế người Mãn.
Năm 1904, khi Từ Hi kỷ niệm sinh nhật lần thứ 70, có ký giả là Lâm Bạch Thủy viết một bài  đăng trên tờ “Kinh Chung Nhật Báo” để mỉa mai Từ Hi, lúc đó báo chí cả nước tranh nhau đăng lại:
Hôm nay vui ở Tây Uyển, ngày mai vui ở Di Hòa,
không biết ngày nào mới vui ở Viên Minh Viên (cung điện mùa hè đã bị quân Anh, Pháp đốt năm 1860).
400 triệu bộ xương khô hết, chỉ để cho một người vui vẻ.
50 mất Lưu Cầu (khu vực đảo giữa Nhật và Trung Quốc), 60 mất Đài Hải, 70 lại mất ba tỉnh phía Đông!
Mỗi lần đều tung hô vạn thọ vô cương!
Việc không ngờ là, lúc đó Từ Hi cũng rất bình hòa, không cho tra xét tòa soạn, cũng không truy cứu tờ báo, kẻ phạm thượng Lâm Bạch Thủy về sau vẫn an nhiên vô sự.
Trung Quốc một trăm năm sau, liệu có còn việc tốt như thế? Chỉ cần trên mạng Tencent xuất hiện một từ ngữ “phạm húy”, thì cả ban biên tập viên sẽ như ‘cá bị chiên giòn’. Mạng Weixin mặc dù nói là đã thay đổi văn hóa tiếp nhận thông tin của người ta, nhưng mà mỗi ngày hàng ngàn hàng vạn bài đăng bị chặn hay bị xóa. Người ta cũng vẫn giống như lúc trước, chỉ có thể mơ những giấc mơ tuân theo những quy định chặt chẽ của hoàng gia. Những giấc mơ lúc rõ lúc mờ, lúc làm người kích động, lúc làm người đau thương. Vô luận năm ngoái phát sinh sự việc ở Thiên Tân hay gần đây là sự việc ở Liên Vân Cảng, các báo chí công khai đều đồng loạt im lặng, và tiếng nói của nhân dân thật yếu ớt.
Hai thành phố ven biển phát sinh sự kiện trọng đại liên quan trực tiếp đến sức khỏe và an nguy của hàng chục triệu người, vậy mà có rất rất ít người trên Weixin đăng bài thảo luận. Ngoại trừ việc họ đã bị ma mị hay sợ hãi, thì càng nên nói đến việc giá trị quan và đạo đức quan của người ta hiện nay đều đã bị sứt mẻ hay bị bệnh. Người ta có thể biểu đạt ý kiến, đối với người khác, đối với xã hội, đối với hoàn cảnh, đối với sự việc chung miễn là không trực tiếp với những người hay sự việc ảnh hưởng đến lợi ích của bản thân mình. Hay nói cách khác chính là thái độ lạnh lẽo “không quan tâm, không tham dự, không giúp đỡ”. Chúng ta ở tại nơi phồn hoa đô thị, văn minh vật chất phát triển cao độ mà đạo đức luân lý lại ngày càng suy thoái. Sự suy thoái này càng lúc càng mất kiểm soát, mà cái sự mất kiểm soát này đều bắt nguồn từ mỗi người chúng ta.
Sự méo mó của xã hội Trung Quốc bây giờ càng lúc xuất hiện càng nhiều. Có bạn trên mạng của tôi nói là: đâu đâu cũng là củi khô, không dùng bạo lực để dập lửa thì liệu có cách nào để kết thúc không? Nhưng mà, sử dụng bạo lực để duy trì có thể nào là kế lâu dài? Một loạt sự kiện diễn ra năm nay đều không phải là ngẫu nhiên, cũng không phải là có sự sắp xếp, mà là các vấn đề của thể chế xã hội đã chồng chất nhiều năm tích lũy lại mà thành, cũng là các mâu thuẫn xã hội đồng thời một lúc bộc phát và biến hình mà nên.
Mặc dù quyền lực và bạo lực có thể kiểm soát dư luận và áp chế sự phẫn nộ của nhân dân, nhưng mà trong thời đại Internet này, trên thế giới không tồn tại bức tường nào mà gió không thể thổi qua. Quyền lực và bạo lực cũng không có cách gì ngăn chặn được sức mạnh của sự suy thoái và đổ vỡ kinh tế. Thuế má nặng nề vẫn y như trước, thu nhập không đủ bù cho chi tiêu. Tầng lớp trung lưu thành thị làm việc quần quật trong áp lực sinh hoạt nặng nề, chỉ nhìn thấy thực trạng  của Trung Quốc mỗi ngày mỗi vấn đề phát sinh. Với họ, cuộc sống tốt đẹp đúng chỉ là huyễn ảnh xa vời.
Nhìn thấy thành phố ven biển kia xảy ra vụ nổ, và gần đây nhân dân Liên Vân Cảng vì môi trường sống của bản thân đã đấu tranh, cái giới gọi là tinh anh thành thị lại càng lạnh lẽo tuyệt vọng. Trong bầu không khí chính trị ngột ngạt, trong làn sương mù thành thị làm cho người ta phải cay mũi mờ mắt, không rõ liệu còn có bao nhiêu người trong thời đại mới này có thể nhìn thấy rõ được tương lai? Có một vài người từ trong giấc mộng đã bừng tỉnh nhưng họ có lẽ hoặc là đang quay cuồng với bản thân hoặc là đang kêu những tiếng ai oán: giấc mơ tiếp theo của Trung Quốc, có ai biết là cái gì, có ai biết là ở đâu không?
Đăng lại từ blog của tác giả Thái Thận Khôn.
Xem thêm:

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Những nhà khoa học lỗi lạc nhất tin vào thuyết vô thần hay hữu thần?


Trên tuyến xe lửa đi về Paris, có một thanh niên trẻ ngồi cạnh một cụ già. Chỉ ít phút sau khi đoàn tàu chuyển bánh, cụ rút trong túi áo ra một cỗ tràng hạt và chìm đắm trong cầu nguyện. Người sinh viên quan sát cử chỉ của cụ già với vẻ bực bội.
Sau một hồi lâu, xem chừng không thể chịu nổi, anh ta mạnh dạn lên tiếng:
“Thưa Ông, Ông vẫn còn tin vào những chuyện nhảm nhí thế à?”
Cụ già thản nhiên trả lời: “Đúng vậy, tôi vẫn tin. Còn cậu, cậu không tin sao?”
Người thanh niên xấc xược trả lời:
“Lúc nhỏ tôi có tin, nhưng bây giờ làm sao tôi có thể tin vào những chuyện nhảm nhí ấy được, bởi vì khoa học đã mở mắt cho tôi. Ông cứ tin tôi đi và hãy học hỏi những khám phá mới của khoa học, rồi ông sẽ thấy rằng những gì ông tin từ trước đến nay đều là những chuyện nhảm nhí hết.”
Cụ già nhỏ nhẹ hỏi người sinh viên:
“Cậu vừa nói về những khám phá mới của khoa học, liệu cậu có thể giúp tôi hiểu được chúng không?”
Người sinh viên nhanh nhảu trả lời:
“Ông cứ cho tôi địa chỉ, tôi sẽ gởi sách vở đến cho ông, rồi ông sẽ say mê đi vào thế giới phong phú của khoa học cho mà xem.”
Cụ già từ từ rút ra trong túi ra một tấm danh thiếp và trao cho người sinh viên. Đọc qua tấm danh thiếp, người sinh viên bỗng xấu hổ đến tái mặt và lặng lẽ rời sang toa khác. Bởi vì trên tấm danh thiếp ấy có ghi:
Louis Pasteur, viện nghiên cứu khoa học Paris.
Louis Pasteur (Ảnh: biography.com)
Louis Pasteur (Ảnh: biography.com)
Đọc xong câu chuyện trên, bạn cảm thấy thú vị hay băn khoăn nhiều hơn? Khoa học liệu có mâu thuẫn với tín ngưỡng vào Thần? Louis Pasteur là một trong những nhà khoa học vĩ đại nhất trong lịch sử, với những khám phá về vi trùng, tẩy trùng, về tiêm chủng, miễn dịch… Người đặt nền tảng cho ngành vi sinh vật học này từng phát biểu: “Một ít khoa học làm ta xa rời Chúa; nhiều khoa học làm ta quay về với Chúa
Lấy cảm hứng từ câu nói của Pasteur, bài viết này sẽ cố gắng tìm lại mối liên kết giữa khoa học và tín ngưỡng vào Thần qua những dẫn chứng giản dị và dễ hiểu nhất.

Khoa học là gì?

Khoa học hiện đại đã thẩm thấu vào hầu như mọi lĩnh vực có liên quan tới cuộc sống con người, đến nỗi rất nhiều người đã coi khoa học hiện đại cũng giống như chân lý một cách không tự biết, còn “phi khoa học” lại trở thành một danh từ đồng nghĩa với sai lầm.
Trên thực tế từ khoa học (Science) bắt nguồn từ trong chữ La tinh, nghĩa nguyên gốc là “học vấn”, căn bản là chuyện khác với chân lý.
Nói rộng ra, khoa học chính là không ngừng tìm kiếm những phương pháp để tiếp cận với quy luật của vũ trụ và thể hệ kiến thức được hình thành từ đó. Khoa học hiện đại là một bộ những hệ thống và thể hệ tri thức, dùng hình thức logic và phương pháp chứng thực làm cơ sở để nhận thức và tìm kiếm quy luật của thế giới vật chất, ở đây chúng ta gọi nó là khoa học thực chứng.
Từ nghĩa này, khoa học chứng thực hoàn toàn không đồng nghĩa với chân lý cuối cùng, và khoa học cần luôn sẵn sàng kiểm nghiệm lại sự vật và cập nhật theo sự phát triển nhận thức của con người. Đồng thời chúng ta cũng không thể đảm bảo rằng phương pháp tìm kiếm của khoa học thực chứng hiện đại là duy nhất để tìm kiếm chân lý của vũ trụ.

Tính hạn chế của khoa học

Cùng với sự phát triển chóng mặt, khoa học hiện đại cũng đã dần dần mang tới cho nhân loại nhiều vấn đề đau đầu. Một lớp những nhà khoa học có tầm nhìn xa đã bắt đầu nhận thức được giới hạn của khoa học hiện đại.
Cơ sở triết học của khoa học chứng thực đến từ phương Tây, đã phân chia thế giới hoàn chỉnh thành hai phạm trù độc lập: vật chất và tinh thần, do đó quan niệm về tự nhiên được thiết lập đã phân tách con người và tự nhiên, con người và thế giới, tâm và vật. Hậu quả của nó chính là không thể chứng minh được bản chất của hoạt động tinh thần, mối quan hệ giữa tinh thần và vật chất, tác dụng của tinh thần với vật chất, mà sinh mệnh của con người lại là một thể hợp nhất giữa tinh thần và vật chất.
Như vậy, hoạt động tinh thần nằm ngoài tầm mắt của khoa học thực chứng hiện đại, đạo đức lại chỉ là thuyết giáo thuần túy không có cơ sở vật chất, con người và tự nhiên cũng không còn là một thể hoàn chỉnh. Một trong những hậu quả của nó chính là sự đối lập giữa con người và tự nhiên. Sự phát triển của khoa học do con người đóng vai trò chủ đạo lại có những thiếu sót rất lớn:
  • James Watt phát minh ra động cơ hơi nước, từ đó đã mang lại cho Cách mạng Công nghiệp một thời đại mới sử dụng nguồn năng lượng nhiên liệu hóa dầu với quy mô lớn. Ai cũng không thể nghĩ được rằng nhân loại 200 năm sau sẽ vì vậy mà rơi vào khó khăn do hiệu ứng nhà kính.
  • Người ta cho rằng phát minh về chất làm lạnh mang tới cho nhân loại vô số tiện ích, không ai nghĩ tới vài chục năm sau, nó đã phá hoại tầng ô-zôn, gần như đã trở thành sát thủ hủy diệt nhân loại.
  • Cô-ca-in là loại thuốc công hiệu dùng gây mê trong ngành y, nhờ nó mà có nhiều sinh mạng đã được cứu. Nhưng ngày nay những người hút cô-ca-in đã dùng trăm phương nghìn kế để kiếm được nó. Không quá thổi phồng khi nói: Cô-ca-in hủy diệt mạng sống còn nhiều hơn số người nó cứu được.
  • Khi Einstein phát hiện ra phương trình chuyển hóa giữa năng lượng và khối lượng (E=MC^2), ông không thể ngờ vài chục năm sau, vũ khí hạt nhân lại trở thành thanh gươm treo lơ lửng trên đầu nhân loại.
Einstein-Time-magazine-675x400
(ảnh: bìa tạp chí Times)
Einstein từng nói: “Khoa học là một công cụ có sức mạnh. Dùng nó như thế nào, rốt cuộc là nó mang lại hạnh phúc hay mang lại tai nạn cho con người, hoàn toàn quyết định ở bản thân mình, chứ không quyết định bởi công cụ.”
Theo Einstein, khoa học đối với nhân loại là phúc hay là họa, không thể giải quyết từ bản thân khoa học, chỉ con người tự mình mới có thể giải quyết. Về điểm này thì ông cho rằng, ngoài tôn giáo truyền thống (để phân biệt với tôn giáo bị pha tạp và biến chất) thì không giải pháp nào có thể so sánh được. Ông nói: “Nếu chúng ta cắt bỏ hết thảy tất cả những thứ sau này phụ thêm vào, đặc biệt là những thứ mà các giáo sĩ truyền giáo đã thêm thắt vào trong Đạo Ki-tô vốn được những nhà tiên tri kiến lập từ đạo Do Thái và Cơ Đốc giáo, vậy thì sẽ lưu lại những giáo nghĩa có thể chữa trị mọi bệnh tật của xã hội nhân loại.” Tại đây Einstein đã nhận thức được cục diện tương lai của khoa học hiện đại do tinh thần và vật chất bị tách rời nhau.
Một nhà máy đốt rác thải và quang cảnh khu vực xung quanh ở Bangladesh (ảnh: Foundation for Deep Ecology)
Một nhà máy đốt rác thải và quang cảnh khu vực xung quanh ở Bangladesh (ảnh: Foundation for Deep Ecology)
Rất nhiều những nhà khoa học tỉnh táo đã nhận thức được vấn đề này. Năm 1992, Liên Hợp Quốc đã tổ chức Hội nghị Môi trường và Phát triển thế giới tại Rio de Janeiro thuộc Brazil, với sự tham dự của các nguyên thủ quốc gia. Một bức thư có chữ ký của hơn 120 người đoạt giải Nobel đã được đưa tới hội nghị, khiến mọi người bừng tỉnh. Trong bức thư viết: “Nhân loại và tự nhiên đã ở vào thế xung đột mãnh liệt. Những hoạt động của nhân loại đã phá hoại nghiêm trọng môi trường và những tài nguyên trọng yếu, mà kiểu phá hoại này thường là không thể khôi phục lại. Nếu không kiểm điểm lại thì rất nhiều hoạt động của chúng ta sẽ đặt xã hội nhân loại và các loài động thực vật vào tình thế cực kỳ nguy hiểm. Hơn nữa có thể còn khiến cả thế giới đầy sự sống này trở thành một thế giới không thể duy trì bất kỳ phương thức sự sống nào mà chúng ta biết. Nhằm tránh những xung đột sắp tới, việc cải biến về bản chất (những hoạt động của con người) đã vô cùng cấp bách.”

Khoa học chân chính không phủ nhận thuyết hữu thần

Theo từ điển Oxford, trong một số tín ngưỡng như Cơ Đốc, Thần là từ dùng để chỉ đấng sáng tạo và cai quản vũ trụ, và nguồn gốc của tất cả quy phạm đạo đức, một sinh mệnh cao cấp. Trong một số tín ngưỡng khác, Thần còn là sinh mệnh siêu phàm hay một trí tuệ siêu thường, được con người thờ phụng. Trong bài viết này, khái niệm “Thần” bao gồm cả Phật, Đạo, Thần bởi vì họ đều có trí huệ phi thường và năng lực vượt xa con người.
Nếu chỉ nói về bản thân sự phát triển khoa học, nó hoàn toàn không chứng minh Thuyết vô Thần.
Theo quan điểm tôn giáo chính thống, con người là do Thần tạo ra, con người phủ định sự tồn tại của Thần cũng giống như vi khuẩn được nuôi cấy trong phòng thí nghiệm mưu đồ phủ nhận sự tồn tại của con người, là điều vô ích. Bởi vì từ phương pháp thực nghiệm của khoa học hiện đại, đối với việc chứng thực Thuyết vô Thần, cần phải yêu cầu phủ định sự tồn tại của Thần tại tất cả phạm vi thời gian và không gian trong toàn vũ trụ, điều này đương nhiên cũng bao gồm cả phạm vi không gian và thời gian mà con người vĩnh viễn còn chưa nhận thức được.
Vũ trụ cự đại, đa dạng, phức tạp như vậy, ai có thể bảo đảm được từ vĩ quan bao la tới vi quan vô hạn chỉ có con người là sinh mệnh cao cấp? Thậm chí ai có thể đảm bảo rằng hình thức tồn tại của sinh mệnh chỉ có thể dựa vào hình thức axit amin mà chúng ta biết?
Nói sâu thêm một bước nữa, vũ trụ học hiện đại cho rằng vật chất tối (dark matter) chiếm 2/3 vũ trụ mà con người không thể quan sát, đo lường; tức là cho dù dùng hết kỹ thuật đo lường của nhân loại thì vẫn còn 2/3 vũ trụ chúng ta không hề biết. Vật lý lý luận hiện đại đưa ra lý luận thế giới phẳng, cho rằng vũ trụ của chúng ta không chỉ là không gian ba chiều như những gì chúng ta có thể cảm nhận được. Vậy thì ai có thể đảm bảo rằng không gian khác không có sinh mệnh cao cấp?
Nếu không gian khác tồn tại sinh mệnh cao cấp, nếu họ có sự từ bi vượt rất xa so với con người, có đại trí huệ, ngộ được những chân lý của vũ trụ và có năng lực siêu phàm, vậy thì với con người mà nói, họ chẳng phải là Phật, Đạo, Thần sao? Do đó, dù về logic, kỹ thuật, hay từ góc độ khoa học, thì đều chứng minh rằng Thuyết vô Thần không thể thao túng được.
Điều cần chỉ ra là chúng ta không phản đối bất kỳ một người nào tin thờ “Thuyết vô Thần”. Là một con người mà nói, tin Thần và không tin Thần lẽ ra nên là sự lựa chọn tự do không cần bàn cãi.
Trong xã hội thông thường sẽ có người tín ngưỡng hữu Thần và vô Thần hoàn toàn có thể cùng chung sống hòa bình. Nhưng khi chính phủ dùng thủ đoạn cưỡng chế nhồi nhét Vô Thần luận trong toàn xã hội, đàn áp tín ngưỡng vào Thần khiến mất đi tín ngưỡng của cả một xã hội, tất nhiên sẽ khiến hệ thống giá trị xã hội truyền thống vốn có mất đi chỗ dựa, từ đó dẫn tới toàn xã hội trượt xuống vũng bùn của chủ nghĩa vật chất, chủ nghĩa túng dục.

Giáo dục nhồi nhét làm méo mó khoa học, kìm kẹp tư tưởng

Lấy Trung Quốc làm ví dụ, khi Giang Trạch Dân viếng thăm nước Mỹ đã hỏi tổng thống Bill Clinton: Vì sao khoa học nước Mỹ lại phát triển như vậy mà vẫn có nhiều người tín ngưỡng tôn giáo? Đây chính là một trong những ví dụ điển hình cho kiểu tư duy “một ít khoa học.”
Kỳ thực, chính quyền Trung Quốc dốc toàn lực để nhồi nhét khoa học hiện đại, tuyên truyền cái gọi là “Thuyết vô Thần khoa học” mấy chục năm nay, vì sao đường đường một nước lớn với 1,3 tỷ dân lại chẳng có lấy một người đạt giải Nobel? (trừ Tu You You, mãi đến năm 2015). Còn những người hoa tại hải ngoại đạt giải Nobel ngược lại đều chưa từng bị nền giáo dục nhồi nhét?
Kỳ thực chính quyền nhồi nhét khoa học hiện đại, hoàn toàn không phải là vì phát triển khoa học kỹ thuật, mà thực chất là để đàn áp tín ngưỡng, kìm kẹp tự do tư tưởng. Nhưng điều cần cho sáng tạo khoa học chính là một môi trường tư tưởng tự do. Giáo dục nhồi nhét là cực lực đối lập với khoa học và tín ngưỡng, hình thành một xu hướng tư duy cứng nhắc trong đầu óc nhân dân, cho rằng tín ngưỡng vào Thần nhất định sẽ dẫn đến sự ngu dốt, dẫn đến “phản khoa học”, miêu tả những tín đồ tôn giáo là một nhóm người bị lừa gạt văn hóa thấp và tìm kiếm sự an ủi tâm linh.

Việc nhà khoa học tin vào Thần không hề ngăn cản thành tựu khoa học

Trên thực tế, lần giở lịch sử chúng ta sẽ thấy, những nhà khoa học vĩ đại trong thời kỳ khoa học phát triển đỉnh cao, gồm Copernicus, Descartes, Galileo và Newton đều tự xưng mình tuyệt đối tin vào Sáng thế chủ, cho rằng thế giới này, kiệt tác của Thần là có quy luật, đang đợi các nhà khoa học đi phát hiện chứng thực.
Nghiên cứu khoa học và tín ngưỡng vào Thần của cá nhân không phải là mối quan hệ như nước với lửa. Có một sự thực không thể phủ nhận, một lượng lớn những nhà khoa học lưu danh sử sách đều có tín ngưỡng tôn giáo, như:
  • Kepler – người đặt nền móng cho thiên văn học hiện đại,
  • Boyle- nhà tiên phong của hóa học hiện đại,
  • Faraday – người phát hiện ra nguyên lý điện giải,
  • Morse – nhà phát minh ra điện báo,
  • Maxwell – người phát hiện ra sự tương đương giữa cơ và nhiệt,
  • Master – nhà phát minh ra lý luận điện từ,
  • Dalton – người được vinh danh là cha đẻ của lý luận nguyên tử,
  • Mendel – người đặt nền móng cho di truyền học hiện đại,
  • Fleming – người phát minh ra thuốc kháng sinh Penicillin,
  • Pasteur – người sáng lập ra vi sinh vật học, đều là những tín đồ tôn giáo thành kính.
Isaac-Newton
Một điều đáng nhắc tới là Newton – nhà vật lý học lỗi lạc, là một tín đồ Cơ Đốc thành kính. Trong nền giáo dục nhồi nhét, một số sách giáo khoa cố ý nói rằng những năm cuối đời Newton đã dấn thân vào tôn giáo và do vậy không có thêm sáng tạo gì, khiến con người hiểu lầm rằng rất nhiều phát hiện khoa học những năm đầu được dẫn dắt bởi thế giới quan của “Thuyết vô Thần”, còn những năm cuối đời, tín ngưỡng tôn giáo đã gây trở ngại cho việc sáng tạo khoa học. Nhưng sự thực là Newton đã sớm là một tín đồ Cơ Đốc trước khi theo đuổi nghiên cứu khoa học, mà cả đời ông tín ngưỡng vào Thần không hề thay đổi.
Khi Newton còn học tại trường Cambridge, ông đã sớm là một tín đồ Cơ Đốc thành kính. Ông thường hay viết những lời cầu nguyện của mình vào những chỗ trống trong sổ tay hay sách vở, thậm chí đến nay vẫn còn lưu giữ rất nhiều trong viện bảo tàng Anh. Ông cũng thường cùng với người bạn cùng phòng tên là Andrew Wiggins ra ngoài phân phát Thánh kinh cho người nghèo, gửi phúc âm tới cho họ.
Thậm chí những suy xét về khoa học của Newton cũng có mối quan hệ không thể tách rời với những lời cầu nguyện trong cuộc sống của ông. Ông thường nghĩ tới khoa học trong dòng suy nghĩ về tín ngưỡng, trong dòng suy nghĩ về khoa học ông cũng nhớ tới tín ngưỡng. Đến nỗi sau này giáo sư Manuel khoa lịch sử trường đại học New York trong cuốn “Newton truyện” của mình đã nói: “Khoa học cận đại khởi nguồn từ những mặc niệm của Newton về Thượng đế.”
Theo tiến sĩ Harriet Chad Zuckerman của trường Đại học Columbia nước Mỹ, năm 1977 trong tài liệu thống kê nổi tiếng “Anh tài khoa học – những người đoạt giải Nobel nước Mỹ”, từ năm 1901 khi thiết lập giải Nobel đến nay, trong 286 nhà khoa học đã đạt giải khoa học của nước Mỹ, 73% là tín đồ Cơ Đốc, 19% là tín đồ Do Thái.
Richard Feynman – nhà sinh lý học nổi tiếng từng đoạt giải Nobel đã nói: “Rất nhiều nhà khoa học quả thực vừa tin tưởng khoa học vừa tin vào Thượng đế,” mà hai điều này lại có thể thống nhất một cách hoàn mỹ.
Von Braun – nhà khoa học hàng không hiện đại đã từng viết một đoạn như sau, có thể coi là lời giải thích cho Feynman: “Sự thần kỳ vô biên của vũ trụ chỉ có thể chứng thực đức tin của chúng ra rằng, chắn chắn có Đấng sáng thế. Tôi phát hiện ra rằng, việc lý giải một nhà khoa học không thừa nhận tính siêu thường của vũ trụ và một nhà thần học phủ nhận sự tiến bộ của khoa học đều khó như nhau.”
Phong Trần (T/H)
Xem thêm:
Charles-Darwin (Ảnh: Getty Images)Chuyên đề: Cuộc khủng hoảng mang tên thuyết tiến hóa
Phần nhận xét hiển thị trên trang

WHAT IS KLEPTOCRACY? Chế độ đạo tặc là gì?




WHAT IS KLEPTOCRACY?

Chế độ đạo tặc là gì?
wiseGEEK


The pejorative term “kleptocracy” is applied to a government tainted by widespread greed and corruption and headed by a person who has used the government for personal enrichment and gain. While the suffix “-ocracy” often implies a form of government, kleptocracies are not forms of government, but rather governments so fundamentally corrupt that they are difficult, if not impossible, to salvage.

Thuật ngữ miệt thị "chế độ đạo tặc" được áp dụng cho một chính phủ bị nhiễm độc bởithói tham lam và tham nhũng lan tràn được cầm đầu bởi một người đã sử dụng chính phủ để làm giàu cá nhân và tư lợi. Trong khi các hậu tố "-ocracy" thường ngụ ý một hình thức của chính quyềnthìkleptocracies không phải là một hình thức chính quyền, mà là nhiều chính quyền nên về cơ bản bị tha hóa tới mức mà rất khó, nếu không muốn nói là không thể, cứu vãn được nữa.

Most commonly, this situation arises in authoritarian governments. Such governments lend themselves to corruption because there is little accountability and the head of the government usually appoints friends, family members, and close associates to key positions in the government in order to retain control. This sets up a ruling class, and with no accountability, members of the government can freely abuse government funds.

Thông thường thì, tình trạng này phát sinh trong các chính quyền độc tài. Chính phủbán mình cho tham nhũng do họ không hề cótrách nhiệm và người đứng đầu chính phủ thường bổ nhiệm bạn bè, các thành viên gia đình, và các cộng sự gần gũi vào các vị trí chủ chốt trong chính phủ để duy trì sự kiểm soát. Điều này thiết lập một tầng lớp thống trị, mà không có trách nhiệm, các thành viên của chính phủ có thể tự do lạm dụng ngân quỹ của chính phủ.



In a kleptocracy, most government revenues wind up in the hands of officials, and are not applied to public works projects, welfare, and other activities. Government agencies are often dysfunctional as a result of limited funding and being headed by people who lack qualifications. Aid organizations attempting to provide assistance in the country may be frustrated by seeing all the aid diverted for personal profit, with national leaders selling humanitarian aid to the highest bidder instead of allowing it to be distributed for the good of the populace.

Trong một chế độ đạo tặc, phần lớn nguồn thu của chính phủ rơi vào trong tay các quan chức, và không được sử dụng cho các dự án công trình công cọng, phúc lợi, và các hoạt động khác. Các cơ quan Chính phủ thường hoạt động rối loạn do ngân sách hạn chế và được lãnh đạo bởi những người thiếu trình độ. Các tổ chức cứu trợ mà nỗ lựccung cấp hỗ trợ ỏa đất nước này có thể bị thất vọng khi nhìn thấy tất cả trợ giúp bịchuyển hướng vì lợi ích cá nhân, những người lãnh đạo quốc gia bán viện trợ nhân đạo cho người bỏ thầu cao nhất thay vì cho phép nó được phân phối vì lợi ích của dân chúng.

Bribery is commonly necessary to accomplish tasks ranging from getting a building permit to opening a new business. The more money people have, the higher they can rise in the kleptocracy, by greasing the way with high ranking officials, and this in turn generates more money for them as they accept bribes and gifts from people fighting for a position in the government. It is not uncommon to see the justice system break down as people simply refuse to attend their own trials or bribe their way out of legal penalties.


Hối lộ là thường cần thiết để thực hiện cáccông việc khác nhau, từ nhận được giấy phép xây dựng để mở một doanh nghiệp mới. Người càng có nhiều tiền bạc, càng có thể thăng tiến cao trong chế độ đạo tặc,bằng cách bôi trơn đường đi nước bước với các quan chức cấp cao, và điều này, đến lượt nó, sẽ tạo ra nhiều tiền hơn cho họ khi họ nhận hối lộ và quà cáp từ những ngườiđang phấn đấu giành một vị trí trong chínhquyềnChẳng có gì lạ khi nhìn thấy hệ thống tư pháp tan vỡ khi người ta chỉ đơn giản là từ chối tham tham gia tố tụng hoặc hối lộ đểhọ khỏi phải bị pháp luật trừng phạt.



For the average citizen, living in a kleptocracy can be marked with extreme hardship. Lacking clout and funding, people may have difficulty completing basic tasks. The lack of public services can result in problems like uncollected garbage, unpaved and poorly maintained roads, limited access to health care, and other issues. Citizens who protest government policy or attempt to draw attention to the problems with the government may become political prisoners and can face penalties like execution for treason. Free elections are usually not present in a kleptocracy and some nations may not even bother to hold sham elections, allowing leaders to remain in place for decades and to pass power on to their children.
Đối với các công dân bình thường, sống trong một chế độ đạo tặc có thể được đánh dấu bằng những khó khăn cùng cực. Sức không, tiền không, người dân có thể gặp khó khăn khi thực hiện những công việc cơ bản.Thiếu thốn các dịch vụ công có thể dẫn đến các vấn đề như rác thải không được thu gom, đường không trải nhựa và duy tu kém, hạn chế tiếp cận với chăm sóc y tế, và các vấn đề khác. Công dân phản đối chính sách của chính phủ hoặc cố gắng gây sự chú ý đến các vấn đề với chính phủ có thể trở thành tù nhân chính trị và có thể đối mặt với hình phạt như xử tử vì tội phản quốc. Bầu cử tự do thường không có mặt trong một chế độ đạo tặc và một số quốc gia thậm chí có thể không bận tâm tổ chức bầu cử giả tạo, cho phép các nhà lãnh đạo vẫn được tại vị trong nhiều thập kỷ và chuyển giao quyền lực cho con cái họ.

Countries under kleotocracy consist of
- Asian: Indonesia, Pakistan and Saudi Arabia
- European: Russia
- African: Egypt and Nigeria
- North American: Mexico, Nicaragua and Panama

Các dước dưới chế độ đạo tặc bao gồm
- Châu Á: Indonesia, Pakistan và Ả Rập Saudi
- Châu Âu: Nga
- Châu Phi: Ai Cập và Nigeria
- Bắc Mỹ: Mexico, Nicaragua và Panama



Phần nhận xét hiển thị trên trang