Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Ba, 16 tháng 8, 2016

Nguyễn Hữu Đang – Bi thương và cay đắng; Kỳ 2: Bước đi định mệnh




Già Đang ngồi trước ngọn nến nhỏ để hồi tưởng lại số phận của mình. Ánh sáng chỉ đủ soi trang sách đọc. Bên cạnh cuốn “Hiện tượng chủ nghĩa duy vật biện chứng” của Giáo sư Trần Đức Thảo là một mảnh giấy ghi “14/2 (Âm lịch)” – ngày giỗ mẹ Nguyễn Hữu Đang. Ông gấp cuốn sách dừng lại trang 113. “Trần Đức Thảo là một Giáo sư triết học trường Cao đẳng sư phạm Paris. Trường này là cái nôi nổi tiếng đào tạo những nhà tư tưởng và chính khách cho nước Pháp. Với học vị ấy con đường danh vọng đã mở rộng cho ông Thảo trong nước Pháp và cả Âu, Mỹ. Thế mà ông đã từ bỏ tất cả để về Việt Nam tham gia kháng chiến”. Điều đó làm Nguyễn Hữu Đang quý mến ông.



Giáo sư Trần Đức Thảo

Ông nhớ gương mặt ông Thảo, hơi bầu bĩnh, cái nhìn hồn nhiên sau cặp kính cận với cuộc đời như ngơ ngác.

Ông Đang nắp ngọn bút Satađô cài vào bìa trang sách để ngay ngắn trên những trang bản thảo đang viết dở. Ông đứng dậy lại ngồi xuống mở bút ghi vào trang giấy nho nhỏ mua mấy thứ cần thiết về giỗ mẹ:

Một con cá chép, một miếng thịt gáy và con gà thiến, một nắm hoa huệ, một hộp nến nhỏ, nải chuối…

Ông Đang ngắm lại nơi mình ở, chỉ có mấy bộ quần áo treo vắt lung tung, một cái tủ con, một cái hòm gỗ, giữa nhà kê một cái bàn to. Cái bàn đó đã có lần cụ Nguyễn Kim Đoán lên chơi gặp anh Văn (Võ Nguyên Giáp) và ông Đang dắt ông Đoán đi ăn trưa rồi về nằm ngủ trên đó. Hai ông cứ quay sang nhau mà nói chuyện về những ngày làm ở Hội Truyền bá quốc ngữ, ngày Lễ Độc lập 2/9/1945 mà hai vị gắn bó.

Trong nhà không có bếp núc, không có sự sắp đặt của bàn tay người phụ nữ. Suốt bao năm ròng, ông Đang thường ăn cơm đầu ghế nhà ông Tài Sỉu lái xe cho bưu điện Hà Nội. Nhà Tài Sỉu giã giò chả bán, thức ăn là đậu phụ kho với thịt ba chỉ, rau luộc chấm với nước thịt kho rất ngon. Quán cơm nhà Tài Sỉu bán chủ yếu cho dân nghèo, những người buôn thúng bán mẹt…Ông Đang là thực khách quen nhà Tài Sỉu trong suốt những năm ở Hà Nội. Mỗi lần đãi khách, dù sang dù hèn hoặc người nhà Thái Bình lên, được ông đãi cơm đều ra quán đó. Ông thích nhất là món cá trê kho với thịt gáy của nhà Tài Sỉu. Món đó trở thànhmón ăn thường xuyên của ông và cũng được coi là món ngon nhất để đãi khách “đầu ghế”. Có lần ông Mười Hương đi công tác về ngủ lại với ông Đang, cũng ra đó ngồi trên cái ghế băng gỗ lim đen thín nhà bà Tài Sỉu, nhấm nháp món cá trê kho với thịt gáy sém cạnh.

Hồ Gươm, Hà Nội, sau ngày lập lại hoà bình, 1954

Vì cảnh nhà như thế nên không thể tổ chức làm giỗ cho mẹ được, ông Đang mới nảy ra ý định làm giỗ bên nhà chú Dương. Trước ngày giỗ mưa quá, mưa rả rích rả rích. Ông Đang đạp xe xuống Nam Đồng, nơi ở của anh ruột Nguyễn Hữu Thoan. Ông đứng lại trước cái ngõ lội, mấy con vịt cỏ đang mò ở cái ao đen sì bẩn tưởi kêu lép nhép. Cảnh tình thật hoang vu buồn tẻ. Ông nghe rõ tiếng chị dâu than thở về cảnh nhà khó khăn. Anh em mỗi người một nơi. Bác cả Nguyễn Hữu Ruông ở ngoài Hải Phòng. Hai bác đều là viên chức. Bác trai những ngày này đang lặn lội ở Bạch Long Vĩ thu mua hải sản, còn chú út Nguyễn Hữu Đang nghe đâu có chuyện gì lôi thôi chính trị, mắc mớ với Chính phủ, chắc gì đã nhớ ngày mẹ nằm xuống.

Ông Đang đứng chôn chân đầu ngõ nghe chị dâu nói và nhìn qua ô cửa sổ từ phía chái nhà, thấy anh trai đứng bật dậy khỏi cái ghế băng và muốn nói một câu gì đấy với vợ. Chị dâu biết ý lùi lại phía giường nằm, tiếng thở nặng chình chịch vang lên giữa bầu không khí lặng ngắt mưa bụi tháng Hai. Ông nhìn mãi bóng bà chị dâu đưa tay áo chùi nước mắt.

Ông Thoan lại lặng lẽ ngồi xuống chiếc ghế băng. Khi ông Đang cũng vừa kịp nhận ra ngôi nhà của anh tồi tàn như sắp sụp xuống. Quanh đấy chuồng lợn, chuồng gà và cái giếng nông toen hoẻn nước đỏ ngầu, mấy cây chuối thân già những tàu lá rũ xuống trước sân đẫm mưa xuân. Ông bỗng cảm thấy lòng nặng trĩu, buồn rầu xấu hổ trước cuộc sống của ba anh em.

Ông mạnh dạn bước vào đầu sân, cái xe đạp kéo theo vệt đất bùn đỏ như son trên lớp gạch màu thâm thẫm. Con chó cụt đuôi sủa lên trời mấy tiếng vu vơ. Nhận ra ông Đang, ông Thoan nói: “Chú vào nhà”. Ông Đang vội tháo dép vứt ở đầu sân giếng múc gầu nước cọ rửa, tiện cái chổi lúa vứt ở đầu hè chùi qua loa bước vào ngồi xuống chiếc ghế băng. Trước mặt ông là cái bàn nước gỗ xấu xí nứt toác.

Ông Thoan rót chén nước vối đỏ quạch ra cái chén sứt sẹo, nói với em:

– Chú uống nước đi!

Chị dâu là người tính tình mau mắn vui vẻ đã chạy ra ngồi xuống đầu ghế tiếp chuyện chú em, ông Thoan cất lời trước:

– Trông người chú xấu quá, chắc không ngủ được, nghe đâu người ta đặt điều cho chú phải không?

Ông Đang chép miệng:

– Thời buổi thay đổi nhanh chóng quá, không biết đâu mà lường được, nó kéo theo cả lòng con người cũng đổi thay.

Ông Đang vừa nói vừa chăm chú nhìn vào lọn tóc bạc thòi ra ngoài chỏm mũ len như đuôi con gà trống mà anh trai đang trùm khít lên đầu.

Ông Thoan nói câu trầm ấm:

– Giá ngày ấy chú cứ theo cụ Tố, theo cái nghề dạy học có hay không? Hội Truyền bá quốc ngữ mãi mãi còn sống trong lòng dân chúng. Đằng này chú lại theo cái nghề làm văn làm báo chính trị. Vào được chỗ ở của Cụ Hồ rồi làm Trưởng ban ngày lễ Độc Lập mà giờ nghe ra khó sống. Con người chú vừa là của hành động nhưng lại muốn làm “chủ thuyết” nữa nên mới khổ. Sống đến cái tuổi như chú và tôi, mới nghiệm ra một điều, cái chí thành bại của con người không mấy khi thành đạt theo lý tưởng ban đầu. Nào là thời thế, may rủi, số phận đã dẫn đến sinh mạng của con người còn hay mất. Giả thử như hồi đó Pháp nó bắt được chú, đày ra Côn Lôn, với tội danh cộng sản thì giờ gia đình ta vinh dự biết bao nhiêu?

Ông Đang trả lời lập lờ anh và hình như cũng đã định nói với chính mình:

– Cũng có thể… Tôi vừa lớn, thời tuổi trẻ nông nổi quá, cái nết còn dở dở dang dang, khi trở thành người lớn, lao ngay vào cuộc sống thật hỗn độn, lúc Tây, lúc Nhật, lúc Tàu, lúc Tưởng…Tôi đã lựa chọn con đường đi với Đảng có xu hướng chính trị là yêu nước. Rồi được làm cán bộ Việt Minh, ở Hội nghị quốc dân Tân Trào được cử làm Thứ trưởng Bộ Tuyên truyền. Tôi ghét các phe cánh đảng phái Việt quốc, Việt cách, có thằng tin vào cái thuyết da vàng, có thằng tin vào thằng Nhật, nhưng thực ra Nhật tệ hơn cả Pháp. Tôi chỉ tin vào Chính phủ Cụ Hồ nên khi làm Trưởng ban ngày lễ Độc Lập 2/9/1945, tôi đã đứng trên lễ đài dâng ấn kiếm cho Cụ Hồ. Khi nhận được ấn kiếm, bất thần cụ giơ kiếm lên cao, nói đanh thép: “Lưỡi kiếm này là để trừng trị những tên hại dân, phản quốc”.

Ông Đang lấy lại bình tĩnh ngồi duỗi chân rút điếu thuốc hút nhả khói lên trần nhà nói bâng quơ:

– Trong bất cứ cuộc chiến tranh nào, lúc đánh giáp lá cà người ta dùng gươm và lưỡi lê để đâm chém những kẻ bỏ chạy. Cụ Hồ đã cảnh cáo những kẻ định bỏ chạy theo giặc chống lại Chính phủ. Tôi không phải là người như thế, anh chị cứ yên tâm.

Hít một hơi thuốc với dáng vẻ trầm tĩnh, ông Đang nói tiếp:

– Lòng người đổi thay theo thời thế. Chỉ cần nhanh mắt một tý cũng nhận ra ai là người như thế nào? Họ thay đổi đến nỗi vợ con anh em cũng phải giật mình thon thót. Nhìn họ như lạ lại như quen. Có thằng hai mặt, nửa nạc, nửa mỡ, đầu đội mũ lưỡi trai Tàu nhưng đeo gươm Nhật. Còn em trước sau chỉ có áo trấn thủ, mũ ca lô, dép lốp Cụ Hồ. Em của anh chị không như họ nói đâu, khi em cắp quần áo ra khỏi nhà, mẹ dặn điều gì, thày dạy dỗ ra sao em nhớ lắm. Hồi mẹ ốm, tất cả nhờ vào anh chị đây và gia đình bác Ruông hầu mẹ, hầu bố, rồi hầu bà cô, bà dì rồi lo nuôi các cháu, bây giờ thằng Hà đã bằng này rồi. Biết đâu những ngày tới, chị dâu lại phải theo nuôi ông em trong tù. Cái đời em, cái lý tưởng độc lập, tự do em theo đuổi cho dân cho nước… Nếu em có sự sa xảy gì, anh chị nên tìm nơi nào ẩn thân làm ăn, xa đất Hà Nội, quên đứa em bất hiếu với thày mẹ, bất nghĩa với anh em, không lo gì được cho các cháu…

Tay ông Đang lúc ấy bỗng quờ ra kéo cháu Hà ôm vào lòng. Bà Thục, vợ ông Thoan, tự nhiên nấc lên mếu máo:

– Chú có tội tình gì cơ chứ? Tội tình gì mà phải vào tù. Chị nghĩ chả nhẽ các “đồng chí” của chú lại xử tệ với chú được sao? Cụ Hồ lại để họ làm bậy bạ được sao?

Ông Đang cúi đầu im lặng, nước mắt lã chã:

– Ấy là em nghĩ vơ vẩn thế chị ạ, tình hình chưa xấu đến nỗi…

Bà Thục nói luôn:

– Tôi rắp tâm từ mấy hôm nay, nếu Chính phủ không cho chú làm việc, chú cứ về đây ở với anh chị, vì ở quê cũng chẳng còn ai mà cậy nhờ. Chú đừng nay đây mai đó bơ vơ nơi xứ lạ.

Ông Đang đưa tay lên miệng cắn móng, tranh lời chị:

– Thôi, mọi việc cứ xếp lại đã, hôm nay em xuống thưa với anh chị cho em được đứng ra lo giỗ cho mẹ năm nay.

– Chú nói thế sao được? Việc giỗ Tết thờ cúng tổ tiên là việc của mọi người trong gia đình, ai cũng phải có lòng thành…

Ông Đang chen ngang:

– Em biết là vậy nhưng năm nay nó khác. Có thể đây là lần giỗ cuối cùng em được cúng mẹ.

Ông Thoan nói luôn:

– Tôi hiểu, tôi hiểu! Chú định thế nào?

– Em định làm ở nhà chú Dương trên phố Đinh Lễ, nhà chú rộng rãi, bạn bè con cháu đến đấy cũng tiện. Nghe tin chú Dương nhà mình mới được bổ nhiệm Trưởng ban tài chính Trung ương Cục miền Nam. Mấy năm rồi, mỗi lần ra Bắc, chú thồ ra cho em cả đống sách để đọc.

Ông Thoan nói luôn:

– Chú nói thế cũng phải, mẹ thằng Hà cứ để cho chú ấy lo. Có thế mới vơi đi được nỗi buồn của chú.

Ông Thoan quay sang em trai, nói thêm:

– Chú lên ngay Đinh Lễ nói với thím Dương xem sắp xếp ra sao. Ngày mai vợ chồng tôi sẽ lên trên ấy sớm.

Ông Đang như nhẹ lòng hơn khi thấy anh trai hiểu mình, nhưng nhớ tới mẹ già đã khuất, ông lại than thầm: “Đúng đời là bể khổ, người trẻ lo giành danh lợi, người già lo ngày sống, lo lúc chết, lo cả miệng đời, tiếng để… Lo cả mồ mả, gia tiên… Như thân mình đây, để bố mẹ nằm lạnh vắng trên một khu đất, hàng năm hương nhạt khói tàn, chả hiểu cái vui cái buồn của các cụ dưới ấy ra sao, lại luôn luôn nghĩ rằng trên đời này chỉ có mình mới nắm được chân lý, hiểu được chân lý… Các cụ xưa thường dạy: “Con đi đâu thì đi, giỗ Tết phải về nhà thắp cho các bậc sinh thành một nén nhang”. Giờ giỗ mẹ đi cúng nhờ nhà người khác, nghĩ mà tủi cho mẹ, không biết cụ có biết đường về nhà chú Dương không? Bày ra thì con cháu mình ăn, các cụ được miếng nào? Ngày còn bé, cứ có tiếng động bát đũa của mẹ dưới bếp, chơi đâu xa mấy cũng chạy về. Bây giờ trả nghĩa mẹ thế nào đây?”.

Cháu Hà nãy giờ ngồi nghe rất lễ phép, rất chăm chú, có vẻ hiểu lòng chú. Chú ấy còn trẻ mà khổ thế này. Bố mẹ mình chắc còn khổ hơn nhiều.

Chị Thục chạy vào buồng lục lọi một lúc sau đưa ra một chiếc áo mưa màu xanh vá hai miếng chéo ở góc:

– Chú cầm lấy. Mưa lâu thấm ướt áo, dễ cảm lạnh lắm. Ngày kia lại gặp nhau trên nhà chú Dương rồi…

Ông Đang đi ra ngõ. Ông Thoan chép miệng:

– Tội nghiệp cho chú, chẳng chết ở nơi mũi tên hòn đạn lúc khởi nghĩa nhưng không khéo lại mòn mỏi chết nơi tù ngục…

Ngày giỗ trời lạnh, ánh nắng đầu mùa xua đi sương lạnh, mọi nhà trên các phố xá phơi phóng áo chăn sau bao ngày mưa dầm mưa dề ủ một chỗ, giờ tung ra bắt nắng. Giữa sân nhỏ nhà chú Dương, thím Thảo ngồi rửa bát đũa chén, dội nước sôi rồi xếp gọn phơi trên chiếc chõng nhỏ. Chỗ vòi nước cuối sân, mấy bà ngồi vặt lông gà, mổ cá, ai cũng khen con cá chép chú Đang mua to và đẹp. Chú ấy giỏi cả mọi đường.

Thím Thảo bắt lời, bình luận cứ như một người làu thạo chính trị:

– Chú là một trí thức, một nhà văn nhà báo, lại có tài tổ chức thực hiện những nhiệm vụ lớn như ngày lễ Độc Lập, trong thời gian ngắn nhất, đây cũng coi như trận đánh cuối cùng vào chế độ đế quốc thực dân, cái tài huy động sức người, sức của và tài chỉ huy của chú khác gì một nhà quân sự. Ngày lễ Độc lập là một trận đánh Cụ Hồ lãnh đạo coi như trận đánh hay, phối hợp tất thảy các mặt.

Ông Đang đứng trong nhà lau bàn thờ, nghe chị em bàn luận, gương mặt héo, nụ cười nhợt nhạt, ý nghĩ như tự nói một mình: “Giá hàng ngày ngồi viết lấy một câu văn hay để lại cho hậu thế có hơn không? Đằng này lại thích đi làm những việc động trời động bể nên mới chết…”.

Chợ Đồng Xuân những năm 1958 – 1960

Lúc đó, ông Thoan từ bệnh viện Phủ Doãn đạp xe về đến đầu nhà, nghe mọi người bàn luận mà héo cả ruột, ông muốn mọi người đừng nhắc gì đến sự tài giỏi của chú Đang, chỉ thêm cho người ta ghét. Lúc nãy, ở ngoài bệnh viện ông đã nghe thấy mấy ông bác sĩ to nhỏ với nhau: “Bọn Nhân văn – Giai phẩm là bọn chống Đảng” mà chú Đang cầm đầu. Bây giờ ông Thoan mới thấy thèm cảnh sống yên ấm, dù thiếu thốn nhưng sống trong vui vẻ, trong lao động ví như chị quét rác bệnh viện. Cứ sáng sớm nghe thấy tiếng chổi tre là nghe thấy chị nói cười ồn ã, cuộc đời chẳng có gì phải lo nghĩ, nó như cái vòi nước cứ mở là chảy xối xả vào thùng. Ông Thoan thấy trong cái thời buổi khó khăn này, vợ ông phải chịu biết bao lo lắng khốn khổ dội vào cái căn nhà nhỏ bé. Thế mà mỗi bữa đong gạo thổi cơm, cô ấy phải xúc lại nửa bơ đổ vào hũ tiết kiệm giành lúc có khách ở quê lên. Ông như thấy vợ mình đã già dần đi và có những biến đổi trong con người… Nhiều lúc ông tự trách mình bất lực không lo nổi miếng ăn cho vợ con, giờ lại thêm chuyện chú Đang nữa. Ông bước vào, thấy chú Đang gục đầu vào bàn thờ, hai mắt đỏ hoe. Cả bữa hai anh em chỉ ngồi nhấm nháp và véo một tý xôi ở góc đĩa. Cuộc họp mặt cả nhà rầu rĩ buồn tẻ. Chỉ có cu Hà cứ lăng xăng, nó không cho ai động đũa vào con cá chép chưng với cà chua nằm chật cái đĩa lớn. Nó bảo:

– Cá chép chú Đang mua đẹp lắm, vây đuôi cá cứ như đang bơi đấy, nhất là lớp vảy cá vẫn ánh lên đủ sắc màu….

Ông Thoan nói với con bằng cái giọng ngùi ngùi:

– Chú muốn tiên tổ giúp chú như “cá chép vượt vũ môn”. Nếu vượt qua được cửa vũ môn là hóa rồng, vì ở đấy ghềnh thác nước ngược ghê gớm, cá phải dùng vây dùng đuôi, quẫy đạp ngược nước mà lên. Khi đã “Vũ môn tiên đạt” sớm đỗ đạt vinh hoa rồi thì thay đổi được hoàn cảnh của mình, của gia đình mình, quê hương mình, dân tộc mình. Nhưng tiếc thay…

Lời nói xa xôi đượm tính triết lý chỉ có ông Thoan, ông Đang và thím Thảo, chị Thục hiểu được, còn cu Hà và bao người khác chẳng hiểu nó ra làm sao mà góp chuyện. Sau lúc ồn ã bên mâm cơm, bây giờ ông Đang mới có điều kiện ngắm lại chân dung từng con người trong gia đình. Biết đâu cuộc gặp mặt lần này, từ ánh mắt đến nụ cười, tiếng nói của họ sẽ in sâu vào ông…

Và đúng thế, sau ba mươi năm tù tội sau này, ông mới được gặp lại họ, và có người mãi mãi không còn gặp nữa vì đã trở thành người thiên cổ. Chiều ấy ông Đang lại lững thững đạp xe về nơi ở. Mở cửa vào nhà mắt ông dừng lại tên Trần Đức Thảo in trên bìa cuốn sách rồi chép miệng: “Vụ Nhân văn này làm lôi thôi biết bao người văn nghệ sĩ, làm họ buồn chán, có người bị dọa dẫm như sắp bị bóp cổ, rút gân thì sống sao đây, đừng nói gì đến việc sáng tạo cho nhân loại học thuyết này học thuyết nọ. Họ lo sắp bị truy tố, bị săn đuổi, không biết kêu ai. Rồi ngoài đời bao chuyện… Chuyện nào cũng kinh thiên động địa như chuyện chiến trường”.

Ông mân mê ngọn bút Satođô còn mới, thoáng trong đầu nghĩ: “Cái này dành cho thằng Hà, ngòi bút này đã viết ra những dòng chữ “vì Độc lập, vì tự do của dân tộc” giờ thành một tai họa cho chính người dùng nó. Nhưng với lớp trẻ như thằng Hà, biết đâu được dùng nó là việc có ý nghĩa hay?”…

Mấy hôm sau ông ghé chợ trời mua quần áo cũ, hình như ông đã chuẩn bị cho chuyến đi khổ hạnh.

Ông ướm thử cái quần vải dầy xổ gấu. “Còn tốt lắm” – Ông lẩm bẩm rồi lom khom cúi rạp người xuống đống quần áo cũ hỗn độn bốc mùi ẩm mốc định chọn thêm vài chiếc áo. Bỗng có tiếng nói: “Xin mời anh về cơ quan”. Rồi hai bên là hai thanh niên khoác tay ông như bạn hữu dắt nhau đi chơi đẩy ông lên chiếc xe bịt kín chạy vù đi. Lên xe, ông phản đối việc bắt người vô cớ. Ông hỏi:

– Các anh bắt tôi theo lệnh ai? Giấy đâu? Hay đây là vụ bắt cóc?

– Lệnh à! – Người thanh niên há to miệng, chỉ vào mồm mình – Lệnh ở đây mà ra, tất cả ở đây!

Ông nhìn vào cái miệng với hàm răng trắng của anh ta. Từ đấy không cất lời nữa…

Chỉ đến khi đứng xem người ta lúc lọi nhà cửa, nhìn thấy cái bút Satođô người thanh niên mân mê, ông liền bảo:

– Các anh phải để đó, liệt kê vào danh sách cá nhân tài sản của tôi bị thu giữ. Sau này tôi vẫn khai cái bút đó với nhà chức trách. Vì đấy là kỷ vật tôi đã dùng viết vài lời trên báo chí vận động dân Hà Nội đóng góp tài trí, vật lực xây dựng Kỳ đài Độc Lập 2/9/1945.

Lúc sau họ leo lên tầng hai tiếp tục khám xét nhà ông Thiếu Bảo…

Chiều ấy họ đưa ông vào Hỏa Lò…

Người ta đã hỏi rất nhiều chuyện liên quan đến việc ông mua quần áo ở chợ Trời làm gì? Mặc dù ông đã nhiều lần giải thích việc mua quần áo đó là để dùng cho bản thân mình, vì ông không có nhiều tiền mua quần áo tốt.

Tất cả lời khai của ông, người ta đã đập lại cho đó là lừa dối nhà chức trách và buộc tội ông có ý định thay đổi hình dạng để chạy trốn…Cũng như việc đào xới tài liệu, đào xới tư tưởng, ông đã cùng với Thụy An làm gián điệp cho Pháp, họ cứ đóng vào khung tội “chống Đảng” và làm gián điệp bắt thừa nhận. Nhưng ông quyết không cầm bút ký cho đến khi họ đưa ông từ Hỏa Lò lên trại giam Tân Lập, Phú Thọ, vẫn với tội danh tên tù “NH” (nguy hiểm). Khi ông đi rồi, bà Thục chị dâu thương chú em tù tội ngày nào cũng mò vào Hỏa Lò nghe tin tức, khi có nắm cơm to tướng, lúc thì lọ muối vừng rang vội hơi cháy. Bà Thục chan chứa nước mắt, ruột cứ xóc lên vì mọi thứ mang vào đều được các chú bảo vệ khám xét hạch sách. Cơm thì người ta bẻ ra từng miếng nhỏ, họ sợ trong đó có tài liệu. Đến nỗi niêu cá trê kho khô với thịt gáy, lúc ở ngoài chú Đang thích ăn nhất, cũng bị bẻ vụn ra gói lại chuyển vào phòng giam. Mà những thứ ấy có được đến tay chú Đang không, không rõ nữa?

Ông Đang bị bắt rồi, bác cả Ruông đang làm ở Ty Hải sản Hải Phòng cũng bị đẩy ra Bạch Long Vĩ, còn Nguyễn Hữu Thoan bị đẩy xuống làm anh lao công quét vôi bệnh viện Phủ Doãn. Vợ con ông Thoan quấn túm chạy lên rừng khai hoang sinh sống ở làng Cổi thuộc Châu Lạng Sơn. Ở đấy toàn người Mường. Lúc đầu mẹ con đi làm thuê, sau vào HTXnông nghiệp. Anh Hà chữ nghĩa khơ khớ, xoay ra dạy trẻ con học, kiếm thêm tiền sinh sống.

Ở Hòa Lò, ông Đang ngày nào cũng bị thẩm vấn, lúc vào nửa đêm, có khi khoảng ba giờ sáng, có hôm vừa bảnh mắt đã bị lôi ra hạch sách. Vẫn là cái anh ấy, giọng đều đều như nước chảy, con mắt lim dim nhìn vào được đến ruột gan người tù. Thi thoảng anh đưa ra những câu hỏi chẳng đâu vào đâu. Trả lời hở một tí trúng cái bẫy cài mình là chết.

Ông Đang kể lại, có một cuộc thẩm vấn như thế này:

– Ông và bà Thụy An có quan hệ với nhau như thế nào? Thường xuyên liên lạc với tổ chức gián điệp nước ngoài ra sao? Tại địa điểm nào?

– Thưa ông, tôi quen biết bà Thụy An qua số anh em văn nghệ sĩ, người ta khen cà phê bà An ngon lắm. Thường thì chúng tôi đến đó uống cà phê, nói “bốc” với nhau chứ có để liên lạc móc nối với ai đâu mà các ông gán cho tôi tội gián điệp, chống Đảng. Là con người tôi cũng phải biết nghĩ chứ? Tôi có làm được cái gì cho ra tấm ra miếng đâu mà còn nói đến chống ai? Gần với ông Cụ lúc làm việc thấy Cụ như một Thánh nhân, học được Cụ đôi ba điều, tệ lắm tôi cũng không trở thành thằng bán nước, hoặc nhẫn tâm đi câu kết với bọn xấu…

Một trăm lần vẫn những câu hỏi như thế. Nguyễn Hữu Đang trở thành người có “án mờ”. Đã là “án mờ” càng phải thít chặt. Anh cán bộ ngồi trên chiếc ghế, chân nọ gác chân kia đưa mắt nhìn gườm gườm ông Đang, cái nhìn như đe dọa. Cửa phòng giam đóng sập lại… Tiếng bước chân đi của cán bộ thật nặng nề…

Mùa thu đến. Lúc nào trời cũng trắng nước như tóc của người tù trắng xốp phơi trong kiên Hỏa Lò.

Ông Đang được chuyển lên trại Tân Lập vào ngày mưa sét chớp sáng lòa, sấm gầm ầm ĩ. Mưa không dứt, ông nhìn về những dãy núi Chinh trước mặt là con đường đi bộ vào vùng đất Soi Đẽn nhạt nhòa nước trắng. Ngòi Lao, nước chảy từ phía trên trôi xuống như xé những bụi cây, như lật hòn đá to nằm chềnh ềnh giữa suối. Núi non chìm trong mưa. Đoàn tù đi bộ phải dừng lại ngồi xuống sườn quả đồi có nhiều cây to. Mỗi người có một chiếc mũ to che đủ chỏm tóc, còn tất cả phải hứng nước. Họ xây lưng chụm đầu ngồi quây lại cho đỡ rét. Cái rét của nước mưa thấm sâu vào gan ruột người tù làm mọi người co rúm.

Trên cái nền nhà giam, đoàn tù vừa từ Hỏa Lò lên nhập trại Tân Lập, khi về đến các buồng, còn để lại những vệt đen sũng nước… Cả đám tù trông loi ngoi như một đàn chuột nhắt bị rơi xuống suối…

(Còn tiếp)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thái Kế Toại - Chuyện giải tỏa cho ông Nguyễn Hữu Đang

Thái Kế Toại

Theo Blog Ngô Minh


Ông Nguyễn Hữu Đang thời trẻ

Khi ông Đang ra tù năm 1973 ông vẫn còn bị quản chế 5 năm. Theo tiền lệ thời gian đó Bộ Công an phải nuôi ông mỗi tháng 15 đồng, cũng tạm đủ ăn. Sau đời sống khó khăn số tiền đó không đủ nuôi ông, công an Thái Bình xin thêm, Bộ giải quyết cho 50 đồng nhưng hàng tháng phải cho người trực tiếp lên đơn vị tôi lĩnh về.

Bắt đầu đổi mới, tôi được giao nhiệm vụ tham mưu cho cấp trên xem xét xử lý vụ Nhân Văn – Giai Phẩm.

Đầu tiên là phải đọc lại toàn bộ hồ sơ vụ án. Đó là một công việc nan giải vì hồ sơ của vụ án này nhiều hàng mét khối. Giấy tờ đã lưu trữ hàng ba chục năm, bản viết tay nhiều, bản đánh máy thì lèm nhèm. Tôi vừa làm công tác lãnh đạo đơn vị vừa tranh thủ đọc các tập hồ sơ cơ bản. Một cán bộ là anh Dương Thanh Hưởng giúp cho tôi. Khi đọc hồ sơ tôi hiểu được bản chất vụ án, phát hiện ra một số tình tiết mà một số bài báo, bản tổng kết sau này đã viết khác đi.

Việc thứ hai là phải rà soát lại toàn bộ nhân sự cùng quan hệ nhóm, quan hệ xã hội, tâm tư, sáng tác, thái độ chính trị của những văn nghệ sỹ đã tham gia phong trào Nhân Văn – Giai Phẩm.

Việc thứ ba là đánh giá thái độ của các chính phủ, các cơ quan văn hóa, các đài phát thanh, truyền hình, báo chí các nước, các tổ chức quốc tế quan tâm đến vấn đề Nhân Văn- Giai Phẩm này.

Kết quả là tôi đã đề xuất cần thực hiện nhanh các biện pháp giải tỏa cho những văn nghệ sỹ đã tham gia nhóm Nhân Văn – Giai Phẩm. Đó là biện pháp công tác tích cực nhất góp phần tháo bớt căng thẳng dư luận xã hội và văn nghệ sỹ, góp phần làm cho việc lợi dụng sự kiện Nhân Văn – Giai Phẩm theo chiều hướng tiêu cực giảm đi. Đầu tiên là khôi phục ngay hội tịch cho những người đã bị khai trừ khỏi Hội Nhà văn, Hội Mỹ thuật. Thứ hai là cấp lương hưu cho hai ông Nguyễn Hữu Đang và Phùng Cung sau khi đi tù về không có lương, chỉnh lương hưu cho những người đã có lương nhưng quá thấp như Trần Duy, Trần Dần, Lê Đạt, Phùng Quán, Hoàng Cầm. Thứ ba là bình thường hóa việc in tác phẩm trên báo, xuất bản sách của các ông ở các nhà xuất bản. Thứ tư là dỡ bỏ những rào cản đối với nghề nghiệp, đời sống con cái các ông.

Nói thêm là cùng với số văn nghệ sỹ tham gia Nhân Văn – Giai Phẩm còn có một số văn nghệ sỹ khác cũng bị ngừng in bài, in sách trong một thời gian dài như Nguyễn Dậu, Hồ Dzếnh, Vũ Trọng Phụng, Hà Minh Tuân, Hoàng Tiến, Hoàng Yến, Trần Huyền Trân, Hoàng Công Khanh…

Do nhiệt tình của Ban Văn hóa Văn nghệ Trung ương và các Ban, Ngành khác công việc được tiến hành nhanh chóng.

Riêng ông Nguyễn Hữu Đang do thân phận đặc biệt của ông cần được giải quyết ngay. Tôi trực tiếp đi Thái Bình. Hội ý với anh Hội Phó Giám đốc phụ trách an ninh, anh Tuất Trưởng phòng nghiệp vụ, anh Tý trinh sát xong, không dùng xe con, tôi nhờ anh Tý lấy xe máy đèo tôi xuống Trường cấp hai Vũ Công. Tôi ở lại làm việc với ông Đang, đêm ngủ ở nhà ông Hiệu trưởng ngay gần nhà ông Đang. Gọi là nhà chứ đó trước là căn bếp của trường trong buổi sơ khai, sau trường có bếp tập thể to hơn để lại cho ông Đang ở nhờ. Sau khi tôi về giải tỏa cho ông, ông Phùng Quán, nghệ sỹ nhiếp ảnh Nguyễn Đình Toán mới về thăm ông được. Khung cảnh và cuộc sống của ông đúng như Phùng Quán đã kể trong bài viết Người tổ chức Lễ Độc lập 2-9. Gầm giường ọp ẹp của ông đầy vỏ chai rượu, vỏ bao thuốc lá ngoại ông nhặt từ Hà Nội để trao đổi với bọn trẻ con cóc nhái làm thức ăn. Ông có một đống tất cũ đã rách cũng xin từ Hà Nội sửa lại để đi. Lại còn một chiếc vại nữa xin nước gạo của nhà bếp để lắng lại rồi gạn lấy phần bột để nấu cháo mà ông gọi là xúp. Rau thì ông trồng lấy trên vạt đất nhỏ trên bờ ao. Với mấy thứ đó ông cho là tự đủ dinh dưỡng, cũng không cần chợ búa.

Ông vẫn để dành được số tiền trợ cấp ít ỏi của công an chi mua thóc lúc đang mùa, bán lại vào lúc giáp hạt để sinh lời. Có lúc ông đã có hàng tấn thóc. Nhưng con cháu ông nghèo khó luôn luôn nhòm ngó tìm cách vay mượn của ông rồi ăn quỵt. Trong thư viết cho tôi ông gọi họ là lũ giòi bọ, lưu manh. Ông thích nói về tư tưởng của Lão Trang, triết học an nhiên tự tại thuận theo quy luật tạo hóa. Ông cũng không tỏ ra ân oán với vụ án mà ông chịu 15 năm tù giam, 5 năm quản chế sau mãn hạn tù. Tôi biết ông đã trải qua những trại giam khắc nghiệt như Phong Quang Lào Cai, Quyết Tiến Hà Giang nhưng ông chỉ nói đến việc lần ông bị tạm giam ở Nam Định do sang thăm người bạn tù bị một thanh niên 18 tuổi cưỡi trên lưng, bắt ông làm chó cắn gâu gâu.

Trở về công an Thái Bình tôi trao đổi mấy việc theo tinh thần chỉ đạo của Bộ như sau:

Ông Đang đang là một công dân bình thường cần phải đối xử với ông bình thường như những công dân khác. Không thể tiếp tục thực hiện biện pháp quản chế như cũ. Phải làm hộ khẩu cho ông, cấp chứng minh thư cho ông. Ông được tự do đi lại mà không cần có giấy phép của công an mới được ra khỏi đất Thái Bình. Bạn bè, người thân từ xa về thăm ông không phải trình báo xin phép. Ông được đọc và mượn sách báo tại Thư viện của tỉnh, có thể giúp cho công tác biên soạn lịch sử cách mạng của tỉnh.

Về Hà Nội tôi báo cáo với Bộ trưởng cần đề nghị Bộ Lao động Thương binh Xã hội làm lương hưu cho ông Đang chứ không tiếp tục dùng tiền nghiệp vụ nuôi ông nữa. Vì ông độc thân, không có nhà cửa chỉ còn anh em con cháu ruột ở Hà Nội nên bố trí cấp nhà cho ông và cho ông chuyển lên sống ở Hà Nội. Việc xếp lương hưu tiến hành tương đối nhanh, ông được hưởng mức trợ cấp như chuyên viên bậc 5 tương đương Vụ trưởng. Đối với một người như ông Đang số tiền lĩnh hàng tháng đó rất là có ý nghĩa và cũng là rất lớn so với số tiền công an nuôi ông. Trong khi làm lương hưu cho ông Đang xảy ra một chuyện. Ông cứ khăng khăng đòi trợ cấp đặc biệt một lần. Ông cũng tính với tôi trong thời gian chờ làm thủ tục ông đã thiệt hại 1.400.000 đồng. Những năm tháng trở về sống như thế đã làm cho ông tính toán như một người nông dân thực thụ.

Việc cấp nhà và chuyển lên Hà Nội thì lâu hơn nhưng cũng xong vào đầu những năm 90 với sự giúp thêm của ông Trần Quốc Hương, người đàn em của ông Đang thời Văn Hóa cứu quốc, ông Phan Diễn là cháu của ông Phan Khôi. Căn hộ ông được cấp ở cùng Khu nhà tập thể Hội Sân khấu đường Liễu Giai nhưng ông đã bán đi dọn về ở cùng người cháu tên Hà con ông anh ruột tại Khu tập thể nhà máy bánh mỳ Nghĩa Đô.

Ông Đang bắt đầu viết và đăng báo trở lại. Vaì bài báo về đời sống điện ảnh Hà Nội trước 1945, Việc tổ chức ngày Lễ Độc lập 2-9-1945, hoạt động của Hội truyền bá quốc ngữ… một truyện ngắn về người yêu của ông ở Hà Nội Chiếc vòng Xơ men. Các báo cũng có bài viết và ảnh về ông.

Tôi nhớ trong thời gian chờ đợi làm thủ tục ông lên Hà Nội hay đạp chiếc xe đạp mi ni lại chỗ tôi. Người đương thời Hà Nội không thể biết được ông già bé nhỏ vẻ mặt khắc khổ, dáng điệu nhếch nhác đạp chiếc xe mi ni kia lại là Nguyễn Hữu Đang một thời nổi tiếng ở thành phố. Tôi đã trả lại cho ông bức ảnh giấy lụa còn rất đẹp về Kỳ đài Lễ Độc lập 2-9-1945 Hồ Chủ tịch đọc Tuyên ngôn độc lập. Ông Đang đứng trên lễ đài phía ngoài cùng bên phải. Một lần ông bị sưng bàn chân trái. Tôi đề nghị Bệnh viện 198 của Bộ Công an chữa cho ông. Ông Giám đốc Hoàng Tuấn mừng lắm nhận lời ngay vì mấy khi có dịp chữa bệnh cho con người đặc biệt đó.

Trước khi vào viện anh em tôi đưa ông ra ăn phở Nam Ngư đang có tiếng. Mấy bà bán nước chè ngỡ ngàng khi ông nói chuyện phở ngày xưa. Ngày xưa Hà Nội không có phở gà như bây giờ. Chỉ có phở bò, phở chín, phở tái, phở nạm, phở gầu, phở nước trong, phở nước đục… Họ cũng không thể biết rằng Nam Ngư là cái quán phở thời trước ông vẫn ăn, căn nhà cũ ông ở cũng ngay gần đây ngoài phố Yết Kiêu.

Có lần tôi hỏi ông việc bối trí quay phim ngày 2-9-1945 ông bảo có đặt hiệu ảnh Hưng Ký ở Hàng Trống quay phim nhưng sau họ báo là phim bị hỏng, chỉ còn ít ảnh. Do bận nhiều việc to lớn hơn nên không ai nghĩ đến việc này. Ông cho biết hình như Đội biệt kích Con nai của người Mỹ cũng chịu trách nhiệm bảo vệ kỳ đài ngày 2-9 có thể có máy quay. Sau này khi Điện ảnh Công an làm bộ phim Điệp viên nhảy dù về nhóm các ông Lê Giản, Hoàng Đình Giong, Nguyễn Văn Ngọc, Trần Hiệu, Nông Văn Hoạt được Đồng minh thả dù xuống miền Bắc Việt Nam đầu 1945 liên lạc với Việt Minh đánh phát xít Nhật chúng tôi được Hội hữu nghị Mỹ Việt tặng một cuốn băng video có những thước phim quay về hoạt động của Đội Con nai ở chiến khu Việt Bắc. Tuy vậy đấy mới chỉ là giả thiết. Cho đến giờ người quay những thước phim nhựa cực kỳ quý giá về ngày lễ Độc lập 2-9-1945 vẫn còn là một ẩn số.

Ngày 20-11-1992 hai người em kết nghĩa là thi sỹ Phùng Cung và thi sỹ Phùng Quán tổ chức cho ông Lễ mừng thọ 80 tuổi tại nhà ông Phùng Quán ven hồ Tây. Hàng trăm người đủ các thế hệ già trẻ của văn nghệ sỹ Hà Nội, những người bạn cũ, ông Vũ Tú Nam Tổng thư ký Hội Nhà văn đã đến dự. Trong lời tâm sự ông nói:

Tôi không thể nói hết được sự cảm động của tôi trước cử chỉ thân ái, ân cần của các bạn đối với tôi hôm nay. Đúng là việc may mắn lớn mà trước đây tôi không thể nào nghĩ tới, không thể nào tưởng tượng được.

Sau khi ông Đang yên vị ở Hà Nội tôi chuyển sang phụ trách Điện ảnh Công an, một công việc thuần túy quản lý nghệ thuật ít có dịp gặp lại ông. Sau nhiều năm, có một lần trong dịp kỷ niệm gì đó của Hội Nhà văn ở Cung Hữu nghị Việt Xô tôi thấy ông đứng với các ông Nguyễn Đình Thi, Vũ Tú Nam… Tôi đi lại chào và bắt tay các ông. Ông Đang đã già, thần sắc ngơ ngác. Ông bắt tay mà hình như không nhận ra tôi…

Phần nhận xét hiển thị trên trang

‘Vỡ trận’ sân bay Tân Sơn Nhất: Có dám đụng đến ‘nhóm quân sự’?



(VNTB) - Một số cá nhân bất chấp luật pháp lấy 157 ha đất vàng của 90 triệu dân để làm sân golf, nhà hàng, khách sạn kinh doanh kiếm lời riêng. Không thể “hài hòa” để 90 triệu dân phải hy sinh lợi ích chính đáng cho một nhúm người số lợi ích không chính đáng!

Tôi đã có không dưới 6 bài báo vể việc nếu coi đất đai ở sân bay Tân Sơn Nhất là của quốc gia, của 90 triệu dân VN thì vẫn có những phương án để sân bay này đáp ứng giao thông hàng không cho thành phố Sài Gòn và VN hàng nhiều thập kỷ, thậm chí vĩnh viễn và thách đố bất cứ ai bác bỏ các luận điểm của tôi.

Bởi lẽ, sân bay hiện đại có công suất thiết kế cỡ nhất nhì châu Á 80 triệu khách/năm(nay đang khai thác 45 triệu/năm) là Check Lap Kok của Hongkong cũng chỉ rộng hơn TSN 50 ha (Check Lap Kok 1.200 ha, TSN 1.150 ha). Để đáp ứng sản lượng 60 triệu khách/ năm trở lên(có lẽ TSN rất khó đạt đến công suất đó vì ngay Hongkong, Singapore… sau gần trăm năm phát triển thị trường hàng không còn thuận lợi hơn TSN nhưng chưa có sân bay nào đạt công suất hơn cỡ đó). Để đạt công suất ấy, TSN phải có hai đường băng song song cách nhau hơn 1.200 m theo tiêu chuẩn ICAO (hiện nay hai đường băng TSN cách cách nhau 250 không thể khai thác cùng lúc). Dù diện tích đủ để thiết lập một sân bay hổng lồ với hơn 3.000 ha thời VNCH nhưng do từ sau 1975 TSN bị lấn chiếm diện tích méo mó (nơi mà đại gia nhóm lợi ích quân đội lấy cớ chiếm đoạt làm sân golf, nhà hàng, khách sạn, chung cư), việc làm hai đường băng cách nhau cả  km với diện tích hiện tại là khó. Nhưng nếu coi lợi ích 90 triệu dân là trên hết, dám động đến các công trình kinh doanh của đại gia phía quân sự thì vẫn giải quyết được bằng cách cắt đất chỗ méo thuộc 157 ha sân golf bù chỗ kia bỏ ra ít tiền đền bù công trình cho dân là có thể mở rộng TSN có hai đường băng đúng tiêu chuẩn ICAO (nhiều lần nguyên thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và chủ đầu tư sân golf tuyên bố sẽ không đòi tiền đền bù khi nhà nước thu hồi sử dụng). Với phương án này, nhà nước không phải bồi thường đất cho dân (lấy chỗ méo sân bay trả dân làm nhà và lấy chỗ của họ làm sân bay) nên số tiền chi phí giải phóng mặt bằng không lớn. Riêng đất làm nhà ga, sân đỗ chiếm diện tích không đáng kể. Còn về giải tỏa đường ra, vào sân bay thì như phương án mà PTT Trịnh Đình Dũng và đại diện bộ GTVT đã đề xuất hôm 11/8 ở phía quân sự là hợp lý, vào hướng này, ra hướng kia. Thế nhưng vấn đề ở đây là nhóm lợi ích quân sự có chịu hy sinh lợi ích cá nhân để dành cho 90 triệu dân VN hay không.

Tuy nhiên đó chỉ là câu chuyện tương lai, hiện tại TSN quá tải sân đỗ. Từ  cuối năm 2007 khi ngành hàng không Việt Nam đề xuất chính phủ quy hoạch sang phía đất quân sự nhàn rỗi 30 ha làm 30 chỗ đỗ máy bay, nguyên TT Nguyễn Tấn Dũng đã ‘ok’ nhưng phía quân sự “không thỏa thuận”, và sau đó chính phủ có quyết định 1946/2009 về quy hoạch sân golf trong đó có điểm “hợp lý hóa” cho sân golf của đại gia quân sự đang hối hả thi công ở TSN.

Năm ngoái, trước sự cấp bách về sân đỗ, phía quân sự buộc phải “nhường” cho 90 triệu dân VN 7,3 ha để làm thêm sân đỗ. Từ đó đến nay sân bay TSN  vẫn phải chịu cảnh hoạt động trong cảnh quá tải, chật chội bức bách làm nhiều chuyến bay phải bay chờ trên không cả tiếng đồng hồ tốn kém vô cùng lớn, uy hiếp an toàn, làm nản lòng nhiều hãng hàng không quá cảnh… Đến nay việc không thể  dừng và có lẽ thế lực nhóm lợi ích có phần “mềm” hơn nên ông PTT Trịnh Đình Dũng mới dám nêu vấn đề dùng thêm đất quân sự vào việc mở rộng sân bay.

Tôi hoan nghênh ý kiến ông Trần Đơn thứ trưởng bộ quốc phòng nói “đất quân sự cũng là đất nhà nước” nhưng phản đối ý “Việc cần làm là đảm bảo sự hài hòa giữa mục tiêu sử dụng cho quân sự và dân sự”. Bởi vì “mục tiêu sử dụng cho quân sự” phải chăng là: một số cá nhân bất chấp luật pháp lấy 157 ha đất vàng của 90 triệu dân để làm sân golf, nhà hàng, khách sạn kinh doanh kiếm lời riêng, còn “mục tiêu dân sự” là dùng đất của 90 triệu dân vào việc mở rộng cửa ngõ cho một thành phố lớn nhất VN để đáp ứng sự giao lưu chủ yếu của VN trong nước, thế giới qua đường HK phát  triền kinh tế, văn hóa, đầu tư, du lịch… phục vụ chủ nhân của nó là 90 triệu dân VN. Không thể “hài hòa” để 90 triệu dân phải hy sinh lợi ích chính đáng cho một nhúm người số lợi ích không chính đáng!

Tuy nhiên, lần này có lẽ 90 triệu dân VN vẫn phải hy sinh (?). Việc “từ tháng 10/ 2015 cuộc bàn bạc giữa phía quân sự với đại diện nhà chức trách dân sự về việc dùng đất quân sự (của quốc gia) để mở rộng TSN đã qua 7 phiên bàn  nhưng vấn không xong” là dấu hiệu “vỡ trận” sân bay dân dụng lớn nhất VN này.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Những ngày cuối năm, tìm thăm người dựng Lễ đài Tuyên ngôn Độc lập


  
PHÙNG QUÁN
talawas 2.9.2005
Lời dẫn của Diễn đàn: Dưới đầu đề “Những ngày cuối năm, tìm thăm người dựng Lễ đài Tuyên ngôn Độc lập”, bài này được nhà văn Phùng Quán viết cách đây đúng một năm. Tác giả đã gửi ngay cho báo Văn Nghệ, nhưng cho đến đến nay vẫn chưa thấy đăng. 

Diễn Đàn công bố tài liệu này, trước hết vì giá trị văn học của một bài kí thống thiết. Đó cũng là một chứng từ lịch sử quan trọng về ngày Tuyên ngôn Độc Lập 2.9.1945. 

Tài liệu này còn mang một ý nghĩa sâu sắc: Nguyễn Hữu Đang (sinh năm 1912) được coi là người đứng đầu phong trào Nhân văn-Giai phẩm, còn Phùng Quán là thành viên trẻ tuổi nhất của phong trào này. Cả hai đã kiên quyết không chịu “đấm ngực nhận tội” và càng không chịu tố cáo người khác. Chính vì vậy mà hai ông đã bị đàn áp nặng nề. Đặc biệt ông Nguyễn Hữu Đang đã bị biệt giam 15 năm ở Hà Giang (từ năm 1958 đến 1973 – có lẽ ông là một trong vài ba người trên trái đất này hồi đó không biết có cuộc chiến tranh Việt-Mĩ), rồi bị đưa về quê nhà Thái Bình an trí gần 20 năm trời. 

Từ đầu năm 1993, ông đã trở về sống ở Hà Nội, được trả lương hưu cán bộ bậc 5, nhưng vẫn chưa có nhà ở. Bạn bè ông đang yêu cầu chính quyền cấp nhà, bằng không họ sẽ vận động đồng bào và kiều bào đóng góp mua nhà cho ông.


Tôi là người viết văn nhưng lại đặc biệt say mê nghệ thuật kiến trúc. Đầu năm 1990, Đại hội kiến trúc sư toàn quốc, tôi có gửi một bức điện 300 chữ, chào mừng Đại hội. Mở đầu bức điện văn, tôi viết: “Nếu đất nước xây dựng một Đền đài Nghệ thuật, tôi xin được làm thủ từ. Ngày Lễ hội, tôi xin được trải chiếu để văn nghệ sĩ ngồi. Chiếu một tôi dành riêng cho các kiến trúc sư. Vì các anh chị là những người trước tiên đem lại vinh quang, niềm tự hào hoặc ô nhục cho xứ sở, bằng chính các tác phẩm kiến trúc của mình...”. (Ở nhà tôi, ngoài những) [1]  Kim tự tháp, Vạn lí trường thành, Đền Ăngco, Chùa Vàng Miến Điện, Cố cung, Tháp Eiffel, Khải Hoàn Môn... tôi có chừng vài chục tấm hình cắt ra từ các báo nhưNhân Dân, Quân Đội, Lao Động, Hà Nội Mới... chụp cảnh Lễ đài Độc lập với tổng thể vườn hoa Ba Đình trong ngày Mồng hai tháng Chín năm Một nghìn chín trăm bốn lăm. Mỗi lần ngắm nhìn cái công trình kiến trúc mỏng mảnh được xây dựng bằng gỗ, ván, đinh, vải; được thiết kế và thi công trong vòng 48 giờ - nếu chậm lại một giờ là hỏng - rồi sau đó biến mất khỏi mặt đất như một lâu đài trong cổ tích, cặp mắt mờ đục của người lính già tôi bao giờ cũng cay lệ. Lòng tôi dâng trào biết bao niềm cảm xúc và suy tưởng miên man ... về Tổ quốc và Nhân dân, về Cách mạng và Khởi nghĩa, về máu xương của lớp lớp anh hùng hào kiệt đã thấm đẫm giang sơn kể từ khi trên mặt đất xứ sở Việt Nam xuất hiện công trình kiến trúc mỏng manh này. Nó biến khỏi mặt đất, nhưng tầm vóc, hình dáng cùng với tổng chể kiến trúc của nó, đã tạc khắc đời đời vào kí ức của cả dân tộc...

Ba Đình nắng thu vàng rực rỡ, một biển người vừa bước từ đêm dài trăm năm nô lệ ra bình minh Độc lập Tự do, cờ hoa trong tay và câu hát trên môi... Người Hiệp sĩ vĩ đại của Nhân dân và hai triệu người chết đói, bước vào tuổi năm mươi lăm, râu đen, mắt sáng, lễ phục kaki... đứng trên lễ đài, mở đầu bản “Tuyên ngôn Độc lập” bất hủ: “Mọi người sinh ra đều bình đẳng...”

Ai có thể tái tạo công trình kiến trúc Lễ đài Độc lập cùng với tổng thể kì vĩ đó? Không một ai! Kể cả thánh thần... Theo ngu ý của tôi, Lễ đài Độc lập là cái cột mốc giữa đêm dài trăm năm nô lệ và bình minh của Độc lập Tự do của cả dân tộc. Kể từ khi trên mặt cỏ nắng Ba Đình mọc lên cái cột mốc này, số phận của cả dân tộc đã thay đổi, và số phận nhỏ bé, hèn mọn của cả thằng tôi cũng đã thay đổi. Từ một đứa trẻ chăn trâu mù chữ (... tôi đã trở thành) một nhà văn... Cũng từ cái mốc kiến trúc mỏng manh này, cả dân tộc đã xuất phát, bước vào cuộc trường chinh sáng láng nhất, lâu dài nhất và dữ dội nhất của thế kỉ, với gánh nặng lịch sử trên vai: “Ta vì ta ba chục triệu người/ Cũng vì ba ngàn triệu trên đời” [2] .

Ngắm nhìn một công trình kiến trúc như vậy, những người lính già dãi dầu chiến trận chúng tôi, làm sao không ứa lệ tự hào?

*Vậy ai là tác giả cụ thể công trình kiến trúc Lễ đài Độc lập? Từ mấy chục năm nay, tôi luôn bị thôi thúc bởi niềm mong ước tìm hiểu cho ra. Nhưng cái khó bó cái khôn, và trong điều kiện và hoàn cảnh trắc trở của đời mình, tôi không sao thực hiện nổi niềm mong ước đó.

Thế rồi cách đây ba năm, tôi được một người bạn tặng tôi những tư liệu có liên quan đến sự kiện lịch sử mồng 2 tháng 9.1945 anh vừa tìm thấy trong Thư viện Quốc gia, Thư viện Bảo tàng Lịch sử, Viện Sử học, Viện Khoa học Xã hội Việt nam, và kho Lưu trữ Quốc gia. Trong số những bản sao chụp, có mấy tư liệu tôi đặc biệt chú ý:

Thư của Bộ tuyên truyền có tiêu đề VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ đề ngày 31.8.1945 gửi Thị trưởng Hà nội, về việc tổ chức Ngày Độc lập (Đây là bản chính được đánh máy bằng giấy than đen trên giấy trắng, khổ rộng 130 mm X 210 mm, đóng dấu tròn với dòng chữ “Ngày Độc lập” và C.P.C.H.D.C. vòng quanh con dấu, một ngôi sao năm cánh ở giữa, nổi lên dòng chữ BAN TỔ CHỨC). Nội dung thư: 

"Kính gửi ông Thị trưởng Hà Nội,

Bộ Tuyên truyền của Chính phủ Lâm thời sẽ tổ chức ngày 2.9.1945 một “Ngày Độc lập”.

Muốn cho ngày ấy có một tính cách thiêng liêng, Ban tổ chức chúng tôi yêu cầu Ngài hạ lệnh cho các chùa chiền, nhà thờ cho mở cửa, quét tước sạch sẽ và đốt trầm hương suốt ngày hôm ấy để mừng Ngày Độc lập.

Kính thư,
Nguyễn Hữu Đang” 

Một thư khác của Ban Tổ chức “Ngày Độc lập” thuộc Bộ Thông tin và Tuyên truyền, đề ngày 31.8.1945. Hình thức và con dấu như trên. Nội dung thư: 

"Kính gửi ông Thị trưởng Hà Nội,

Nhân “Ngày Độc lập”, chúng tôi yêu cầu Ngài cho treo cờ ở vườn hoa Ba Đình và hai bên những phố lân cận.

Còn về lễ chào Quốc kỳ, chúng tôi nhờ Ngài cho sửa soạn cho chúng tôi một chiếc cột cao 12 thước tây đủ cả giây và bánh xe (poulie); sẽ có chỉ thị về chỗ dựng cột cho phu toà Thị chính.

Kính thư,
Nguyễn Hữu Đang” 

Một thư khác, hình thức, tiêu đề và con dấu giống hai bức thư trên, với nội dung: 

"Kính gửi ông Thị trưởng Hà Nội,

Muốn cho Ngày Độc lập tổ chức vào ngày 2.9.1945 tới đây được hoàn hảo, chúng tôi yêu cầu Ngài thông báo ngay cho các Phố trưởng để các ông ấy báo tin cho các nhà trong khu vực mình biết rằng Cụ nào trong nam giới hay nữ giới muốn đi dự lễ ấy sẽ đến họp ở Hội quán Khai trí hồi 13 giờ trước khi đi lên vườn hoa sau Sở tài chính.

           Kính thư,
Nguyễn Hữu Đang” 

Sau khi đọc kỹ những tư liệu trên, tôi suy luận: ông Nguyễn Hữu Đang là Trưởng ban tổ chức Ngày Độc lập, vậy chắc ông phải biết ai là tác giả công trình kiến trúc Lễ đài. Cần phải tìm gặp ông để hỏi cho ra.

*Anh Nguyễn Hữu Đang thì tôi được biết mặt từ mấy chục năm trước, nhưng rất ít khi được chuyện trò với anh. Mỗi lần tôi được anh hỏi chuyện, tôi bối rối, sướng mê nguời, đầu không khiến mà chân cứ rụt về tư thế đứng nghiêm, như ngày còn làm trinh sát mỗi lần được Chính uỷ Sư đoàn hỏi chuyện. Tôi nghĩ bụng: Tôi là cái thá gì mà được một người như Nguyễn Hữu Đang hỏi chuyện? Nguyễn Hữu Đang, người tham gia hoạt động cách mạng từ khi tôi chưa đẻ; nhà hoạt động báo chí công khai của Đảng cùng thời với Trường Chinh, Trần Huy Liệu; một trong những người tổ chức và lãnh đạo chủ chốt của Hội Truyền bá Quốc ngữ cùng thời với Phan Thanh, cụ Nguyễn Văn Tố. Một trong những người sáng lập và tổ chức Hội Văn hoá Cứu quốc cùng với Nguyễn Huy Tưởng và Nguyễn Đình Thi. Và cuối cùng là Trưởng ban Tổ chức ngày Đại lễ của Đất nước: 2-9-1945.

Cách đây khoảng mười lăm năm, anh từ cao nguyên Hà Giang trở về, tá túc tại quê nhà. Hàng năm vào dịp giáp Tết, lại thấy anh đáo lên Hà Nội trên chiếc xe đạp thiếu nhi Liên Xô (cũ). Anh mang đến cho mấy bạn cũ mỗi người một cân gạo nếp. Một lần tôi cũng được anh cho một cân. Tôi cảm động và ngạc nhiên hỏi anh: “Anh kiếm đâu ra gạo nếp mà cho chúng em thế?”. Anh cười: “Mình sống ở nông thôn cũng phong lưu ra phết. Không những có gạo nếp biếu bạn, lại còn có cả thóc và rơm cho nông dân vay”. - “Hiện nay anh đang làm gì ở dưới đó?”. “Mình nghiên cứu Lão Trang và dịch lại cuốnLịch sử Đảng Cộng sản Liên xô qua bản tiếng Pháp. Đối chiếu thấy bản dịch đã in sai nhiều quá” [3] .

Hai năm trở lại đây không thấy anh lên Hà Nội nữa. Mấy anh em quen cũ chúng tôi hỏi nhau: “Không biết anh Đang có gặp chuyện gì trắc trở dưới đó không?”

Nỗi lo lắng này thường xuyên ám ảnh tôi. Nhân thể tôi muốn tìm hiểu về công trình Lễ đài Độc lập, năm đó tôi nhất quyết phải về thăm anh, mặc dầu đã gần giáp Tết. Tôi nói khó với vợ: “Em bớt cho anh một phần lương hưu tháng này; lấy tiền tàu xe, ăn đường, về Thái Bình tìm thăm anh Đang...” “Nhưng tết nhất đến nơi rồi, chờ ra giêng anh đi có được không?”. “Anh bỗng nhiên thấy nóng ruột quá... đợi đến ra giêng e chậm mất. Anh Đang đã gần cái tuổi tám mươi, mà lại một thân một mình...”. “Anh có biết địa chỉ của anh Đang không?”. “Anh chỉ biết anh ấy ở Thái Bình, địa chỉ cụ thể thì không biết”. “Cả cái tỉnh Thái Bình rộng mênh mông với hơn hai triệu dân, không có địa chỉ cụ thể làm sao anh tìm được?”. “Trời đất! Một người như anh Nguyễn Hữu Đang thì anh tin rằng về dưới đó hỏi đứa con nít nó cũng biết”. Vợ tôi đành trao cho tôi nửa số tiền lương hưu tháng cuối năm vừa lĩnh, với vẻ mặt nhẫn nhịn của người vợ phải trao cả một nửa sản nghiệp cho chồng tiêu hoang vào một việc không đâu! Tôi vội nhét mấy tờ giấy bạc vào túi, nhảy lên xe đạp, cắm đầu đạp thẳng ra ga vì sợ vợ thay đổi ý kiến.  

Bút tích bài thơ Nguyễn Hữu Đang tặng  Phùng Quán, Xuân 92.

Vừa đi tàu, vừa ô-tô, xe đạp... sáng 26 Tết, tôi có mặt tại thị xã Thái Bình. Để đỡ bớt thì giờ tìm kiếm, tôi hỏi đường đến Sở văn hoá và Hội văn nghệ tỉnh, hỏi địa chỉ của anh. Tôi thực sự ngạc nhiên khi thấy nhiều anh chị em cán bộ ở hai cơ quan này không biết Nguyễn Hữu Đang là ai. Có vài người biết nhưng lại rất lơ mơ: “Hình như ông ta ở Quỳnh Phụ, Kiến Xương hay Tiền Hải gì đó...”. Ở Hội văn nghệ tỉnh, tôi làm quen với một nhà thơ trẻ. Khi biết rõ ý định của tôi, anh hăng hái nói: “Cháu sẽ đưa chú ra cái quán thịt chó, ở đó thường có mấy anh cán bộ về hưu, (chắc sẽ hỏi ra”. Đến quán thịt chó, tôi đành móc) số tiền còm cõi trong túi, gọi một đĩa thịt chó luộc và hai chén rượu cho phải phép. Đợi chừng nửa tiếng, có một người đứng tuổi để chiếc xe cúp trước cửa, đi vào quán. Nhà thơ trẻ bật dậy nói với tôi: “Ông này ở cơ quan an ninh tỉnh, hỏi chắc biết”. Tôi vội níu tay anh lại, dặn nhỏ: “Cậu đừng giới thiệu mình là ai, sẽ rách việc”. “Biết rồi, biết rồi, chú không phải dặn”. Anh bạn trẻ đi đến gặp anh ta, nói cái gì đó, và chỉ tay về phía tôi. Anh cán bộ an ninh tươi cười bắt tay tôi, ngồi đối diện và niềm nở hỏi: “Xin lỗi cụ, năm nay cụ hưởng thọ bao nhiêu tuổi ạ?”. Tôi đoán chắc anh ta thấy tôi ăn vận nhếch nhác – áo quần bà ba nâu, chân dép lốp – râu tóc bạc trắng, nên hỏi vậy. Tôi liền nói phứa lên: “Cám ơn đồng chí – tôi cười – cũng thất thập cổ lai hi [4]  rồi đồng chí ạ”. “Trước cụ công tác ở đâu ạ?”. “Tôi làm thường trực cho một cơ quan thương nghiệp trên Hà Nội... về hưu đã gần chục năm rồi”. “Cụ là thế nào với ông Nguyễn Hữu Đang ạ?”. “Tôi có quen biết gì ông ta đâu. Thậm chí cũng chưa biết mặt. Chẳng là ở tổ hưu của tôi có một cụ nghe đâu hồi bí mật cùng hoạt động với ông ta. Biết tin tôi về thăm đứa cháu họ công tác giáo viên ở Quỳnh Côi, ông cụ gửi tôi mười ngàn bạc để biếu ông ấy, mà giao hẹn phải đưa tận tay. Tôi tưởng ông ấy ở thị xã, hỏi loanh quanh mãi không ai biết...”.Anh cán bộ cười: “Ông ấy đâu có ở thị xã. Hiện ông ấy đang ở thôn Trà Vỵ, xã Vũ Công, huyện Kiến Xương... cách đây gần hai chục cây số. Ngược gió này mà cụ đạp xe về đó cũng vất vả đấy...”. Thấy tôi chăm chú lắng nghe, anh cán bộ trở nên cởi mở: “Nói để cụ biết, trước kia cái ông Đang ấy cũng là người hoạt động cách mạng có tên tuổi... Nhưng rồi ông ta giở chứng, làm báo làm văn chống đối Đảng và Nhà nước, bị xử phạt 15 năm tù ngồi, đưa lên giam trên trại tù Hà Giang. Mãn hạn tù, ông ta xin về cư trú tại quê quán. Tuy vậy (cách đây mấy năm ông Đang này tự tiện đi) sang Nam Định không có giấy đi đường, đến nhà một đối tượng mà công an đang theo dõi. Công an hai tỉnh liền phối hợp, hỏi giấy tờ đi đường của ông ta, rồi bắt giam giữ bốn tháng ở nhà lao hai tỉnh để cảnh cáo, và tổ chức khám nhà. Sau đó thả cho về...”. Tôi tỏ ý sợ hãi gãi đầu gãi tai: “Chà... biết rắc rối thế này thì tôi chẳng gặp ông ấy nữa... đem tiền về trả lại thôi...”. Anh cán bộ xuê xoa: “Không sao đâu cụ ạ, chính sách của ta bây giờ là đổi mới tư duy. Nghe đâu trên cũng đang sửa soạn cho ông ấy được hưởng lương hưu. Nếu cụ muốn về thăm ông ấy, cứ việc về. Tôi sẽ chỉ đường cho cụ”. Anh cán bộ chấm ngón tay vào li rượu, vẽ lên mặt bàn, chỉ vẽ cho tôi rất cặn kẽ con đường từ thị xã về chỗ anh Đang tá túc. Tôi đứng lên rối rít cảm ơn anh...

*Con đường đá mười mấy cây số chi chít ổ gà. Gió cuối đông buốt như kim châm táp thẳng vào mặt. Nhưng vừa đạp xe tôi vừa nghĩ ngợi miên man về sự thăng trầm của những kiếp người tình nguyện dấn thân vì nghĩa lớn, nên con đường cũng như bớt xa... Đến chỗ ngã ba rẽ vào trường phổ thông cấp I, II xã Vũ Công – Nơi anh Đang tá túc – tôi vào cái quán bên đường uống li rượu cho ấm bụng. Ông cụ chủ quán khi biết tôi từ Hà Nội về tìm thăm anh Đang, rót rượu tràn li và nói:“Ông ấy thỉnh thoảng vẫn ngang qua đấy, tôi đều mời vào uống nước. Ông ấy tằn tiện khét tiếng cái xã Vũ Công này. Mới cách đây dăm hôm, ông ấy đèo sau xe cái rỏ tre ràng buộc rất kỹ. Ông ấy kể với tôi tối qua bắt được con rắn gì dữ lắm, phun phè phè bò vào nhà mình. Định làm thịt ăn nhưng tiếc, chở lên chợ bán cho một tay buôn rắn độc, kiếm lấy mấy nghìn mua mấy lạng mỡ lá...”. Tôi bật phì cười: “Ông ấy bây giờ lại thêm cái tài bắt rắn độc, mà mất công đạp xe mini những mười mấy cây số để đổi lấy mấy lạng mỡ lá... Vui thật! Tôi có người bạn làm thơ tên là Tuân Nguyễn, chết lâu rồi, làm câu thơ nghe thật vô nghĩa, nhưng cứ bất chợt hiện ra trong trí nhớ tôi: Cuộc đời vui quá không buồn được!”. Ông chủ quán rót thêm li rượu nữa, giọng hào hiệp: “Li này tôi đãi cụ!... Mà khổ, ông ấy có bán được đâu. Chiều tối ông ấy đạp xe về phàn nàn: nó không chịu mua, nó bảo loại rắn này không nằm trong bộ tam xà!”. Tôi cười ngất.

Anh Đang ở gian đầu hồi cái nhà bếp của khu tập thể giáo viên, trước mặt là ao cá Bác Hồ của xã. Đứng bên kia bờ ao, một cô giáo chỉ cho tôi: “Bác ấy đang ngồi ở bậc cầu ao kia kìa! Đang cọ rửa cái gì mà chăm chú thế không biết...”. Tôi dắt xe đạp qua sân trường, vòng ra sát sau lưng anh. Anh đang dùng nắm rơm cọ rửa những viên gạch vỡ đôi, xếp thành chồng cao cạnh chỗ ngồi. Tôi đứng lặng nhìn anh. Đầu anh đội cái mũ cối méo mó, khoác cái ruột áo bông thủng be bét, quần lao động màu cháo lòng, hai ống chân ôm vòng hai dây cao su đen nom như vòng cùm sắt; chắc hẳn để nhét hai ống quần vào đó chống rét, lưng anh khòng hình chữ C viết nghiêng... Tôi chợt nhớ cách đây rất lâu, tôi được nghe những người cùng thời với anh kể. Hồi Mặt trận Bình dân, Nguyễn Hữu Đang là cán bộ Đảng được cử ra hoạt động công khai, ăn vận sang trọng như công tử loại một của Hà thành, thắt cà vạt đỏ chói, đi khắp Trung Nam Bắc diễn thuyết, oai phong, hùng biện, tuyên truyền cách mạng... Mỗi lần cách mạng cần tiền để hoạt động, Nguyễn Hữu Đang có thể đến bất kì một nhà tư sản Hà Nội nào giàu có, vay vàng, tiền. Mà những người này trao vàng, tiền cho anh đều không đòi hỏi một thứ giấy tờ gì, vì họ tin sâu sắc rằng trao vàng, tiền cho anh là trao tận tay cho cách mạng... Và bây giờ, anh ngồi đó, gần tám chục tuổi, không vợ, không con, không cửa không nhà, lưng khòng chữ C viết nghiêng, tỉ mỉ cọ rửa những viên gạch vỡ - chẳng hiểu để làm gì – như người bõ già trong truyện „Hương cuội“ của Nguyễn Tuân cọ rửa những viên cuội trắng để tẩm kẹo mạch nha vào dịp tất niên... Miên man nghĩ như vậy và tôi bật phì cười... “Anh Đang!”, tôi nghẹn ngào gọi. Anh quay lại, chớp chớp mắt, răng vàng sỉn, cùn mòn gần nửa vì năm tháng... “Phùng Quán! Chú về đây từ lúc nào thế?”. Hai anh em chúng tôi ôm chặt nhau giữa bậc cầu ao. Và cả hai gương mặt già nua phút chốc đẫm lệ...

*
Cái chái bếp căn hộ độc thân của anh rộng chỉ khoảng 5 mét vuông, chật kín những tư trang, đồ đạc. Mấy cây sào ngọn tre gác dọc ngang sát mái, treo vắt cả chục cái khăn mặt rách xơ như giẻ lau bát, áo may-ô thủng nát, quần lao động vá víu. Cạp quần đeo lủng lẳng một chùm lục lạc làm bằng vỏ hộp dầu cao Sao vàng xuyên thủng, buộc dây thép, bên trong có hòn sỏi nhỏ. Đụng vào, chùm lục lạc rung lên leng keng, nghe rất vui tai. Sau đó tôi được anh giải thích tác dụng của chùm lục lạc: Đi lại trong đường làng những đêm tối trời, anh thường bị cánh thanh niên đi xe đạp, xe máy phóng ẩu đâm sầm vào, làm anh ngã trẹo tay, sầy gối. Học tập sáng kiến của đồng bào các dân tộc ở Việt Bắc, treo mõ vào cổ trâu –trâu gõ mõ, chó leo thang – anh Đang chế chùm lục lạc đeo vào cạp quần, báo hiệu có người để họ tránh xe. Tác dụng thứ hai, quan trọng không kém... Mỗi lần đạp xe trên đường vắng, nghe tiếng lục lạc loong coong ngang thắt lưng, tự nhiên cảm thấy đỡ cô độc. Chính giữa gian chái kê cái tủ gỗ tạp nhỏ, hai cánh mọt ruỗng không khép kín được, khoá một chiếc khoá lớn như khoá nhà kho. Trên nóc tủ, xếp một chồng mũ cối, mũ vải, mũ lá mà ở Hà Nội người ta thường quẳng vào các đống rác. Cạnh tủ là một cái giường cá nhân, bốn chân giường được thống cố thêm bốn chồng gạch. Trên giường một đống chăn bông trần rách thủng, và một xấp quần áo cũ làm gối.... Sát chân giường kê chiếc bàn xiêu vẹo chỉ có hai chân, hai chân kia được thay bằng hai sợi dây thép buộc treo vào tường. Anh nói, giọng Lão Trang: “Một cái bàn bốn chân là một con vật. Khi nó chỉ còn hai chân nó là một con người”. Trên mặt bàn xếp kín các chai lọ, vỏ đồ hộp, hai (... mất nửa dòng...) vài con dao làm bằng mẩu (... mất một dòng...) thuyết minh viên giới thiệu hiện vật trong bảo tàng nghệ thuật:“Nó là loại gạch nung rất già, gần đạt tới tiêu chuẩn của sành sứ cổ, sức nặng và độ bền của nó làm cho các loại chuột, mối, dán phải vị nể”. Bây giờ tôi mới hiểu anh cọ rửa những viên gạch vỡ để làm gì. Dưới gầm bàn là mấy chục đôi dép cao su hư nát, đứt quai, được bó thành từng bó, hai cái vại muối dưa rạn nứt, sứt miệng, một đống bản lề cửa, sắt vụn, đinh còng queo, mẩu dây thép han rỉ... Tất cả những đồ lề đó, phủ lên một lớp bụi tro... Lúc tôi bước vào, gian buồng mờ mịt khói. Anh giải thích: “Giờ này các cô giáo nấu ăn. Bếp tập thể ở sát bên kia tường. Tôi đã trộn rơm với bùn trát những khe hở sát mái, nhưng khói vẫn cứ lọt sang – anh cười - Chịu khói một chút nhưng cũng có cái lợi. Thỉnh thoảng lại được ngửi mùi xào nấu lẫn với khói, cái mũi được bồi dưỡng. Trong việc dở nào cũng có việc hay, và ngược lại”. “Để em đạp xe ra chợ mua cái gì về ăn”. “Thôi khỏi cần. Chú về chơi hôm nay là rất gặp may. Sáng nay tôi vừa chế biến được một mẻ thức ăn ngon vô địch. Chú nếm rồi sẽ biết. Cơm cũng có sẵn rồi. Tôi mới nấu lúc sáng, ủ vào lồng ủ rơm, còn nóng nguyên. À, tôi lại có cả rượu cho chú, rượu cam hẳn hoi, quà của Hội Nhà văn gửi biếu vào dịp Tết năm ngoái... Tôi chỉ mới mời mấy thầy giáo mấy chén, còn đủ cho chú say sưa suốt mấy ngày ở chơi”. Anh xăng xái lấy chùm chìa khoá buộc chung với chùm lục lạc, mở khoá tủ tìm chai rượu. Tôi liếc nhìn vào mấy ngăn tủ. Những xấp quần áo cũ nát để lẫn với những chồng báo, giấy má, sách... ố vàng. Ngăn dưới cùng để rất nhiều chai lọ, vỏ đồ hộp, vỏ lon bia, và nhiều chồng các loại bao thuốc lá. Anh lúi húi tìm một lúc khá lâu mới lôi ra được chai rượu cam còn già nửa: “Đây rồi! Bây giờ già hoá ra lẩm cẩm. Để chỗ này lại tìm sang chỗ kia”. Tôi cười, nói: “Nhìn anh, em cứ tưởng là một nhà quí tộc Nga thời Sa Hoàng, tự tay tìm chọn loại rượu quí cất giữ một trăm năm trong hầm rượu, để đãi khách quí”. Tôi chỉ những chồng vỏ bao thuốc lá, hỏi: “Anh chơi sưu tập vỏ bao thuốc lá à? Thế mà em (... mất một dòng...) vì phải dọn nhặt đem đốt”. Anh kêu lên: “Thế có tiếc không! Lần này chú về trên đó nhớ dặn cô, có vỏ bao thuốc là ngoại cứ cất giữ cho anh Đang, càng nhiều càng tốt. Nó là hàng đối lưu của tôi đấy...”. “Hàng đối lưu?”, tôi ngạc nhiên hỏi. “Để tôi dọn cơm cho ăn rồi tôi giảng cho chú nghe thế nào là hàng đối lưu. Tôi xem ra chú mù tịt về môn kinh tế chính trị học”. Tôi ngắm nhìn căn hộ độc thân đầy khói của anh, hỏi: “Hơn mười lăm năm qua anh vẫn sống ở gian buồng này à?”. “Ngày tôi mới về xã, tôi sống ở trại lợn của Hợp tác xã. Chẳng là cán bộ xã cũng thông cảm hoàn cảnh khó khăn của tôi, nên đề nghị tôi ra đó trông coi giúp như nhân viên thường trực của trại. Ở đó một thời gian. Nhà kho cũng thoáng mát, tôi có thể ăn ở, đọc sách, viết lách kết hợp với trông coi trại. Mỗi mùa hợp tác xã trả công điểm mấy chục cân thóc, mấy chục cân rơm làm chất đốt. Số thóc, rơm này tôi không phải dùng đến, trong mấy năm tiết kiệm được hai ba tạ thóc, hai trăm sáu chục cân rơm cho bà con vay. Ngoài ra, vào dịp tết, Hợp tác xã bồi dưỡng thêm ít thóc nếp, đem lên Hà Nội biếu các chú... Khi bắt tay vào việc dịch thuật lại cuốn Lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô, tiếng lợn kêu âm ĩ quá làm tôi mất tập trung tư tưởng, nên phải xin thôi công việc trông coi trại, chuyển về đây để được yên tĩnh hơn”.

Anh lôi dưới gầm giường ra một cái xô tôn thủng đáy, đặt lên miệng xô tấm gỗ dán. “Đây là bàn ăn – anh giới thiệu và vần tiếp ra hai cái vại muối dưa sứt miệng – Còn đây là ghế ngồi. Bà con nông dân mình nghèo mà phí phạm thế đấy. Hai cái vại còn tốt như thế này mà đem quẳng bụi tre... Tôi nhặt về, cọ rửa sạch sẽ, lật đít lên, làm thành cái ghế ngồi vừa vững chãi lại vừa mát. Chú ngồi thử mà xem, có khác gì ngồi trên đôn sứ đời Minh?”. Anh dọn ra hai cái đĩa, rồi chọn trong hai cái bát hương đậy viên gạch vỡ gắp ra năm sáu viên gì đó tròn tròn, đen xỉn, nom rất khả nghi. Anh chỉ vào một đĩa, giới thiệu thực đơn: (“Đĩa này là chả cóc, đĩa này là chả nhái. Nhờ ăn) thường xuyên hai thứ đặc sản này mà tôi rất khoẻ, còn khoẻ hơn cả chú”. Anh nhắc trong cái rổ phủ đầy rơm để ở góc nhà, xoong cơm đã ăn mất một góc mà anh giới thiệu vẫn nóng nguyên. Nói đúng hơn là một thứ cháo rất đặc, có thể xắn thành từng miếng như bánh đúc. “Ba năm trở lại đây, tôi phải ăn cơm nhão, nếu ăn cơm khô thì bị nghẹn. Tôi nấu cơm với nước vo gạo nên rất bổ. Chẳng là các cô giáo thường bỏ phí nước vo gạo. Tôi đưa cho các cô cái chậu, dặn đổ nước vo gạo vào đấy cho tôi, để tôi chắt ra nấu lẫn với cơm. Tinh tuý của gạo nằm trong nước vo, bỏ đi thật phí phạm”. “Nhưng cóc nhái đâu ra mà anh bồi dưỡng được thường xuyên thế?”, tôi hỏi. “Ấy chỗ này mới là bí quyết. Phải huy động lực lượng quần chúng, tức là các cháu thiếu nhi. Biết các cháu ở đây thích chơi vỏ bao thuốc lá, nhất là các loại vỏ bao đẹp. Mỗi lần lên thị xã hoặc sang Nam Định chơi, tôi đều nhặt nhạnh về, đổi cho các cháu lấy cóc, nhái. Cũng đề ra tiêu chuẩn hẳn hoi. Một vỏ bao ba số [5]  đổi 3 con cóc hoặc 5 con nhái. Các loại khác 2 cóc, 3 nhái. Bởi vậy tôi mới nói là hàng đối lưu, chú hiểu chưa. Mỗi tháng tôi chỉ cần ba bốn chục cái vỏ bao là thừa chất đạm, mà là loại đạm cao cấp… Hôm nào chú về tôi gửi biếu cô, chú Cung [6] , mỗi nhà mấy viên nếm thử. Cô chú ăn thịt cóc của tôi rồi sẽ thấy các thứ thịt khác đều nhạt hoét!”.

Anh rót rượu, chọn gắp viên chả cóc, nhái bỏ vào bát cho tôi, ân cần, âu yếm, trang trọng, làm tôi ứa nước mắt. Anh hỏi:“Chú đi đâu mà lại lặn lội về tận đây, vào lúc tết nhất sắp đến nơi?”. “Em về đây chỉ một mục đích là thăm anh. Hơn hai năm nay không thấy anh lên Hà Nội, chúng em rất lo. Không biết anh ốm đau gì, liệu anh có còn sống không? Về đây thấy anh vẫn khoẻ mạnh, em rất mừng… Anh là nhân chứng của một quá khứ hào hùng của đất nước. Nếu anh chết đi, tàn lụi như cỏ cây, không nhắn gửi gì lại cho các thế hệ sinh sau, theo em là một tổn thất không gì bù đắp được…”. Tôi lấy đưa anh xem số tài liệu liên quan đến ngày Đại lễ mồng 2 tháng 9 năm 1945, vừa sao chụp: (“ Em suy luận ra anh là Trưởng)ban Tổ chức Ngày Độc lập như trong tư liệu hiện còn giữ được. Em muốn được tận tai nghe anh kể lại những kỉ niệm, những hồi ức mà anh cho là sâu sắc nhất… mà nếu anh không dùng đến thì cho em xin”.

Anh im lặng rất lâu, dùng đũa tém lại những mảnh vụn thịt cóc, nhái trong đĩa, gắp bỏ vào bát mình những mảnh khác rớt xuống mâm ván. Anh chăm chú nhìn vào cái đĩa đã tém gọn, như đang gắng đọc những hồi ức in lại trong lớp men sành… Anh chợt nói, mắt vẫn không rời cái đĩa: 

“Thấm thoắt thế mà đã bốn mươi bảy năm trôi qua… Tôi còn nhớ như in ngày hôm đó là ngày 28 tháng 8… Tại sao tôi nhớ, vì đó là thời khắc lịch sử phải được tính từng phút một… Năm đó tôi bước vào tuổi băm ba. Chính phủ cách mạng lâm thời họp tại Bắc Bộ phủ, để quyết định ngày lễ ra mắt quốc dân đồng bào… Hôm đó, tôi có việc cần phải giải quyết gấp, nên đến nơi thì phiên họp vừa giải tán. Vừa bước lên mấy bậc thềm thì thấy cụ Nguyễn Văn Tố từ trong phòng họp đi ra. Cụ mừng rỡ chụp lấy tay tôi, nói: “Anh vào ngay đi, cụ Hồ đang đợi anh trong đó”. Tôi theo cụ Tố vào phòng họp. Đó là lần đầu tiên tôi được gặp mặt ông Cụ. Ông Cụ ngồi ở ghế tựa, mặc bộ quần áo chàm, tay chống lên ba toong. Cụ Tố kéo tôi lại trước mặt Cụ, giới thiệu: “Thưa Cụ, đây là ông Nguyễn Hữu Đang, người mà phiên họp quyết định cử làm Trưởng ban Tổ chức ngày lễ”. Cụ Hồ nhìn tôi một lúc với cặp mắt rất sáng, cặp mắt mà về sau này nhân dân cả nước đồn rằng có bốn con ngươi – như muốn cân nhắc, đánh giá người mà Cụ quyết định giao trọng trách. Cụ hỏi tôi với giọng Nghệ pha, rất giống giọng cụ Phan Bội Châu mà có lần tôi đã được nghe: “Chính phủ lâm thời quyết định làm lễ ra mắt quốc dân đồng bào vào ngày mồng hai tháng chín. Chú có đảm đương được việc tổ chức buổi lễ không?”. Tôi tính rất nhanh trong đầu: tháng 8 có 31 ngày, như vậy là chỉ còn 4 ngày nữa thôi... Tôi suy nghĩ cân nhắc trong từng phút. Hình dung ra tất cả những khó khăn như núi mà tôi phải vượt qua... để tổ chức được một ngày đại lễ như vậy, trong khi mình chỉ có hai bàn tay trắng. Tôi nói với Cụ Hồ: “Thưa Cụ, việc cụ giao là (quá khó vì gấp quá rồi”. Cụ Hồ nói ngay: “Có khó thì mới giao cho chú chứ!”). Anh Đang ngẩng phắt lên nhìn tôi. Vẻ già nua cùng quẫn trên con người anh như được trút bỏ hết. Dáng dấp oai phong, khí phách của người chiến sĩ cách mạng luôn luôn đứng ở hàng xung kích lại hiện nguyên hình.

Như chú biết đấy - giọng anh vụt trở nên sang sảng – tôi là một nhà tuyên truyền, động viên thiên hạ, chuyên nghiệp. Thế mà lần này tôi lại bị ông cụ động viên một cách tài tình, bằng một lời thật ngắn gọn, giản dị! Nghe ông Cụ nói vậy lúc đó tôi thấy trong con người mình bừng bừng khí thế, muốn lập nên được những kì tích, những chiến công thật vang dội... Tôi nói với ông Cụ: “Thưa Cụ, Cụ đã nói như vậy con xin nhận nhiệm vụ. Con xin hứa sẽ cố gắng hết sức để hoàn thành trọng trách”. Cụ Hồ đứng lên, bắt tay tôi, dáng bộ, gương mặt nom rất vui vẻ, bằng lòng: “Thế thì chú trở về bắt tay ngay vào việc đi. Đến sáng ngày kia, chú đến đây báo cáo với tôi công việc được tiến hành như thế nào”. Tôi chào Cụ, ra về, lòng rạo rực lâng lâng... Nhưng khi vừa bước xuống hết những bậc thềm rộng thênh thang của Bắc Bộ phủ, tôi chợt nghĩ ra một điều. Tôi liền quay trở lại phòng họp. Cụ Hồ vẫn còn đứng đó. Cụ hỏi ngay: “Chú còn cần gì nữa?”. “Thưa Cụ, để hoàn thành trọng trách, xin Cụ trao cho con một quyền...”. “Quyền gì, chú cứ nói đi!”. “Thưa Cụ, quyền được huy động tất cả những gì cần thiết cho buổi lễ, về người cũng như về của...”. “Được, tôi trao cho chú cái quyền đó. Nếu ai hỏi huy động theo lệnh của ai, cho phép chú được trả lời: Theo lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh!”.

Công việc đầu tiên là tôi thảo một thông cáo ngắn gọn – anh gắp thêm mấy viên chả cóc trong bát hương, bỏ ra đĩa rồi kể tiếp - Nội dung như sau: ngày 2 tháng 9 năm 1945. Chính phủ cách mạng lâm thời sẽ làm lễ ra mắt quốc dân đồng bào, tuyên ngôn Độc lập tại vườn hoa Ba Đình. Đồng bào nào có nhiệt tâm, muốn đóng góp sức, góp của vào việc tổ chức ngày lễ lịch sử trọng đại này, xin mời đến Hội quán Trí Tri phố Hàng Quạt gặp Ban tổ chức. Thông cáo được gửi ngay đến tất cả các báo hàng ngày, yêu cầu đăng lên trang nhất, với hàng tít thật lớn chạy hết trang báo (... mất một dòng ...)ngoài chật kín Hội quán. Người ghi tên vào các công tác, người góp tiền, góp vàng, góp vải vóc, gỗ ván. Nhiều người từ chối không lấy giấy biên nhận: “Biết bao anh hùng, liệt nữ đóng góp cho nền độc lập của dân tộc, đâu có lấy giấy biên nhận“, họ nói vậy. Tôi mời mọi người dự cuộc họp chớp nhoáng, và đưa ra ý kiến: Việc cần thiết trước tiên là phải dựng một lễ đài Độc lập thật đẹp, thật lớn, thật uy nghi, xứng đáng với ngày lịch sử trọng đại này, tại trung tâm vườn hoa Ba Đình để Chính phủ cách mạng lâm thời đứng lên ra mắt. Vậy đồng bào nào hiện có mặt tại đây có thể đảm nhiệm trọng trách đó? Một người trạc ngoài ba mươi, ăn mặc lối nghệ sĩ, đeo kính trắng, bước ra nói: “Tôi là hoạ sĩ Lê Văn Đệ. Tôi xin tình nguyện nhận việc dựng lễ đài. Trưa nay tôi sẽ mang bản phác thảo lễ đài đến ban tổ chức xem xét”. Tôi bắt tay hoạ sĩ, nói: “Tôi được biết tên tuổi anh từ lâu và cũng nhiều lần được xem tranh của anh. Tôi xin thay mặt Ban tổ chức hoan nghênh nhiệt tâm đóng góp của anh. Nhưng Lễ đài Độc lập là một công trình kiến trúc, tuy dựng gấp rút, tạm thời, nhưng phải đạt những tiêu chuẩn không thể thiếu của nó như sự vững chắc, sự hài hoà công trình với tổng thể... Nói ví dụ nếu như không vững chắc, mấy chục con người đứng lên, nó đổ sụp xuống thì ngày lễ coi như thất bại. Bởi vậy cần một kiến trúc sư phối hợp với anh”. Một người trẻ tuổi ăn vận chỉnh tề, từ trong đám đông bước ra, tự giới thiệu: “Tôi là kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh [7] , cùng hoạt động trong Hội Văn hoá Cứu quốc với anh Phạm Văn Khoa. Hôm qua tôi được anh Khoa cho biết ý đồ của Ban tổ chức, tôi đã vẽ xong bản đề án thiết kế lễ đài”. Anh Quỳnh trải cuộn giấy can cầm sẵn trên tay lên mặt bàn. Đó chính là toàn cảnh lễ đài Độc Lập mà sau này chú được nhìn thấy in hình trên báo chí. Bản vẽ thật đẹp, thật chi tiết, tỉ mỉ... Lễ đài với tổng thể vườn hoa Ba Đình, vị trí dựng lễ đài, chiều cao, chiều rộng, mặt bằng, mặt cắt ngang, cắt dọc lễ đài, độ lớn các xà gỗ, tổng diện tích mặt ván ốp lát v.v... Sau khi nghe anh Quỳnh thuyết trình, tôi xem xét, cân nhắc rồi đặt bút kí duyệt bản thiết kế, đóng dấu Ban tổ chức. Tôi nói với anh Lê Văn Đệ và anh Ngô Huy Quỳnh: “Ban tổ chức quyết định giao việc này cho hai anh (Các anh cần gì, chúng tôi) sẽ lo chạy đầy đủ, Hiện nay chúng tôi có một kho ba ngàn thước len đỏ [8] , cần dùng bao nhiêu các anh cứ lấy dùng. Lễ đài phải được dựng xong trong vòng 48 giờ đồng hồ. Đúng 5 giờ sáng ngày mồng 2 tháng 9, tôi sẽ đến nghiệm thu. Chúc các anh hoàn thành nhiệm vụ”. 

. 
Bản thiết kế Lễ đài Độc lập của kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh

Quảng trường Ba Đình ngày Việt Nam tuyên bố độc lập 2-9-1945

Sáng ngày 31 tháng 8, tôi đến Bắc Bộ phủ gặp Cụ Hồ như Cụ đã chỉ thị. Sau khi nghe tôi báo cáo ngắn gọn, đầy đủ về tất cả mọi việc có liên quan tới ngày lễ, Cụ nói giọng hết sức nghiêm trang: “Chú phải nhớ ngày Mồng hai tháng Chín tới sẽ là một ngày lịch sử. Đó là ngày khép lại cuộc Cách mạng tháng Tám, và ngày khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà”.

*“Ông Đang ơi! Ông Đang ơi!”, tiếng con nít gọi nheo nhéo ngoài cửa, ngắt ngang câu chuyện của anh. Tôi nhìn ra, thấy hai chú bé chạc 9, 10 tuổi, mỗi chú cầm một cành tre, đầu cành tre thõng thượt một con rắn nước, mình nhỏ bằng chuôi dao, đầu bị đập dập còn rỉ máu tươi: “Ông có đổi rắn nước không ạ?”. Anh Đang bỏ đũa bước ra cửa, xem xét cẩn thận hai con rắn nước, rồi hỏi: “Các cháu định đổi như thế nào?”. “Ông cho cháu mỗi con hai cái vỏ bao ba số”. “Các chú đừng có giở thói bắt chẹt”, giọng nói vá dáng bộ của anh đã chuyển sang giọng của dịch vụ đổi chác, “Mỗi con rắn này chỉ giá trị bằng hai con cóc. Nhưng thôi, thì ông cũng đành chịu thiệt vậy, mỗi con một vỏ bao ba số, các chú có đổi thì đổi, không đổi thì thôi”. Hai chú bé ngần ngừ một lúc, rồi nói: “Chúng cháu đổi ạ”. Anh quay vào mở khoá tủ, chọn lấy ra hai cái vỏ bao ba số, đưa cho mỗi chú một chiếc, và cầm lấy hai con rắn. Hai chú bé cũng xem xét hai cái vỏ bao cẩn thận không kém ông Đang xem xét hai con rắn. Một chú nói: “Ông đổi cho cháu cái vỏ bao khác, cái này bên trong không có tờ giấy vàng”. Anh cầm lấy cái vỏ bao xem lại, cười: “Được, ông sẽ đổi cho vỏ bao khác. Sau này chú mà làm cán bộ thu mua thì Nhà nước sẽ không phải chịu thua thiệt”.

Anh cầm hai con rắn bỏ vào cái rổ con ở góc nhà, mặt tươi hẳn lên, như người buôn bán vừa vớ được món hời: “Thịt rắn còn bổ hơn thịt nhái. Tối mai tôi sẽ đãi chú món rắn om riềng mẻ. Ăn vào (... mất một dòng..) Tân Đệ.

*Tôi ở lại chơi với anh Đang ba ngày, thuê một anh phó nháy ở xã trên xuống chụp mấy  ảnh làm kỉ niệm. Bữa cơm tiễn tôi, anh có vẻ buồn. Vừa dùng đũa tém tém mấy khúc rắn om mặn chát nổi muối trong đĩa, anh vừa nói: “Hiện nay tôi đang cố gắng hoàn thành thiên hồi ký thuật lại tất cả những gì có liên quan đến thế sự, kể từ khi tôi bước chân vào con đường hoạt động cách mạng cho đến những năm tháng gần đây... Trong hồi ký, tôi sẽ đề cập đến những việc mà từ trước đến nay tôi chưa hề tiết lộ với ai. Ví dụ như bản thảo “Tuyên ngôn Độc lập” Cụ Hồ viết... còn hay mất, nếu còn thì bây giờ đang ở đâu... Hoặc cụ định sửa hai câu trong bản “Tuyên ngôn”, nhưng không kịp vì bản chính đã đưa in mất rồi. Là Trưởng ban Tổ chức ngày lễ, tôi phải phụ trách việc in ấn những tài liệu có liên quan đến vận mệnh đất nước này, nhưng ... như chú biết đấy, hiện nay trong Bảo tàng Hồ Chí Minh cũng như Bảo tàng Lịch sử, không có bản thảo “Tuyên ngôn Độc lập” ... Tôi sợ sẽ làm không kịp mất, gần tám chục tuổi đầu rồi còn gì, mà lại không có điều kiện làm việc, ban đem coi như chịu chết, đèn đóm tù mù, đúng là đóm thật”... Anh im lặng một lúc lâu, rồi ngẩng lên nhìn tôi, hỏi tiếp: “Chú có biết điều lo lắng nhất của tôi hiện nay là gì không?”, không đợi tôi đoán, anh nói luôn: “Tôi lo nhất là không biết chết ở đâu. Lúc sống thì tôi ở nhờ nhà ai chẳng được, ở đây cũng như ở trên Hà Nội... Nhưng lúc chết thì người thân mấy cũng làm phiền người ta. Có ai muốn một người không phải ruột ra máu mủ lại nằm chết trong nhà mình? Ngay cả cái chái bếp này cũng vậy, tôi nằm chết sẽ làm phiền đến nhà trường, các thày các cô, các cháu học sinh... Bởi vậy mà hai năm nay tôi không muốn lên Hà Nội. Ở đây, tại quê hương bản quán, tôi đã chọn sẵn chỗ để nằm chết... Chú ra đây tôi chỉ cho, đứng ở đây cũng nhìn thấy...”.

Tôi theo anh ra đứng trên cái trụ xi măng cầu ao cá. Gió mùa đông bắc lạnh thấu xương thổi thốc vào mặt hai anh em. Anh chỉ tay về phía một búi tre gần cuối xóm, đơn độc giữa cánh đồng, ngọn tre đang vật vã trong gió buốt. “Đấy, dưới chân búi tre ấy có một chỗ trũng nhưng bằng phẳng, phủ đầy lá tre rụng, rất vừa người tôi... Tôi sẽ nằm đó chết để khỏi phải phiền ai... Tôi đã chọn con đường ngắn nhất để có thể bò kịp đến đó, trước khi nhắm mắt xuôi tay...”

Trở vào nhà, cả người tôi nổi gai, ớn lạnh, chắc là bị cảm... Tôi dốc hết rượu ra bát uống ực một hơi chống lạnh. Rượu vào lời ra, tôi cất giọng ngâm to mấy câu thơ của Phùng Cung gửi tôi mang về tặng anh: 

Mặt ra giông chớp     
Rạc mái phong lưu      
Gót nhọc men về thung cũ     
Quỳ dưới chân quê     
Trăm sự cúi đầu     
Xin quê rộng lương     
Chút thổ phần bò xéo cuối thôn

(Tháng 12.1992) 

[1]Chú thích của Diễn Đàn: Bản in này căn cứ vào bản sao ảnh bản thảo 19 trang viết tay của Phùng Quán, Một vài trang chụp thiếu một hai dòng chót. Chúng tôi phải ghi (…mất một dòng.. ), hoặc khôi phục đoạn câu bị mất đi, nhưng vẫn để trong ngoặc. Xin bạn đọc và tác giả lượng thứ. [2]Chú thích của tác giả: Thơ Tố Hữu[3]Chú thích của Diễn Đàn: Đây là cuốn viết lại lịch sử do Stalin chủ biên. Bản dịch ở đây ắt là bản dịch do Nhà xuất bản Sự thật Hà Nội ấn hành, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dịch cuốn này ở hang Pắc bó. Không rõ hai bản dịch này có phải là một hay không.[4]Chú thích của Diễn Đàn: Bảy mươi tuổi xưa nay hiếm, thơ Đỗ Phủ, Cụ Hồ đã trích dẫn câu này trong Di chúc 1969. [5]Chú thích của Diễn Đàn: Thuốc lá nhãn hiệu 555[6]Chú thích của Diễn Đàn: Phùng Cung, nhà văn. [7]Ghi chú của tác giả: Kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh sau này có thời làm thứ trưởng Bộ xây dựng. Hoạ sĩ Lê Văn Đệ (theo tạp chí Bách Khoa Sài Gòn 1963) sang La Mã, được phong hoạ sư, được chính Giáo hoàng Pie XI giao cho trang hoàng điện Vatican.[8]Chú thích của Diễn đàn: Số len này lấy được ngày 19.8.1945, khi tấn công chiếm Trại lính khố đỏ ở phố Hàng Bài. 
Nguồn: Diễn Đàn số 25, Paris, 12.1993
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chủ Nhật, 14 tháng 8, 2016

Em dạo này


“Em dạo này có đi xa cuối tuần
Em dạo này có gặp Vy và Xuân
Hàng đêm em có nghe hát xa xăm
Từ quán ăn phù du ngoài sân”

Những câu hát nhẹ nhàng trong bài hát “Em dạo này” của band Ngọt.
Ngọt ngào và tinh tế và hóm hỉnh. Nhớ người yêu cũ mà không dám gọi hỏi thăm. Muốn tình cờ gặp người yêu cũ ở trà đá Hồ Gươm mà chỉ dám kín đáo nói vòng qua nẻo khác.
“Anh dù không muốn tình cờ gặp lại nhau lần nữa
Nhưng em có đi trà đá Hồ Gươm?
Dạo này em có đi trà đá Hồ Gươm?”

*
Anh Châu khi không muốn nói về chính trị, là một anh Châu giống như người thanh niên trong Ngọt. Nhà anh ấy ở Hàng Bài, chỉ nhảy lò cò là tới trà đá Hồ Gươm. Anh ngọt ngào với các cô gái, chân thành với bạn bè, và dí dỏm khi chế diễu chính phủ: “Yếu bóng vía, nhìn đâu cũng thấy ma”.
Ít ra là anh Châu cho đến khi nhận giải Fields, là một người thanh niên như thế.
*
Đất nước mình, ngày xưa ấy, có hàng ngàn thanh niên như thế.
Có một trí thức tên là Đệ. Ngày ấy học giỏi, tốt nghiệp Luật ở Đại học Đông Dương, hơn kém Giáp vài khóa. Đệ còn là hướng đạo sinh, khi Trần Trọng Kim dựng chính quyền, Việt Minh gài Đệ vào làm tri huyện ở Hà Trung, một vùng giáp ranh Thanh Hóa – Ninh Bình.
Sau Cách mạng tháng 8, Đệ lên chiến khu với Trường Chinh. Chính là Tạ Quang Đệ, em ruột Tạ Quang Bửu.
Lên chiến khu, Đệ dịch các trước tác của Mao, để Trường Chinh đưa các lãnh tụ khác đọc, và học, và thấm nhuần ít nhất cũng phải gần được như Chinh. Ai cũng phải đọc, phải thấm nhuần, kể cả ông Cụ. Các trước tác ấy là “Thực tiễn luận (实践论)”, “Luận trì cửu chiến (论持久战)” – luận về trường kỳ kháng chiến. Hai cuốn sách của Mao xuất bản năm 1937 và 1938.
Trước đó, Chinh dẹp sạch những người đã phát động và tổ chức thành công “Cách mạng tháng 8” là Nguyễn Khang (Hà Nội) và Trần Văn Giàu (Sài Gòn), giành trọn công lao và hào quang của “Cách mạng cướp chính quyền” về Xứ ủy bắc kỳ do Chinh cầm chịch.
Sau khi tự mình viết “Kháng chiến nhất định thắng lợi” oách như Mao đăng trên Sự Thật (tháng 3 – tháng 8 năm 1947), trong hai năm tiếp theo 1948-1949 Chinh sử dụng Đệ (bút danh Quang Đạm) lên Sự Thật viết loạt bài chống Tư Pháp Độc Lập để đập lại quan điểm của luật sư Vũ Trọng Khánh. Luật sư Khánh là  Bộ trưởng Bộ tư pháp đầu tiên (trong chính phủ lâm thời), và là người soạn thảo Hiến pháp 1946. Lúc này Khánh là Giám đốc tư pháp chiến khu, luôn gây ra xung đột với bên Đảng do cố gắng giữ hoạt động của Tòa án độc lập với Đảng chuyên chính (một việc mà cho tới ngày nay vẫn còn như là mơ với tư pháp Việt).
Đây là những tính toán bài bản và lọc lõi để dọn đường cho lý luận và hành động Mao-ít tràn vào Việt Nam. Giai đoạn này kết thúc năm 1951, khi ông Cụ lên báo nói như Mao phán trong “Thực tiễn luận”:“Thực hành sinh ra hiểu biết! Hiểu biết tiến tới lý luận! Lý luận lãnh đạo thực hành”.
Kể từ đó, mọi sự xảy ra, cho đến tận ngày nay, đều có gốc rễ từ giai đoạn tư tưởng của Mao do Chinh kín đáo reo mầm và bón phân trong Đảng, từ chiến khu rồi loang như ốc bươu vàng ra toàn miền bắc.
Và đổi mới của mấy chục năm sau nữa, đều phải nhìn vào những sự kiện này để mà phân tích.
Để hiểu tại sao sau 30 năm đổi mới, tất cả thành ra một đống như ngày nay.
*
Vũ Đình Hòe, bộ trưởng tư pháp cho biết sau này chính Quang Đạm (tức Tạ Quang Đệ) đã phải thú nhận sai lầm của mình: “Quyền lực của tư pháp và lập pháp là hữu danh vô thực; bên trên ba quyền lực, bao gồm cả quyền hành pháp, là một thứ siêu quyền lực có thể quyết định tất cả, đó là cấp ủy”.
Những sai lầm ấy, chính dân tộc này, trong đó có cả người trí thức Quang Đạm phải trả giá.
Ngày nay, những người như anh Châu tự biết mình không được phép sai lầm như thế.
Và đấy là lý do anh viết những status với khẩu khí của chính mình.
Việc một thứ siêu quyền lực, đứng trên tất cả, mà lại không dám dùng uy tín hiện tại của mình, trí óc đương đại của mình, để đối đầu với hiện thực, với sự phẫn nộ của quần chúng; mà phải bấu víu vào hình ảnh và tư tưởng của một lãnh đạo đã qua đời từ trước cả khi đất nước này thống nhất, là một việc cần phải phản đối. Phản đối để ít ra lãnh tụ chết rồi vẫn được ngủ yên và toàn vẹn thân xác.
Đó là một việc cần phải làm, vậy mà dường như chỉ có anh Châu dám nói.
*
Trong lúc đó, Ngọt, chàng trai dí dỏm và ngọt ngào vẫn nhớ, và lo, và nhắn người thương muôn năm cũ:
“Và em có  tình yêu và tình yêu và tình yêu mới
Dạo này người mới có khiến em cười
Và tiền tiêu và quần áo và đồ chơi mới
Xin em nhớ nuông chiều làm ta lười hơn”.
*
Không có gì quý hơn (tư pháp) độc lập và tự do (cá nhân).
Hẹn anh Châu và các bạn gái (hehe) một ngày nào ở trà đá Hồ Gươm.
*

5xu Blgr

Phần nhận xét hiển thị trên trang