Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 14 tháng 8, 2016

TIẾNG NÓI NHÀ VĂN: NGƯỜI VIỆT ĐANG SỐNG VỚI TÂM HỒN KHÔ CẰN?


NGUYỄN QUANG THIỀU - Chỉ vì đói khát thì nhân loại không bao giờ tạo ra được những giá trị tinh thần vô giá còn đến ngày nay bởi nhân loại đã phải trải qua những thời gian đói khát khủng khiếp.
                                                                                           Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều (ảnh:Internet)             
Nhưng chính tinh thần và văn hóa đã đưa con người thoát khỏi con đường của hoang thú và dựng lên những lâu đài văn hóa kỳ vĩ của nhân loại.

Có một phép cộng luôn làm người giàu bất hạnh

Tôi có một người bạn là doanh nhân giàu có. Một lần, tôi nói với anh ấy rằng: “Nếu tôi có được 1/100 số tài sản của ông, tôi sẽ rất hạnh phúc”. Anh ấy trả lời: “Nếu tôi có được 1/100 những gì không phải là tiền của ông, tôi sẽ rất hạnh phúc”.

Cuộc đối thoại ngắn của hai chúng tôi vô tình trở thành công thức cho hạnh phúc mà lâu nay chúng ta vẫn quan niệm. Công thức đó là: VẬT CHẤT + TINH THẦN = HẠNH PHÚC. Tất nhiên công thức này chỉ đúng với những ai hiểu đúng hạnh phúc chứ không phải là sự thỏa mãn. Có không ít người đã nhầm lẫn giữa Hạnh phúc và sự Thỏa mãn.

Hạnh phúc làm đầy tâm hồn chúng ta còn thỏa mãn lại luôn làm chúng ta mang cảm giác đói khát. Có gì mâu thuẫn ở đây không?

Không!

Thỏa mãn luôn chứa đựng ngay trong chính nó sự tham lam vô độ. Niềm tin là một hạnh phúc. Khi một ngày niềm tin tràn ngập lòng ta thì nó sẽ dẫn ta đi qua mọi khó khăn có thể đến cuối cuộc đời. Nhưng thỏa mãn chỉ là thỏa mãn của một khoảnh khắc, của một ngày và nó luôn đòi hỏi ta phải cho nó ăn no liên tục.

Cũng một lần khác, tôi nói với người bạn giàu có kia rằng: Trong cuộc sống, có một phép cộng luôn làm cho những người giàu bất hạnh. Đó là phép cộng cho tài sản. Khi bạn có 100 tỷ, nếu bạn chỉ có một khao khát duy nhất là cộng thêm vào tài khoản của mình để thành 110 tỷ thì bạn sẽ tìm mọi cách để có nó. Và ngay sau khi có 110 tỷ rồi bạn lại tìm mọi cách để cộng thêm vào tài khoản của mình để nó trở thành 120 tỷ.

Cứ thế, phép cộng này kéo bạn đi cho đến cuối đời. Nó hầu như không cho bạn dừng lại. Bởi khi bạn chỉ khát khao cộng và cộng vào tài khoản vật chất của bạn thì không bao giờ bạn thấy tài khoản ấy đủ. Hiện thực này quá rõ, và trong mỗi chúng ta đều ít nhiều có hiện thực ấy. Nhưng điều quan trọng là chúng ta phải nhận ra và thay đổi để cân bằng hiện thực này.

Nhưng tôi đang muốn đưa ra cho bạn, những người có một cuộc sống vật chất ổn định hoặc giàu có, một phép tính nữa: phép trừ. Phép trừ này sẽ làm cho bạn hạnh phúc. Bạn sẽ ít nhiều ngạc nhiên về quan niệm này của tôi và có thể phản đối tôi.

Nhưng quan niệm này của tôi ít nhất đã được minh chứng qua không ít người giàu có mà tôi biết. Phép trừ đó như sau: nếu bạn có 100 tỷ (con số này là một con số ước lệ), bạn hãy trừ đi 10 tỷ cho những hoạt động từ thiện, cho việc trồng một cái cây hoặc một khóm hoa, cho việc làm sạch và đẹp một hồ nước, cho việc thưởng thức một buổi hòa nhạc, ngắm một bức tranh, đọc một cuốn sách, xem một bộ phim và tạo ra những sinh hoạt mang tính chia sẻ cộng đồng...

Ý nghĩa đích thực của cuộc sống sẽ bắt đầu xuất hiện. Và đó là hạnh phúc.

Trong một lần tôi nghe Thiền sư Thích Nhất Hạnh thuyết pháp tại Câu lạc bộ quốc tế ở Hà Nội. Ông bước vào, quan sát mọi người rồi nói: “Tôi đã quan sát mọi người ở đây và tôi nhận thấy có rất nhiều quí vị thành đạt và giàu có nhưng tôi thấy quá ít những quí vị hạnh phúc. Bởi các quí vị quá tiếc nuối quá khứ và quá lo lắng cho tương lai trong khi các quí vị không hề sống cho hết hiện tại của mình. Phép thiêng chỉ sinh ra ở đây và ngay bây giờ khi các quí vị sống cho đến tận cùng khoảnh khắc quí vị đang sống”.

Phần nhiều sự nuối tiếc quá khứ của chúng ta là nuối tiếc những cơ hội để có được những lợi ích thuộc về vật chất. Bởi khi chúng ta nuối tiếc một kỷ niệm đẹp thì nghĩa là nó đã trở thành một tài sản tinh thần không bao giờ bị “chi tiêu” mất trong tâm hồn chúng ta như là những đồng tiền.

Sự tiếc nuối những kỷ niệm đẹp thực ra là nỗi nhớ, là sự tồn tại của cái Đẹp trong tâm hồn chúng ta. Không ít những người tôi quen biết sau nhiều năm tháng đã làm được phép trừ này và họ đã thay đổi được ý nghĩa sống của họ mà trước đó với rất nhiều tiền họ vẫn không làm được. Sẽ không ít người khó có thể chấp nhận lý thuyết về phép trừ làm nên hạnh phúc trong phạm vi này. Nhưng xin bạn hãy cứ áp dụng thử xem, áp dụng với một số trừ nhỏ thôi rồi bạn sẽ thấy sự thay đổi.

Vô cảm, độc ác từ thiếu dinh dưỡng tinh thần

Bây giờ, tôi muốn bạn hãy xem lại hai thực đơn này mà lâu nay bạn cũng như xã hội vẫn dùng. Chúng ta đang chạy đua nhiều lúc quá sức cho thực đơn thể chất của chúng ta. Chúng ta tìm mọi cách để có được những thực phẩm tốt nhất, ngon nhất và lạ nhất để phục vụ mình. 

Chúng ta thường cất câu hỏi: hôm nay sẽ ăn gì? Thế nhưng, chúng ta hầu như không cất tiếng hỏi: hôm nay chúng ta sẽ đọc gì, xem gì, nghe gì. 

Khi chúng ta kiếm được tiền thì hầu như chúng ta chỉ nghĩ đến việc hưởng thụ vật chất như ăn uống, mua sắm, tích lũy mà chúng ta quá ít nghĩ đến việc tổ chức một cuộc sống tinh thần. 

Nhiều người khi có được một mảnh đất rộng thường xây một ngôi nhà càng to càng tốt mà không nghĩ đến một mảnh vườn để trồng cây và hoa và để chim chóc đến ở. 

Trong rất nhiều ngôi nhà chúng ta không thấy một tủ sách, không thấy một bức tranh hay những đĩa nhạc. Có một thời, nhiều nam thanh nữ tú thuộc con cái của những gia đình giàu có tham gia các cuộc đua xe và sẵn sàng chết. Họ bỏ phanh xe, quấn khăn lên đầu và phóng xe điên rồ từng đoàn trên phố. 

Tôi đã nói chuyện với một thanh niên quen biết đã tham gia đua xe. Chàng trai đó nói anh không tìm thấy niềm vui trong cuộc sống và anh muốn phá tan cái cảm giác u uẩn đó. Có một bóng mây u ám nào đó đang phủ kín tâm hồn họ và họ muốn xóa tan đám mây đó. Nhưng họ không biết cách nào giải phóng tâm hồn họ ngoài những hành động điên rồ như vậy hoặc lao vào ma túy và những thú vui vật chất khác. Vật chất chỉ có thể thỏa mãn những đói khát xác thịt còn văn hóa mới giải phóng được tâm hồn.

Năm 2010, tôi đến nước cộng hòa Yakutia. Ở đó, lần đầu tiên tôi nghe thấy Bộ Phát triển Tinh thần. Đó là một Bộ quan trọng bậc nhất của quốc gia này. Bộ này làm nhiệm vụ nghiên cứu và giúp Chính phủ đưa ra các dự án đa dạng để làm cho đời sống con người của quốc gia đó có được một đời sống tinh thần tốt nhất, để họ có thể tìm thấy hạnh phúc trong chính những khó khăn nhất định nào đó đang bao vây họ. 

Mới đây, tôi xem một bộ phim nói về một dự án của các sinh viên thuộc một số trường đại học ở Tokyo Nhật Bản. Những sinh viên này lập ra một dự án có tên Dự án Phục hồi Kỷ niệm. Công việc của dự án là tìm lại những bức ảnh của các gia đình bị trận sóng thần trước đó cuốn đi. 

Người Nhật không tìm lại những phương tiện đắt tiền hay vàng bạc, kim cương và đồ trang sức giá trị, nhưng họ muốn tìm lại những bức ảnh liên quan đến những người thân trong gia đình. 

Có một người cha chỉ có duy nhất một đứa con gái nhưng đã bị sóng thần cướp đi sinh mạng. Ông không còn bất cứ tấm ảnh nào của con gái mình. Dự án Phục hồi Kỷ niệm đã tìm lại được một tấm ảnh của con gái ông. 

Với ông, tấm ảnh đứa con gái bé bỏng của mình đã trở thành tài sản quí báu nhất của ông và làm cho nỗi đau đớn mất con của ông vơi đi rất nhiều. Vật chất và đời sống đầy đủ của nước Nhật đã không thể mang đến cho người cha kia hạnh phúc nhưng một ký ức đẹp đã cứu ông khỏi đau đớn và tuyệt vọng. 

Sau trận sóng thần san phẳng thành phố, những người dân yêu cầu chính quyền địa phương giúp họ xây dựng lại những ngôi nhà cũ với cả việc phục hồi vị trí của từng cái cây. Bởi tất cả những thứ đó đã lưu giữ biết bao kỷ niệm và bao câu chuyện trước đó trong đời sống của họ chứ họ không nhân dịp đó để xây một ngôi nhà to hơn. Cả hai quốc gia Yakutia và Nhật Bản đã thấu hiểu hạnh phúc là gì. Bởi thế mà họ đã làm những gì phải làm cho hạnh phúc.

Mới đây, những anh em trong nhóm “Nhân sỹ Hà Đông” chúng tôi đã mang những đạo sắc phong của làng Hậu Xá, Ứng Hòa, Hà Nội bị đánh cắp mà chúng tôi mua lại để dâng lại cho dân làng. 

Những cụ già trong làng đón nhận các đạo sắc phong đó và nói: “Đình làng chúng tôi hiện nay được tu sửa và mua sắm nhiều thứ rất đắt tiền do những người làng có điều kiện cung tiến nhưng chúng tôi vẫn thấy trống rỗng. Chỉ khi nhận lại các đạo sắc phong thì đình làng chúng tôi mới có hồn”. Câu nói của một người nông dân rất đơn giản nhưng đã chạm đến cái lõi của văn hóa, của một đời sống tinh thần. 

Tôi có thể trở thành kẻ bất nhẫn ở một khía cạnh nào đó khi nói đến hạnh phúc hay nói đến thực đơn tinh thần nếu đất nước chúng ta đang sống trong một đời sống mà họ chỉ có trong tay một thực đơn thể chất với một món duy nhất: ĐÓI. 

Nhưng thực tế, đời sống vật chất của người dân chúng ta đã được cải thiện gấp trăm lần so với nửa thế kỷ trước. Cơn đói cơm áo không còn đe dọa hầu hết người dân chúng ta nhưng cơn đói tinh thần đang mỗi ngày một lan rộng. 

Có một điều mà tôi tin mọi người đều nhận thấy là sự vô cảm đang tăng lên, sự độc ác đang tăng lên. Hai điều tôi vừa nói hầu hết không bắt nguồn từ nguyên nhân đói khát. Bởi nếu chỉ vì nguyên nhân đói khát mà gây ra sự vô cảm và độc ác thì năm 1945 người Việt Nam sẽ lên đến đỉnh điểm của vô cảm và độc ác. 

Và chỉ vì đói khát thì nhân loại không bao giờ tạo ra được những giá trị tinh thần vô giá còn đến ngày nay bởi nhân loại đã phải trải qua những thời gian đói khát khủng khiếp. Nhưng chính tinh thần và văn hóa đã đưa con người thoát khỏi con đường của hoang thú và dựng lên những lâu đài văn hóa kỳ vĩ của nhân loại. 

Một cái dạ dày ngập tràn thức ăn chỉ giúp con người tồn tại như mọi thể thức sống khác còn một tâm hồn ngập tràn cái đẹp sẽ đưa chúng ta tới ánh sáng của hạnh phúc. 
(Nguồn: NVTPHCM)
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Bảy, 13 tháng 8, 2016

Trung Quốc đe dọa đòi Ấn Độ ủng hộ ở Biển Đông


Trung Quốc đe dọa đòi Ấn Độ ủng hộ ở Biển Đông

Trung Quốc bất ngờ đe dọa Ấn Độ khi đề cập khả năng tranh chấp quần đảo Andaman–Nicobar để đổi lấy sự ủng hộ ở Biển Đông.

Mặc cả mạo hiểm
Thiếu tướng Hải quân về hưu R.S Vasan của Ấn Độ mới đây có bài viết vạch trần âm mưu vừa đe dọa vừa dụ dỗ của Trung Quốc. Lần này, con bài mặc cả là quần đảo Andaman – Nicobar.
Theo báo chí Ấn Độ, Đại sứ Trung Quốc tại Ấn Độ đã đưa ra đề nghị New Delhi ủng hộ yêu sách chủ quyền phi lý của Bắc Kinh ở Biển Đông để đổi lấy việc thúc đẩy giải quyết tranh chấp biên giới dai dẳng giữa hai nước.
Đại sứ Trung Quốc đề xuất, một số nơi ở biên giới hai nước có thể được phân định theo đường McMahan nếu Ấn Độ ủng hộ yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông.
Đề xuất này được đưa ra hôm 19/4 khi một số học giả Ấn Độ được mời tham dự hội thảo về Biển Đông tại New Delhi. Đại sứ Trung Quốc nêu rõ: “Một ngày nào đó trong tương lai có thể xảy ra tranh chấp về quyền sở hữu đối với quần đảo Andaman và Nicobar”.
 Trung Quốc đe dọa đòi Ấn Độ ủng hộ ở Biển Đông  - Ảnh 1.
Tướng hải quân về hưu Vasan
Giới nghiên cứu Ấn Độ đã ngay lập tức lên tiếng cảnh báo Ấn Độ cần tăng cường bảo vệ quần đảo Andaman và Nicobar - vốn có ý nghĩa quan trọng đối với chiến lược phòng thủ hàng hải của Ấn Độ.
Khi các chuyên gia hàng hải của Ấn Độ tới thăm Trung Quốc hồi tháng 5/2016, phía Trung Quốc một lần nữa đe dọa “một ngày trong tương lai có thể xảy ra tranh chấp về quyền sở hữu đối với quần đảo Andaman và Nicobar”.
Theo tướng Vasan, Trung Quốc rõ ràng đã biết trước phán quyết của Tòa Trọng tài tại La Hay (Hà Lan) gây bất lợi cho mình và cố tìm sự ủng hộ ở nhiều cấp độ khác nhau cũng như giảm thiểu các lập luận chống lại Bắc Kinh.
Trung Quốc đã không bỏ qua Ấn Độ - quốc gia láng giềng khổng lồ và có tranh chấp lãnh thổ chưa được giải quyết, mặc dù hai bên đã trải qua 18 vòng đàm phán. Tranh chấp biên giới vẫn là cái gai trong quan hệ song phương.
Chuyên gia Ấn Độ cho rằng việc Trung Quốc đưa vấn đề quần đảo Andaman và Nicobar, thể hiện rõ năng lực nhìn xa của Trung Quốc, nhưng mặt khác cũng chỉ ra sự khôn ngoan của Bắc Kinh trong việc tranh thủ sự ủng hộ của các nước khác.
Ngay sau phán quyết của Tòa Trọng tài, Trung Quốc lên tiếng sẽ tham gia đàm phán song phương với Chính phủ Philippines để đảm bảo rằng không có phản ứng dữ dội ở Biển Đông.
Bất kỳ sự thay đổi nguyên trạng nào ở Biển Đông sẽ gây bất lợi cho kế hoạch dài hạn của Trung Quốc trong khẳng định tuyên bố chủ quyền của Bắc Kinh với các yêu sách phi lý dựa trên “quyền lịch sử”.
Áp đáo tại gia
Quần đảo Andaman và Nicobar được đánh giá có tầm quan trọng chiến lược với Ấn Độ. Sau khi người Anh rút khỏi Ấn Độ, quần đảo Andaman và Nicobar trở thành một phần của Ấn Độ vào năm 1950 và được hình thành vùng lãnh thổ liên minh vào năm 1956.
Lịch sử Ấn Độ ghi nhận vai trò của Chola và Marathas như là những người sở hữu các đảo này và sử dụng chúng để đẩy mạnh tham vọng chiến lược.
Rajendra Chola (sinh năm 1014, mất năm 1042) đã chinh phục quần đảo Andaman - Nicobar và sử dụng nó để tiến hành các cuộc chiến tranh chống lại Đế chế Wijaya ở Sumatra.
Trong thế kỷ 17, nơi đây được sử dụng như một căn cứ của đế chế Maratha và được lãnh đạo bởi Đô đốc Kanhoji Angre, dũng cảm chiến đấu chống lại quân Anh và Hà Lan.
Tướng Vasan nhấn mạnh việc Trung Quốc gợi lên tranh chấp trong tương lai đối với quần đảo Andaman - Nicobar đã gây ngạc nhiên. Cho tới nay, chưa có bất kỳ nghi ngờ gì về quyền sở hữu của Ấn Độ đối với các quần đảo này và trong lịch sử, Trung Quốc cũng không có sự hiện diện tại đây.
theo Đất Việt
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thích thì người ta cứ làm vậy đấy, sao nào?

Bộ Công Thương: Thua lỗ nghìn tỷ vẫn thăng tiến chóng mặt

Tiền Phong
Trong 2 năm sau khi rời khỏi chức vụ TGĐ Công ty CP Hóa dầu và Xơ sợi Dầu khí (PVTex), để lại dự án Nhà máy Xơ sợi polyester Đình Vũ đối mặt thua lỗ nặng, 2.000 tỷ đồng vốn chủ sở hữu gần như mất, ông Vũ Đình Duy được luân chuyển qua nhiều vị trí khác nhau với những quyết định bổ nhiệm để lại nhiều điều tiếng.
Thăng tiến chóng mặt
Việc bổ nhiệm ông Vũ Đình Duy, người từng nhiều năm giữ chức Tổng giám đốc Công ty CP Hóa dầu và Xơ sợi Dầu khí PVTex (ông Duy giữ chức Tổng giám đốc từ ngày 15/7/2009 đến tháng 2/2014) liên tiếp “có vấn đề” về quy trình, khi từ PVTex về làm Phó giám đốc Sở Công Thương Hải Phòng rồi làm Cục phó An toàn kỹ thuật và Môi trường công nghiệp với những quy trình bổ nhiệm bất thường.
Không chỉ dừng tại đó, chỉ một ngày trước khi Bộ Công Thương có Bộ trưởng mới, ông Vũ Đình Duy (sinh năm 1975, có học vị Thạc sỹ Công nghệ hóa học), tiếp tục được điều động làm Ủy viên Hội đồng thành viên Tập đoàn Hóa chất Việt Nam cho đến nay.
Bộ Công Thương: Thua lỗ nghìn tỷ vẫn thăng tiến chóng mặt - ảnh 1
Ông Vũ Đình Duy tại lễ công bố quyết định bổ nhiệm làm Phó Giám đốc Sở Công Thương Hải Phòng tháng 12/2014
Theo tìm hiểu của PV Tiền Phong, vài tháng sau khi bị giáng chức từ Tổng giám đốc, xuống làm Phó Tổng giám đốc PVTex, ngày 12/12/2014 Chủ tịch UBND TP Hải Phòng có Quyết định số 2816/QĐ-CT về việc tiếp nhận và bổ nhiệm ông Vũ Đình Duy (khi đó là Phó bí thư Đảng ủy, Phó Tổng giám đốc Cty Cổ phần Hóa dầu và Xơ sợi dầu khí, thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam), giữ chức Phó Giám đốc Sở Công Thương TP Hải Phòng với thời hạn bổ nhiệm 5 năm. Sáu ngày sau khi có quyết định, sáng 18/12/2014, Sở Công Thương Hải Phòng đã tổ chức lễ công bố quyết định của Chủ tịch UBND TP về việc bổ nhiệm Phó Giám đốc Sở Công Thương với ông Duy.
Tại lễ công bố, lãnh đạo UBND TP Hải Phòng đã chúc mừng ông Vũ Đình Duy trên cương vị mới, đồng thời khẳng định đây là kết quả ghi nhận sự nỗ lực, phấn đấu của ông Vũ Đình Duy trong thời gian qua, cũng như sự tin cậy của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố. Lãnh đạo UBND TP cũng yêu cầu ông Vũ Đình Duy tiếp tục rèn luyện, nêu cao tinh thần trách nhiệm, đoàn kết cùng tập thể cơ quan Sở Công thương, đóng góp vào sự phát triển của ngành Công thương thành phố.
Theo một lãnh đạo Sở Công thương Hải Phòng, việc ông Vũ Đình Duy được đưa về làm Phó Giám đốc Sở Công Thương Hải Phòng thực hiện theo thỏa thuận giữa UBND thành phố và Bộ Công Thương. Quy trình bổ nhiệm ông Duy làm Phó giám đốc sở cũng được tiến hành khá thuận lợi, nhanh chóng. “Khi về sở, ông Duy được giao phụ trách mảng công nghiệp với lý do là người có thực tiễn ở doanh nghiệp. Trong suốt thời gian 6-7 tháng ông Duy làm việc tại sở, mọi việc diễn ra bình thường”, nguồn tin từ Sở Công Thương TP Hải Phòng cho biết.
Bộ Công Thương: Thua lỗ nghìn tỷ vẫn thăng tiến chóng mặt - ảnh 2
Ông Vũ Đình Duy tại lễ công bố quyết định bổ nhiệm làm Cục phó Cục Kỹ thuật an toàn và Môi trường công nghiệp hồi tháng 6/2015.
Điều động làm lãnh đạo, đơn vị không được hỏi ý kiến?
Đúng 6 tháng sau khi nhận chức Phó giám đốc Sở Công Thương, ngày 18/6/2015, Bộ trưởng Công Thương Vũ Huy Hoàng ký Quyết định số 6139/QĐ-BCT bổ nhiệm ông Vũ Đình Duy giữ chức Phó Cục trưởng Cục An toàn kỹ thuật và Môi trường công nghiệp. Ngày 30/6/2015, tại trụ sở Bộ Công Thương, Thứ trưởng Hoàng Quốc Vượng đã trao quyết định bổ nhiệm Phó Cục trưởng Cục Kỹ thuật an toàn và Môi trường Công nghiệp cho ông Duy.
Theo một nguồn tin của Tiền Phong, việc bổ nhiệm ông Vũ Đình Duy vào vị trí cục phó này để lại điều nhiều “điều tiếng” tại Bộ Công Thương do việc bổ nhiệm “thừa” cục phó và “có vấn đề về quy trình”. “Điều tiếng” xuất phát từ việc “một ngày đẹp trời” lãnh đạo Cục Kỹ thuật an toàn và Môi trường Công nghiệp nhận được văn bản của Vụ tổ chức cán bộ của Bộ đề nghị làm thủ tục bổ nhiệm Duy về làm Cục phó.
Lãnh đạo cục đã phản ứng quyết liệt vì khi đó Cục đã có đủ 3 phó cục trưởng theo quy định. “Chắc có họ hàng gì đó (với Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng-PV)  nên ấn về cục. Sau khi lãnh đạo Cục phản ứng, bên Vụ tổ chức cán bộ mới cho biết là do Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng có ý kiến đưa Duy về làm Cục phó?
Khi chúng tôi phản ứng, Vụ rút lại quyết định “tiền trảm hậu tấu” và làm một công văn khác gửi xuống Cục đề nghị cho ý kiến. Cục cũng có văn bản trả lời là đã đủ biên chế (1 Cục trưởng, 3 Cục phó) giờ đưa thêm người về làm cục phó là quyền của bộ”, vị này cho biết và xác nhận những công việc mà Duy làm chỉ là những việc “đơn giản” so với công việc của các Cục phó khác do… không có chuyên môn. “Thực ra, Duy cũng nói khi về cục chỉ là “bước đệm” để sau đi chỗ khác. Khi đã nói thế thì mình cũng không làm căng thẳng lắm”, một lãnh đạo Cục này cho biết.
Trao đổi với chúng tôi, một lãnh đạo của Cục An toàn kỹ thuật và Môi trường công nghiệp xác nhận, việc đưa Vũ Đình Duy về làm Cục phó đúng là có vấn đề. “Còn vì sao bổ nhiệm thì phải hỏi sếp (hỏi nguyên Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng - PV). Việc đưa Duy về là không đúng quy trình. Chúng tôi cũng phản đối nhưng sau ông ấy (ông Vũ Huy Hoàng-PV) vẫn quyết nên chúng tôi ở dưới cũng không biết làm sao”, vị này nói và cho biết việc Vũ Đình Duy được đưa về cục theo kiểu “chưa có ý kiến của lãnh đạo cục thì đã có quyết định bổ nhiệm rồi”. “Thậm chí còn phải lấy lại số quyết định bổ nhiệm sau khi có ý kiến phản đối của Cục. Khi về đây, Duy được phân công theo dõi về vấn đề môi trường. Tiểu sử của đồng chí này đến nay tôi và nhiều anh em trong Cục cũng không rõ”, vị này tiết lộ.
Bộ Công Thương: Thua lỗ nghìn tỷ vẫn thăng tiến chóng mặt - ảnh 3
Ông Vũ Đình Duy tại lễ công bố quyết định bổ nhiệm làm Ủy viên Hội đồng thành viên Tập đoàn Hóa chất Việt Nam ngày 14/4/2016.
Bổ nhiệm ngay trước “đêm chuyển giao quyền lực”
Sau khi về làm Cục phó Cục Kỹ thuật an toàn và Môi trường công nghiệp, hơn 11 tháng sau, ngày 8/4/2016, ông Vũ Huy Hoàng đã ký Quyết định số 1369/QĐ-BCT điều động và bổ nhiệm ông Vũ Đình Duy, phó cục trưởng Cục kỹ thuật an toàn và Môi trường công nghiệp, Bộ Công thương giữ chức Thành viên Hội đồng thành viên Tập đoàn Hóa chất Việt Nam kể từ ngày 8/4/2016.
Điều đáng nói, quyết định điều động và bổ nhiệm cán bộ này được Bộ trưởng Công Thương Vũ Huy Hoàng ký đúng một ngày trước khi Bộ Công Thương có tân Bộ trưởng là ông Trần Tuấn Anh (ông Trần Tuấn Anh chính thức trở thành tân Bộ trưởng Bộ Công Thương, sau khi được Quốc hội phê chuẩn sáng ngày 9/4).
Đúng 6 ngày sau đó, lễ công bố quyết định được Bộ Công Thương tổ chức chiều 14/4/2016 tại trụ sở Tập đoàn Hóa chất Việt Nam. Người đại diện của Bộ Công Thương được cử trao quyết định là Thứ trưởng Hoàng Quốc Vượng.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Vạch trần bộ mặt của quân đội Trung Quốc [Tin mới nhất]

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Lịch sử, sự thật và sử học


GS. Hà Văn Tấn

“Ai ai đều đã bằng câu hết 
nước chẳng còn có Sử Ngư” 

Đó là hai câu thơ trong bài thơ cuối cùng của mười bốn bài “mạn thuật” mà Nguyễn Trãi đã để lại cho chúng ta. Thật là cay đắng khi mà mọi người uốn cong như lưỡi câu, và chẳng còn ai nói lên sự thật nữa, chẳng còn ai như Sử Ngư nữa. Sử Ngư là một chép sử nước Vệ thời Xuân Thu, nổi tiếng về thẳng thắn và trung thực. Khổng Tử đã từng khen: “trực tai Sử Ngư” (Sử Ngư thẳng thay).

Cho đến hôm nay, đọc câu thơ Nguyễn Trãi chúng ta vẫn như tê tái với nổi đau của ông, làm sao có thể sống trong xã hội mà mọi sự thật đều bị che đậy và xuyên tạc. Trong những thời kỳ như vậy, người chép sử, nhà sử học, những người có nhiệm vụ nói lên sự thật, không biết bị dằn vặt như thế nào? Ngày nay chúng ta đang sống trong một giai đoạn cần nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật đáp ứng yêu cầu của nhân dân của đất nước. Đã đến lúc những người chép sử, nhà sử học phải tự hỏi rằng “sử bút” của mình có thật nghiêm chưa, đã viết đúng sự thật lịch sử hay chưa?



Từ thời cổ đại người ta đã yêu cầu cho việc chép sử là nêu gương cho nhân dân và đem lại bài học cho những nhà cầm quyền. Polibious, nhà sử học Hy Lạp vào thế kỷ 2 TCN, đã nhận thấy rằng sử học có tính Pagmatikos, tức thực dụng. Trong các vị thần Muses Hy Lạp thì nữ thần Clio là thần sử học, nhưng tên Clio là bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp là Kleio nghĩa là ca tụng, biểu dương.

Ở Phương Đông Khổng Tử viết kinh Xuân Thu, bộ sử lớn của Trung Quốc cổ đại, là cốt để “bao biến” tức là khen và chê các hành vi của nhân vật lịch sử. Cái mẫu mực sử học thực dụng còn tồn tại rất lâu dài về sau, nhất là ở Phương Đông. Ta hãy đọc những dòng của Phạm Công Trứ trong bài tựa sách đại việt sử ký tục biên : “Vì sao phải viết quốc sử? Vì sử chủ yếu ghi chép công việc. Có chính trị của một đời tất phải có sử của một đời mà sự ghi chép của sử giữ nghị luận rất nghiêm, tụ điểm việc trí trị thì sáng tỏ ngang với mặt trời, mặt trăng, răn đe kẻ loạn tặc thì ráo riết như sương thu lạnh buốt, người thiện biết thì có thể bắt chước, người ác biết thì có thể tự răn, quan hệ với chính trị thì không thể là ít, cho nên mới làm ra quốc sử”.

Một mục đích thực dụng như vậy đặt ra cho sử học tất nhiên đã ngăn cản không ít việc nói lên sự thật của lịch sử. Thường thì người ta chỉ chọn chép những sự kiện nào có lợi cho đường lối chính trị, hoặc làm thay đổi sự kiện cho phù hợp với ý muốn của nhà cầm quyền.

Nhưng ngay trong hàng ngũ các nhà sử học thời cổ cũng đã có người cho rằng cần làm thế nào để phục vụ đời sống và chính trị không làm haị đến thiên chức nói sự thật của nhà sử học. Chẳng những thế, họ còn cho rằng sử có chép đúng sự thật thì mới phục vụ tốt cho đời sống và chính trị. Ciceron ở la mã đã gắn historia magistra vitae(lịch sử chính yếu của cuộc sống) với yêu cầu đạt tới Lus Veritatis (ánh sáng của sự thật. Trong Deoratore, ông đã viết “luật thứ nhất của chép sử là không giám nói cái giả mạo, luật thứ hai là giám nói tất cả những gì là sự thật”.

Còn Lê Quý Đôn của chúng ta, ở đầu tập Đại Việt thông sử, đã dẫn một loạt các câu nói của các nhà sử học đời trước để coi việc chép sử đúng sự thật như một tôn chỉ của việc soạn sử. Và để giữ được tôn chí đó, cuối cùng ông đã chép lại câu của Yết Hề Tư đời Nguyên “ việc soạn sử phải lấy việc dùng người làm gốc, người có văn mà không biết chép sử thì không thể dự vào sử quán. Người có văn học lại kiêm biết cách soạn sử, nhưng bụng dạ bất chính cũng không được dự”.

Từ thế kỷ thứ 17 sử học thế giới đạt đến mẫu mực phê phán, đặt yêu cầu đem lại sự thật quá khứ. Và từ cuối thế kỷ thứ 19, khi sử học đạt đến mẫu mực cấu trúc và biện chứng, các hình ảnh của quá khứ mà sử học khôi phục còn phải được đặt trong cái toàn thể và sự vận động.

Nhưng biết sự thật không dễ, và dám nói lên sự thật nhiều khi càng khó hơn. Với ý của Yết Hề Tư mà Lê Quý Đôn đã dẫn, nhưng nói theo ngôn ngữ hiện đại thì như thế này :Muốn viết sử phải biết phương pháp sử học và trước hết phải là người trung thực chứ không phải là tên cơ hội. 

Viết sử là một nghề, nói như người pháp là Métier D Historien. Người viết sử phải được luyện rèn tay nghề. Cách dạy nghề, tức các sách viết về phương pháp sử học, thường nói đến hai bước cơ bản trong công tác sử học : bước thứ nhất là từ sử liệu, khôi phục sự kiện; bước thứ hai là giải thích và đánh giá sự kiện.

Ngay từ bước thứ nhất đã có những khả năng dẫn nhà sử học xa rời sự thật, đó là vì sử liệu thiếu, và phổ biến hơn vì sử liệu không được phê phán nghiêm túc. Nguời ta chia sử liệu ra làm hai loại: sử liệu trực tiếp và sử liệu gián tiếp. Sử liệu trực tiếp xuất hiện cùng với sự kiện, chẳng hạn trống đồng Ngọc Lũ, khẩu pháo điện biên hay văn bản hiệp nghị Paris… là sử liệu trực tiếp. Còn sử liệu gián tiếp là sử liệu nói đến sự kiện này qua một thông tin gián tiếp, tức tác giả sử liệu. Loại sử liệu này cần được giám định cẩn thận vì thông tin nhận được đã qua trung gian người thông tin. Chẳng hạn hồi ký là sử liệu gián tiếp. Ở đây các sự kiện xảy ra không đồng thời với sử liệu, tức là trước lúc hồi ký được viết nhà sử học Liên Xô M.N.Thernomorski đã viết cả một quyển sách dày, có đầu đề “ hồi ký với tư cách là sử liệu lịch sử” để trình bày các phương pháp để nghiên cứu nguồn sử liệu gián tiếp này.

Hiện nay nhiều công trình nghiên cứu sử học của chúng ta đã sử dụng những nguồn sử liệu gián tiếp một cách thiếu thận trọng. Sử liệu gián tiếp bao gồm cả những lời kể về sau của những người đã chứng kiến sự kiện. Các nhà nghiên cứu lịch sử địa phương hay lịch sử hiện đại, lịch sử đảng thường sử dụng nguồn tài liệu này, những lời kể như vậy thường được phân tích so sánh với các tư liệu khác, nếu không sẽ dẫn đến tình trạng là cùng một sự kiện, có thể được trình bày rất khác nhau. Tình hình càng xảy ra là nếu người thông tin là người hiện có uy lực chi phối ở địa phương thì lịch sử sẽ được viết theo cách nhìn nhận của người đó.

Đối với các thời kỳ xa xưa, sự sai lầm càng dễ xảy ra, vì sử liệu càng hiếm hơn, khó kiểm tra hơn. Trong nhiều trường hợp để khôi phục sự kiện nhà sử học phải vận dụng đến sự suy đoán lôgích, và thậm chí cả sự tưởng tượng. Nhưng trong trường hợp sự kiện được trình bày mới chỉ là giả thiết thì điều đó phải được nói rõ, đừng để người khác tin rằng đó là sự thật đích xác. Trong nhiều công trình sử học hiện nay, cái mới chỉ là giả thuyết với cái đã là sự thật, thường bị làm lẫn lộn.

Chẳng hạn không một nhà sử học nào có thể chứng minh được rằng bài thơ “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” là của Lý Thường Kiệt. Không có một sử liệu nào cho biết điều đó cả. Sử cũ chỉ chép rằng trong trận chiến chống quân Tống ở sông Như Nguyệt, một đêm quân sĩ nghe ngâm bài thơ đó trong đền thờ Trương Hống, Trương Hát, cóthể đoán rằng Lý Thường Kiệt đã cho người ngâm thơ. Đi xa hơn có thể đoán rằng Lý Thường Kiệt là tác giả bài thơ. Nhưng đó chỉ là đoán thôi, làm sao nói chắc đựơc đó là bài thơ của Lý Thường Kiệt. Thế nhưng cho đến nay, mọi người tin rằng đó là sự thật, hay đúng hơn không ai giám nghi ngờ đó không phải là sự thật.

Ta còn có thể dẫn ra những ví dụ khác về những sự kiện chắc là không thật mà nay nghiễm nhiên là “sự thật”,  ngay cả trong giai đoạn lịch sử gần đây.

Các nhà sử học thường chủ yếu dựa vào nguồn sử liệu viết. Mà nước ta, các văn bản sử liệu thường bị biến chuyển ghê gớm. Đó là chưa kể sự xuất hiện những tài liệu giả. Nếu trình bày sự kiện mà dựa vào sử liệu đã bị biến đổi hay sử liệu giả thì hiển nhiên không tránh khỏi những sai lầm.

Chẳng hạn, cuốn Binh thư yếu lược hiện có, được coi là của Trần Hưng Đạo, là một cuốn sách giả từ đầu chí cuối . Các nhà nghiên cứu viện Hán Nôm vừa làm một việc có ý nghĩa là chứng minh được cuốn sách giả mạo đó đã hình thành như thế nào. Thế nhưng khi viết về cuộc kháng chiến chống Nguyên hay về Trần Hưng Đạo, một số người vẫn dùng cuốn sách giả này. Thậm chí có lãnh tụ đã trích dẫn cuốn sách này trong diễn văn của mình. Đó là lỗi của các nhà sử học, họ đã không thuyết minh đầy đủ khi cho in bản dịch tác phẩm giả mạo này.

Còn các văn bản bị biến đổi, sữa chữa qua các thời kỳ rất nhiều. Thậm chí các văn bản hiện đại. Ngay bức thư của chủ tịch Hồ Chí Minh gửi các em học sinh mà hiện nay các em trong trường phổ thông vẫn học, vẫn trích, cũng đã sai, khác nhiều với văn bản đầu tiên còn được cất giữ ở cục lưu trữ Trung Ương. Các văn kiện khác cũng vậy. Về điểm này cần phải học tập thái độ của Mac và Angghen khi cho xuất bản Tuyên ngôn Đảng cộng sản năm 1872, hai ông viết rằng “Tuyên ngôn là một tài liệu lịch sử mà chúng tôi không có quyền sửa lại”. Các nhà sử học đòi hỏi phải có một thái độ như vậy đối với các văn kiện lịch sử.

Trên đây là chuyện phê phán sử liệu và miêu tả sự kiện, thực ra sự thật sẽ bị che lấp hay xuyên tạc là ở bước thứ hai, giải thích và đánh giá sự kiện. Đó là vì công việc này phụ thuộc vào mặt chủ quan của nhà sử học như quan điểm, nhận thức và nhân cách. Các nhà sử học chúng ta thường tự coi là người matxit nhưng bệnh thiên lệch lại hay dễ mắc. Mà thiên lệch, cường điệu một cách phiến diện, một mặt nào đó lại là đặc trưng của chủ nghĩa duy tâm . Vì vậy, nhiều sự thật lịch sử đã bị bỏ qua.

Trong một thời gian dài, do một động cơ tốt là phải tập trung binh lực cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, các nhà viết sử chỉ chú ý đến các trang sử chống ngoại xâm trong lịch sử dân tộc. Không chỉ trong các công trình chuyên luận, mà cả trong các bộ thông sử, cũng chỉ tập trung khai thác truyền thống đánh giặc giữ nước. Một nhà sử học Liên Xô khi bình luận một quyển sử Việt Nam do Uỷ Ban Khoa học Xã hội xuất bản đã có một nhân xét thú vị là các bản đồ trong sách, trừ một bản đồ hình thể chung, đều là bản đồ các trận đánh. Trong thời gian qua, hàng loạt các vấn đề kinh tế – xã hội của lịch sử Việt Nam đã không được chú ý đầy đủ.

Cũng là đề cao truyền thống, chúng ta thường đánh giá một chiều, chỉ nhận thấy cái hay cái tốt, dường như người ta không chấp nhận có truyền thống xấu. Đến nay, trong công cuộc xây dựng đất nước, chúng ta đang cần đánh giá đúng về con người Việt Nam, mà phần lớn là tính cách, khả năng đã được quy định qua lịch sử. Phải phân tích trung thực và khoa học các ưu điểm và nhược điểm của con người Việt Nam, chứ không phải cái gì cũng khen.

Chúng ta đã được đọc cả một cuốn sách dày đề cao truyền thống khoa học kỹ thuật Việt Nam. Tôi nghĩ truyền thống khoa học kỹ thuật Việt Namcũng đã đạt được một số thành tựu về kỹ thuật. Nhưng đề cao quá đáng truyền thống khoa học kỹ thuật của người Việt Nam xưa thì là một sự tô hồng không thật. Vả lại, đề cao ông nghè Vũ Hữu cuối thế kỷ 15, đầu thế kỷ 16 đã tính đủ số gạch xây tường không thiếu một viên, khi trên thế giới không chỉ châu Au (thời Copernic) mà ở Ả Rập (thời Al Kashi) đã có những công trình toán học cao, thì chỉ là một việc lố bịch.

Rồi người ta lại đề cao cả những truyền thống của làng xã cổ truyền, nhấn mạnh tính dân chủ của nó. Không hiểu vì sao các nhà sử học tự coi mình là Mác xít lại có thái độ “dân tuý” đến như thế. Ngày nay, khi cái cung cách, cái tâm lý “việc làng” đang khoác áo xã hội đi giữa chúng ta, các nhà sử học phải xem xét lại thái độ của mình trong việc đánh giá làng xã cổ truyền. Lịch sử Việt Nam anh hùng thật, vinh quang thật, trình bày nó lúc nào, chỗ nào cũng tốt đẹp cả, rực sáng cả thì quả là không thật. Nhà sử học không chỉ ngâm ngợi những thiên anh hùng ca mà không biết đến những khúc bi ca trong lịch sử.

Cũng thường thiên lệch khi chúng ta đánh giá các nhân vật lịch sử. Con người là cả một hệ thống những mối quan hệ phức tạp, bị quy định bởi các điều kiện xã hội tự nhiện, lịch sử. Thiếu một sự đánh giá xuất phát từ chủ nghĩa lịch sử dường như là căn bệnh chung của chúng ta. Một số người đã chỉ trích các nhân vật lịch sử vì họ không giống ta. Một số lại quá yêu các nhân vật đó, đến chỗ miêu tả tư duy và hành động của họ cứ y như là họ đã được học tập chủ nghĩa Mac- Lênin.

Chúng ta hãy nhớ lời Mac :” khoa học càng vô tư và không thiên vị thì càng phù hợp với quyền lợi và nguyện vọng của người công nhân”. Một nền sử học muốn tự biểu hiện là Macxít chân chính, chẳng những phải đặt cho mình nhiệm vụ khám phá chân lý của lịch sử, mà còn phải tỏ rõ khả năng đạt được sự thật khách quan. Cho đến nay nhiều học giả tư sản vẫn nghi ngờ tính khách quan của sử học. Ngay người bạn của chúng ta là Bertrand Russell cũng nói rằng:” sử học chỉ là dẫn ra những ngu xuẩn ngày hôm qua để giúp con người chịu đựng được những ngu xuẩn ngày hôm nay”. Chúng ta phải bác bỏ  những luận bằng cách chứng minh rằng nền sử học của chúng ta có khả năng đạt được sự thật khách quan, chứ đừng tiếp tục giúp thêm chứng cứ cho những luận điểm đó.

Từ khi chủ nghĩa duy vật biện chứng và lịch sử macxít ra đời, khám phá ra cơ chế hoạt động của sự thật phát triển xã hội, các nhà sử học được cung cấp một mô hình giải thích lịch sử có tính nhất thể – năng động, kết hợp cả hai mặt cấu trúc và biến đổi. Sử học vươn tới phát hiện quy luật và nhờ đó sử học không những nhận thức được quá khứ mà còn chuẩn bị cho những khả năng dự báo. Nhưng sử học muốn thực hiện các chức năng đó, khảo sát con đường đã qua và góp phần nhận thức con đường sắp tới, một điều kiện cơ bản là phải biết sự thật và nói lên sự thật.

Đã là con người, không phải là ông thánh, thì có lúc đúng lúc sai. Đó là chuyện thường tình. Nhưng thật là không công bằng khi chỉ vì khuyết điểm của thời kỳ này, ta sổ toẹt hết cả công lao của nhân vật đó, khi ở thời kỳ khác, đóng góp của người đó rõ ràng, không thể chối cãi. Nhà sử học Mác xít không thể chấp nhận một thái độ như vậy. Tại sao chúng ta không noi gương Lênin trong việc đánh giá nhân vật như Plê-kha-nốp?.

GS Hà Vãn Tấn

Tạp chí Tổ quốc, tháng giêng, 1988.
In lại trong: Một số vấn đề Lý luận Sử học, Nxb ĐHQGHN, 2007.
Phần nhận xét hiển thị trên trang

“Ngõ lỗ thủng” ở Hội nhà văn Việt Nam



Hồng Diệu
Tiền Phong 
06:40 ngày 14 tháng 08 năm 2016

TP - Chuyện về hưu của giám đốc NXB Hội Nhà văn, cơ quan cấp hai của Hội nhà văn Việt Nam, không có gì đáng nói. Nếu như vị giám đốc ấy, nhà văn Trung Trung Đỉnh không bức bối trả lại… quyết định về hưu, một hành động hi hữu xưa nay. Sự việc lùm xùm này, giống như một “ngõ lỗ thủng” (tên một tác phẩm của Trung Trung Đỉnh) ở Hội đông đảo hội viên nhất nhì Việt Nam, cũng là nơi sản sinh và đề cao những giá trị tinh thần. 

 
Nhà văn Trung Trung Đỉnh (phải) thăm một người bạn chiến đấu ở An Khê, Gia Lai. 
Ảnh: Nguyễn Quang Tuệ

“Quả bom” sát ngày thương binh- liệt sĩ

Những người yêu văn học đều biết nhà văn Trung Trung Đỉnh trước hết là một người lính. Sau chiến tranh, ông trở về cuộc sống đời thường mang theo những vết thương đi cùng năm tháng. Cho nên, cứ đến dịp 27/7 hằng năm ông lại ngóng chờ bạn bè: “Ngày 26/7, sát ngày 27/7, tôi đang hóng mấy người bạn là cựu chiến binh đến để chúc mừng nhau, ăn nhậu, thì ông Trần Đăng Khoa tới.

Trước đó, cô phó giám đốc NXB có thông báo: Hôm nay chú Khoa đến có việc. Tốt quá. Tôi cứ nghĩ “chú Khoa” đến để chúc mừng tôi và đồng đội. Nhưng chú ấy đến lại nói: Em đến báo cáo bác, em thừa lệnh của đồng chí Chủ tịch, đưa thông báo về hưu của bác, của cô Thư (nhà văn Nguyễn Thị Anh Thư, Phó tổng biên tập NXB Hội nhà văn-PV), anh Quí (nhà thơ Trần Quang Quí, Phó giám đốc kiêm phó tổng biên tập NXB Hội nhà văn- PV).

Tôi kéo ông Khoa xuống phòng họp vì anh em đã chờ ở đó rồi. Ông Khoa nói lí do và đưa cho tôi cái phong bì trong đó có cái quyết định: Ông Phạm Trung Đỉnh (Tức nhà văn Trung Trung Đỉnh- PV) nghỉ quản lí để giao toàn bộ công việc cho ông Trần Quang Quí đúng ngày 1/8. Hôm đó là ngày 26/7, tức là sau 5 ngày tôi phải bắt tay bàn giao toàn bộ công việc. Tôi thấy cái quyết định của bà Thư và tôi có đề ngày giờ về hưu cụ thể, của ông Quí lại đề chung chung: Quí 2, năm 2017, tức là sang năm, không đề ngày, giờ. Tôi thấy ngạc nhiên, bèn hỏi ông Phó chủ tịch Hội nhà văn: “Tôi có bị kỷ luật gì không? Có vấn đề gì không”? Ông Khoa bảo: “Có gì mà kỷ luật”. Tôi thắc mắc: “Không có kỷ luật tại sao trong mấy ngày tôi phải bàn giao công việc như thế?”.

Ông Khoa đáp: “Thì anh là trưởng phải bàn giao cho phó chứ sao?”. Tôi chưa chịu: “Vâng, tôi bàn giao. Nhưng tôi hỏi lại, tôi có bị kỷ luật không?”. Ông Khoa khẳng định lại: “Không”. Tôi nói: “Tôi thấy quyết định này không hợp lí, tôi trả lại anh. Anh cứ đem về báo cáo lại với ông chủ tịch đi”. Sau đó, ông Khoa đem xuống phòng hành chính của NXB gửi lại. Tôi nói với phòng hành chính mang quyết định sang Hội nhà văn”.

Kể đến đây, tác giả “Ngõ lỗ thủng” bình: “Tôi hơi bị xúc phạm vì mình ở đây lâu năm rồi, đi bộ đội lâu năm rồi, làm việc bao năm nay rồi, về hưu không là cái gì quan trọng, mình cũng đang ngóng chờ, đang nghĩ đến những cuộc đi chơi với bạn bè, đang nghĩ đến chuyện cơ quan phải tổ chức như thế nào trước khi về cho vui vẻ. Tự nhiên làm như thế, tôi sốc. Tôi bỏ đi”.

Một ngày hai quyết định bàn giao

Theo tài liệu nhà văn Trung Trung Đỉnh lưu lại, trong cùng ngày 25/7, BCH Hội nhà văn Việt Nam đưa đến hai quyết định về việc nghỉ hưu của cán bộ, công chức, viên chức, cụ thể trường hợp ông Phạm Trung Đỉnh. Hai quyết định (đưa hai lần) có hai nội dung không giống nhau. Quyết định ban đầu ghi: “Ông Phạm Trung Đỉnh, Giám đốc nhà xuất bản- Hội nhà văn Việt Nam nghỉ quản lí để bàn giao cho ông Trần Quang Quí, Phó giám đốc phụ trách từ ngày 1 tháng 8 năm 2016”.

Quyết định thứ hai ghi: “Ông Phạm Trung Đỉnh, Giám đốc NXB-Hội nhà văn Việt Nam nghỉ quản lí để bàn giao cho Ban giám đốc Nhà xuất bản. Thời gian bàn giao từ ngày 1 tháng 8 năm 2016 đến ngày 31 tháng 8 năm 2016. Trước sự chứng kiến của ông Trần Đăng Khoa, Phó chủ tịch kiêm Trưởng ban tổ chức- Hội viên”.
 
 
Nhà văn Trung Trung Đỉnh thăm vợ chồng nghệ sĩ H’ben ở Tây Nguyên. 
Ảnh: Nguyễn Quang Tuệ 
 
Trước phản ứng dữ dội của Giám đốc NXB Hội nhà văn, cả ban giám đốc được BCH Hội nhà văn mời đến họp: “Ông Chủ tịch Hội nói đủ thứ chuyện nhưng câu đầu tiên vào họp, ông Thỉnh nói: “Khi tôi đi làm lí lịch về đại biểu Quốc hội có mục bạn thân nhất của ông là ai, tôi đã trả lời: Là Trung Trung Đỉnh.

Tôi về nhà con tôi, vợ tôi hỏi: Bạn thân nhất của bố bây giờ là ai? Tôi nói: Trung Trung Đỉnh”. Trung Trung Đỉnh kể đến đây lại bình: “Tôi thấy ông Thỉnh nói hay quá. Tôi định phản ứng nhưng nghĩ là cũng không nên. Sau đó ông ý còn nói dông dài, nào tôi nhận được thư ngỏ của anh Đỉnh, nào anh Đỉnh đề xuất người này người kia nhưng BCH chúng tôi họp thì mỗi nhân vật đề xuất chỉ được một phiếu”.

Tôi hỏi Trung Trung Đỉnh: “Theo anh, lí do gì người ta muốn cho anh về gấp?”. Nhà văn cho rằng: “Thực ra ý đồ của ông Chủ tịch là làm thật nhanh để đưa ông Quí lên. Nhưng ông ý không thể áp đặt được, muốn đưa ai lên cũng phải theo qui trình: 3 lần ông Thỉnh yêu cầu NXB làm thăm dò trường hợp của ông phó giám đốc Trần Quang Quí thì cả 3 lần đều không đạt, 2 lần trượt cấp ủy. Tôi nói luôn với BCH (có mặt cả ông Quí ngồi đó): Tôi không bàn giao cho người mà 3 lần thăm dò tín nhiệm, 2 lần cấp ủy đều trượt, như vậy là một đảng viên kém uy tín”.

Rồi Trung Trung Đỉnh tổng kết: “Chuyện về hưu của tôi là chuyện dĩ nhiên. Không phải bàn. Tôi đã chủ động trước rồi. Tôi đã viết thư ngỏ trước khi chuẩn bị về hưu, tôi muốn chuẩn bị trước. Nếu BCH ủng hộ NXB thì rất nên sang NXB xem cụ thể thế nào rồi có ý kiến. Họ không thăm dò, không gặp gỡ… Như thế là đánh mất uy tín của anh em NXB. 

Tôi cũng đề xuất xin ông Sương Nguyệt Minh (nhà văn Sương Nguyệt Minh –PV), thay thế tôi 3 năm nay rồi. Về phía cá nhân Sương Nguyệt Minh thì không vấn đề gì nhưng nếu BCH đồng ý thì cử người sang bên quân đội xin ông về thôi, chứ ông Sương Nguyệt Minh đâu thể tự làm được”. 
.
Nhà văn Sương Nguyệt Minh. Ảnh: Nguyễn Đình Toán.

Nhà thơ Trần Quang Quí. Ảnh: Nguyễn Đình Toán 
 
Liệu cuộc nghỉ hưu của Trung Trung Đỉnh có bắt nguồn từ mâu thuẫn cá nhân giữa ông và Chủ tịch Hội nhà văn? Sự mâu thuẫn có phải như trong giới đồn thổi, bắt đầu từ bài chân dung Trung Trung Đỉnh viết về người đứng đầu Hội nhà văn, đã hồn nhiên khoe quá khứ “đi buôn” của nhà thơ nổi tiếng? Tác giả “ngõ lỗ thủng” lắc đầu: “Âm ỉ nhiều thứ rồi, không phải từ bài chân dung đó đâu. Sau này, tôi in sách còn nhiều thứ nữa. Tôi là người viết, khi viết tôi phải trung thực. Tôi viết thế là vui, là hay chứ, không thể ghét tôi được. Ông ý ghét tôi vì nhiều thứ. Hồi tôi còn ngồi BCH họp cái gì tôi cũng nói thẳng, nói thật. Hôm trước họp BCH ai cũng ca ngợi ông Thỉnh tốt đẹp, trong sáng, tình cảm, tôi biết tôi thua rồi nhưng tôi không có ý chiến đấu mà chỉ muốn nói thẳng, nói thật ý của tôi. Tôi không có nhu cầu xin gì cả”.

Về chuyện về hưu ở Hội nhà văn, Trung Trung Đỉnh kể: “Các cơ quan cấp 2 của Hội đều lần khân. Những cán bộ của Hội nhà văn có “luật” đến tuổi về hưu cộng thêm 5 tuổi nữa. Sau này, bỏ “luật”, chỉ cộng thêm 2 tuổi nữa thôi, sau tuổi về hưu. Song cũng có thực hiện như vậy đâu”. Về phần mình, nhà văn Trung Trung Đỉnh tiết lộ: “Tôi đã làm 3 đơn xin về hưu từ ngày đủ tuổi đến nay.

Hôm họp BCH, ông Thỉnh có nhắc, đã giữ lại 3 quyết định về hưu của tôi, để chứng minh sự thật là ông thương quí tôi. Ông giơ 3 quyết định ra thì tôi xem thôi, ông đóng dấu cũng quyền của ông thôi. Chứ trước đó, tôi chưa từng nhận được quyết định nào…” Nhà văn Trung Trung Đỉnh cũng bật mí thêm trong suốt quá trình làm việc ở NXB Hội nhà văn, ông từng tha thiết mời một số nhà văn tên tuổi về thay mình như nhà thơ, nhà văn Nguyễn Bình Phương, nhà văn Cao Duy Sơn, sau này là nhà văn Sương Nguyệt Minh.
Mong chờ sự tử tế
Gây sốc cho nhau chỉ chứng tỏ các anh sống với nhau chả có tình cảm gì. Tôi nghĩ riêng việc này anh Đỉnh sốc là đúng.
Cách làm này Hội nhà văn nói thế nào cũng  sai. Sai về nguyên  tắc hành chính. Không tôn trọng cơ quan người ta đang làm việc. Đây là nằm trong hệ thống sự coi thường, chuyên quyền của một số người, coi thường nguyên tắc.
Ngó sang bên Tạp chí Thơ ông phó tổng biên tập nhiều tuổi rồi chứ, có chấp hành chấp tỏi gì đâu, vẫn ngồi đấy thôi? Phản ứng của ông Đỉnh không phải “tham quyền cố vị” mà là người ta ứng xử với ông không tử tế. Hơn bao giờ hết người ta mong chờ sự tử tế ở đây.      
(Nhà phê bình Ngô Thảo)
Kỷ niệm chương của ngành xuất bản?
Theo ông Chu Hòa, Cục trưởng Cục Xuất bản, In và Phát hành, với vị trí và đóng góp của ông Trung Trung Đỉnh, nếu có đề nghị từ cơ sở thì giám đốc NXB Hội nhà văn trước khi về hưu có thể được nhận Kỷ niệm chương của ngành xuất bản.
Cho đến nay, Cục chưa nhận được thông báo chính thức bằng văn bản về việc ông Trung Trung Đỉnh về hưu. Nếu có thông báo chính thức, Cục sẽ có buổi làm việc với cơ quan chủ quản để giúp NXB tiếp tục hoạt động hiệu quả.  Ông cũng trao đổi ngoài lề rằng, trao vị trí giám đốc NXB cho ai cũng phải đủ tiêu chuẩn, nếu bàn giao cho một người mấy tháng nữa cũng đủ tuổi nghỉ hưu thì có thể gây ra tư duy nhiệm kỳ.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nguyên giám đốc Sở Y tế Thanh Hóa lạm quyền tuyển hơn 3.700 lao động


Trong 5 năm (2011-2015), ông Hoàng Sỹ Bình, nguyên Giám đốc Sở Y tế Thanh Hóa đã ký quyết định tuyển dụng hơn 3.700 lao động vào các cơ sở y tế và bổ nhiệm, luân chuyển nhiều cấp phó phòng không qua tổ chức

Thanh tra tỉnh Thanh Hóa vừa có kết luận về việc nguyên Giám đốc Sở Y tế Hoàng Sỹ Bình mắc nhiều sai phạm, tự ý tuyển dụng 3.721 cán bộ trái quy định giai đoạn 2011-2015. Sự việc chỉ vỡ lở khi một số cán bộ được tuyển dụng vào làm việc dưới thời ông Bình bị chậm nhận lương, phụ cấp, một số bị “cò” xin việc lấy tiền nhưng không có việc làm nên bức xúc gửi đơn đến cơ quan chức năng đề nghị can thiệp.
nguyen-giam-doc-so-y-te-thanh-hoa-lam-quyen-tuyen-hon-3700-lao-dong
Ông Hoàng Sỹ Bình, nguyên Giám đốc Sở Y tế Thanh Hóa. Ảnh: Lam Sơn.
Theo kết luận Thanh tra, các năm 2009-2011, ông Hoàng Sỹ Bình đã ký quyết định tuyển dụng viên chức, hợp đồng lao động tại các đơn vị trực thuộc Sở Y tế trái thẩm quyền. Đã có 3.721 lao động được tuyển vào làm việc tại các cơ sở y tế trong tỉnh. Trong đó 4 Trung tâm Y tế tuyến tỉnh đã tuyển sai 60 lao động hợp đồng gồm một bác sĩ, 59 vị trí khác; 10 Trung tâm Y tế tuyến huyện tuyển 70 lao động hợp đồng gồm 4 bác sĩ và 66 vị trí khác. Còn lại các lao động được tuyển dụng ở 15 bệnh viện. Toàn bộ số lao động tuyển dụng trên Sở Y tế đều không trình Chủ tịch UBND tỉnh phê duyệt theo phân cấp quản lý nhà nước.
Ngoài việc tuyển dụng hàng nghìn lao động trái thẩm quyền, thời gian giữ cương vị giám đốc Sở, ông Bình còn bổ nhiệm, luân chuyển nhiều lãnh đạo cấp phòng không nằm trong quy hoạch, không làm quy trình bổ nhiệm, gây bức xúc cho đội ngũ cán bộ y tế.
Quyết định số 3766/QĐ-UBND (ngày 26/11/2008) của UBND tỉnh Thanh Hóa quy định: Văn phòng, các phòng chuyên môn của Sở Y tế chỉ được cơ cấu một trưởng phòng và không quá 2 phó phòng, nhưng ông Bình vẫn bổ nhiệm vượt định mức gấp nhiều lần. Như Phòng Nghiệp vụ Y năm 2011-2013 thừa 2 phó phòng; năm 2014 thừa 3 phó phòng; năm 2015 thừa 2 phó phòng. Phòng Kế hoạch - Tài chính năm 2015 thừa một phó phòng; Phòng Tổ chức cán bộ năm 2015 thừa một phó phòng…
Ngoài ra, Sở Y tế còn bổ nhiệm 4 trường hợp là viên chức các đơn vị sự nghiệp về văn phòng Sở giữ các chức danh lãnh đạo phòng chuyên môn, không làm quy trình bổ nhiệm, bổ nhiệm không trong quy hoạch.
Kết luận thanh tra chỉ rõ, việc tuyển dụng nhân sự của Sở Y tế Thanh Hóa đều thực hiện sai quy trình, không công khai danh sách người dự tuyển; xét tuyển không có đại diện Phòng Tổ chức cán bộ; số lượng viên chức cần tuyển bằng hồ sơ tham gia dự tuyển…
Liên quan đến vụ việc, ngày 13/8, ông Trịnh Hữu Hùng, Giám đốc Sở Y tế Thanh Hóa, cho biết đã ký quyết định hủy bỏ 3 văn bản trái quy định do ông Hoàng Sỹ Bình (nguyên Giám đốc Sở giai đoạn 2009-2015) ký ban hành. Về hướng giải quyết số cán bộ, nhân viên do ông Bình tự ý tuyển dụng, ông Hùng cho hay, trước mắt vẫn giữ nguyên việc làm cho người lao động.
Chánh Văn phòng UBND tỉnh Thanh Hóa Ngô Hoàng Kỳ cho hay, tới đây UBND tỉnh sẽ họp và có hướng xử lý tập thể, cá nhân liên quan. “Xử lý thế nào phải xem xét kỹ lưỡng vì còn liên quan tới nhiều đối tượng. UBND tỉnh cũng sẽ đánh giá xác định mức độ sai phạm, nếu vượt ngưỡng xử lý hành chính thì phải xử lý hình sự theo đúng quy định của pháp luật. Quan điểm của tỉnh, về hưu không có nghĩa là xong việc”, ông Kỳ nói.
Lê Hoàng

Phần nhận xét hiển thị trên trang