Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Năm, 11 tháng 8, 2016

Nhà giáo Phùng Hoài Ngọc: Vì sao sinh viên khối xã hội chán ngán trong học tập?


Kiều Phong (VNTB) - Những năm trở lại đây, có thể nhận thấy một sự xuống dốc rõ rệt của khối ngành Văn- Sử- Triết đại học (thực ra cần kể luôn cả chuyên ngành “Lý luận chính trị”, trước gọi là môn Mác- Lê Nin) ở Việt Nam. Các giảng đường không còn thiêng liêng như trước nữa, cả người thầy lẫn sinh viên đều hoạt động dưới công suất.
Chuyên mục phỏng vấn liên quan đến nền đào tạo gặp lại nhà giáo Phùng Hoài Ngọc- một cựu giảng viên văn khoa  đại học, cao đẳng tại miền Nam.
Nhà giáo Phùng Hoài Ngọc
·        Kiều PhongMến chào nhà giáo Phùng Hoài Ngọc trở lại với chuyên mục trao đổi về đào tạo đại học tại Việt Nam của Việt Nam Thời Báo. Là một giảng viên đại học lâu năm và từng tham gia quản lý khoa, bộ môn, xin thầy cho biết, những năm trở lại đây, sinh viên  khoa học xã hội, mà tiêu biểu là khối ngành văn –sử- triết có còn nhiệt huyết trong học tập như xưa hay không? 
·        Nhà giáo Phùng Hoài Ngọc: Ba bộ môn Văn Sử Triết bị ràng buộc chặt chẽ với học thuyết Mác- Lê và đường lối Đảng cộng sản, do đó bị quản lý chặt từ khâu giáo trình. Về mặt phương pháp dạy- học, giảng viên và sinh viên đều dạy và học theo đúng đường ray đã định sẵn. Do đó nếu thầy và trò có “nhiệt huyết” cũng chẳng thể chệch ra ngoài. Tư duy phản biện bị triệt tiêu luôn từ đầu. Có nhiệt huyết cũng bằng thừa. Thứ hai: sinh viên tốt nghiệp ra trường khó tìm được nơi sử dụng hơn các ngành Khoa học tự nhiên-Kỹ thuật. Nhìn vào tỷ lệ hồ sơ tuyển sinh đại học thì rõ ngay sự chênh lệch giữa hai khối thí sinh. Do đó, ngoại trừ một bộ phận các em sinh viên thực sự ưa thích ba môn đó, phần nhiều thí sinh cảm thấy yếu kém về các môn Khoa học tự nhiên-Kỹ thuật thì chọn ba môn xã hội kể trên,  họ cho rằng “dễ ăn” hơn, khả năng đỗ cao hơn. Nhìn vào bảng thống kê chấm điểm tuyển sinh thì bao giờ bảng điểm bên tự nhiên cũng cao hơn bên xã hội.
Sinh viên ngủ gục tại đại học KHXH-NV trong giờ học Văn học cổ điển năm 2016
·        Kiều Phong : Trước 1975, ở miền Nam, chẳng hạn ở đại học Văn khoa Sài Gòn, mỗi phòng học thường không quá 30 sinh viên. Ngày nay, giảng đường thời xã hội chủ nghĩa” lại xảy ra sự quá tải, mỗi môn chuyên ngành thường mỗi lớp có đến 70 sinh viên, cá biệt có những môn đại cương 250 sinh viên một lớp.  Sự quá tải đó phải chăng dẫn đến tình trạng lười học của sinh viên?
Nhà giáo Hoài Ngọc: “Sự quá tải” chủ yếu do nhà trường tham thu học phí và rút nhiều kinh phí ngân sách nhà nước tính trên đầu SV. Nếu nhà nước rót kinh phí theo đầu lớp thì tự nhiên nhà trường phải hạn chế thí sinh trên đầu lớp. Còn về các môn đại cương lớp quá đông là do nhà trường bố trí để giảm chi tiền thù lao thêm giờ cho GV. Tất nhiên lớp học quá đông thì chất lượng kém, ở cấp học phổ thông cũng vậy.
·        Kiều Phong : Cũng có người nói là sinh viên văn – sử - triết không được khuyến khích nghiên cứu: Không có tự do học thuật thì không có giáo sư giỏi, không có giáo sư giỏi thì không có sinh viên giỏi”. Thầy nhận xét thế nào về ý kiến này, đúng hay sai?
Nhà giáo Phùng  Hoài Ngọc: Chương trình đào tạo mỗi môn học do giảng viên phụ trách bộ môn soạn ra, thông qua Hội đồng khoa học, đều ghi rõ mục tiêu là “đào tạo Giảng Viên vững vàng lập trường tư tưởng Mác Lê Nin, thấm nhuần Đường lối Đảng Cộng Sản…”. Do đó nhà trường không khuyến khích tự nghiên cứu. Có chăng là “bài tập nghiên cứu” nhằm tỏ thái độ đồng thuận và minh họa thêm cho “chân lý có sẵn” thì thà không “nghiên cứu” còn hơn.
·        Kiều Phong : Một lý do nữa khiến sinh viên không ham mê học tập được cho là vấn đề việc làm. Những em tốt nghiệp làm cho nhà nước thì lương thấp, mà lại không được viết theo những điều mình tin là đúng. Còn lại các em không có việc làm, hoặc nếu có thì thường làm trái nghề. Làm thế nào để giải quyết được vấn nạn này ?
Nhà giáo Hoài Ngọc: Vấn đề việc làm đúng là khiến sinh viên lo lắng. Khi ra trường chủ yếu họ nhờ quan hệ thân quen bố trí sắp đặt, một bộ phận lo quà cáp cho những “đường dây”. Thậm chí làm việc trái chuyên môn cũng được, miễn là vào được biên chế nhà nước. Rồi dần dà tính sau. Khi tìm dược chỗ “êm” hơn thì lại “nhảy”. Vấn nạn này nhà nước cũng bó tay, chưa ai đưa ra được giải pháp.

Sinh viên ngủ gục tại đại học KHXH-NV trong giờ học Văn học cổ điển năm 2016
·        Kiều Phong : Giảng đường quá tải và thất nghiệp được cho là do tuyển sinh đầu vào một cách tràn lan. Theo thầy, nhà nước Việt Nam có nên siết chặt đầu vào tuyển sinh khối ngành văn – sử -triết, nghĩa là chỉ tuyển dụng tinh hoa xã hội vào học hay không? Chính quyền Sài Gòn cũ đã làm rất tốt.
Nhà giáo Hoài Ngọc: Trước hết chính phủ cần giảm bớt số trường đại học mở tràn lan trong khoảng gần chục năm nay. Về phía Bộ Giáo Dục và Trường đại học, cần giảm chỉ tiêu tuyển sinh khối xã hội, đồng thời nâng cao chất lượng tuyển sinh khối xã hội qua tuyển chọn. Năm nay bắt đầu bỏ thi tuyển sinh rầm rộ, chỉ còn tuyển chọn dựa trên kết quả bậc trung học (bảng điểm). Vậy chúng ta nên đặt hệ số cho các môn chuyên ngành. Chẳng hạn tuyển vào ngành Văn thì chọn thí sinh có điểm Văn trung học cao hơn, bằng cách nâng hệ số 2. Tương tự với Sử, Triết cũng làm như vậy (trung học không có môn Triết thì lấy môn Văn làm điểm tựa).
Nhìn chung, ngày nay sinh viên ngoài giảng đường và giáo trình, các em còn có cơ hội tiếp thu kiến thức và thông tin tự tìm tòi qua mạng internet. Hai khối kiến thức đó nhiều khi đối lập, mâu thuẫn với nhau. Các em sẽ băn khoăn, thắc mắc khi lựa chọn, đó là bi kịch và cũng là khó khăn của sinh viên giai đoạn này.
Kiều Phong: Cám ơn nhà giáo đã dành thời gian cho cuộc trao đổi ngắn này.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Những nguyên nhân suy tàn của đạo Phật tại Ấn Độ



Đạo Phật là một trong ba tôn giáo lớn trên thế giới, được ra đời tại Ấn Độ vào thế kỉ VI TCN. Nhưng chỉ sau hơn 2000 năm, Phật giáo đang gần như hoàn toàn biến mất khỏi Ấn Độ khi chỉ có 0,8% dân số là Phật tử, trái ngược với sự lớn mạnh của hơn 700 triệu tín đồ ở trên thế giới. Bài viết dưới đây xin chỉ ra một số nguyên nhân về sự suy tàn của Phật giáo tại Ấn Độ.
  1. Mất đi sự bảo trợ của vua chúa
Việc mất đi sự bảo trợ của giới vua chúa có thể được coi là một nguyên nhân chính khiến Phật giáo sớm suy tàn tại Ấn Độ. Từ khi ra đời vào thế kỷ VI TCN, đạo Phật đã phải trải qua hơn 200 năm mới có thể phổ biến trên toàn Ấn Độ và ra truyền bá đến Trung Á, trong đó có công lao không nhỏ của vua Ashoka, thế kỷ thứ III TCN. Tuy vậy, chỉ trong vòng 50 năm khi vua Ashoka mất vào năm 232 TCN, vương triều Maurya sụp đổ và Phật Giáo mất sự bảo trợ của vua chúa khoảng 300 năm cho đến thời vua Kanishka, vương triều Kushana vào năm 78 SCN. Ông là có chính sách dung hòa nhiều tư tưởng tôn giáo đông tây và bản địa, xúc tác cho việc hình thành tư tưởng Phật giáo Đại thừa, chủ yếu ở phía bắc Ấn (nên Phật sử hay gọi là “bắc truyền”). Vua Kanishka đã triệu tập một Hội Nghị Phật Giáo lần thứ 4 với sự tham gia của 500 vị Tỷ-khâu (tăng sỹ Phật giáo), tại Kashmir vào năm Phật lịch 544 (khoảng thế kỉ I), nhằm để thống nhất giáo lý của các nhánh Phật giáo- đại hội này chính là khởi điểm cho sự ra đời của Phật giáo Đại thừa và truyền bá sang Trung Quốc vào thế kỷ II. Đến khi triều đại Kushana sụp đổ vào thế kỷ thứ II thì Phật Giáo lại mất sự bảo trợ của hoàng gia.
Đến khi Đế quốc Gupta (320-550) hình thành tại vùng phía Bắc Ấn Độ thì các vị hoàng đế của vương triều Gupta lại là những người theo đạo Bà La Môn và giai đoạn này cũng đánh dấu cho sự phục hồi của Bà La Môn giáo. Vị Hộ pháp vương cuối cùng của Phật giáo trong lịch sử Ấn Độ, là Đức vua Harsha hay còn gọi là Giới Nhật Vương (590-657), vương quốc Kanauja, phía Bắc Ấn Độ. Ông là người sùng bái đạo Phật và có nhiều chính sách rất tích cực nhằm phổ biến đạo Phật đến toàn nhân dân. Vua Harsha đã viết ba tác phẩm kịch bằng tiếng Sanscrit gồm: Nagananda, Ratnavali và Priyadarsikạ với nội dung xoay quanh về Phật giáo. Thi sĩ nổi tiếng Bana hay Banabhatta, là người được giải thưởng của vua Harsha với tác phẩm Haracharita (Cuộc đời của vua Harsha), nó được xem là một văn kiện lịch sử quan trọng về vị Phật hoàng uy quyền này. Đến khi vua này mất vào vào năm 647 thì Phật Giáo hoàn toàn bị mất đi sự hậu thuẫn của vua chúa trong lịch sử Ấn Độ.
  1. Tình trạng cô lập của tu viện
Yếu tố liên quan mật thiết tới sự suy tàn của Phật giáo tại Ấn Ðộ chính là hố ngăn cách ngày càng rộng giữa các Tu viện và Phật tử tại gia, mà cả hai vốn được giả định là cùng kết hiệp chặt chẽ. Theo lý tưởng Phật giáo, giới tu sĩ và giới cư sĩ tương thuộc: tu sĩ cung ứng lý tưởng tôn giáo và những lời giảng về Phật pháp, còn cộng đồng cư sĩ cung cấp những hỗ trợ vật chất như thực phẩm, y phục và nơi ở, nói theo kiểu ngày nay là “hộ trì tam bảo”. Tuy nhiên, khi các tu viện ngày càng trở thành những định chế tự túc dồi dào và làm chủ đất đai, giới tu sĩ cảm thấy không nhất thiết phải chăm lo vận động sự hỗ trợ của giới cư sĩ. Hậu quả là mối liên hệ hỗ tương giữa họ và dân chúng dần dần biến mất.
  1. Sức sống của truyền thống Bà-la-môn
Khoảng năm 186 trước CN, triều đại Sunga nắm quyền ở bắc Ấn, khước từ Phật giáo và khích lệ các truyền thống “chính thống” của Ấn giáo. Từ thời điểm đó, Phật giáo phải đối mặt với sự hồi sinh của Ấn giáo. Tăng lữ Bà-la-môn sáng tạo các dạng thức mới mẻ để triển khai tư tưởng triết học của mình, thí dụ hệ thống Phi nhị nguyên chính thống của Sankara trong đó kết hợp nhiều cái nhìn thấu suốt của Phật giáo, để từ đó thiết lập các hình thức mới của đời sống thảo am và tu viện. Giới tu sĩ Bà-la-môn tìm cách chính thống hoá Ðức Phật, xem ngài là một hóa thân của Vishnu, vị thượng đế có rất nhiều hóa thân, như Rama và Krishna… và đưa ngài vào đền thờ các thần linh Ấn giáo.
Tín đồ Hindu giáo cũng đặt ra một hệ thống nghi lễ tôn giáo có tính tổng hợp, trực tiếp đáp ứng thoả đáng các nhu cầu tôn giáo và xã hội đa dạng của dân chúng. Cụ thể là sự hỗ tương ảnh hưởng giữa Mật tông Phật giáo và Mật giáo Ấn độ đã góp phần hóa giải ảnh hưởng đặc thù của Phật giáo. Trong khi đó, giới Bà-la-môn bắt đầu phát động các phong trào tận hiến, ra sức lôi cuốn sự yểm trợ rộng rãi của người dân Ấn, và Ấn giáo có thể thu hút và bảo lưu được ngày càng nhiều lòng trung thành của tầng lớp thượng lưu cũng như dân thường.
      4. Các cuộc ngoại xâm
Bước vào thế kỷ VI, các đạo quân Bạch Hung (Hephthalite) đã càn quét qua nhiều khu vực Trung Á và vùng Tây Bắc Ấn Ðộ. Sau người Bạch Hung, lần lượt các bộ lạc Trung Á tới và định cư giữa vùng bình nguyên sông Indus và sông Hằng. Đến thế kỷ 8, người Ả-rập Hồi giáo tới ở tại cửa sông Indus. Dần dần, các binh đoàn Hồi giáo chiếm đóng luôn cả vùng phía Đông Ấn Độ. Khoảng thế kỷ 13, người Hồi giáo lập nên Hồi quốc Delhi (1206-1526) ở Bắc Ấn, đồng thời tiếp tục tiến quân chinh phạt hết phía Bắc Ấn Độ và phá huỷ nhiều trung tâm Phật giáo lớn, thiêu huỷ kinh sách và giết hại nhiều Phật tử. Thêm nữa, một khi nắm quyền lực, người Hồi giáo xâm lăng đạt được những thành quả lớn lao trong việc cải đạo những tín đồ Phật giáo sang Hồi giáo. Phật giáo gần như bị triệt tiêu tại Bắc Ấn ngoại trừ một số ít nhóm sống rải rác. Tuy vậy, đạo Phật vẫn được thực hành tại Nam Ấn cho tới thế kỷ 15, rồi biến mất. Từ lúc ấy cho tới thế kỷ 20, tại Ấn Ðộ, Phật giáo được thể hiện chủ yếu trong những di tích đền đài cùng ảnh hưởng thẩm thấu và trường tồn trong Ấn độ giáo, Hồi giáo, đạo Sikh, và các truyền thống dân dã khác, làm thành văn minh Ấn độ. Ngay trong tâm thức của người Ấn giáo, kể cả các bậc đạo sư lẫn giới trí thức, Ðức Phật vẫn là niềm hứng khởi và hình ảnh của một đấng cứu độ, đại tôn sư về tâm linh và giác ngộ.
Ở bên ngoài Ấn Ðộ, công cuộc hoằng pháp ngày càng thịnh đạt với những triển khai muôn hình muôn vẻ. Ngay từ đầu công nguyên, nhờ con đường truyền giáo Nam tông và Bắc tông, Phật giáo không biến mất mà càng lúc càng được kiến thiết và duy trì sống động trong cuộc sống hằng ngày trên các miền đất mới. Sang tới đầu thế kỷ 21, với tinh thần từ bi, phá chấp, phi cơ chế và chứng nghiệm của mình, Phật giáo ngày càng được đón nhận rộng rãi, đầy nhiệt tình trong giới trí thức phương Tây, và đang phát huy nền triết học thâm sâu cùng thể hiện tính cách bao dung và tự lực trên đường trở thành một tôn giáo thế giới.
       5. Nguyên nhân kinh tế - xã hội
Vào thời kỳ đầu, Phật giáo có sức lôi cuốn cực kỳ những người thuộc cấp bậc cao trong hệ thống phẩm trật kinh tế, chính trị và xã hội. Thậm chí trong thời cực thịnh, Phật giáo với truyền thống văn hóa và triết học rất cao, đã nhận được sự hỗ trợ mạnh mẽ của tầng lớp nắm chính trị và kinh tế. Ðiều ấy không có nghĩa Phật giáo tự mình xa rời với các tầng lớp giai tầng thấp trong xã hội hoặc không thiết lập được cơ sở tại vùng nông thôn nơi sinh sống của đại đa số nhân dân Ấn Ðộ. Vì vậy, Phật giáo không trải rộng và thấu sâu đến người dân thường trong xã hội cho bằng Ấn Độ giáo. Do đó, Phật giáo dễ bị tổn thương trước các sức mạnh đang làm thay đổi tình trạng kinh tế và chính trị.

Triệu Hồng Quang tổng hợp theo http://www.importantindia.com
http://viisas.vass.gov.vn/noidung/tintuc/Lists/DiemNhan/View_Detail.aspx?ItemID=350

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nguyễn Đình Thi - Moskva, 1987



VƯƠNG TRÍ NHÀN

Moskva 14-2-1987. Một chút không khí mùa xuân trênđất đai của băng giá. Minh Hạnh, cô phóng viên Báo ảnh Việt Nam bồi hồi hỏi tôi ông Nguyễn Đình Thi sang, anh đã gặp chưa? Ôi tính ông rất cởi mở. Ông còn bảo để hôm nào tôi đến chỗ các cô, nói về những nét mới trong tình hình văn học nghệ thuật cho mọi người cùng nghe.
Lúc sau, bên bữa ăn, nhân nói tới ai đó, Hạnh lại một lần nữa nhắc lại, ông NguyễnĐình Thi thủ trưởng của anh cũng mới sang.
Tôi nghe Hạnh nói chỉ im lặng.
Tôi biết nói làm sao với con người này, về con người này bây giờ. Tôi cũng đang loay hoay thử phác thảo một chân dung.
   Từ cái nhìn của các nhà văn thuộc Văn nghệ Quânđội                                              
Ý thức về thế hệ đã đến với tôi ngay từ những năm chiến tranh. Tôi  có bài về những lực lượng  mới trong thơ. Nhân vụ nổi loạn của sinh viên 1968, tôi muốn đặt vấn đềlực lượng  trẻ Việt Nam trong sự phát triển thanh niên trên thếgiới. Tôi muốn có những thay đổi. Nhiều năm sau, nghĩ lại, còn thấy buồn cười về những ý định ngây thơ của mình lúc ấy.
Tại sao tôi cho mình cái quyền nói vậy? Ít ra, tôi cũng đang được mọi người chú ý. Vào những năm 69-70 được gọi là một người viết phê bình trẻ là chuyện rất hiếm, vậy mà tôi đã được một số người ban phát cho cái danh ấy.  Chế Lan Viên, Xuân Diệu đều có lần gọi tôi rađộng viên. Ông Thi gửi tặng tôi sách mới oách chứ. Cuốn Công việc của người viết tiểu thuyết, bản in lần thứ hai, 1967, kèm theo lời đề tặng ở đầu sách, viết  bằng thứ chữ li ti vốn có ởông: "Tặng anh Vương Trí Nhàn nhà phê bình trẻ".
Khoảng 1969, kỷ niệm 25 năm thành lập quân đội, với tư cách phóng viên Văn nghệquân đội, tôi phải đến gặp ông Thi để xin bài, xin ảnh. Và đâu còn  một  lần  nữa, ở sân 51 Trần Hưng Đạo. Bao giờ Nguyễn Đình Thi cũng tiếp tôi một cách ưu ái.
--Này Vương Trí Nhàn trông, bên Cuba họ mới dịch của tôi cuốn Mặt trận trên caođây này.
--Còn đây là bản in Pháp bây giờ họ mới gửi tặng. Của nhà Juliard.  
Sau những lần gặp đó, lần nào về, tôi cũng nói chuyện với Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu. Và các anh trêu :    
-Ra  VT Nhàn cũng được ông Thi quý lắm đấy chứ!
Trongđầu óc nhiều bạn trẻ chúng tôi năm ấy, Nguyễn Đình Thi gần như là một thần tượng. Đỗ Chu kể, có lần, trong cảnh Hà Nội sơ tán, Nguyễn Đình Thi rủ Đỗ Chu về ngủ ở trên căn gác Hội Nhà Văn. Ông Thi rất giản dị, Chu kể. Ông nói đủchuyện, trong đó có cái ý mà Đỗ Chu nhớ hơn cả. "Cuộc đời này cũng lôi thôi lắm nhiều khi chả biết thế nào. Như nước Tàu bây giờ đấy."
Những năm 1965-1970, là những năm hồn nhiên nhất của cuộc chiến đấu chống Mỹ. Người ta còn làm chiến tranh theo kiểu bài bản, theo kiểu hoà bình (như bây giờ, người ta làm hoà bình theo kiểu chẳng bài bản gì, theo kiểu chiến tranh). Tôi nhớ, khoảng đầu 9-1970, khi tôi vào Quảng Bình rồi theo sư đoàn 304 vượt sang Tây Quảng Trị tức đi B ngắn trong khoảng hai tháng,  thì ởngoài này, mấy bạn tôi như Đỗ Chu, Bằng Việt, Vũ Quần Phương, Ngọc Tú, Xuân Quỳnh… được Nguyễn Đình Thi triệu tập riêng, thầy trò sôi nổi  bàn về tuổi trẻ và văn học. Ông Thi năm đó 46 tuổi còn đang sung sức lắm. Nếu có một bọn trẻ, thì ông sẵn lòng là người dẫn đầu.
Có một điều không may - hay là điều may nhất cho tôi --, trong việc nhìn nhận Nguyễn Đình Thi những năm chiến tranh. Là lúc ấy tôi  làm việc ở tòa soạn Văn Nghệ Quân Đội. Bên cạnh Hội Nhà văn, VNQĐ của tôi là một cách nhìn mới, cách làm văn học, mới mẻ và cách nhìn của các anh cũng khá mới mẻ.
Chẳng hạn, hồi ấy Vỡ bờ tập hai rục rịch in ra ở Nxb Văn học và có một số chương được trích in ở báo Hà Nội mới. Cơ quan tôi mọi người cũng đọc.  Nhiều lần, tôi bắt gặp mấy anh em ngồi ở phòng báo cười sằng sặc. Ra họ giễu ông Thi.
Nguyễn Minh Châu, với cách nói hình ảnh của mình, nhận xét thẳng vào văn xuôi NguyễnĐình Thi: "Gớm, viết cứ như người chạy mưa “ (nôm na nghĩa là chả có gì cụ thể cả, văn xuôi mà thiếu chi tiết).
Nguyễn Khải : “Thà ông ấy cứ ngồi dạy mình còn hơn, lại đi viết ra thế này, mất cả thiêng.”
Ông Khải  này vốn có mối quan hệ oái oăm với ông Thi.
Khoảng cuối 1969, Nguyễn Khải có viết một bài bàn chuyện nghề nghiệp, đi vào  phân biệt ký với tiểu thuyết trên tạp chí Văn hoá nghệ thuật. Đại ý Nguyễn Khải nói nếu ít vốn sống, cứ viết ký cho xong. Viết tiểu thuyết, vốn phải nhiều. Biết ít mà viết tiểu thuyết là rất dơ. Nguyễn Khải kể:
--Ông không biết chứ, các ông bên Hội Nhà văn thích bài ấy lắm, cho là nhắm rất trúngđích. Một tay như tay Trọng Hứa cũng phải đọc mà khen cơ mà."
Đây là một trong những lần tôi học được ngón võ kín trong nghề văn: món nói cạnh nói khoé.  Ý Nguyễn Khải ở đây muốn chê văn xuôi Nguyễn Đình Thi, nhưng nói thẳng ra không tiện.
Lầnấy, Vỡ bờ II in ra, còn bị bên Viện Văn ghét lắm. Họ mời Nguyễn Đình Thiđến nói chuyện, xong lại căn cứ vào đó mà phê bình (người được giao làm việc này là Phong Lê).
NguyễnĐình Thi bực đến mức phải viết bài trả lời.
Một lần, Nguyễn Khải sang Hội Nhà văn trở về,kể:
-Tôi vừa được ông Thi đọc cho nghe bài trả lời này. Chung quanh Vỡ bờ, hôm nọ, phải nhờ đến Khái Vinh đỡ cho một bài, đã thấy dơrồi. Nay lại tự đứng ra trả lời thế này nữa.
Dừng một lúc, Nguyễn Khải nói thêm:
-Ông có biết tại sao ông Thi ông ấy đọc cho tôi nghe không? Không phải là ông ấy yêu tôi đâu. Mà là vì ông ấy ghét thì đúng hơn. Thử đọc cho cái thằng ghét mình xem nó phản ứng ra sao. Xưa nay, ông ấy vẫn coi tôi là người cầm đầu của phái trẻ, phe nghịch trong làng. Là nghi thôi, chứ chưa cả quyết . Nhưng tin tưởng thì dứt khoát không.
                              
Giữa yêu và ghét
Ai cũng biết là ông Thi rất đẹp trai, một người đàn ông rất giàu nam tính (Dương Thu Hương phũ mồm bảo các em mê văn chương săng sái vây quanh ông anh, em nào chả chết với anh một vài lần rồi.)
Khoảng 1971, tôi nghe có tin vỡ lở ra một vụ lăng nhăng của Tổng thư ký. Đối tượng ở đây là cô V. O., người phát thanh viên bên Đài.
Nguyễn Khải kể rằng ông Tiếu (nhân viên hành chính của HNV) bảo chỉ thấy thủ trưởng sai đưa thư đi các nơi, nào có biết thư công hay thư riêng. Bây giờ mới hoá ra toàn thư tình.
Nhưng nguy hiểm nhất, đâu có một lần trong một lá thư, lại có cái câu nói rằng hôm nay anh không thể đến em được, anh phải đi nghe ông Tố Lành giảng đạo (ý nói đi giao ban, đi chỉnh huấn gì đấy!)
Khải thì chú ý chuyện chính trị, âu cũng là lẽ đương nhiên. Nhưng với chuyện này, một người như Xuân Quỳnh lại chú ý mặt đạo đức của con người. Xuân Quỳnh kể là ông Thi không những thôi cô ấy, mà còn đèo vợ đến, rồi ông ta ở dưới nhà, đểcho vợ lên đánh ghen nữa. Thật là quá lắm. Sau này có người giải thích cho tôi nghe là không phải thế đâu, cũng có việc bà Trường đến, nhưng là do một hoàn cảnh như thế nào đó, ngoài ý muốn ông Thi… Dẫu sao, cái chuyện trai gái những năm ấy của ông Thi là có thật, nó cũng là nguồn gốc của nhiều tai tiếng.

Nhưng hồi ấy, ở VNQĐ, lại có một người rất yêu ông Thi. Người đó là Nhị Ca. Họ biết nhau từ kháng chiến. Nhị Ca còn nhớ tường tận việc Nguyễn Đình Thi viết cuốn Xung kích ra sao. Ông ta đi chiến dịch trung du xong, không về cơ quan Hội vội, mà  ghé vàođơn vị văn công do Nhị Ca phụ trách, xin ở nhờ, xin cho ăn cơm, rồi ngồi viết. Và 18 ngày là xong.
NhịCa thường bảo tôi:
-Chớ có nghe mồm thằng Khải. Không ai thay được Nguyễn Đình Thi đâu. Còn lâu mới có một nhân vật như vậy.
ThơNguyễn Đình Thi từng được Nhị Ca giới thiệu cả một chương trình bên đài phát thanh. Các tập tiểu thuyết của Nguyễn Đình Thi hồi đầu chống Mỹ, đều được NhịCa nhắc nhở trên VNQĐ. Nhị Ca có một sự trung thành ghê gớm với Thủ trưởng Hội.
Nguyễn Khải thỉnh thoảng lại nhại lời NguyễnĐình Thi để giễu:
-Các ông là chưa hiểu gì về tiểu thuyết hiện đại… Để hôm nào phải bố trí một buổi, tôi nói các ông nghe mới được.
Theo Nguyễn Khải, ở bên Hội, hiện giờ có mấy ông muốn làm cha mọi người.
Chế Lan Viên, -- cha của nền thơ Việt Nam.
NguyễnĐình Thi - cha của tiểu thuyết Việt Nam.
Và Tô Hoài, cha của văn xuôi Việt Nam.
Hội có hai ông Tổng thư ký và phó Tổng thư ký. Ông này chê  ông kia văn học trò, ông kia chê  ông này là văn thợ thủ công. Thật không biết đằng nào mà lần - Khải nói tiếp
Trước những lời lẽ ấy, Nhị Ca chỉ mủm mỉm :
-Các anh chỉ tức vặt, chứ bằng thế đếch nào được người ta. Hồi 20 tuổi, NguyễnĐình Thi đã làm đại biểu Quốc hội, thâu tóm bao nhiêu là việc đại sự. Còn lâu, còn lâu!
Theo lời kể của Nguyễn Khải, Nguyễn Đình Thi mà sang Liên Xô thì sang lắm. Nghĩa là có người đón tận Tasken làm giấy tờ cho. Này, bố Thi cũng chim chuột bọn dịch giả Liên Xô lắm - vẫn lời Nguyễn Khải. Chảcó lần Nguyễn Khải cùng đi một chuyến với ông Thi. Bên ấy một tay nào đó đã dịch Vỡ bờ rồi nhưng bản dịch kém, không có tiếng vang. Nay ông Thi muốn chính Marian Tkachev dịch lại. Đến nhà Marian chơi. Gớm, trông cái nhìn của ông Thi về phía nó, như tống tình ấy, điếm lắm, Nguyễn Khải  có mặt ở đấy bảo vậy. Nhưng sau cũng không ăn nhằm gì. Marian bảo, ở nước chúng tôi, cũng phải có kỷ cương, chỉ những tác giả cổ điển mới đôi khi có hai bản dịch.
Ngay từ hồi chiến tranh, trong giới viết văn đã có câu ca:
Đảng đoàn làĐảng đoàn Hoài
Có đi thực tếnước ngoài thì đi
Đảng đoàn làĐảng đoàn Thi
Cóđi thực tế thì đi nước ngoài.
Một người  hay vọc  lại chuyện cũ của Thi là Nguyễn Thành Long.
Có lần, Nguyễn Thành Long bảo tôi rằng hồi kháng chiến Nguyễn Đình Thi ở đâu bên  Quốc hội, chứ  có phải  bên Hội Văn nghệ đâu. Hội Văn nghệ là do ông Tưởng làm. Thi bị ông Trường Chinh ghét, sau cuộc thảo luận về thơ không vần. Cho nên, đi Điện Biên Phủ, cũng gần như một thứ bị kỷ luật.
Đạo diễn Nguyễn Đình Nghi hôm nọ qua Mosskva họp, cũng nói với tôi là, cái lần Nguyễn Đình Thi đi trung du, xông pha ghê lắm,đến mức Nguyễn Huy Tưởng phải bảo Thi nó liều chết để lấy lại uy tín.

Nhữngđiều tôi được nghe kể như thế, thấy tin được, vì tôi nhớ chuyến đi B của NguyễnĐình Thi cuối 1974, đầu 1975.  Lần ấy ông Thi đi một chuyến vất vả lắm, tới mức mà một người "lòng gang dạ sắt" như Nguyễn Khải mà cũng phải nao lòng, thương xót. Có lúc chả còn tin tức gì nữa. "Đi như phẫn, đi để tự hành xác” - Nguyễn Khải bảo vậy. Nó cũng là bù cho những tiếng xấu mà người ta vẫn nói.
Đấy, Nguyễn Đình Thi là người như thế đấy. Người sống tất cả những vinh quang và lỗi lầm của một chiến sĩ cách mạng. Vinh quang bằng việc ngồi trên Chủ tịch đoàn hay Thư ký đoàn ở Quốc hội khoá 1, đứng về phía Cụ Hồ, đấu tranh cho cách mạng. Vinh quang - hai mươi mấy tuổi, dẫn đoàn đại biểu Việt Nam đi dự Đại hội liên hoan sinh viên thế giới, được bà M. Riffaud rất yêu. Và bùn lầy, cảm thấy nhưmột trí thức có tội, luôn luôn phải đưa lên, giương lên những giá trị mà có lẽtrong thâm tâm mình thấy không ra gì. Đề cao công nông. Luôn luôn phải đứng nép về phía sau bên các đại diện công nông.
Ngô Văn Phú kể với tôi về Hội nghị nhà văn trẻ lần thứ nhất, năm 1959. Đứng trước những Anh Đức, Lê Khâm… Nguyễn Đình Thi không quên nhắc tấm gương sáng ở một người công nhân nào đó, làm ca dao, tên là Hoàng Thị Tước . Nhắc như một tấm gương. Chỉ có điều, trong văn học, bà Tước ấy, bây giờ ai biết.
          Tâm lý Nguyễn Đình Thi là thứ tâm lý tiêu biểu của tri thức Việt Nam. Khiếp nhược trước đám công nông. Thấy công nông làm được nhiều việc liều lĩnh, nên cứlùi dần, lùi dần.
          Nguyễn Khải thường nói với tôi về một cái tài của Nguyễn Đình Thi. Trong những đợt chỉnh huấn chính trị do Tuyên giáo tổ chức cho văn nghệ sĩ,  Nguyễn Đình Thi rất hay ngồi ở hàng đầu. Trong bụng ông Thi nghĩ gì về ông Hà Huy Giáp không biết, nhưng ở  hàng ghế trên cùng, ông Thi hiện ra trước người giảng bài như một thính giả cần mẫn, lắng nghe mọi điều, thỉnh thoảng lại gật đầu ra điều rất là tâm đắc, và khi cần không quên liếc mắt về phía một người nào đó, ý muốn nói thấy chưa, anh Hà anh ấy giảng sâu sắc lắm đấy chứ!

Cùng với Lê Ngọc Trà nói chuyện với Nguyễn Đình Thi,
ở Moskva , 22-2-87.
NguyễnĐình Thi kể:
--Tôi vừa đi forum Bảo vệ hoà bìnhvề. Tôi vào nhóm các nhà văn. Bài phát biểu của tôi được chú ý lắm. Đại ý tôi nói con người trở thành tai vạ cho mình. Chỉ vì cái sợ mà người ta chưa giết nhau thôi, chứ đã nghĩ chán về việc này rồi. ( Lê Ngọc Trà thú cái ý tưởng này lắm.Trà bảo như vậy là thấy trách nhiệm về cả hai phía, cả Liên xô lẫn Mỹ!).
Tôi còn được mời riêng đến báo Pravda. Ở đó, cũng phát biểu lung tung cả,nên họ không đưa lên mặt báo.
--Tình hình ở nhà. Định ra tạp chí của Hội, mới mời Bằng Việt về làm thư ký toà soạn, Bằng Việt cũng muốn về, chỉ sợ không được.
-Lãnh đạo các nước XHCN, trước sau có vấn đề dân chủ. Ta đâu có quen dân chủ.
Thời Hy Lạp, người ta còn dân chủ hơn mình nhiều. Bàn cãi mãi, sau cho về. Sợ biểu quyết ngay thì người nào nói giỏi người đó thắng. Về sau lúc người ta đã tỉnh táo mới đến biểu quyết. Hoặc như có cái lệ ai tán thành chiến tranh người đó phải về sắm mũ áo ra trận ngay. Để cho anh phải có trách nhiệm với quyết định của mình.
Ởnước mình, bàn cãi thuyết phục nhau  lại càng khó. Căn bản có Cụ Hồ. Ông Cụ không có cái gì thái quá, thành ra nước mình chưa đến nỗi cho văn nghệ sĩ đi tù.
Tôi nhớ cái lần họp Bộ Chính Trị về văn nghệ, tôi được dự. Mà lại nói nhiều đến tôi, với cả Con nai đen. Căng lắm. Nhưng Ông Cụ ngồi đấy, không nói gì nhiều, Cụ chỉ bảo phải xem cho kỹ. Lúc ra, Cụ lại nói chuyện với tôi, hỏi han tôi. Thành ra nó cũng đỡ căng đi.
Lãnhđạo văn nghệ mình là ai? Ông Cụ thì bận. Đồng chí Lê Duẩn  tránh văn nghệ. Đồng chí Phạm Văn Đồng thương nhưng cũng tránh. Chỉ có đồng chí Trường Chinh. Mà tôi biết, tôi là cán bộ cũcủa anh ấy mà, anh ấy nghiêm lắm. Chẳng hạn như anh ấy không thể chịu được hội hoạ hiện đại. Cá nhân các anh ấy sau này cũng phải  nói lại. Như trong bàiCùng bạn đọc,đầu tập thơ Sóng Hồng, anh ấy nhận là thơ có thể không vần. Như thế là mới mẻlắm rồi. Hồi kháng chiến anh ấy đâu có chịu. Chính tôi làm thơ không vần mà.
Lại như anh Tố Hữu, ông ấy cũng thích mình quá (Trà giải thích cho tôi: ý nói ông Lành sùng bái mình). Đấy là một nhà thơ có tài, một nhà thơ lớn. Nhưng tôi cứ nghĩanh ấy còn thiếu chỗ nào đó. Ví như tôi nghiệm người làm thơ nào cũng rất hay về thơ tình. Tố Hữu thiếu cái đó, không có thơ tình, cái đó không được.

Nhắc lại chuyến đi B. 1974        
        -- Hồi ấy anh Trần Bạch Đằng, anh ấy cũng có cái ý thách thức, để văn nghệ vào đấy xem sao. Thì tôi vào. Mà vào đến tận Mỹ Tho. Rồi giải phóng Sài Gòn, tôi biết, nhưng tôi không vào Sài Gòn mà lại ra cái đã. Trên đường ra mới gặp lắm chuyện hay. Những đơn vị người ta cuốn vào Sài Gòn hết, chỉ để lại đám thương binh nhẹ trông thương binh nặng, với cái kho gạo. Đất nước, nhìn ở phía sau cuộc chiến tranh, thấy hết chứ. Hay lắm.
Nhân đây tôi (VTN ) hỏi ông Thi về cái đận đi chiến dịch trung du 1950, về viết Xung kích nói trên.
NguyễnĐình Thi cười, tự nhận cũng  thấy mình điđã ghê.
Nhàn:
--Anh vừa bảo đi chuyến 74, cũng như chuyến Điện Biên Phủ. Nhưng hồi biên giới 1951 thì không?
NguyễnĐình Thi:
--Hồiấy sắp Đại hội Đảng, tôi bị ông Tố Hữu ông ấy giữ ở nhà làm cái báo cáo về văn nghệ. Sau báo cáo ấy, ông Tố Hữu mới vào Trung ương.
Nhưng tôi tự nghĩ, trước nay, mình vẫn có cách nhìn riêng của mình. Như với Ông Cụ, tôi cảm thấy không thể viết, không nên viết gì. Hay lần đầu sang đây, những năm năm mươi thấy cái lăng Lênin đặt ở giữa Hồng Trường, tôi đã thấy thế nào ấy, không nên thế, chỉ có điều mình không dám nói ra thôi. Mấy chục năm qua, nhờ cũng luôn theo dõi được tình hình bên này, tôi cũng thấy đỡ rối hơn.


[ Mt s mu in ch nh dướđây đã đượđưa vào
trong bài Chuyn văn nghệ Hà Nội nghe  Moskva 1987 ]

5-87
        Gặp tại Yug-zapatnoe,Nguyễn Khải điểm qua tình hình văn nghệ:          
      - Lão Nguyễn Đình Thi phen này mà mất việc đi Tây, thì cứ gọi là con mẹ Tuệ Minh nó bỏ ngay.
Mà không hiểu sao, xứ mình sinh ra cái lão lẩm cẩm loại đó. Bây giờ cứ thấy mấy người đangđứng trò chuyện là lão ấy  nhảy xổ đến, lão ấy giảng cho mình về văn học, văn học nó phải như thế này, nó phải như thế kia. Làm như là không ai đọc cả ấy. Lúc nào cũng chê anh em bây giờ nó không biết gì. Vâng, các ông được Tây nó dạy cho tí tiếng Pháp, nhưng anh em bây giờ nó đã có tiếng Nga, chắc ai đã đọc hơn ai.

8-7-1987
TếHanh kể: Hà Nội đang cho in tờ Tác phẩm văn học, số 1, do ông NguyễnĐình Thi làm Tổng biên tập. Trong hội đồng biên tập có nhiều người, kể cảNguyễn Khải. Thi mời Nguyễn Văn Bổng làm phó, nhưng Bổng không nhận.
       Về tạp chí mới (Tác phẩm văn học ) ông Chính Hữu, bà Tú nhận định ông Thi thấy có thể mất tổng thưký, nên  chạy về làm. Và ông Thi dựng ê kíp của mình, Hoàng Trung Thông, Thợ Rèn v.v..
    Bùi Bình Thi chỉ còn là người đi thu bài. Ngọc Tú không có quyền gì. Ông Thi bảo tôi ở nhà, tôi duyệt bài. Nếu tôi đi vắng, anh Thông, anh Kim Lân sẽ duyệt. Như vậy, lại khác rồi.
   Lại Nguyên Ân bình luận: Đây là một thứ tạp chí của các cựu chiến binh và trưởng lão, nó sẽ là tạp chí thương phế binh.

TếHanh bảo:  Ông Thi vẫn có cái tài nhưvậy. Tức là chất lên vai bao nhiêu cũng làm được, và làm rất giỏi. Rồi đến lúc, báo nó tan, thì ông ta cũng chuồn ngay được. Có một vấn đề gì mới, Nguyễn Đình Thi tiếp thu rất nhanh, rất hoạt ; cách nắm cách trình bày… rất hấp dẫn.
Chỉhiềm một nỗi là không sâu, và không  bao giờ  quay trở lại  với vấn đề ấy nữa. Nhưng tìm được một tổng thư ký như vậy, đâu có dễ. Nghe nói, phen này, phe ông Thi rất muốn trì hoãn đại hội nhà văn, vì sợsẽ bị lật nhào.

Nhân chuyện “luôn luôn dẫn đầu” của NgĐThi. Nhiều người cùng nhận ra:
-Lúc chưa ai làm thơ không vần, thì ông Thi làm cái trò đó..
-Lúc chưa ai viết tiểu thuyết dài thì Thi tống ra được cuốn Vỡ bờ. Và lại còn viết cả lý luận về tiểu thuyết nữa chứ (Công việc của người viết tiểu thuyết, nổi tiếng tới mức  ông Thanh Lãng ở  Sài Gòn cho in lại )
-Lúc  Mỹ mới đánh ra miền Bắc (1965 -70) Nguyễn Đình Thi  viết liền hai cuốn truyện vừa Vào lửa  Mặt trận trên cao. Và lại viết về một binh chủng mới tinh, là không quân.
Nguyễn Khải mấy lần bảo bây giờ có ai chết, NguyễnĐình Thi làm điếu văn rất hay.

Con người lạ quá. Một thứ bản năng nào đó đã xui khiến ông, Ông có sự nhạy cảm với những gì mới hé ra. Ông bắt rất nhanh vào cái xu thế của sự vận động đời sống 8-1945.  Cách mạng bao giờ cũng làm người ta lóa mắt ở cái ban đầu. Tôi nhớ rất rõ trường hợp của Nguyễn Khải, cuốn Tháng 3 ở Tây Nguyên --  cái thuở ban đầu là  thiêng liêng lắm. Và có những người sống đến già vì cái thuở ban đầu ấy.
           Nhạy cảm xã hội là một thứ bản năng tự nhiên của ông Thi?
Nhưngđây là một phía khác của sự nhạy cảm đó. Phải gọi  Nguyễn Đình Thi bạc thượng hạng. Ông chuồn rất nhanh qua các việc. Nhiều tờ báo mới ra, ông nhận làm tổng biên tập, nhưng khi báo có làm sao là ông  không làm nữa. Mà cái tên ông ta vẫn phải để. Rồi có lúc, ông sẽ bảo cái này những người khác làm, tôi không biết. Tôi còn đi sáng tác v.v và v.v
Có người bảo tôi, Nguyễn Đình Thi là một tay đầu cơ chính trị, tôi chưa thật hiểu.Đời ông về chính trị cũng lận đận lắm đấy chứ, những kẻ đầu cơ khác không hơn ông  nhiều. Cụ Tuân có lần bảo tôi, sao ông Thi cứ bị trên mắc-kê, chứ ai phục vụ chính trị bằng ông ấy đâu. Hoặc bảo rằng về chính trị ông ta  được nhiều cũng không phải, so với mọi người  có được gì nhiều lắm. Hay là tại vì Nguyễn Đình Thi vừa muốn làm chính trị vừa muốn làm nghệ sĩ như Nguyễn Khải vẫn cắt nghĩa? Dù có như thế nữa, tôi thấy lý do một phần chính là cái chất người chất học trò của Nguyễn Đình Thi. Ông ta khôn lỏi (?), nhưng cũng nặng tiền kiếp lắm. Phải cái tội trai gái hơi nhiều, nhưng người đàn ông mà để mang tiếng ở đấy, không phải anh hùng rồi.

Người ga lăng (galante= phong tình lẳng lơ)  
         Dương Thu Hương kể về Nguyễn Đình Thi.
Hồi ấy, là vào gần Tết. Hương có việc lên Quảng Bá ngồi viết, Nguyễn Đình Thi cũng có mặt ở đấy. Hoá ra ông cũng đến ngồi viết. Có một người tình hay đến  là cô Chung, thường  mặc complet nữ, đi xe máypeugeottrắng. Thấy Hương ở đấy, Thi cũng muốn chèo kéo ban phát. Nên một lần gọi Hương:
-Này, có muốn nghe kịch không?
Và trước mặt một khán giả thôi, Nguyễn Đình Thi cũng đọc kịch bản bằng cái giọng rất thánh thót, rất hùng dũng. Đến một lúc nào đó, không kìm được, Hương phá lên cười.
-Hay lắm, ông anh còn có thể chim được vài em nữa.
Lập tức Thi sẵng giọng:
-Không được can thiệp vào cuộc đời riêng của người khác. Thế là lưu manh!
Nhưng cùng ở trại đến giápTết, Thi lại làm lành. Lại mang hoa đến cho Hương. Lúc ấy, Hương đang ở ngoài chỉ nói thõng thượt cứ để đấy cho tôi. Hương cũng chẳng buồn vào nhận nữa. Vậy mà Nguyễn Đình Thi cũng thôi.



18/11/87
Nguyên Ngọc kể:
- Buổi ông Linh gặp anh em, còn nói nhiều câu cay đắng lắm. Ví dụ bảo: "Tôi cũng là người bị nạn, tôi hiểu anh em" sau này người ta phải cắt đi.
- Nhưng mà chưa chắc làm thế đã tốt đâu. Cởi trói cho văn nghệ lúc này, mà những điều kiện khác (kinh tế, xã hội) chưa được, thì cũng không được việc gì. Bọn xấu bị đánh động nó cụm lại phản công cho mà xem.Ông Tố Hữu đã mỉa mai Trần Độ, à, các anh bây giờ được cởi trói rồi phải không.
- Nguyễn Đình Thi nói gì ở hội nghị? ông Thi bảo: Tôi tha thiết đề nghị các anh đừng phát động quần chúng -Phát động quần chúng thì những người không có tài năng sẽ nổi lên, diệt hết người có tài.
… Cái ông Thi này căn bản rất ích kỷ. Ông ta có yêu ai bao giờ đâu. Một tay bẻ hết mấy cành phù dung. Ông ta diệt tạp chí  chuyên về văn học nước ngoài rồi, lại còn sẵn sàng diệt trường Nguyễn Du nữa ấy chứ. Bây giờ chung quanh toàn những Kim Lân, Thợ Rèn thì còn được việc gì.

  Về Ng ĐT trong buổi găp Nguyễn  Văn Linh, Ng Quân kể  
- Đất nước gì mà tri thức gặp vua còn kêu đói, kêu không có áo có tất, thì ra cái thá gì nữa. Ông Nguyễn Đình Thi dẫn đủ thứ Hy La ra, bảo rằng người ta có thể tin vào cái sai, nhưng nếu tin thì vẫn có thể thành công trong văn nghệ - Solokhov tin vào Stalin, vẫn có Sông đông êm đềm. Thế thì còn nói sao được nữa! Khả năng tiếp cận chân lý của anh ở đâu.

Còn đây là lời kể Hồ Ngọc
Cũng có một chuyện vui nữa. Dương Thu Hương lên phát biểu, nói khá rõ về vai trò người trí thức.
Nhưng đặc biệt nhất là đoạn cuối, Hương nó nêu có những người hôm qua vừa bị đánh thì nhăn nhó, kêu khóc, mà lúcđược dùng lại thì sung sương rên lên, nói rằng mình như hạt bụi.
Hạt bụi gì, cuốn theo chiều gió à?
Kể ra, như thế là nói Nguyễn Đình Thi sát sạt rồi.
Ông Thi có khôn hồn thì im đi, vì thật ra, trong hội nghị cũng chỉ một phần ba người ta biết cái câu hạt bụi ông nói ở đại hội nhà văn lần trước. Thế cho nên, Nguyễn Khải ngồi cạnh Nguyễn Đình Thi đã phải giật giật Nguyễn Đình Thi mấy lần, ngăn ông ta lại.
         Nhưng Nguyễn Đình Thi cứ lên. Nói là cấp trên đừng phát động quần chúng, rồi nói là chúng ta cũng có thành tựu của chúng ta chứ, những Con trâu, Vùng mỏ hồi nào.
Rõ là ấm đầu.
Đến đoạn cuối, Nguyễn Đình Thi lại quay về chuyện Dương Thu Hương vừa nêu. Tôi có nói trí thức là hạt bụi. Đấy là tôi muốn chống lại tôn giáo. Tôn giáo bảo con người chỉ là hạt bụi. Nhưng chúng ta là hạt bụi có tư tưởng.
Anh em cười ồ cả lên, đến con người cũng chả có tư tưởng, nữa là hạt bụi.
Sau chuyện đó, uy tín của ông Thi càng giảm sút.


12/1987
Chuyện vợ con Thi ở Hà Nội.Vũ Tú Nam kể cảnh ông Thi ra toà. Bà Trường nhờ người cáng mình đến toà (hay đi xe cấp cứu?) đểchứng tỏ mình già yếu. Bà còn có một lũ cháu đứng ngoài. Giữa lúc toà đang họp,đám này làm reo ầm ĩ. “Đả đảo Trần Phương “. (Trần Phương là nhân vật Sở Khanh, quyến rũ  Súy Vân  trong vở chèo cùng tên). Bên này ông Thi chỉcó một mình.Vũ Tú Nam giải thích ông Thi có bạn bè bao giờ với ai đâu.



Nói chuyện với Quân và Chính
Nguyễn Quân :
--Hôm họp ở Nhà hát lớn (gặp ô Linh), nhìn ông Nguyễn Đình Thi phát biểu, Tạ Văn Thành nhận xét ông này rõ ra một con trống lý tưởng!
Quân cũng bảo đúng rồi, từ xương trở ra, thì ông ấy hơn tôi. Nhưng từ xương trở vào thì chắc chắn thua tôi.
Quân nói tiếp, thằng Chính cũng nhận xét thế. Ông Thi chỉ được cái mẽ ngoài.
Quân: Tại sao ông ấy không ở nhà cho xong.
Chính: Bố ấy cứ phải loăng quăng thế, rồi quếnh quáng thì mới viết được, chứ ngồi một mình là chịu.

Những buổi ngồi rỗi ở ký túc xá trường viết văn  Gorki, Ng Đình Chính và tôi cũng nói nhiều về ông Thi.
Chính:
--Các ông loại như Nguyễn Đình Thi trở lên, có chỗ đáng nể của họ. Nghĩa là trị được họ cũng khó.
Nhưông Tố Hữu, có người bảo không ra gì bây giờ thất bại rồi. Tôi nói, ông ấy thất bại, vì đã lên tới cái đỉnh của mình. Nhưng người ghê đấy chứ. Từ một cậu học trò mặt trắng trong Thừa Thiên, ra bắt nạt hết cả mọi người,  hiển hách lên đến tận hàng ghế đầu, chỉ một tí nữa trở thành nguyên thủ.Bợm đấy chứ. Lúc đầu, theo Cụ Hồ hết lòng. Rồi theo Trường Chinh. Cuối đời cụHồ, bỏ theo Lê Duẩn ngay. Quyền sinh quyền sát trong tay, khi chửi mắng, khi vỗ về người khác, cũng ghê đấy.

Hoặc như ông Thi nhà tôi, ông ấy cũng có khả năng chinh phục mọi người.
Nhàn : Xuân Diệu cả đời sợ ông Thi.
Chính:Đúng đấy, loại người như Nguyễn Tuân, Chế Lan Viên sợ hết vía.
Nhàn: Hồi ông Thi bị lôi thôi về Đảng đoàn, tưởng mất chức, ông ấy lại đi làm rấtđều. Ông Khải kể với tôi vậy.
Chính:Đây này, mới đây thôi này, ông ấy cho ông Hà Xuân Trường mấy câu không ra làm sao cả (Các anh bảo ông Trường thôi đi, tôi không nghe được lý luận trẻ con ấy). Ông ấy căng với ông Tố Hữu, nhưng công việc vẫn đâu vào đấy. Tôi nghe có hôm có cuộc họp gì này ở Ban chấp hành, ôngấy đang ốm, cũng mò về. Nhờ thế mà  hội nghị BCH đổi hẳn được thế trận đấy chứ các cậu tưởng đùa với ông ấy à.

Chính nói tiếp, Ng Đ Thi đúng là một thứ LêĐức Thọ con, dù rằng có lúc ông Thọ rất ghét Thi (lần trước đã định không bốtrí vào Đảng đoàn cơ quan mà).
--Cũng như Mao Trạch Đông vậy. Bậc thầy của nghệ thuật  tổ chức.
--A lại còn chuyện tình yêu nữa chứ.
-- Đúng. Bà TTrung sống cả đời vì mấy câu hươu vượn của ông ấy. Bà ThHương bây giờ thấy ông ấy còn sững sờ mặc dù có khi đánh ông ấy hẳn hoi trên báo….. Nghe ai đó nhỉ, ai đó bảo với tôi, là có lần trong buổi họp ngồi ở phía sau nhìn lên, thấy một người chữ giống chữ Nguyễn Đình Thi, là bà ấy đủ run cả người, đánh rơi cả bút trong tay cơ mà.
  -- Đấy, mọi chuyện thế đấy. Lớp già họ có ghét nhau nhưng vẫn dựa vào nhau. Tố Hữu trị Nguyễn Đình Thi, nhưng vẫn giữ.Thi là số một (các quan chức  văn nghệ nối tiếp thay nhau, thoát sao Tố Hữu được). Loại Chế Lan Viên, Bảo Định Giang đừng có hòng, Nguyễn Đình Thi từng nói vào mặt Bảo Định Giang: “Tôi để anh ở đây, anh được ở, tôi muốn anhđi, anh phải đi.”
Gầnđây, Hoàng Tùng mất chức, nhưng giữa Thi và Tùng vẫn nể nhau lắm. Hoàng Tùng sau khi đọc bài điếu văn ông Thi viết về ông Tuân bảo: "Tôi từng viết điếu văn khi cụ Hồ chết, điếu văn khi Lê Duẩn chết, nhưng phải chịu điếu văn này là hay".
Đừng tưởng ông Tố Hữu bây giờ mất chức mà hết quyền đâu. Nghe tin Tố Hữu mất chức, tất cả quan chức văn nghệ đều đến chào để thú nhận: “Em vẫn là người của anh". Đào Duy Tùng kể có việc gì về văn nghệ, tôi vẫn phải đến xin ý kiến anh Tố Hữu. Không phải là hỏi, mà là xin, cậu nhớ đấy.
Lớp văn nghệ sĩ bắt đầu lập nghiệp từ 1945 gợi cho chúng tôi cảm tưởng một thứ cây trên đất cằn. Khó khăn lắm mới mọc lên nổi. Nhưng mọc lên, rồi lại đứng mãi, làm hỏng cả đất.

25-12-1987.
Cảm tưởng đọc tạp chí Tác phẩm văn học
-Đúng là phong cách ông Thi. Tài làm báo của trước cách mạng, của những năm hoà bình. Lối mi, lối trình bày cũng vậy, chặt chẽ, tiết kiệm. Tên người ởHội đồng biên tập đâu vào đấy. Loại người như Đào Vũ làm báo cổ lỗ, cẩu thả, mà lại ra chất con buôn, không thể đọc.
-Những người làm nên cách mạng - bao giờ ông Thi cũng nghĩ về mình như vậy. Và có lẽ là ông tự hào có một lớp bạn bè tài giỏi. Có bao nhiêu vốn cũ về cách mạng, mang vào tờ tạp chí hết. Nhưng thửnghĩ thì biết. Cách mạng mãi, cũng chỉcó các ông ấy, thì cách mạng nỗi gì.
Ông Thi còn muốn coi mình là tiền chiến kia đấy, Vũ Tú Nam vẫn bảo thế.
-Có bọn trẻ, nhưng chỉ dùng để trang điểm. Mỗi số một tí.

Nói chung, mỗi lần nhắc tới những ông Nguyễn Đình Thi, Hoàng Trung Thông này, tình cảm của một người như tôi rất sâu nặng,  dễ cảm tình với họ, ẩn mãi trong tâm trí lòng biết ơn những đóng góp của họ với đời mình.
Chỉcần họ tỏ ra tinh vi, tế nhị, một chút thôi, là bọn tôi lập tức muốn nhượng bộ,muốn được trở về làm đàn em của họ. Cái thế mạnh của họ là ở chỗ ấy.

Nhớvài chuyện “trái cựa” về các ông.
NhớHoàng Trung Thông. Khi tôi mới sang nhà xuất bản Tác phẩm mới, nhiều lầnđịnh đến, và quả thực là đã đến gặp ông ta, với tấm lòng thành kính. Tưởng ông là một người rộng rãi, có thể dùng mình chăng. Nhưng không, ông đối với tôi hoàn toàn đùa cợt, chả nói câu gì đứng đắn.
Một trong những lần gặp ông ở Viện Văn:
--Các anh phải nuôi bọn tôi mới chứ, không chúng tôi phải đạp xích lô, bán phở kiếm sống.
--Cứtập làm các việc ấy cho quen đi.
Một chút liên hệ. Có lần gặp Hoàng Ngọc Hiến ở Moskva, tôi bảo Mai Liên nó có cái tài, là nó biết tiếng Hán cổ.  Hiến nói ngay nhưng do biết tiếng Hán cổ, nó có chỗ khó chơi của nó.
Tôi cho cách nhìn đó, có thể áp dụng cho Hoàng Trung Thông. Hoàng Trung Thông có chỗ khó chơi của ông ta, dù đời ông ta cũng chả may mắn gì.
        Nghĩ về mấy cốt cán . Họ cũng có sự sắc sảo nào đó. Nhưng chẳng ai sống chết với việc gì. Ví dụ, có ai làm báo giỏi không? Có ông Thi, nhưng với ông Thi cũng chỉ coi làm báo là một đầu việc, lúc cần sẽ bỏ  để lo chạy  những đâu đó, với những chức tước vớ bẫm hơn hoặc nhàn hơn. Lúc làm báo, chả yêu mến ai, thiết tha với sự cộng tác của ai cả.  Thế thì vứt đi rồi .
         Nguyễn Đình Thi thường có lối khi nào hết cái đăng, lại lấy cái cũ rađăng lại.
Loại như Chế Lan Viên cũng vậy. Có thể có một hai bài sắc sảo, nhưng không phải là người biết bao quát, lo cho công việc cả tờ báo. Nhìn chung, họ vẫn là cán bộ của ông Tố Hữu. Cán bộ trung kiên làm việc gì cũng được (tức là gì cũng chỉ đến mức nào đó, rồi hỏng). Họ không phải loại người mà tôi thấy ở các giai đoạn lịch sử ổn định.

NguyễnĐình Chính nói về đời sáng tác Ng Đ Thi:
--May mà ông Thi ông ấy có mấy vở kịch lại sắp in ra, chứ nếu không chả có gì.
Duật thì nói về cách cư xử:
-- Có lần ông Thi ông ấy được cái giải thưởng bên Liên Xô ông ấy lại tặng cho trại trẻ mồ côi ở Moskva. Mình -- tức là Duật -- mới bảo Chính bố mày buồn cười thật, sao không tặng cho các trại trẻ Việt Nam ?
Chính nói thẳng:
-Ông ấy phải làm thế để giữ ghế .

Marian Tkachev đến lớp nhà văn Việt Nam ở trường Gorki, phát biểu cảm tưởng của mình về văn nghệ Việt Nam. Tôi rất phục nhà văn lớn Nguyễn Tuân… Ông ấy là người mà không ai học theo được... Chính mới cho một câu, chúng tôi làm sao mà bắt chước cách chống ba - toong của cụ ấy được.
Marian cũng dở lắm. Đến trường anh em nó rủ lên uống rượu, lại thẳng thắn từ chối.Tôiđã đến cái tuổi bớt được người bạn nào, hay người ấy. Nếu có nghĩ nhưthế  chăng nữa, cũng không nên nói ra miệng.
Chính tổng kết về cách quan hệ với các Hội nhà văn nước ngoài:
--Bọn ông Chu, ông Duật cứ trách Marian nhạt nhẽo với mình. Nhưng nên nhớ là nó chơi với ông Nguyễn Đình Thi, ông Tô Hoài đã thành băng thành nhóm lâu rồi, quyền lợi nó dựa vào nhau. Anh bây giờ phải chơi với con Ira kia kìa, rồi móc nối dần lên là vừa.
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Người Việt đang giàu lên hay nghèo đi?


"Mọi thứ đang dần dần tồi tệ hơn, chẳng phải vì có người bảo rằng người Việt sẽ chết sớm trước khi họ giàu có. Vì đơn giản với tôi, nó tệ hơn vì người Việt đang nghèo nàn, tụt hậu cho đến ngày tạ thế."

Theo thống kê GDP Việt Nam trong suốt những năm từ sau 1975 đến nay, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam tăng liên tục.

Trên mạng xã hội mọi người đang chia sẻ với nhau rất nhiều về một bài viết của một blogger với nhan đề “người Việt giàu lên để làm gì?”, trong đó tác giả có nhắc đến những mặt trái của xã hội đang làm con người ta trở nên đau đáu, nhức nhối.

Tôi thì nhìn nhận cuộc sống này có chút khác hơn, bởi xung quanh ta xã hội vẫn đang có những bước chuyển động đáng ghi nhận. Nhưng không vì thế mà chúng ta quên đi tất cả những nguy cơ to lớn không kém so với những cơ hội mà người Việt đang có. Vậy người Việt đang giàu lên, hay nghèo đi?

Theo thống kê GDP Việt Nam trong suốt những năm từ sau 1975 đến nay, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam tăng liên tục. Người dân từ chỗ nghèo khổ, khó khăn, cơ chế bao cấp cũ kỹ, lạc hậu đã chuyển sang nền kinh tế thị trường (dù chưa toàn diện và còn nhiều chuyện phải bàn). Việc tiếp cận với giáo dục, y tế, an sinh xã hội cũng tốt hơn và có xu hướng cải thiện thứ hạng chỉ số phát triển con người (HDI) đáng kể. Đó là chưa kể việc nâng cao hạ tầng, phát triển cơ sở vật chất cũng có nhiều cải tiến đáng ghi nhận. Nhìn nhận một chút, xu hướng tiêu dùng những mặt hàng cao cấp; nhà hàng, khách sạn, du lịch... đều phát triển. Sự cải thiện đáng kể của khu vực dịch vụ trong cơ cấu GDP cho thấy mức sống của người dân cũng có tăng, và đó là những dấu hiệu tích cực, không thể phủ nhận.

Tuy nhiên sự cải thiện đó có thật sự vượt trội so với những cái tụt hậu mà người dân phải chịu trận? Trước hết là người Việt dường như ngày càng trở nên nghèo niềm tin với nhau. Mỗi ngày, tình trạng lừa lọc, tham nhũng vẫn cứ xuất hiện đều đều trên mặt báo, đến mức từ tin tức nóng, trở thành đề tài thường xuyên đến nhàm chán. Người dân, hay đúng hơn là rất nhiều người dân nghi ngờ về mọi thứ: chính sách, con người, lãnh đạo... Biểu hiện của việc khủng hoảng niềm tin chính là các dự luật, chính sách cải cách... thường xuyên bị dư luận công kích nhiều hơn là tán thưởng.

Các vấn đề lớn của xã hội thường được dân chúng đặt ra hàng loạt câu hỏi “tại sao?”, “mục đích gì?”, “động cơ gì?”, nhưng rồi mọi chuyện đâu cũng vào đấy, rất khó giải quyết triệt để. Khủng hoảng niềm tin là khi một bộ phận trí thức, như một vị đại biểu Quốc hội từng lên tiếng báo động trước đây, đang kéo ra nước ngoài làm việc mặc dù ở Việt Nam, họ cũng sẽ có được mức lương tương đương. Họ sợ môi trường giáo dục không có lợi cho thế hệ con cháu của họ; sợ môi trường pháp lý không an toan – ví dụ, khi ngay cả bộ Luật hình sự đến ngày sắp có hiệu lực thì bị phát hiện ra hàng loạt sai sót nghiêm trọng không thể chấp nhận. Họ còn sợ họ không thể tiến thân vì ‘con vua thì lại làm vua, con sãi ở chùa lại quét lá đa’.

Cái tụt hậu thứ hai đối với người dân chính là cái nghèo về sức khỏe. Các trường hợp tử vong tăng cao vì mọi lý do hiển hiện xung quanh con người: vì lý do cơ sở hạ tầng yếu kém, dẫn đến những tai nạn ngoài ý muốn; thực phẩm bẩn tràn lan đe dọa bữa cơm cho dù đó là bữa cơm của nhà giàu hay nhà nghèo; những ống nước thải đen ngòm tại các nhà máy (như Formosa chẳng hạn) đang hủy hoại môi trường một cách nghiêm trọng, đe dọa sinh kế của hàng triệu người dân; những công trình thủy điện đang âm thầm dìm chết con người ở hạ nguồn vào mùa mưa và hút cạn nguồn nước của người dân vào mùa nắng; hay những hàng cây xanh tăm tắp che mát cho những con đường nay bị tàn phá ghê gớm mà người ta vẫn không biết lý do vì sao.

Cái tụt hậu thứ ba chính là nghèo trí thức. Sau Thế chiến thứ Hai lực lượng trí thức ở Nhật Bản ra đi nhưng rồi quay về phụng sự đất nước, nâng nền kinh tế nước này lên vị trí thứ hai thế giới. Singapore sau năm 1963, từ một làng chài heo hút đã biết thu hút lực lượng trí thức xây dựng thành đảo quốc sư tử, trung tâm kinh tế - tài chính của cả châu Á. Hãy nhìn rất nhiều quốc gia khác nữa, trí thức ra đi rồi quay về phụng sự quốc gia. Còn ở Việt Nam thì sao? Sự tỷ lệ thuận của số lượng bằng cấp và số lượng người thất nghiệp và tỷ lệ nghịch của số lượng tiến sĩ, thạc sĩ đối với sự đóng góp thiết thực của họ vào việc quản lý nhà nước, xây dựng quê hương. Có quá bi quan không?

Cái cuối cùng mà người Việt Nam đang nghèo đi chính là đạo đức. Tôi không dám nói tất cả mọi người đang dần mất đạo đức, nhưng phần đông người ta vẫn đang bị suy giảm đạo đức. Đây cũng chính là căn nguyên cho những cái nghèo niềm tin, nghèo sức khỏe và nghèo tri thức. Sự xuất hiện dày đặc của tội phạm, từ những xó xỉnh chợ búa đến những tòa cao ốc chọc trời; từ những tên lưu manh xăm trổ đầy người đến những anh chàng ăn vận complet lịch sự... Một bức tranh xã hội kì quặc và đáng sợ. Hay như những kẻ vì lợi lộc sẵn sàng biến bữa cơm thành bữa ăn đầu độc dân tộc mình; những kiện thực phẩm bẩn đi thẳng vào nhà hàng, siêu thị, rồi nhẹ nhàng được đặt lên bàn ăn. Quả thật là có quá nhiều thứ làm cho người ta sợ hãi. Còn nữa, những quan chức sử dụng ô dù thiếu đạo đức, nâng đỡ con cháu, chiếm những vị trí lẽ ra dành cho những người có năng lực cũng khiến lực lượng trí thức (đáng lẽ ra) của xã hội này ngày càng vơi dần, đổ về Âu châu, thung lũng Silicon, hay những quốc gia khác - những nơi họ được trân trọng và trả công xứng đáng về vật chất lẫn tinh thần theo đúng năng lực của mình.

Mọi thứ đang dần dần tồi tệ hơn, chẳng phải vì có người bảo rằng người Việt sẽ chết sớm trước khi họ giàu có. Vì đơn giản với tôi, nó tệ hơn vì người Việt đang nghèo nàn, tụt hậu cho đến ngày tạ thế.

Cao Huy Huân


Phần nhận xét hiển thị trên trang