Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Năm, 11 tháng 8, 2016

Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 3)

Chương Một

Hà Nội, nơi tôi sinh ra

LePhuKhaiTôi sinh ra (1942) trong một gia đình công chức tại Hà Nội. Theo ông nội tôi thì nơi chôn nhau cắt rốn của nội tôi là làng Cơ xá nam, ngày nay thuộc phố Nguyễn Huy Tự quận Hai Bà. Làng tôi có từ trước khi vua Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long. Làng có hai dòng họ lớn là họ Ngô và họ Lê. Lý Thường Kiệt họ Ngô (Ngô Thường Kiệt), vì có công nên được đổi sang họ vua (Lý). Nhân 1000 năm Thăng Long, đền thờ Lý Thường Kiệt được tu tạo, được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia, hiện tọa lạc ở đầu đường Nguyễn Huy Tự ngày nay.
Theo một phả của cụ Đức Quán làm ngày 12 tháng 10 năm Ất Hợi (1815) thì làng tôi vốn trước ở Núi Nùng gần chùa Một Cột. Đến thời vua Thái Tổ nhà Lý (1010), dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long mới dời làng tôi ra bãi Phúc Xá bây giờ. Theo các cụ kể lại thì vua Lý lấy đất làng tôi làm kinh đô nên cho dân “tái định cư” bằng cách thả một quả bưởi xuống dông Hồng, bưởi trôi về đến đâu thì đất làng được đến đó. Ngẫm ra như thế thì chế độ phong kiến ngày xưa tử tế quá. Không đểu cáng như vụ giải tỏa cưỡng chế ở Văn Giang, Hưng Yên (24.04.2012) vừa qua! Vì quả bưởi trôi đến đâu, đất được cấp đến đó… nên đất làng tôi mênh mông, suốt từ Chèm đến tận Khuyến Lương, Thanh Trì. Một lần, vua đi kinh lý trên sông, thấy làng tôi nhà cửa lụp xụp ven sông, dân tình nghèo khó, vui hỏi quần thần “làng kia tên là làng gì”? Quần thần thưa: đó là làng Cơ Xá. Vua thấy thế bèn cho làng tôi cái bãi bồi giữa sông và đặt tên mới cho làng là Phúc Xá (ý vua muốn đổi tên từ chữ CƠ là nghèo, là cơ cực sang chữ PHÚC may mắn hơn). Theo gia phả của họ Lê Phú do ông nội tôi làm tại Phúc Xá ngày 15 tháng 8 năm Ất Tỵ (30.09.1955) lúc cụ 74 tuổi, thấy ghi như sau: Làng ta trước là Yên Xá, tổng Tam bảo, huyện Từ Liêm, đạo Sơn Tây… Từ khi làng ta dời xuống bãi Phúc Xá năm nào cũng bị ngập lụt. Vua Thần Tôn nhà Lý ngồi chơi du thuyền đi qua làng ta, thấy nhà nào cũng ở trên sàn, nên đặt tên làng ta là Cơ Xá, sau mới đổi tên là Phúc Xá. Đến đời Bảo Thái nhà Lê (1723) mới nhập vào xứ Kinh Bắc, Bắc Ninh.
Vật đổi sao dời, bải Phúc Xá bị lở hàng năm nên dân làng hiện nay phiêu bạt nhiều nơi. Nhưng vẫn còn một bộ phận lớn của làng hiện nay đang cư ngụ tại bên bắc sông Hồng thuộc quận Gia Lâm ngày nay. Hiện nay, hàng năm làng tôi vẫn làm hội làng vào ngày mùng 6 tháng 3 AL. Họ Lê Phú… của tôi hiện còn ông quyền trưởng tộc là Lê Phú Dư hiện ngụ tại số nhà 164 đường Ngọc Thụy, phường Ngọc Thụy, Quận Long Biên Hà Nội.
Trừ cái hiện tại là ông trưởng tộc họ, tên Lê Phú Dư và dòng họ Lê Phú… đang sinh sống tại Hà Nội, thì tất cả chuyện “ngày xưa” đều do tôi nghe kể lại hoặc theo các ghi chép từ gia phả. Do đó không chắc gì là chính xác 100% cả. Tuy vậy, đối với dòng họ Lê Phú của tôi thì những gì mà tôi nghe được về cái làng Cơ Xá của mình… nó thiêng liêng lắm, thú vị lắm. Như bất cứ người Việt Nam nào nghe kể về Bà Triệu, Bà Trưng “ngày xưa” vậy!
Dân làng Phúc Xá của tôi đã tham gia xây dựng những công trình lớn của thực dân Pháp hồi cuối TK 19, đầu TK 20 ở Hà Nội. Theo ông nội tôi kể lại thì khi xây cầu Long Biên qua sông Hồng, nhiều dân làng đã chết vì khi xây dựng móng cầu ở độ sâu do thiếu dưỡng khí, nên khi họ được kéo lên mặt nước thì đã chết ngạt từ trước đó. Xin mở ngoặc nói thêm, tháp Eiffel ở Paris được xây dựng cùng thời gian với cầu Long Biên và được khánh thành năm 1889 để kỷ niệm 100 cách mạng Pháp 1789 (với 7000 tấn thép, hơn cầu Long Biên 1000 tấn). Điều đáng nói là tháp được xây dựng ròng rã ba năm nhưng không chết một công nhân nào cả. Trong khi đó, cầu Long Biên được khánh thánh 1902, với số người chết… không tính được. Chỉ riêng chuyện đó thôi, cũng thấy chuyện “nhân đạo” của bọn thực dân.
Bà cụ nội của tôi là Dương Thị Thiết (1858-1937) đã từng làm phụ hồ khi Pháp xây dựng nhà hát lớn Hà Nội. Đến bây giờ tôi vẫn còn thắc mắc là, ông nội tôi, cha mất sớm từ lúc ông có 11 tuổi, mẹ phải đi làm phụ hồ thì làm sao có tiền để nuôi ông nội tôi ăn học… đến trình độ đọc được sách chữ Hán, nói tiếng Tây trôi chảy.
Ông bà nội tôi sinh được 6 người con. Thứ nhất là bà cô tôi, Lê Thị Thọ. Thứ hai là ông bố tôi, Lê Phú Khang, thứ ba là Lê Phú Cường, sau này đi hoạt động cách mạng đổi tên là Lê Hữu Qua, thứ tư là Lê Phú Ninh, thứ năm là Lê Phú An, thứ sáu là Lê Phú hào. Ở Hà Nội (và ở miền Bắc nói chung), con gái không được tính, không “dân chủ” như Nam Bộ nên bà cô tôi không được xếp thứ. Ông bố tôi được gọi là ông trưởng, thứ đến ông hai, ông ba… bà cô tôi được ăn học hết bậc tiểu học, sau đó học trường sư phạm (école normale) ba năm, trình độ tương đương diplome. Ông bố tôi vì ăn chơi không lo học nên thi diplome bốn lần không đỗ, cuối cùng phải sang tận Lào làm thư ký một thời gian. Riêng điểm này thôi cũng thấy chế độ thi cử của thực dân Pháp là nghiêm ngặt. Con nhà khá giả như bố tôi, cha là công chức Phủ Toàn Quyền nhưng không có cửa để đút lót để lấy bằng cấp như chế độ cộng sản thời nay. Người chú thứ tư của tôi là Lê Phú Hào do vừa làm vừa học nên đỗ được bằng tú tài trước Cách Mạng Tháng Tám. Những người chú khác thì không biết học được đến trình độ gì, nhưng nói chung đều nói được tiếng Pháp. Ví dụ như người chú thứ hai là Lê Phú Ninh, gia đình vẫn thấy ông thường xuyên nghe radio tiếng Pháp. Vì thế nên gia đình họ Lê Phú nhà tôi có cái “lệ” rất “humour” là mỗi khi người lớn (các ông) trong gia đình gặp gỡ nhau trong các dịp lễ tết, giỗ chạp, vủi vẻ thì họ nói tiếng Việt, nhưng nếu có sự cãi cọ, to tiếng mắng mỏ nhau… thì từ ông nội tôi đến bố tôi và các chú tôi đều sử dụng tiếng Tây để những người khác không biết họ cãi lộn về cái gì. Cái vốn tiếng tây “Francais sans maitre” của tôi đôi lúc cũng nghe được vài từ, chủ yếu là… chửi thề của các bậc cha chú đó (!)
Ông nội tôi (1881-1967) làm vaguemestre cho Toàn quyền Đông Dương trước CÁCH MẠNG THÁNG TÁM. Vuguemestre là nhân viên bưu chính của một công sở. Nhưng Toàn quyền Đông Dương có cả một nhóm nhân viên làm việc trực tiếp và chỉ phục vụ riêng về một công việc nào đó cho Toàn quyền mà thôi, trong đó có nhân viên bưu chính. Giống như tổng thống Mỹ ngày nay có đến hơn 90 nhân viên phục vụ trong Nhà trắng cho riêng tổng thống, trong đó có những chức danh như chuyên viên… ống dẫn  nước… chẳng hạn! Có nghĩa là không có chuyện “cúp nước” hay “cúp điện” với Dinh Tổng thống. Cũng giống như thế, ông nội tôi có nhiệm vụ hàng ngày đi ra bưu điện nhận thư từ, công văn cho quan Toàn quyền, rồi lại đi gửi thư từ, công văn của quan Toàn quyền về Pháp. Để làm việc này, cụ có ô tô riêng và có một ông “tây đen” lái xe đi và về! Những điều tôi kể không quan trọng vì kiếm đâu chẳng có một nhân viên để làm những việc đó. Cái chính, như ông nội tôi kể là, sở dĩ quan Bẩy Toàn quyền chọn ông làm nhân viên vaguemestre vì… chữ ông nội tôi rất đẹp. Quan Bẩy rất kén người chữ đẹp để đề bao bì thư cho mình gửi về Pháp. Bây giờ chúng ta được xem những tờ giấy khai sinh của bố mẹ mình thời Pháp thuộc, thì thấy chữ viết được điền vào các tờ mẫu khai sinh thời đó rất đẹp. Đến chọn một nhân viên viết giấy khai sinh ở công sở, người ta còn chọn người chữ đẹp nữa là ở Phủ Toàn Quyền, viết bao thư cho Toàn quyền gửi về mẫu quốc. Cái văn hóa chữ đẹp ấy của người Pháp đã khiến ông nội tôi được quan Toàn quyền Đông Dương chọn làm nhân viên vaguemestre cho mình. Mà ông nội tôi viết chữ đẹp thật! Tôi đã bị ông nội tôi đánh sưng cả tay khi viết tập đồ. Ông nội tôi khi cầm cây bút có hình lưỡi mác chẻ đôi, khi viết có nét đậm nhạt khác nhau tùy theo chủ ý của người viết, chấm mực rồi, không phải đặt bút viết ngay… mà khua cây bút vài dòng để luyện gân tay rồi mới thả ngòi bút xuống trang giấy! Giống như hai đô vật trước khi lao vào đấu vật, họ thường múa vài đường thật đẹp để “diễu võ giương oai” và để làm đẹp lòng khán giả. Nhìn ông nội tôi cầm bút, trước khi viết, múa bút vài vòng như một thứ… “đạo”! Cái chữ đầu tiên của một địa chỉ trên phong bì thư đương nhiên phải viết chữ hoa. Vì thế nét bút đầu tiên phải là một nét phẩy từ dưới lên, rồi mới đến chữ cái viết hoa đầu tiên. Thiếu cái nét phẩy ngược lên ấy thì chữ cái viết hoa đầu tiên trơ trẽn như anh chàng “ở truồng” vậy! Ấy là lời bình của ông nội tôi. Có câu chuyện thú vị thế này. Khi người anh rể tôi là một đại úy quân đội được cử sang Liên Xô tu nghiệp ở học viện quân sự Phơ-run-de sau năm 1954. Một hôm có người báo với đại úy Việt Nam này rằng, anh lên gặp ngay thượng tướng hiệu trưởng trường. Ông anh rể tôi run quá. Một học viện cỡ quốc tế, có hàng nghìn học viên các nước theo họ, cắc cớ gì mà một học viên cấp úy như ông phải lên gặp thượng tướng hiệu trưởng? Vừa đi vừa run. Khi ông anh rể tôi đứng nghiêm giơ tay chào vị thượng tướng theo phong cách nhà binh và … chờ đợi. Bất ngờ vị tướng oai phong đó đặt một bức thư lên bàn và hỏi: Ai viết cho đồng chí bức thư này? Ông anh tôi cầm thư xem và thưa, đây là thư của ông nội vợ tôi viết trả lời sau khi nhận được thư hỏi thăm của tôi. Nghe rồi, vị tướng đó chỉ nói một câu ngắn gọn: Chữ ông nội vợ đồng chí đẹp quá! Rồi cho đồng chí đại úy Việt Nam… ra về!!! Thì ra cái văn  hóa chữ đẹp nó có cả ở bên Nga nữa.
Thế mà bây giờ người ta lại đi học cái “thư pháp” của Tàu, viết chữ Latinh mẫu tự a,b,c theo cách viết chữ tượng hình của chữ Hán thì thật là ngu ngốc quá! Nhìn mấy chữ Việt “thư pháp” trên các cuốn lịch Việt Nam ngày nay người ta phát lộn mửa!
Chuyện ông nội tôi làm veguemestre cho Toàn quyền Đông Dương nhờ chữ đẹp là như thế. Nhưng ngoài công việc của một nhân viên bưu chính cho Toàn quyền, ông nội tôi còn một nhiệm vụ nữa là làm thông ngôn, ngày nay gọi là phiên dịch cho quan Toàn quyền mỗi khi có các quan An Nam ở địa phương lên bẩm báo. Chủ yếu là vào các dịp tết, lễ, các quan tỉnh, quan huyện lên biếu xén quà cáp, đút lót cho Toàn quyền. Nếu các vị đó biếu Toàn quyền 10 thì cũng phải biếu ông nội tôi 1-2… vì sợ ông nội tôi dịch sai!!! Chính vì thế, khi đến tuổi 50, Toàn quyền Đông Dương bảo ông nội tôi theo luật thì công chức sở tây đến 50 tuổi phải nghỉ hưu, nếu mày muốn tiếp tục làm thì tao chuyển cho mày sang ngạch An Nam. Mày sẽ được  làm tri huyện, nhưng tri huyện vùng xuôi thì kín rồi. Nếu mày muốn thì làm tri châu (quan huyện ở miền núi) thì tao ký cho mày đi nhậm chức. Ông nội tôi suy nghĩ, nếu làm quan mà không ăn của đút, không bòn rút của dân, thì lấy đâu ra lụa là châu báu, của ngon vật lạ… để đem biếu quan trên như chính mắt ông tôi nhìn thấy. Vì thế, ông nội tôi xin về… Ngày ông nội tôi rời Phủ quyền, quan Bẩy tiển ra tận cổng phủ, bắt tay rất chặt trước lúc chia tay. Vẫn theo ông nội tôi kể, thì đó là lần đầu tiên có một người về hưu mà Toàn quyền tiễn ra tận cổng.
Chắc ông nội tôi phải là một công chức cần mẫn lắm thì mới được quan Toàn quyền “ưu ái” đến thế! Vậy mà, khi Cách mạng Tháng Tám thành công, kháng chiến toàn quốc sắp bùng nổ, ông nội tôi đã đem toàn bộ gia quyến tản cư lên Phú Thọ, theo lời kêu gọi của cụ Hồ trường kỳ kháng chiến.

Đọc những phần khác ở trang Lời Ai Điếu

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nguyên Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng chính thức bị xem xét trách nhiệm


UBKT Trung ương bắt đầu làm việc tại Bộ Công Thương để làm rõ một số vấn đề về quá trình bổ nhiệm nhân sự. Cụ thể, trong 60 ngày làm việc, trọng tâm sẽ không chỉ dừng lại ở các trường hợp bổ nhiệm ông Trịnh Xuân Thanh, nguyên Phó Chủ tịch tỉnh Hậu Giang; ông Vũ Quang Hải (con trai ông Vũ Huy Hoàng), thành viên Hội đồng quản trị kiêm Phó tổng giám đốc Tổng công ty cổ phần Rượu bia và nước giải khát Sài Gòn (Sabeco) mà còn bao gồm cả việc bổ nhiệm một số nhân sự quan trọng tại các doanh nghiệp trực thuộc Bộ.
Ông Vũ Huy Hoàng (trái) trao Quyết định bổ nhiệm 
ông Phan Đăng Tuất làm Chủ tịch Sabeco.
Ví dụ như: ông Đỗ Xuân Hạ, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tổng công ty Cổ phần rượu bia và Nước giải khát Hà Nội (Habeco), Mai Văn Lợi, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công tỷ Cổ phần Rượu Hà Nội (Halico)...và một số nhân sự khác.

Quá trình làm việc cũng sẽ xem xét trách nhiệm của Ban Cán sự Đảng, Nguyên Bộ trưởng, Bí thư Đảng bộ Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng.

Được biết, ông Vũ Huy Hoàng, ông Trịnh Xuân Thanh cũng được mời về Bộ Công Thương để làm việc với đoàn kiểm tra.


Mới đây, Ủy ban kiểm tra Trung ương cũng đã công bố kết luận về các sai phạm của ông Trịnh Xuân Thanh, tỉnh uỷ viên, nguyên Phó chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang - người từng có nhiều năm công tác tại Bộ Công Thương với nhiều vị trí khác nhau.

Riêng về việc bổ nhiệm ông Vũ Quang Hải thì Hiệp hội các nhà đầu tư tài chính Việt Nam (VAFI) đã từng nhiều lần kiến nghị. Bởi trước khi được bổ nhiệm vào các chức vụ trên, ông Vũ Quang Hải “dù không có thành tích gì đặc biệt”.

Trong khi đó, trao đổi với báo chí, Bộ trưởng Công Thương Trần Tuấn Anh khẳng định, trước mắt, Bộ Công Thương sẽ tập trung vào giải quyết những tồn tại công tác cán bộ.

Khi được hỏi có hay không "vùng cấm" khi xử lý, Bộ trưởng cho hay: "Luật pháp có những quy định, Đảng cũng có những nguyên tắc chung trong công tác cán bộ. Đặc biệt trong bối cảnh vừa rồi, đã có những chỉ đạo, quan điểm rất rõ ràng của lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

Hơn thế nữa có sự quan tâm chung của xã hội, thì đối với bất kỳ một ai, cho dù đó là người lãnh đạo cao nhất của một ngành, hay là cán bộ khác trong ngành, tôi nghĩ đều phải đặt nhận thức, ý thức trách nhiệm của mình trước luật pháp, trước Đảng, trước nhân dân lên cao nhất".

Cùng với đó, Bộ đang tập trung xử lý tốt công tác quy hoạch, chuẩn bị nguồn cán bộ có đủ năng lực, phẩm chất để công tác tại các đơn vị trong Bộ cũng như đội ngũ cán bộ tham gia công tác tại các thương vụ Việt Nam tại nước ngoài.

"Nguyên tắc dân chủ, công khai nhằm xây dựng một đội ngũ cán bộ ngày càng trong sạch, vững mạnh, có trình độ, có kỷ cương, lấy nhân dân, doanh nghiệp làm đối tượng phục vụ và coi trọng tương tác với doanh nghiệp và người dân”, Bộ Công Thương nhấn mạnh.

Trước đó, Bộ máy cán bộ của Bộ Công Thương cũng được Thủ tướng đánh giá là cồng kềnh và cần phải tái cơ cấu từ hàng vạn người tại 30 Cục, Vụ, 10 trường đại học, 22 trường cao đẳng, 11 tập đoàn, tổng công ty Nhà nước.

Ngày 11/7, phát biểu tại phiên thảo luận của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về báo cáo của Chính phủ, Chủ nhiệm Uỷ ban Tư pháp Lê Thị Nga đã đề nghị Chính phủ phối hợp với Uỷ ban Kiểm tra Trung ương, Ban Tổ chức Trung ương và một số cơ quan liên quan kiểm tra, làm rõ tại sao đến cuối nhiệm kỳ dư luận lại phản ánh một số Bộ ngành bổ nhiệm cán bộ ào ạt.

Về vấn đề bổ nhiệm người nhà, "cả họ làm quan", ông Lê Văn Cuông, ĐBQH khóa 11, 12 đoàn Thanh Hóa từng nói rõ: "Vấn đề này là một tệ nạn đang hoành hành, người dân rất phản ứng. Nếu như vị lãnh đạo nào không thấy được sai mà cứ lợi dụng chức quyền để tiếp tục đưa người nhà vào bộ máy nhà nước thì sẽ bị trả giá, không thể trốn tránh được trách nhiệm.

Nếu như các cơ quan chức năng của Trung ương vào kiểm tra làm rõ vấn đề này thì chắc chắn dư luận sẽ có thông tin cụ thể để phân biệt đúng sai và sẽ tỏ thái độ phản ứng phù hợp.

Nhất là gần đây Thủ tướng đã xác định chỉ bổ nhiệm người tài thôi, không được chọn người nhà. Việc này quan điểm rất rõ ràng nhưng các vị cứ tranh thủ lúc thực quyền, lợi dụng chức quyền đưa người nhà vào thì các cơ quan chức năng phải kiểm tra làm rõ và xử lý nghiêm chứ không thể để tình trạng này xảy ra phổ biến ở nhiều nơi thì rất nguy hiểm".

Sơn Ca


(Đất Việt)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chuyện về một chiến sĩ tình báo bị tù oan hơn 17 năm


“Những giọt dầu văng đi không ai biết tới”


Nhà văn Vũ Bằng được minh oan thì mọi người mới biết ông là một nhà tình báo. Cùng tổ tình báo hoạt động trong thành Hà Nội với nhà văn Vũ Bằng ngày ấy còn có một người đã phải gánh chịu nhiều trớ trêu của số phận khi bị bắt oan và kết án về tội … làm gián điệp và bị giam hơn 17 năm. Hơn 20 năm sau ông mới được minh oan sau khi đã chấp hành xong án cải tạo. Người đó là Nguyễn Phổ, từng nổi tiếng là thợ làm ảnh kẽm giỏi nhất Bắc Kỳ những năm 40 của thế kỷ trước.


Kỳ I: Làm gián điệp, nói xấu chế độ, đốt công xưởng và … ăn cắp ?!

Phải nhờ tới người cháu ruột của ông Phổ dẫn đường, tôi mới tìm được tới căn hộ ở khu tập thể quân đội nằm khuất trong con ngõ nhỏ ở Nghĩa Tân, nơi bà Phổ đang sống cùng con trai thứ. Căn hộ này là quân đội cấp cho ông như một sự đền bù sau những năm dài ông phải chịu oan ức. Năm nay bà đã bước sang tuổi 85, trải qua bao vất vả, đau khổ của cuộc đời. Mấy năm trước, sau một cơn tai biến mạch máu não bà không nói được nữa và phải ngồi xe lăn, nhưng khi nghe tôi nhắc đến chuyện ông nhà thì bà vẫn hiểu, gật đầu, và từ hai khóe mắt đã dày vết chân chim, hai giọt nước mắt trào ra.
Sinh năm 1917 tại Hà Nội, Nguyễn Phổ là con thứ 8 của học giả nổi tiếng Nguyễn Văn Vĩnh, người có công rất lớn trong việc truyền bá chữ Quốc ngữ ở Việt Nam, là chủ bút của nhiều tờ báo tiếng tăm, chủ nhà in lớn. Ông Vĩnh từng là một đại gia của làng báo chí, xuất bản tại Hà Nội những năm đầu thế kỷ 20. Nhưng rồi, do không chịu hợp tác với chính quyền Thực dân Pháp mà ông bị o ép tới mất hết cơ nghiệp, nợ nần chồng chất, phải bỏ sang Lào đi tìm vàng và chết trên một chiếc thuyền độc mộc bên bờ sông Sepon năm 1936, một cái chết mà cho tới bây giờ vẫn còn nhiều bí ẩn. Sinh ra đúng lúc cảnh nhà đã sa sút, Nguyễn Phổ không có may mắn được sống trong nhung lụa như các anh chị em của mình. Sau này, trong khi các anh em có những người theo nghiệp chữ nghĩa của cha và rất nổi tiếng như nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp, Nguyễn Giang,… thì mới 15 tuổi Nguyễn Phổ đã phải đi học nghề làm thợ xắp chữ, tráng ảnh kẽm trong nhà in. Tuổi trẻ với những mơ ước được sống và cống hiến hết mình cho lý tưởng, bởi vậy những ngày học nghề trong nhà in, được sống cùng những người công nhân mang tư tưởng cách mạng vô sản đã khiến anh thợ trẻ có cảm tình với cách mạng. Vì thế ngay từ trước năm 1945, Nguyễn Phổ đã nuôi dấu ông Trần Quốc Hương, một người từng sinh hoạt trong phong trào hướng đạo sinh, khi ông Hương trở lại Hà Nội móc nối cơ sở.
Cách mạng tháng Tám như một luồng gió mới đã làm thay đổi hoàn toàn nhận thức của anh thợ nhà in Nguyễn Phổ, từ có cảm tình sẵn sàng tin và đi theo cách mạng. Trong những ngày tổng khởi nghĩa, Nguyễn Phổ cùng công nhân nhà in Têrêxa in truyền đơn và là người tham gia in những tờ giấy bạc đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 2/9/1945, một người em trai của Nguyễn Phổ là Nguyễn Dực, khi đó là chủ một cửa hiệu kinh doanh radio đã mang toàn bộ máy móc của mình ra quảng trường Ba Đình lắp đặt hệ thống phóng thanh để Bác Hồ đọc bản tuyên ngôn độc lập. Sau đó ông Dực đã đóng góp toàn bộ số máy móc này cho cách mạng và trở thành một trong những người đầu tiên có công lớn lập nên Đài tiếng nói Việt Nam.
Toàn quốc kháng chiến bùng nổ, Nguyễn Phổ mang toàn bộ tiền dành dụm của gia đình mua thuốc ảnh, máy móc ủng hộ kháng chiến và cùng công nhân theo báo Cứu Quốc lên Chi Nê (Hòa Bình) làm công nhân nhà in. Tháng 1 năm 1948, Cục Tình báo, thuộc Nha Liên lạc, Phủ Thủ tướng (nay là Tổng cục 2 – Bộ Quốc Phòng) tuyển Nguyễn Phổ vào mạng lưới tình báo quân đội và đưa về hoạt động nội tuyến với vỏ bọc là thợ làm ảnh kẽm tại nhà in ở Hà Nội. Tại tổ tình báo ấy có một người bạn mà Nguyễn Phổ từng chơi rất thân là nhà văn Vũ Bằng. Nhiệm vụ của tổ là thu thập tin tức chuyển ra chiến khu qua hộp thư giao liên. Hoạt động trong lòng địch tổ tình báo này đã hoạt động rất hiệu quả vì mỗi người đều có vỏ bọc rất thuận lợi để giao du và thu thập tài liệu. Với tay nghề ảnh kẽm vào loại số một khi đó, Nguyễn Phổ được tuyển vào làm thợ làm ảnh kẽm ở Phòng Thông tin Mỹ, thực chất là một cơ quan tình báo.
Nhắc lại những ngày hoạt động, ông Nguyễn Văn Đăng, nguyên đại đội trưởng đơn vị PC256, tiểu đoàn 610A, trung đoàn 75, người chỉ huy trực tiếp nhóm điệp báo ngày ấy kể rằng, từ đầu mối thông tin quan trọng này rất nhiều thông tin quan trọng đã được Nguyễn Phổ sao chụp và chuyển qua các hòm thư liên lạc để đưa ra chiến khu. Sáu năm hoạt động trong lòng địch, tổ tình báo này đã chuyển rất nhiều tin tức có giá trị ra ngoài. Đặc biệt cho tới ngày giải phóng thủ đô, tổ tình báo vẫn không bị lộ. Vì vậy, sau khi giải phóng thủ đô nhà văn Vũ Bằng tiếp tục vào Nam, còn ông Phổ do hoàn cảnh gia đình xin được ở lại Hà Nội. Ngày đó, nhà in tiến bộ là cơ sở in hiện đại nhất được tiếp quản, những người thợ kẽm rất cần, vì vậy khi ông Phổ được phép ở lại tổ chức đưa ông vào làm thợ kỹ thuật ở đây.
Nhưng ông không thể ngờ được những trớ trêu của số phận đã đổ xuống gia đình mình mà bắt nguồn từ một sự nhầm lẫn. Nghề tình báo với những bí mật “sống để bụng chết mang theo”, tới vợ con cũng không được phép biết công việc của mình, vì vậy mà có những nỗi oan khuất không thể minh oan trong ngày một ngày hai. Sau ngày giải phóng thủ đô, một trong những nhiệm vụ của ngành công an là bóc gỡ những đường dây gián điệp Pháp, Mỹ cài lại và nhóm tình báo của ông Phổ (do Cục 2 – Bộ Quốc phòng quản lý) cũng bị công an Hà Nội đưa vào tầm ngắm (cũng dễ hiểu vì nhóm này có nhiều người quá nổi tiếng, một nhà văn bị mang tiếng “dinh tê” từ thời kháng chiến, một người lại từng làm nhân viên sở Mỹ). Vì vậy, sau khi nhà văn Vũ Bằng vào Nam mà ông Phổ ở lại, ngày 29/9/1955, Nguyễn Phổ bị bắt khi đang làm việc ở Nhà in Tiến Bộ. Ngày đó, rất vô tình xưởng sản xuất ở nhà in bị cháy mà lại cháy từ tủ đựng đồ của Nguyễn Phổ. Khám nhà riêng của ông Nguyễn Phổ, người ta thu được máy và những vật liệu in ảnh kẽm. Vậy là với ba tội danh: Làm gián điệp Mỹ, nói xấu chế độ, đốt công xưởng và ăn cắp của công, ông Phổ bị tuyên bố 15 năm tù giam. Khi mới bị bắt, ông đã kêu oan. Nhưng vào thời đó, chẳng ai chịu nghe lời kêu cứu của một người mắc tội tày trời là làm gián điệp. Còn những người chỉ huy thì không thể đứng ra minh oan cho ông, bởi nếu cứu được ông thì những người đang hoạt động trong lòng địch sẽ lộ. Đây chính là bi kịch của những người làm tình báo.



Kỳ II: Chuyện buồn nhưng có hậu

Ngôi nhà ở 25 Nguyễn Gia Thiều, Hà Nội cùng vật dụng gia đình bị tịch thu, vợ con ông phải đi ở nhờ trong một căn gác 16m2 ở ngõ Liên Trì. Vợ ông khi đó mới 35 tuổi bị đình chỉ công tác, đàn con 7 đứa nheo nhóc, đứa nhỏ nhất mới được 5 tháng, bà mẹ già gần 80 tuổi sau cú sốc quá lớn, nhìn đàn con cháu bỗng chốc không cửa không nhà đã bỏ về quê chồng ở làng Phượng Dực (xã Phượng Vũ – Phú Xuyên – Hà Tây) và chết trong cảnh một thân một mình ở quê. Mười bảy năm ông bị tù oan là 7 đứa con lần lượt lớn lên trong thiếu thốn và cả sự kỳ thị vì là con của gián điệp, với một lí lịch “đen”, chẳng ai được vào đại học dù học rất giỏi và phải vào đời bằng những con đường nhọc nhằn khác. Còn ông, trong khi tòa tuyên án 15 năm tù, trong thời gian cải tạo dù luôn được khen thưởng là cải tạo tốt và được giảm án 2 lần với thời gian 5 năm 6 tháng, nhưng rồi những người được giảm án cùng ông lần lượt được trở về, còn ông thì không và còn phải ở thêm 2 năm so với mức án mà tòa tuyên mà không có một lời giải thích rõ ràng.
Dằng dặc những năm bị tù oan, có lẽ niềm tin một ngày sẽ được minh oan là liều thuốc tinh thần mạnh nhất để ông Phổ không gục ngã. Và trong những năm dài sống trong oan khuất ấy để động viên vợ con ông thường viết thư về. Trong rất nhiều lá thư ấy, các con ông vẫn nhớ có lần ông đã viết: “Mỗi cỗ máy, muốn chuyển động đến đích, đều phải nhờ đến lực đẩy và dầu mỡ bôi trơn. Song khi tới đích đâu phải tất cả đều còn ở lại để kể công của mình. Bánh xe lịch sử cũng vậy. Các con hãy coi gia đình ta là một trong vô vàn những giọt dầu văng đi không ai biết tới ấy.” Ngày 30/10/1972, ông được trả tự do sau 17 năm 1 tháng 1 ngày ngồi tù, khi đã bước sang tuổi 56.
Ra tù, việc đầu tiên ông nghĩ tới là phải xin minh oan với quyết tâm dù có phải đội đơn đi bất cứ đâu, bởi với ông không còn thử thách nào hơn 17 năm ngồi tù đầy oan khuất. Và phải mất 6 năm chờ đợi, ngày 28/3/ 1978, tại phiên tòa giám đốc thẩm, tòa án nhân dân tối cao đã tuyên ông vô tội và phục hồi mọi quyền lợi, chế độ. Nhưng bản án này mới là phần đầu của hành trình đi tìm lại những gì đã mất.
Mặc dù tòa đã tuyên phục hồi mọi quyền lợi, nhưng khi gõ cửa các cơ quan có trách nhiệm thì không ai muốn đứng ra giải quyết quyền lợi cho ông. Lại thêm những năm dài cầm đơn khiếu nại đi khắp nơi. Và đời ông vẫn còn may mắn khi gặp được những người đồng đội tốt. Lời thỉnh cầu của ông được gửi tới lãnh đạo Bộ Quốc phòng, Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng (nay là Văn phòng Chính phủ). Mãi tới năm 1990, nhờ có sự can thiệp của nhiều cơ quan, gia đình ông được Ủy ban Nhân dân Thành phố Hà Nội cấp cho căn hộ tập thể ở Thanh Xuân. Sau rất nhiều công văn trao đổi giữa Bộ Quốc phòng với Bộ Lao động – Thương binh xã hội, cuối cùng ông được xếp mức lương hưu công nhân viên quốc phòng bậc thợ 7/7 và tính thời gian công tác liên tục từ năm 1948 tới năm 1981. Tháng 7 năm 1995, Bộ Quốc phòng quyết định cho ông được truy lĩnh lương của 17 năm tù oan số tiền 55 triệu đồng và 45 triệu đồng tiền bồi thường những vật dụng gia đình đã bị tịch thu năm 1955. Đầu năm 1996, Bộ Quốc phòng cấp cho ông căn hộ tập thể ở khu tập thể quân đội Nghĩa Tân. Tháng 2 năm 1997, ông được Chủ tịch nước tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhì “vì đã có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước”.
Những năm cuối đời, ông Phổ sống khá lặng lẽ. Các con ông dù phải vào đời bằng những con đường khá chật vật nhưng đều là những công dân tốt. Trong những câu chuyện với các con, ông ít khi nhắc lại chuyện cũ. Niềm vui lớn nhất là ông vẫn còn cơ hội làm và truyền nghề ảnh kẽm bởi sau này Sở Văn hóa tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng, biết tiếng ông là thợ giỏi đã mời ông làm giáo viên 1 năm.
Thấm thoát đã là lần giỗ thứ 8 của ông Phổ. Bây giờ nhắc lại những chuyện đã qua, các con ông vẫn bảo đời ông là câu chuyện buồn nhưng có hậu và tự động viên nhau rằng sống ở đời này đâu phải ai cũng đều gặp may mắn.
Việt Hằng

Phần nhận xét hiển thị trên trang

ỐNG NƯỚC TRUNG QUỐC ĐỘC HẠI ĐANG ĐƯỢC SỬ DỤNG NHIỀU Ở TA


Ống nước Trung Quốc vừa bị hủy thầu đang được sử dụng tại nhiều dự án ở Việt Nam
 
 
(GDVN) - Tại Việt Nam, XinXing đã thực hiện hàng chục hợp đồng cung cấp ống gang dẻo tại các dự án cấp nước ở Bình Dương, Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh, Lâm Đồng… 

Thông tin Công ty cổ phần nước sạch Vinaconex (Viwasupco) hủy thầu và không ký kết hợp đồng với Công ty TNHH ống gang dẻo Xinxing (Trung Quốc) cho dự án đường ống nước sông Đà 2 mới đây được xem là khá bất ngờ. 

Trước đó đích thân ông Nguyễn Văn Tốn, Tổng Giám đốc Viwasupco từng đăng đàn trả lời báo chí khẳng định Xinxing là tập đoàn sản xuất có uy tín và quy mô thứ hai trên thế giới. Họ đã có 20 năm kinh nghiệm về sản xuất các ống kích thước lớn, có năng lực tài chính tốt và đã niêm yết trên thị trường chứng khoán Trung Quốc.

Đường ống nước Sông Đà số 1 bị vỡ 17 lần khiến cuộc sống của khoảng 70.000 hộ dân thuộc 6 quận nội thành Hà Nội thường xuyên bị ảnh hưởng. Ảnh: VnEconomy. 

Trả lời trên Báo Đầu tư, ông Thân Thế Hà - Phó tổng giám đốc Tổng công ty cổ phần Xuất nhập khẩu và xây dựng Việt Nam Vinaconex (Vinaconex) cũng cho biết: Nhà thầu Xinxing là nhà sản xuất ống nước nổi tiếng thế giới về quy mô, thị trường và sản phẩm. Tại Việt Nam, Xinxing cung cấp đến 90 - 95% các dự án cấp nước dùng ống gang dẻo như Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng, Bình Dương…


Theo tìm hiểu của phóng viên, tại Việt Nam đúng là XinXing đã thực hiện hàng chục hợp đồng cung cấp ống gang dẻo tại các dự án cấp nước ở Bình Dương, Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Lâm Đồng… 

Cụ thể, dự án cấp nước Bình Dương (năm 2010, 2011, 2013..) đã dùng gần 10,6 ngàn tấn ống gang dẻo của XinXing; Dự án cấp nước TP.Hồ Chí Minh (năm 2010, 2012…) dùng 4,5 ngàn tấn ống gang dẻo của XinXing; Dự án cấp nước Hà Nội (năm 2010, 2013..,) dùng 4,7 ngàn tấn ống gang dẻo của XinXing…

Các đối tác của XinXing trong các hợp đồng cung cấp ống gang dẻo có thể kể đến Công ty TNHH MTV Tổng công ty Cấp nước Sài Gòn; Công ty Nước sạch Hà Nội; Công ty TNHH MTV Cấp thoát nước môi trường Bình Dương; Công ty Cấp thoát nước Lâm Đồng…

Tuy cả Viwasupco và Vinaconex đều dành nhiều nhận xét tốt cho Xinxing nhưng tờ Đất Việt cho hay, Trung tâm Hỗ trợ đấu thầu (Cục Quản lý đấu thầu, Bộ Kế hoạch và đầu tư) đã tỏ ý quan ngại về chất lượng sản phẩm được công ty của Trung Quốc sản xuất và tiêu thụ.

Đơn vị này cho biết theo các chuyên gia, chất lượng ống gang dẻo của nhà thầu này trước đây không làm hài lòng khách hàng. Bên cạnh đó, nhiều khách hàng trên thế giới đã có những phản hồi không tích cực đối với các sản phẩm của Xinxing.

Trước những luồng dư luận trái chiều, động thái hủy thầu với Xinxing của Viwasupco thu hút sự quan tâm của dư luận. Đặc biệt trong bối cảnh nhiều phản ánh cho thấy không ít công trình, dự án do nhà thầu Trung Quốc thi công, lắp đặt hay cung cấp vật tư, trang thiết bị… có vấn đề về chất lượng cũng như tiến độ.

Hơn nữa, trong quá trình đấu thầu cho dự án đường đường ống nước Sông Đà 2 và quyết định chọn Công ty THNN Ống gang dẻo Xinxing (Trung Quốc) là đơn vị trúng thầu với giá thầu thấp hơn 11,8%, Viwasupco vướng nghi án thông thầu với đối tác này. 
Trong khi đó, bày tỏ quan điểm trước việc Viwasupco hủy thầu, không mua ống gang dẻo của đối tác Xinxing, Kỹ sư Nguyễn Sỹ Trung - Viện Khoa học và Công nghệ Giao thông Vận tải (người từng chỉ ra nhiều nguyên nhân gây vỡ đường ống nước sách sông Đà) cho rằng: Chất lượng đường ống nước chỉ là một phần làm nên độ bền của đường nước sạch. Vấn đề thi công mới là nguyên nhân chính dẫn đến vỡ đường ống nước. 

Theo lý giải của vị kỹ sư này, trên cả tuyến nước sạch sông Đà các điểm bị vỡ chủ yếu trên đường đại lộ Thăng Long mà không xảy ra trên tuyến Quốc lộ 6.

“Nếu chỉ do chất lượng ống nước thì phải vỡ toàn tuyến. Do đó có nguyên nhân từ việc thi công”, Kỹ sư Trung nêu quan điểm.

Về việc lắp đặt thi công đường nước sạch sông Đà 2, để tránh xảy ra sự cố vỡ như dự án trước đó, theo ông Trung vấn đề quan trọng nhất vẫn là quá trình thi công lắp đặt đường ống: Thứ nhất, thi công đấu nối các điểm ống nước phải đúng kỹ thuật; Thứ hai xử lý nền đất nơi đặt ống nước để đảm bảo không sụt lún. 

Hồng Minh

Phần nhận xét hiển thị trên trang

TRUNG TÂM HÀNH CHÍNH PHẠM VÀO CUNG "HOANG ỐC"


  Trung tâm hành chính Đà Nẵng bộc lộ nhiều bất cập sau khi đưa vào sử dụng. 

Đà Nẵng sẽ chuyển các sở, ngành khỏi trung tâm hành chính 2.000 tỷ 

VNE
 
Thứ năm, 11/8/2016 | 13:07 GMT+7 

Sau 2 năm đưa vào sử dụng và là nơi làm việc tập trung của bộ máy hành chính, Đà Nẵng đang có chủ trương chuyển các sở, ngành đến trụ sở làm việc mới.

Tại phiên chất vấn và trả lời chất vấn kỳ họp HĐND TP Đà Nẵng khoá 9 sáng 11/8, đại biểu Trần Văn Trường (Bí thư Huyện ủy Hoà Vang) bất ngờ đặt hàng loạt câu hỏi: thành phố tính toán chọn thời điểm xây dựng Trung tâm hành chính mới ở đâu, bao giờ triển khai, nếu di dời thì Trung tâm hành chính hiện nay sẽ bố trí vào việc gì?

Theo đại biểu Trường, ông được biết lý do phải di dời Trung tâm hành chính vì tòa nhà hiện nay ở vị trí không phù hợp, ảnh hưởng đến giao thông trong giờ cao điểm, hệ thống thông gió không được đảm bảo, thiếu không khí, thiếu oxy ảnh hưởng đến sức khỏe của cán bộ, công chức.


Phó chủ tịch UBND TP Đà Nẵng Đặng Việt Dũng nói "đây là vấn đề lớn", trong chương trình hành động của Thành ủy có giao các ngành nghiên cứu "xây dựng khu hành chính chứ không phải trung tâm hành chính".

Ông Dũng cho biết, tòa nhà Trung tâm hành chính Đà Nẵng có ưu điểm lớn nhất là hoạt động tập trung và được đánh giá trong chỉ số PCI về cải cách hành chính. Nhưng hạn chế của tòa nhà là không khí chưa sạch, quá nóng. Ban quản lý tòa nhà đang tiếp tục bơm khí tươi để đảm bảo điều kiện làm việc cho công chức.

"Sau khi nghiên cứu, lựa chọn, tính toán việc xây khu hành chính sẽ lấy ý kiến dư luận rộng rãi, tạo sự đồng thuận, đảm bảo sau này địa điểm chúng ta chọn hoặc chúng ta có di dời thì cũng thỏa mãn các điều kiện phục vụ người dân cũng như làm biểu tượng của thành phố", ông Dũng nói.

Chưa hài lòng với phần trả lời của Phó chủ tịch, ông Trường tiếp tục đặt vấn đề: "Anh Dũng nói cái này là vấn đề lớn, cần lấy ý kiến nhân dân. Vậy khi xây Trung tâm hành chính cũ có lấy ý kiến nhân dân đâu. Trước đây mình không lấy, mình cũng làm được".

Ông Dũng trả lời: "Trước đây không lấy bây giờ mình lấy cũng không có vấn đề gì. Càng lấy ý kiến rộng rãi nhân dân càng tốt. Không phải vì trước đây chúng ta không lấy mà bây giờ không lấy".

Kết luận vấn đề này, ông Nguyễn Xuân Anh, Bí thư Thành ủy, Chủ tịch HĐND TP Đà Nẵng, xác nhận thành phố có chủ trương di dời Trung tâm hành chính. "Để làm việc này phải chuẩn bị rất kỹ, phải qua nhiều khâu. Không thể nói là di dời Trung tâm hành chính ngay được", ông nói.

Theo Bí thư Đà Nẵng, phải làm rõ việc tại sao di dời, giữa Trung tâm hành chính hiện nay và nơi dự định di dời tới có tốt hơn không. "Chỉ có tốt hơn mới làm", ông Xuân Anh chỉ đạo và yêu cầu các ngành liên quan phải làm kỹ, lấy ý kiến rộng rãi của nhân dân, các công chức viên chức đang làm việc trong tòa nhà trước khi trình HĐND thành phố quyết định.


 Nguyễn Đông

--------

Tưởng Ông Nguyễn Bá Thanh thế nào! Chứ làm nhà mà phạm vào Hoang Ốc thì dù nhà 10 ngàn tỷ cũng bỏ hoang như thường! Nhá! 

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Tư, 10 tháng 8, 2016

Cho gã được khóc thương một người dưng.

Tưởng nhớ Dr. Rupert Neudeck, người đã cứu 11.300 người Việt Nam trên Biển Đông hồi thập niên 1980
“Dr. Rupert Neudeck ra đi với nhiều ước mơ chưa trọn vẹn. Ông ước mơ một thế giới an bình không chết chóc chiến tranh. Ông ước mơ tiếp tục cứu giúp người tỵ nạn trên thế giới. Ông ước mơ ngày nào đó sẽ chạy Marathon trên suốt giải Gaza tại Palestine. Ông ước mơ đi trên chuyến xe lửa xuyên hết đất nước Sudan. Ông ước mơ học tiếng Việt và tiếng Ả Rập và ông ước mơ mình sẽ sống tại Phi Châu trong những tháng năm cuối đời… Cho dù bây giờ ông có thể sống tại Phi Châu hay Palestine, hay trên bất cứ đất nước nào như trong mơ ước của ông, nhưng có một điều chắc chắn rằng, ông vẫn còn sống mãi trong lòng những người tỵ nạn VN chúng tôi và tất cả mọi người trên thế giới”.
Đó là những lời được viết ra bằng nước mắt của Nguyễn Hữu Huấn, một người vượt biển trong số 11.300 người vượt biển giữa đại dương được ông cứu sống.
Gã không hề là người vượt biển. Gã vốn sợ sóng. Một lần đi tàu thủy cứu trợ bà con Côn Đảo bị bão cùng một nhà sư, sóng đánh dữ dội đến nỗi gã có lúc đã có ý nghĩ thà nhẩy xuống Biển cho sóng cuốn đi còn hơn. Nhưng rồi cái hình ảnh ung dung tự tại của nhà sư bình thản ngồi thiền trước bão tố làm gã bỏ qua cái ý nghĩ chạy trốn cơn lộn ruột sôi gan vì sóng ấy.
Gã hiểu sự liều mình và quả cảm của đồng bào của gã khi dứt áo ra khơi.
Một chân trời mới.
Gã tôn trọng sự chọn lựa ấy.
Gã chua xót , đớn đau cùng tủi hổ vì gã là thành viên của một đất nước mà gã vô cùng thương yêu đã đẩy những đồng bào ruột thịt của mình phải đứng trước sự chọn lựa sinh tử.
Thưa ông Dr. Neudeck ! Xin ông cho gã một người có biết làm thơ ngợi ca cái đẹp của đất nước này được khóc trước sự ra đi mãi mãi của ông.
Gã xin ghi lại một vài lời kể của ông Nguyễn Hữu Huấn, người bạn thân thiết của ông để bạn đọc của gã cũng được nhỏ những giọt nước mắt tiếc thương ông.
***
Thuở ban đầu, ít ai biết chuyện có nhiều phần tử cực đoan quá khích người Đức đã ném từng gói phân vào nhà ông như một hành động chống đối việc ông đang kêu gọi cứu vớt thuyền nhân VN. Ông chỉ trích thẳng thừng chế độ quan liêu cứng ngắc của chính quyền Đức và sự thờ ơ của các chính trị gia Đức thời đó. Ông phê bình cả Giáo Hội Công Giáo Đức là quá hoang phí tiền của để sửa sang nhà thờ, trưng bày hoa nến một cách xa hoa, hay chỉ biết ngày đêm cầu nguyện trong phòng kin mà không thực sự bằng hành động cứu giúp tha nhân đang khốn cùng chết chóc, nghèo đói vì chiến tranh hay thiên tai.
Hai lần con tàu Cap Anamur của ông bắt buộc phải chấm dứt trở về cảng Hamburg là hai lần đã cứu vớt đủ số lượng thuyền nhân tỵ nạn VN đã được chính quyền Đức phê chuẩn chấp nhận vào định cư tại Đức. Ông đã liều mạng bất chấp luật lệ và hậu quả, ra lệnh cho chúng tôi mỗi lần trước khi trở về phải kéo dài thêm thời gian tìm cứu người vượt biển và cố gắng vớt thêm được càng nhiều càng tốt. Chính vì thế mà lần thứ nhất, tháng 5 năm 1982, chuyến cuối cùng của tàu Cap Anamur I đã mang theo 178 thuyền nhân tỵ nạn cập cảng Hamburg, trong khi con số được chấp thuận chỉ còn vỏn vẹn vài chục.
Rồi đến tàu Cap Anamur II sau hơn 3 tháng hoạt động đã phải trở về Hamburg vào tháng 6 năm 1986 với 357 thuyền nhân, trong khi chỉ có hơn 100 được chấp thuận trước đó. Ông đã mạo hiểm cố tình đẩy chính quyền Đức lúc bấy giờ vào thế tiến thoái lưỡng nan, bắt buộc phải nhận thêm số người thặng dư này vì cả hai con tàu đều mang quốc tịch Đức và cảng mẹ cũng tại Đức (theo luật tỵ nạn LHQ lúc bấy giờ).
Năm 1987, nước Đức cương quyết không nhận thêm thuyền nhân VN nữa, ông hợp tác ngay với hội Y Sĩ Thế Giới của Pháp (Médecins du Monde) cho ra con tàu Cap Anamur III, mang quốc tịch Pháp, nước Pháp nhận hết thuyền nhân (905 người) và ủy ban Cap Anamur chịu tất cả mọi phí tổn. Khi các trại tỵ nạn đóng cửa không tiếp nhận thuyền nhân cùng với chương trình thanh lọc và cưỡng bức hồi hương, thì năm 1989 ông lại âm thầm cho ra khơi liên tiếp 2 con tàu (tháng 6 Cap Anamur IV và tháng 10 Cap Anamur V) với hai mục đích là đánh đuổi bọn hải tặc Thái Lan và giúp đỡ hướng dẫn thuyền nhân VN cập đảo. Đây là một hành động đi ngược lại luật lệ, ngược lại chính sách của Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ và các chính quyền đang có trại tỵ nạn tại Đông Nam Á thời bấy giờ. Mỗi khi phát hiện được ghe vượt biển, chúng tôi đưa họ lên tàu, câu luôn cả chiếc ghe. Các thủy thủ có nhiệm vụ kiểm soát an toàn cho chiếc ghe hoặc sửa chữa máy nếu bị hư hại. Các nhân viên y tế khám sức khỏe, phát thuốc và chúng tôi phân phát lương thực cho mọi người. Tất cả đều được đựng trong những túi nylon hoặc chai bằng nhựa, không nhãn hiệu, không xuất xứ để tránh có thể bị phát hiện sau này. Thuyền trưởng có nhiệm vụ chọn ngày giờ tối đen nhất, không trăng sao, tắt tất cả đèn tàu trên boong, lái tàu tiến vào chỗ gần bờ nhất, rồi câu ghe xuống. Chúng tôi dùng đèn pin đưa từng người xuống ghe, giao tận tay anh tài công 1 búa tạ lớn và 1 súng bắn hỏa pháo, dặn dò khi vào đến bờ phải đập tan nát ghe và máy ghe, rồi bắn hỏa pháo để chúng tôi biết được họ đã an toàn cập bờ. Vừa nhìn thấy hỏa pháo, thuyền trưởng tức khắc cho tàu chạy ra xa, chờ khi trời vừa sáng lại tiến vào chạy ngay bờ quan sát. Không cần ống nhòm chúng tôi cũng thấy được chiếc ghe đen đậm màu vỡ nát trên bờ cát trắng với tiếng reo hò của những thuyền nhân trong trại thức sớm. Cứ thế, hơn một chục chiếc ghe cập bờ với hàng trăm thuyền nhân được bình an do quyết định âm thầm đầy táo bạo và liều lĩnh của Dr.Rupert Neudeck!
Năm 1986, gia đình ông nhận một chú bé thuyền nhân VN không cha mẹ thân nhân làm con nuôi. Ba năm sau thì được tin người cha ruột của chú bé này vừa được định cư tại Hoa Kỳ và có ý muốn nhận lại con. Ông muốn chính mình đưa chú bé giao tận tay cho gia đình (cha nuôi gặp cha ruột – như ông nói). Tôi liên lạc và thu xếp để ông đi. Người Việt tỵ nạn bên Hoa Kỳ muốn tiếp đón ông như một đại ân nhân thật trang trọng. Cả một phái đoàn người Việt áo quần chỉnh tề với bó hoa thật đẹp. Máy bay đáp xuống, hành khách lần lượt bước ra gần hết nhưng vẫn không ai thấy ông đâu và ai cũng lo sợ nhầm chuyến bay hoặc khả dĩ liệu ông đổi ý vào giờ chót chăng. Bỗng có người thấy một ông già với bộ râu xồm xoàm, gầy đét, quần jean áo bỏ ngoài đang ngồi trong một góc vắng cười đùa nói chuyện với một chú bé VN. Có người đến hỏi ông, ông mỉm cười tự giới thiệu. Lúc đó cả phái đoàn giật mình, đồng loạt cởi bỏ áo vét và cravattes, ngượng ngùng trao ông bó hoa. Ông từ chối mọi phỏng vấn, từ chối mọi tiếp đón để trao tận tay cậu bé cho người cha ruột. Ông từ chối đến khách sạn đòi nghỉ đêm tại nhà cha ruột của cậu bé và trở về lại Đức ngay sáng hôm sau.
Năm 1987 sau khi con tàu Cap Anamur III về Pháp, nhiều đoàn thể tổ chức người Việt tỵ nạn tại Hoa Kỳ (sau này là Úc và Canada), đã nhiều lần mời Dr. Rupert Neudeck và một số vị ân nhân khác của thuyền nhân tỵ nạn VN sang Hoa Kỳ để vinh danh, đồng thời quyên góp cho những công tác cứu người vượt biển của ủy ban Cap Anamur và tổ chức Medicins du Monde của Pháp do ông Bernard Kouchner và Alain Deloche lãnh đạo. Dr. Rupert Neudeck luôn luôn từ chối không tham dự mặc dù tôi cố gắng đốc thúc. Ông suy nghĩ khác, vì theo ông, vinh danh là thừa thãi vô ích, ông không thích được vinh danh và ông muốn tôi nói với người Việt bên Hoa Kỳ rằng, nước Mỹ phải có trách nhiệm với thuyền nhân VN và người Mỹ gốc Việt có dư thừa điều kiện và khả năng sao không vận động cho ra một con tàu như ông để tự cứu chính dân tộc mình !!!
Cách đây vài năm ông bị mổ tim lần thứ nhất. Khi tỉnh dậy ông mới biết vị bác sĩ mổ tim cứu sống ông lại là một thuyền nhân VN được tàu Cap Anamur cứu sống gia đình anh, khi anh mới được 3 tuổi. Ông nắm tay vị bác sĩ này và nói: “Năm xưa tôi cứu sống anh và người VN, năm nay anh cứu sống tôi, như thế người Việt tỵ nạn và tôi huề với nhau, chúng ta không ai còn nợ nần ai nữa!”. Ông nhiều lần kể cho tôi những chuyện thật hy hữu với khuôn mặt rạng rỡ thích thú rằng, một lần sau khi dự hội nghị về người tỵ nạn thế giới của Cao Ủy Liên Hiệp Quốc (UNHCR) tại Hoa Thịnh Đốn, ông gọi một chiếc taxi. Anh tài xế vừa lái vừa ngoảnh cổ nhìn ông hỏi: “Ông có biết ông Neudeck ở bên Đức không?” Ông cười và trả lời “Ông ta là ai? Tôi không biết”. Anh taxi hơi ngượng nói lại: “Tôi nhìn ông sao giống ông Neudeck quá, ông ấy cứu vớt tôi từ ngoài biển đấy!”. Cả hai cùng cười… để rồi anh taxi nhất định không nhận tiền ông. Ông nói với tôi: “Thì ra cuốc xe này đáng giá cả một mạng người”.
Một lần khác trên phố Manhattan/New York khi ông đang lững thững đi bộ qua toà nhà World Trade Center (cũ), chợt có một chị từ trong tòa nhà bước ra ôm chầm lấy ông la lớn: “Ông là ông Neudeck-Cap Anamur phải không? Tôi là Cap Anamur 6 đây, ông nhớ không?”. Lại một anh khác chạy đến nắm tay ông nói: “Kính chào ông Neudeck, tôi Cap Anamur 12 đây”… Ông chẳng hiểu Cap Anamur 6 hay Cap Anamur 12 là gì nhưng vẫn tươi cười trả lời: “Tôi nhớ chứ! Tôi nhớ chứ!”… Ông kể cho tôi rồi hỏi: “Không nhẽ tôi nổi tiếng đến thế sao?”.Tháng giêng năm 2014, một phụ nữ VN được chọn tham dự chương trình “Wer wird Millionär ?” của Günther Jauch và thắng được 125.000 Euro. Cô tên là Đinh Quỳnh Anh Rohm, cô và gia đình được tàu Cap Anamur cứu sống năm 1982 khi cô mới 5 tuổi. Dr. Rupert Neudeck vui và hãnh diện lắm. Ông đến thăm vợ chồng cô và đích thân mời gia đình cô đến tham dự lễ kỷ niệm 35 năm con tàu Cap Anamur ngày 09 tháng 8 năm 2014 tại cảng Hamburg. Ông bảo đó chính là nguồn an ủi nhất của ông và gia đình khi ông đã khổ công tranh đấu đem những người tỵ nạn VN này vào nước Đức và ngày nay, họ là những “nhà vô địch thế giới về sự hội nhập”, thành công trên tất cả mọi lãnh vực trong xã hội Đức này.
Ngày 30 tháng 1 năm 2016, ông tham dự ngày hội Tết Nguyên Đán Bính Thân của người Việt tỵ nạn tại Bielefeld. Ông cảm thấy mỏi mệt, tức ngực và khó thở nên đi ra khỏi phòng và yêu cầu tôi chở ông về, từ 14 đến 16 tháng 5 năm 2016, ông phải nhập viện mổ tim lần thứ 3. Lần này ông nằm hôn mê trên giường bệnh cho đến khi lìa đời lúc 8 giờ sáng ngày 31 tháng 5 năm 2016, hưởng thọ 77 tuổi (1939-2016). Có những lúc ngón tay ông đã cử động, cũng có những lúc ông đã mở mắt nhìn vợ và con cháu mình và gật đầu khi được hỏi ông có muốn nghe nhạc Mozart không. Những niềm hy vọng chợt lóe lên trong sự mong đợi khát khao của gia đình, nhưng ai ngờ đâu đó chỉ như ngọn nến chợt bừng sáng trước khi thật sự lịm tắt. Ông đã thật sự vĩnh viễn ra đi.
Một tuần sau, ngày 14 tháng 6 năm 2016, Toà Tổng Giám Mục Tổng Giáo Phận Koeln và tang quyến tổ chức Thánh Lễ tưởng niệm ông tại Vương Cung Thánh Đường St.Aposteln do Đức Hồng Y Rainer Maria Woelki chủ tế cùng với 12 Linh Mục Việt Nam (đa số đều được tàu Cap Anamur cứu sống trước đây). Gần 2.000 người tham dự, hầu hết là thuyền nhân Việt Nam đến từ các nơi trong nước Đức và các quốc gia lân cận.Hầu hết các Chùa Việt Nam và các cộng đoàn Công Giáo Việt Nam trên toàn nước Đức đồng loạt tổ chức lễ tưởng niệm và cầu hồn cho ông như một nghĩa cử cám ơn và thương tiếc vị ân nhân đã cứu sống họ và gia đình.
Trên một chuyến xe lửa trong thành phố Koeln ngay trong ngày lễ tưởng niệm ông (14.6.2016) có người đã viết trên 1 toa xe dòng chữ “R.I.P. Rupert Neudeck” (Rest In Peace – Rupert Neudeck – Yên Nghỉ Trong An Bình). Một tấm hình khác xuất hiện trên Internet cho thấy hình con tàu nhân đạo Cap Anamur được xăm trên đùi một thanh niên Việt Nam như một ghi nhớ con tàu này đã cứu sống anh.
***
Từ đất nước quê hương của những thuyền nhân mặc dù trễ gần hai tháng, một nén nhang dâng ông.
Và Biển Đông ơi, nơi nao trong lòng đại dương bao thân phận chả được may mắn gặp ông?
Gã cũng xin một nén nhang cho những thân phận ấy nữa...
Gã hy vọng rằng một ngày không xa trên bờ Biển Đông của Tổ quốc gã sẽ có một tượng đài của dân tộc tưởng nhớ đến những người dân vô tội đã không bao giờ được đặt chân tới bờ.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chân dung nhà văn Phùng Quán -




Tôi kết bạn với Phùng Quán cho đến tháng 7 năm nay là đúng 33 năm. Phùng Quán 63 tuổi, tôi 70 tuổi. Tôi không phải là bạn văn thơ với Quán, mà là bạn lính. Tôi ở mặt trận Thủ đô, Quán ở Trung đoàn Cố đô.
Sau khi giải ngũ, tôi sinh sống bằng nghề câu cá. Ngày đó quốc doanh cá Hà Nội bán vé câu cá cho dân câu ở hồ Ha-le một vé 2 đồng câu suốt ngày. Những hôm gặp may có thể kiếm được từ 5 đến 7 đồng. Cá câu được tôi đem bán cho một bà có gánh cơm đầu ghế (bây giờ gọi là cơm bụi) ở góc chợ Hàng Bè.
Thỉnh thoảng tôi gặp một thanh niên trạc 27, 28 tuổi mặc quân phục bạc màu, gương mặt xanh xao, hốc hác, ánh mát buồn rầu u uẩn. Anh ta thường mua một bát cơm cùng bát canh với vẻ lơ đãng như không biết mình đang ăn gì, rồi anh lẳng lặng bỏ đi... Tôi đoán lính phục viên như tôi, không gia đình, nhà cửa, không công ăn việc làm... không hiểu sao dáng vẻ và gương mặt u uất xanh xao của anh gây cho tôi một ấn tượng xót xa, thật nặng nề... và tôi tìm cách làm quen.
Ngạc nhiên khi được biết anh là Phùng Quán, tác giả tiểu thuyết nổi tiếng Vượt Côn Đảo mà tôi và đồng đội đã đọc một cách say mê. Khi đã khá thân nhau, một hôm tôi hỏi Phùng Quán: “Cậu đã viết cái gì ở Nhân văn Giai phẩm mà báo chí, sách vở, bình luận phê phán ghê thế?”Quán đang vui, bỗng sa sầm nét mặt:
– Chuyện đã qua, nhắc lại làm gì anh!
– Nhưng thật sự cậu đã viết gì? Tôi hỏi. Viết gì?
Quán không muốn nói, song tôi cứ gạn hỏi, anh đành trả lời cho qua:
– Viết độc hai bài thơ. Bài thứ nhất Chống tham ô lãng phí:
Vì lẽ đó tôi quyết tâm rời bỏ
Những vần thơ bay bướm, đầy hoa
Những vần thơ như giấy trang kim vàng mã
Dán lên quân trang đẫm mồ hôi và máu tươi cách mạng
Như công thần
Tôi muốn đúc thơ tôi thành đạn!
Bắn vào tim những kẻ làm càn
Những kẻ tiêu máu dân như tiêu bạc giả! (...)
Trung ương Đảng ơi! Bọn chuột nhắt mặt người chưa hết
Đảng cần lập những đội quân tiêu diệt
Có tôi đi trong hàng ngũ tiên phong.
Bài thứ hai là Lời mẹ dặn đăng trên tuần báo Văn:
Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét
Dù ai cầm dao doạ giết
Cũng không nói ghét thành yêu...
Tôi nói:
– Mình nhớ ra rồi. Vào cuối năm 1957, báo Nhân Dân có đăng bài thơ Lời Mẹ Dặn có phải là bài thơ Chân thật ký tên là Trúc Chi có phải là để chống bài thơ của Quán không?
Phùng Quán lẳng lặng rút trong túi áo ra bài thơ cắt ở báo Nhân Dân, chìa ra trước mặt tôi: “Bài thơ này chứ gì ?... đã bao năm nay tôi vẫn giữ nó luôn trong ngực áo... và tôi sẽ giữ nó cho đến lúc chết!”. Rồi Quán đọc to một đoạn cuối bài thơ...
Tôi hỏi:
– Nhưng Trúc Chi là cậu nào thế?
– Lúc đầu, tôi cứ tưởng là tay Trúc Chi làm thơ, dạy học ở Hải Phòng, người khu Năm, cùng trạc tuổi tôi. Tôi liền phóng ngay về Hải Phòng, gọi hắn ra, gí bài báo vào mũi hắn: “Cùng là dân làm thơ với nhau, sao cậu lại có thể chửi rủa tớ với cái giọng hạ cấp đến thế?”. Đọc xong bài thơ, anh ta lộ vẻ sửng sốt nói: “Bài thơ này không phải của tôi. Tác giả trùng tên với tôi thôi!”.
Cặp mắt Quán loé ánh giận dữ, ánh mắt quen thuộc của bọn lính chúng tôi khi quyết định lao vào một trận đánh liều lĩnh, bất cần đời.
Một hôm trời lạnh căm căm, chúng tôi rủ nhau vào quán nước ven đường, dốc cạn túi mua “rượu chui” uống cho ấm ngườiChủ quán hỏi khách hàng: “Anh uống nước đỏ hay nước trắng?” – nước trắng là rượu. Chuyện đang vui, gương mặt Quán bỗng trở nên u uất. Cậu ta uống một lúc liền ba chén. Không ngẩng mặt lên, mắt đăm đăm nhìn chén rượu uống dở: “Thế mà tôi đã bước vào tuổi ba mươi... Tam thập nhi lập... lập...! Tôi mất quyền được xuất bản tác phẩm, mất người yêu... Mối tình đầu và có lẽ là mối tình cuối cùng của đời tôi. Bây giờ, tôi không nhà không cửa, tứ cố vô thân... Ôten đờ là hiên... Ôten đ ờ la ga là nơi tạm trú chính của tôi. Hội Văn nghệ trợ cấp cho tôi mỗi tháng 27 đồng. Mười ngày ăn cơm đầu ghế là nhẵn túi... Tôi hỏi anh... đến nước này thì còn sống mà làm gì ?... Nhưng nghĩ đi nghĩ lại, nếu tôi chết thì ai sẽ minh oan cho tôi? Tôi quyết định phải làm xong trước ba việc mà không thể nhờ ai làm thay... thì có chết tôi mới chết... Việc thứ nhất: Phải tìm cho ra Trúc Chi là ai... Việc thứ hai: Tôi phải in bằng được tác phẩm thơ, văn xuôi, ngắn dài còn tuỳ, nhưng tác phẩm này phải nói lên được một điều duy nhất là: Tôi là Vệ Quốc Đoàn, tôi chưa bao giờ là tên phản động. Việc thứ ba là tôi phải trở lại ngôi nhà 4 Lý Nam Đế (cơ quan tạp chí Văn nghệ Quân đội), đàng hoàng như một người lính trở lại hàng ngũ của mình... Điều mà tôi quan tâm là phải tìm một nghề gì đó để kiếm sống mà thực hiện ba việc đã vạch ra”.
Tôi đề nghị với Phùng Quán: “Hay Quán thử học lấy nghề câu cá, tuy chỉ là nghề tạm bợ, nhưng trước mắt cũng có thể kiếm đủ ngày hai bữa, nếu câu có kỹ thuật”. Tôi mua sắm cho Quán một bộ cần câu, rồi đưa Quán ra hồ Ha-le, mua vé câu, vừa học vừa thực tập luôn. Tôi truyền cho Quán tất cả những bí mật nhà nghề mà tôi đã tích luỹ được qua thực tế.
Về văn thơ thì tôi chưa rõ, nhưng về nghề câu thì phải thừa nhận Quán như có năng khiếu bẩm sinh. Chỉ sau một tuần, Quán đã nắm khá vững tay nghề, và đã có cá bán. Một hôm, Quán bảo tôi: “Mỗi ngày mất đứt hai đồng mua vé câu thì đau hơn hoạn. Lỡ có ngày không dính được con nào thì mất cả chì lẫn chài. Tôi muốn tìm hồ nào câu không phải mua vé ấy”. Tôi nói: “Thế thì phải nhập hội câu trộm cá ở vùng Nghi Tàm, Tây Hồ, Quảng Bá... Nhưng câu trộm nguy hiểm lắm. Lỡ tuần hồ mà tóm được thì họ cho ăn no đòn, hoặc bắt giam giữ”. “Được! Tôi chấp nhận nguy hiểm”, Quán nói, “mà tóm tôi cũng chẳng dễ lắm đâu. Hồi còn làm lính trinh sát, Tây càn, vây bốn mặt, tôi vẫn thoát ngon ơ. Để đạt bằng được mục đích đã tự đặt ra, tôi sẵn sàng làm những việc tồi tệ như: câu cá trộm, viết văn chui. Khi đã hoàn tất ba việc trên, tôi sẽ làm như Raskolnikov trong tiểu thuyết Tội ác và trừng phạt của Dostoievsky. Tôi sẽ ra quỳ trước chợ Đồng Xuân, hôn đất và nói to lên với tất cả mọi người: “ Tôi là kẻ từng làm những việc nhơ nhớp để kiếm sống! Tôi xin được trừng phạt!”.
Tôi đưa Quán đến giới thiệu với mấy tay câu trộm thuộc hàng cự phách của Hồ Tây mà tôi đã biết.
Từ đó, Quán không theo tôi nữa, mà về nhập hội với dân câu trộm Hồ Tây. Hơn nửa năm sau, nghe tôi khuyên can, Quán nhếch cười trả lời tôi bằng cách đọc câu thơ của Tagore trong bài Hai mẫu đất“Ngay nay các người là thánh hiền. Ta ngược lại thành tên đạ o tặc”.
Quán đi ra cầu ao, xách lên một con cá trắm đen cỡ hai ký, buộc ở chân cọc: “Biếu thầy để tạ ơn truyền nghề. Tôi mới tóm được cu cậu khoảng ba giờ sáng hôm nay”. Quán lại cười, đọc thêm một câu thơ của Essinine: “ Những số phận khác thường / sinh ra đều định trước. Tôi không thành nhà thơ thì cũng thành trộm cướp”.
Ngày mới quen, bia hơi Quán cũng chưa biết uống, chê đắng – mà dạo này, Quán uống thùng bất chi thình, góc lít “quốc lủi” có thể đi luôn một hơi. Quán nói: “Rượu là cứu cánh vĩ đại của phường đạo tặc sông hồ”. Tôi lo lắng: “Nhưng tiền đâu mà uống thường xuyên như vậy?”.
Hơn ba mươi năm sau, Phùng Quán mới hoàn thành đầy đủ ba công việc mà anh tự đề ra... Việc thứ nhất là tìm ra được Trúc Chi, chính là Hoàng Văn Hoan, ngày đó là uỷ viên Bộ chính trị. Bài thơ Lời Mẹ Dặn có phải là bài thơ Chân thật được in lại trong tập một đôi vần của Hoàng Văn Hoan, do nhà xuất bản Việt Bắc ấn hành năm 1976. Nhưng mãi đến năm 1978, Quán mới tìm thấy tập thơ. Quán đưa tập thơ cho tôi xem, và nói: “Tôi chưa kịp thách đấu thì ông ta đã chạy trốn và mọi người đã biết ông ta là ai” .
Việc thứ hai là năm 1987, nhà xuất bản Thuận Hoá đã in cho Quán tiểu thuyết bộ ba Tuổi thơ dữ dội... với 60 ngàn bản sách. Kết thúc cuốn sách là nhân vật chính, em Mừng, một vệ quân 13 tuổi, bị tình nghi là gián điệp, Việt gian. Em đã hy sinh trên đài quan sát ở chiến khu Hoà Mỹ sau khi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến sĩ trinh sát. Trước khi tắt thở vì đạn găm đầy người, em gọi điện thoại cho trung đoàn trưởng, nhắn lại một lời trăn trối cuối cùng: “ Anh ơi! Em không phải Việt gian, em là Vệ Quốc Quân...”.
Việc thứ ba là, tháng 1 năm 1992, tạp chí Văn nghệ Quân đội làm lễ kỷ niệm 30 năm ngày thành lập tạp chí. Quán được mời đến trụ sở 4 Lý Nam Đế dự lễ với tư cách là một trong những cán bộ biên tập đầu tiên của tạp chí.
Phùng Quán nói với tôi: “Để thực hiện được ba việc trên, tôi ước tính đã câu trộm của Nhà nước khoảng 4 tấn cá và viết văn chui khoảng hơn năm chục cuốn sách dày, mỏng. Tôi đã chui văn sang cả Liên Xô (cũ) một truyện ngắn nhan đề Như con bò vàng trong cổ tích, nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh Lênin. Liên Xô (cũ) đã gửi tặng một chiếc xe đạp mà hiện nay tôi vẫn đang đi. Về số cá trộm, tôi đã nghĩ cách đền, bù. Năm 1988, sau khi được tuyên bố phục hồi hội tịch Hội nhà văn, tôi được nhà xuất bản Trẻ in cuốn truyện thiếu nhi dày 200 trang, nhan đề Dũng sĩ Chép Còm. Sách in 40.000 bản. Như vậy, mỗi cân cá tôi đền 10 bản sách nói về cá. Nếu việc đền bù như vậy chưa xứng đáng thì tôi còn phải lao động nhiều hơn nữa.”
Tôi bảo Quán: “Cậu với mình vừa là bạn lính vừa là bạn câu. Mình muốn viết một cái chân dung về cậu...”
Phùng Quán cười: “Viết làm gì cho mệt, anh Xương ơi! Các bạn từ lâu đã vẽ chân dung tôi với sáu từ cá trộm, rượu chịu, văn chui”.

V. X

(Nguồn Người Hà Nội,)

Phần nhận xét hiển thị trên trang