Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Tư, 10 tháng 8, 2016

LỜI MẸ DẶN, TUYÊN NGÔN CỦA NGƯỜI CẦM BÚT


 Ngô Minh
 
          Nhà thơ Phùng Quán
Bài thơ “Chống tham ô lãng phí “ trong Giai phẩm mùa Thu số I (9-1956 ) của Phùng Quán được những nguời cực đoan thời đó đánh giá là một bài thơ “nói xấu chế độ”, “chống đảng”, là “phản động”. Sau nhiều lần học tập, viết bản tự kiểm điểm, bị “đấu tố” gay gắt , Phùng Quán có nguy cơ bị khai trừ ra khỏi Hội Nhà văn, bị đưa ra khỏi biên chế Tạp chí Văn nghệ Quân đội, nơi anh đã dấn thân theo Vệ Quốc đoàn từ tuổi thiếu niên, rồi phải đi “lao động cải tạo” nhiều năm. Thực tế gần một năm sau, tức đến năm 1958 những hình thức kỷ luật này mới được thi hành, nhưng lúc đó ai cũng đã biết trước bản án dành cho “bọn nhân văn”. Đối với người miền Nam xa quê hương , thân cô thế cô giữa phố phường Hà Nội như Phùng Quán, nguy cơ bị kỷ luật như thế là rất đáng sợ. Bị coi là “phản động”, ai cũng tìm cách xa lánh, lại bị tách khỏi môi trường lính quen thuộc, xa đồng chí, bạn bè dễ làm người thanh niên trẻ tuổi dễ trở nên hoang mang tuyệt vọng , dễ dẫn đến bệnh tâm thần hoặc tìm đến cái chết.

Nhưng Phùng Quán thì không. Anh vẫn sống và sáng tác hay hơn, quyết liệt hơn. Sau khi báo Nhân Văn-Giai phẩm bị đình bản, năm 1957, Nhà nước cho phép Hội Văn nghệ xuất bản tuần báo Văn do nhà văn Nguyễn Công Hoan làm chủ bút với mục đích chấn chỉnh lại tình hình văn nghệ lúc ấy.  Phùng Quán đã xuất hiện trên báo Văn số 21, ra ngày 27-9-1957 với bài thơ Lời mẹ dặn gây xôn xao dư luận. Lập tức bài thơ được nhiều người chép, thuộc như là một tuyên ngôn sống, tuyên ngôn cầm bút của văn nghệ sĩ . Nhưng bài thơ một lần nữa lại làm cho Phùng Quán lâm vào tai tương nặng hơn.

Lời mẹ dặn là bài thơ tự sự rất dễ hiểu, dễ thuộc, không có gì mới lạ về cấu trúc, ngôn ngữ thơ,  không có gì là “biểu tượng hai mặt” cả. (“Biểu tượng hai mặt” là cụm từ mà thời đó hay dùng để những tác phẩm văn học “có vấn đề”, thực ra văn chương càng đa nghĩa mới hay). Nhưng Lời mẹ dặn lại chứa đựng một tư tưởng nhân văn cực kỳ lớn lao, thể hiện bản lĩnh cao cường của tác giả trước cuộc đời. Vì thế nó đã trở thành một “kiệt tác” thơ Việt thế kỷ XX. Mở đầu bài thơ, nhà thơ kể chuyện tỉ tê rất văn xuôi như không có gì đáng chú ý : “Tôi mồ côi cha  năm hai tuổi/ Mẹ tôi thương tôi không lấy chồng…/ Ngày ấy tôi mới lên năm/ Có lần tôi nói dối mẹ/ Hôm sau tưởng phải ăn đòn /
                                         Nhưng không mẹ tôi chỉ buồn
                                         Ôm tôi hôn lên mái tóc…
Con ơi…trước khi nhắm mắt
                                         Cha con dặn con suốt đời
                                         Phải làm một người chân thật
Đến đây thì  tư tưởng bài thơ bắt đầu xuất hiện. “Mẹ ơi chân thật là gì ?”- Đúng là câu hỏi rất ngây thơ của một đứa trẻ lên năm, nhưng lại là một câu hỏi lớn, rất khó trả lời đối với không ít người lớn giữa trường đời  đen bạc . “Chân thật”, bản tính hồn nhiên của con người đang bị méo mó, mai một, biến dạng dần đi do mọi người phải tìm cách bon chen, nịnh hót, nói dối, lừa lọc để tồn tại hoặc để được vinh thân phì gia. Thậm chí có người đã không chân thật rồi, lại còn ghét những người chân thật. Tục ngữ ta có câu “Nói thật mất lòng”. Đó là thực tế vô cùng trớ trêu của con người. Nhớ lời mẹ dặn, từ nhỏ, người lớn hỏi Phùng Quán:” Bé ơi, bé yêu ai nhất ? – Bé yêu những người chân thật. Từ chỗ phải làm người chân thật đến  thái độ “yêu những người chân thật” là đi từ mình đến xã hội rộng lớn.
Mẹ tôi hôn lên đôi mắt
                                           Con ơi một người chân thật
                                           Thấy vui muốn cười cứ cười
                                           Thấy buồn muốn khóc là khóc
Câu giải thích bước đầu  của người mẹ cho con vô cũng dễ hiểu. Thấy vui muốn cười là cười- thấy buồn muốn khóc là khóc. Nhưng đó là một chân lý sâu xa, một phương ngôn sống. Vì con người từ khi lọt lòng mẹ là thế, đó là bản tính tự nhiên không thể khác được. Nhưng chân lý giản đơn ấy làm nhiều người  ngạc nhiên tán thưởng, bởi vì đã từ lâu trong xã hội ta con người luôn sống ngược lại với ý  nghĩ của mình, không dám nói thật ý nghĩ của mình. Có khi vui mà dối lòng không cười được. Khi buồn lại nén lòng mà cười để mong làm vui lòng người khác. Sống dối lòng như thế con người dần dà bị biến thành một kẻ dối trá ! Một người dối trá. Trăm người dối trá. Triệu người dối trá. Một xã hội người dối trá !

Sau cười khóc hồn nhiên là đến chuyện yêu ghét, một cấp độ cao hơn của thái độ và nhận thức, ứng xử của con người trong cộng đồng:
Yêu ai cứ bảo là yêu
                                                 Ghét ai cứ bảo là ghét.

          Nhắc đến nhà thơ Phùng Quán là người ta nhớ ngay đến “Yêu ai cứ bảo là yêu- Ghét ai cứ bảo là ghét”. Hai câu đó đã thành biểu tượng tinh thần, ý chí của anh. Yêu ghét rạch ròi là thái độ sống của người quân tử, của kẻ sĩ ở đời. Thái độ dứt khoát thể hiện ở động từ “ cứ bảo”. Cứ bảo là nói ngay, nói không cần đắn đo, suy tính.

Nhưng sự đời không phải bao giờ cũng “ Yêu ai cứ bảo là yêu- Ghét ai cứ bảo là ghét” được, mà có rất nhiều sức ép buộc con người phải nói khác ý mình đi, dối trá, biến mình thành tôi tớ, “nói theo nói leo” làm lợi cho những người có thế lực có tiền bạc. Vấn đề là anh có đủ dũng khí để yêu là nói yêu, ghét là nói ghét hay không. Đoạn thơ sau đây là một cung bậc cao hơn, có thể gọi là thái độ bất khuất, không chịu luồn cúi của tác giả trước những thế lực cường quyền:
Yêu ai cứ bảo là yêu
                                                  Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
                                                  Cũng không nói yêu thành ghét
                                                  Dù ai cầm dao doạ giết
                                                  Cũng không nói ghét thành yêu

Đây là đoạn thơ hay nhất trong bài thơ, đã thành chân lý vĩnh  hằng trong lòng người yêu thơ Việt Nam từ 50 năm qua, đọc lên nghe như kinh nguyện. Nói yêu thành ghét- nói ghét thành yêu chính là bản chất của những kẻ cơ hội, tâm địa xấu xa, hèn yếu. Chỉ cần kẻ xấu “ngon ngọt nuông chiều”, hứa hẹn tiền tài địa vị hoặc “cầm dao doạ giết” là ngoan ngoan nói và làm theo chúng. Lịch sử Việt Nam đã có nhiều danh nhân vĩ đại nêu tấm gương trung nghĩa, không khuất phục trước cường quyền như Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Quốc Toản, Cao Bá Quát, Lê Lợi, Trương Định, Vua Hàm Nghi.v.v..cùng hàng ngàn chiến sĩ kiên trung trong các nhà tù hay trên  các pháp trường của thực dân đế quốc trong hai cuộc kháng chiến…Chỉ mấy câu thơ của Lý Thường Kiệt  trước quân nhà Tống phương Bắc cách đây gần 1000 năm thôi, cũng đủ nói lên ý chí chí đó của người quân tử nước Nam : Nam quốc sơn hà Nam đế cư/ Tiệt nhiên định phận tại thiên thư / Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm / Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư . Ngược lại, nhiều việc nói theo người cầm quyền, làm theo ý đồ ngoại bang đã gây ra nhiều thảm hoạ đau thương cho nhân dân, đất nước. Từ chỗ sợ sệt, người ta trở nên hèn nhát. Một thời xứ ta sinh ra không ít “trí thức hèn”, “nhà văn hèn”. Những “Đại nhân hèn” ấy chỉ cần chìa ra trước mặt một ít bổng lộc, một tí chức tước quèn thôi đã không dám mở miệng nói chính kiến của mình, dù biết cấp trên nói sai, làm sai, vẫn ngoan ngoãn vâng lời. Cứ như thế ở xứ ta  đã đào tạo ra nhiều thế hệ “người hèn” ”gọi : dạ, bảo: vâng”, không còn tính độc lập suy nghĩ của người quân tử.

Từ chuyện “chân thật”, “khóc cười”,“yêu ghét”, nhà thơ đã đưa người đọc đến bản lĩnh người cầm bút. Đây là mục tiêu cuối cùng mà bài thơ muốn đạt tới:
Năm nay tôi hai mươi lăm tuổi
                                                   Đứa bé mồ côi thành nhà văn
                                                   Nhưng lời mẹ dăn thuở lên năm
                                                   Vẫn nguyên vẹn màu son chói đỏ
                                                    Người làm xiếc đi trên dây rất khó
                                                    Nhưng chưa khó bằng làm nhà văn
                                                    Đi trọn đời trên con đường chân thật

Đoạn thơ này chứng tỏ Phùng Quán nhận thức rất rõ một điều : Vì làm nhà văn chân thật là rất khó, nên đã có không ít nhà văn không đi trọn đời trên con đường chân thật. Trước sức ép của cường quyền, nhiều nhà văn đã  cam tâm “bẻ cong ngòi bút”, phục vụ cho những mục đích xấu xa. Ca ngợi cái xấu, đả kích cái tốt. Nhà thơ Xuân Sách đã vẽ rất chính xác chân dung méo mó, khốn khổ của hàng trăm nhà văn Việt Nam một thời qua tập thơ Chân dung nhà văn, vì lý do này lý do khác,  đã không đi trọn đời trên con đường chân thật!

Còn Phùng Quán thì tuyên chiến với thói nịnh bợ, giả dối:
Tôi muốn làm nhà thơ chân thật
                                               Chân thật trọn đời
                                                Đường mật công danh không làm ngọt lưỡi tôi
                                                Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã
                                                Bút giấy tôi ai cướp giật đi
                                               Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá.

Bài thơ lớp lang, đầy triết lý “sống thật, yêu thật, nói thật, viết thật”, thật đến tận cùng. Đoạn kết bài thơ là một tuyên ngôn sống, tuyên ngôn thơ. Mới 25 tuổi đời mà viết như thế là bản lĩnh, tiết tháo lắm lắm. Điều đáng khâm phục hơn là Phùng Quán suốt cuộc đời mình cho đến khi “nằm dài dưới đáy huyệt” đã sống như thế, viết như thế. Năm 1984, gần 30 năm, khi về thăm quê nội Huế, trong tiểu thuyết tình 13 chương bằng thơ “Trăng Hoàng Cung” , Phùng Quán một lần nữa nhắc lại tuyên ngôn này trong bài thơ “Tôi thích viết trên giấy có kẻ dòng” :
Là nhà văn
                                                    Tôi yêu tha thiết
                                                     Sự ngay thẳng tột cùng
                                                    Ngày thẳng thuỷ chung
                                                    Của mỗi dòng chữ viết

50 năm qua, bài thơ “Lời mẹ dặn” đã trở thành tài sản tâm hồn của bao thế hệ thanh niên Việt Nam ở cả hai miền Nam Bắc. Hồi tôi  sưu tầm tài liệu để biên soạn cuốn “ Nhớ Phùng Quán”( NXB Trẻ, 2002), nhạc sỹ Phạm Duy ở nước ngoài đã gửi bản nhạc phổ bài thơ Lời mẹ dặn của Phùng Quán in trong tập“Tập nhạc Phạm Duy”(NXB Hồng Lĩnh USA, 1994) về cho nhà văn Nguyễn Đắc Xuân, nhờ chuyển cho chị Vũ Thị Bội Trâm với lời đề tặng “Kính tặng gia đình Phùng Quán”. Tôi đã coppy một bản để in vào sách,  Nhưng bài hát này không nằm trong quy định các bài hát của Phạm Duy được hát của Bộ Văn hoá thông tin lúc đó, nên thôi. Mới đây, Trung tâm Văn hoá doanh nhân và  Nhà xuất bản giáo dục đã tổ chức bình chọn 100 bài thơ Việt hay nhất thế kỷ XX. Tuy việc bình chọn thiếu chuẩn mực, có nhiều ý kiến không đồng tình với cách chọn và nhiều  tác giả thơ,  nhiều bài thơ được chọn không xứng đáng là thơ hay, chứ chưa nói “ hay nhất thế kỷ”. Nhà thơ Bằng Việt cho rằng chỉ 50% bài thơ là hay, còn  nhà thơ Trần Mạnh Hảo thì nói” đó là tập thơ” 30 bài thơ hay và 70 bài thơ dở của thế kỷ XX”. Nhưng việc chọn bài thơ Lời mẹ dặn của Phùng Quán là một trong những “bài thơ Việt hay nhất thế kỷ XX”, theo tôi là hoàn toàn chính xác.

Thế nhưng, khi bài thơ ra đời, đã có nhiều nhà phê bình cho là bài thơ “mang biểu tượng hai mặt”, với ý đồ xấu. Ô hay, văn chương càng đa nghĩa càng hay, sao chỉ mới “hai mặt” đã  kêu.  Trong bài “Vạch thêm những hoạt động đen tối của một số kẻ cầm đầu trong nhóm Nhân văn-Giai phẩm” của Từ Bích Hoàng in trên Văn nghệ Quân đội số 5 (5/1958) có đoạn:” Phùng Quán làm bài thơ Lời mẹ dặn , Trần Dần, Văn Cao kéo Quán đi khao chả cá. Văn Cao khen :” Phùng Quán viết khá, không đánh vào hiện tượng mà đả thẳng vào bản chất. Những sáng tác kiểu hai mặt như thế nhan nhản ra đời…”. Có tờ báo lớn còn in hẳn bài thơ “ Lời mẹ dăn- Thật hay không ?” ký tên Trúc Chi  dài 112 câu, chửi bới , nhiếc móc thậm tệ tác giả Lời mẹ dặn . Xin trích mấy đoạn  ngắn:
…Nó ghét chỗ thầy hiền bạn tốt
                                         Nó yêu nơi gái điếm cao bồi
                                         Ghét những người đáng yêu của thiên hạ
                                         Yêu những người đáng ghét của muôn người,
                                         Quen học thói gà đồng mèo mả
                                         Hoá ra thân chó mái chim mồi
                                         ….
                                         Theo lẽ thường: thì sét đánh không ngã
                                         Chắc trên đầu có cột thu lôi
                                         Nếm đường mật lưỡi không biết ngọt
                                         Chắc ăn tham vị giác hỏng rồi
                                         Nghề bút giấy đã làm không trọn
                                         Dùng dao khắc đá cũng  xoàng thôi !…

Tác giả  bài thơ “ Lời mẹ dặn- Thật hay không ?” dùng lời lẽ côn đồ, hàng tôm hàng cá, nhưng lại không hiểu những ý nghĩa, triết lý nhân văn cao sâu của những ý thơ Phùng Quán. Phùng Quán viết rằng yêu ai, ghét ai phải nói cho thật lòng, sống cho thật lòng. Nhưng Trúc Chi lại thuyết phải nên yêu ai, nên ghét ai. Hay những câu thơ Đường mật công danh không làm ngọt lưỡi tôi / Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã / Bút giấy tôi ai cướp giật đi / Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá là hình ảnh biểu tượng, nghĩa bóng, Trúc Chi lại hiểu theo nghĩa tục, nên lên giọng mỉa mai. Vì thế bài thơ Lời mẹ dặn, cùng với bàiChống tham ô lãng phí là hai bài thơ làm cho tác giả của nó trở thành một tên trong bộ “bộ tứ” nhân văn giai phẩm, bị “đánh” tơi bời, phải “30 năm cá chịu, văn chui, rượu nợ”

Sinh thời, nhà văn Phùng Quán kể với tôi rằng, khi đọc bài thơ Lời mẹ dặn – Thật hay không? trên đăng trên một báo lớn, anh  vừa buồn cười và tức giận. Anh quyết tâm tìm cho ra Trúc Chi là ai để “đối thoại trực tiếp” cho ra lẽ. Vì không thể hiểu nội dung bài thơ Lời mẹ dặn một cách thô thiển như thế được. Ở Hải Phòng có nhà văn Trúc Chi quê Phú Yên, nhỏ hơn Phùng Quán ba tuổi, là nhà văn miền Nam tập kết.Trúc Chi rất thân với Phùng Quán. Nhiều anh em bạn bè cho rằng, có thể Trúc Chi đã “phản bạn” để “xưng công”(!?). Phùng Quán buồn lắm. Anh quyết định cầm tờ báo Nhân Dân có in bài thơ “Lời mẹ dăn- Thật hay không?” nhảy tàu hoả xuống Hải Phòng tìm đến nhà Trúc Chi. Gặp nhau, nhà văn Trúc Chi rất mừng rỡ, nhưng khi Phùng Quán cho xem tờ báo thì Trúc Chi ngớ ra :” Lời mẹ dặn là bài thơ rất hay, mình thuộc lòng. Mình là người đàng hoàng, làm sao lại có thể viết bài thơ chửi bới tệ hại đối với cậu như thế được !”.

Mãi đến năm 1989, có người gửi cho Phùng Quán tập thơ “Một đôi vần” của ông quan lớn Hoàng Văn Hoan, do Nhà xuất bản Văn hoá dân tộc Việt Bắc ấn hành, trong đó có bài thơ “ Lời mẹ dặn- Thật hay không?”. Nhà văn Xuân Đài, bạn chí thân của anh Phùng Quán trong suốt 30 năm bị biếm của đời anh, hiện đang sống và viết ở Thành phố Hồ Chí Minh xác nhận việc này là chính xác. Nhưng khi đó thì Hoàng Văn Hoan đã “tị nạn chính trị” tại Trung Quốc (rồi sau này chết chôn ở bên đó).

Mỗi bài thơ đều có số phận của nó. Lời mẹ dặn, là  một tuyệt tác thơ của dân tộc, dù bị chửi bới, vùi dập, nó vẫn sống mãi với thời gian, sống mãi trong lòng người yêu thơ. Yêu ai cứ bảo là yêu. Ghét ai cứ bảo là ghét. Dù ai cầm dao doạ giết…Cũng không nói ghét thành yêu…Giấy bút tôi ai cướp giật đi / Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá. Năm 2010, xây dựng lăng mộ anh chị Phùng Quán- Bội Trâm, chúng tôi đã khắc trích đoạn bài thơ Lời mẹ dặn lên đá granit nặng  tám người khênh, đặt trước mộ như lời nguyền của nhà thơ !



Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Ba, 9 tháng 8, 2016

..câu chuyện của tôi hình như đã tìm thấy chút manh mối

Truyện ngắn của HG

- Hôm nào chú có việc ngang qua, vào nhà cháu chơi. Nhà cháu ngay bên này dốc đèo  Nàng, gần xóm người H’mông có lần chú vào đấy chụp ảnh ấy. Có bộ “hai tấm một chiếu” đẹp lắm, chú thích cháu hỏi cho.

Lại nói: “Bên kia đường đối diện với nhà cháu có một cái thác nước đẹp, tuyệt vời luôn. Chỗ í mà quay vào phim á, chả chỗ nào bằng được. Nhưng chú phải lên vào mùa mưa, nước ở thác ấy mới nhiều. Ngày xưa thì có nước quanh năm. Bây giờ rừng còn ít, thác nước nó mới thế..Còn có một bí mật nữa dưới đủng nước chân thác này chỉ cháu mới biết, cháu cũng chưa nói với ai. Chú thiện chí, chú cháu kết hợp, có bạc tỷ chứ chả nói chơi đâu chú ạ!  Chả gì bố cháu với chú ngày xưa cũng là chỗ quen thân. Không nhẽ ông chú đi qua nhà cháu không vào?”
- Cứ chuẩn bị rượu đi. Báo trước là chú không đi một mình. Thể nào cũng có đôi ba ông đi cùng.
Nó cười, cái miệng rộng toác ra:
- Gì chứ rượu chỗ cháu đâu có thiếu? Ông trẻ thích loại nào cũng có
- Có thật không đấy? Chỗ ấy xa chợ, có lần tao vào nhà trưởng thôn, nhà ấy bắt được con cầy. Có thịt mà không có rượu, phải ăn vã thịt đấy..Đừng có khoác.
- Xưa rồi chú ơi. Nhà cháu bây giờ rượu không thiếu. Còn cất bán cho dân bản, men lá hẳn hoi. Chú uống được bao nhiêu mà lo?

Đấy là câu chuyện nó nói với tôi  hôm nó về ăn nhà mới người anh em họ của nó, cùng làng với tôi. Cứ nghĩ có tí men, người ta hay nói mọi thứ đều vống lên, không nhiều thì ít. Thú thực hôm ấy tôi cũng không để ý lắm. Cũng chỉ nghĩ nó ba hoa chích chòe, phét tí chứ chắc gì có thật?
Tôi vốn là người xuê xoa, không cầu kì mấy đến đồ vật dụng. Đồ gỗ, đồ điện tử cứ thứ nào dùng bền, chắc mà không quá đắt thì ưng.
Không giống ông anh con bà cô tôi ở gần nhà. Lão ấy dùng thứ nào ra thứ đấy. Chỉ nội việc mấy bố con kỳ công lên tận Đồng Văn, Mèo Vạc tìm bộ xa lông đã đủ biết ông cầu kỳ đến thế nào. Đó là bộ xa lông bằng ngọc am có nhẽ cả tỉnh này cũng chỉ có vài ba bộ!
Ông ấy bảo đây là giống cây mọc ngầm dưới đất, gỗ nó quý chả kém gì vàng. Ngồi lên bộ ghế ấy lâu ngày tự dưng khỏi gút, khỏi chứng viêm khớp, cao huyết áp tự nhiên biến mất như chưa bị bao giờ.
Đặc biệt nữa trong phòng kê bộ bàn ghế này tuyệt nhiên không có ruồi muỗi. Nó kỵ hay sao ấy mà không thấy con nào bén mảng?
Ông này vẫn còn một ao ước nữa là làm sao để được sở hữu bộ “hai tấm một chiếu” như thằng Giỏi nói. Chứ với tôi dù có là một tấm rộng đủ một chiếu tôi cũng không quan tâm.
Có lẽ hoàn cảnh khó nghèo nhiều năm trước không tạo cho tôi sở thích hay ham muốn nhiều thứ như người ta. Chỉ mong những cái gì vừa sức mình, kiểu cá vừa đĩa, chứ không ham cái viển vông.
Đấy cũng là thói quen con nhà nghèo, chưa bao giờ có tiền tỉ trong tay. Nếu thằng Giỏi nói chuyện này với ông anh họ tôi, rất có thể ông ấy sẽ chú ý. Có thể ngay sau đó ông ấy sẽ theo nó lên luôn chưa biết chừng?

Chẳng biết bí mật dưới chân thác nó nói là bí mật thuộc loại nào? Nhưng phải công nhận cái thác đó đẹp. Dù có bí mật nào hay không cũng không thành vấn đề. Với lại những chuyện bí mật thường luôn đi theo với điều nguy hiểm. Mấy lần ông Hồ Thăng hẹn tôi lên thăm K mà chưa đi được. Nhân thể chuyến này tôi dẫn ông đi một phen. Nhân thể tìm hiểu câu chuyện nó nói là gì?

Chúng tôi dừng xe ở chợ K, ngay ngã ba đường vào Khuổi Khít. Hai ông nghệ sĩ nhiếp ảnh muốn vào trong đó tác nghiệp ở làng người H’ Mông cho đủ bộ ảnh sưu tập “Nét văn hóa các dân tộc” của mình. Còn tôi, đi rồi sẽ tính, chưa có dự định cụ thể gì.
Bí mật mà chàng hàng xóm cũ của tôi nói muốn kết hợp với tôi có giá bạc tỉ thực tình mà nói, tôi chả quan tâm. Chắc lại một hốc đá thạch anh hay một cây đinh thối bị lấp sâu trong lòng đất chứ chẳng có chuyện gì khác. Còn chuyện hũ bạc hũ vàng từ đời xửa đời xưa người ta chôn giấu trong vùng cũng chỉ là chuyện tào phào. Ngay cái chuyện “hai tấm một chiếu” tôi cũng chẳng màng. Nhà cửa chật chội, nếu có tiền mua được về cũng không có chỗ kê. Mà dính vào gỗ lạt là dính vào xương thịt của rừng, ở đâu không nói, vùng tôi gần như là dính vào điều cấm kị.
Cho dù rừng chả còn là mấy thì còn chừng nào cũng nên giữ gìn chừng nấy, chớ làm hại thêm. Trồng một cái cây khác với chế tạo một cái xe, xây một ngôi nhà. Không thể ngày một ngày hai mà có. Nó là thứ tài sản quý vô cùng vì cần rất nhiều thời gian.
Một thời thiếu thốn gian nan, con người hay mơ viển mơ vông các chuyện đại loại như vậy. Nếu có đi lên chỗ Giỏi tôi chỉ cầu mong sao nhặt được câu chuyện hay, không thể cứ ngồi nhà nghĩ, rồi nặn ra những câu chuyện lèo phèo,nhạt nhẽo. Gì không nói, viết kị nhất trường hợp này. Nó vừa thiếu hơi thở nồng nàn của cuộc sống, vừa thiếu cái “lý”của sự thật khách quan.
Đến mình còn không chấp nhận được thì nói gì đến người khác đọc?
”Câu chuyện” may ra có thể tìm thấy không thể nói trước. Nhưng tôi tin, nếu chịu khó quan sát, chịu khó động não một chút, mình sẽ có thu hoạch, không chịu về không.
Hai chiếc xe bán tải đang đỗ ngay vệ đường. Một cái của ngành viễn thông, một cái của dịch vụ bán hàng lưu động. Hai cái loa tranh nhau quảng cáo, đến là vui tai.
Nhưng xem ra ít người chú ý, có lẽ cảnh tượng này không phải mới có lần đầu. Cách tiếp thị này có lẽ đã diễn ra nhiều lần ở đây.  Cái gì thường xuyên, liên lục lặp đi lặp lại cũng dễ thành quen. Người ra vào chợ vẫn thản nhiên không để mắt đến.
Nhưng hai ông nghệ sĩ vẫn thoăn thoắt, bấm máy liên tục. Trời không đến nỗi nắng nóng lắm mà áo ông nào ông ấy xâm xấp mồ hôi.
Tôi tìm vào một quán bên đường, ngắm người qua lại, nhộn nhịp, nhưng chưa tìm thấy ý tứ gì cho mình trong chuyến đi này.
Có lẽ bởi đối với tôi, chợ K là nơi qua lại nhiều lần, mà cái gì thành quen khó ra cảm xúc.
Đằng nào cũng phải đợi hai ông “nghệ” kia ra, thì thôi cứ quan sát, lắng nghe..

Mấy ông người Tày trung trung tuổi đang phàn nàn với nhau về chuyện dạo này chuối quả không có người mua. Có mua người ta cũng mua rẻ, chỉ bằng non nửa giá hồi đầu năm. Một ông đi ủng cao gần tới gối, tay cầm dao đi rừng bảo định đi lên nương lấy chuối, đang chín đỏ cả nương, chim ăn ác lắm..Nhưng chán chưa muốn đi. Chả bõ khi người ta tranh nhau mua, vào tận lán trên nương, khác chặt, khác mang về, mình chả phải động chân tay”.
Hỏi thì ông nói nhà có ngót non ngàn khóm!
Tôi hình dung ra vườn chuối nhà ông mà thất kinh. Hàng héc ta chứ không phải chuyện đùa!

Chợt nhớ hôm thằng Giỏi hàng xóm nhà tôi ngày xưa, bây giờ chuyển cư lên đây làm kinh tế. Nó nói nhà nó vườn chuối tây  nếu đi thăm phải buổi sáng mới hết. Nếu vất mỗi khóm một viên sỏi để đếm cho khỏi lẫn thì số sỏi mang theo phải cả bao mới đủ. Tôi cứ cho là nó nói khoác, đất ở đâu mà trồng được nhiều thế? Giờ nghe người đàn ông này nói, tôi mới biết là mình nhầm. Cứ như ông ta kể, vườn chuối hàng ngàn đã ăn thua gì? Nhà Vị điếc mỗi đợt cắt chuối bán được cả mấy chục triệu đồng. “Chưa nhìn thấy cái xe bốn chỗ màu đen của nhà nó cái Camry mua ngót cả tỷ à? Cũng từ chuối mà ra đấy.Nhưng bây giờ chuối ế thế này chả biết nhà ý  giải quyết ra sao nữa?”
Tôi nói với ông rằng: “Năm nào chả vậy? Tháng sáu, tháng bảy này là mùa có nhiều hoa quả  nên chuối mới rẻ như vậy. Chắc chắn thời gian nữa giá sẽ lên trở lại”.
Ông ta cười gượng:
- Không phải thế đâu á! Cái món này xuất khẩu sang Tầu. Nó có “ăn” thì giá mới lên, chứ bán nội địa thì tiêu thụ được bao nhiêu? Năm ngoái cũng mùa này chuối vẫn giá hơn sáu mươi, bây giờ chỉ còn hai mấy thôi à!

Điều này không phải tôi không biết. Tôi từng chứng kiến những chiếc ô tô tải vừa dài vừa cao như cả toa tàu hỏa chở chuối từ đây  lên cửa khẩu. Nhưng nói gì với ông khách vừa mới quen thế này bây giờ?
Hàng nông sản Việt Nam xuất khẩu là một câu chuyện dài. Không phải chốc nhát mà nói hết được. Nói không đến đầu đến đũa dễ sai quan điểm, nhất là giữa lúc quan hệ giữa nước ta và nước bạn đang có điều khó nói, nhất là khi nó đang nóng lên trong thời gian gần đây.
Hơn nữa đây mới chỉ là hiện tượng bề ngoài, mình hiểu chưa chắc chắn thì không nên nói.
Ông ta thấy vậy cũng thôi không nói về chuyện này nữa, vớ cái điếu ục, làm hơi dài, tỏa khói mờ mịt.
Mấy ông người H’mông ngồi bàn bên cạnh đang uống nước mía. Nhìn vẻ mặt vô tư có pha chút hồn nhiên của người nương núi mà phát thèm. Hỏi, thì chỉ cười:” Đắt bán đắt đắt, rẻ bán rẻ lo gì? Mình làm ra mà, có phải đi buôn đâu, không sợ bị lỗ mà!”.
Rồi một thanh niên tay vừa mân mê cái thẻ điện thoại vừa nói: “ chuối rẻ thì đã có ngô, có gừng bù vào. Ông trời khác thương chả để đói..” Anh nói với tôi nhà cấy được ngót tạ ngô giống!
Ây dà, cái này lớn lắm, không đùa đâu. Nhưng anh mặt vẫn tỉnh bơ, vẫn bình thường.
Tôi từng làm nương, tôi biết. Cấy một yến ngô nương đã rộng hàng ha rồi.Ngót một tạ thì quả là núi đồi mênh mông!
Quả thật thời bây giờ làm nương khác thời tôi đi làm. “Cơ giới hóa” nó khác, có máy phát cây, máy làm cỏ chứ đâu cào bằng tay như hồi trước nữa?
Cấy một tạ giống cũng là chuyện bình thường.
Anh này còn kể: Nhà Giỏi Hường làm mới nhiều, hơn tạ kia chứ mình đáng gì!
Hóa ra thằng Giỏi hàng xóm cũ nhà tôi chả phải thằng vừa. Vậy mà đã có lúc tôi nghĩ chưa được đúng về nó. Đúng là sông có khúc, người có lúc. Nó đâu phải sinh ra để làm bực bội cho hàng xóm láng giền toàn những chuyện tai quái? Cũng không giống ông bố đẻ ra, chuyên cờ bạc rượu chè. Tính ngang ngạnh hay gây rối trong làng. Câu: “Cha nào con nấy” chưa hẳn đã đúng, nhất là trong trường hợp này!

Bên chân đèo, quán nhà Giỏi là quán thường xuyên vắng. Chỉ khi có xe lên “đong” hàng mới rộn rịp lên một chút.
Khi tôi đến có mấy thanh niên trong xóm người H’mông ra đang ngồi chơi xem đánh cờ.
Khung cảnh thật là yên tĩnh. Vừa mới mưa xong nên trời trong veo. Núi non như vừa được gột rửa sau đợt nắng nóng kéo dài.
Bộ dạng “ngan đực” của chủ quán như vừa thay đổi. Giỏi nom trắng béo hơn hôm về làng gặp tôi.
Nó bảo:
- Cháu vừa suýt chết đấy ông trẻ ạ!
Hỏi làm sao?
Giỏi vạch áo lên, dưới sát chỗ xương sườn cụt có lớp bông băng dán bằng băng dính. Rồi kể:
- Cháu vừa đi viện 103 Hà Nội về, sau cái hôm gặp chú ở dưới nhà mấy hôm cháu bị trâu vặc sừng cho một phát, may không dính xương sườn. Hôm ấy nó chỉ nhích lên một tí vào chỗ sườn này, dập phổi chắc cháu xanh cỏ rồi..
Gớm chết đi được, thằng này nói năng chả giữ mồm giữ miệng gì cả, vẫn như hồi nào lớp cha lớp chớp, không sửa được!
Nó dẫn tôi vào phía trong quán, nơi kê “hai tấm một chiếu” của nó. Bảo:
- Đây có phải cháu nói khoác đâu? Hai tấm này là gỗ  sâng, ông trẻ ạ.
Tôi cứ nghĩ cây to như này bây giờ rất ít. Nếu có, người ta quản rất chặt, có tài thánh cũng chả lấy mon men được.
Hình như nó đoán ra điều tôi nghĩ, bảo:
- Cây này nằm chênh vênh, lại gác giữa khe hai vách đá. Nếu người không biết cách sẽ không hạ được. Có cưa đứt gốc, ngọn nó sẽ gác lên vách bên kia, cây thì ngang lưng chừng giời, chả ai nghĩ sẽ có cách hạ được nó. Ở đất này ngoài cháu ra, đố anh nào chơi được đấy. Cũng có nhiều anh nhòm ngó, nhưng thấy khó quá, nản. Đến như kiểm lâm cũng chủ quan nghĩ không ai cắt nổi nên chả để mắt đến. Bây giờ cắt bằng cưa máy không vất như mọi khi, nhưng cũng phải có mẹo mới hạ được xuống.
Giỏi kéo tôi ra sân chỉ về phía sau nhà chỗ có cái khe núi nó vừa nói. Nó bảo:  “Sau đấy kiểm lâm có đến, nhưng cháu đã đi viện rồi. Vợ cháu thế mà được việc chú ạ. Nó trình với cán bộ rằng: “Cây cao ngay sát nhà tôi, nếu không cắt bỏ, đổ xuống xập nhà, chết người các ông có chịu trách nhiệm không?”.
Các ông ấy bảo đến khi ấy sẽ hay. Cứ làm biên bản đi đã, khi nào anh ấy về chúng tôi sẽ giải quyết. Từ hôm cháu về, chả thấy ông nào nói gì. Chiếu cố cháu đi viện về hay vì lý lẽ của vợ cháu các ông ấy chấp thuận cháu cũng không biết nữa. Nhưng số tiền đi viện của cháu có khi còn hơn cả tiền nếu bán được gỗ..Đúng là của thiên giả địa. Biết thế cứ để yên cây chỗ đấy lại hay..”. Tôi toan bảo nó:” Ăn của rừng rưng rưng nước mắt..” Nhưng thấy nó còn đang thương tích thế kia lại thôi. Có những điều đừng nói ra lại có ích hơn là nói.
Vợ Giỏi xuống bếp mổ gà. Tôi ngồi xem đánh cờ, uống nước lọc mà đầu óc lại nghĩ chuyện xẩy ra đã lâu về vợ chồng nhà này

Bố mẹ nó nghèo, lại đông con. Thứ tự: Tài, Giỏi, Nhất Nhị, Cường, Dương.. Đủ mười “đồi” như bố nó hay bảo thế.
Ở đâu không nói, ở vùng tôi nói đông con nên nghèo có nhiều người không nghe. “Mỗi con mỗi của”, đông con mới có nhân lực trong lúc đất rộng như da giời. Bằng chứng là nhiều nhà chín mười người con mà vẫn khá giả, thậm chí giàu có.

Nhà nó nghèo vì nguyên nhân khác. Ông bố vừa lười vừa hoang tưởng. Suốt ngày ôm cái điếu cày, trông bộ ấm chén “Suy nghĩ về đời”. Những câu ông nói vừa rất buồn cười, ngộ ngĩnh lại vừa hay ho. Tôi vẫn nhớ những câu chuyện về ông, nhưng khi người ta không còn trên thế gian này nữa thì không nên kể ra. Người ta chết là hết, hay dở cũng một đời người. Có nhắc chỉ nên nhắc lại điều tốt đẹp.

Nhưng chuyện về nó thì phải kể. Để biết hành trình của một người thường nơi thế gian.
Còn nhớ năm đó sắn đắt, chưa rẻ như bây giờ. Nương sắn nhà tôi cây nào như cây nấy, đất nứt khắp lượt quanh gốc. Đoán chắc thế nào cũng có vụ sắn kiếm ra tiền.
Ai ngờ đến lúc nhổ lên chỉ còn cây không!
Những củ to đều có vết dao chặt, củ nhỏ mới sót lại. Cây lại trồng xuống y nguyên chỗ cũ.
Có lẽ sau vài trận mưa, trời đã xóa hết dấu vết.
Rồi chuyện con gà mái ấp hơn chục trứng, hàng tháng không thấy gà con ló ổ. Xem ra, quả trứng nào bên trong cũng toàn nước là nước. Không biết làm cách nào, lòng trứng đã bị rút ra, bơm nước vào bít lại ngư cũ..
Những chuyện đại loại như thế không ít. Không cần đoán cũng biết thủ phạm là ai. Nhưng nếu nói ra y như rằng dính “chưởng” của nhà nó.
Vườn rau bí đang xanh um bỗng nhiên héo lá hàng loạt. Xem ra gốc cây bị cắt ngọt từ khi nào.
Có hôm không mưa không gió, tự nhiên mái ngói động rào rào, vỡ rơi lả tả. Đuổi cũng chả bắt được ai.
Đám anh em nhà nó như ma như quái. “Có bắt được tận tay đâu mà nói?”.
Trắng trợn như thế, tức mà không làm gì được.
Nhiều lúc phải chiều lòng.
Mẹ tôi khi cho nhà nó mớ khoai, lúc quả mít chín. Phải công nhận chiêu này của mẹ tôi thật là tuyệt. Sau đấy một dạo yên ổn, không mất vặt nữa.
Bố mẹ nó qua đời, anh chị em đi làm ăn nơi khác. Chỉ còn mình nó trụ lại nhờ có người mai mối lấy cho con vợ.
Nói đến vợ nó, đến giờ người ta vẫn còn kinh.
Nếu nó tai quái một, vợ nó gấp hai ba lần. Vợ nó cao hơn nó hẳn cái đầu, da trắng môi hồng, nhìn bề ngoài không đến nỗi nào.
Ả không có tính tắt mắt như chồng nhưng tính trịch thượng, ưa võ nghệ. Thằng Giỏi gấu thế mà sợ nó một vành.
Vợ chồng đánh nhau vớ thứ gì phang thứ ấy bất kể có phải chồng hay không. Một hôm nửa đêm hai vợ chồng nó ầm ĩ, dân làng xem như sự hàng ngày không ai để ý. Đến lúc đèn đuốc sáng rực mới tá hỏa đi tìm. Có người nói thấy nó ra phía bờ sông, có thể định tự vẫn? Mọi người kéo nhau ra bờ sông nhưng chả thấy dấu vết gì. Lúc quay về ngang qua khu mả của bố mẹ nó thì thấy tiếng khóc dấm dứt. Người ta tìm thấy vợ nó đầu tóc rũ rượi đang  nằm giữa hai ngôi mộ bố mẹ chồng đang ngất lịm.
Chả ai tin nó bị bố hay mẹ chồng hành nó vì tội quá đáng với chồng, nhưng người ta vẫn nghi hoặc. “Sống khôn thì thác mới thiêng, chắc chả phải bố mẹ chồng làm ra sự này”.
Thực lòng mà nói, có hàng xóm như nhà Giỏi này quả thực là một tai vạ. Nên, năm nó bán nhà chuyển lên K, cả xóm ai cũng mừng..


Những chuyện cũ về nhà Giỏi cho đến lúc này tôi vẫn nhớ như in. Bây giờ thấy nó ăn nói từ tốn, lễ phép với người già tôi cứ thấy phân vân. Nhất là con vợ nó lại có vẻ đoan trang, thùy mị cứ y như người khác chứ không phải cô Hường, vợ anh Giỏi ngày nào. Nó lấy gói trà ngon, tráng nước rửa cẩn thận rồi mới pha trà:
- Con mời hai ông với anh uống nước!
Hai ông ở đây là tôi và ông Hồ Thăng, anh là nghệ sĩ Hùng cường.
Bây giờ thì nó đang hí húi dưới bếp. Không biết đang làm những món gì mà mùi thơm đưa lên ngào ngạt.
Ông Hồ Thăng bảo:
- Bọn tớ đi công việc, nhà có gì ăn qua loa, đừng bầy vẽ. Rau cỏ là được rồi!
- Chả mấy khi hai ông với anh lại chơi, cũng phải tươm tươm chút chứ? Còn ông thích rau, con sẽ có rau đặc biệt cho ông. Rau rớn nấu canh cua đá là được chứ gì?
Nó xoa hai tay vào nhau, đầu hơi cúi, nói giọng thành thực..Làm tôi ân hận.
Tôi nghiệm ra rằng cụ Mác cụ ấy nói rất đúng: “Thế giới luôn vận động”. Đừng bao giờ thành kiến, suy xét cố chấp với con người..
Tôi đang nghĩ vẩn vơ như thế thì nghệ sĩ  gạo cội Hồ Thăng bảo:
- Có khi tay này làm gương điển hình làm ăn giỏi được đấy. Cậu viết bài đi, tớ ảnh minh họa cho!
Có lẽ ông nói thực lòng. Còn câu chuyện của tôi, hình như đã tìm thấy chút manh mối.
Viết được hay không, còn tùy thuộc vào quan sát và suy nghĩ sau chuyến đi này.
Vì có phải chuyến nào đi, muốn viết là có thể làm được cả ngay đâu?

========================


 


Phần nhận xét hiển thị trên trang

THƠ TRẦN HOÀI THƯ


clip_image001[4]
clip_image002[4]

Lão ngồi khâu di sản
Kim đâm mà không hay


Trần Hoài Thư, tên thật Trần Quí Sách, sinh năm 1942 tại Đà Lạt, hiện cư ngụ tại New Jersey, Hoa Kỳ.
1964: Giáo sư Trường Trung học Trần Cao Vân, Tam Kỳ. Truyện ngắn đầu tay: Nước Mắt Tuổi Thơđăng trên tạp chí Bách Khoa, Sài Gòn.
Có khoảng trên 100 truyện ngắn của ông đăng trên: Bách Khoa, Văn, Thời Tập, Vấn Đề, Khởi Hành, Ý Thức, …
1966: Nhập ngũ khóa 24 SQTB Thủ Đức.
Trung đội trưởng thám kích Đại đội 405 TK/SĐ 22 BB.
Phóng viên chiến trường tại QĐ4.
1975: Tù “cải tạo” 4 năm.
1980: Vượt biển, định cư tại Hoa Kỳ.
Kỹ sư trưởng hãng AT&T
Viết truyện đăng trên các tạp chí Nhân Văn, Hồn Việt, Dân Quyền, Diễn Đàn, Sóng, Văn Học, Quê Mẹ, Đời Mới.
Năm 2001 bắt tay thực hiện tập san Thư Quán Bản Thảo, một tạp chí văn chương không định kỳ (đến nay đã là năm thứ 15 và phát hành 66 số) với những chuyên đề về các nhà văn nhà thơ: Võ Hồng, Hoài Khanh, Dương Nghiễm Mậu, Bùi Đăng, Nguyễn Bắc Sơn,Y Uyên… và các số đặc biệt về các tạp chí Sáng Tạo, Trình Bày, Vấn Đề, Thời Tập, Bách KHoa, Văn, Khởi Hành, Hiện Đại v.v…
Chủ trương NXB Thư Ấn Quán, sưu tập in lại những tác phẩm văn học miền Nam đã bị tiêu hủy sau 1975, mà ông đặt tên là Di Sản Văn Chương Miền Nam, đa phần nhờ từ thư viện Cornell lưu trữ và bạn bè trong ngoài nước còn giữ lại, với cả trăm tác phẩm của các nhà văn nhà thơ miền Nam; có những bộ dày đến ngàn trang (Văn miền Nam 4 tập; Thơ miền Nam trong thời chiến 4 tập; Bảng lược đồ văn học Việt Nam, 2 tập; tạp chí Sáng Tạo bộ mới và bộ cũ; Cõi đá vàng của Nguyễn Thị Thanh Sâm…)
Tác phẩm của ông có gần 30, là truyện ngắn, truyện vừa, thơ, tạp văn… đã xuất bản, chủ yếu ở Hoa Kỳ.
Xin trân trọng giới thiệu một số bài thơ tiêu biểu của ông. (Nglu)


Một ngày tháng chín

Thôi cũng tạ từ nhau tháng chín
Tạ từ. Người có nhớ gì không?
Một lần sum họp rồi hai ngả
Hai nhánh sông xa đến não nùng
Tháng chín. Trời ơi là tháng chín
Để đồi vàng lá ở bên sông
Để sông hun hút bờ  vô tận
Để nhớ nhung nhung nhớ chập chùng
Mênh mông. Còn lại đây lòng lạnh
Dường như có những dấu chân êm
Dường như có cả mồ phong diệp
Trên bãi lòng ta đang ngủ yên
Tháng chín. Ừ. tháng này tháng chín
Ngày này như ngày khác. Thời gian !
Sao ta thì khác, ta thì khác
Mùa thu về ai tặng vết thương !
Tặng ta ánh nắng hoàng hôn lụa
Bờ vai gầy, đôi mắt nọ,  bờ môi…
Tặng ta cái bóng thời si dại
Tràn ngập lòng xe ấm chỗ ngồi
Giờ đây, tháng chín vàng bên ấy
Bên này, có kẻ lại bậng khuâng
Cầu xưa mấy nhịp dài sông nước
Có nối dùm ta nỗi nhớ mong

 

 

Đêm từ biệt VN                         


Lăn chiếc phuy dầu lên cá lớn
Trời ơi, ta từ biệt Việt Nam
Việt Nam. Đêm ấy đêm trừ tịch
Có những con người lại cách ngăn
Chào những đường thân, những lối quen
Những hàng cây rũ lá bên thềm
Chào cây cầu đá qua thành phố
Chào những bờ hiên, những cột đèn
Chào ai, lầm lũi trong đêm lạnh
Cơn gió giao mùa chớm lá xuân
Người về cho kịp đêm đoàn tụ
Ai lại lên đường. Ai lặng câm
Vẫn biết lần đi là bỏ hết
Là phủi tay. Cháy túi. Sạch trơn
Quay nhìn lại: Em còn bóng nhỏ
Ngọn đèn vàng lạnh một dòng sông
Về đi. Em nhớ đừng ôm mặt
Rồi thắp giùm anh một nén nhang
Con có hỏi anh. Em hãy chỉ
Mây dịu dàng trôi giữa mênh mông
Về đi để tiếp đời cô phụ
Tiếp mảnh hồn khô héo nhớ nhung
Mai mồng Một, cắn răng đừng nấc
May cuộc đời tươi đẹp mùa xuân
Về đi để trả bài ma quỷ
Những đau thương câm nín chất chồng
Em hãy lấy ngày này giỗ kỵ
Một ngày nào chim đã bặt tăm
Về đi, kẻo máy tàu đã nổ
Như những người ôm ngực con tim
Trong khoang chật, nghe chừng nín thở
Anh hùng đâu. Một nỗi lặng thinh
Gió trừ tịch hú dài Bãi Giá
Đập mạn thuyền, sóng vỗ buồn tênh
Đêm vượt thoát ai ngồi nín thở
Cả quê nhà, mờ nhạt hai bên
Lăn chiếc phuy dầu lên cá lớn
Trời ơi, ta từ biệt Việt Nam
Việt Nam. Một vệt mờ xa thẳm
Một chút rưng rưng bật xé lòng
Việt Nam. Tối quá, không đèn lửa
Ta ở trên thuyền ngực vỡ toang
Một nỗi buồn như đông đặc lại
Một nỗi vui oà vỡ cả hồn
Là lúc biết mình như thoát nạn
Sáng chân trời, hồng rực vầng dương
Là lúc, thấy mình như bất hạnh
Sắp làm người không có quê hương
Là lúc lòng dửng dưng chờ đợi
Nỗi dửng dưng buồn bã lạ lùng
Như thể trong một trời chuyển động
Một giọt sương cô độc tận cùng  (*)
 (*) Khi thấy con tàu đuổi theo, nghĩ đến một lần tự tử, nhìn xuống biển. Không thấy biển mà chỉ cảm nhận một con người Việt Nam bị săn đuổi bị bủa vây, bị hành hạ, bị tròng vào cổ mà kéo như con thú , và cuối cùng, là một lần nhắm mắt, cô độc như một giọt sương…


Đêm ra biển

Đêm ra biển,  đêm dậy đàn. Đêm tuyệt mộ
Đêm lạy Trời lạy Phật lạy Ba Ngôi
Đêm lên thiên đàng hay địa ngục, đêm ơi
Đêm chới với lằn ranh miền sống chết
Đêm rất lặng mà đêm tru thảm thiết
Đêm hiền từ mà đêm nổ lòng ghe
Đêm sóng gào mà đêm lại nín khe
Đêm gió dữ mà bình an nhắm mắt
Đêm nước mặn mà ngọt ngào nỗi chết
Đêm quá dài mà ngắn chớp tử sinh
Đêm ơi đêm, một cõi u minh
Đêm bật khóc nhìn chúng tôi tự sát…


Đi về

Đi về biết chở gì theo
Chở theo vạt nắng bên đèo vào xe
Đi về, tôi chở mình ên
Bạn đường đã bỏ sau triền cận sơn…


Ngày vàng

Còn lại hai vợ chồng già. Xa lộ
Đi về, buồn ngủ, đường lại xa
Vợ tiếp chồng
lái cho chồng ngủ
Gió lộng ngoài
gió lộng u u
Mắt ta vẫn ráo, sao không ngủ
Xe vẫn lao vào chốn tối đen
Trong cõi vô cùng như nín thở
Em cất lời,  tiếng hát lênh đênh
Đêm vẫn đêm dài đêm không ngủ
Người vẫn đi về cùng cõi mông mênh


Gốc nhớ
Sân nhà ta cỏ mọc hoang vu
Những gốc dại cứ kiên trì bám đất
Như  nỗi nhớ cứ bám vào trí óc
Muốn nhổ hoài càng nhảy ngọn xanh um
Mà vườn nhà thì quá đỗi mênh mông
Bầu trời xám, quạ gọi bầy đi ngủ
Cầm chiếc cuốc, cuốc hoài gốc cỏ
Làm sao bứng hoài gốc nhớ trong ta ?


Lính tiền phương

Khi ra trận ta là thằng chết trước
Tổ quốc ghi ơn,  lãnh tụ đẹp lòng
Khi tìm vợ, ta là thằng chạy chót
Nên khó lòng ấp vợ đẹp trong chăn…


Kinh nghiệm

Ở một nơi có quá nhiều anh hùng
Tay lãnh tụ thường là tay sợ chết
Ở một nơi có quá nhiều kẻ chết
Kẻ xúi nhiều thường là kẻ sống lâu


Thời gian ơi đừng vội

Thì mỗi ngày vẫn lối cũ đường quen
Những bánh lăn của cuộc đời chưa mỏi
Thong thả nhé thời gian ơi đừng vội
Ta chưa về thăm hết những thân sơ
Quà đất trời còn dư dật, no nê
Cuộc đời vẫn đầy những bất ngờ lý thú
Vẫn lóng lánh như một trời tinh tú
Vẫn đam mê như nhựa sống hồi xuân
Những con bồ câu vẫn nhảy tung tăng
Những nhịp sắt vẫn reo dòn dưới bánh
Thì buổi sáng ta chào tay buổi sáng
Thì hoàng hôn ta chào lại hoàng hôn
Chào cuộc đời khi trời đã chớm thu
Thong thả nhé thời gian ơi đừng vội !


Khi qua Cai Lậy

Chắc mẹ gọi em về nhà ăn cơm
Em mải mê theo cánh diều đồng cỏ
Em đợi gió. Cả một trời  nín thở
Gió ơi gió về đẩy cánh diều lên
Cho thân diều nâng với mây bay lên
Bay lên nữa, vào tận cùng trời đất
Chặt dây nhé kẻo diều bay vuột mất
Thả cho vừa sợ gió đập diều đau
Mắt ngập trời xanh, mây trắng phiêu du
Tóc bay xõa như đuôi diều rối rít
Tội nghiệp em, giữa cánh đồng – cõi chết
Chú học trò còn nấn ná ham vui…

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Miễn và hoàn thuế cho Formosa hơn 10.450 tỷ đồng vì thiệt hại năm 2014?


Theo nguồn của Dân trí, Tổng cục Thuế đã có dự kiến một số biện pháp hỗ trợ các doanh nghiệp (DN) bị thiệt hại do sự kiện ngày 13/5/2014 gửi Bộ Tài Chính, trong đó đáng chú ý, Formosa là DN dự kiến được miễn thuế và không truy thu thuế số tiền hơn 10.450 tỷ đồng.

 

Sự kiện ngày 13/5/2014 là những vụ biểu tình, xô xát của người dân, công nhân các khu công nghiệp trên địa bàn 1 số tỉnh như TP HCM, Đồng Nai, Bình Dương và Hà Tĩnh sau việc Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 tại vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam vào tháng 5/2014.
Theo báo cáo của Tổng cục Thuế, sau sự cố nói trên, cả nước ghi nhận có 778 DN được đánh giá bị ảnh hưởng, trong đó Bình Dương thiệt hại nặng nhất với 537 DN, Đồng Nai có 171 DN, Tp HCM có 33 DN và Hà Tĩnh có 1 DN.
Formosa được đền bù nhiều tỷ đồng sau sự kiện ngày 13/5/2014
Formosa được đền bù nhiều tỷ đồng sau sự kiện ngày 13/5/2014
Về tổng thiệt hại theo như khai báo của các DN báo về là 9.900 tỷ đồng và 4,23 triệu USD, trong đó Formosa khai báo bị chịu thiệt hại cao nhất với số tiền lên đến 5.533 tỷ đồng. Tuy nhiên, qua rà soát của các cơ quan như bảo hiểm và cơ quan chức năng địa phương tổng số thiệt hại của các DN trên cả nước là 4.523 tỷ đồng và 4,23 triệu USD, trong đó thiệt hại của Formosa là 4,77 tỷ đồng, các nhà thầu làm cho Formosa là 68,32 tỷ đồng).
Trong số DN chịu ảnh hưởng, đáng chú ý có tên của Formosa – DN đang gây bất bình lớn với người dân Việt Nam xung quanh sự cố gây thảm họa môi trường nghiêm trọng tại nhiều tỉnh Bắc miền Trung. Tổng cụcThuế cho biết: Đối với dự án Formosa, ngoài nhà máy của Formosa chịu ảnh hưởng trực tiếp trong và 16 nhà thầu chính đang thi công các hạng mục cho dự án Formosa cũng bị ảnh hưởng, trong số các nhà thầu này đều là DN đến từ Trung Quốc.
Theo Tổng cục Thuế, để hỗ trợ các DN bị ảnh hưởng nói trên, cơ quan thuế đã thực hiện gia hạn hồ sơ khai thuế và gia hạn nộp thuế cho nhiều DN. Ngoài ra, còn thực hiện cơ chế giải quyết hồ sơ hoàn thuế nhanh (hoàn trước kiểm sau cho 408 hồ sơ đề nghị, với tổng số tiền hơn 15.200 tỷ đồng).
Trong đó, riêng Hà Tĩnh đã hoàn cho Formosa kể từ kỳ hoàn thuế tháng 4/2014 cho đến nay số tiền 10.173 tỷ đồng, trong đó 1.185 tỷ đồng là thuế giá trị gia tăng đã nộp khâu nhập khẩu thực hiện cơ chế ghi thu ghi chi.
Ngoài ra, Formosa còn được Bộ Tài Chính miễn giảm, miễn phạt và hoàn lại số tiền thuế đã truy thu, phạt cho Formosa trước khi xảy ra sự kiện 13/5/2014, số tiền trị giá 71,6 tỷ đồng. Đây là số tiền miễn giảm và hoàn lại khoản thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường đã nộp đối với hoạt động hút cát san nền số tiền 71,6 tỷ đồng (trong đó thuế tài nguyên là 49,2 tỷ đồng, phí bảo vệ môi trường là 22,75 tỷ đồng).
Bên cạnh đó, Bộ Tài chính đã không truy thu thuế nhà thầu đối với hàng hóa, thiết bị nhập khẩu kèm theo bảo hành số tiền 176,3 tỷ đồng, đồng thời không truy thu số tiền phạt vi phạm hành chính về thuế 32,88 tỷ đồng, cùng miễn phạt vi phạm chính về thuế số tiền 1,26 tỷ đồng.
Đặc biệt, ngoài các đề xuất miễn thuế, hoàn thuế và không truy thu thuế đối với Formosa, qua quá trình kiểm tra, cơ quan thuế, hải quan đã phát hiện nhiều sai phạm của Formosa và đề nghị Bộ Tài chính truy thu và thu nhiều số tiền vi phậm.
Tờ trình của Tổng cục Thuế chỉ rõ: “qua rà soát, kiểm tra, cơ quan thuế và hải quan đã phát hiện nhiều sai phạm của Công ty Formosa như: Cơ quan Hải quan đã truy thu 5,5 tỷ đồng của Formosa vì Công ty này đã kê khai, áp mã HS chưa đúng với quy định hiện hành, dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp đối với mặt hàng kết cấu thép tiền chế dạng tháp và các bộ phận rời kèm theo dùng để lắp ghép nhà xưởng”. Ngoài vi phạm trong lĩnh vực hải quan, cơ quan thuế “đã phạt vi phạm hành chính số tiền 225 tỷ đồng vì Formosa lập hợp đồng xây dựng bổ sung không đúng quy định và kê khai bổ sung khâu trừ, hoàn thuế VAT của 19.497 hóa đơn, chứng từ sau khi cơ quan thuế đã thực hiện công bố quyết định thanh tra, kiểm tra tại DN với số tiền 1.500 tỷ đồng”.
Nguyễn Tuyền
----------------

Phần nhận xét hiển thị trên trang

ĐẠI SỨ HOA KỲ VÀ LỊCH SỬ VIỆT NAM


Bà Triệu - Tranh dân gian Việt Nam.

Ambassador Ted Osius

Khi tới thăm studio nghệ thuật của George Burchett tên phố Đặng Thai Mai, tôi đã bị cuốn hút bởi bức vẽ về Bà Triệu. Được biết đến như đại diện nữ quyền đầu tiên của Việt Nam, Bà Triệu là một nữ chiến binh ở thế kỷ thứ 3, người đã chống lại quân xâm lược Trung Hoa. Khi anh trai khuyên bảo rằng phụ nữ không nên hành động như vậy, Bà Triệu đã đáp lại rằng: "Ta chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá trường kình ở biển Đông, lấy lại giang sơn, dựng nền độc lập, cởi ách nô lệ, chứ không chịu khom lưng làm tì thiếp cho người!"


While visiting George Burchett’s art studio on Dang Thai Mai, I was captivated by this piece on Ba Trieu. Known as Vietnam’s first true feminist, Ba Trieu was a female warrior in the 3rd century who bravely resisted the invading Chinese. When her brother counselled that women were not supposed to act in such a way, Ba Trieu replied: “My wish is to ride the tempest, tame the waves, and kill the sharks in the East Sea. I will not resign myself to the usual lot of women who bow their heads and become concubines."
-------------
Xem thêm bài
Như một giấc mơ

Trần Hậu Yên Thế

Từ tấm bé, tôi được nghe về Bà Triệu (Triệu Thị Trinh, sinh 225 – mất 248), người anh hùng của dân tộc Việt Nam. Trí óc non nớt của tôi không nhớ nổi bà đã lãnh đạo cuộc nổi dậy của dân tộc Việt như thế nào, và vì sao bà bị chết? Thế hệ chúng tôi những đứa trẻ mới lớn cắp sách đến trường khi đất nước vừa hoà bình. Tôi đến trường học những bài học đầu tiên về lịch sử là khi Việt Nam đã chấm dứt cuộc chiến tranh với hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Chúng tôi náo nức hân hoan chờ đón xem các cuộc duyệt binh nhân ngày độc lập. Những chiếc xe tăng, những mũi lê tuốt trần, những tiếng tung hô vang dậy, những đoàn ngươi đi rầm rập, thẳng tắp. Phim ảnh về chiến tranh thường trực trên vô tuyến, những ngày lễ lớn vẫn thấy những bức tranh cổ động hình chú bộ đội, cô du kích đeo súng.

Trong những bài học lịch sử đầu tiên, câu nói nổi tiếng của Bà được chúng tôi thuộc lòng, được nhắc đi nhắc lại trong giờ học lịch sử: “Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở Biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang san, cởi ách nô lệ chứ tôi không chịu khom lưng làm tì thiếp người ta!”. Thật khí phách làm sao!

Rồi, qua tranh dân gian Đông Hồ, tôi thấy Bà hiện lên như một nàng tiên cưỡi con voi trắng. Tiếng nhạc chuông khoan thai nhịp cùng chiếc vòi đung đưa. Dáng người nhỏ bé của bà chập chờn trước mắt tôi.

Ở cái thời buổi như thế, hình ảnh về người anh hùng dân tộc - Bà Triệu, trên bức tranh dân gian Đông Hồ giống như một giấc mơ. Một giấc mơ ngọt ngào không có gươm đao.Cuộc đời ngắn ngủi mà oanh liệt của bà đã lưu danh vào sử sách. Và bức tranh Đông Hồ này là bức tranh duy nhất còn lại tới nay về hình ảnh của Bà. Trên một nền điệp lung linh, rực rỡ không một hàng chữ, người nghệ nhân thật tự tin với câu chuyện rất hóm hỉnh của mình. Chắc khỏe mà uyển chuyển trong từng nét khắc người nghệ sỹ dân gian, như nói với chúng ta: Bà Triệu đấy…hãy nhìn cặp vú tương truyền rất dài này của Bà …Nó cũng lắc lẻo theo nhịp đi của chú voi. Người anh hùng trở về trong hân hoan, bỏ lại phía sau gươm giáo, bỏ lại hận thù, những vinh quang trận mạc. Chỉ còn lại đây những gì đó thật nhân bản và giản dị.

Bà là nhân vật lịch sử đã đi vào huyền thoại của người Việt. Dân gian đã lý giải về sự thua trận như sau: “Bà Triệu vốn ghét sự ố trọc, ưa tinh khiết. Vì có kẻ gian lén báo với quan địch. Tướng giặc cho quân lính cởi truồng đi đánh trận. Bà vì xấu hổ nên lên núi tự vẫn !”.

Tôi từng đinh ninh rằng, câu chuyện này là sự thật, chí ít là đối với người nghệ nhân đã khắc nên bức tranh tuyệt đẹp này. Nếu không thật thì sao có thể khắc nổi một hình tượng người anh hùng như một thiếu nữ duyên dáng và nhẹ nhàng đến vậy. Có lẽ không nên trách các nghệ nhân Đông Hồ là quá ngây thơ và kém hiểu biết về lịch sử. Lịch sử không nhất thiết chỉ một cách nhìn. Trong bộ sách lịch sử nổi tiếng Đại Việt sử ký toàn thư, Bà hiện lên thât mạnh mẽ, phi thường. Còn ở đây trên bức tranh này ta chỉ thấy một vũ điệu tung tẩy của màu sắc của ánh mắt, của đôi tay và những dải áo.

Và cũng không nên trách các nghệ sỹ thời xưa sáng tạo các tác phẩm về người anh hùng mà không có “tính chiến đấu” như các tác phẩm mới của thời kỳ cách mạng. Một bức tranh về một nữ anh hùng dân tộc khác, bức Hai Bà Trưng (cũng thuộc dòng tranh Đông Hồ) rõ ràng có tính chiến đấu hơn. Ở bức tranh Hai Bà Trưng đánh đuổi giặc quân xâm lược phương Bắc, hình ảnh hai bà cưỡi voi vung gươm xốc tới. Tuy cùng một dòng tranh Đông Hồ nhưng bức tranh Hai Bà Trưng xem ra muộn hơn, thậm chí niên đại của nó có thể chỉ vào thế kỷ 19. Bức tranh này đã biết sử dụng luật cận viễn, gần to xa nhỏ, Đặc biệt là có in chữ Hán trên tranh, về sau lại có bản in chữ quốc ngữ.

Thềm điện đền Bà Triệu, xứ Thanh
Việt Nam là một đất nước có một lịch sử chinh chiến hào hùng. Nhưng thật kỳ lạ là nó không được nghệ thuật tô vẽ lại, mà thậm chí nhiều khí còn có tình lờ đi. Một nhân vật anh hùng khác là Đinh Bộ Lĩnh, vị hoàng đế được các sử gia đời sau coi là người đầu tiên lập nên triều đại chính thống trong lịch sử Việt Nam cũng được các nghệ sỹ Đông Hồ khắc họa. Đinh Bộ Lĩnh người anh hùng đánh Đông dẹp Bắc lại được vẽ dưới dạng nhi đồng cùng lũ trẻ chăn trâu đang diễn trò “cờ lau tập trận”. Những tình tiết bạo lực ít đuợc khai thác. Như bức vẽ khác về Đinh Tiên Hoàng, khắc họa cảnh người chú của Đinh Tiên Hoàng lạy cháu. Người chú trong lần giao tranh với cháu, Đinh Tiên Hoàng bị ngã xuống đầm, khi chuẩn bị đâm thì chợt có con rồng vàng ngũ sắc hiện lên che chở. Những tình tiết đầy bạo lực gay cấn đã không được mô tả. Thay vào đó là một giọng điệu hóm hỉnh, cả chú lẫn cháu đều đóng khố. Người chú đứng trên bờ vái lạy người cháu đang đứng trên lưng con rồng. Nói chung các tượng thờ vua chúa Việt Nam thật hi hữu mới có cầm gươm đao. Một ngoại lệ hiếm hoi là bức tượng đồng Lê Thái Tổ ở Hồ Gươm. Đức vua cầm bảo kiếm, nhưng không phải trong cảnh chinh chiến, mà lại đang trả gươm cho rùa thần.

Quay trở lại hiện tượng các nữ tướng trở thành các thủ lĩnh đánh đuổi giặc ngoại xâm như Bà Trưng, bà Triệu, những nghiên cứu mới về lịch sử cho ta những phát hiện thú vị. Trong cuộc khởi nghĩa của Bà Trưng, có tới ít nhất là 75 vị nữ tướng. Theo chính sử, Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa là để báo thù chồng là Thi Sách. Cách viết sử theo quan điểm Trung - Hiếu - Tiết- Nghĩa của Nho giáo, đã giải thích sự nổi dậy của Hai Bà Trưng như vậy, thì 75 bà tướng kia thì sao. Và cũng có những nghiên cứu khác chứng minh rằng, khi bà Trưng phất cờ nổi dậy thì chồng bà, ông Thi Sách vẫn còn sống. Và sử cũng không có nói bà Triệu nổi dậy vì thay thế vị trí của anh trai mình là Triệu Quốc Đạt. Thời của Bà Trưng bà Triệu, chắc hẳn nước Việt lúc đó còn duy trì chế độ mẫu hệ. Và việc người phụ nữ trở thành thủ lĩnh không nên hiểu đơn giản vì tài thao lược, sức mạnh hơn người. Những nữ thủ lĩnh có sứ mệnh giống như những là cờ trận, như tiếng trống trận. Sức mạnh của lá cờ, của hồi trống không giống với sức mạnh của gươm giáo, nó là một biểu tượng thu hút và khích lệ mọi lực lượng vùng lên. Cách tư duy về hình tượng người nữ anh hùng của những người nghệ nhân Đông Hồ rất xa lạ với tôi, nhưng có thể lại rất gần với bản chất của lịch sử. Khi hình tượng nữ anh hùng đã thấm sâu vào trái tim nhân dân thì những nghệ sỹ làng tranh Đông Hồ cứ hồ nhiên mà kể, kể bằng những mảng màu tươi tắn nhất, những đường nét ngộ nghĩnh nhất. Bức tranh đã đặt nhân vật vào vị trí chính diện một cách trọn vẹn. Hình tượng Bà Triệu cưỡi voi ở đúng vào vị trí trung tâm của bức tranh, nhưng không bị tĩnh lặng bởi cái vũ đạo tung tẩy của đôi cánh tay đang đang cầm hai dải áo.

Câu hỏi với tôi cho tới nay là, người phụ nữ anh hùng có còn là phụ nữ. Giống như câu chuyện về các nữ chiến binh trong thần thoại Hy lạp đã tự cắt đi một bên vú của mình để bắn cung được dễ dàng. Cặp vú dài của Bà Triệu có lẽ là một cản trở cho việc chinh chiến. Nên truyền thuyết kể rằng mỗi khi ra trận Bà phải cột nó ra…tận sau lưng. Những hình ảnh về người phụ nữ trong Bảo tàng Phụ nữ (tp. Hồ Chí Minh) cho tôi cảm nhận họ là người anh hùng cách mạng trước khi là phụ nữ. Người xem tới đây, trước hết được thấy những hình ảnh đấu tranh kiên cường bất khuất của phụ nữ miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Sau đấy, các du khách mới được thấy những hình ảnh dịu hiền của phụ nữ Việt Nam trong các trang phục truyền thống của các dân tộc. Nếu sẽ ra sao nếu trật tự các gian trưng bày sẽ làm ngược lại. Trước hết cho du khách xúc động trước vẻ đẹp văn hóa truyền thống của người phụ nữ Việt Nam, sau đó dành cho họ sự cảm động, sự khâm phục và kính phục trước những mất mát hy sinh trong chiến tranh và những chiến công lẫy lừng.

Lịch sử vẫn thường được viết qua lăng kính của giới mày râu. Nhưng nghệ thuật thì không hẳn như thế. Một người đàn bà đội vương miện cưỡi voi đã chễm chệ đi qua biết bao thế kỷ trọng nam khinh nữ, biết bao thế kỷ những người đàn bà không còn tên gọi, không được học hành, thi cử. Hình tượng Bà Triệu, người đàn bà cưỡi voi không một tấc sắt trên người xứng đáng là bức tranh kiệt xuất nhất về người nữ anh hùng Việt Nam. Bức tranh được những người nông dân mua về dán vào dịp Tết. Họ cứ dán thẳng bức tranh lên vách đất của những ngôi nhà nơi thôn quê. Bức tranh đã đi qua bao nhiêu thăng trầm lịch sử. Trong tiếng pháo Tết rộn ràng Bà Triệu hiện về cùng với mùa Xuân, tươi tắn và rạng ngời hạnh phúc”.

Trần Hậu Yên Thế
- Giảng viên ĐH Mỹ thuật Việt Nam (42 Yết Kiêu, HN)

Phần nhận xét hiển thị trên trang