Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Năm, 28 tháng 7, 2016

Chính phủ công bố chi tiết thiệt hại do Formosa gây ra

TTO - Đó là nội dung trong báo cáo của Chính phủ trình Quốc hội về vụ hải sản chết hàng loạt ở Miền Trung do việc xả thải của công ty Formosa.
Báo cáo của Chính phủ cũng tiết lộ thêm Formosa đã không xây bể lọc trong trạm xử lý nước thải sinh hóa như cam kết.
Theo báo cáo do Bộ trưởng Bộ Tài nguyên Môi trường Trần Hồng Hà thừa ủy quyền Thủ tướng ký, hải sản chết bất thường bắt đầu ở  Hà Tĩnh từ ngày 6-4-2016.
Lãnh đạo Chính phủ và các Bộ ngành đã nhanh chóng vào cuộc, thực hiện nhiều biện pháp, trong đó có tiến hành biện pháp pháp lý buộc Formosa thừa nhận trách nhiệm, công khai xin lỗi và cam kết bồi thường cả cho xử lý ô nhiễm và phục hồi môi trường ở 4 tỉnh miền Trung.
Formosa không xây bể lọc trong trạm xử lý nước thải sinh hóa
Báo cáo nhắc lại nguyên nhân cá chết đã công bố với báo chí (do nguồn thải ở khu vực Vũng Áng - Hà Tĩnh chứa keo sắt dưới dạng mixel hấp phụ các chất như Phenol, Xyanua… di chuyển theo dòng hải lưu), nêu rõ một đoàn kiểm tra liên ngành gồm tới 72 người đã được thành lập để đi kiểm tra các cơ sở nghi vấn.
Những cơ sở bị kiểm tra gồm: Formosa, Công ty Điện lực Dầu khí Hà Tĩnh, Trung tâm dịch vụ hạ tầng Khu kinh tế Hà Tĩnh.
Đoàn kiểm tra chia làm 6 tổ, kết quả đã phát hiện Formosa vi phạm nhiều quy định hành chính về bảo vệ môi trường và cuối cùng xác định chỉ nguồn thải của Formosa mới có Phenol và Xyanua.
Chính phủ cũng báo cáo chi tiết về quá trình buộc Formosa thừa nhận sai phạm.
Theo đó, Chính phủ đã giao cho Bộ Tài nguyên Môi trường, Bộ Công an, Bộ Khoa học Công nghệ, Tỉnh ủy Hà Tĩnh… cùng đấu tranh, với yêu cầu cao nhất là phải đảm bảo quyền lợi của hàng triệu người dân miền Trung nhưng cũng đảm bảo lợi ích các bên, đảm bảo Thỏa thuận về xúc tiến và bảo hộ đầu tư giữa VN và Đài Loan.
Kết quả, Formosa đã phải thừa nhận 53 sai phạm, trong đó có sai phạm lớn như tự ý chuyển đổi công nghệ luyện cốc từ dập cốc khô (dùng khí trơ) sang thải ướt (dùng nước).
Đặc biệt, báo cáo của Chính phủ tiết lộ thêm: Formosa đã không xây lắp bể lọc cho trạm xử lý nước thải sinh hóa như cam kết họ đã chấp nhận trong báo cáo đánh giá tác động môi trường.
Mặc dù ngày 30-6 mới công bố nguyên nhân cá chết nhưng Chính phủ thực tế quá trình đàm phán đã kết thúc vào lúc 18g ngày 28-6. Vào thời điểm đó, Formosa đã ký thỏa thuận trước sự chứng kiến của Trưởng Văn phòng đại diện kinh tế văn hóa Đài Bắc tại VN.
“Chính quyền Đài Loan cũng thể hiện rõ quan điểm ủng hộ Chính phủ VN xử lý vi phạm của Formosa Hà Tĩnh” - báo cáo của Chính phủ nêu.
Hậu quả sự cố là nặng nề
Trong báo cáo, Chính phủ cũng thẳng thắn công bố chi tiết những thiệt hại cả kinh tế và xã hội việc hải sản chết hàng loạt. Về kinh tế, riêng số hải sản chết dạt vào bờ được đánh giá khoảng 100 tấn.
Tuy nhiên, lâu dài, do các rạn san hô, phù du sinh vật cũng chết nên có nguy cơ làm gián đoạn chuỗi thức ăn biển, khiến suy giảm đa dạng sinh học và nguồn lợi thủy sản khu vực, ảnh hưởng đến sinh kế lâu dài của dân.
“Hệ sinh thái biển bị ảnh hưởng nghiêm trọng” - thừa nhận thực tế trên, Chính phủ xác định có tới trên 17.600 tàu cá và gần 41.000 người đã bị ảnh hưởng trực tiếp. Trên 176.000 người phụ thuộc bị ảnh hưởng theo.
Do không thể đánh bắt trong phạm vi từ bờ đến 20 hải lý, có tới 90% tàu lắp máy công suất thấp và gần 4.000 tàu không lắp máy đã phải nằm bờ. Sản lượng khai thác ven bờ thiệt hại khoảng  1.600 tấn/tháng.
Với hoạt động nuôi trồng thủy sản, có 9 triệu tôm giống bị chết, hàng ngàn lồng nuôi cá cũng bị thiệt hại.
Hoạt động du lịch thì không chỉ gây thiệt hại cho doanh nghiệp ở 4 tỉnh miền Trung vì theo Chính phủ, nhiều doanh nghiệp du lịch ở Hà Nội và TP.HCM cũng bị thiệt hại khi khách dự định đến 4 tỉnh miền Trung hủy tour, khiến công suất sử dụng phòng tại bốn tỉnh trên mất 40-50%.
Riêng Hà Tĩnh sau sự cố, công suất phòng khách sạn chỉ còn 10-20%.
Về xã hội, Chính phủ thừa nhận sự việc đã khiến giảm lòng tin của các tầng lớp nhân dân. Người dân nghi vấn về quá trình thẩm định, phê duyệt đầu tư; giảm cả lòng tin về khả năng của các cơ quan chức năng trong ứng phó các tình huống khẩn cấp về môi trường.
Một bộ phận không còn tin vào sự an toàn của cá biển và các sản phẩm liên quan như nước mắm, rong tảo…
Sự việc còn tiềm ẩn nguy cơ an ninh khi nhân dân lo lắng về sinh kế, thất nghiệp, thậm chí nợ nần, phá sản do không tiêu thụ được hải sản.
Về giải pháp, Chính phủ nêu đã xuất cấp trên 4.000 tấn gạo cho dân. Đặc biệt, Chính phủ nêu sẽ cố gắng đến tháng 8-2016 sẽ đưa tiền đền bù đến cho người dân.
Chính phủ khẳng định cũng đã chỉ đạo đánh giá lại quy định, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất thải, quan trắc môi trường, kịp thời sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn.
C.V.KÌNH

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Cường quốc của dân chủ



Bá Tân    

            Mỹ là cường quốc của thế giới về kinh tế, khoa học, quân sự… Điều đó ai cũng biết, không thể không thừa nhận. Mỹ còn là cường quốc về dân chủ,  việc này không thể phủ nhận.
            Tỉ phú Donal Trump  được đảng cộng hòa lựa chọn làm ứng cử viên tranh cử tổng thống Mỹ nhiệm kì 2017-2020.
           Là tân binh của đảng cộng hòa. Mới hơn 5 năm tuổi đảng, ông Donal Trump trở thành người đại diện của đảng cộng hòa hùng  mạnh đứng ra tranh cử ngôi vị quyền lực cao nhất nước Mỹ.
           Không phải là Mỹ, không dân chủ như Mỹ thì làm sao “ tân binh” Donal Trump trở thành người đại diện của một đảng có bề dày lịch sử như đảng cộng hòa.
           Là nước Mỹ, dân chủ như Mỹ cho nên, khi lựa chọn người đại diện ra tranh cử, người ta chẳng thèm quan tâm tuổi đảng.
           Ở ta, và những quốc gia có cùng thể chế chính trị, tuổi đảng như Donal Trump giỏi lắm chỉ được xách cặp cho những lão đảng viên đi dự đại hội.
           Tại đại hội đảng cộng hòa, sau khi được lựa chọn làm ứng cử viên tranh cử tổng thống Mỹ, ông Donal Trump lên tiếng chỉ trích gay gắt đương kim tổng thống Obama.
           Không phải ngựa non háu đá. Không  phải thiếu tôn trọng người đi trước. Không phải xem thường người đứng đầu đất nước. Đó là dân chủ của Mỹ. Chỉ có Mỹ và các nước “ đang giãy chết”  mới có được dân chủ như vậy.
            Ở ta, nếu hành xử như vậy, mới là ứng viên đã lên tiếng công kích người đương nhiệm, không những cá nhân bị vùi dập mà  còn gây họa cho con , cháu đời sau.
         Tại đại hội đảng cộng hòa, công khai bộc lộ 2 trạng thái ngược chiều. Ủng hộ , tán thưởng ông Donal Trump. Bất hợp tác, la ó phản đối ông Donal Trump. Cùng một chính đảng nhưng có 2 phe. Ở ta,  gọi đó là mất đoàn kết. Ở Mỹ , đó là dân chủ, đỉnh cao dân chủ của thế giới.
           Phải dân chủ như Mỹ thì sự khác biệt, bất đồng mới được công khai bộc lộ. Dân chủ là vị thuốc đặc hiệu tạo ra sức mạnh thần kì của đảng cầm quyền cũng như với nước Mỹ nói chung.
           Công dân Mỹ cũng như đảng viên công khai chỉ trích người đứng đầu đảng cầm quyền là chuyện bình thường. Đó là cách phòng bệnh độc quyền rất hiệu nghiệm. Mỹ cũng như thế giới nói chung, dân chủ và cường thịnh luôn đi liền với nhau, và ngược lại. Ở Mỹ, đảng cầm quyền và người đứng đầu đảng ấy tuyệt nhiên không có vùng cấm.
            Mỹ là tấm gương của thế giới. Muốn giàu, mạnh và văn minh phải học Mỹ. Không chỉ siêu cường kinh tế, Mỹ còn là cường quốc về dân chủ. Học cách làm giàu của Mỹ là đúng nhưng chưa đủ, còn phải suốt đời học nền dân chủ của Mỹ.
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Lắm thầy thối ma, đa đảng và một đảng thối nát cũng chả nói lên điều gì. Vấn đề là có coi trọng quyền lợi của đất nước và người dân hay không thôi. bác dẫn chứng vụ súng đạn ở Mỹ, nhưng thẻ hỏi ở VN ta súng đạn cũng tự do như thế, tình hình sẽ ra sao? Không viết thì thôi, bác viết như này chưa thể thuyết phục. Vấn đề nêu ra chưa ráo rốt. Chỉ khơi khơi như vậy, người ta càng phân vân. Đã không nói thì thôi. Nói phải có đầu có đuôi, cặn kẽ, loại quần chúng ngu như em mới hiểu!

DÂN CHỦ CHỈ ĐI ĐÔI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ CHỨ KHÔNG PHẢI ĐI ĐÔI VỚI ĐA NGUYÊN, ĐA ĐẢNG


TƯỞNG
Các nước tư bản những năm thế kỷ XX luôn duy trì mô hình kinh tế người bóc lột người, bóc lột thuộc địa để nuôi chiến tranh xâm chiếm thuộc địa. Các nước tư bản thế kỉ XXI ngày nay đã thay đổi từ hình thức bóc lột sang dân chủ tự do, quan tâm nhiều hơn tới đời sống của người dân. Từ đó tạo ra các giá trị dân chủ, nhân quyền làm nên thương hiệu của các nước theo thể chế đa nguyên, đa đảng đối lập.
Thế nhưng ngày nay những tiêu cực của mô hình đa nguyên, đa đảng đối lập vẫn còn, ví dụ như: Tình trạng tự do súng đạn tại Mỹ, hàng năm vẫn có hàng ngàn người trở thành nạn nhân của súng đạn; hay là tình trạng phân biệt chủng tộc của người da trắng đối với người da đen…. Từ khi nước Mỹ được khai sinh thì phải mất nửa thế kỉ người phụ nữ mới được quyền tham gia bầu cử, phải mất hàng trăm năm thì người da đen đầu tiên mới được quyền làm Tổng thống của nước Mỹ và ngày nay vẫn xảy ra tiếng súng giữa người da đen và cảnh sát da trắng; điều đó chứng tỏ điều gì? Rằng trong lòng của nước Mỹ sự phát triển của dân chủ, nhân quyền phát triển hết sức chậm chạp, cho dù bề ngoài của nó được tô vẽ một cách hết sức đẹp đẽ bởi những nhà lãnh đạo các đảng.
Để biện hộ cho những giá trị dân chủ ảo tưởng đó, nhiều đứa con F2 của đám cờ vàng vẫn lải nhải, tự sướng với nhau về “dân chủ, nhân quyền đi đôi với đa nguyên, đa đảng”. Ở nước Mỹ những nhà lãnh đạo các đảng trên bàn nghị sự thì chửi nhau, bới móc, bêu xấu nhau để lấy lòng cử tri; thế nhưng đằng sau nghị trường họ lại ôn hòa với nhau thống nhất với nhau, chi phối với nhau. Tuy rằng họ đại diện cho các đảng khác nhau nhưng lợi ích của họ đều thống nhất với nhau là tôn trọng quyền lợi của những nhà tài phiệt, người đã bơm tiền cho họ để họ tranh cử. Do vậy họ bề ngoài họ tô vẽ dân chủ, nhưng mặt sau họ hành động theo quyền lợi của những nhà tài phiệt.
Khẳng định "Dân chủ phải gắn liền với đa nguyên, đa đảng" là hoàn toàn sai lầm, ảnh: internet
Nhìn xem, đã bao đời Tổng thống Mỹ nhưng họ có thay đổi được hòa bình thế giới không? Hay họ vẫn hàng ngày phát động chiến tranh dưới cái danh nghĩa chống khủng bố? Thể chế đa nguyên, đa đảng thực chất không tạo nên được sự thống nhất trong đại bộ phận đông đảo nhân dân trong nước, nó tạo ra lối sống chủ nghĩa cá nhân nhiều hơn là tạo ra sự thống nhất tư tưởng trong xã hội.
Việc tuyên truyền những giá trị dân chủ của phương Tây là một trong những cách để đánh vào tư tưởng của những nước không theo thể chế dân chủ đa nguyên, đa đảng. Đó là một cách can thiệp chính trị vào các quốc gia có chủ quyền, gây nên các cuộc đảo chính, tranh giành quyền lợi chính trị trong lòng những quốc gia một đảng. Đừng bao giờ tuyên truyền giá trị dân chủ của phương Tây vì nó chưa đóng góp gì cho hòa bình thế giới mà tác hại của nó làm cho nhiều nước trở nên lầm than, loạn lạc. Dân chủ chỉ thực sự đi đôi với phát triển kinh tế chứ không phải đi đôi với đa nguyên đa đảng.
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tú Mỡ và tiếng cười của một thời đã xa

VTN
 Lời dẫn cho hai bài viết cũ về Tú Mỡ
Các tài liệu văn học sử đều ghi Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu, sinh 14-3-1900, mất 13-7-1976, nhà thơ trào phúng có chân trong Tự Lực văn đoàn; tác phẩm chính: Dòng nước ngược (1934), Nụ cười kháng chiến (1952), Bút chiến đấu (1960), Ông và cháu (1970)...

 Có nhiều cách để phân chia  các thời kỳ của xã hội VN từ đầu thế kỷ XX trở đi.
Nhiều người chia theo các tên gọi như thời tiền chiến, thời  chiến tranh 1945, thời hậu chiến sau 1975.
Tôi thì chỉ thấy có hai giai đoạn, 
một là giai đoạn từ 1975 về trước, tuy tên gọi về mặt xã hội chính trị có khác, song đó là giai đoạn của những ổn định, kể cả trong chiến tranh cũng ổn định
hai là giai đoạn từ 1975 tới nay, khi mọi sự hài hòa bị phá vỡ. 
Tú Mỡ thuộc hẳn về cái giai đoạn thứ nhất vừa nói ở trên. Ông lấy  bút danh là Tú Mỡ, là để nhại theo Tú Xương. 
Chúng ta ngày nay gần với tiếng cười hằn học hận đời Tú Xương hơn là tiếng cười  đôn hậu của Tú Mỡ
Tuy vậy thỉnh thoảng trở lại với thơ ông cũng là một cách để chúng ta  hiểu rằng dù sống ở thời đã khác, tiếng khóc câu cười của chúng ta ngày nay đã khác với các thế hệ tiền bối song nếu bình tĩnh đọc lại vẫn có thể được làm giàu thêm bởi những bài học nhân bản.
                  

                      SỰ THANH THẢN CỦA NGƯỜI NGHỆ SĨ

Những sự lựa chọn đích đáng 
Bạn bè nước ngoài đến Việt Nam thường bảo dân Việt là những người thích cười và chính chúng ta cũng vui lòng với những nhận xét như vậy. Ấy thế nhưng trong đáy sâu tâm thức nhiều người, tiếng cười thật ra vẫn bị coi thường. Người ta gọi đó là những trò bông lơn chọc ghẹo nhau, một thứ cười cợt bày ra cho vui, chứ chẳng có gì là nghiêm chỉnh cả. Riêng với những người có địa vị cao trong đời sống tinh thần đời xưa, tức các kẻ sĩ, thì tiếng cười lại càng không được xem trọng. Các thi sĩ xưa thường hiện ra với khuôn mặt đăm chiêu, vẻ lo đạo, lo đời, chứ không nhếch mép cười mấy khi. Cực chẳng đã, phải lấy việc gợi ra tiếng cười của mọi người làm sự nghiệp, như một Hồ Xuân Hương, một Tú Xương, thì trong thâm tâm, họ đã chấp nhận sự rẻ rúng của dư luận chính thống. Sách vở không còn ghi chép, song dựa vào cách suy nghĩ của người xưa, có thể tin chắc rằng sinh thời, cả Hồ Xuân Hương lẫn Tú Xương đều chưa được đánh giá thích đáng và chỉ đến lớp hậu thế chúng ta, các nhà thơ lớn ấy mới phần nào được đặt đúng vị trí. Trong hoàn cảnh ấy, việc một nhà thơ như Tú Mỡ, vào những năm ba mươi của thế kỷ hai mươi, dám mạnh dạn đứng ra nhận lấy việc làm thơ trào phúng, xem đó như mặt hàng "chuyên doanh", là một hành động vượt lên thành kiến thông thường. Sự cởi mở của hoàn cảnh đã giúp cho tác giả một phần. Nhưng có lẽ cái chính ở đây có một sự khôn ngoan biết điều mà không phải ai cũng có ngay được. Trong khi chấp nhận lời khuyên của Nhất Linh là bỏ hẳn thơ trữ tình để làm thơ trào phúng (tức là tiếp tục làm thơ cũ, thơ bình dân, ngay trong khi thi đàn đang sôi sục khí thế đi tìm cái mới), Tú Mỡ thực đã chứng tỏ là một con người có bản lĩnh. Ông tự tin. Ông không hùa theo phong trào, chạy theo thời thượng, mà ngược lại, tìm cách đóng góp cho cái Văn đoàn đầy tham vọng mà ông là một thành viên, bằng chính sở trường vốn có. Cái bản lĩnh này ở Tú Mỡ sẽ còn có dịp bộc lộ, khi gần như suốt thời kháng chiến chống Pháp ông nhận công tác ở một ty văn hóa địa phương và chuyên làm thơ đánh địch, lấy tên là Bút chiến đấu. Hình như với Tú Mỡ, đây là một việc làm tự nhiên, không phải phân vân toan tính gì nhiều. Đã đi kháng chiến là phải tìm cách đóng góp cho kháng chiến. Mà cách đóng góp tốt nhất, là dựa ngay vào sở trường vốn có của mình, tức là làm thơ trào phúng. Ông không có những băn khoăn nhận đường, hoặc khao khát lột xác như ở một số đồng nghiệp. Ông sớm bắt tay vào việc sáng tác đều đặn, lại theo đuổi công việc một cách hào hứng, nó khiến cho sự nghiệp của ông có thêm một mảng chắc chắn, rồi hợp với bộ phận sáng tác trước 1945, làm nên lý do để ông ở lại với lịch sử văn học.

Tiếng cười nhẹ nhàng       
Mặc dù cùng sử dụng tiếng cười làm công cụ tác động vào đời sống song giữa Hồ Xuân Hương, Tú Xương và Tú Mỡ vẫn có những chỗ khác nhau. Người kỳ nữ của đất Hà thành có tiếng cười của bậc đàn chị, đùa trêu, bỉ bác cái tẻ nhạt, cái vớ vẩn của cuộc đời và không thôi xót xa cho thân phận của mình. Trong khi ấy, tiếng cười của người thi sĩ thành Nam có cái hằn học của kẻ bất đắc chí, muốn tung phá cả xã hội thủa giao thời nhốn nháo, nham nhở. Về phần mình Tú Mỡ không tới được độ sâu sắc của hai bậc tiền bối. Trong khi chế giễu sự đời, tiếng cười của tác giả Dòng nước ngược thường không chát chúa cay độc, mà thiên về hóm hỉnh nhẹ nhàng. Trước Cách mạng, ông cười bọn quan lại tham và dốt, những "ông đồng, bà cốt" gieo rắc mê tín dị đoan cùng là kẻ dửng mỡ khoe của hoặc sống lố lăng khác đời. Trong kháng chiến chống Pháp, ông giễu bọn tướng tá thực dân cùng các hạng tay sai. Đại khái thấy gì bất hợp lý, thấy gì ngang ngược trái khoáy, là ông cười, cười một cách hồn nhiên mà không cài vào đấy một ít tâm sự riêng tư hoặc thâm trầm suy nghĩ để nâng câu chuyện lên tầm vóc một vấn đề có ý nghĩa xã hội thế này thế nọ. Sống giữa những nhà thơ người nào cũng đầy mơ mộng, cùng nhiều hoài bão lớn lao, Tú Mỡ có vẻ gì quá thiết thực. Nhưng cái tạng của ông là thế, chỉ cần chung quanh cùng cười là ông mát ruột, ngoài ra ông không muốn khác và không thể nào khác. Cũng nên lưu ý thêm là trong toàn bộ thơ Tú Mỡ có một bộ phận tuy ít nhưng đọc khá thú vị là thơ tự trào. Thủa trẻ ông cười mình bất tài lơ mơ, không được tích sự gì cho đời. Về già, ông cười mình còn ngây thơ khi đùa với các cháu. Trong cái việc lấy mình ra đùa bỡn, Tú Mỡ như muốn đặt mình lẫn giữa mọi người, biết mình cũng chưa hoàn thiện và sẵn sàng chấp nhận sự đời dang dở. Và như vậy, tiếng cười nhẹ nhàng càng có cớ để cất lên thường trực, lúc này nó đã biến thành lời tâm sự chuyện trò của ông với người thân, với đồng nghiệp, và nói chung với bạn đọc.

Con người thanh thản 
Sống trong một thế kỷ đầy biến động, song cuộc đời Tú Mỡ lại chỉ hiện ra với những đường nét đơn giản. Theo bạn bè và những người thân trong gia đình kể lại, thì cách sống của ông phải gọi là thanh bạch. Lúc nhỏ, đi học, lớn lên, đi làm nuôi gia đình. Là một công chức mẫn cán, ngay cả khi tham gia Tự Lực văn đoàn ông vẫn không rời cái "sở phi năng" (Sở tài chính) mà ông đã tòng sự liên tục từ 1918 đến 1945, tức là 27 năm trời. Đến khi được chuyển hẳn sang sáng tác, thì ông lại cặm cụi lo đọc lo viết. Mặc dù quen biết nhiều, nhưng theo Nguyễn Công Hoan, Tú Mỡ là người "thuốc lá không hút, chè tàu không nghiện, tổ tôm không biết đánh". Giữa đám người cầm bút đông đảo "đa ngôn đa sự", ông có vẻ như sống riêng ra, lấy sự siêng năng cần mẫn làm trọng, lấy cảnh gia đình yên ấm làm vui, không phiêu lưu không mơ tưởng hão huyền, tin rằng thiên đường chỉ có ở trên trần thế, được sống khỏe mạnh, lại có công việc ưa thích đã là tiên cảnh lắm rồi, còn như có gì khó chịu trước sự đời, thì đã có nụ cười hóa giải giúp!
Ông đến với cách sống ấy một cách tự nguyện. Ông thấy bằng lòng với nó, tự ông cho rằng đời ông chỉ nên tồn tại theo kiểu như thế. Có lần ông tả con mèo "Thờ nhà chủ cơm ăn chuột bắt - Tôi chẳng chui luồn khuất tất một ai"Một lần khác, ông nói kỹ hơn về mình, thông qua lời tự thuật của một cậu bé bán báo 
"Tôi thênh thênh như cá nước như chim trời
 Được vùng vẫy thảnh thơi là thỏa thích
 Tôi chẳng ngại cơm khi không no áo khi mặc rách
 Chỉ miễn sao cho đói sạch rách thơm
Sung sướng nhất là tôi giữ được thiện lương
 Khỏi nhơ bẩn vì bát cơm tấm áo
 Tôi chỉ là một trẻ con bán báo
 Khắp phố phường chân sáo nhảy tung tăng".

 Đằng sau tiếng cười nhẹ nhàng hóa ra có ẩn giấu một lẽ sống riêng. Lẽ sống này tuy đơn sơ, nhưng nhà thơ đã sống với nó một cách tự nhiên thuần thục, nhờ thế đời ông có được những khía cạnh lão thực mà chỉ những người từng trải mới có.


                           BIẾT CƯỜI TỨC LÀ BIẾT SỐNG

Trào phúng là một chuyện khó. Trong khi cười cợt người khác, người ta lại dễ bộc lộ chỗ tầm thường của mình, và đã đến nước ấy thì không gì cứu vãn nổi! Chỉ những tấm lòng hồn nhiên và cởi mở, hơn nữa, những đầu óc tỉnh táo, mới cười được một cách trong sáng và sâu sắc. Ít ra điều đó đã đúng với nhà thơ trào phúng thuộc loại sáng giá nhất của văn học hiện đại: Tú Mỡ.

Học để nhìn đời một cách lạc quan 
Có lần, qua một tờ báo, nhà thơ Vũ Đình Liên có gửi mấy dòng thơ tâm tình với Tú Mỡ. Tác giả Ông đồ bảo rằng đời mình "đầy rẫy những nỗi buồn không thi vị", nên muốn hỏi kinh nghiệm Tú Mỡ xem nên nghĩ sao để sống cho vui vẻ. Tác giả Dòng nước ngược liền trả lời bằng bài Lạc quan, trong đó ông kể rằng lúc trước ông cũng thường ủ rũ chán đời, và nhiều phen rên rỉ "trần ai là bể khổ". Nhưng, "thật phúc đức", ông đã mau tỉnh ngộ và thường tự nhủ hãy yên vui để làm việc và hưởng hạnh phúc ở đời; còn khi nào mệt quá, tìm nơi thanh vắng nghỉ ngơi cho đầu óc được thoải mái. Tóm lại, sở dĩ ông không buồn vì ông quyết trở thành một tín đồ của chủ nghĩa lạc quan. Dường như qua đây, Tú Mỡ muốn bộc bạch rằng nhìn đời với những khía cạnh vui vẻ của nó nhiều khi không cần bẩm sinh mà là điều người ta có thể học được; và khi nó đã thành nhu cầu nội tại, thành phương cách tự vệ của con người thì tự nhiên người ta gạt được hết mọi nỗi ưu phiền và tạo được niềm vui sống.
Theo dõi các bài thơ in trong Dòng nước ngược, thấy đối với cái định hướng tâm lý chính của đời mình, Tú Mỡ khá thành thật, thơ ông quả là tiếng cười cất lên từ sự quan sát đời sống, và càng đi theo cái hướng lạc quan như thế, ngòi bút ông càng tìm được sự hào hứng vốn rất cần cho sáng tạo. Một lần nào đó, trên chuyến tàu hỏa, Tú Mỡ chứng kiến một cảnh trái mắt: một bên là người vợ ngồi không, và luôn tay phấn son ngắm vuốt, còn một bên là anh chồng "tay cầm chai sữa, tay bồng con thơ", đến khi con ngủ lại ngân nga ru con. Thế là ông có bài Thằng... vú em. Lại một lần khác - theo lời các thành viên Tự Lực văn đoàn kể lại - mấy anh em đang cùng nhau đi chơi thì bắt gặp một cảnh lạ đời không dễ ai tưởng tượng nổi: Một viên quan ngồi trong ô tô, hai bên có bốn tên lính chạy theo vác lọng che ngoài mui xe. Trong lúc ai cũng thấy chướng nhưng chưa kịp nói gì, thì Tú Mỡ buột ra một câu khái quát: "Y đi lọng!" (chơi chữ từ tiếng Pháp idiot nghĩa là thằng ngốc), và trở về làm bài thơ Đi lọng. Cứ thế, ông viết về đủ cảnh nhố nhăng kỳ cục: những ông già làm bộ trẻ và những ông trẻ làm bộ già; những viên quan nịnh bợ dốt nát và những tờ báo chết yểu. Đặt bên cạnh những bài thơ của Tú Xương nhiều phen ngả sang cay cú hằn học, cái cười của Tú Mỡ như có gì lành hiền hơn, nhưng do đó, lại dễ chấp nhận hơn. Trên một số phương diện, Tú Mỡ gợi nhớ tới Nguyễn Khuyến, nhất là trong những bài tự trào hóm hỉnh và pha chút trữ tình.

Cốt cách dân tộc   
Ai đó từng nói: các dân tộc khóc giống nhau, song cười lại khác hẳn nhau. Một điều có thể chắc chắn hơn; xưa nay những cây bút gây cười ở ta, thường khi là những cây bút mang được căn cốt dân tộc đặc sắc. Hồ Xuân Hương, Tú Xương xưa đã thế, mà Tú Mỡ cũng thế. Không phải ngẫu nhiên, bên cạnh các bài thơ trào phúng đậm đà phong vị dân gian, Tú Mỡ còn là tác giả của những truyện thơ phỏng theo ngụ ngôn, cổ tích, và bản thân ông từng viết chèo, viết kịch dân ca.
Chính điều này cũng là nhân tố khiến cho Tú Mỡ sống chết với nghề cầm bút và có được vị trí nghề nghiệp vững chãi.
Nguyên hồi đó là khoảng những năm 1931-1932, sau những ngày du học ở Pháp về, Nhất Linh Nguyễn Tường Tam bắt gặp một nét chủ yếu trong không khí thời đại: cái phong thương sầu bi kiểu Tuyết hồng lệ sử và cả Tố Tâm nữa -  đã quá đủ; nay là lúc người ta đang khao khát một đời sống tinh thần thiết thực và khỏe mạnh. Và thế là ông bắt tay làm lại tờ Phong hóa mà một trong những mục đích là tạo ra được tiếng cười vui vẻ cho xã hội. Điều đáng lưu ý là trong công việc khá tâm huyết này, một người chủ trương Âu hóa như Nhất Linh nghĩ ngay đến người bạn cũ là Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu, và xem Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu là một thành viên chủ chốt trong cái văn đoàn của mình.  đây Nhất Linh có sự nhạy cảm tự nhiên: ông hiểu rằng trong đời sống, không thể thiếu tiếng cười; rằng có nhiều chuyện nghiêm túc, không thể có cách nói nào khác, ngoài cách thông qua tiếng cười. Mà để khiến cho đông đảo công chúng cùng cười, rất cần có những con người có được nét căn bản văn hóa dân tộc chắc chắn, bao gồm cả vốn liếng Hán học lẫn văn hóa dân gian. Chính Tú Mỡ đã đáp ứng được nhu cầu đó, ngòi bút của ông mang tới cho các trang báo Phong hóa, Ngày nay những tiếng cười hồn nhiên không gì thay thế nổi.

Một phương diện thường bị quên lãng

Một điều đáng tiếc với Tú Mỡ cũng như với đa số bạn đọc chúng ta, là từ sau khi in ra lần đầu cuốn Dòng nước ngược (toàn bộ ba tập) của ông ở cả Hà Nội cũng như Sài Gòn gần như không được in lại. Kế đó, trong những tài liệu nghiên cứu phê bình văn học xuất bản sau 1945 ở Hà Nội, Tú Mỡ thường chỉ được giới thiệu như một nhà thơ đả kích kẻ thù (hoặc về sau, thơ trữ tình hài hước viết cho thiếu nhi), còn cái phần cười vui, cười chế nhạo những lố lăng rởm đời lại ít được nói đến. Đã đành thơ "phản phong phản đế", thơ đả kích Việt gian bán nước là phần công lao to lớn của Tú Mỡ, và những phần thưởng cao quý ông được nhận sau những bài thơ này là rất xứng đáng. Song đã đến lúc nên nhìn nhận tài năng trào phúng của Tú Mỡ một cách toàn diện và khôi phục lại cả những bài thơ chế giễu sự đời của ông - trong số này, có một ít bài được tác giả viết với cả tâm hồn nghệ sĩ dung dị và dễ mến. Cũng như những tác phẩm hài hước chân chính, những bài thơ hay nhất của Tú Mỡ thầm bảo với chúng ta rằng hãy biết sống một cách lành mạnh, vừa chấp nhận, vừa vượt lên những ngang trái còn đầy rẫy chung quanh, và một trong những công cụ chủ yếu, để chống lại sự đông cứng của đời sống, chính là hài hước.


Hai bài trên đây đều đã in trong tập Cánh bướm và đóa hướng dương ( 1999)                

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Dự báo của tương lai. Đên năm 2050 loài nguòi sẽ diệt vong


Прогноз будущего. В 2050 году человечество погибнет

Прогноз будущего. В 2050 году человечество погибнет



Các chuyên gia từ Văn phòng Khí tượng thế giới đa dự báo khi hậu trong tương lai. Các chuyên gia đã chứng minh trục quan cho loài con người số phận của hành tinh này trong 35 năm. Ngay vào năm 2050, Trái đất sẽ biến thành một đại dương khổng lồ, hành tinh sẽ trở nên không thích hợp cho sinh sống của con người.

Các nhà khí tượng cho rằng họ đã đua ra một dự báo về tương lai, không nhàm làm cho loài nguòi lo sợ và chịu ngày tận thế không thể tránh khỏi, mà là để làm cho công chúng chu y về các vấn đề môi trường. Theo quan điểm của họ, nếu các nhà lãnh đạo các quốc gia trên thế giới tiếp tục nhìn bât động và hành xử với thiên nhiên với thai độ tiêu thụ, hành tinh của chúng ta sẽ rất sớm thoát khỏi  "virus" tên gọi là - con người.

Dự án "Dự báo tù tương lai" bây giờ đa được công khaicó thể tìm nó lên trên Internet. Trước đây, nó đã giới thiệu trên truyền hình Mỹgây ra sự cộng hưởng rộng lớn trong công chúng.

-----

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thì cứ làm như cây đa TT, vá bằng chất liệu khác, có sao đâu>

Hòn Thiên Nga bị mất đầu: Nối đầu hay vớt đều khó
Theo Giám đốc Trung tâm Bảo tồn vịnh Bái Tử Long, việc vớt đầu hòn Thiên Nga rất phức tạp vì khối lượng tảng đá nặng hàng trăm tấn.

Hòn Thiên Nga sau khị bị mất nửa phần thân trên - Ảnh: Fb Cấn Đình Loan
Hòn Thiên Nga trước khi xảy ra vụ việc - Ảnh: Fb Cấn Đình Loan

Vớt đầu lên cũng khó phục hồi

Xung quanh thông tin hòn Thiên Nga trên vịnh Bái Tử Long (TP Cẩm Phả, Quảng Ninh) bị rơi mất đầu, chiều ngày 18/7, chia sẻ với báo Đất Việt, ông Trần Văn Hiến, Giám đốc Trung tâm Bảo tồn vịnh Bái Tử Long cho biết: "Về cơ bản hòn Thiên Nga bị mất đầu là do mất trọng lực nên bị trượt lở.

Vì là đá vôi phân loại nên không được gắn kết chặt chẽ, khi đổ xuống thường bị vỡ vụn, không bảo giờ còn nguyên khối. Về khía cạnh tham mưu, chúng tôi đã báo cáo cơ quan chức năng còn phương án cụ thể thế nào thì chờ cơ quan chủ quản. Có thể phải mời cả chuyên gia vào phân tích".

Theo ông Hiến: "Việc vớt đầu Thiên Nga này lên cũng rất phức tạp vì khối đá nặng hàng trăm tấn, nếu vớt lên mà đắp lại bằng xi măng sẽ không còn được tự nhiên như lúc ban đầu. Tuy nhiên, về việc này sẽ có khảo sát cụ thể còn thời gian nào thì chưa thể nói trước được. Hiện đầu Thiên Nga bị rơi ở mức tương đối sâu, khoảng 7-8 mét."


Ai là chủ quản?

Cùng ngày, ông Hồ Quang Huy, Phó chủ tịch UBND thành phố Hạ Long cho biết: "Hòn Thiên Nga không nằm trong vùng di sản, do đó đối tượng quản lý không thuộc thành phố Hạ Long. Đây không nằm trong vùng lõi mà cũng không nằm trong vùng đệm. Còn việc sạt lở, không chỉ có hòn Thiên Nga mà 1 số hòn núi khác trong Vịnh cũng vậy.

Hòn Thiên Nga có kết cấu tự nhiên là phân lớp được xếp ngang, dọc, nghiêng. Trong quá trình tự nhiên, mưa gió rồi tác động của môi trường đều có thể dẫn đến sạt trượt. Đây là các lớp đá tự xếp lên nhau, nếu xếp ngang thì sẽ trụ lại, còn xếp nghiêng thì sẽ tự động trượt được."

Cũng theo ông Huy: "Đây là 1 diễn biến tự nhiên của địa chất, khối lượng đá rất lớn nên nếu đắp lên liệu có rơi nữa không. Khi mà kết cấu tự nhiên bám vào sẽ khác với việc mình đắp bê tông, mà nếu mang bê tông ra khu vực Vịnh còn sợ ảnh hưởng đến môi trường. Hơn nữa, vấn đề này nên gọi cho bên thành phố Cẩm Phả, vì đây là nằm ngoài vùng lõi".

Ông Vũ Hồng Sơn, Phó chủ tịch UBND thành phố Hạ Long cũng cho biết: "Hòn Thiên Nga ở vịnh Bái Tử Long thuộc sự quản lý của Cẩm Phả, Hạ Long không quản"

Trong khi đó, khi phóng viên liên hệ về việc này, ông Phạm Ngọc Vinh, Phó Chủ tịch UBND thành phố Cẩm Phả cho biết: "Tôi chưa nắm được thông tin này cũng như chưa nhận được báo cáo gì từ phía cơ sở. Việc này thuộc Cục đường sông đường biển Việt Nam, Cẩm Phả không quản lý khu vực đó, đây có thể thuộc ban quản lý Vịnh hay di tích hoặc do tỉnh Quảng Ninh quản lý".

Ông Bùi Xuân Hẹn, Trưởng Phòng Văn hoá - Thông tin TP Cẩm Phả cũng cho rằng: "Vịnh Bái Tử Long nằm trên vịnh Hạ Long, Cẩm Phả không có".

Như báo chí đã đưa tin ngày 15/7, trên trang facebook cá nhân của nghệ sĩ nhiếp ảnh Cấn Đình Loan chia sẻ hai bức ảnh trước và sau khi đỉnh của hòn Thiên Nga biến mất cùng sự tiếc nuối.

Hòn Thiên Nga nổi tiếng với hình thù giống như một con thiên nga đang bập bềnh trên sóng nước, gồm có ba vạt đá lớn: Hai khối đá ở trên tạo thành hình cái đầu và cổ con "Thiên Nga", khối đá lớn tạo thành thân "Thiên Nga", đuôi chính là đám cây xanh bám trên vách đá.

Thanh Giang

http://baodatviet.vn/chinh-tri-xa-hoi/tin-tuc-thoi-su/hon-thien-nga-bi-mat-dau-noi-dau-hay-vot-deu-kho-3314260/


Phần nhận xét hiển thị trên trang

hoài nghi và thám hiểu nghệ thuật


Duy Huynh, Suspension of Disbelief (Sự Lơ Lửng của Nỗi Hoài Nghi)
Hoài nghi là một khả năng sinh tồn. Đánh thức lòng say mê một chiều. Phản bác lại lý luận của tri thức. Bắt đầu cho một hành trình nhìn lại và tìm kiếm một phương hướng khác để đi.
Hoài nghi là bắt đầu định giá trở lại những gì đã được định giá. Định giá lại giá trị trong quá khứ và giá trị hiện tại của đối tượng bên ngoài. Hoài nghi còn quan trọng hơn khi tái định giá lại giá trị của chính mình.
Một nghệ sĩ khi đã hoài nghi về giá trị của nghệ thuật đang được tôn thờ thì không cách nào hơn là hủy bỏ những phức tạp của nghệ thuật đó, nắm lấy tính và chất tinh ròng và đơn thuần để trồng vào giá trị sáng tạo riêng trong lòng, tư hóa và đặc thù, để nẩy sinh một giá trị khác của nghệ thuật.
Cuộc tranh luận độc thoại này càng hung hãn, càng gay gắt, càng hơn thua chừng nào thì càng có kết quả hữu ích chừng đó. Trớ trêu là kết quả này lại dẫn đến những tranh luận khác và cứ như vậy cho đến khi người đó bỏ cuộc hoặc chết đi. Vì hoài nghi là yếu tính của nghệ thuật. Còn mục diện sau cùng của nghệ thuật là thẩm mỹ tuyệt đối thì chưa hề trông thấy.
Quá trình này có thể ví như tự nhảy vào vực sâu. Vực sâu đây chính là cõi nghệ thuật mà chưa ai biết rõ. Có thể là cái đẹp sau cùng, có thể là bí ẩn đời sống, có thể là Sẽ Không Bao Giờ Biết nhưng với bản tính thám hiểm, với trực giác sáng tạo, với một lòng can đảm xem thường thất bại, người nghệ sĩ này sẽ cảm và thức được, đáy vực sâu là nơi anh ta muốn tới.
Một tôn giáo nhân thì tìm kiếm bí mật của đời sau. Một triết gia thì tìm kiếm bí mật của cội nguồn và bến đổ. Một nghệ sĩ thì tìm kiếm bí mật của hay đẹp trong tâm hồn. Bất cứ là tìm cái gì, cứ tìm kiếm là có hoài nghi. Hoài nghi càng lớn thì tìm kiếm càng triệt để.
Nghệ thuật thì không cần đúng sai, không cần thiện ác, chỉ cần nỗi sung sướng trong tim. Nhưng khi hoài nghi về con đường dẫn đến sự sung sướng, khi hoài nghi chính bản chất của sự sung sướng, thì nghệ thuật phải chăng là nỗi khổ đau?
Năm xưa khi Trương Chi say đắm Mỵ Nương, chắc chắc anh ta sung sướng vô cùng. Tin tưởng vào tiếng sáo sẽ dẫn đưa đến tình yêu. Nghệ sĩ nào cũng có những giây phút ngây thơ và những niềm tin cực đoan trong vài giai đoạn hoặc cả đời người. Chắc bạn cũng cảm được anh Trương Chi đã mê mang biết bao là mộng mị. Rồi một hôm, thất vọng. Thưởng ngoạn từ chối anh. Buồn bã, khổ đau, nghi ngờ cây sáo "thần kỳ" kia. Nghi ngờ tiếng sáo mê hồn kia đã một thời cho anh được tình yêu của người đọc. Bẻ gãy cây sáo, rơi vào vực sâu để tìm đâu một tiếng sáo một con đò đưa anh về dung nhan kiều diễm. Anh Trương Chi khổ đau vì không được yêu là dĩ nhiên nhưng anh càng đau khổ hơn vì biết được chính dung nhan xấu xí của mình. Có thể thất vọng hơn nữa khi biết mình không có tài năng trở thành khanh tướng để sánh đôi với Mỵ Nương. Câu chuyện Trương Chi kết thúc bằng trái tim ngọc, mài thành ly ngọc để giọt nước mắt ngậm ngùi thương tiếc làm tan vỡ khối u tình của kẻ tình u. Anh Van Gogh cũng thảm thương bỏ đời để lại những bức tranh, đương thời không ai coi trọng. Vậy mà một hôm Sunflowers, hoa Mặt Trời thành ngọc. Giá bán bạc triệu. Ngàn ngàn giọt nước mắt ngậm ngùi. Giá như không nghi ngờ nghệ thuật hội họa thời đó, chắc gì anh Van Gogh đã chọn con đường vẽ khác để đi vào lịch sử. Nghệ thuật Trương Chi và nghệ thuật Van Gogh khác nhau chỗ nào vậy?
***
Hai ông triết gia hạng nặng khác ý nhau. Ông Immanuel Kant cho rằng, trước khi tiến hành một công việc cần phải có một nhận thức đối với các công cụ, phương pháp để thực hiện công việc. Nếu chặng đường công cụ và phương pháp không hoàn chỉnh thì kết quả công việc không thể tốt đẹp.
Ông Friedrich Hegel phản bác rằng, khi một người khảo sát nhận thức về công cụ hay phương pháp, tức là đang nhận thức về nhận thức, để tìm sự hoàn hảo thì giống như người trước khi học được cách bơi thì đừng xuống nước vì đắn đo nguy hiểm.
Cả hai đều đúng. Ráp vào việc làm nghệ thuật, bạn có thể thấy ngay, lời ông Kant ứng dụng cho một nghệ sĩ hoài nghi về tiến trình sáng tác. Chú trọng đến thành quả của tác phẩm. Trong khi lời của ông Hegel là hoài nghi về tính sáng tạo. Không thể nào đạt được nghệ thuật nếu không xông phá vào nghệ thuật. Dĩ nhiên, đây chỉ là một chi tiết nhỏ trong bức tranh suy tư to lớn của hai vị triết gia thế kỷ 18, 19.
Mượn cách lập luận này để dẫn chứng yếu tính hoài nghi quan trọng như thế nào trong nghệ thuật. Một nghệ sĩ không bao giờ hoài nghi về khả năng tri thức, tài năng áp dụng vào tác phẩm hoặc nghi ngờ chính giá trị của tác phẩm của mình, người nghệ sĩ này chưa trưởng thành trong nghệ thuật. Một nghệ sĩ chưa bao giờ nghi ngờ về tài hoa của mình trong sáng tạo nghệ thuật thì chưa thể là nghệ sĩ có bản lãnh để tác tạo những tác phẩm có giá trị cao.
Cái tạo ra giá trị nghệ thuật của mỗi nghệ sĩ và mỗi tác giả là mức độ của bản chất nghệ thuật và thực niệm về quang tính nghệ thuật. Muốn được giới tiêu thụ hâm mộ, một chiếc xe hơi thể thao (sport) phải đẹp từ hình dạng đến màu sắc. Phải hội đủ mức độ xe thể thao: tốc độ nhanh và trang bị công nghệ, kỹ thuật phải cao độ và yếu tính của xe thể thao phải an toàn vì không có người giàu nào muốn chết sớm. Còn một chiếc xe đò chở khách thì từ tứ, ý, bản chất sẽ khác với xe thể thao. Nhưng phải có cùng yếu tính là an toàn vì người thường, người nghèo, cũng không ai muốn chết. Vì vậy, bản chất nghệ thuật và quang tính nghệ thuật là xương sống để xây dựng một cơ thể tác phẩm. Cơ thể này hình dạng ra sao, mặc áo quần gì, thuộc về tứ.
Một tác phẩm được thưởng ngoạn từ hình dạng, tức là tứ. Cùng với tứ, thưởng ngoạn sẽ đạt được ý. Sau đó, thưởng ngoạn có trình độ sẽ thẩm thấu mức độ bản chất nghệ thuật và yếu tính nghệ thuật của tác phẩm qua phương pháp sáng tác. Toàn bộ trình bày được khả năng và giá trị sáng tạo của tác phẩm và ghi nhận tiến trình sáng tác của tác giả.
Rồi một hôm nào, người nghệ sĩ, như một thức giấc, cảm thấy những tác phẩm, những giá trị nghệ thuật đều rơi vào nghi hoặc. Ngay ở ngã ba dừng chân này, người nghệ sĩ có thể rẽ vào ngã đường an toàn. Lãng quên những hoài nghi. Nắm giữ những gì đã tạo nên trong quá khứ. Giữ lấy gia tài nghệ thuật đã hiểu, đã nghiệm, đã có. Giữ lấy tên tuổi và sự hài lòng. Hoặc rẽ vào con đường chán nản, bỏ cuộc chơi. Hoặc rẽ qua con đường Thám hiểu. Con đường của trưởng thành nghệ thuật. Con đường tự tiệm hành một bản lãnh
***
Thám Hiểu. Có công án Thiền kể rằng, một người té xuống triền núi sâu. Anh ta quơ quào rồi nắm được một rễ cây. Đeo lơ lửng, chưa có cách gì để leo lên. Đang loay hoay, anh ta nhìn thấy hai con chuột, một trắng một đen, đang gặm cái rễ cây ở đầu trên. Thế là xong. Chẳng bao lâu rễ cây sẽ đứt. Chợt anh nhìn sang một bên, thấy một bông hoa đang nở trên sườn đá. Hoa đẹp, hương thơm và anh tận hưởng …. Câu chuyện chấm dứt ở đây. Để lại nhiều tranh cãi.
Trong lãnh vực nghệ thuật, có thể nói, anh này là người nghệ sĩ, vô ý rơi xuống vực sâu. Bám lấy một giá trị nghệ thuật nào đó để lửng lơ. Rồi cái giá trị tạm này cũng không thể là cứu cánh. Đành ngắm nhìn ngang dọc, tìm thấy một "đóa hoa". Đẹp thơm mà không nắm được, không cứu được, chỉ bày tỏ sự thánh thoát, thoải mái, đắc đạo trước phút lâm chung. Hậu nghiệm không ai biết.
Hình ảnh người nghệ sĩ đong đưa này có thể nhìn thấy khắp nơi. Thật ra, đã chắc gì có đóa hoa đang nở. Hoặc vì tự tôn hoặc vì hoang tưởng mà đóa hoa đã mọc ra. Câu hỏi còn lại là khi nào anh này sẽ rớt? Số phận sẽ ra sao? Sống hay chết? Hoặc bị thương? tật nguyền suốt kiếp?…. Mỗi người nghệ sĩ sẽ ra sao khi cứ mãi đong đưa chờ đợi? Hầu như mỗi người nghệ sĩ đong đưa đều có ý nghĩ giống nhau, tin tưởng giống nhau, nói giống nhau: Vui thôi. Rồi đời sẽ chóng qua.
Đóa hoa này nở ra đúng lúc, rất đẹp và héo dần trong quan tài đậy nắp. Ý nghĩa và cảm giác, cũng như "lòng" tri thiên mạng đều đúng. Không có nghệ thuật sau cái chết. Nghệ thuật chỉ hiện hữu trong cõi sống. Nhưng có điều gì đó không mãn nguyện cho người không phải vô ý rớt xuống vực sâu mà cố tình "thám hiểu" tụt xuống triền dốc núi.
Nếu mời trời đất đứng sang một bên, thì không có Tiên thiên nghiệm và Hậu thiên nghiệm. Chỉ có Tiên nghiệm và Hậu nghiệm. Phần tiên nghiệm đã có cho đến lúc "đắc phước" đóa hoa. Còn phần hậu nghiệm ra sao?
Những nghệ sĩ thuộc thành phần thám hiểu sẽ dấn thân vào những nơi không được chấp nhận. Những giá trị nghệ thuật được công nhận, được ủng hộ, được ngợi ca, sẽ không thấy ở những nơi này.
Họ bắt đầu bằng những cơn say mê khi "tuổi nghệ thuật" còn vị thành niên. Thời điểm này, nghệ sĩ hít thở dưới bóng những thần tượng. Sản phẩm nghệ thuật của họ là những "chép lại" với những giá trị đẹp hay của mỗi cá tính. Và họ thường cho rằng họ đã có một vị trí riêng, một nghệ thuật riêng nhưng thật ra: Đẹp và Hay của mỗi cá tính chỉ mới là bản chất của nghệ thuật. Họ có thể ngưng lại ở đây. Đa số ngưng lại ở đây, thoải mái với nghệ thuật qua ngày….
Nếu chỉ cần có đẹp và hay là hội đủ điều kiện cho một tác phẩm giá trị, thì đòi hỏi này đúng nhưng thiếu. Với kỹ thuật tiến bộ nhanh chóng, với những trường dạy nghệ thuật khắp nơi, với cái đẹp điều hay được phát tán toàn cầu, thì cái đẹp đồng dạng và cái hay sáng chế cũng dễ sáng tác thôi. Khó mà phân biệt cái đẹp cái hay biến báo đồng dạng hoặc dị dạng với cái đẹp cái hay nào nguyên gốc (original). Nhất là khả năng bắt chước và chép lại ngày nay rất tinh vi và được đám đông công nhận. Vì vậy cho dù đạt dược bản chất đẹp và hay của nghệ thuật, vẫn cần phải đạt được một yếu tố khác, đó là sáng tạo. Sáng tạo của tứ. Sáng tạo của thủ công, kỹ thuật. Sáng tạo không phải chỉ là phương pháp mà là "kết quả" hữu hình hoặc vô hình sẽ được nhận ra trên tác phẩm.
Nếu tiếp tục hành trình tri thức và cảm nghiệm, "tuổi nghệ thuật" sẽ trưởng thành. Họ chuyên chú về cá tính và phương pháp sáng tạo. Giá trị Đẹp và Hay chuyển hướng. Khác như thế nào là tùy vào năng lượng và sức cá biệt của cá tính. Lòng kiêu hãnh cá nhân dần dần nhỏ xuống và lòng kiêu hãnh nghệ thuật dần dần gia tăng. Phải có lòng kiêu hãnh nghệ thuật thì nghệ sĩ mới đứng vững giữa cơn ba đào của chính trị, kinh tế, xã hội, công danh và kể cả tình yêu, một trong nguồn cơn lớn nhất của nghệ thuật. Lòng kiêu hãnh cá nhân thường làm cho nghệ sĩ lố bịch, ngụy biện không cần thiết và đi xa dần nghệ thuật.
Sự trưởng thành nghệ thuật làm cho nghệ sĩ càng ngày càng cá tính hơn, càng sâu sắc hơn, càng thâm trầm hơn. Càng biết rõ, nghệ thuật không phải là lối thoát của đạo mà là một cách sống. Quan trọng nhất là những bước tiến dần sâu vào quang tính của nghệ thuật.
Cái gì là quang tính? Quang là sáng sủa. Tính là đặc trung của…. Tính là do thói quen của tình trải dài và va chạm với sự tương quan chung quanh mà có. Tính khởi đầu là do di truyền nhưng biến chuyển theo thời thế. Tính nghệ thuật cũng vậy. Quang tính của nghệ thuật là một sự mâu thuẫn tự nội. Sự sáng và tối, sự dễ hiểu và khó hiểu, sự dễ thông đạt và sự bế tắt của cảm nhận….tương tranh không phe nào nắm được chủ quyền toàn thể và lâu dài. Vì sự bất định, yếu tính của nghệ thuật là hoài nghi.
Người nghệ sĩ trưởng thành luôn luôn hoài nghi về tác phẩm của mình, hoài nghi về trình độ tri thức của mình, hoài nghi về cảm nghiệm của mình, hoài nghi về giá trị nghệ thuật đương đại, hoài nghi về lý thuyết, thực nghiệm của nghệ thuật đang phá triển, dĩ nhiên là đã cúi chào rồi từ giả những trường phái, phong trào, nghệ thuật hôm qua.
Hoài nghi trở thành một thứ thước đo để họ định giá nghệ thuật. Càng già dặn trong nghệ thuật, hoài nghi càng đào sâu, càng thường xuyên đánh thức những say mê của lòng nhạy cảm. Vào trạng dung này, nghệ sĩ đã là người của nghệ thuật. Chỗ đứng của họ đã có, không phải do thưởng ngoạn hay phê bình công nhận mà do chính sự thật thà bên trong của tự ngã. Sự công nhận của bên ngoài là vế "ắt có" nhưng cần phải có vế "và đủ" mới hoàn tất. Cái Và Đủ này hay bị mờ mịt hoặc bị cất dấu vì nhu cầu "danh vọng". Hoặc vì nghệ sĩ không "chín" khả năng thành thật. Hoặc vì có tri thức mà thiếu cảm thức.
Chính sức liên tục hoài nghi này là động cơ tìm tòi giá trị và những giá trị tìm thấy này tạo ra những tác phẩm giá trị của nghệ sĩ. Đó là vì sao tiến trình nghệ thuật của nghệ sĩ trưởng thành luôn luôn thay đổi. Họ tiếp tục đưa ra những tác phẩm khác giá trị với những tác phẩm của chính họ đã được công nhận.
Nhưng sự hoài nghi này càng ngày càng gặm nhấm trong cảm thức và liên miên trăn trở trong tâm hồn dồn ép nghệ sĩ phải tác động như những câu trả lời. Cố gắng trả lời những câu hỏi của hoài nghi chính là sáng tạo. Người nghệ sĩ bị ép buộc bởi chính họ để sáng tác vì nhu cầu đam mê giải đáp sự hoài nghi. Người nghệ sĩ đã thật sự là nghệ sĩ. Kẻ đã nắm được rễ cây. Đong đưa, xem thường thành bại, sống chết. Chỉ tiếp tục dâng đời những đóa hoa dù biết hoa sẽ héo tàn. Chẳng có hoa nào bất tử. Chẳng có tác phẩm nào bất tử. Khi đa số con người chưa vượt qua được tác phẩm, tác phẩm đó bất tử. Đã có nhiều tác phẩm được công nhận là bất tử nhưng về sau, cảm thức nhân loại đã chôn vùi.
Điều lớn lao của công án Thiền kể trên, thỏa đáng được nhiều khía cạnh của đời người. Đánh thức lòng sân si của đại đa số. Đã là người, là té xuống vực sâu. Sống là đeo lủng lẳng bởi cái rễ. Cái rễ duy nhất để bám víu lại bị cái "nhị nguyên", hai con chuột, đưa dần vào cõi chết. Sao không chịu ung dung, tự tại, đắc phước bởi những cái đẹp chung quanh?
Điều lớn lao của công án này lại đưa đến những câu hỏi khiến cho nghệ sĩ tư duy vào nghệ thuật một cách quyết liệt hơn:
1. Trước sau gì cũng rớt, sao không thả tay?
Đa số nghệ sĩ trưởng thành và thành danh sẽ không muốn trả lời câu hỏi này. Thả tay rớt xuống vì lòng "hiếu kỳ" muốn biết phần hậu nghiệm là một hành động điên cuồng. Sẽ mất hết những gì đang có và nếu hậu nghiệm không có gì, thì sao đây? Rớt xuống tan xương trong khi có thể sống đong đưa là một hành vi khó thuyết phục.
Đối với những nghệ sĩ thám hiểu thì hành vi này là một sáng tạo. Sáng tạo một tác phẩm không phải lúc nào cũng thành công, thành công với chính mình và thành công với thưởng ngoạn. Điều lầm lẫn của sáng tác và thưởng ngoạn là lòng mong muốn và tin tưởng sự thành công liên tục của tác phẩm. Nếu có thể thành công một số tác phẩm trong một chuỗi tác phẩm, người này đã là đại gia trong nghệ thuật.
Đừng lầm tưởng sáng tạo là luôn luôn làm ra cái mới. Nếu làm ra D, trước đó phải có C. Trước C là B. Trước B là A. Rốt ráo, bắt đầu là cái gì không ai thật sự biết. Hãy để chuyện đó cho giáo sĩ và triết gia. Nói lại chuyện hôm nay, đang có N, tức là đã phải có M, L … vô số phía trước. Tiến trình sáng tác không thể vượt qua bản lý tiên nghiệm hậu nghiệm, thuộc về nhị nguyên. Nếu cho rằng cái của người khác đã dùng thì ta không dùng lại, là một ý nghĩ từ người chưa bản lãnh. Tất cả mọi thứ, mọi cái, đều có thể dùng, chỉ là dùng khác đi. Giá trị của nghệ sĩ không nằm ở chỗ đồ dùng mà là cách dùng. Đó cũng là lý do tại sao cùng son phấn mà có người đẹp hơn, hấp dẫn hơn, còn có người lại tệ hơn.
Trở lại chuyện thả tay, khi đã rớt xuống sẽ mở ra nhiều ẩn số của hậu nghiệm.
* Tệ nhất: Rớt xuống tận đáy. Không có gì. Mất hết. Chỉ còn lại những gì đã có. Đa số những cái đã có không được chính nghệ sĩ hài lòng dù được thưởng ngoạn yêu mến.
* Rơi xuống và nắm lấy một vật khác, lại treo lửng lơ. Lại phải tiếp tục hành vi sáng tạo. Thám hiểu một điều gì không rõ. Lao mình theo hành trình vô định với sự hoài nghi về hành động của chính mình.
* Rơi xuống một nơi, sống sót và tìm thấy sự thỏa mãn cho nghệ thuật riêng tư. Thỏa mãn này có thể cao cùng nhưng không chắc miên viễn. Vì không có ai cùng nhảy xuống vực, vì không có ai cùng thả tay, cho nên nơi mà người nghệ sĩ thoát hiểm tìm đến, sẽ là nơi cô đơn, khó hiểu và chắc chắn là khó tin.
2. Câu hỏi thứ hai là tâm tình nào đã khiến cho nghệ sĩ do dự hoặc không dám thả tay?
Chỉ chờ cho "nhị nguyên" cắn đứt rễ cây là rơi theo số mệnh, cho dù số mệnh này không chắc do ai khác tạo ra. Chẳng phải hoài nghi số mệnh là đụng đầu triết lý. Hoài nghi triết lý là đụng đầu nghệ thuật. Không hoài nghi nghệ thuật đến tận cùng thì không dám thả tay.
Ai cũng có thể suy lý một cách bình tĩnh, đã là người thì nhất định sẽ bị mất mát. Cái có trước sau gì cũng là không. Cái mất lớn nhất bắt đầu bằng cái chết. Dù có an ủi nhau bằng đời sau, bằng đầu thai, bằng hứa hẹn, người ta vẫn sợ chết. Đa số vẫn thích ở lại. Cho dù là bể khổ, miễn biết bơi là sẽ bơi. Tìm được chỗ cạn, sẽ đứng. Có mấy ai thích chết? Cùng phương trình suy lý này, tại sao phải thả tay? Có ít còn hơn không? Huống chi nghệ thuật không phải là bể khổ. Chỉ là hồ bơi. Không thích bơi thì leo lên. Cảm thấy lạnh thì đi về. Đám đông ăn hiếp, kỳ thị, phê phán, chê bai thì ta dại ta tìm nơi vắng vẻ. Vì vậy, nghệ sĩ cần lòng kiêu hãnh nghệ thuật, vì nghệ thuật mà bơi cho đến cùng dù bị ngăn cản, bị khinh chê hoặc bị xua đuổi.
Trong phương trình trên, chủ yếu là nỗi sợ. Sợ là bản tính của người. Bắt đầu từ đời thủy tổ, khi họ phải chiến đấu với rắn độc và thú dữ, bản năng sinh tồn tạo ra tình sợ. Hết chiến đấu với thú, lại chiến đấu với người. Qua chiến tranh, lừa lọc, gian kế, phản trắc…..Sợ thành yếu tính lớn nhất trong tâm lý con người. cảm nghiệm được sự mất mát trong đời sống và của cái chết khiến cho người càng nhập tâm nỗi sợ, sợ tự nhiên, sợ tự động, sợ âm thầm, sợ ra mặt, sợ luôn cả cái sợ.
Con người biết được nỗi sợ là then chốt ngăn cản con người mau trở thành người nên gọi sợ là hèn. Đốt ngắn giai đoạn, không muốn bị hèn, người ta che dấu nỗi sợ và đắp lên nó nhiều ý tưởng, hành vi, thói quen, tục lệ, lễ nghĩa, giáo dục…..Những thứ này đôi lúc còn kinh hoàng hơn là nỗi sợ. Không có sự thật nào mà không có sợ hãi đi kèm một bên. Một trong những lý do mà sự thật bị che mờ, che đậy là vì sợ.
Với nỗi sợ nan y này khiến cho phần lớn các nghệ sĩ trưởng thành đeo đuổi sự an toàn sáng tác, bảo vệ nghệ thuật hiện hành và nghệ thuật quá khứ, từ chối những thứ nghệ thuật không được bảo hiểm bởi phê bình và thưởng ngoạn. Những nghệ sĩ quá sợ thường đặc trưng bằng bảo thủ, lẫn lộn giữa đạo đức và nghệ thuật. Tự mình tuân theo những gò bó do mình đặt ra, nhất là, muốn bắt nghệ sĩ khác phải theo mình.
Một người bạn nghệ sĩ đã nói chắc như thế này, đã được nổi tiếng thì nên chọn những điều làm cho nổi tiếng hơn còn những điều làm cho chìm tiếng thì chắc chắc anh sẽ không làm.
Điều này lại đưa đến một tư duy khác, đó là Chìm Tiếng. Chữ Nổi và chữ Chìm là hai chữ xác định vị trí giá trị của chữ Tiếng. Nổi là tốt, Chìm là không tốt. Nổi là hay là đạt ước muốn. Chìm là thất bại là mất giá trị. Có thật như vậy không?
Ông Thích Ca là hoàng tử. Ông giàu sang, sung sướng, nổi tiếng. Tự mình bỏ hết. Chìm tiếng. Hậu nghiệm là nổi tiếng nhất nhì trong vạn đại nhân gian. Ông Giê Su nổi tiếng từ lúc trẻ. Môn đệ theo người. Đám đông theo nghe giảng dạy lên đến ngàn ngàn. Ông từ bỏ. Chịu chết trên thánh giá một cách nhục hình. Hậu nghiệm, nổi tiếng từ đất lên đến trời. Còn hàng vạn ông bà khác chịu chìm và về sau nổi tận mây xanh. Vậy thì phải xem xét việc chìm. Chìm luôn hay lặn xuống rồi nổi lên. Con rồng trước khi bay phải uốn khúc. Con cọp trước khi nhảy cao phải đập đuôi. Con rắn trước khi phóng tới phải co thân lại.
Đối với một số nghệ sĩ, sự việc chìm này chính là sự thám hiểu. Thám hiểu trong ý nghĩa bình thường là dò xét để tăng hiểu biết. Thám hiểm để giải tỏa hoài nghi, thỏa mãn những thao thức. Nghệ thuật vốn dĩ không có biên giới, biến hóa theo tâm tình, trí tuệ, văn minh, phát minh , kỹ thuật của mỗi thế hệ con người. Nếu không có thám hiểu thì làm sao nghệ sĩ có thể theo kịp sức biến hóa của nghệ thuật?
Thật ra, đa số đều có thể đồng ý về quan niệm nghệ sĩ tiền phong nhưng không mấy ai muốn thả tay. Hơn nữa, việc thám hiểu không thuộc về tiền phong mà thuộc về tính nghệ thuật. Nghệ thuật hôm nay phát triển từ nghệ thuật hôm qua là tiến trình xây dựng nghệ thuật. Nghệ thuật hôm nay khác biệt hoặc đối kháng với nghệ thuật hôm qua là bản năng sinh tồn của nghệ thuật.
Thám hiểu trong một cách nhìn thấu triệt khác là chống đối lại nỗi sợ kinh niên. Cõi nghệ thuật thì bao la và không rõ chiều dài của thời gian. Nghệ thuật của mỗi nghệ sĩ thì có giới hạn của thời gian, không gian, xã hội, đời sống, người quen, người lạ, tâm lý của cá nhân và….. Những giới hạn này chính là những báo động làm cho sợ hãi gia tăng sức quản lý những suy tư và hành động của nghệ sĩ. Có thể nói như thế này, đã là người tất nhiên sẽ bị áp lực của nỗi sợ. Sợ càng ít thì nghệ thuật riêng tư càng có cơ hội phát triển. Những nghệ sĩ lớn là những người vượt qua những nỗi sợ hãi có khả năng vây hãm nghệ thuật cá nhân. Lợi hại nhất của thám hiểu là biết dùng năng lực của sợ hãi mà sáng tác. Một ví dụ nhỏ như thơ Hồ Xuân Hương. Vì sợ người đương thời, xã hội bằm văm phụ nữ, nên thơ hành lạc của bà mới thành việc đánh đu, đánh cờ tướng…Chuyển sang cái quạt, cái giếng…dễ gì ngày nay mấy ai hơn.
Một nghệ sĩ thật là một người luôn luôn phải đối phó với sự lo ngại, lòng sợ sệt đối với chung quanh và đối với bản ngã. Ưu điểm của nỗi sợ là cái thắng để kiểm tra sáng tác và tác phẩm nhưng khuyết điểm của sợ thì quá lớn. Sức tàn hại của sợ sẽ làm thui chột khả năng sáng tạo và làm sáng tác giả hình. Tệ hại nhất là giam cầm chung thân hoặc giết chết tâm niệm nghệ thuật của tác giả.
3Câu hỏi sau cùng của nghệ sĩ đối với công án Thiền rơi xuống vực sâu là ý tứ của đóa hoa. Hoa là ẩn dụ cho cứu cánh của người sắp rơi? Hay hoa là ẩn dụ của phương tiện như con đò đưa người qua bờ bến? Hay hoa chính là mục phiêu của sự sống?
Tất cả những thao thức trên đều liên hệ trực tiếp đến nghệ thuật. Đây cũng là lý do tại sao nghệ thuật sẽ mãi mãi sinh tồn với con người. Sống là một tiến trình nghệ thuật cần thiết. Nghệ thuật là một cách sống đẹp.
Công án thiền này ra đời để đánh thức con người đang sống trong một bi kịch. Dù biết hay không biết, họ đã bị rơi xuống vực sâu,vực khổ nạn. Họ bám lấy chút rễ sống mong manh. Mỗi ngày, thiện ác, đúng sai, phúc họa, trắng đen, ông bà, già trẻ,………triệu triệu mâu thuẫn nhị nguyên gặm nhấm chút rễ đó và sớm hay muộn gì, rễ sẽ đứt. Không biết lúc nào sẽ đứt. Con người kinh hoàng với cái rễ sẽ đứt. Con người kêu gào, vùng vẫy để thoát thân ra khỏi hiểm họa trùng trùng. Có thể làm được gì?
Thay vì kinh hoảng vẫy vùng, thiền án dẫn ngộ về ung dung, tự tại mỗi bây giờ, thưởng nhập cái đẹp quanh đời sống.
Cùng một hoàn cảnh, người nghệ sĩ cũng tự hỏi như vậy. Câu trả lời ghi lại trong tác phẩm. Mỗi tác phẩm là một phần của câu trả lời. Câu trả lời này không có phần cuối cùng chỉ có kết luận bằng cái chết của nghệ sĩ. Câu trả lời này không hẳn có nội dung như thiền án. Mỗi nghệ sĩ thật có một cách, một nghĩa trả lời khác nhau. Giá trị nghệ thuật của mỗi nghệ sĩ là ở đây.
Và đóa hoa kia chính là nghệ thuật sống. Giữa khoái lạc của mẹ cha và cái chết của mỗi người là khúc sống trong bi kịch thiền án. Thưởng thức đóa hoa nghệ thuật kia là một cách sống, một cách giải quyết của sinh mệnh lửng lơ. Nó là cứu cánh của kinh hoàng, sợ hãi. Là phương tiện qua khúc phù du. Là mục phiêu của hòa đàm số mệnh.
Trong khung phận của những câu trả lời này, thám hiểu là hành vi của những người tìm hưởng những đóa hoa khác nhau trên triền dốc vực sâu. Thả tay, rơi xuống, nắm bắt, thưởng hoa, kể lại là số mệnh, là điều ao ước của người nghệ sĩ thám hiểu.
Ngu Yên 

Phần nhận xét hiển thị trên trang