Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Ba, 31 tháng 5, 2016

Tô Hoài, người mang lại một cách hiểu hiện đại cho thể hồi ký

Những năm 1975 về trước, Tô Hoài thường bị  một số nhà văn cùng lứa tiền chiến  gọi là gã dân ngoại ô tinh quái và  văn chương ông thì  được mô tả như là một thứ văn chương  thợ thủ công đẽo gọt. Điều đó không phải là không đúng với những trang sách tác giả Dế mèn viết để kiếm sống. Nhưng với thể hồi ký thì có khác. Trong thể tài này ông đã đạt tới một quan niệm hiện đại mà người ta thấy ở các bậc thầy văn chương phương Tây thế kỷ XX.


Cuộc tự phát hiện đều đều
   Cuốn hồi ký đầu tiên của Tô Hoài mang tên Cỏ dại (1944) ra đời năm ông mới ngoài hai mươi tuổi. Tự truyện (1973) cuốn tiếp theo in ra khi ông ở tuổi năm mươi.
Nếu cuốn thứ nhất đã phát hiện ra khả năng của tác giả trong việc nắm bắt quá khứ ngay khi nó vừa hình thành cũng như khách quan hoá bản thân, biến mình thành một đối tượng miêu tả thì cuốn thứ hai cho thấy ông sống kỹ lưỡng biết bao với đời sống quanh mình từ chuyện riêng tư đến chuyện làm nghề rồi chuyện hoạt động cách mạng  --  cái gì cũng có thể đưa lên trang giấy để trở thành văn chương,  sức chứa của đầu óc ông thật hơn người mà sự chi li tỉ mỉ thì lại ít ai bì kịp. Nên lưu ý thêm Tự truyện  --- với mấy mảng chính Một chặng đường, Hải  Phòng, Những người thợ cửi --  được viết ngay trong những năm chiến tranh khi mọi người đang viết những Mặt trận trên caoHọ đã sống và chiến đấuĐường chúng ta đi, Dấu chân người lính... Trong cái động có cái tĩnh, dường như trong kho văn chương của tác giả  luôn có một góc riêng dành cho cái mà người xưa hay gọi là dĩ vãng và nó được ông quan niệm như một bộ phận không thể thiếu của hiện tại.
   Tuy nhiên phải đến khi Cát bụi chân ai (1991) và tiếp đó Chiều chiều (1999 ) ra đời  thì ngòi bút hồi ký của Tô Hoài mới thật có dịp tận thu những chuyện đã sống qua để rồi dựng lên một bức tranh văn nghệ độc đáo.
     Còn nhớ hồi đó là cuối những năm tám mươi. Mọi người dường như đang phải mò mẫm tự xác định hướng đi của mình  trong việc thích ứng với cái thời gọi là kinh tế thị trường. Tô Hoài cũng ở trong số đó. Mà -- mọi người tự hỏi --hình như ông lại là một trong những người đã ăn lộc quá nhiều của  cái thời bao cấp ấy nữa, ở tuổi bảy mươi, liệu ông sẽ xoay sở ra sao hay sẽ chìm vào quá khứ. Lẳng lặng, Cát bụi chân ai được viết để rồi gây ra nhiều ồn ào khi được trích đăng trên báo Tiền phong và in thành sách. Trong lòng bạn đọc và nhất là trong lòng đồng nghiệp Tô Hoài như vừa tái sinh để trở lại với cái con người thực chất  mà ông vẫn giấu kín. Điều thú vị là ở chỗ cuốn sách để Tô Hoài tự phát hiện lại này bề ngoài  là một cuốn sách quay đầu về với cái cũ. Cái đời sống sắp tới chẳng có gì  là lạ với tôi. Tôi đã có cái nhìn khác từ  lâu rồi. Thời nào thì tôi vẫn cứ là tôi vậy. Có một quá khứ  chưa ai biết của tôi bảo đảm cho điều đó...  Tô Hoài không nói hẳn ra song người ta đọc ra trong trang viết của ông những ý tưởng ấy. Cuốn sách kể lại chuyện cũ hoá ra lại là một lời  tuyên bố về sự gia nhập của tác giả vào tương lai và như vậy thì mọi sự phân biệt hồi ký với cuộc đời hôm nay chỉ là một sự ước lệ.

 Sự nối tiếp của một mạch sáng tác dồi dào
    Đóng góp của Tô Hoài trong văn xuôi Việt Nam hiện đại  gồm hai mảng, một bên là O chuột, Quê người, Dế mèn phiêu lưu ký, bên kia là Vợ chồng A Phủ, Miền Tây, Mười năm, Quê nhà...Dù khác nhau  không chỉ về cách khai thác đề tài mà cả chất lượng, song hai mảng vẫn có một sự thống nhất. Nhà văn này không lôi cuốn chúng ta ở những mảng sống bạo liệt hay những nhân vật tầm vóc thổi bùng lên những biến động lớn lao. Mà ông ăn ở những nhận xét tự nhiên về những gì đã gặp đã trải,  và trong nhiều trường hợp, là cái vẻ tầm thường nhếch nhác trong con người và hoàn cảnh: cuộc sống một làng nghèo, đời sống riêng của những người ngoại thành có khôn có dại có vui có buồn, hoặc những người dân vùng cao chỉ vừa ra khỏi bóng tối âm u của cái  xã hội do các loại thống lý phìa tạo cai quản.
    Hồi ký của Tô Hoài cũng đi theo cái mạch đó. Ở đây ngòi bút phong tục của tác giả lại có dịp làm việctưởng như âm thầm nhưng thật ra khá đáo để. Không cần ra vẻ bao quát với tổng hợp gì cả, ông chỉ nhẩn nha ghi lại nhiều chuyện tưởng như riêng tư, ấy vậy mà người ở mãi đâu đâu đọc vào lại thấy có mình trong đó. Đọc lại Cỏ dại rồi lan man đọc sang cả những truyện ngắn truyện dài Tô Hoài viết cùng thời người ta thấy giữa chúng không có sự phân cách. Dường như tất cả những anh Thoại anh Quyền Vực thày giáo Câu rồi cô Lụa cô Ngây.. kia  là những hàng xóm của Tô Hoài, những con gà con ngan được tả trong O chuột là được nuôi trong nhà Tô Hoài, nghĩa là nếu không đưa chúng vào truyện dài truyện ngắn thì không biết chừng có lúc ông sẽ đưa chúng vào hồi ký. Một bộ phim truyền hình làm về Tô Hoài gần đây rất gợi ấn tượng trong cảnh Tô Hoài đi dọc bức tường ngôi nhà của ông ngoại tác giả. Cũ kỹ xù xì nhưng đằm chắc vững chãi, những bức tường như thế tượng trưng cho cái cuộc sống mà Tô Hoài vừa nương tựa vào vừa tìm cách thâm nhập để tìm thấy cảm hứng trong suốt đời viết.    
    Trong phần đầu Một chặng đường, Tô Hoài có đoạn  tả kỹ cái cảnh mình lẽo đẽo đi dọc các chùa, từ Trầm  vào Trăm Gian vừa kiếm ăn vừa lấy thực tế để viết. Tôi nhớ ngay khi hồi ký mới in ra trên tạp chí Tác phẩm mới cuối năm 1971, đã có người ( không nhớ là Nguyễn Thành Long hay Nguyễn Khải ) nhận xét đó là những đoạn rất hay, có điều  nó có vẻ không ăn nhập với  cả mạch văn và chưa chắc đã là cần cho cuốn hồi ký của một nhà văn nổi tiếng. Nhưng chính đọc Tô Hoài người ta lại không bao giờ quên nổi những mảng đời bơ vơ ấy. Trong Chiều chiều có đoạn tác giả kể lại một ông già với con chó tự bản thân nó đã hoàn chỉnh như một truyện ngắn. Những chi tiết đời thường ở đây là kết quả của một quá trình sống chăm chỉ biết điều không nống việc gì lên quá mức bình thường, nhưng không bỏ qua những chi tiết có sức gợi sức liên tưởng. Bí quyết của việc viết văn là gì nếu không phải là biến những chuyện vốn chỉ thuộc về riêng tác giả thành chuyện của những bạn đọc khác nhau.    
    Tóm lại đặc điểm thứ nhất của hồi ký Tô Hoài là sống đến đâu viết đến đấy. Thực tế không ở đâu xa, thực tế là ngay chính con người bản thân mình và chung quanh; băn khoăn mà làm gì, cứ ghi cứ tả cho kỹ là được. Từ 1961, Tô Hoài đã cho biết :
 ---  Một thời gian dài cho tới sau Cách mạng tháng Tám tôi vẫn theo đuổi một lý luận viển vông như thế này: Đời có gì gò vào truyện đâu, người có ai cốt sống cho li kỳ đâu, vậy thì viết truyện chẳng cần có truyện, tả người càng nhạt càng hay. Tất cả chỉ dựa vào kỹ xảo dùng chữ (Một số kinh nghiệm viết văn của tôi ).
   Tác giả tự nhận đó là thứ lý luận viển vông song không phải là trong đó không có một phần cái lý riêng : những cái tưởng như nhạt nhẽo mà tả ra được cũng là khó và biết đâu ở cái chỗ không ai dám đi vào này,  người có tài lại dựng nên cả một văn nghiệp.

Giới văn chương nhìn từ bên trong
      Nếu như ngoài đời đã không ai tách rời được con người nhà văn với con người bình thường thì trong hồi ký càng là như vậy. Sự hình thành một đời văn bắt đầu sớm hơn rất nhiều so với thời điểm con người cầm bút cho in những trang viết đầu tiên và có lẽ chính các nhà văn đã thấy rõ điều đó. Vì thế mà nhiều tác giả đã lấy đoạn đời thơ ấu mở đầu cho hồi ký của mình. Trong Đời viết văn của tôi (Nguyễn Công Hoan), phần viết gọi là Ảnh hưởng dành hẳn để kể về những ngày đi học khờ dại mà cũng lêu lổng của tác giả, những trang viết cũng hóm nghịch và đầy thú vị như những trang kể về nghề ở các phần sau. Còn Hồi ký (Đặng Thai Mai) thì  gần như chưa nói gì về con đường tác giả đi sâu vào việc cầm bút cũng như giới trí thức mà tác giả là một thành viên; ngược lại lấp đầy mấy trăm trang sách ở đây là sự hình thành của một tính cách trong thuở ban đầu của nó,  khi một nền văn hoá tàn lụi còn một nền văn hoá khác lại bắt đầu.
   Tuy nhiên cái mà người ta trông đợi ở một cuốn hồi ký vẫn là cái phần  liên quan đến nghề nghiệp của tác giả trên cái nền chung của xã hội mà nghề đó có quan hệ. Có lẽ vì vậy mà trong khi một số cuốn từ điển tiếng Việt thông thường chỉ giải thích hồi ký là kể lại  những sự việc đã chứng kiến  thì có cuốn nói rõ hơn đây là “thể văn thuật lại theo thứ tự thời gian những sự việc mà tác giả đã trải qua hoặc chứng kiến một phần nào trong mối liên hệ với thời đại “. (Nguyễn Văn Đạm Từ điển tường giải và liên tưởng tiếng Việt1998 ). Nói cụ thể là nếu trước mắt tôi là một nhà văn thì một cách rất tự nhiên khi đọc hồi ký tôi muốn biết nhà văn ấy đã đến với nghề ra sao, ông ta gửi đăng bài vở ở báo nào, đã có sách in ở những nhà xuất bản nào, từ đó quen biết những ai, những nhà văn đồng nghiệp đã để lại trong ông những ấn tượng như thế nào và bao quát hơn cả là ông nghĩ thế nào về giới văn chương đương thời vai trò của giới này trong đời sống.
    Điều đó lại càng đặt ra với một nhà văn từng trải như Tô Hoài.
    Khi mới in ra lần đầu Cỏ dại chưa được gọi là hồi ký. Lúc cần trích dẫn các nhà nghiên cứu thường chua bên cạnh đầu đề hai chữ lửng lơ hồi ức nó không hẳn là sự xác định thể loại của tác phẩm.
    Đương thời có một cuốn sách cũng có cách viết gần gũi với Cỏ dại và ra đời trước Cỏ dại ít lâu đó là Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng, thì tác phẩm này lại có khi ghi hẳn hoi là tiểu thuyết và điều đó có cái lý riêng của nó.
    Tại sao như vậy ?
     Chẳng những từ trước đến nay không có mà từ nay về sau cũng không có một văn bản nào quy định thế nào là hồi ký và nhất là ai được viết ra nó song người ta vẫn hiểu ngầm với nhau nó là một thể loại hết sức cao quý một cái gì chỉ những  nhân vật nổi tiếng trong xã hội mới có quyền viết.
   Theo ý nghĩa này Tự truyện in thành sách lần đầu 1973 mới được chờ đón như một hồi ký thực sự. Đúng hơn nó đóng vai trò một nhân tố tổ chức toàn bộ mảng văn xuôi hồi ký của Tô Hoài nói chung nhờ có nó mấy thiên hồi ký viết về tuổi thơ của Tô Hoài có thêm lý do tồn tại. So với Cỏ dại, Mùa  hạ đến mùa xuân đi, Những người thợ cửi thì mấy trăm trang Một chặng đường (bộ phận nòng cốt của Tự truyện ) có nhieuf trang tả Tô Hoài hoạt động cách mạng. Song lại còn rõ hơn là phần con người Tô Hoài trong văn chương. Đi vào hậu trường thì bao giờ chẳng vui nhưng đây là cái vui riêng kiểu Tô Hoài. Đồng thời với việc háo hức làm nghề, ông nhận ra rất nhanh những sự nhếch nhác ở mình và các đồng nghiệp.Trong cái khu vực thiêng liêng này lẫn lộn bao nhiêu cái tầm thường. Nhiều nhân vật quen thuộc trong văn chương như Vũ Đình Long Vũ Ngọc Phan Nguyễn Bính, Nam Cao, Nguyễn Huy Tưởng, Trần Huyền Trân... hiện ra gần gũi với tất cả những mưu mẹo kiếm sống những thành kiến cố chấp cùng những luộm thuộm trong sinh hoạt nhưng lại thực sự là tài hoa là có đóng góp cho văn học. Đến Cát bụi chân ai thì lại càng rõ là Tô Hoài có cái mặt hàng riêng của mình. Trên cái nền chung của đời sống mấy chục năm vừa chiến tranh vừa hoà bình bao nhiêu cuộc đi bao nhiêu đợt sinh hoạt đợt đấu tranh tư tưởng hồi 1956-57,  hình ảnh một loạt người cầm bút một thời  hiện lên với đủ mọi chuyện vui vầy có thê thảm có như những kiếp người xưa nay vẫn vậy.

 Cuộc phiêu lưu thầm lặng
   Hãy đối mặt với thời gian -- Như nó tìm kiếm chúng ta. Câu thơ đó của Shakespeare được Stefan Zweig dùng làm đề từ cho tập Thế giới hôm qua nhưng có lẽ là đúng cho cả thể hồi ký nói chung. Nếu không sợ sái, có thể bảo đây là  thể văn nhiều người viết để chuẩn bị xuống mồ (Chateaubriand còn gọi hồi ký của mình là Hồi ký từ bên kia thế giới và khi viết xong,  ông đã mang bán nó cho một hội văn học với điều kiện chỉ được phép xuất bản sau khi ông mất). “Nghĩa tử là nghĩa tận”, một cái nhìn về quá khứ thường khi được hiểu là đồng nghĩa với một sự dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật không lấp liếm không e ngại. “Tôi lật con bài của tôi “-- Khi nói vậy Aragon chỉ diễn ra thành lời cái điều người khác ấp ủ. Riêng đối với tâm lý người Việt Nam thì đòi hỏi lại có phần hơi khác. Nghĩ tới việc viết hồi ký nhiều người hiểu ngay rằng đấy là một dịp tổng kết đời mình một dịp tính sổ. Có phải ai cũng có dịp đứng ra mà khái quát về mình đâu ? Nếu biết viết cho đàng hoàng để cho trang viết lên hết tầm vóc của con người mình thì tức là tạo được khuôn mặt riêng trước con mắt của hậu thế. Vậy đấy, trong khi sống và làm việc cho bạn đọc hôm nay thì nhiều người viết đã bắt đầu nghĩ tới việc dựng cho mình một tấm bia đá và tự cho mình cái quyền nói lên  tiếng nói cuối cùng.
     (Chẳng phải ở Việt Nam mà ở nhiều nước vẫn có những nhà văn mắc bệnh tự mê. Với họ khi viết tự truyện thì  không phải  chỉ quan tâm tới việc tái hiện quá khứ...mà là “dựng lên dấu ấn muôn đời  của bản thân vượt qua thời gian và ký ức cá nhân” ---  dẫn theo Đặng Thị Hạnh Một vài gương mặt văn xuôi Pháp thế kỷ XX  -- NXB Đà Nẵng 2000 ; các trích dẫn từ văn học phương Tây nói trong bài đều lấy từ sách này )
    Nhưng có lẽ chính cái sự gán cho hồi ký một ý nghĩa quá lớn ấy đã khiến cho mọi người sinh ra ngại ngần nhiều lần tính chuyện bắt tay viết lại đời mình rồi lại không bao giờ viết nổi. Một cách tự phát, Tô Hoài nghĩ khác. Sẽ chẳng có gì là sai nếu bảo rằng được ông nói tới trong hồi ký này là những cây bút thuộc loại nhân vật chính của một thế kỷ văn chương và bối cảnh câu chuyện ở đây lại là những sự kiện lớn lao cũng tức là cả mảng tài liệu ngổn ngang mà những ai quan tâm đến lịch sử đều muốn biết. Thế nhưng như chính tác giả đã mấy lần gài sẵn “Có lẽ xưa nay văn nghệ văn nghẽo vẫn thế bảo là cần thì cần lắm mà là thường thì cũng thường thôi “ ( Cát bụi chân ai)  hoặc “Công việc văn nghệ ngày rộng tháng dài có có không không cứ đều phảng phất hiu hiu” ( Chiều chiều ), sở dĩ tôi viết vì tôi đã sống với những chuyện này cả một cuộc đời, chứ thực tình mà nói, đâu phải là chuyện ghê gớm gì. Cái ý tưởng “viết hồi ký như vẫn viết văn xuôi “ đã hình thành từ hồi Cỏ dại hoá ra là một sự giải phóng khỏi mọi ràng buộc. Ông không đặt vào sách quá nhiều ý nghĩa như những người khác. Con người vốn không biết sợ là gì này đôi khi lấy ngay cả chính bản thân ra để đùa bỡn.Trong khi mọi người thích đưa ra tiếng nói cuối cùng về đời mình về đời những con người mà mình đã gặp trong quá khứ, thì ông chỉ cố nói những điều vừa nghĩ hôm nay, đồng thời để ngỏ khả năng mai kia mình có thể nghĩ khác mà mọi người càng có thể nghĩ khác. Có cảm tưởng rằng viết hồi ký với tác giả đầy khôn ngoan này giống như những bước dò dẫm trên chính quá khứ. Ngay trong trang viết ông vẫn đang đi tìm. Trước mặt ông là một khối mù mờ ông đi vào đó với tấm lòng rộng mở. Ngay cả quá khứ của mình cũng vậy, -- mà hình như càng là quá khứ của mình thì càng như vậy, ông phải mò mẫm ông phải kiểm chứng ông phải đuổi bắt. Biết chắc rằng những định kiến hôm qua vẫn chưa buông tha ngòi bút, ông không hề hứa rằng mình nói thực tất cả,  ông chỉ cố gắng nói ra điều có thể nói.

 Vẻ lung linh chờn vờn của cái thực 
       Một khía cạnh nữa tạo nên sự hấp dẫn của ngòi bút hồi ký Tô Hoài là ở quan niệm của ông về cái thực một điều hết sức thiết cốt với hồi ký.
        Những ai từng đọc Vợ chồng A Phủ hẳn nhớ một cảnh ở phần mở đầu khi cô Mỵ bị trói. Văn Tô Hoài giỏi tả những cái lửng lơ “Mỵ về làm dâu nhà Pá Tra đã mấy năm.Từ năm nào không nhớ cũng không ai nhớ “. “Trong bóng tối Mỵ đứng im như không biết mình đang bị trói “. Rồi đến câu “ Buổi sáng âm sâm trong căn nhà nhỏ“. Âm sâm là gì, không thấy từ điển nào giải thích, nhiều người chỉ mang máng hiểu, sau khi thầm đoán là do Tô Hoài đặt ra. Nhưng cái hồn của cảnh thì họ lại cảm ngay được và tin chắc rằng cảnh ấy thì  phải dùng đến chữ ấy để tả. Cuộc đời hiện ra trong văn xuôi Tô Hoài nói chung và của hồi ký Tô Hoài nói riêng thường  mờ mờ ảo ảo mà đến Cát bụi chân ai thì cái mờ mờ ấy đã trở thành một thứ khí hậu của tác phẩm. “Như người ốp đồng không biết đương còn tỉnh hay đã mê “ --  nói về Nguyên Hồng mà như tác giả đang nói về mình. Sự lan man vốn là  một  cái duyên của  văn xuôi Tô Hoài. Song phải thấy sự lan man ấy có liên quan tới cái chất tập mờ của quá khứ và ở chỗ đó, Tô Hoài tiếp cận với một quan niệm hiện đại về hiện thực. Một ví dụ, nhân nói về cuốn tự truyện Vườn bách thảo của Claude Simon, một nhà phê bình Pháp sau khi  bảo rằng hồi ký là để  “ kể về một cuộc đời “,  ngay lập tức  nói  thêm rằng  “ vốn dĩ cuộc đời đã không bao giờ là một quỹ đạo thẳng tắp có định hướng đều đặn  mà là một mớ bòng bong những mẩu đất và những mảnh vụn luôn luôn được trí nhớ tổ chức lại và biến đổi đi “.
     Một cách tự nhiên Tô Hoài đi gần tới những quan niệm như vậy mà không hay biết.
    Trước khi có cuốn Chiều chiều,  từ hơn năm chục năm trước khi đang viết những truyện ngắn đầu tay Tô Hoài  đã mấy lần lấy cảnh chiều hôm để hình dung ra cuộc đời những là Hết một buổi chiều lại đến Buổi chiều ở trong nhà. Tới Cát bụi chân ai, cái khoảng thời gian nhá nhem chạng vạng này còn trở lại nhiều lần. Những buổi gặp nhau ở cửa hàng cà phê bít tết dốc Hàng Kèn thường bao giờ cũng là vào lúc thành phố  lên đèn. Cho đến những dịp ghé vào quán Tiểu Lạc Viên hay các hàng quán trên mạn Hàng Buồm, thì thường cũng là sau một ngày dài họp hành mệt nhọc ( lúc này đang trong đợt học tập ở Ấp Thái Hà ). Cảnh trời mưa và bóng tối ở đây vốn tiện cho người ta nghĩ ngợi. Có dễ so với những cái sáng tỏ ban ngày thì  cái mờ mờ ấy của cuộc sống ban đêm lại làm cho những mảng ký ức mông lung và sống động hơn mà tâm tình trở nên ngổn ngang và bối rối hơn. Cũng như Nguyễn Tuân, Tô Hoài là người hay hồi tưởng. Hồi tưởng thế nào? Có lần từ người đàn bà mặt buồn rười rượi trong cửa hàng cà phê Ca, Tô Hoài thấy hao hao như là người con gái ngày xưa ở nhà gác dốc Cổ Ngư mà sáng nào cậu bé Nguyễn Sen cũng đi học qua. Nhưng ông chỉ dừng lại ở đó. “Không hỏi có phải trước kia nhà bà ở đầu ô Yên Phụ tôi lặng im cho mình được đinh ninh”. Một lần khác đến nhà bà Lâm bán bánh cuốn. Tiếp ngay cái câu “ Chúng tôi đến một tối ở dưới Ấp về “, là câu “Lại mưa mưa tầm tã ướt lướt thướt ánh đèn đường nhoè nhoẹt trời mưa hay là ta cứ nghĩ ra như thế “. ( VTN gạch dưới). Đúng là  một ví dụ về sự phân thân trong con người nhà văn ngay trong lúc viết : Tôi nhớ rằng trong thực tế có chuyện như thế nhưng cũng không có gì bảo đảm là tôi nhớ chính xác, chẳng qua nó có vẻ nghe được nên  không muốn làm phiền mình thêm thôi xin cứ ghi vào đây. Bởi suy cho cùng ai dám bảo là mình nắm được sự thực ? Mà ơ hay,  làm gì có sự tách  biệt rạch ròi  giữa cái mà người ta coi là sự thực với những điều tưởng tượng ? Ở một đoạn giữa chương II hồi ký Cát bụi chân ai,Tô Hoài kể lại một câu chuyện thuộc loại  bếp núc nghề nghiệp. ”Nửa đêm giữa rừng trên cao con suối mơ hồ đưa lại tiếng suối thở dài từ phía Bắc Mê. Chúng tôi ngồi trước đám củi sưởi. Nguyễn Tuân nói : Tớ tức cảnh được hai câu ca dao đem về tặng thằng Nguyên Hồng thế này nhé Non xanh gõ hòn đá xanh Nửa năm nghe tiếng mõ canh Cổng Giời.Trở về tôi viết Pài Lùng cái ký theo thể kịch đăng báo Văn nghệ đặt hai câu ấy lên đầu bài. Chú thích nghịch ngợm: Ca dao cũ vùng Bắc Mê. Cho nhớ và như Nguyễn Tuân bảo có dùng thì nên như thế “. Người thích rành mạch hai với hai là bốn hẳn thắc mắc thế ra các bố bịa ra cả ca dao à ? Đúng là bịa thật, nhưng có sao đâu, ca dao nào chẳng do bịa mà có, cốt cuối cùng nghe có vẻ ca dao là được. Đấy  cái thực trong hồi ký nó cũng tương tự. So với những cuốn hồi ký như một mê cung hồi ký mà lại khoác áo phản hồi ký thậm chí “ hoang đường và đầy khiếm khuyết “của văn học phương Tây hiện đại thì những Một chặng đường, Cát bụi chân ai Chiều chiều còn thực chán,  nhưng đó không còn là cái thực mà nhiều người vẫn nghĩ.
     Nên chú ý một điều là mấy cuốn hồi ký của Tô Hoài (cả trước và sau 1945)  trong bản in lần đầu tác giả không ghi rõ  thể loại  mà bỏ lửng  và chỉ về sau các nhà biên tập các nhà báo và nhà nghiên cứu văn học mới bảo nó là hồi ký. Đây không phải là một chuyện sơ ý. Ông muốn để ngỏ mọi chuyện. Nếu nhiều cuốn sách được gọi là tiểu thuyết của ông cũng là hồi ký thì các hồi ký thực sự mà ông đã viết pha phách cả những tưởng tượng có gì là lạ. Hình như Tô Hoài muốn nói “ Viết về đời tôi ư? Thì bao giờ tôi chẳng lấy đời tôi ra để viết. Lại như bảo đây là chuyện có thực ư ? Vâng thực cả, nhưng chữ thực kia cũng có năm bảy đường, mỗi người có một sự thực của riêng mình, mà cả những mơ hồ ảo tưởng của người ta rút cuộc rồi cũng thực nốt “.
  Về mặt nghệ thuật mà xét lối viết lửng lơ cũng mang lại những hiệu quả. Có nhiều người viết vừa cậy tài vừa quen sống trong  ảo tưởng khi kể việc xảy ra từ lâu kể cả  những gì mình đã sống qua, cứ nói lấy được, rằng đúng là mình nhớ thế, mình tin chắc như đinh đóng cột là thế. Sống trên đời mà quá tự tin nhiều khi đã gây ra cái mà ta hay gọi là chủ quan chỉ biết có mình rất khó chịu. Đến khi cầm bút cái sự chủ quan này còn có thêm một tác hại nữa là đẻ ra tình trạng áp đặt thuyết lý.
    Trong khi khả năng bao quát đời sống không là bao, độ rộng của hiểu biết và khả năng hình dung ra một hiện thực có thể có,  tức sự tưởng tượng chỉ ở mức tầm thường ( kết quả của một sự ù lì kém cỏi cả trong quan sát trực tiếp lẫn khả năng làm giàu mình qua sách vở ), thì các ngòi bút chủ quan này lại hay quay ra rao giảng những khái quát non. Nhân danh  nhắc lại việc cũ, sự viết lúc này chỉ là áp đặt cho bạn đọc cái vốn nông cạn sẵn có. Quá trình lao động mà mọi người vẫn quen gọi là sáng tạo bị đơn giản hoá. Nó không giúp cho kẻ cầm bút tự làm giàu  thêm ngay trong công việc - ở đây là viết hồi ký.
    Còn cách nghĩ cách viết như của Tô Hoài mang trong nó một tiềm năng lớn. Thực hiện đến đâu còn là do bản lĩnh từng người song nhìn chung nó giống như một sự giải phóng.

Một sự phân thân : trong người có mình
    Vậy là sau khi đã có vẻ làm như mọi người rồi thì cách làm của Tô Hoài vẫn cứ có chỗ khác và phải nói là khác khá xa, nó khiến cho hồi ký Tô Hoài có một ý vị riêng. Điều này không chỉ đúng với những chi tiết được mang vào tác phẩm mà còn đúng với cách vận dụng thể loại.Tức là trong nghề hồi ký, Cát bụi chân ai là cả một thể nghiệm tưởng ngẫu nhiên mà rất hợp quy luật. Lâu nay cả làng cả xóm nghĩa là cả giới cầm bút Hà Nội đều  biết rằng trong đời sống văn học Nguyễn Tuân và Tô Hoài là hai tính cách hai kiểu nhà văn khác nhau. Cái tài của tác giả trong Cát bụi chân ai là tìm được cách viết nhờ đó ngòi bút ông tha hồ tung tẩy đụng đâu cũng ra văn. Ông chiếm lĩnh đối tượng,  ông tiêu hoá cái kinh nghiệm già nửa đời người cùng sống với cụ Nguyễn trong giới văn nghệ một cách ngon lành khiến cho người ta cảm thấy rằng đã là Tô Hoài thì phải viết về Nguyễn Tuân và phải viết như vậy thì mới ra Nguyễn Tuân của Tô Hoài. Tôi kém Nguyễn Tuân mười tuổi. Trước kia tôi không quen Nguyễn Tuân. Cái câu mở đầu này gợi nhớ câu thơ dịch La Fontaine của Nguyễn Văn Vĩnh Ve sầu kêu ve ve một kiểu có sao nói vậy hơn nữa có một chút gì như là dùi đục chấm mắm cáy. Sau này rải rác mỗi đoạn một tí Tô Hoài còn nhiều lần kỹ càng kể rằng Nguyễn Tuân chê bai mình ra sao Nguyễn Tuân bảo rằng mình khó chơi, mình không tin được như thế nào.Thế nhưng phải xem đấy là một ngón nghề  mà chỉ ai người cao tay trong nghề mới dám vận dụng. Suốt tập hồi ký, Tô Hoài đã chứng minh đầy sức thuyết phục rằng tất cả những Xuân Diệu Nguyễn Bính Nguyên Hồng.... và trước tiên Nguyễn Tuân, cái nhân vật Nguyễn kỳ cục ấy, là một phần của cuộc đời ông. Sống ở Yên Dã Đại Từ và đi chiến dịch. Trở về Hà Nội  tháng 10/1954. Lê la qua những quán hàng Hà Nội. Trở lại rừng núi Tây Bắc. Tham gia hỏi cung đám giặc lái Mỹ và đón những cái tết nửa chiến tranh nửa hoà bình... Trước mọi sự việc mỗi người có cách phản ứng riêng của mình người nọ làm nền cho người kia để trong sự so sánh mỗi người lại hiện ra sắc nét hơn. Chẵng những thế  khi miêu tả những người khác ấy,  Tô Hoài dường như còn muốn nói rằng thật ra những cách nói năng cư xử kia không có gì lạ, mình hoàn toàn cũng có thể nghĩ và làm như vậy. Mọi con đường đi đến bản thân đều đi qua kẻ khác – cái nhận xét đúng cho nhiều tập hồi ký đó lại vừa vặn đúng cho Tô Hoài trong Cát bụi chân ai,Chiều chiều. Và cái điều nhắn gửi cuối cùng của nhà văn là cái chân lý song đôi, chúng ta mỗi người mỗi tính không ai giống ai mà đồng thời chúng ta lại lồng ghép lên nhau quyến quyện với nhau hoặc nói như danh từ vật lý ánh xạ vào nhau, tôi có viết hồi ký cho riêng tôi đâu, tôi viết cho cả những người sơ thân đã cùng tôi chia sẻ cái cuộc đời lạ lùng này.

Hình ảnh còn lại của một đời văn
   So với nhiều nhà văn khác kể cả các cây bút cùng thời với mình Tô Hoài nổi lên ở sự viết nhiều viết khoẻ. Ở đây có yếu tố tự nhiên nó là một thứ của trời cho riêng ông (người ta hay nói một thứ bản năng), dường như tác giả không cần cố gắng bao nhiêu mà văn chương vẫn cứ miên man không bao giờ hết. Song cần nói thêm trong số nguyên nhân có thể cắt nghĩa sự viết mãi được như thế này có cái nguyên nhân mà một nhà nghiên cứu là Đặng Tiến sau khi đọc Chiều chiều đã nhận xét “Nói chung kể cả những truyện hư cấu truyện lịch sử Tô Hoài viết cái gì thì cũng ra tự truyện “. Tức là viết gì thì Tô Hoài cũng kéo nó gần với mình đặt nó dưới góc nhìn riêng và tiêu hoá nó biến nó thành của mình.
   Về việc Tô Hoài là người giỏi quan sát thì xưa nay ai cũng đã thấy. Song một số  người dừng lại ở đó mà bảo rằng ông nhà văn này hơi thiếu tâm sự, thiếu những điểu ký thác và nâng lên một mức nữa tức là thiếu tư tưởng nghệ thuật. Tô Hoài cũng có lỗi trong chuyện này:  Hoặc do quen tay giỏi thích ứng hoặc do mải chạy chợ làm hàng,  trong văn ông không khỏi  có nhiều trang nhiều đoạn mang tính cách độn đắp thêm vào cốt nói lấy được. Thế nhưng nhìn toàn bộ những gì ông đã viết, nhất là đến với mảng văn xuôi đòi hỏi sự xuất hiện trực tiếp của nhà văn là thể hồi ký, thì người ta phải nói ngược lại. Ông có thế giới riêng của mình. Và bàng bạc trên những  trang viết là một cách cảm riêng về cuộc đời một niềm tâm sự đau đáu. Hãy nhìn vào một trường hợp như Chiều chiều. Mấy chương đầu đã giỏi trong kể chuyện và miêu tả, song phải đến chương cuối kia thì cái triết lý ẩn giấu ở trên mới hiện ra như một ám ảnh và nhiều chi tiết vui vui ở trên  tự nhiên hiện ra dưới một ánh sáng lung linh khác hẳn. Hoá ra cuộc đời là vậy bảo nó  có bao nhiêu ý nghĩa thì cũng đúng, mà bảo rằng nó vẩn vơ bèo bọt thì cũng đúng, từ chuyện trên giời dưới bể chuyện bên tây bên tàu đã thế mà chuyện của một ông lão nhà quê chẳng ra khỏi làng thì cũng là thế. Chẳng phải là trong Cát bụi chân ai nhiều chỗ tác giả không muốn giấu mình nữa mà đứng bật dậy phát biểu về sự đời. “Ôi thôi não nùng trần ai “. “Đầu tôi nặng trĩu mưa gió...”.Đây nữa một câu nằm nhũn nhặn trongNhững người thợ cửi  “ Ơ sao những chuyện buồn khổ đời người lại hay xảy ra vào lúc chiều chiều như thế này “. Đời đẹp và buồn, tôi nhớ tới điều tâm sự Tô Hoài nói với tôi trong một buổi tối mùa đông sau khi ngồi với nhau một lúc từ nhà chị Ngọc Trai chúng tôi cùng đi bộ trên đường Hà Nội,Tô Hoài thì rẽ qua  Nguyễn Vinh Phúc còn tôi về nhà ở ngõ Lê Văn Hưu. Nói gọn lại là đời đẹp và buồn  thì cố nhiên nhiều người đã có ý ấy rồi song ở đây Tô Hoài đã sống cái cảm giác ấy một cách thấm thía và ông biết  truyền nó sang người đọc theo cái  cách riêng của mình. Và ở chỗ này nhà văn tưởng chỉ dán mắt nhìn vào  các mảnh đời lụn vụn thực ra đã vươn tới cái điều mà các tác giả lớn xưa nay vẫn khái quát.
   Một người tự định cho mình nhiệm vụ phải vẽ được thế giới. Suốt nhiều năm dài ông ta chất đầy chặt không gian những hình ảnh phố phường xứ sở nhà cửa vật dụng tinh tú và người. Ít  lâu trước khi chết, ông khám phá ra rằng cái mê cung kiên nhẫn của các đường nét đó vạc nên gương mặt của chính mình.
   Nói cách khác :
 Một nhà văn tưởng có thể nói được rất nhiều điều nhưng cái ông ta để lại được, nếu gặp may, chỉ  là một hình ảnh của chính mình.
   Những nhận xét ấy là của H.L.Borges và M.Yourcenar, các nhà văn ở những  phương trời xa lạ, nhưng cũng đúng với  Tô Hoài. Ông lại như vừa tìm thấy mình trong những năm tuổi già. Dường như cả cuộc đời từng trải  đã chuẩn bị cho những trang viết hôm nay của ông. Hồi ký là nơi cả con người tác giả cùng cái triết lý mà ông mơ hồ cảm thấy và đã theo đuổi suốt đời cả hai có dịp bộc lộ đầy đủ nhất.  

 2001   
Nguyên là bài Tô Hoài và thể hồi ký 
đã in trong  Vương Trí Nhàn Phê bình và tiểu luận 2009
Bản đưa vào blog lần này có sửa chữa lại một số ý so với bản cũ                     

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Kẻ cơ hội mạt hạng nhất trong giới VNS. Rồi đuôi cáo cũng trồi ra..


Mai Liễu đã chia sẻ bài viết của Long Nguyen.
6 giờ
Kẻ cơ hội mạt hạng nhất trong giới VNS. Rồi đuôi cáo cũng trồi ra...
Long Nguyen
Khi đặt chân sang Liên Xô cũ, em bị cuốn hút bởi những bài thơ của anh trên những trang báo tường của đơn vị. Cái tên Hồng Thanh Quang trong em là một người cótâm hồn thi ca đầy lãng mạn. Em lặng lẽ theo dõi anh, thoáng chút ngạc nhiên khi anh kết hôn cùng NSND Lê Dung hơn anh 12 tuổi, khi trào lưu phi công lái máy bay bà già chưa nở rộ. Anh phụ trách chuyên mục An Ninh Thế Giới mà em luôn say sưa đọc. Thi thoảng thấy anh bình thơ văn trên VTV thấy có thoáng chút tự hào với bạn bè và người thân : anh ấy học cùng trường với tớ đấy...
Cho đến ngày hôm qua, được mục kích sở thị anh phùng mang, trợn mắt đấu tố MC Phan Anh trong vụ chia xẻ thí nghiệm cá chết của VTC. Mỗi người có quan điểm và ý kiến khác nhau nhưng cái cách anh tranh luận thật là lố bịch. Em dùng câu hỏi của Tạ Bích Loan để hỏi anh : "Anh làm thế với động cơ gì?". Ý anh muốn nói là Phan Anh phải nhận sai lầm?Không được "nguỵ biện". Điều này rất nguy hiểm anh Quang ạ vì nhân dân không hề có thông tin gì về "cá" Vũng Áng từ các báo chính thống như Đại Đoàn Kết của anh sẽ lầm tưởng là clip này nguỵ tạo, cá miền Trung vẫn ăn thoải mái, mọi người tắm biển vô tư đi. Là một nhà báo thực sự có tâm thì anh đã không đứng đó mà sủa mà anh hãy đến miền Trung đi, xem dân chài lưới hiện đang sống như thế nào?Đến mà phanh phui hết bộ mặt thật của bọn Formosa khốn kiếp để chúng phải cút hết về nước. Em đố anh dám làm đấy, đồng chí đại tá an ninh. Anh không xứng đáng được gọi là nhà báo, mà anh chỉ là một con rối, anh Quang ạ!Một bạn cũ cũng học Ulianovsk với em nói một câu rất chí lí : nhà thơ thì đừng làm chính trị, lại như Tố Hữu thôi!
Lời em nói đúng hay sai thì anh tự nhận thấy qua lượng gạch đá trên tường nhà anh trong 24h vừa qua. Cả đêm anh phải hì hụi xoá cmt, block hàng trăm người. Người đồng hành với anh, nhà báo Tạ Bích Loan đóng cửa fb rồi. VTV thì vội vàng rút clip khỏi trang web và block toàn bộ link youtube chứng tỏ sự thành công mỹ mãn của ê kíp. Chúc mừng anh!
CHLB Đức 05.2016

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chàng kỹ sư này đã bỏ nghề đi bán CÁ KHO, kiếm tiền tỷ mỗi năm. Bạn có muốn trò chuyện cùng anh ấy không?


9h30 sáng thứ Hai (ngày 30/05/2016), CafeBiz sẽ có cuộc giao lưu trực tuyến với anh Nguyễn Bá Toàn - một kỹ sư xây dựng quyết tâm từ bỏ công việc lương cao để khởi nghiệp với món cá kho làng Vũ Đại.
Cá kho vốn được coi là món ăn dân dã, bình dị của người dân ở làng quê Việt Nam. Thế nhưng, vài năm trở lại đây, món ăn này bỗng dưng thành đặc sản và có giá cực kỳ đắt đỏ. Và có người kiếm được tiền tỷ mỗi năm nhờ những nồi cá kho đó.
Anh là Nguyễn Bá Toàn, sinh năm 1982, một kỹ sư xây dựng. Anh được người dân trong vùng và bạn bè gọi với cái tên thân mật là "Toàn cá kho".
Câu chuyện khởi nghiệp của "Toàn cá kho" khiến không ít người thán phục:
Tình cờ được thưởng thức món cá kho sau một lần đến chơi nhà bạn ở làng Vũ Đại, Hà Nam, anh Nguyễn Bá Toàn (SN 1982) - một kỹ sư xây dựng nảy ra ý định kinh doanh.
Ngoài những giải thưởng, bằng khen vinh danh, cơ sở chế biến cá kho của anh Toàn còn được chọn là một trong 3 địa điểm ở Thái Bình Dương mà Google về quay clip, quảng bá thương hiệu đặc sản món ăn ngon của Việt Nam. Ảnh: M.Lan.
Chỉ sau một đêm, Toàn quyết định từ bỏ công việc kỹ sư với mức lương hơn 10 triệu đồng (năm 2011). Mặc cho bạn bè và gia đình phản đối, "Toàn cá kho" gạt bỏ tất cả với mong muốn làm chủ, quyết tâm lập nghiệp với món ăn này.
Anh tự mày mò mở web để quáng bá đặc sản, đồng thời một mình lo liệu khâu nguyên liệu, hướng dẫn bà con nông dân chế biến theo đúng công thức và tìm hướng ra thị trường cho sản phẩm.
Kinh doanh trong lĩnh vực thực phẩm khá nhạy cảm - đặc biệt là món cá kho có hạn sử dụng rất ngắn. Anh Toàn từng trắng tay khi mới lập nghiệp, thậm chí bị khách hàng mắng chửi thậm tệ khi nhận được nồi cá kho "giả"... thế nhưng, nhờ sự kiên trì, anh Toàn đã thành công.
Chỉ chưa đầy nửa năm, món cá kho làng Vũ Đại bỗng dưng trở thành đặc sản nức tiếng trên thị trường và có giá đắt đỏ hơn bao giờ hết. Một niêu cá kho có giá lên đến cả triệu đồng.
Hàng trăm, nghìn niêu cá kho làng Vũ Đại tỏa đi khắp miền Trung, Nam, thậm chí "bay" cả ra nước ngoài, anh Toàn kỹ sư nay bỗng thành "Toàn cá kho" với thu nhập tiền tỷ mỗi năm.
Vậy làm cách nào để từ một món ăn bình dị bỗng dưng thành đặc sản? Tại sao một niêu cá kho lại có giá đắt đỏ đến như vậy? Anh Toàn đã quảng bá niêu cá kho ra thị trường như thế nào?.... Và rất nhiều câu hỏi khác sẽ được "anh Toàn cá kho" trả lời trong chương trình trực tuyến được CafeBiz thực hiện vào sáng 9h30 - Thứ 2, ngày 30/05/2016.
Đặc biệt hơn, chương trình sẽ được thực hiện trực tuyến qua live streaming trên Fanpage của CafeBiz. Điều này có nghĩa là bạn chỉ cần vào facebook, comment trực tiếp trong cuộc trò chuyện, và câu hỏi của bạn sẽ được chúng tôi tiếp nhận.
Ngay từ bây giờ, Quý độc giả muốn giao lưu cùng "Toàn cá kho" có thể gửi câu hỏi trước theo email:info@cafebiz.vn hoặc tới Fanpage CafeBiz tại địa chỉ:https://www.facebook.com/cafebiz.vn
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đúng là bố phải lạy thầy. Đại sự quốc gia mà hồn nhiên, thụt thà quá. Chả trách đất nước tiến nhanh tiến mạnh, tiến vững chắc.. đến mức đáng lo ngại!


NHỮNG PHÁT BIỂU ĐẦY ẤN TƯỢNG
Trên chính trường, nhiều phát biểu rất ấn tượng làm sôi động trên truyền thông cả lề phải lẫn lề trái. Những phát biểu từ những bộ óc tinh hoa của chế độ. Những bộ óc siêu thực. Tôi tạm thống kê ra đây để các bạn có dịp hệ thống, chiêm nghiệm và lấy cảm hứng từ những phát biểu ấn tượng đó:
1.- “Ông Nguyễn Duy Chiến, Phó Chủ nhiệm Ủy ban biên giới quốc gia của Bộ Ngoại giao Việt Nam đã phát biểu tại một trường đại học. Khi nói về vụ Trung Quốc cắt cáp tàu Bình Minh 2 và tàu Viking 2 của ta, ông Chiến đưa ra một lời răn dạy, chẳng qua chỉ là... là “Yêu cho đòn cho vọt” mà thôi! Theo bình luận của người quan sát, thì đây là lời khuyên của các cụ đối với các bậc cha mẹ khi dạy dỗ con cái”...
Điều đó cũng nói lên quan hệ Việt - Trung là quan hệ anh em hết sức tốt đẹp. Cũng giống như tướng Phùng Quang Thanh dội nước lạnh vào các nước trong Hội nghị thượng đỉnh An ninh châu Á (Đối thoại Shangri-La) khi các nước đang lên án Trung Quốc lấn chiếm Biển Đông.
2.- “Theo báo chí thì trong nhiều giải pháp chống tham nhũng đưa ra, giải pháp của Phó cục trưởng Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và tham nhũng Nguyễn Đức Hiển đã làm “say lòng” cộng đồng mạng với đề xuất chỉ nên in tiền mệnh giá nhỏ 20.000 đồng. Ông Hiển cho rằng bằng cách ấy kết hợp với lệnh không cho giao dịch bằng ngoại tệ thì khi ấy sẽ rất khó đưa phong bì vì khi ấy phong bì sẽ rất dày”.
“Đây là một đề xuất không bao giờ thành hiện thực vì như vậy ngân sách quốc gia sẽ thêm nặng gánh do chi phí in tiền, vận chuyển, bảo quản tiền sẽ rất tốn kém”.
Quả là một phát kiến hay, đầy hiệu quả. Bọn tham nhũng không có cách nào khác là phải đầu hàng.
3.- Trao đổi với phóng viên, ông Chu Anh Khánh, Phụ trách Phòng Kỹ thuật nuôi sinh vật biển thuộc Viện Hải Dương học cho biết, con cá voi nặng 17 tấn vừa mắc cạn và được giải cứu ở Nghệ An nhưng đã chết sau đó một ngày thuộc loài cá voi xanh, đã khá già và bị thương.
Rất nhiều cá voi chết dạt vào bờ biển Nghệ An - Hà Tĩnh trong thời gian qua. Cả vùng biển miền Trung sạch bóng các loài cá cả trên lớp mặt lẫn lớp đáy. Các loài giáp xác cũng đã chết. Bây giờ đến lượt cá voi. May quá, cá voi chỉ chết vì già, yếu chứ không phải vì biển Vũng Áng ô nhiễm. Cán bộ kỹ thuật đã kết luận như vậy rồi.
4.- Trao đổi với VnExpress trưa 16/5, ông Trương Việt, Chủ tịch UBND phường Hòa Hiệp Bắc (Liên Chiểu, TP Đà Nẵng), xác nhận một hộ dân trên địa bàn sau khi mua cá biển ở chợ về cho gà ăn thì gần nửa trong đàn gà 15 con lăn ra chết: "Chúng tôi đã xuống xác minh, thấy gà ăn quá no nên chết, nhưng người dân lại phao tin là do ăn cá biển. Thú y cũng lên kiểm tra rồi, nguyên nhân không phải do ăn cá", ông Việt nói.
Từ trước đến nay, gà không chết vì bội thực bao giờ. Nay cá biển nhiều quá, gà ăn nhiều nên chết nhiều. Như vậy gà chết không phải ăn cá chết vì biển ô nhiễm chất độc. Phải tin lãnh đạo chính quyền và cơ quan thú y chứ.
5.- Thượng tướng, PGS-TS Võ Tiến Trung, nguyên Giám đốc Học viện Quốc phòng nói “nếu Obama xin lỗi Việt Nam, ông ta sẽ là vị tổng thống dũng cảm và vĩ đại nhất nước Mỹ”.
Quả là suy nghĩ vĩ đại. Việt Nam đứng ở trên cao, Mỹ phải xin lỗi vì cuộc chiến Việt Nam. Quan điểm rất giống Bí thư Lê Duẩn khi kiên quyết đòi Mỹ “bồi thường chiến tranh chứ không phải viện trợ không hoàn lại 5,3 tỷ đô la”. Cuối cùng 5,3 tỷ đô la không bao giờ có.
6.- "Trước đây tôi đọc thì tôi chưa nghĩ, chưa biết ngọn núi Ngũ Hành. Bây giờ xem phim "Tôn Ngộ Không" thì tôi hình dung cũng có thể trước đây - cách đây hơn 500 năm Tề Thiên Đại Thánh có khi bị đè ở trong ngọn núi Ngũ Hành ở Ngũ Hành Sơn".
Đó là phát biểu của ông Võ Văn Thương, Bí thư Quận ủy Hải Châu - Đà Nẵng tại kỳ họp lần thứ 14 khoá 8 (2011-2016). Một phát kiến quá xuất sắc. Nhờ phát kiến này, du lịch Đà Nẵng chắc chắn sẽ bay cao. Bái phục ông Võ Văn Thương.
7.- Tôi tâm đắc biện pháp giải quyết ách tắc giao thông của tiến sỹ Huỳnh Thế Du (làm việc trong chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright) khi nói về các giải pháp đột phá nhằm giảm tình trạng ùn tắc giao thông tại TP.HCM trong buổi hội thảo được tổ chức ngày 29/3: “Không mở rộng hạ tầng giao thông, cứ để kẹt xe đến lúc dân không chịu nổi sẽ phải đi phương tiện công cộng...”.
Quả là đầu óc siêu tài của tiến sỹ. Nhờ những tiến sỹ như ông mà Việt Nam chắc chắn sẽ đuổi kịp và vượt Lào, Campuchia.
8.- Tiến sỹ Vũ Minh Giang, đại học quốc gia Hà Nội trả lời phỏng vấn:" Đào mộ tổ tiên tôi thì được nhưng giật đổ tượng Lênin là thiếu văn hóa"!
Một tín đồ trung thành với chủ nghĩa Mác - Lê Nin. Nếu ai cũng như ông thì CNXH nhất định sẽ thành công sớm ở Việt Nam. Xin cảm ơn tiến sỹ Vũ Minh Giang.
----

Hiển thị thêm cả
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ấn Độ sẵn sàng bán vũ khí hiện đại nhất cho Việt Nam


Tên lửa Brahmos của Ấn Độ
Theo tờ Economic Times, Ấn Độ sẽ đưa một đoàn đại biểu công nghiệp quốc phòng cấp cao đến Việt Nam vào đầu tháng tới.
Ngoài tàu tuần tra và tên lửa diệt hạm BrahMos, vào năm 2013 từng xuất hiện thông tin Ấn Độ muốn bán tên lửa đường đạn tiên tiến Pragati cho Việt Nam.
Sự kiện này diễn ra không bao lâu sau khi Tổng thống Mỹ Barack Obama tới Việt Nam và tuyên bố dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm bán vũ khí sát thương.
Đoàn đại biểu ngành công nghiệp - gồm đại diện của các công ty vũ khí lớn ở Ấn Độ - sẽ tháp tùng Bộ trưởng Quốc phòng Manohar Parrikar trong chuyến thăm.
Các quan chức Ấn Độ cho biết, New Delhi sẽ cân nhắc khả năng hợp tác phát triển và sản xuất với Việt Nam. Hiện nay, cả 2 nước đều có trong biên chế nhiều loại vũ khí do Nga chế tạo, như khinh hạm và tàu ngầm...
Tên lửa siêu thanh Brahmos của Ấn Độ
Theo Economic Times, Ấn Độ đã xác định Việt Nam là quốc gia mà họ có thể xuất khẩu vũ khí một cách "thoải mái", kể cả những hệ thống vũ khí tiên tiến nhất như tên lửa diệt hạm Brahmos

Hiện Bộ Quốc phòng Ấn Độ vẫn đang trong quá trình lựa chọn đoàn đại biểu. Phái đoàn này có thể bao gồm trên 15 đại diện từ các đơn vị tư nhân, gồm giám đốc điều hành của L&T, Tata và Reliance Defence bên cạnh các đơn vị nhà nước như Brahmos Aerospace.
Tàu tuần tra lớp Car Nicobar do GRSE thiết kế và chế tạo.
Các chuyên gia nhận định, tăng cường xuất khẩu sang Việt Nam sẽ giúp thúc đẩy ngành công nghiệp quốc phòng Ấn Độ.
Theo chuyên gia Ankur Gupta đến từ hãng kiểm toán Ernst and Young, Ấn Độ đã đề xuất cung cấp 4 tàu tuần tra của GRSE cho Việt Nam. Ngoài ra, tên lửa BrahMos cũng là một sản phẩm xuất khẩu khả thi.
Hôm qua (28/5), ông Praveen Pathak, đại diện tập đoàn BrahMos Aerospace thông báo, Moscow và New Dehli đã xác định danh sách 14 quốc gia có thể thực hiện các hợp đồng xuất khẩu tên lửa hành trình BrahMos do liên doanh Nga-Ấn sản xuất.
"Các cuộc đàm phán với UAE, Chile, Nam Phi và Việt Nam về việc cung cấp tên lửa hành trình siêu âm BrahMos đang ở giai đoạn tiến triển. Chúng tôi cũng đồng thời thảo luận khả năng xuất khẩu tên lửa này đến một số quốc gia khác như: Philippines, Hàn Quốc, Algeria, Hy Lạp, Malaysia, Thái Lan, Ai Cập, Singapore, Venezuela và Bulgaria" - ông Pathak nói.
Về khả năng các hợp đồng đầu tiên có thể được ký kết trước cuối năm nay, ông Pathak khẳng định "điều đó là có thể, và trong năm nay, cũng như trong năm kế tiếp, nhưng trong lĩnh vực này nói về thời hạn chính xác là không thể được".
Trước đó, theo ông Pathak, khách hàng đầu tiên rất có thể là một trong những nước khu vực châu Á-Thái Bình Dương.
Về mặt bằng chung, sản lượng xuất khẩu quốc phòng của Ấn Độ vẫn còn khá khiêm tốn nhưng cũng đã tăng lên đáng kể trong 2 năm qua.
Điều này được thúc đẩy bởi những thay đổi trong chính sách, tạo điều kiện dễ dàng hơn cho hoạt động xuất khẩu trang thiết bị quân sự.
Ngoài ra, New Delhi còn có chính sách cấp hạn mức tín dụng cho các quốc gia thân thiện để mua thiết bị quân sự.
BrahMos là dự án liên doanh giữa Tổ chức nghiên cứu và phát triển quốc phòng Ấn Độ (DRDO) và NPO Mashinostroeyenia (Nga), sau đó thành lập tập đoàn Brahmos Aerospace vào năm 1998. Tên BrahMos được ghép từ tên 2 con sông Brahmaputra và Moskva.
Tên lửa BrahMos có thể đạt tốc độ tối đa đến Mach 3. Hiện tại, phiên bản cải tiến đang được thử nghiệm có thể đạt đến tốc độ Mach 6. Brahmos có tầm bắn tối đa 290km, độ cao bay từ 10m - 15km, mang được đầu đạn nặng từ 200 - 300kg.
Theo Thế giới trẻ
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nhà báo Nguyễn Thông: ĐỘNG CƠ DÙNG FACEBOOK





Facebook là nơi cho con người biểu đạt quyền tự do của mình, quyền được thông tin và tiếp nhận thông tin, nơi giúp chính quyền dễ dàng nắm bắt những thay đổi trong xã hội, nguyện vọng và ý chí của dân chúng để từ đó mà điều chỉnh chính sách, hành vi, thái độ cho kịp thời, phù hợp.

Tôi không đề cập cụ thể, bàn sâu đến chương trình “60 phút mở” của Đài truyền hình trung ương – VTV nữa bởi hai ngày qua hầu như ai coi tivi đều biết, đều nắm được, sau đó các kênh truyền thông đều bàn luận. Ý kiến trái chiều, khác nhau là lẽ đương nhiên, như dư luận trước bất kỳ một chương trình nào khác của VTV lâu nay. Điều nên ghi nhận, với “60 phút mở”, đài truyền hình quốc gia đã tạo ra cuộc tranh luận công khai, cho phép cá nhân được bày tỏ chủ kiến của mình trước người cùng tranh luận, điều mà dường như chúng ta đang thiếu, đang rụt rè trong một xã hội dân sự, bình đẳng.

Cũng dễ hiểu vì sao dư luận đông đảo lại chĩa mũi nhọn phê phán, sự công kích, không hài lòng… vào nữ nhà báo, người dẫn chương trình Tạ Bích Loan và nhà báo nhà thơ Hồng Thanh Quang; đồng thời có sự tán đồng, sẻ chia với một người trong cuộc khác là MC Phan Anh. Dù rằng không phải số đông bao giờ cũng đúng nhưng có lẽ bản clip (đã bị lược bớt) do chính VTV đưa lên mạng internet, sau đó lại rút xuống, đã chứng tỏ những cơn sóng dậy lên có lý do chính đáng của nó.

Cạn nghĩ rằng, với một cơ quan truyền thông hùng mạnh, dày kinh nghiệm như VTV, đây chưa phải là cái gì nghiêm trọng lắm. Có những thứ còn nghiêm trọng, kinh khiếp hơn nhiều từng xảy ra mà họ cũng vượt qua được, rút kinh nghiệm sâu sắc được, thì vụ “đấu tố” này có thể xem như bản beta thử nghệm cho không khí tranh luận dân chủ công khai, tuy có phần sống sượng, vụng về. Hy vọng công chúng thời gian tới sẽ được coi những chương trình dạng như vậy nhưng hay hơn, chất lượng hơn của vị anh cả truyền thông này.

Ở đây, tôi chỉ xin bàn về một khía cạnh, nhưng là nét, là nội dung rất quan trọng toát lên từ cuộc tranh luận mà thiên hạ gọi đùa là “đấu tố” ấy: Việc người dân sử dụng mạng xã hội, đặc biệt là Facebook.

Tôi xin mở đầu phần tiếp theo này bằng những phân tích hợp lý, thẳng thắn và thuyết phục của nhà báo Trần Ngọc Kha công tác tại báo Đại đoàn kết (cơ quan trung ương của MTTQ Việt Nam). Dường như để đáp lại câu vặn vẹo Phan Anh của người dẫn chương trình Tạ Bích Loan rằng “động cơ nào mà anh lại chia sẻ chuyện cá chết trên Facebook”, anh Kha viết: “Facebook thì làm sao? Chia sẻ thì làm sao? Nếu các vị cứ đường đường chính chính tự nhận ra những cái xấu của mình mà thành thực với dân, gần gũi hợp tác với dân một cách thực sự chân thành thì có làm sao? Thay vì ngăn chặn, trấn áp người dân bằng đủ mọi cách để bưng bít thông tin, các vị hãy mở lòng với dân, huy động và gom nhặt mọi nguồn lực trong dân cùng xây dựng và phát triển giữ gìn đất nước. Hãy đăng ký tài khoản và kết bạn với dân trên Facebook, tôi chắc chắn các vị sẽ tìm thấy tiếng nói đồng thuận, cách nghĩ đồng lòng và cách làm đồng mục đích với dân”.

Tôi hiểu ý đồng nghiệp Kha, anh không có ý công kích chị Loan bởi dẫu sao MC Tạ Bích Loan cũng chỉ là người gợi mở vấn đề, anh chỉ muốn nêu việc những người có trách nhiệm với dân hãy nhìn thẳng vào sự thật qua những gì công chúng bộc lộ trên mạng xã hội, đừng phủ nhận truy bức nó (sự thật), cũng như đừng né tránh, thờ ơ với nó. Facebook là công cụ, là kênh thông tin cực kỳ hiệu dụng để những nhà xây dựng và thực hiện chính sách tham khảo, nắm bắt, chứ không phải là thứ tào lao, vớ vẩn, rỗi hơi, nhảm nhí, xuyên tạc của những người bị quy kết là “anh hùng bàn phím”.

Như chúng ta đã biết, nhiều cơ quan nhà nước, tổ chức, đoàn thể, thậm chí cả chính phủ còn sử dụng Facebook như một kênh thông tin, để vừa phổ biến, vừa nắm bắt việc thực hiện chính sách, đường lối, quan điểm. Đó là sự tỉnh táo, thích hợp chứ không phải thú chơi, mốt chơi, không phải dạng “thấy người ta ăn khoai thì mình cũng vác mai đi đào”. Cần nói thẳng ra rằng, quay lưng lại mạng xã hội - Facebook, đóng cửa rào ngõ trước Facebook, thì thiệt nhiều hơn lợi, chưa kể đến tự tách mình ra khỏi dòng chảy cuồn cuộn của thời đại.

Internet, cụ thể là Facebook, một thành tựu của khoa học kỹ thuật trong thời đại điện tử, cực kỳ thông dụng, đại chúng, đơn giản dễ sử dụng, không tốn chi phí, đa chiều, nhạy bén nóng hổi, mọi lúc mọi nơi. Nó chan hòa vào cộng đồng xã hội không phân biệt đẳng cấp, địa vị, từ những nhà lãnh đạo đứng đầu quốc gia, những giáo sư tiến sĩ, những trí thức lừng lẫy, đến những người bình dân nhất trong giới bình dân. Có Facebook, thế giới thu hẹp lại, con người xích lại gần nhau hơn, dễ thông cảm hiểu biết nhau hơn.

Facebook là nơi cho con người biểu đạt quyền tự do của mình, quyền được thông tin và tiếp nhận thông tin, nơi giúp chính quyền dễ dàng nắm bắt những thay đổi trong xã hội, nguyện vọng và ý chí của dân chúng để từ đó mà điều chỉnh chính sách, hành vi, thái độ cho kịp thời, phù hợp. Đừng chỉ nhìn Facebook là nơi chứa đựng những điều xấu xa, chống đối, mà hãy coi là nơi giúp bộ máy công quyền ngày càng tốt hơn, gần dân chúng hơn. Nhà báo Trần Ngọc Kha đã khá tâm đắc khi trích ra nhận xét của ông Obama, vị Tổng thống Mỹ vừa có chuyến thăm Việt Nam rất thành công, ông cho rằng “Khi có tự do biểu đạt và ngôn luận, người dân có thể chia sẻ ý tưởng và tiếp cận internet và mạng xã hội mà không bị ngăn cấm, điều đó sẽ thúc đẩy đổi mới, sáng tạo trong nền kinh tế. Facebook hay các công ty công nghệ lớn đã hình thành như vậy. Và khi có tự do báo chí, nhà báo và blogger đưa ra ánh sáng những bất công, sai phạm, quan chức sẽ bị giám sát và xã hội sẽ có niềm tin vào hệ thống chính trị" (trích phát biểu tại Trung tâm hội nghị quốc gia Mỹ Đình ngày 24.5.2016). Theo ông Obama, hằng ngày chính phủ Mỹ vẫn nhận được không ít những lời phê bình, chỉ trích của người dân qua nhiều kênh thông tin, trong đó có các mạng xã hội nhưng chính sự giám sát đó, việc tranh luận cởi mở đó cũng như sự đối mặt với những khiếm khuyết của mình như vậy đã giúp nước Mỹ mạnh hơn, thịnh vượng hơn, công lý hơn.

Bài học này, kinh nghiệm này, thiết nghĩ không phải chỉ cần cho nước Mỹ.

Đã qua rồi cái thời bóp mồm bịt miệng “Đánh đùng một cái/kêu eng éc ngay/bịt mồm bịt miệng/trói chân trói tay” (Phan Khôi), thời đấu tố quy chụp, chỉ vài chữ vài dòng vài hình ảnh thôi là cũng có thể bị suy diễn nâng thành quan điểm này nọ. Tôi nhớ hồi còn là sinh viên, thầy Hà Minh Đức có kể vụ nhà thơ Xuân Diệu suýt nữa được coi là thành phần theo chủ nghĩa xét lại. Nhà thơ tình nổi tiếng ấy viết: “Hồn tôi cánh rộng mở/đôi bên gió thổi vào/nghĩ những điều hớn hở/như trời cao cao cao” bày tỏ niềm vui sướng của văn nghệ sĩ trong cuộc đời mới, nhưng không may cho ông, có một nhà lãnh đạo về tư tưởng đặt vấn đề “tại sao lại gió thổi đôi bên, cả gió xã hội chủ nghĩa và và tư bản chủ nghĩa à? Tư tưởng cơ hội chủ nghĩa à? Chỉ có một luồng gió thời đại cách mạng thôi”. Kể xong, thầy tôi (nay vẫn khỏe, minh mẫn, từng giữ chức Viện trưởng Viện Văn học) cười bảo “ông Xuân Diệu muốn cãi thì lên trời mà cãi”. Cứ tưởng kiểu cách vu vạ ấy đã lùi tít xa dĩ vãng, ai ngờ đâu đó, lúc này lúc khác ở ta vẫn thỉnh thoảng ló ra, tuy không nghiêm trọng như trước nhưng tạo mối nghi ngờ, lo lắng không đáng có. Việc nhà báo Tạ Bích Loan truy vấn MC Phan Anh về “động cơ gì” khi sử dụng Facebook chỉ là một trong những rơi rớt ấy.

Bây giờ, bên cạnh những kênh thông tin chính thống của nhà nước (một hệ thống báo chí, đài phát thanh, truyền hình dày đặc lên tới cả ngàn đơn vị) còn có sự góp sức đắc lực của mạng xã hội, nhất là Facebook, để phổ biến thông tin. Dù chưa được thừa nhận trong hệ thống báo chí nước ta nhưng có thể nói mạng xã hội, Facebook nóng từng phút, thời sự từng phút, không báo đài nào theo kịp. Nếu coi mỗi người đưa tin (press) là một nhà báo không chuyên thì thời nay người người làm báo, nhà nhà làm báo, nơi nơi làm báo, tụ vào rồi lại tan ra, lan tỏa cực nhanh. Cũng có người đưa thông tin lên với động cơ sâu xa này nọ, nhưng có rất nhiều người chỉ với “động cơ” cực kỳ đơn giản là chia sẻ thông tin, như một việc bình thường trong xã hội, cũng như khi ta cầm cái chổi quét nhà, giặt cái áo bẩn. Động cơ mà thực ra là không có động cơ, nó cứ tự nhiên như đời vậy.

Chúng ta hoàn toàn thông cảm với những người chức việc nhà nước, để thi hành nhiệm vụ, để đạt mục đích nào đấy, có khi phải ngăn chặn mạng xã hội, ngăn Facebook, như một giải pháp tình thế. Ai cũng hiểu rằng, cách làm vậy chỉ mang tính nhất thời, không bền vững, bởi thực tế không thể ngăn chặn được giữa thời buổi công nghệ đa dạng này. Điều cần làm là phải có những quy định hợp lý, cụ thể, thực tế; phải có luật, căn cứ vào luật mà xử lý. Trong đời cũng như trên Facebook, nếu vi phạm pháp luật thì áp chế theo pháp luật. Ai vi phạm thì chịu trách nhiệm. Người sử dụng mạng xã hội cũng nên tự hiểu đó không phải là nơi muốn làm gì thì làm mặc dù quyền thông tin và được thông tin không ai có thể cấm đoán.

Có như vậy, mới tránh khỏi chuyện quy kết cho nhau “động cơ gì” mà lên Facebook.

Nguyễn Thông
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Sự đồng thuận của Mỹ về Trung Quốc đang dần đổ vỡ

america-us-china-e1415025915427

Nguồn: Hugh White, “America’s China consensus slowly unravels”, The Interpreter, 17/04/2015
Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng | Biên tập: Lê Hồng Hiệp
Trong một thời gian dài, suy nghĩ của Mỹ (và Úc) về Trung Quốc đã bị chi phối bởi một sự đồng thuận rộng rãi rằng, mặc dù có nhiều dấu hiệu cho thấy sự quyết đoán đang gia tăng, Bắc Kinh không phải là thách thức chính đến quyền lãnh đạo của Mỹ ở châu Á. Lập luận này cho rằng, dù có nói gì thì các nhà lãnh đạo của Trung Quốc đều biết rằng tương lai nền kinh tế của họ quá bấp bênh, hệ thống chính trị của họ quá mỏng manh, quân sự của họ quá yếu và các đồng minh của họ thì không đủ để cho phép họ tranh đua với ưu thế của Mỹ. Họ cũng biết rằng sự ổn định và thịnh vượng của Trung Quốc phụ thuộc vào trật tự khu vực mà chỉ có Mỹ mới có thể duy trì.
Do đó, sự đồng thuận này đã kết luận rằng Mỹ không cần phải đáp trả gì nhiều, chỉ trừ việc nhắc nhở mọi người rằng Mỹ vẫn sẽ nán lại ở khu vực. Do đó, chính sách “xoay trục” châu Á của Mỹ ra đời, trong đó nhấn mạnh đến các tuyên bố hơn là hành động thực chất.
Nhưng sự đồng thuận đó có thể đang đổ vỡ, ít nhất là tại Mỹ. Thất bại của Washington [trong việc ngăn chặn] Ngân hàng Đầu tư Hạ tầng châu Á (AIIB) dường như là một hồi chuông cảnh tỉnh và giờ đây, chỉ trong tuần qua, hai báo cáo quan trọng từ trung tâm của giới hoạch định chính sách đối ngoại Mỹ cũng chỉ ra điều tương tự. Cả hai báo cáo cho rằng việc Trung Quốc thách thức ưu thế của Mỹ ở châu Á là sự thật, và rằng chính sách của Mỹ ở châu Á cần phải thay đổi triệt để để ứng phó.
Nhìn thoáng qua có vẻ có những quan điểm trái ngược về cách phản ứng, theo những cách dường như giúp đóng khung các tranh luận hiện tại của Washington trong việc làm thế nào để đối phó với thách thức từ Bắc Kinh.
Thực tế, như chúng ta sẽ thấy, các báo cáo này đều miễn cưỡng trong việc giải quyết các vấn đề thực sự, cũng như thừa nhận những rủi ro thực sự.
Một trong các báo cáo này được thực hiện bởi Kevin Rudd (Mỹ-Trung Quốc trong thế kỷ 21: Tương lai của quan hệ Mỹ – Trung dưới thời Tập Cận Bình.) Đây là công trình của ông trong quãng thời gian làm việc tại Trung tâm Belfer của Harvard, và hiện đang được quảng bá tại Hội Châu Á (Asia Society.) Báo cáo còn lại, đến từ Hội đồng Quan hệ Đối ngoại, được thực hiện bởi hai chuyên gia chính sách nặng ký là Robert Blackwill và Ashley Tellis (Điều chỉnh đại chiến lược của Mỹ đối với Trung Quốc).
Cả hai báo cáo đều cho rằng tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc đánh dấu sự thay đổi căn bản trong phân chia quyền lực ở châu Á, và các nhà lãnh đạo của Trung Quốc, đặc biệt là Tập Cận Bình, đang quyết tâm sử dụng sức mạnh mới này để chuyển đổi trật tự tại châu Á theo hướng có lợi cho họ. Lập luận của Rudd về điều này là đặc biệt mạnh mẽ, một phần vì ông dựa trên sự hiểu biết sâu sắc về Trung Quốc. Điều này cũng nhắc nhở chúng ta rằng, nếu sử dụng tốt nhất khả năng của mình, Rudd có thể là một chuyên gia phân tích xuất sắc thực sự.
Vì vậy, nước Mỹ phải làm những gì? Rudd nói rằng Mỹ và Trung Quốc có thể giải quyết những căng thẳng gây ra bởi tham vọng của Trung Quốc bằng ngoại giao. Hai cường quốc này có thể và nên đàm phán trong tinh thần “chủ nghĩa hiện thực mang tính xây dựng”, tăng cường hợp tác đối với các lợi ích tương đồng, trong khi cách ly và quản lý các vấn đề mà họ không nhất trí.
Đó là một ý tưởng tốt đẹp, nhưng lập luận của Rudd lại tránh né câu hỏi khó: Liệu Mỹ có sẵn sàng thảo thuận với Trung Quốc theo cách ông đề xuất? Mô hình của ông ám chỉ một sự thay đổi hoàn toàn trong bản chất quan hệ Mỹ – Trung để từ đó, họ trở thành những đối tác thực sự trong lãnh đạo khu vực. Nhưng đề xuất của ông sẽ chỉ thành hiện thực nếu Mỹ sẵn sàng đối xử với Trung Quốc như một đối tác ngang hàng, điều tất nhiên là không phù hợp với mô hình cũ của Mỹ trong lãnh đạo khu vực châu Á.
Tuy nhiên, Rudd không thừa nhận điều này trong báo cáo của mình. Rõ ràng, ông hiểu rằng đó là điều mà các độc giả Mỹ của ông sẽ không muốn nghe, nhưng cho đến khi vấn đề này được đề cập một cách thẳng thắn thì cuộc tranh luận của Mỹ về Trung Quốc sẽ tiếp tục trượt khỏi mục tiêu chính.
Blackwill và Tellis không mắc phải sai lầm này. Họ thẳng thắn cho rằng việc duy trì ưu thế là mục tiêu chiến lược chính của Mỹ, và họ hối thúc Mỹ tăng cường kinh tế, quân sự và ngoại giao ở châu Á để bảo vệ mình trước thách thức từ Trung Quốc. Thực tế, đây là một chính sách ngăn chặn. Việc thỏa hiệp với tham vọng của Trung Quốc ở bất cứ đâu cũng phải bị loại trừ.
Họ khá lạc quan về những gì chính sách này sẽ yêu cầu. Họ kêu gọi tăng cường nền kinh tế, sức mạnh quân sự và ngoại giao của Mỹ để chống lại sự trỗi dậy của Trung Quốc, và một sự phản công “địa kinh tế” nhằm chống lại ảnh hưởng kinh tế đang lan rộng của Trung Quốc, nhưng lại không đề cập tất cả những điều này có thể được thực hiện như thế nào. Điều này cho thấy họ không thực sự hiểu rằng sự trỗi dậy của Trung Quốc đã thay đổi một cách triệt để sự phân chia quyền lực như thế nào.
Nhưng quan trọng hơn, Blackwill và Tellis rất lạc quan về phản ứng của Trung Quốc. Họ nói rằng Mỹ có thể tiếp tục hợp tác với Trung Quốc trong những vấn đề phù hợp với các lợi ích của Mỹ, đồng thời, không ngừng chống lại tham vọng của Trung Quốc trong việc xây dựng một trật tự khu vực mới. Đề xuất chính sách của họ giả định rằng Trung Quốc sẽ vui vẻ tiếp tục hợp tác với Hoa Kỳ về những điểm này. Nói cách khác, đề xuất của họ giả định những gì phân tích của họ bác bỏ: cuối cùng thì, Trung Quốc không thực sự nghiêm túc trong việc thách thức ưu thế của Mỹ. Nếu đó là sự thật, Mỹ có thể làm theo đề xuất của Blackwill và Tellis để chống lại thách thức của Trung Quốc và duy trì ưu thế của mình mà không cần mạo hiểm phá vỡ quan hệ với Trung Quốc, và đó là những gì người Mỹ muốn nghe.
Điều này đưa chúng ta đến điểm mà Blackwill và Tellis hội tụ với Rudd. Cả hai báo cáo trốn tránh thực tế là sự cạnh tranh chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc suy cho cùng được gây ra bởi chính các mục tiêu về cơ bản là mâu thuẫn nhau của họ ở châu Á. Mục tiêu chính của Mỹ là duy trì vị trí lãnh đạo ở châu Á, và của Trung Quốc là nhằm thay thế Mỹ.
Rudd giả định rằng Mỹ sẽ từ bỏ mục tiêu của mình, trong khi Blackwill và Tellis giả định Trung Quốc sẽ lùi lại. Rudd, ít nhất, giả định rằng Trung Quốc cũng sẽ sẵn sàng thỏa hiệp, trong khi Blackwill và Tellis dường như nghĩ rằng nước Mỹ không cần nhượng bộ đáng kể để tận hưởng một mối quan hệ hòa bình với Trung Quốc.
Tất nhiên, rủi ro lớn là sẽ không bên nào sẵn sàng nhượng bộ, bởi vì cả hai đều mong bên còn lại nhượng bộ trước. Điều đó dẫn đến đối đầu leo thang và nguy cơ chiến tranh cao hơn bao giờ hết. Cả hai báo cáo đánh giá thấp nguy cơ đó, bởi vì họ dường như đã giả định Trung Quốc không muốn thay đổi trật tự khu vực đủ để dẫn đến nguy cơ xảy ra một cuộc đối đầu quân sự với Mỹ.
Hugh White là giáo sư về nghiên cứu chiến lược tại Đại học Quốc gia Australia.
- See more at: http://nghiencuuquocte.org/2015/05/01/su-dong-thuan-cua-my-ve-trung-quoc-dang-dan-do-vo/#sthash.HqJsHN53.dpuf
Phần nhận xét hiển thị trên trang