Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 5 tháng 3, 2016

DỰ THẢO NỘI QUY DÀNH CHO VỢ



Phần nhận xét hiển thị trên trang

PHÁT BIỂU CỦA BAN GIÁM KHẢO VỀ GIẢI NGHIÊN CỨU – PHÊ BÌNH




Thưa các bạn,
Ban Giám khảo Giải Văn Việt lần thứ nhất về Nghiên cứu Phê bình gồm nhà nghiên cứu Hoàng Dũng, nhà thơ Hoàng Hưng, nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân, nhà văn Nguyên Ngọc, và nhà nghiên cứu phê bình Phạm Xuân Nguyên đã nhất trí với 5/5 số phiếu trao:
Giải chính thức cho nhà phê bình Inrasara với loạt bài Hồ sơ biên bản so sánh.
Là một nỗ lực dựng lên diện mạo thơ Việt đương đại, là những trăn trở về ý nghĩa và đóng góp thật sự của thơ cùng nghệ thuật nói chung, Hồ sơ biên bản so sánh dự định gồm 30 bài, đã đăng 19 bài trên Văn Việt đều đặn từ ngày 5/10/2015 đến nay.
Biên độ thơ Inrasara chọn lựa để “lập hồ sơ” là không giới hạn: thơ của tác giả trong nước và ngoài nước, thơ truyền thống (như lục bát) và cách tân (như tạo hình), thơ từ nhiều trường phái hiện đại và hậu hiện đại, thơ đa diện chủ đề từ tình yêu đến thời sự chính trị, thơ là trò chơi con chữ trong khung khổ mặt giấy đến trò chơi trình diễn trên sân khấu và đời thường… Tất cả đều cùng hướng đến hai mục tiêu, cũng là hai thao tác để anh đưa “hồ sơ” đến với độc giả: giới thiệu và so sánh.
Anh không bận tâm đến việc chọn mẫu tác phẩm giới thiệu sao cho là tiêu biểu nhất cho một nhà thơ, cho một nền thơ, như kiểu thẩm định của các bậc tiền bối (Hoài Thanh chẳng hạn) mà để mặc việc lựa chọn chảy theo dòng thời sự có khi đầy bột phát, ngẫu hứng và tất nhiên đi liền với sự độc đáo của sinh thể thơ, như trường hợp thơ thời sự của Lê Vĩnh Tài về chủ quyền biển đảo, thơ “Đâm ja” của Bùi Chát đưa ngôn ngữ về phía ngoại biên, thơ đột phá thi liệu (“bò” thay thế “ngựa”) của Lam Hạnh bên dàn đồng ca một giọng của các nhà thơ trẻ, “thơ” “Tôi là cột điện” biến đường phố thành không gian trình diễn của Lê Anh Hoài, thơ tạo hình của Trần Wũ Khang,… Những nghịch âm đa giọng này đã được lựa chọn (tưởng chừng) ngẫu nhiên theo tùy hứng người phê bình lại vẽ lên tương đối rõ ràng về khuôn mặt thơ Việt đương đại. Đây không phải một ăn may, mà là quá trình làm việc có quy trình dựa trên một số nội hàm chủ chốt: “hậu hiện đại”, “ngoại vi” và “tự do”.
“Hậu hiện đại”, “ngoại vi” và “tự do”. Đây cũng là ba từ khóa quan trọng có mặt trong hầu hết các bài viết. Nhà văn bị đóng khung vào định chế và tự do viết bị thách thức: “Đừng nói “tàu Trung Quốc”, khi báo chí chính thống Nhà nước vẫn còn xài khái niệm “tàu lạ”. Đừng động đến đề tài chiến tranh biên giới Việt Trung khi 16 chữ vàng vẫn còn linh nghiệm. Thi đua yêu nước, nhưng đừng viết về các vụ biểu tình. Đừng nhấn vào bề tối của cơ chế, như chuyện tham nhũng chẳng hạn; nếu có ngứa tay viết về nó, tránh để đừng chạm đến mấy chiếc ghế có vai trò trọng trách. Toàn dân sử dụng Facebook là tốt, song đừng like mấy bài bình luận chống phá chế độ ta. Tự do ngôn luận, đừng vi phạm tinh thần Nghị định 72. Tóm lại, nhà văn Việt Nam “viết hoàn toàn tự do” (chữ của nhà phê bình Nguyễn Thanh Sơn), cả “sống và viết hoàn toàn tự do” (chữ của nhà thơ Vi Thùy Linh), nhưng nhớ đừng đụng đến đề tài tự do chính trị như vụ đa nguyên, đa đảng. Mênh mông đừng hiện diện trong/ lởn vởn quanh đầu óc nhà văn Việt Nam, khi ngồi trước trang giấy/ màn hình trắng (Bài 16: Từ “Đừng!” của Đinh Linh đến “Luộc” của Lý Đợi). Nhưng những cái “đừng” húy kị ấy lại là nguồn cảm hứng sáng tác vô bờ bến cho những nhà thơ yêu sự dấn thân trong cuộc đời và thể nghiệm trong nghệ thuật. Inrasara luôn đứng về phía những người này. Họ tạo nên một dòng thơ hậu hiện đại gắn liền với phía ngoại vi vì họ ưa sự tự do, cái mà dòng thơ được coi là phía trung tâm/ chính thống không có được. Inrasara đã không chút thỏa hiệp với điều này: “[T]hứ phù phiếm trả giá bằng bao tốn kém với cả khối tòng thuộc… thì còn gì là tự do” (Bài 3: Thơ trình diễn Việt – từ hiện đại đến hậu hiện đại tiến lên… sến). Và bởi vì thơ “sợ sự thật”, “thơ tự bịt mắt và bó tay để hạn định mình làm ra thứ chữ nghĩa có thể được đăng, được in, để được đăng đàn diễn các loại” thì “mọi trò diễn chỉ dẫn đến thứ ảo tưởng của ảo tưởng: ảo tưởng về tự do” (bài 19: Lê Vĩnh Tài & những trò diễn của thơ).
Vậy là, anh đã hi sinh cái cụ thể cho cái khái quát, không nhằm khắc họa khuôn mặt kĩ càng từng phong cách thơ mà dựng lại một con đường cho thơ và kiên định với lựa chọn ấy. Đó cũng là lí do anh chọn thao tác so sánh một cách rất… phản so sánh khi không giấu giếm thái độ đứng về phía những nhà thơ/ bài thơ mạnh dạn cách tân thi tứ, lối chữ cắt dán và giọng điệu giễu nhại của hậu hiện đại trong tương quan với các bài thơ/ dòng thơ “phải đạo”, đúng đường lối. Đó không chỉ là lí tưởng mà còn là nỗi niềm đau đáu. Nên bỏ qua thao tác khoa học nghiêm nhặt, ở đây có sự ưu ái trước tiên là dành cho cái mới và thứ hai là dành cho những nhà thơ trẻ, những người có khả năng chấp nhận và tìm tòi cái mới.
Cái táo bạo và độc đáo của Inrasara đôi khi ở ngay trong thao tác so sánh. Chẳng hạn nếu viết về Tố Hữu hay Bùi Chát mỗi người một bài độc lập thì chẳng có gì làm ai ngạc nhiên. Nhưng đem so sánh Tố Hữu với Bùi Chát, mà lại về chuyện “nhìn lại thế đứng của đĩ Việt Nam”, thì Inrasara đã chơi một cú montage, làm bật lên bao ý nghĩa ngầm ẩn.
Hồ sơ biên bản so sánh” là một lao động nghệ thuật nghiêm túc và tâm huyết, là một cách đọc về thơ tiếng Việt mang tính khơi gợi và có khả năng truyền cảm hứng cho độc giả nói chung. Có lẽ, cái đáng quý sau cùng là sự “tự thức, tự tri, tự ngộ” (chữ dùng của Inrasara) sau khi khép lại hồ sơ, của một ngòi bút phê bình đậm nhân tình thức gọi nhân tính đương đại đang bên bờ hố thẳm.
*
* *
Cũng với 5/5 số phiếu, Ban Giám khảo nhất trí trao:
Giải đặc biệt cho nhà nghiên cứu Thụy Khuê với loạt bài về Văn học miền Nam 1954-1975 và công trình biên khảo Khảo sát công trạng của những người Pháp giúp vua Gia Long.
Thụy Khuê là người viết mở đầu cho chuyên mục Văn học miền Nam 54-75, với một bài khái quát nhan đề Văn học Miền Nam đăng vào giữa tháng 7/2014 và sau cùng là bài về Nhất Linh đăng vào cuối tháng 10/2015, tổng cộng là 14 kỳ, trong số (cho đến nay) 185 kỳ của chuyên mục này.
Thụy Khuê khảo sát Văn học miền Nam, chú ý đến các đặc điểm, đến nhóm và khuynh hướng, đến lực lượng sáng tác, đến tình hình báo chí nói chung đã đành, mà còn chú ý đặc biệt đến vai trò của triết học và các nhà viết sách triết học. Vì thế, trong số 12 tác giả bà có bài viết riêng, thì đến ba người – Nguyễn Văn Trung, Trần Thái Đỉnh và Trần Văn Toàn – là giáo sư Triết. Không những thế, Thụy Khuê còn dành thì giờ phân tích một số cuốn sách triết tiêu biểu của các tác giả này. Đó là cách tiếp cận rất đúng, nhất là nếu ta nhớ ở miền Nam triết học có ảnh to lớn như thế nào.
Các tác giả được Thụy Khuê viết riêng đều tiêu biểu cho Văn học miền Nam 1954 – 1975, từ Nhất Linh, Vũ Khắc Khoan, Bình Nguyên Lộc, đến Thanh Tâm Tuyền, Dương Nghiễm Mậu, Nguyên Sa, Võ Phiến, Mai Thảo, Bùi Giáng. Mỗi tác giả là một bài viết không dài, nhưng cho thấy được hồn cốt của tác giả đó. Tất nhiên, Văn học miền Nam không chỉ chừng ấy khuôn mặt và có lẽ Thụy Khuê cũng chưa dừng việc nghiên cứu của mình ở đó.
Là người chuyên viết về văn học, Thụy Khuê là người viết chắc tay và đáng tin cậy về vấn đề này. Nhưng đáng ngạc nhiên, là qua địa hạt Sử học, Thụy Khuê có một công trình đầy khám phá: Khảo sát công trạng của những người Pháp giúp vua Gia Long. Đây là một khảo cứu công phu đăng trên Văn Việt từ giữa tháng 3 năm 1975 đến cuối tháng 10 cùng năm, cả thảy đến 32 kỳ.
Đề tài không mới. Trước Thụy Khuê 100 năm, trên tập san Đô thành hiếu cổ (BAVH) từ 1917 đến 1926, L. Cadière chủ xướng và thực hiện loạt bài Les français au service de Gia Long. Từ đó đến nay, hàng chục công trình của nhiều nhà sử học tên tuổi cày đi xới lại vấn đề này. Làm thế nào mà Thụy Khuê vượt qua các những người đi trước, những Charles Gosselin, Charles B. Maybon, Léopold Cadière, Georges Taboulet, Charles Fourniau,… về phía Pháp; những Trần Trọng Kim, Trần Huy Liệu, Phan Khoang, Phạm Văn Sơn, Đào Đăng Vỹ, Lê Thành Khôi, Nguyễn Thế Anh, Nguyễn Khắc Ngữ, Tạ Chí Đại Trường,… về phía Việt Nam?
Trước hết, đó là nhờ tác giả biết dựa chắc vào sử triều Nguyễn, đặc biệt là Đại Nam thực lục. Đây là cuốn sử bắt đầu in khi Minh Mạng qua đời, do chính nhà vua cho soạn nhưng không duyệt, và có chứng cứ cho thấy các sử thần được tự do trong viết sử. Thứ hai, là nhờ tác giả đối chiếu các sử liệu, tỉ mỉ và cẩn thận, với tinh thần phản biện cao, giữa Đại Nam thực lục và tư liệu của Pháp và giữa các tư liệu của Pháp với nhau, chứ không vội vàng tin một chiều vào tư liệu của một phía. Đó là cả một cuộc điều tra lịch sử công phu và nghiêm ngặt, được gợi hứng từ công trình Nguyễn Văn Tường (1824-1886) và cuộc chiến chống đô hộ Pháp của nhà Nguyễn của Nguyễn Quốc Trị (tác giả tự xuất bản, 2013, Maryland, Hoa Kỳ), nhưng đi xa hơn rất nhiều.
Kết quả, là những kết luận có tính chất lật đổ, phá tan tành cái mà bà gọi là “huyễn sử”. Chẳng hạn:
· Bá Đa Lộc hoàn toàn không giúp được gì cho Gia Long.
· Những người Pháp được tôn xưng là “sĩ quan”, “kỹ sư”, “kiến trúc sư”, nhà lãnh đạo, tổ chức và huấn luyện quân đội, xây dựng những thành quách “Vauban” ở Việt Nam… thực ra là những người lính vô học, đào ngũ, không đủ kiến thức để làm được những công việc đó.
· Tất cả mọi công trình xây dựng (như thành Gia Định và thành Diên Khánh, cũng như kinh thành Huế sau này), đóng tàu và luyện tập quân sự đều do người Việt thực hiện dưới sự điều khiển của chính Gia Long.
· Hai tàu chiến Pháp Gloire và Victorieuse đến Đà Nẵng, ngày 15/4/1847, đã tấn công lén, tiêu diệt 5 thuyền chiến bọc đồng của triều đình, rồi bỏ trốn, chứ không phải bị tàu Việt tấn công trước.
· Về mặt kỹ thuật, tàu Việt thời Gia Long ngang ngửa với tàu phương Tây.
· Tự Đức có “một chính sách chống ngoại xâm ôn hoà, sáng suốt, và có tổ chức”, chứ không phải là một ông vua bạc nhược, chỉ ham thơ văn.
Bằng các tư liệu không đáng tin, thậm chí có thể khẳng định là ngụy tạo, các sử gia Pháp cố dựng lên huyền thoại “trước khi người Pháp đến, ta không có gì cả, chính người Pháp đã đem “văn minh” cho chúng ta và dựng lại ngai vàng cho nhà Nguyễn”. Điều đáng nói là “lịch sử” bịa đặt của các học giả thuộc địa của Pháp lại ảnh hưởng đến hầu hết các sử gia Việt Nam, khi họ “tận tín” vào sử liệu của Pháp. Bằng công trình này, Thụy Khuê khẳng định: “Chúng ta đã mất nước về tay Pháp; thất bại đó ta phải chịu trách nhiệm, nhưng không thể để cho dĩ vãng lịch sử của dân tộc bị cướp trắng [...]”. Bà đã khai quật được lịch sử bị chôn vùi, một cách có chủ đích hay do mặc cảm tự ty đối với phương Tây hoặc do thiên kiến chính trị.
Thụy Khuê chủ trương viết lịch sử như nó vốn có, chứ không phải để “đánh giá” lịch sử. Bà phản đối việc “người ta tự đứng trên lịch sử để phát biểu và không cần biết những sự thực xoay quanh những nhân vật lịch sử này như thế nào. Người ta không tìm hiểu, nghiên cứu, mà tùy hứng “đánh giá”: Người ta kết tội Phan Thanh Giản phản động rồi sau “đánh giá lại” là “yêu nước”. Và bà chua xót nhận xét: “Lịch sử viết theo đúng quy luật như thế, tôi nghĩ rằng thời đại chúng ta còn kém xa thời đại Minh Mạng”.
*
* *
Trao giải chính thức cho Inrasara và giải đặc biệt cho Thụy Khuê, Ban Giám khảo muốn cổ vũ cho một lối phê bình “không sợ sự thật”, một thái độ nghiên cứu đi đến cùng sự thật. Nói như Kinh Thánh, “Sự thật sẽ giải thoát anh em” (Jean 8: 32).
Xin cảm ơn các bạn. Xin cảm ơn Inrasara và Thụy Khuê.
http://vanviet.info/so-dac-biet/pht-bieu-cua-ban-gim-khao-ve-giai-nghin-cuu-ph-bnh/
Phần nhận xét hiển thị trên trang

HÀ NỘI SẮP ĐƯỢC MỞ RỘNG RA ...GẦN KHẮP MIỀN BẮC

 

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và các đại biểu xem bản đồ điều chỉnh quy hoạch xây dựng vùng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050. (Ảnh: Đức Tám/TTXVN) 

Quy hoạch Vùng Thủ đô Hà Nội được mở rộng ra thêm 3 tỉnh

TTXVN/Vietnam+
03/03/16 17:44 
Tễu Blog: Kinh khủng quá các bác ạ! Thế này thì trái tim Việt Nam to quá. Lần trước các bác mở rộng Hà Nội, rồi đến khi họp cái Đại hội gì gì ấy, là Bộ Chính trị đã kiểm điểm nhận sai lầm quyết định vội vã, duy ý chí, không nghe phản biện trong việc mở rộng HN rồi. Giờ Đại hội xong rồi, lại mở. Có lẽ sẽ sáp nhập toàn bộ Miền Bắc thành thủ đô mất! Các bác thật lãng mạn. Mà nghe đâu cứ mỗi lần tách nhập địa giới hoặc bộ ngành là lại....
Ngày 3/3 tại Hà Nội, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chủ trì Hội nghị Báo cáo đồ án điều chỉnh quy hoạch xây dựng vùng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 do Ban chỉ đạo quy hoạch và đầu tư xây dựng vùng Thủ đô Hà Nội tổ chức.

Tham dự hội nghị có Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Phó Thủ tướng-Bí thư Thành ủy Hà Nội Hoàng Trung Hải, lãnh đạo các tỉnh trong vùng Thủ đô cùng các bộ, ban, ngành trung ương và đông đảo các chuyên gia tư vấn trong nước và quốc tế.

Đồ án điều chỉnh quy hoạch xây dựng vùng Thủ đô Hà Nội nhận được ý kiến tư vấn, đóng góp của nhiều chuyên gia, tổ chức quốc tế uy tín và các hội nghề nghiệp chuyên môn.

Đồ án được xây dựng nhằm đáp ứng 3 mục tiêu: Có sự phân công, hợp tác, chia sẻ và liên kết giữa các địa phương trong vùng và đảm bảo phân bổ hiệu quả nguồn lực quốc gia; xây dựng đồng bộ, hiện đại hệ thống mạng lưới hạ tầng và phát triển cân bằng giữa đô thị và nông thôn; đồ án điều chỉnh làm cơ sở để lập và điều chỉnh các quy hoạch khác và đề xuất cơ chế chính sách và mô hình quản lý vùng…

Phạm vi điều chỉnh quy hoạch vùng Thủ đô gồm toàn bộ ranh giới của Hà Nội với 9 tỉnh xung quanh, trong đó Phú Thọ, Thái Nguyên và Bắc Giang là 3 tỉnh được mở rộng thêm vào quy hoạch với tổng dân số 17,6 triệu người. Toàn bộ quy hoạch vùng Thủ đô sẽ có tổng diện tích trên 24.300 km2, tăng gần gấp đôi so với trước đây, chiếm 7,3% diện tích tự nhiên toàn quốc và bằng 80% diện tích so với vùng Thành phố Hồ Chí Minh. Tầm nhìn vùng Thủ đô Hà Nội đến năm 2050 sẽ là vùng đô thị lớn, có chức năng kinh tế tổng hợp không chỉ của quốc gia mà cả khu vực Châu Á-Thái Bình Dương.

Tại hội nghị, lãnh đạo Chính phủ, các bộ, ngành liên quan, các địa phương và các chuyên gia đã nêu quan điểm, đề xuất nhiều kiến nghị liên quan đến phạm vi điều chỉnh quy hoạch, định hướng phát triển không gian vùng, các biện pháp cụ thể để phát triển đồng bộ hệ thống giao thông trọng điểm như đường vành đai, đường sắt cũng như phát triển công nghiệp, nông nghiệp, du lịch, mạng lưới y tế, giáo dục, thương mại, các vấn đề liên quan đến bảo vệ môi trường, kế hoạch sử dụng đất gắn với các cơ chế, chính sách, chương trình, dự án ưu tiên đầu tư và mô hình quản lý vùng Thủ đô… 
 
Đường vành đai 2, đoạn Nhật Tân-Cầu Giấy. (Ảnh: Huy Hùng/TTXVN) 

Phát biểu kết luận hội nghị, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng hoan nghênh Ban chỉ đạo quy hoạch và đầu tư xây dựng vùng Thủ đô Hà Nội mà trực tiếp là Bộ Xây dựng đã chủ trì xây dựng đồ án quy hoạch bám sát các mục tiêu đề ra.

Thủ tướng đề nghị Ban Chỉ đạo tiếp thu các ý kiến tại hội nghị, cập nhật, hoàn thiện đồ án sớm trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Trên cơ sở đó, các địa phương trong vùng tiếp tục quan tâm phát huy nội lực, tiềm năng lợi thế của mình để phát triển, nhất là tiềm năng về đất đai, du lịch. Năng động, sáng tạo trong thu hút các nguồn lực đầu tư, nhất là nguồn lực đầu tư ngoài xã hội, nguồn lực đầu tư nước ngoài nhằm thúc đẩy phát triển hệ thống hạ tầng kinh tế-xã hội, nâng cao đời sống mọi mặt của người dân.

Nhấn mạnh vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của Thủ đô Hà Nội và tiến trình phát triển đúng hướng sau khi triển khai quy hoạch vùng Thủ đô, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng, trong quá trình vận động và phát triển đã nảy sinh trong thực tiễn một số lĩnh vực cần phải cập nhật quy hoạch vùng Thủ đô với tinh thần chủ động đi trước một bước để đầu tư phát triển đồng bộ, không thể cắt khúc, nhất là về hạ tầng giao thông, phát triển công nghiệp, điện, y tế, giáo dục…

Thủ tướng nhấn mạnh, quy hoạch xây dựng vùng Thủ đô bao gồm Hà Nội là trung tâm và 9 tỉnh có địa giới giáp với Hà Nội có tính đến sự liên kết nhằm phát triển vùng nhanh bền vững, đi nhanh lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa, gắn chặt với nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, văn hóa là nền tảng và quốc phòng an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên…

Về quan điểm mô hình quản lý vùng Thủ đô, Thủ tướng nêu rõ, không thể có chính sách riêng cho từng vùng mà các địa phương cần phối hợp với nhau tính toán phát huy nguồn lực từ đất đai, ngân sách địa phương, thu hút nguồn lực xã hội bằng nhiều hình thức khác nhau, thu hút đầu tư nước ngoài để thực hiện quy hoạch này. Ban chỉ đạo quy hoạch và xây dựng vùng Thủ đô cùng các địa phương đề xuất các cơ chế nhằm tạo điều kiện khai thác tốt nhất, tiềm năng lợi thế để phát triển.

Thủ tướng cũng yêu cầu các đơn vị liên quan rà soát hoàn thiện lại quy hoạch phòng chống lũ, mạng lưới đê điều vùng Thủ đô; giao Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn phối hợp với Hà Nội và các địa phương khôi phục lại toàn bộ hệ thống các sông, khôi phục, nạo vét, từng bước kè các nơi, vừa làm đẹp, vừa đảm bảo thoát nước, giao thông thủy tránh tình trạng lặp đi lặp lại là thành phố luôn bị ngập sau mưa.

Trên cơ cở rà soát lại hệ thống hạ tầng giao thông cả đường bộ, đường không, khu kinh tế trong vùng Thủ đô, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu tập trung đẩy nhanh tiến độ xây dựng các tuyến đường sắt trên cao, tàu điện ngầm và các tuyến vành đai Hà Nội; tạm dừng các dự án giao thông chưa cấp thiết, không còn phù hợp với thực tiễn; khuyến khích tư nhân đầu tư vào các tuyến đường sắt chất lượng cao; không phát triển tràn lan các khu công nghiệp bám sát các trục giao thông chính; quy hoạch phát triển nghĩa trang gắn với khuyến khích hình thức hỏa táng; tập trung quy hoạch xây dựng các khu xử lý rác thải cách xa khu dân cư và không gây ô nhiễm môi trường…/ 
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Từ vụ FLC Quảng Cư, nhớ trận thua đẹp của ông Mai Văn Ninh




Trương Duy Nhất
Công an Thanh Hoá đã quyết định khởi tố. Có thể không ít người sẽ bị bắt, sẽ ra toà và vào tù, trong vụ biểu tình phản đối đại dự án resort của tập đoàn FLC.

Được biết, hơn một tuần qua, hàng trăm ngư dân vùng Quảng Cư đã tập trung biểu tình, vây trụ sở UBND tỉnh ra yêu sách đòi trả lại mặt biển để sinh nhai.

Nhớ lại vụ việc cách đây 4 năm, cũng từ Thanh Hoá. Hơn 400 tiểu thương biểu tình vây trụ sở UBND tỉnh phản đối, đòi quyền lợi trong dự án chợ Bỉm Sơn.

Cho dù nhận thấy những yêu sách của bà con chưa hẳn đúng hoàn toàn, “có cái đúng nhưng cũng có cái sai”. Nhưng ông Mai Văn Ninh, khi đó là Bí thư tỉnh uỷ, đã quyết định đứng về phía dân, ra lệnh huỷ quyết định “chuyển đổi mô hình quản lý” chợ Bỉm Sơn”.

Không có quyết định khởi tố nào. Không trấn áp. Không ai bị bắt.

Bức ảnh ông Ninh Bí thư tươi cười trong vòng vây của các tiểu thương nghèo là một hình ảnh đẹp, hiếm hoi.

Tôi gọi đó là “một trận thua đẹp“. Nó khác, ngược hẳn với những khuôn mặt hầm hừ nhan nhản trong các cuộc chiến đất đai mà chính quyền luôn tìm cách thắng dân.

Ông Ninh rời Thanh Hoá sau đó không lâu. Giờ đương nhiệm Phó trưởng ban Tuyên giáo trung ương.


Nguồn: Một góc nhìn khác
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trung Quốc sẽ leo thang sau khi Mỹ đưa tàu sân bay đến Biển Đông

>> Tổng thống nghèo nhất thế giới rời chính trường

>> Sự thật Công thư 1958 của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng
>> Trung Quốc đang tìm cách chiếm thêm bãi Hải Sâm, Trường Sa?
>> Thạc sĩ 33 tuổi được bổ nhiệm Phó tổng cục trưởng Đường bộ
>> Hoa hậu Phương Nga bị cáo buộc lừa 'đại gia' 16 tỷ đồng


ĐÔNG BÌNH
(GDVN) - Đây là đợt tập kết lực lượng quân sự có quy mô nhất của Mỹ ở khu vực Biển Đông trong thời gian gần đây, rõ ràng đang cổ vũ cho các đồng minh và đối tác.

Phát đi tín hiệu rõ ràng

Defense News ngày 4/3 cho biết, ngày 1/3/2016, cụm tàu sân bay USS John C. Stennis của Hạm đội 7, Hải quân Mỹ đã đến “vùng biển tranh chấp” Biển Đông. Đây là một đợt khẳng định sức mạnh mới nhất của Mỹ ở khu vực Biển Đông căng thẳng, sẽ phát đi “tín hiệu rõ ràng” cho Trung Quốc và các nước khác trong khu vực.

Cụm tàu sân bay này gồm tàu sân bay động cơ hạt nhân USS John C. Stennis, 2 tàu tuần dương gồm USS Antietam và USS Mobile Bay, 2 tàu khu trục gồm USS Chung-Hoon và USS Stockdale cùng với tàu chỉ huy đổ bộ USS Blue Ridge của Hạm đội 7.

Cụm tàu sân bay USS John C. Stennis sẽ thực hiện nhiệm vụ ở Tây Thái Bình Dương trong vòng 1 tuần. Nó sẽ còn đến khu vực lân cận bán đảo Triều Tiên.

Trung Quốc vin cớ hành động trên, thông qua phát ngôn viên ngoại giao chỉ  trích Mỹ là nước “quân sự hóa” Biển Đông, chứ không phải Trung Quốc.

Thời báo Hoàn Cầu Trung Quốc ngày 4/3 cho rằng, đây là đợt tập kết lực lượng quân sự có quy mô nhất của Mỹ ở khu vực Biển Đông trong thời gian gần đây, rõ ràng đang cổ vũ cho các đồng minh và đối tác của Mỹ, gây sức ép cho Trung Quốc.

Đây cũng là phản ứng mới nhất của Mỹ đối với tình hình căng thẳng ở khu vực Biển Đông hiện nay. Đô đốc Harry Harris, Tư lệnh Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương Mỹ cho rằng, Trung Quốc đang tiến hành quân sự hóa Biển Đông để áp đặt yêu sách quá mức.

Mỹ đã lên án mạnh mẽ các hoạt động quân sự hóa do Trung Quốc tiến hành ở Biển Đông, cả ở quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa của Việt Nam, bao gồm xây dựng 3 đường băng sân bay, triển khai máy bay chiến đấu J-11B, JH-7, hệ thống tên lửa phòng không tầm xa HQ-9, radar cao tần…

Ngày 2/3, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton B. Carter cũng nhấn mạnh: “Trung Quốc không thể tiến hành quân sự hóa Biển Đông, các hành động cụ thể phải dẫn tới các hậu quả cụ thể”.

Về hậu quả cụ thể, ông Ashton B. Carter cho hay, Quân đội Mỹ đã tăng cường triển khai ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Mỹ có kế hoạch cấp 425 triệu USD để tăng cường huấn luyện với các nước trong khu vực, chi 8 tỷ USD trong năm tài khóa 2017 để mở rộng hạm đội tàu ngầm và máy bay không người lái dưới nước.

Ngăn chặn Trung Quốc lập ADIZ

Trở lại với việc Mỹ điều cụm tàu sân bay đến Biển Đông lần này, theo Thời báo Hoàn Cầu, một trong những mục đích của Mỹ là để răn đe, ngăn chặn Trung Quốc thiết lập cái gọi là Vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) ở Biển Đông.

Báo cáo “Tiến triển mới nhất Vùng nhận dạng phòng không” của Ủy ban đánh giá kinh tế và an ninh Mỹ-Trung trực thuộc Quốc hội Mỹ cho rằng, Trung Quốc có thể đơn phương tuyên bố trước (bất hợp pháp) vùng nhận dạng phòng không ở vùng trời quần đảo Hoàng Sa, sau đó mở rộng tới vùng trời quần đảo Trường Sa (nơi Trung Quốc xây dựng bất hợp pháp 3 đường băng sân bay).

Việc lập ra vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) sẽ kèm theo là các hành động như triển khai radar để dò tìm, theo dõi máy bay của các nước, điều máy bay áp sát để tiến hành cảnh cáo.

Động thái này sẽ tạo cớ cho nước lập ra ADIZ tiếp tục quân sự hóa mạnh mẽ Biển Đông thông qua triển khai lực lượng phòng không và xây dựng các công trình hạ tầng tương ứng như trạm radar, sở chỉ huy, máy bay chiến đấu, tên lửa phòng không và sân bay.

Việc Trung Quốc triển khai bất hợp pháp máy bay chiến đấu J-11 và hệ thống tên lửa phòng không HQ-9 ở quần đảo Hoàng Sa (Đà Nẵng, Việt Nam) báo hiệu khả năng nước này có thể lập ra bất hợp pháp vùng nhận dạng phòng không ở quần đảo Hoàng Sa (Đà Nẵng, Việt Nam).

Mỹ điều động cụm tàu sân bay đến tuần tra Biển Đông thể hiện thực lực rõ ràng xuất phát từ việc Trung Quốc đang đẩy nhanh quân sự hóa Biển Đông nêu trên, răn đe các hành động của Quân đội Trung Quốc ở Biển Đông.

Jerry Hendrix đến từ Trung tâm an ninh Mỹ mới cho rằng, Hải quân Mỹ đang thể hiện khả năng điều động lực lượng trong phạm vi lợi ích của mình và trên toàn thế giới.

Thời báo Hoàn Cầu kêu gọi Trung Quốc triển khai bất hợp pháp máy bay chiến đấu ở 3 sân bay đã và đang xây dựng bất hợp pháp ở quần đảo Trường Sa của Việt Nam để tranh quyền kiểm soát trên không ở khu vực này với Quân đội Mỹ.

Nếu Trung Quốc triển khai bất hợp pháp máy bay chiến đấu ở đây sẽ mở rộng phạm vi kiểm soát thêm 400 km, có đủ thời gian để đối đầu với máy bay trên tàu sân bay Mỹ, yểm trợ cho hành động của các lực lượng khác.

Bài báo cho rằng, Mỹ điều tàu sân bay đến Biển Đông đã “nhắc nhở Trung Quốc về sự cần thiết phải tăng cường phòng thủ" quần đảo Trường Sa (thuộc chủ quyền Việt Nam).

Trung Quốc sẽ tiếp tục “quân sự hóa Biển Đông”

Theo Thời báo Hoàn Cầu, cụm tấn công tàu sân bay USS John C Stennis đến Biển Đông lần này đã thể hiện rõ khả năng răn đe của nó, đối đầu Trung-Mỹ ở Biển Đông đã mang đậm màu sắc quân sự hơn.

Tàu sân bay là biểu tượng thống trị trên biển của Mỹ, có khả năng gây ảnh hưởng tâm lý rõ rệt. Nhưng trong quan hệ giữa các nước lớn, giá trị quân sự thực sự của nó đang bị suy giảm, nó có ý nghĩa biểu tượng chính trị lớn hơn.

Mỹ điều tàu sân bay đến Biển Đông phần lớn là để thể hiện thái độ cứng rắn đối với Trung Quốc, cho thấy họ muốn chống lại chính sách Biển Đông (yêu sách “đường chín đoạn” vô lý, phi pháp) của Trung Quốc, chứ không phải đạt được mục đích quân sự cụ thể nào – Thời báo Hoàn Cầu nhận định.

Bài báo cho rằng, tàu sân bay USS John C. Stennis đến Biển Đông có tác dụng cổ vũ đồng minh lớn hơn là gây sức ép cho Trung Quốc.

Bài báo quay lại nêu tên một loại tên lửa chống hạm mà Trung Quốc từ lâu khoe khoang và thường gọi nó là “sát thủ tàu sân bay”, đó là tên lửa đạn đạo chống hạm Đông Phong-21D.

Theo đó, bài viết khẳng định rằng, trong đối đầu quân sự thực tế giữa các nước lớn, tàu sân bay không còn đóng vai trò chủ đạo nữa, mà sẽ đóng “vai trò nhỏ”, thậm chí có thể trở thành “bia ngắm” trên biển.

Các nước lớn phát triển tàu sân bay xuất phát từ nhu cầu tổng hợp về quân sự, chính trị. Nó phát huy vai trò như thế nào và bị đe dọa ra sao tùy thuộc vào khả năng xác định đúng thời gian và địa điểm hoạt động của nó.

Bài viết cho rằng, đối đầu Trung-Mỹ sẽ mang tính lâu dài và nghiêm trọng, kêu gọi Trung Quốc cần không ngừng tăng cường sức mạnh, từng bước điều chỉnh lại nền tảng của đối thoại giữa Trung-Mỹ.

Mỹ đang thách thức (yêu sách vô lý, phi pháp của) Trung Quốc ở Biển Đông, muốn áp chế vai trò ảnh hưởng của Trung Quốc, đối đầu giữa hai bên sẽ không thể tránh khỏi – bài báo nhận định.

Điều đáng lưu ý là theo bài báo, tàu sân bay USS John C. Stennis đến tuần tra Biển Đông đã đem lại cho Trung Quốc một cái cớ rõ ràng, đó là triển khai (bất hợp pháp) nhiều hệ thống vũ khí hơn ở các đảo đá trên Biển Đông. Do đó, Trung Quốc tăng cường triển khai quân sự ở Biển Đông sẽ “không quá đáng”.

Bài viết cho rằng, Trung Quốc không chỉ sẽ ngăn chặn các hoạt động quân sự của Mỹ ở Biển Đông, mà còn tiếp tục tăng cường khả năng ngăn chặn Mỹ can thiệp quân sự ở Biển Đông, từng bước làm giảm vai trò ảnh hưởng quân sự của Mỹ ở Biển Đông.
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Sáu, 4 tháng 3, 2016

Việt Nam ‘khẩn trương sắp xếp’ cho chuyến thăm của TT Obama


Tổng thống Obama đã nhận lời mời thăm Việt Nam của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bên lề hội nghị thượng đỉnh ASEAN - Mỹ tại Sunnylands, bang California, Hoa Kỳ, hồi trung tuần tháng 2.
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Hải Bình trong cuộc họp báo thường kỳ hôm thứ Tư cho biết Việt Nam đang cùng với Mỹ khẩn trương chuẩn bị cho chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Barack Obama vào tháng 5 tới.
Tổng thống Obama đã nhận lời mời thăm Việt Nam của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bên lề hội nghị thượng đỉnh ASEAN - Mỹ tại Sunnylands, bang California, Hoa Kỳ, hồi trung tuần tháng 2.
Thông tin từ Tòa Bạch Ốc cho biết ông Obama sẽ ghé thăm Việt Nam trong chuyến đi dự hội nghị thượng đỉnh G7 thường niên diễn ra tại Nhật Bản vào cuối tháng 5/2016.
Mục đích chuyến thăm được cho biết là để ‘góp phần thúc đẩy hợp tác vì hòa bình và phát triển trong quan hệ đối tác, hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, đưa quan hệ hai nước lên tầm cao mới, đóng góp vào việc duy trì hòa bình ổn định ở khu vực’.
Ngoài những vấn đề quan trọng về hợp tác thương mại như TPP, giáo dục, an ninh, quốc phòng, môi trường…, Vietnamnet hôm 1/3 trích lời Đại sứ Mỹ tại Việt Nam Ted Osius đề cập đến vấn đề nhân quyền, mà nhiều nhà hoạt động kêu gọi Tổng thống Obama đưa vào trong nghị trình chuyến thăm sắp tới của ông. Ông Osius nói:
“Là một người bạn của Việt Nam, tôi kêu gọi các nhà lãnh đạo Việt Nam nhận ra những khả năng được-mất trong tình hình hiện nay. Tuy TPP chủ yếu là một hiệp định thương mại, một số thành viên Quốc hội Hoa Kỳ cho biết họ sẽ cân nhắc những thông tin ghi nhận về tình hình nhân quyền của Việt Nam khi họ bỏ phiếu, và kết quả bỏ phiếu có thể là sít sao.Những tiến bộ có ý nghĩa về nhân quyền ở Việt Nam sẽ giúp tạo điều kiện để TPP được phê chuẩn nhanh chóng hơn”.
Tổng thống Obama ban đầu dự định đến Việt Nam vào năm ngoái nhân dịp kỷ niệm 20 năm bình thường hóa quan hệ Việt – Mỹ, theo lời mời của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng. Nhưng dự định này đã bị hủy vào giờ chót.
Ông Obama là tổng thống Mỹ thứ 3 đến thăm Việt Nam, sau ông Bill Clinton vào năm 2000 và ông George W. Bush và năm 2006.
Theo The Diplomat, Vietnamnet, Dân Trí.
Phần nhận xét hiển thị trên trang

37 năm ngày Tổng động viên chống quân Trung Quốc xâm lược



Hoàng Phương
VNExp - Ngày 5/3/1979, trong tình thế cấp bách chống lại hơn nửa triệu quân Trung Quốc xâm lược biên giới phía Bắc, Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng đã ra lệnh tổng động viên toàn quân, toàn dân kháng chiến.

Rạng sáng 17/2/1979, Trung Quốc bất ngờ đưa hơn nửa triệu quân cùng hàng nghìn xe tăng, xe cơ giới tràn qua biên giới Việt Nam, đồng loạt tấn công 6 tỉnh phía Bắc từ Pa Nậm Cúm (Lai Châu) đến Pò Hèn (Quảng Ninh) trên chiều dài 1.200 km biên giới.

Mối quan hệ Việt - Trung rạn nứt năm 1968 khi Việt Nam giao hảo với cả Liên Xô và Trung Quốc, trong khi quan hệ Xô - Trung đang căng thẳng. Chiến thắng mùa xuân 1975 theo đánh giá của nhiều nhà sử học thế giới là kết quả Trung Quốc không mong muốn, khi Bắc Kinh và Washington đạt được một số thỏa thuận sau chuyến thăm của Tổng thống Nixon.

Tháng 5/1975, quân Khmer Đỏ đánh chiếm các đảo Phú Quốc, Thổ Chu, thọc sâu vào lãnh thổ Việt Nam tàn sát dân thường và đứng đằng sau là Trung Quốc tài trợ khí tài, cố vấn quân sự. Tháng 11/1978, Hiệp ước hữu nghị Việt - Xô được ký chính thức xác nhận Việt Nam đứng về phía Liên Xô.

Gần 2 tháng sau, quân đội Việt Nam tổng phản công trên biên giới Tây Nam, đánh sang Campuchia lật đổ chính quyền Khmer Đỏ. Trung Quốc quyết định dừng viện trợ cho Việt Nam.

"Phải dạy cho Việt Nam một bài học" Phó thủ tướng Trung Quốc Đặng Tiểu Bình khi ấy tuyên bố.

Cuộc chiến biên giới phía Bắc nổ ra giữa lúc các quân đoàn chủ lực của Việt Nam đang chiến đấu với quân Khmer Đỏ ở Campuchia. Dọc tuyến biên giới chỉ có lực lượng chủ lực của các quân khu, bộ đội địa phương và dân quân du kích. Tổng lực lượng phòng thủ của Việt Nam tại các tỉnh biên giới phía Bắc khoảng 50.000 quân. Trong khi Trung Quốc ước tính 600.000 với 9 quân đoàn chủ lực và 32 sư đoàn bộ binh độc lập, 6 trung đoàn xe tăng, 4 sư đoàn, trung đoàn pháo binh, phòng không cùng hàng trăm pháo hạng nặng, hàng nghìn súng cối và dàn hỏa tiễn. Có nơi, quân Trung Quốc thọc sâu vào đất liền đến hơn 40 km.

Bộ Quốc phòng Việt Nam quyết định điều động các sư đoàn bộ binh của các quân khu từ tuyến sau lên. Quân dân 6 tỉnh biên giới chủ động tổ chức lực lượng chiến đấu tại chỗ, cầm chân và đẩy lùi từng đợt tiến công của quân Trung Quốc trong khi chờ quân chủ lực lên ứng chiến. Cùng thời điểm, một cuộc chuyển quân thần tốc lên biên giới phía Bắc của 3 quân đoàn chủ lực Việt Nam diễn ra bằng đường biển, đường bộ, đường hàng không. Liên Xô tương trợ cho Việt Nam bằng cách lập cầu hàng không lớn cơ động các đơn vị tại mặt trận Campuchia ra thẳng miền Bắc.

"Toàn thể già, trẻ, gái, trai đứng lên nhất tề bảo vệ tổ quốc'

Trước tình thế cấp bách, ngày 4/3/1979, Ban chấp hành Trung ương Đảng ra lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước nhất tề đứng lên bảo vệ tổ quốc. 

Sáng 5/3, chương trình phát thanh 90 phút thường ngày của Đài tiếng nói Việt Nam phát bản tin đặc biệt kêu gọi: "Hỡi đồng bào và chiến sĩ yêu quý! Quân thù đang giày xéo non sông, đất nước ta. Độc lập, tự do, chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta đang bị xâm phạm. Hòa bình và ổn định ở Đông Nam châu Á đang bị đe dọa. Dân tộc Việt Nam ta phải ra sức chiến đấu để tự vệ... Toàn thể đồng bào các dân tộc anh em trong cả nước, các tôn giáo, các đảng phái, già, trẻ, gái, trai hãy phát huy truyền thống Diên Hồng, triệu người như một, nhất tề đứng lên bảo vệ tổ quốc".

Ngay sau lời kêu gọi, Ủy ban Thường vụ Quốc hội họp phiên bất thường dưới sự chủ trì của Chủ tịch Trường Chinh. Theo đề nghị của Hội đồng Chính phủ, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ra quyết định tổng động viên trong cả nước. Mọi công dân trong lứa tuổi do luật định đều phải gia nhập lực lượng vũ trang theo kế hoạch của Hội đồng Chính phủ; huy động mọi nhân lực, vật lực, tài lực cần thiết để đảm bảo nhu cầu của cuộc kháng chiến cứu nước.

Cùng ngày, Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng ký sắc lệnh 29 - LCT ra lệnh tổng động viên trong cả nước. Hội đồng Chính phủ ban hành nghị định về việc thực hiện quân sự hóa toàn dân, vũ trang toàn dân. Trong đó, yêu cầu nam từ 18 đến 45 tuổi, nữ từ 18 đến 35 tuổi có đủ điều kiện, đều gia nhập hàng ngũ du kích và tự vệ. Ngoài ra, ai tự nguyện đều được đưa vào tổ chức vũ trang quần chúng. Khi xảy ra chiến sự ở địa phương, trừ những người được phép sơ tán đi nơi khác, còn tất cả mọi người phải ở lại làm nhiệm vụ chiến đấu và phục vụ chiến đấu.

Bài xã luận trên báo Nhân dân ra ngày 5/3/1979 nêu rõ "Lời kêu gọi của trung ương là lời hịch quyết chiến quyết thắng của tổ quốc. Tất cả con em đất nước Việt Nam đang đi vào cuộc chiến đấu mới: cả nước đánh giặc, toàn dân là lính"… 50 triệu người Việt Nam khi ấy đã chuẩn bị sẵn sàng cho tình thế chuyển từ thời bình sang thời chiến. 

Lệnh tổng động viên được ban bố, cũng trong ngày 5/3/1979 Trung Quốc bất  ngờ tuyên bố rút quân, và rêu rao hoàn thành mục tiêu "dạy cho Việt Nam một bài học". Ngày 7/3/1979, thể hiện thiện chí hòa bình, Việt Nam tuyên bố cho phép Trung Quốc rút quân.

Ngày 18/3, Trung Quốc hoàn thành việc rút quân. Trước khi rút, chúng còn tàn phá một số làng mạc, phá hoại công trình di tích, bệnh viện, trường học, giết hại nhiều người dân vô tội.

Lệnh tổng động viên duy nhất từ 1975 cho đến nay

PGS.TS Nguyễn Mạnh Hà, Viện trưởng Lịch sử Đảng, nguyên đại tá, Chính ủy Sư đoàn 308 nhớ lại, thời điểm ra lệnh tổng động viên, ông đang công tác ở Viện Lịch sử quân sự (Bộ Quốc phòng). Nghe lệnh, cả Hà Nội sục sôi bởi "không người dân nào có thể khoanh tay khi đất nước lâm nguy". "Trước khi quân Trung Quốc đánh sang, chúng tôi đã được huy động đi đào chiến hào trên các ngọn đồi, khu vực Sóc Sơn, ngoại thành Hà Nội. Phòng tuyến ấy được kéo dài đến tận các tỉnh biên giới phía Bắc. Tức là, chúng ta đã có sự chủ động phòng thủ", ông kể.

Từ khắp các công, nông trường, xí nghiệp, thôn xóm có hàng nghìn lá đơn tình nguyện lên đường nhập ngũ. Trong phòng truyền thống của Đại học Khoa học Xã hội Nhân văn ngày nay vẫn còn lá đơn viết bằng máu của thầy giáo Nguyễn Chiều, khi đó là giáo viên khoa Sử, Đại học Tổng hợp với quyết tâm: "Cho tôi trở lại quân đội bảo vệ tổ quốc".

Ông Hà phân tích, thời điểm tổng động viên, Hà Nội và cả nước đã sẵn sàng để bước vào một cuộc kháng chiến. Tính từ năm 1975 đến nay, đó là lệnh tổng động viên duy nhất được ban hành. Trước đó năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng ký Sắc lệnh Tổng động viên nhân lực, vật lực, tài lực của toàn thể nhân dân để phục vụ cho nhu cầu kháng chiến chống Pháp đang đến giai đoạn tổng phản công. Trong kháng chiến chống Mỹ, lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước năm 1966 của Hồ Chủ tịch và những đợt huy động lực lượng dồn sức cho chiến trường miền Nam vào các năm 1972, 1974 chưa được gọi là tổng động viên.

"Từ khi lệnh tổng động viên được ban bố đến khi quán triệt đến toàn quân, toàn dân thì phải cần một quãng thời gian nhất định. Lệnh mới được ban ra, Trung Quốc rút quân nên lệnh tổng động viên chưa kịp thực hiện. Dù chúng ta không mong muốn, nhưng nếu quân Trung Quốc còn ở lại thì chắc chắn lệnh tổng động viên sẽ được thực hiện rất nhanh", ông đánh giá.

Cuộc chiến biên giới phía Bắc chính thức diễn ra từ ngày 17/2 đến ngày 5/3/1979 nhưng xung đột biên giới kéo dài dai dẳng đến tận năm 1988. Sau khi tuyên bố rút quân, Trung Quốc vẫn duy trì thường xuyên nhiều sư đoàn, trung đoàn độc lập áp sát biên giới Việt Nam gây căng thẳng nhằm lấn chiếm lãnh thổ. Có thời điểm 1984-1986, chiến sự diễn ra ác liệt ở mặt trận Vị Xuyên (Hà Giang) khi quân đội Việt Nam tổ chức phản công giành lại các điểm cao biên giới bị quân Trung Quốc lấn chiếm trái phép.

Nhiều đợt nhập ngũ vẫn diễn ra, các đơn vị chủ lực của quân đội Việt Nam thay phiên nhau đưa quân lên bổ sung cho chiến trường phía Bắc. Hàng chục nghìn thanh niên Việt Nam lứa tuổi 18-20 đã mãi mãi nằm lại nơi biên giới phía Bắc trong cuộc chiến chống lại quân Trung Quốc xâm lược.

Tháng 11/1991 Việt Nam - Trung Quốc tuyên bố bình thường hoá quan hệ.
Phần nhận xét hiển thị trên trang