Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Sáu, 4 tháng 3, 2016

NHỮNG CUỘC CHIẾN Ý THỨC HỆ SẮP TỚI CỦA TRUNG QUỐC





Lê Anh Hùng dịch





Trong kỷ nguyên của cải cách, tăng trưởng kinh tế chi phối tất cả. Nhưng giờ đây, sự hồi sinh của những tín điều đối chọi nhau đã chia rẽ xã hội Trung Hoa.



Với phần lớn người Trung Quốc, thập niên 1990 chứng kiến sự lên ngôi của chủ nghĩa thực dụng vật chất. Phát triển kinh tế là mối quan tâm chính trị - xã hội quan trọng nhất, trong khi những hệ tư tưởng nhà nước đa dạng vốn là nhân tố định hướng chính sách trong những thập niên đầu tiên của nền Cộng hoà Nhân dân lại lui dần vào hậu trường. Những cuộc đấu tranh ý thức hệ khốc liệt từng đánh dấu sự kết thúc của thập niên 1970 cũng như thập niên 1980 đã khiến dân chúng kiệt quệ, khiến họ chỉ còn háo hức chú tâm vào những cơ hội kinh tế mà trước đấy họ chưa từng biết đến. 

Giờ đây, xu thế lại thay đổi. Xã hội Trung Hoa rõ ràng là đang tái khám phá, hay ít nhất là tái xếp đặt thứ tự ưu tiên, những khát vọng về đạo đức và ý thức hệ. Vài năm qua, các lực lượng cũng như sự chia rẽ ý thức hệ đã quay trở lại vị trí trung tâm trong đời sống chính trị và xã hội ở Trung Quốc, và có nhiều bằng chứng thuyết phục cho thấy tình trạng căng thẳng về ý thức hệ trong giới tinh hoa Trung Quốc hiện đang cao hơn so với bất kỳ thời điểm nào kể từ sau các cuộc biểu tình năm 1989. Hình ảnh về một nước Trung Hoa “hậu ý thức hệ” (post-ideological) đang trở nên ngày một lỗi thời.


Dù vậy, dường như khá ít nhà quan sát hay nhà hoạch định chính sách lại suy xét khả năng theo đó các nhóm tinh hoa ở Trung Quốc là những tạo vật ý thức hệ, hoặc thậm chí là họ có thể đang ứng phó với một công chúng nhuốm màu ý thức hệ. Đây là một sự thay đổi đáng chú ý với những liên đới sâu sắc dành cho công tác hoạch định chính sách. Chỉ một hay hai thập niên trước, nhiều nhà bình luận còn cảm thấy khó khăn khi phải thừa nhận rằng các chính trị gia Trung Quốc – hoặc thậm chí là những người Trung Hoa có học vấn – hoàn toàn không phải là những người theo tư tưởng cộng sản chủ nghĩa. Đầu thập niên 2000, ý tưởng theo đó các nhóm tinh hoa ở Trung Quốc không còn tin chủ nghĩa cộng sản vẫn là một ý tưởng mới mẻ, đôi khi dẫn đến thái độ hoài nghi và phản ứng trái ngược. Để so sánh, bất kỳ ai hiện nay khăng khăng cho rằng lý tưởng cộng sản vẫn chi phối quá trình hoạch định chính sách của Trung Quốc đều có nguy cơ huỷ hoại danh tiếng của mình như một người am hiểu Trung Quốc nghiêm túc.

Ý tưởng về một Trung Quốc hậu ý thức hệ ra đời như thế nào? Cách diễn giải khoan dung – và có lẽ đúng – về sự thay đổi này là nó chỉ đơn thuần phản ảnh một sự thay đổi chung về quan điểm trong xã hội Trung Hoa. Cuộc đàm luận về chính trị và xã hội ở Trung Quốc đã chuyển hướng từ những luận điểm mang màu sắc ý thức hệ sang thứ chủ nghĩa thực dụng mềm dẻo mà các cựu lãnh tụ Đặng Tiểu Bình và Giang Trạch Dân thường cổ vũ. Ở đây vẫn còn một cách diễn giải ít khoan dung hơn: sự trỗi dậy về kinh tế của Trung Quốc, đặc biệt là sự tăng trưởng bền vững của nó trong cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, đã tạo ra một ý thức về tính dễ tổn thương và, do đó, một tâm tính hoang mang trong nhiều nhà phân tích phương Tây, những người vội đi đến – và vẫn tiếp tục tin vào – cái kết luận rằng các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc là những kẻ tối đa hoá tính hiệu dụng (utility) một cách tàn nhẫn và hiệu quả, những kẻ chuyên kiếm chác từ cái thế giới phát triển vốn mềm mại hơn, duy tâm hơn và phải chịu những ràng buộc dân chủ.

Dù với lý do gì đi nữa thì cái hình ảnh rập khuôn về thứ chủ nghĩa thực dụng Trung Quốc có lẽ cũng đã hết thời hạn sử dụng. Ở Trung Quốc ngày nay, những dấu hiệu về sự hồi sinh ý thức hệ xuất hiện khắp nơi. Rõ ràng nhất là hiện tượng một số biểu tượng, mà từ lâu người ta nghĩ là đã chết, đã hồi sinh một cách nổi bật, và trong một số trường hợp còn rất thành công, qua những phát ngôn chính trị trên bình diện quốc gia. Đầu tiên là việc khôi phục lại hình ảnh Chủ tịch Mao Trạch Đông như là thành tố cốt lõi của câu chuyện huyền thoại về sự ra đời của Đảng CSTQ cùng tính chính danh lịch sử của nó. Như một số học giả và nhà bình luận đã ghi nhận, trong vài bài phát biểu gần đây, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã coi Mao không chỉ là người cha sáng lập Đảng mà còn là một biểu tượng về cam kết của Đảng đối với chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa dân tuý. Điều này đánh dấu một sự chuyển hướng quan trọng từ lối đối xử xem nhẹ và gần như miễn cưỡng mà dường như những người tiền nhiệm của Tập, đặc biệt là Hồ Cẩm Đào, từng dành cho Mao. Thật đáng tò mò, trong khi những tín hiệu ngôn từ của Tập được bình luận ngay lập tức thì những hàm ý chính sách tiềm tàng của chúng lại phần lớn không được nghiên cứu, nếu không muốn nói là bị phủi bỏ ngay như thể chúng chẳng có gì quan trọng cả.

Mao không phải là nhân vật duy nhất được phục hồi về mặt ý thức hệ. Khổng Tử cũng đã trở thành một nhân vật ngày càng nổi bật trong những phát ngôn chính trị ở Trung Quốc. Và các nhà lãnh đạo Đảng thì thường xuyên trích dẫn các triết gia cổ đại, như Mạnh Tử, Trang Tử hay Hàn Phi. Bản thân Tập thường lập luận rằng, “để giải quyết những vấn đề của mình… [Trung Quốc cần] khai thác triệt để kho tàng minh triết vĩ đại mà đất nước Trung Hoa đã tích luỹ được trong suốt 5.000 năm qua”. Sự ủng hộ của nhà nước đối với các dự án như Học viện Khổng Tử mới ở Quý Dương (tỉnh lỵ Quý Châu, khai trương từ năm 2013) khiến những phát ngôn chính trị như thế hàm chứa một mức độ nghiêm túc nhất định và điều này đã truyền cảm hứng cho các nhà hoạt động tân Khổng giáo. Tuy nhiên, những nỗ lực nhằm truyền sức sống mới cho tư tưởng Trung Hoa cổ đại cũng khiến những bộ phận khác, mang xu hướng tự do chủ nghĩa nhiều hơn, trong cộng đồng mạng ở Trung Quốc lên tiếng báo động và bày tỏ sự khinh thị. Họ có xu hướng coi các quy tắc đạo đức xã hội của Nho giáo là lạc hậu và hẹp hòi.

Người ta dễ dàng, và có lẽ là thèm muốn, phủi bỏ những sáng kiến này như thể đó là sự tuyên truyền ý thức hệ đầy toan tính do một chính thể độc tài vốn đang phải đối mặt với tình trạng căng thẳng về kinh tế, xã hội và chính trị chưa có tiền lệ tiến hành. Chắc chắn ở đây có một sự thật nào đó; chỉ có điều là nó lại quá ư đơn giản. Thực ra, người ta cũng có thể lập luận một cách thuyết phục như thế rằng, Đảng CSTQ đã đóng một vai trò thụ động, chứ không phải chủ động: các chiến dịch ý thức hệ nhằm hồi sinh những nhân vật như Mao và Khổng phản ánh những trào lưu tư duy trí tuệ và văn hoá đã nhanh chóng giành được ảnh hưởng trong tầng lớp người Trung Hoa có học vấn cao trong năm đến bảy năm qua. Xét chiều sâu và động năng của những trào lưu này, Đảng hoàn toàn có thể sẽ tìm cách bắt kịp. Bản thân Tập dường như cũng đã thừa nhận như thế qua bài phát biểu nổi tiếng ngày 19/8/2013, trong đó ông ta cho rằng Đảng đang đối mặt với một làn sóng thách thức nghiêm trọng về ý thức hệ, và cần phải phản ứng mạnh mẽ hơn.

Hai diễn biến quan trọng nhất trong địa hạt tư duy trí tuệ ở Trung Quốc từ cuối thập niên 1990 có lẽ là sự trỗi dậy của khuynh hướng Tân Tả (“New Left”) hùng mạnh và sự phục hồi của một trào lưu tân Khổng giáo tuy thiếu tổ chức song ngày càng giành được ảnh hưởng. Khuynh hướng Tân Tả kết hợp những cảm tính dân tộc chủ nghĩa – như một bài xã luận tháng 1/2010 trên tờ Hoàn Cầu Thời Báo tuyên bố, “chúng ta không muốn trở thành một thuộc địa của lối tư duy trí tuệ phương Tây” – cùng sự bất mãn rộng khắp với tình trạng bất bình đẳng kinh tế để đi đến lời kêu gọi mạnh mẽ về một cuộc “tái thiết chủ nghĩa xã hội”, và điều này sẽ dẫn tới sự phục hồi của nhiều chính sách kinh tế kế hoạch hoá thập niên 1980 cũng như việc tăng cường kiểm soát ý thức hệ đối với Internet và truyền thông. Nếu tìm hiểu thế giới tư duy trí tuệ Trung Quốc hiện nay thì những nhân vật ảnh hưởng nhất – và là những người có quan hệ gần gũi nhất với sự lãnh đạo của Đảng – thường là những nhân vật tả khuynh. Trong số này có hai nhà kinh tế học nổi bật là Wang Shaoguang (Vương Thiệu Quang) và Justin Yifu Lin, nhà khoa học chính trị Cui Zhiyuan (Thôi Chí Nguyên), và triết gia Liu Xiaofeng (Lưu Hiểu Phong).

Trái lại, các nhân vật tân Khổng giáo nhìn chung ủng hộ cả sự hồi sinh của các quy tắc đạo đức Nho giáo, chẳng hạn như sự hiếu thảo, lẫn việc phục hồi một số thiết chế chính trị truyền thống, đặc biệt là chế độ khoa cử. Mặc dù họ có xu hướng kém chính thống, song chính tính chất dễ khơi mào của thuật ngữ “Khổng giáo” trong cuộc đàm luận chính trị và trí tuệ ở Trung Quốc lại đem đến cho họ một tần suất xuất hiện khác thường trên các phương tiện truyền thông. Từ cuối thập niên 1990, những lời kêu gọi nhằm hồi sinh Khổng giáo dần dần trở nên mạnh mẽ và phổ biến; chúng tiến triển từ một trào lưu ngoài lề chịu nhiều sự chế nhạo thành một xu thế dù vẫn bị chế nhạo nhưng chắc chắn đã trở nên mạnh mẽ trên bình diện quốc gia, đặc biệt là ở cấp giáo dục tiểu học. Ví dụ, Jiang Qing (Tưởng Khánh), một nhà lãnh đạo buổi đầu của trào lưu và hiện đang điều hành Viện Nho học Dương Minh (Yangming Confucian Academy) nổi tiếng, đã trở thành một nhân vật mà gần như ai ai trong giới trí thức cũng biết đến.

Cả hai diễn biến nêu trên đều có gốc rễ từ chủ nghĩa dân tộc bài phương Tây. Từ đầu thập niên 1980 đến thập niên 2000, dân chủ, pháp trị và cải cách thị trường tự do là thứ ngôn ngữ chính trị chung không chỉ của phần lớn các nhà trí thức Trung Quốc mà còn của phần lớn giới lãnh đạo doanh nghiệp, và thậm chí cả một số quan chức, những người chí ít cũng bày tỏ sự ủng hộ bằng lời nói – và có lẽ nhiều hơn thế – dành cho những lý tưởng cháy bỏng đó. Trong giai đoạn này, các nhóm tinh hoa ở Trung Quốc dường như cùng chia sẻ sự đồng thuận rằng Trung Quốc cần Tây hoá. Cả Tân Tả lẫn tân Khổng giáo chủ yếu đều là những phản ứng tư duy trí tuệ trước sự đồng thuận đó, được thúc đẩy một phần bởi sự bất tương thích mà người ta cảm nhận được giữa tư tưởng phương Tây và thực tiễn kinh tế - xã hội - chính trị của Trung Quốc, một phần bởi sự thất vọng trước thái độ thù địch và sự phân biệt đối xử về ý thức hệ mà phương Tây dành cho Trung Quốc, và một phần bởi những tham vọng dân tộc chủ nghĩa vốn xuất hiện một cách tự nhiên cùng với sự cất cánh về kinh tế.  

Gần đây hơn, các trào lưu này đã cho thấy những dấu hiệu của sự hội tụ. Tân Khổng giáo dường như đang gắn chặt với Tân Tả, và không phải là thiếu sự tương hỗ từ giới Tân Tả. Một số học giả nổi bật, đặc biệt là Gang Yang từ Đại học Tôn Dật Tiên, hiện tự coi mình vừa tả khuynh vừa theo Khổng giáo. Yếu tố then chốt của cái “nhân dạng” chung đó chính là thứ chủ nghĩa dân tộc mạnh mẽ mà cả hai phái ý thức hệ cùng chia sẻ, vốn cho phép các học giả này lập luận rằng các nguồn lực từ “văn hoá truyền thống” cần đóng một vai trò nổi bật trong cuộc thập tự chinh chống lại chủ nghĩa tự do phương Tây – nếu không phải như một thành tố cần thiết của cái “phương diện quốc gia” thì ít nhất cũng là một lựa chọn về mặt ý thức hệ thay cho sự khuynh loát của trí tuệ phương Tây.

Những nghiên cứu thống kê gần đây cho thấy các xu thế này vượt xa ra ngoài những ranh giới được che chắn của các trường đại học hàng đầu cũng như các trung tâm quyền lực ở Trung Quốc. Một bản phúc trình thường được trích dẫn của các nhà nghiên cứu Harvard và MIT năm 2015, chẳng hạn, chỉ ra rằng người sử dụng Internet ở Trung Quốc chủ yếu tập trung xung quanh hai thái cực: một cực “tả khuynh - Khổng giáo” vốn chủ trương hình thành một nhà nước xã hội chủ nghĩa rộng khắp, hạn chế các quyền dân sự, áp dụng chính sách đối ngoại hung hăng, và phục hồi văn hoá truyền thống; và một cực “tự do phương Tây” – hay “hữu khuynh” – ủng hộ các nguyên lý thị trường tự do, chế độ dân chủ lập hiến, các quyền tự do dân sự, hợp tác quốc tế và sự chống đối văn hoá truyền thống. Ngoài ra, mức độ đồng nhất cao trong hai phái này còn cho thấy nhận thức và cam kết về ý thức hệ đã khá sâu sắc, và ngày càng sâu sắc, ai cũng như ai.

Hiện nay, những xung đột tự do chủ nghĩa - tả khuynh dường như đang tạo sắc thái và định hình việc hấp thụ thông tin của cộng đồng mạng đối với bất kỳ tin tức phổ biến nào, từ những chủ đề địa chính trị quan trọng – chẳng hạn như chính sách ngoại giao quyết đoán mới của Trung Quốc ở Biển Đông – cho đến những vụ lùm xùm trong công chúng, như vụ xung đột hành chính gần đây tại trường Đại học Tôn Dật Tiên, trong đó một giảng viên trẻ tố cáo Gan Yang trù dập anh ta vàhành hung ông.

Dĩ nhiên là ở đây có những cách giải thích khả dĩ khác về việc tại sao các trào lưu dân tộc chủ nghĩa này lại giành được ảnh hưởng. Một số người có thể lập luận rằng chúng đã lợi dụng những vấn đề kinh tế - xã hội ngày càng trầm trọng của Trung Quốc trong thập niên qua, đặc biệt là tình trạng bất bình đẳng gia tăng nhanh chóng. Một cách diễn giải đồng cảm hơn có thể là, chúng thực sự đem đến những giải pháp tiềm tàng cho một số những vấn đề này – bằng cách thúc đẩy, chẳng hạn, một tập hợp quy tắc đạo đức xã hội định hướng nhóm (group-oriented) nhằm giúp giảm bớt sự thiếu hụt rõ ràng về độ tin cậy xã hội của nền kinh tế đô thị. Số khác có thể lập luận rằng chúng thể hiện hình thức tự phản ảnh và âu lo về mặt tư duy trí tuệ (intellectual self-reflection & anxiety) vốn xuất hiện tự nhiên sau khi xã hội đạt tới một mức độ cơ bản về thịnh vượng kinh tế, và do đó chúng là một hình thức của chủ nghĩa dân tộc tầng lớp trung lưu.

Bất kể căn nguyên của nó là gì, bức tranh ý thức hệ hiện hành cũng có thể đem đến những hệ luỵ nghiêm trọng cho quá trình hoạch định chính sách của Trung Quốc: sự hồi sinh ý thức hệ làm biến đổi rất mạnh môi trường xã hội và chính trị mà ở đó Đảng và Nhà nước hoạt động. Nguồn gốc của sự chính danh trong xã hội duy vật chủ nghĩa thực dụng rất khác so với trong một xã hội mang màu sắc và bị phân cực bởi ý thức hệ. Trong khi tăng trưởng kinh tế năng động là chìa khoá để giành được sự ủng hộ của dân chúng ở hình thái xã hội thứ nhất thì điều đó lại có thể không đủ, và có lẽ còn không cần thiết, trong hình thái xã hội thứ hai. Ở thời điểm hiện tại, người ta rất không chắc chắn là bên nào – các nhà tự do chủ nghĩa, các nhà tả khuynh, hay các nhà bảo thủ văn hoá – rốt cuộc sẽ giành được thế thượng phong trong những cuộc đấu tranh ý thức hệ như thế. Nếu một phái lên ngôi, chính phủ có thể nhận thấy mình bị buộc phải (hay ít nhất là được thúc đẩy mạnh mẽ để) tìm kiếm sự chính danh chính trị - xã hội thông qua các chính sách tái phân phối, cải cách các quyền dân sự, hoặc có thể là sự chuyển hướng triệt để sang một ý niệm mới về những giá trị văn hoá truyền thống. Điều này có thể hoặc là hoạ hoặc là phúc: nó có thể đẩy đảng và nhà nước vào những vị thế ý thức hệ không lấy gì làm thoải mái, nhưng nó cũng có thể đem đến những nguồn ủng hộ xã hội trong giai đoạn có biến động về kinh tế hay địa chính trị.

Xin lấy ví dụ, chẳng hạn, phản ứng của Đảng trước phong trào Chiếm Trung Tâm năm 2014 ở Hồng Kông. Trong giai đoạn đó, một phong trào chủ yếu do sinh viên lãnh đạo đã kêu gọi tổ chức bầu cử dân chủ và độc lập chính trị nhiều hơn với Bắc Kinh. Bất chấp một số đề xuất ban đầu rằng chính phủ cần bày tỏ thái độ hoà giải chừng mực với người biểu tình vì nhiều lý do thực dụng – nhằm hạn chế tối thiểu việc gián đoạn hoạt động tài chính, sự mất uy tín trong cộng đồng quốc tế, và tổn hại trong quan hệ giữa Trung Quốc với Đài Loan – người ta sớm phát hiện ra rằng Đảng lại quan ngại về phản ứng ở trong nước đối với chiến lược của họ ở Hồng Kông nhiều hơn rất nhiều so với phản ứng của quốc tế. Tuy nhiên, phản ứng trong nước đó đôi khi lại gần như nhuốm màu dân tộc chủ nghĩa hiếu chiến. Bị khích động bởi một số ít vụ phân biệt đối xử theo lối bài đại lục của cư dân Hồng Kông, nhiều, có khi là phần lớn, cư dân đại lục có học vấn cao lại nhiệt thành ủng hộ một chính sách cứng rắn chống người biểu tình. Điều này cho phép Đảng áp dụng một lập trường phi hoà giải, song đồng thời cũng giới hạn sự lựa chọn của Đảng một cách nghiêm trọng, đưa họ đi đến một lập trường thô bạo hơn so với mức mà một số nhà hoạch định chính sách cảm thấy thoải mái.

Giống như bất kỳ hệ tư tưởng chính trị đặc thù nào, chủ nghĩa dân tộc cũng là một con dao hai lưỡi.

Trong ngắn hạn, và đặc biệt là trong những giai đoạn suy thoái kinh tế, ban lãnh đạo Đảng có thể thấy thuận tiện khi sử dụng trào lưu tả khuynh hoặc tân Khổng giáo để giành được sự ủng hộ của công chúng – mà những ngôn từ chính trị gần đây cho thấy Đảng đang nỗ lực thực hiện điều đó. Tuy nhiên, điều này lại không chắc chắn là một giải pháp dài hạn dễ chịu. Người ta chỉ cần nhìn lại sự thăng trầm ngoạn mục của Bạc Hy Lai để dẫn ra một ví dụ quan trọng mà ban lãnh đạo Đảng đã tỏ ra rất khó chịu với sự cuồng tín ý thức hệ của một số trí thức tự nhận là theo chủ nghĩa Mao. Các hệ tư tưởng tả khuynh không phải lúc nào cũng là đồng minh đáng tin cậy hơn các hệ tư tưởng tự do chủ nghĩa.

Rốt cuộc, liệu bản thân các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc có quan tâm sâu sắc đến ý thức hệ, hay ít nhất là ngày càng quan tâm sâu sắc hay không? Đúng là những quan điểm gần đây của Tập về Mao, về truyền thống văn hoá Trung Quốc và về nhu cầu thay đổi văn hoá trong giới chức chính quyền tỏ ra rất nhất quán với quan điểm của một nhà kỹ trị thực dụng. Tuy nhiên, chúng cũng rất nhất quán với cách ứng xử của một nhà bảo thủ XHCN và văn hoá đích thực, người theo đuổi các mục tiêu ý thức hệ của mình một cách chừng mực và thận trọng. Bất chấp những gì người ta nghĩ về ban lãnh đạo hiện hành, hy vọng là cái ý niệm của phương Tây theo đó nền chính trị Trung Quốc thuần tuý bắt nguồn từ chủ nghĩa thực dụng sẽ sớm biến mất.
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nơi con người biết tồn tại trong hỗn loạn



Image copyrightDeshakalyan Chowdhury Getty
Lần đầu tiên tôi đặt chân đến Ấn Độ là khoảng 20 năm trước với quyết tâm thay đổi nơi này.
Dĩ nhiên tôi không muốn thay đổi tất cả mọi thứ của Ấn Độ.
Điều mà tôi muốn thay đổi là những thứ mà tôi cảm thấy hết sức bực mình: sự tranh giành không khoan nhượng tại các bến xe buýt và nhà ga xe lửa, cách lái xe bừa bãi, cách diễn giải quá thoải mái về các cuộc hẹn đã được lên lịch, cách trả lời lưng chừng chả hiểu rốt cuộc là ‘Không’ hay ‘Có’.
Quyết tâm thay đổi tất cả những điều này, tôi tự xem mình là một nhà cải cách và tôi thực hiện ‘sứ mạng’của mình với sự hào hứng của một kẻ khờ khạo và hiểu biết sai lệch.

Thay đổi hay chấp nhận?

Các nhà cải cách không trụ được lâu ở Ấn Độ. Chúng ta thường thấy họ thu xếp hành lý và càu nhàu rằng Ấn Độ là một nơi ‘không thể nào chịu được’.
Trái lại, những người chấp nhận thì biết rằng nền văn minh Ấn Độ đã có từ rất lâu đời và sẽ không thay đổi chỉ vì có du khách muốn nó thay đổi.
Image copyrightDibyangshu Sarkar Getty
Image captionGiao thông trong giờ cao điểm ở Kolkata
Tôi đến Ấn Độ với tư thế một người cải cách nhưng sau đó rời đi với tâm lý kẻ chấp nhận.
Tôi đã nhận ra rằng Ấn Độ sẽ không thay đổi mà tôi mới chính là người phải thay đổi. Nếu không, tôi sẽ phải chịu thất bại, hoặc tệ hơn nữa là sẽ sống mà không có Ấn Độ, không có những bài học đáng giá.
Bài học quan trọng nhất là nghệ thuật buông xả vốn hết sức quan trọng nhưng chưa được đánh giá đúng mức.
Điều này có nghĩa là trước hết hãy buông xả đối với những kỳ vọng.
Trong Kinh Bagavad Gita của đạo Hindu, Đức Krishna nói với Arjun: “Hãy làm việc với 100% sức lực nhưng chỉ đầu tư 0% vào kết quả.”
Điều này chắc chắc cực kỳ khó mà chấp nhận. Thông thường thì nếu chúng ta càng bỏ nhiều công sức thì chúng ta càng kỳ vọng nhiều và cùng với nó thì nỗi thất vọng cũng lớn hơn.
Lời khuyên của Krishna, tôi nghĩ, là điều mà các du khách đến với Ấn Độ phải lưu tâm. Đừng đến đất nước này với quá nhiều hay quá ít kỳ vọng, mà phải là không có mong đợi gì. Hãy buông xả.
Chính tôi đã có trải nghiệm này ở Kolkata mới đây.
Image copyrightDibyangshu Sarkar Getty
Image captionGiờ nghỉ ăn trưa
Lúc đó tôi đang thực hiện nghiên cứu cho quyển sách mới nhất của mình.
Tôi có một lịch trình mà tôi nghĩ rằng mình phải tuân thủ. Tôi có một kế hoạch mà tôi cho rằng sẽ có tác dụng. Cả hai đều không duy trì được lâu.
Trước hết, đó là mùa gió mùa và điều này có nghĩa là cúp điện nhiều hơn và giao thông hỗn loạn hơn bình thường.
Khi tôi cuối cùng cũng đến được chỗ những người mà tôi cần gặp thì họ không rảnh, cho nên tôi thấy hối vô cùng.
Người nhân viên khách sạn cảm thấy thương hại tôi và nói cho tôi biết rằng trong tiếng Hindi, từ 'ngày mai' thì giống hệt từ 'ngày hôm qua'.
Tôi bắt đầu nhận ra rằng tôi cần phải buông xả những kỳ vọng cứng nhắc của mình về thời gian và tôi cũng cần phải từ bỏ ảo tưởng sẽ kiểm soát được mọi việc.

Trật tự trong hỗn loạn

Đương nhiên, điều này không hề dễ dàng bởi lẽ nó là một ảo tưởng cố hữu.
Image copyrightAFP Getty
Image captionSách được xếp chồng đống lên nhau trong một tiệm sách ở Ấn Độ
Chúng ta đi làm, thanh toán hóa đơn, nấu ăn và đi nghỉ mát với niềm tin rằng những việc chúng ta làm sẽ đem đến kết quả và rằng nếu chúng ta kiểm soát được công việc đầu một cách hợp lý thì công việc sau sẽ suôn sẻ và mọi thứ sẽ vào guồng.
Ấn Độ đã đánh tan ảo tưởng này. Bất kỳ nỗ lực nào để kiểm soát sự bất thường của số mệnh đều vô vọng.
Qua nhiều năm, tôi cũng học được rằng tôi cần buông xả ý niệm rằng mình ‘hiểu’ nguyên tắc vận hành của Ấn Độ.
Chẳng hạn khi bước vào một nhà sách ở Kolkata, tôi chỉ thấy sự hỗn loạn với tất cả các cuốn sách từ của Tagore cho đến Grisham nằm chất đống trên sàn cho đến trần nhà mà không theo bất cứ trật tự nào cả.
Vậy mà khi tôi hỏi về một tựa sách nào đó (một tiểu thuyết lịch sử có tựa là Those Days), người bán sách đã nhanh chóng tìm ra nó mà không mất nhiều công sức. Đó chính là anh ta đã nhìn thấy trật tự trong sự hỗn loạn.
Giờ đây tôi đã hiểu rằng toàn bộ đất nước Ấn Độ đều như thế: vừa hỗn loạn vừa trật tự.
Image copyrightRebecca Conway Getty
Image captionGiữa những xô bồ của đường phố, người ta vẫn thong thả pha trà bên vỉa hè
Hãy xem người pha trà chế biến mọi tách trà y hệt nhau với đúng một cách pha, hay cái cách mà người lái xích lô len lỏi một cách điệu nghệ giữa dòng xe cộ.
Giống như nhà kinh tế Anh Joan Robinson đã từng có một câu nhận xét nổi tiếng: “Bất cứ điều gì mà bạn nói chính xác về Ấn Độ thì điều ngược lại cũng đúng.”
Có lẽ Robinson đã phát hiện được điều gì đó. Người ta đã nói rằng một chỉ dấu về sức khỏe tâm thần là khả năng có thể nắm bắt được hai khái niệm trái ngược nhau cùng một lúc mà không nổ tung đầu óc.
Chiếu theo quan niệm này thì Ấn Độ là nơi tỉnh táo nhất trên thế giới.
Vấn đề là Ấn Độ là một nơi du khách khó hòa nhập và chính sự khó khăn này lại làm nên sức hút của đất nước này.
Tuy nhiên nếu mục đích của việc đi du lịch là để thách thức bản thân mình – để khám phá ‘một cách nhìn mới’ như Henry Miller từng nói – thì lẽ dĩ nhiên chúng ta nên khám phá những vùng đất khó nhằn nhất như Ấn Độ chẳng hạn, không phải để thay đổi nó mà là để thay đổi chính bản thân chúng ta.
Phần nhận xét hiển thị trên trang

THÓI ĐỐ KỴ – TRỌNG BỆNH CỦA NGƯỜI VIỆT

Người Việt hay để ý của nhau nên mới biết nhà kia có gì hay, có gì hơn của nhà mình. Nếu thấy người ta mua được con xe máy đắt tiền thì cũng cố để mua được con xe… đắt tiền hơn. Thấy người ta xây căn nhà mới, nếu sau đó nhà mình cũng xây thì luôn cố gắng làm to hơn một tí, cao hơn một tí… Ngược lại, nếu mình không được như nhà hàng xóm thì sinh ra ganh ghét, so bì.

Nhà văn Tạ Duy Anh tổng kết rằng, thói tự mãn, nói dối và đố kỵ là ba thứ khiến người Việt không thể lớn. Trong đó, đố kỵ là bệnh nặng nhất của giới trí thức Việt, đồng thời cũng là bệnh nặng nhất của dân tộc. Vì sao vậy?
Bệnh nặng nhất của giới trí thức
Nhà văn Tạ Duy Anh đau đáu khi bàn về tính đố kỵ của người Việt. Ông bảo, với người Việt thì thói đố kỵ là “vô cùng kinh hoàng”. “Khi gặp một người nào đó, chỉ cần xác định 3 điều: Đố kỵ, háo danh, nói dối thì khẳng định luôn là ông không có tài. Người có tài thì họ chỉ có một trong ba thứ đó thôi: Nói dối thì có thể vì làm thế mới sống được, chấp nhận được; có tài thì làm gì người ta phải háo danh nữa, vì họ hiểu danh hay không sẽ chẳng thể liên quan đến việc anh có muốn hay không mà phải là do sự nỗ lực, cố gắng của bản thân mới “hữu xạ tự nhiên hương”; nhưng đố kỵ là bệnh nặng nhất của giới trí thức Việt Nam, mà đã là giới trí thức thì đó cũng là bệnh của cả một dân tộc”, ông khẳng định.
Cũng theo nhà văn, đáng ra, người ta phải bài trừ những tính xấu này. Đằng này xã hội lại tạo danh tiếng cho người ta háo danh hơn bằng đủ các thể loại giấy khen, bằng khen, chứng nhận gia đình văn hóa, làng xã văn hóa… Nhà này thấy nhà kia đạt được danh hiệu thì cũng ấm ức trong lòng, quyết mua danh bằng được. Cứ thế mà thói đố kỵ đẩy lên.
Rồi chuyện hai nhà đang sống cạnh nhau thân thiết. Sau đó một nhà giàu có lên thì nhà kia sẽ không chơi nữa, nhưng nếu nhà giàu đó mà gặp chuyện tai ương thì nhà kia sẽ quay lại, chơi rất thật lòng. Trong một tập thể thì không ai ngoi lên được hoặc có ngoi lên sẽ bị gièm pha, nhòm ngó. Lại có ông giám đốc phấn đấu cả đời mới lên được chức ấy thì tự cao tự đại, coi mình là nhất. Những người không hợp phe cánh, phấn đấu mãi cũng chỉ làm cấp phó quay ra chống đối, cốt sao được ngoi lên cái chức vị ấy.
Ngay trong giới văn nghệ sĩ, nhiều người đạt được một giải thưởng nào đó thì tự đắc, coi mình tài giỏi lắm. Người khác thì chậc lưỡi “nó viết có ra cái gì đâu, chẳng qua là ăn may thôi”… “Thói đố kỵ ăn sâu đến nỗi nhiều khi tôi cũng giật mình xấu hổ vô cùng khi giả dụ thấy ai trúng vé số mấy tỷ, có một phần triệu giây trong ý nghĩ mong cho người ta bị vấn đề gì đó. Cực xấu hổ!”, ông chia sẻ.
Đố kỵ vì không có tiêu chí về đạo đức, tài năng
Theo nhà văn Tạ Duy Anh, sở dĩ người Việt đố kỵ vì cộng đồng không có tiêu chí về đạo đức, tài năng. Đó là một cộng đồng trọng tuổi “sống lâu lên lão làng” hơn là trọng tài, thích được ve vuốt hơn là nói thật. Tất cả những cái đó được tích tụ lại dẫn đến thói đố kỵ, không muốn ai hơn mình.
“Trong một cộng đồng không biết tôn vinh thủ lĩnh thì nó sẽ kéo nhau xuống. Có câu “chết cả đống còn hơn sống một mình” là nét khái quát nhất, thể hiện rõ nhất tính đố kỵ của người Việt. Thấy người ta viết tác phẩm hay thì nói xấu hòng kéo thanh danh của họ. Nhiều khi nói xấu chỉ để thỏa mãn bản thân chứ chẳng hại đến người ta, nhưng nó cũng cho thấy rõ ràng tính đố kỵ đã làm người ta không thể kiểm soát nổi mình”, nhà văn Tạ Duy Anh nói.
Đố kỵ làm người Việt nhỏ nhen
Còn theo PGS.TS Ngô Văn Giá thì cái gốc của thói đố kỵ là cấu trúc xã hội đẳng cấp, trọng tiêu chí hơn – kém, đúng – sai hơn là biết nhìn ra điểm khác biệt, ưu thế của mỗi cá nhân. Từ đó mà sinh ra so bì, đố kỵ, thóc mách, rất sợ người ta hơn mình và không muốn người ta hơn mình, không dám thừa nhận năng lực kém.
Còn ThS Trần Phương thì chỉ ra rằng, thói đố kỵ, so bì cũng có nguồn gốc “dây mơ rễ má” từ tính tò mò, tâm lý đám đông của người Việt. Ông phân tích: Người Việt hay để ý của nhau nên mới biết nhà kia có gì hay, có gì hơn của nhà mình. Nếu thấy người ta mua được con xe máy đắt tiền thì cũng cố để mua được con xe… đắt tiền hơn. Thấy người ta xây căn nhà mới, nếu sau đó nhà mình cũng xây thì luôn cố gắng làm to hơn một tí, cao hơn một tí… Ngược lại, nếu mình không được như nhà hàng xóm thì sinh ra ganh ghét, so bì, thậm chí còn viện lý do để an ủi bằng những suy nghĩ nhỏ nhen kiểu “chắc nó lại được bố mẹ, anh em cho”, “chắc gì tiền để làm những thứ ấy là trong sạch”, “trời không cho ai tất cả”…
Cũng theo ông Phương, chính vì văn hóa làng coi trọng tập thể hơn cá nhân; yếu tố “bản vị” coi cái gì của làng mình, của dòng họ, gia đình mình cũng là nhất nên khi thấy người khác hơn mình sẽ cảm thấy khó chịu. Cứ thế, thói đố kỵ làm người Việt luôn phải nhìn nhau, đề phòng nhau, hơn thua nhau thay vì cùng san sẻ với nhau. “Song có một điểm đáng chú ý là khi gặp thiên tai, ngoại xâm, tính đố kỵ dường như không còn chỗ nữa mà người Việt lại tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách. Đó là tính hai mặt của văn hóa làng”, ông Phương bình luận.
Làm sao để người Việt bớt đố kỵ?
Thừa nhận đố kỵ, so bì cũng thuộc cơ chế tự vệ của con người, song theo GS Phạm Thành Nghị, Viện Tâm lý học thì cơ chế ấy ở mức độ nào, có thường xuyên xuất hiện hay không lại do môi trường xã hội chi phối. Ông nói: Khi môi trường xã hội không an toàn thì cơ chế này xuất hiện thường xuyên. Ngược lại, môi trường trong lành, mức sống của người dân ở đó được đảm bảo, con người có thể tồn tại dễ dàng, có thể kết bạn thì cơ chế ấy sẽ ít xuất hiện. Điều đó lý giải cho việc vì sao người phương Tây rất cởi mở, ít so bì, đố kỵ nhau hơn người Việt Nam, người miền Nam ít đố kỵ hơn người miền Bắc, vì ở đó mức sống cao hơn, cơ chế sòng phẳng hơn, đánh giá con người thông qua năng lực tốt hơn.
Vì thế, để giảm bớt tính đố kỵ của người Việt, theo ông Nghị, cần phải xây dựng rõ ràng tiêu chí đánh giá con người. Phải đánh giá bằng năng lực, có thang điểm cụ thể thay vì kiểu “sống lâu lên lão làng”. Phải khắc phục bằng thiết chế, thể chế, giáo dục.
Tuy nhiên, nói đến sự đổi mới của giáo dục nhằm hạn chế tính đố kỵ, nhà văn Tạ Duy Anh tỏ ra khá bi quan khi cho rằng, ngay trong giáo dục cũng đang tồn tại háo danh thông qua những bằng khen, giấy khen, phiếu bé ngoan, thầy cô giáo nhận tiền của phụ huynh để sửa điểm cho học sinh… thì thật khó để nghĩ đến sự thay đổi. Bên cạnh đó, giới trí thức – những người “dẫn đường chỉ lối” cho xã hội cũng mắc phải căn bệnh đố kỵ thì dường như, để hạn chế tính đố kỵ của người Việt vẫn còn là ước muốn khá xa vời. Song, “dù gì cũng cần phải làm một cái gì đó, trước hết và căn bản vẫn phải từ giáo dục”, ông nói.
———————————————————–
“Người Việt có câu “thà chết cả đống còn hơn sống một mình” là câu cô đúc nhất về thói đố kỵ, không muốn ai hơn mình mà chỉ muốn kéo mọi người xuống ngang bằng với mình. Đó chính là nguyên do của việc Việt Nam bị chậm phát triển. Tất nhiên, ở một góc độ nào đó, tính đố kỵ làm cho con người ta có động lực để phấn đấu, cố cho bằng bạn bằng bè. Song về cơ bản nó vẫn kìm hãm sự phát triển, không thúc đẩy được sự sáng tạo cá nhân” – PGS.TS Ngô Văn Giá
Phần nhận xét hiển thị trên trang

NÚI TỔ BA VÌ VÀ CHIẾN TRANH PHONG THỦY

A. Phong Thủy?

Phong là GIÓ, Thủy là NƯỚC, nghiên cứu Phong Thủy thực chất là nghiên cứu nguồn gió và dòng nước. Muốn làm được việc đó, cần có những cứ liệu chính xác về địa lý cảnh quan, để rồi hoặc tận dụng những điều kiện ưu việt của nó, giúp con người sống ngày một tốt hơn, hoặc khắc chế những yếu tố bất lợi của nó, để giảm bớt tai họa cho cuộc sống của mỗi người.
Ở tầm “vi mô”, các thầy phong thủy hành nghề theo yêu cầu của các gia chủ, họ chỉ xem xét phạm vi chật hẹp của ngôi nhà, thửa đất nho nhỏ của một gia đình, họ chỉ được quan sát môi trường hẹp xung quanh mảnh đất, đường đi lại, dòng sông chẩy qua, mái đình, ngôi chùa ở gần đó, cái cột điện, cây đa truyền sinh khí hay lưu âm khí … rồi ông thầy đưa ra các giải pháp chế ngự hung khí, khai thác sinh khí bằng cách trổ cổng ngõ, đào ao, trồng cây, hoặc có khi chỉ treo trước nhà một tấm gương hay một lá bùa… Ông thầy có thể hiểu, nhưng không thay đổi được vận khí của một vùng đất, của cả làng, cả huyện, cả tỉnh hoặc cả một quốc gia. Thực tế, đã có nhiều thầy giỏi, hành nghề có uy tín, được nhiều người hâm mộ. Nhưng, ta hãy thử nghĩ xem, nếu cả huyện, cả tỉnh hay cả quốc gia của ta bị lụn bại, thì việc bám vào tấm gương hay lá bùa trước cổng, điều hanh thông có đến được với gia đình ta và con cháu ta không?
Ở tầm “vĩ mô”, các nhà nghiên cứu phong thủy địa mạch có tầm nhìn bao quát hơn, rộng hơn và cơ bản hơn. Từ hình dạng đất nước, từ cấu trúc địa hình, dẫy núi, dòng sông… con người phải tận dụng, nhưng phải tôn trọng, làm những việc hợp với nguyên lý khoa học, hợp với thời đại và mang lại lợi ích trường tồn cho đất nước ta, tức là cho mỗi chúng ta.
B – Chiến tranh Phong Thủy
Theo những tài liệu đã tung lên mạng của nhóm Lê Văn Xương từ hàng chục năm trước, thì từ đỉnh Everest cao 8.800m trên dẫy Hymalaya có một đường gân núi cổ sinh uốn lượn, theo biên giới Ấn Độ và Tây Tạng, qua cao nguyên Vân Nam của Trung Quốc, đến đỉnh Fanxipan của dẫy Hoàng Liên Sơn trên nước ta cao 3.341m, mạch núi cổ đi đến vùng Lâm Thao Phú Thọ thì “lặn xuống” và qua con sông Đà uốn lượn, gân núi cổ sinh lại “mọc lên” đỉnh Ba Vì cao 1.226m. Gân núi này uốn lượn theo hình một con Rồng khổng lồ, đuôi xòe ra ở đồng bằng Bắc Bộ.
 
Nếu ta gọi Everest là Tổ Sơn, nóc nhà của thế giới, nơi tiếp nhận linh khí của Trời, đến đỉnh Fanxipan của dẫy Hoàng Liên Sơn là Thái Sơn, nơi thụ Linh khí truyền vào đất nước ta, thì Ba Vì là Trấn Sơn, hòn núi đứng gác non sông. Quanh Trấn Sơn Ba Vì còn có các dẫy núi khác quây lại (gọi là núi chầu Thiếu Sơn) như Đông Triều, Bắc Sơn, Ngân Sơn, Hoàng Liên Sơn, Sông Đà, Tam Đảo và Trường Sơn. Chạy theo các dẫy Núi chầu này là các dòng Sông Tụ: đó là Sông Hồng, sông Chẩy, sông Lô, sông Đà, sông Thao…. gặp nhau ở Việt Trì rồi tỏa xuống, đưa nước vào nuôi sống cả đồng bằng Bắc Bộ.
Quả vậy, Ba Vì là Trấn Sơn, hòn núi đứng gác non sông, gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, với bao truyền thuyết đáng ghi nhớ. Không phải vô cớ mà cách đây 1200 năm, thầy phong thủy Cao Biền, quan Thái thú của vua Đường Y Tôn đã phát hiện ra các huyệt đạo quan trọng và đã cố công trấn yểm để diệt hiền tài của nước ta, nhưng vẫn bị bó tay với Ba Vì. Trước mặt Ba Vì ở khoảng cách 26 km là Hồ Tây mênh mông, nơi tụ linh khí tỏa ra từ đỉnh Ba Vì, là Minh đường lớn và chính Cao Biền đã gọi Hồ Tây là Não thủy (xưa kia còn có tên là hồ Dâm Đàm, hồ Xác Cáo, hồ Kim Ngưu…) ở đó có những mạch nước thông với sông Hồng, nên những lúc nước sông Hồng dâng cao vẫn có bọt sủi và xung quanh Hồ Tây, đặc biệt khu vực Tây Hồ Tây thuộc phường Xuân La ngày nay, vẫn còn những địa danh cổ rất lạ như sông Thiên Phù (Trời giúp) Đình Bái Ân, Chùa Bái Ân (tạ ơn Trời), ở hồ Tây đã từng nhiều lần xẩy ra hiện tượng Long quyển thủy (rồng cuốn nước). Năm 1010 Vua Lý Thái Tổ dời đô về và đặt tên Thăng Long chính vì lẽ đó.
Chưa hết, từ Ba Vì ra đến cảng Vân Đồn thì đuôi rồng lặn xuống nước, nên nơi đó có tên là vịnh Hạ Long, rồi đường gân đi xa mãi, xa mãi đến vịnh Mindanao ở Philipin sâu gần 11.000m. Ta cũng biết rằng nhiều ngàn năm qua người Hán từ Tây Bắc Trung Hoa tràn xuống xâm chiếm và đồng hóa các dân tộc Bách Việt ở phía Nam sông Trường Giang, nhưng đến đồng bằng Bắc Bộ có cấu trúc núi chầu sông tụ và có trấn Sơn Ba Vì thì họ bó tay. Một ngàn năm Bắc thuộc mà họ không đồng hóa nổi chúng ta cũng vì đặc điểm cấu trúc phong thủy này.
Người Hán có nguồn gốc ở Tây Bắc nước Trung Hoa tràn xuống Phương Nam, họ có tham vọng vô cùng lớn. Họp đã thôn tính được các dân tộc Bách Việt ở Nam Trường Giang. Năm 1914, nhà Thanh thôn tính được quốc gia Tây Tạng và hôm nay họ biết họ không đồng hóa được Tạng Tộc thì họ tàn sát cho đến người Tạng cuối cùng và hôm nay họ xâm lấn các tỉnh biên giới, họ khai thác Bauxite để phá Tây Nguyên và từ năm 1974 đến nay họ không ngừng gây sự với ta để chiếm Hoàng Sa Trường Sa, đồng thời uy hiếp Philipin cũng vì kho của cải vô giá ở Biển Đông.
Các sự kiện trên Biển Đông hôm nay. Những phản ứng mới nhất của Philippin và cộng đồng Đông Nam Á gần đây đang phản ánh cuộc chiến đấu nghiêm trọng, mà Việt Nam đang là yết hầu của cuộc chiến này, nếu TQ “thắt cổ” được Việt Nam là Trung Quốc nuốt gọn Đông Nam Á.
Nếu ta coi Trái đất là một cơ thể sống hoàn chỉnh, thì “đường gân” từ đỉnh Everest nóc nhà thế giới đến đáy vịnh Mindanao là bộ xương sống giữ cho hình dạng trái đất không bị biến dạng, không bị bóp méo và bởi vậy, con người mới có cuộc sống yên ổn, không phải nơm nớp lo sợ động đất, sóng thần, lở núi…cùng nhiều tai họa khác.
Cũng trên nguyên lý đó, nếu ta coi vùng núi cổ sinh Ba Vì là hòn núi đứng gác non sông có trên 250 triệu năm với lịch sử giữ nước của dân tộc ta cũng như thảm thực vật đa dạng và quý hiếm của nơi đây, thì ta ý thức được đồng bằng Bắc Bộ “non trẻ” có thể tồn tại được, có thể duy trì cuộc sống cho con người mãi mãi cũng nhờ vùng đá cổ sinh này.
Bởi vậy, đào núi Ba Vì lên để đào vàng hay làm bất cứ chuyện gì đều động chạm thô bạo đến “cái lõi” giữ cho đất nước ổn định, là là phá hoại an ninh đất nước.
C- Những Kiến nghị
Khái niệm về Công viên địa chất Geopark đã được thế giới định nghĩa, đầu tiên phải là một vùng có những di sản địa chất có giá trị khoa học, là một vùng có cảnh quan thiên nhiên kỳ thú và có thảm thực vật đa dạng sinh học. Việt Nam chúng ta đã có Công viên địa chất cao nguyên Đồng Văn được UNESCO công nhận là công viên địa chất toàn cầu. Nếu trong Hội nghị quốc tế về Công viên địa chất tổ chức từ ngày 16 đến 24/7 -2011 tại Hà Nội, ta được UNESCO công nhận Ba Vì là Công viên địa chất thứ hai, thì Hà Nội sẽ vinh dự được đầu tư Ba Vì thành một đô thị du lịch.
Để có thể có được một công viên địa chất toàn cầu, có giá trị về bảo tồn di sản văn hóa, lại có sức hấp dẫn khách du lịch, phải có một nghiên cứu tổng thể, phân loại, đánh giá, không chấp nhận kiểu tự phát, xô bồ, mạnh ai người đó làm như hiện nay.
1 – Khu vực Rừng Quốc gia Ba Vì là khu vực bảo tồn cấp nhà nước, không chấp nhận cho bất cứ một nhóm tư nhân nào chiếm làm của riêng. Phải ngừng ngay và cấm hẳn việc cho xe ủi đất đào bới khu vực Rừng Quốc Gia đồng thời, cần phải dừng ngay việc xây dựng tháp báo thiên ở trên đỉnh núi, việc đó sẽ dẫn tới sự thất thoát linh khí.
2 – Thành phố Hà Nội cần tận dụng những kết quả đã dầy công nghiên cứu khoa học của PGS.TS Tạ Hòa Phương và các cộng sự chuyên ngành địa chất, để cùng đề xuất trong Hội nghị Quốc tế vào tháng 7 tới, tổ chức tham quan, khảo sát… quyết giành được sự chấp thuận của UNESCO cho xây dựng Ba Vì thành một công viên địa chất cấp quốc tế để phục vụ nghiên cứu khoa học và kinh tế du lịch.
4- Về mặt Quy hoạch & Kiến trúc, rất nhiều nhà nghiên cứu đặt câu hỏi rằng Đà Lạt cách xa TP Hồ Chí Minh những 300 km, mà có thể trở thành một thành phố nghỉ dưỡng đẹp, mang phong cách Châu Âu, thu hút khách du lịch khắp nước, thì tại sao Hà Nội có Sóc Sơn, Ba Vì mà tại sao không thể tạo thành một “Thành phố xanh” hay gọi là “Đà Lạt sát bên Thủ đô” với các loại hình du lịch sinh thái (của người Mường) và du lịch nghỉ dưỡng chữa bệnh (của người Dao với 300 loài cây thuốc quý và nghề chữa bệnh truyền thống mà không nơi nào có thể tìm thấy được).
5 – Đã đến lúc, người hưởng thụ ý thức được niềm hạnh phúc được sống hòa mình trong thiên nhiên với những ngôi nhà xinh xắn, vật liệu rẻ tiền, dễ kiếm, với những thảm thực vật đa dạng và cây cỏ phong phú. Để có giá trị văn hóa sâu sắc và để thực sự thu hút được sự hâm mộ của đại đa số khách du lịch tham quan trong nước và bạn bè quốc tế, việc xây dựng, hình mẫu kiến trúc… không thể tùy tiện, mạnh ai người đó làm như đang xẩy ra.
Vừa qua, Hội KTS Việt Nam đã thành lập Hội đồng KIẾN TRÚC XANH, rất hy vọng Hội sẽ phát động các cuộc thi làm quy hoạch và sẽ lựa chọn hình mẫu kiến trúc, xây dựng thử một khu vực hoàn chỉnh…
Tóm lại, để chung sức đóng góp bảo vệ toàn bộ Khu vực và Vườn Quốc gia Ba Vì, khu đất linh thiêng quan trọng nhất của đất nước, nơi còn có tên là TRẤN SƠN – hòn núi đứng gác non sông. Nơi ấy là địa điểm quan trọng, liên quan đến vận mệnh của đất nước, nên quy hoạch và xây dựng Ba Vì phải được nghiên cứu thận trọng và phải được các cơ quan chuyên môn nghiên cứu và Chính phủ ra quyết định.
*Bài viết do KTS Trần Thanh Vân gửi trực tiếp cho NXD-Blog
Phần nhận xét hiển thị trên trang

CÂU CHUYỆN THỨ HAI VỀ ÔNG MEM BỜN



Truyện ngắn của HG

Hắn đang ở nhà hàng Cá Heo, nơi thời xưa là cửa hàng bán cung cấp cho cán bộ trung cao. Thời ấy hàng họ cũng chẳng có gì nhiều, chỉ một vài thứ hàng tiêu dùng thiết yếu, người ta bán ba hàng, bảy dãy chẳng có ma nào mua ngoài phố bây giờ. Nhưng lúc đó cực kỳ quý hiếm. Mấy hộp sữa, vài cân đường, tút thuốc lá “Thủ đô”, dăm mét vải.. Hầu hết là hàng tầm tầm, không mấy giá trị so với bây giờ. Nhưng rất thưa thớt người ra vào bởi vì vào được đấy phải là ông gỉ ông gì, người thường có ngang qua đấy chỉ ghé mắt nhìn qua khe cửa, thèm thuồng rồi vội rảo bước. Họ không có phận ở đấy. Phải các ông bà có bìa ưu tiên loại A,B, C trở lên. Nghe nói họ còn có nguồn không chính thức khác. Thành ra hàng “tiêu chuẩn”, mua người ta vẫn cho người đi mua, nhưng hầu hết đều không dùng đến, hầu hết lại có mặt ngoài “chợ giời”.
Hắn biết, nhưng chả quan tâm lắm đến chuyện này. Ừ thì trên rừng có ba mươi sáu thứ chim, xã hội loài người cũng nhiều đấng, bậc khác nhau. Có con ăn trái chín, thơm tho nơi cành cao, có con nhặt nhạnh tí vụn, quả chát nơi khe rãnh.. cũng là chuyện thường. Nghĩ ngợi gì nhiều cho đau đầu. Tuổi trẻ là phải biết nhìn cuộc đời rộng lớn bằng con mắt bao dung, đại đởn, để ý ba cái lẻ tẻ ấy làm gì?

Thực ra cái cửa hàng cũ chỉ còn vị trí trong ký ức hắn. Bây giờ nó đã được dọn đi ngôi nhà hai tầng quét vôi vàng cũ kỹ có từ thời đô hộ. Thay vào đó là ngôi nhà năm từng, cửa kính cửa chớp sáng choang, những lối đi điệu bộ làm bằng vật liệu hiếm nhập từ nước ngoài. Một phép lạ nào đó đã biến tài sản công cộng trở thành của tư nhân. Hắn chỉ chưa biết người chủ thật sự của nó là ai.
Thế giới của hắn là một thế giới lạ lùng. Ngay những cái đơn giản nhìn thấy bằng mắt thường cũng trở thành khó hiểu. Kiểu như người ta bảo “Thấy vậy mà không phải vậy”. Tay nhà thơ đi cùng hắn cho rằng hắn trên rừng về, có nhẽ chả biết chỗ này là chỗ nào, định miễn phí cho hắn mấy câu giải thích. Hắn im lặng ngồi nghe, không tỏ ra biểu lộ gì. Bạn hắn lại càng hào hứng:
- Hôm nào tụ bạ anh em tôi cũng chọn chỗ này. Đồ ăn uống ngon mà lại không quá đắt. Thích cái chỗ này trung tâm thành phố, nhưng lại thoáng đãng, nhìn quay ra hồ. Có hôm thấy cả cụ rùa thích chí nổi lên mặt nước. Nó không bị cảnh xô bồ bụi bặm như ở chỗ khác..Nhưng buổi gặp mặt hôm nay là bởi nữ tác giả này – tay ấy chỉ cô nàng có mái tóc ngang vai, đôi mắt thân thiện ngồi trước mặt hắn.
Nàng đang hí húi ghi  tặng  sách. Tập thơ có bìa mầu hồng, mấy chiếc lá xanh ở bìa thứ nhất, nét chữ đoan trang, lại đẹp. Hẳn là hắn sẽ có thêm một cuốn.
Tự dưng hắn cảm thấy áy náy. Không phải hắn cảm thấy ngại ngần, lúng túng trước người đẹp, tác giả tập thơ. Mà hắn ngại vì lẽ khác. Thường thì khi nhận sách người được tặng vui vẻ cảm ơn, nói về sẽ chú ý đọc.. Nhưng thực ra cuốn sách sẽ yên phận nằm ở một góc tủ nào đó. Tác giả của nó sẽ chẳng mấy khi biết được người được tặng nghĩ gì và cảm thấy thế nào?
Hắn không phải hạng người đó. Bất kể ai tặng sách, hắn cũng đọc cẩn thận, có khi còn dùng bút đánh dấu từng đoạn thích hay không thích. Nếu không gửi thư điện tử thì hắn cũng gọi điện cho tác giả nói về nhận xét của mình với tác phẩm. Nhưng lâu nay hắn quá bận, thời cuộc lại có nhiều điều khiến người ta không thể không chú ý ( Dù phần nhiều chả để làm gì, vì bất lực ). Vừa phải lo sống, lo, lo thêm “Phê bình.. tiểu luận” nữa thì thật quá sức. Hắn cảm thấy mình có lỗi trước thịnh tình mà các tác giả dành cho. Nhất là tác giả nữ như nàng đang ngồi trước mặt hắn đây. Sách thì chưa đọc, nhưng hắn cảm thấy thơ nàng không đén nỗi dở. Người ta bảo: “ Trông mặt mà bắt hình dong”. Con người lịch duyệt, kiều diễm này thơ hẳn là sẽ hay.
Đang lan man chuyện nọ rọ chuyện kia, chợt có điện thoại. Màn hình hiện số ông Mem Bờn, anh họ hắn:
- Chú đang ở đâu?
- Dạ.. Em đang ở nhà Hàng Cá Heo. Anh đã ra Hà Nội rồi à? Tranh thủ đến đây một lúc được không, có bạn ở đây biết anh đấy?
- Mình đang ở Hà Nội. Rất tiếc là không đến chỗ các bạn được. À mà chú nói nhà hàng “Cá heo” là nhà hàng quái quỷ ở chỗ nào nhỉ?
- Thì cửa hàng “Quốc tế” bờ hồ ngày trước đó. Chắc anh đi lâu rồi nên không biết.
- Hỏi vậy thôi, chứ ngay bây giờ mình phải vào Sài Gòn có tí việc, không tới được đâu. Anh em gặp nhau khi khác..À mà này cái ổ rắc lai và dây nạp điện thoại chú xem trong cốp xe xem anh có để đấy không? Cất hộ khi nào ra anh lấy nha!
Thì ra ông ấy gọi tới là vì chuyện này. Cái ông chàng một thời sính thơ ca và tính khí hơi đoảng giờ lại tự nhiên lẩn thẩn, kỹ tính thế nhi?  Một cái rắc nạp điện chỉ vài ngàn bạc mua chỗ nào chẳng được mà sao nghe ông ấy có vẻ lo lắng quan trọng thế? Hay ông ấy nghĩ tình hình ở Việt Nam vẫn như hồi ông ấy chưa ra nước ngoài, cái gì cũng hiếm, sợ không mua được?
Con người ta khi đứng tuổi có khi lại hay quá cẩn thận. Có thể ông ấy không ngoại lệ, hắn nghĩ vậy. Nhưng có nhẽ không hẳn thế. Ngay lúc gặp nhau ở quê, hắn đã thấy ông ấy có nét kỳ kỳ thế nào khó giải thích. Cái cảm giác ấy cứ ám ảnh hắn mà hắn chịu không thể nghĩ ra. Nó là cái gì vậy ta?
**
Cái ổ rắc lai, một bề chừng năm phân, bề kia ba phân, có cả thảy mười hai lỗ.
( Chả biết ông MB dùng vào việc gì nữa? Chứ cần sạc điện thoại chỉ hai lỗ là đủ ). Có thể còn kết nối PC, hay loại máy đa năng nào đấy ). Bên nước Úc mà ông ấy đang sống hẳn là “hiện đại, hiện sinh” mỗi ngày dùng một lúc đến mấy loại máy móc, chưa chừng? ) Cái này thị trường trong nước bán đầy, mua chỗ nào chẳng được? Nó là thứ thiết bị hỗ trợ sản xuất hàng loạt, tìm ở đâu cũng có. Sao ông ấy lại quá chú ý về nó đến vậy? Hàng chục năm anh em mới gặp nhau, nhắn nhủ gì không nhắn, lại quá bận tâm đến chuyện cỏn con này? Nó trái ngược hẳn với bản tính, tính cách của ông ấy khiến hắn thắc mắc.
Mà hắn cũng thật vô tâm, chả chú ý đến. Trước lúc ra Hà Nội đáng lẽ phải nhớ lấy trong cốp xe ra..
Hẳn là điện thoại hết pin ông ấy mới sực nhớ, mới gọi cho mình. Sở dĩ nó được để trong cốp xe của hắn là do đêm đó mưa to, một cơn mưa trái mùa, cuối đông, ông ấy rủ hắn lên núi Ba Vì, sau bữa tiệc cưới con ông Cả Cơ.
Nếu biết mục đích của chuyến đi ngay từ đầu, hắn đã gàn ông ấy ở lại tìm cách giải quyết công việc ông ấy muốn, bằng cách khác. Đằng này ông ấy thản nhiên như không, chỉ bảo:
- Chú có bận gì không đi chơi với anh một chuyến, sáng mai về sớm?
Nhà đám ồn ào, cả ông ấy và hắn chỉ là khách mời, không phải cơ cấu nhân sự quan trọng, có đi cũng chẳng ảnh hưởng đến hội hôn..Hắn nghĩ thế nên chỉ hỏi:
-  Có việc gì mà đi xa vậy?
Ông Mem Bờn nói:
- Lâu ngày không gặp, muốn lến thăm ông Trung Quốc/ Lần trước về đã không đi được, lần này tranh thủ đi..
Ông Trung Quốc là tên gọi ông Cậu, em bà mẹ nuôi ông ấy chứ không phải là ông Tàu nào như ban đầu hắn nghĩ. Chả hiểu tại sao ông ngoại ông ấy lại đặt tên như thế. Hồi chưa lấy chồng mẹ nuôi hắn còn có tên là Liên Xô. Tục lệ quê hắn con gái lấy chồng, liền gọi theo tên chồng, cái tên Liên Xô ấy giờ chả mấy người nhớ tới.
Ờ thì đi. Cái xe máy ông MB thuê gần thiền viện Trúc Lâm bỗng dưng giở chứng. Hai anh em đành chung một xe của hắn.
Những lần trước về quê ông MB đều thuê tắc xi về tận làng. Có lần mang về cả va ly tiền. Ông cậu bà cô, bên nội bên ngoại mỗi người đều được chia cho dăm ba triệu. Riêng ông Cả Cơ, trưởng tộc còn được nửa trâm gọi là “Để đèn nhang đơm cúng các cụ”.
Lần ấy ngoài việc cho tiền mọi người ông Mem Bờn còn đưa một khoản tiền lớn, cỡ mấy trăm triệu để ông Cả tôn tạo khu mộ gia tộc họ Đoàn. Khổ nỗi ông Cả nhờ thành tích chiến đấu lên thiếu tá rồi mà vốn văn hóa vẫn thấp lè tè, kiến thức về xây dựng về kiến trúc vẫn ở số “mo”. Mấy chục ngôi mộ của gia tộc được ông ấy mua về cả mấy vạn gạch rồi “phóng to” nguyên hình dạng cũ to thêm thành những nấm mộ to nhất nghĩa trang của làng, không ngôi nào giống ngôi nào, vừa thô, vừa xấu. Không có thiết kế tổng thể, quy hoạch lại theo thẩm mỹ tâm linh. Sau hắn về làng thấy vậy không dám chê, vì việc đã rồi. Nói ra có khi gây mất đoàn kết gia đình.
Cũng có thể vì lẽ ấy mà sau này có nhiều việc không hay xảy ra cho họ tộc. Chính bản thân ông MB gặp lao đao hết việc này sang việc khác. Mặc dù ông ấy giấu, nhưng linh cảm mách cho hắn có điều gì không ổn từ hoàn cảnh của ông anh họ mình.
Người ta bảo có ăn có mặc nó bày ra đấy. Cách ăn vận của ông MB thật khó đoán vì từ trước tới nay ông ấy không chú trọng lắm. Nhưng vẻ mặt thì không giấu được. Có vẻ gì đó buồn phiền, khó khăn trong cử chỉ. Nó vừa lúng túng vừa e dè không thoải mái mạnh dạn như mọi khi.
Ngay cái điện thoại dùng cũng loại thường, có khi còn ít tiền hơn cái hắn đang có..

Lên đến nhà ông Trung Quốc cả hai anh em ướt như chuột lột. Ông cậu lấy làm ngạc nhiên khi ông cháu đến chơi giữa lúc mưa to gió lớn thế này. Không đợi ấm chỗ, ông Trung Quốc, đô vật có tiếng của làng khi xưa về các miếng, các mẹo vật hỏi ngay:
- Có gì gấp hay sao mà lên thăm cậu giữa lúc mưa gió thế này? Đợi ngớt mưa, mai hãy lên được không?
Là chủ quán cơm bán gần cổng trường Việt Hung, giao dịch đủ hạng người vào ra hàng ngày nên ông cậu có vẻ “mẫn cảm” khi hỏi câu này. Ông anh họ hắn nói: “Không có gì” nhưng vòng vo mãi, cuối cùng cũng nói thật.
Kể hết ra thì quá dài dòng, vắn tắt như này:
Nhân chuyến đưa đoàn thiện nguyện từ Úc về Việt Nam thăm Thiền Viện Trúc Lâm. Ông MB làm thông dịch, kiêm hướng dẫn du lịch. Nhưng đấy không phải mục đích chính. Chủ trương của anh họ hắn là về bán căn nhà, mảnh đất của cha mẹ để lại để lấy vốn sang Úc làm ăn.
Hai bác tôi sinh con một bề, ngoài ông MB là trai còn lại đều là gái đã lấy chồng. Chỉ duy nhất chị út ở lại trông nom nhà cửa cha mẹ qua đời để lại.
Thời bác tôi làm chủ tịch huyện, cả dân cả nước còn nghèo, gia cảnh ông cũng chả hơn người làng là mấy. Chỉ khi sáp nhập vào thành phố, đất cát lên giá, cơ ngơi mới thực có giá trị.
Hắn nghe thế lấy làm giật mình! Chả biết ông anh họ đang cỡ đại gia, ra nước ngoài rồi, tưởng càng khá lên, thất bát thế nào lại về quê bán đất tìm đường sinh sống?
Thực ra ông MB một thời giàu có là nhờ đằng vợ, cứ như ông, cũng chả có mấy cơ hội kiếm tiền. Không cứ ông, mấy ông làng văn làng báo người Việt, có mấy ông khá giả? Không có của chìm của nổi bên vợ để lại ông cũng như người ta thôi. Vợ ông là một vị tướng của phía bên kia. Đi cải tạo về sang Úc định cư. Người con là chị dâu tôi lấy anh tôi làm chỗ dựa về mặt chính trị.
Hai người một thời sống rất ổn. Chỉ từ khi ông bố vợ bảo lãnh con cháu sang Úc mới thực sự có vấn đề. Cách đây mấy năm, hai vợ chồng ông ấy từ Sài Gòn ra làm mộ cho bà bác tôi ( Bà này mất sau, nên sau này mới cải táng sau, không có trong đợt quy hoạch lại của cả tộc họ Đoàn tại làng ). Khi ấy cả hai vẫn mặn mà chồng vợ và xem ra tiền nong còn có vẻ dư dật. Ông ấy còn hỏi hắn có xe chưa, nếu chưa sẽ mua cho một cái. Không ngờ bãi bể nương dâu, đã đến nỗi này!
Ông Trung Quốc mọi khi đặc biệt quý thằng cháu là ông anh họ tôi. Theo ông chả mấy người làm được “Vinh thân phì gia” như ông MB! Vinh hạnh cho cả đôi bên nội ngoại cho dù ông chỉ là đứa con nuôi của bác tôi do không sinh được con trai!
Ruột thịt chưa chắc có anh làm được như vậy!
 Đi đâu ông cũng hãnh diện khoe về đứa cháu gọi mình bằng cậu.
Ấy vậy mà xem ra lần này lại khác. Không biết ông có thông tin từ nguồn nào, hay qua bộ dạng mà đoán được hoàn cảnh hiện tại của ông cháu có vẻ không bình thường?
Ngay từ lúc hai anh em đến, ông đã không còn vồn vã như mọi khi. Câu chuyện với ông đã có phần gượng gạo.
Ý định nhờ qua ông can thiệp để lấy cái “bìa đỏ”, cô em gái ở gần nhà ông cậu đang giữ, không thành.
Ông ấy bảo: “Cái này do bên nội nhà anh chứ tôi không dám có ý kiến”. Nói thế thì chịu rồi! Thực ra mọi sự trong gia đình ý kiến của ông từ ngày bà Liên Xô còn sống luôn là ý kiến quyết định. Khi bà mất, giá trị ấy càng tăng lên. Ông MB biết vậy nhưng chả thể nói gì.
Hai anh em sang nhà người em gái ông ấy một lúc, mãi khuya mới về.
Chính cái lúc về, cái sạc Pin cứ một lúc lại rơi, có thể túi áo khoác ngoài của ông MB thủng. Cái ổ rắc lai và dây nạp điện thoại vì thế mà nằm gọn trong cốp xe của hắn.
***
Bây giờ thì hắn hiểu vì sao ông MB không đến nhà hàng Cá Heo, nơi cả bọn đang say thi phú, quên hết cm chuyện đời! Lại nhắc đi nhắc lại mãi về cái ổ rắc, chả đáng mấy đồng tiền. Khi người ta túng quẫn, dễ có nhiều lẩn thẩn.
Hắn nhớ lại câu chuyện ông MB kể lượt từ chân núi Ba Vì trở lại quê:
- Để cả gia đình nhập cư tại Úc, hai vợ chồng anh họ hắn phải li dị vì nước Úc khồng đồng ý cho người được bảo lãnh sang nhập cư nếu có “liên hệ cộng sản”, dù là vợ chồng!
Việc này không biết thực hư, có hay không, hắn không dám hỏi lại ông ấy. Ai lại hỏi lại một việc như vậy chứ?
Hắn đủ lịch lãm để biết cư xử như thế nào về chuyện này.
Hay vợ chồng ông ấy có điều gì bất ổn mà ông ấy nói ra như vậy?
Chỉ biết khi sang đến nơi, chuyện li dị giả thành thật. Nước Úc rộng lớn, tuy cùng ở một quốc gia nhưng hai vợ chồng sống cách nhau gấp đôi đoạn đường từ Hà Nội đi Sài Gòn.
Ngày trước nhờ xuất thân, lai lịch gia đình thuận đường công danh lúc bước vào đời, thì bây giờ lại chính nó là trở ngại khi ra nước ngoài sinh sống.
Thật là sự trớ trêu của lịch sử đối với một con người.
Hắn chỉ khó hiểu sao có những ông bà “cộm cán” hơn nhiều mà họ vẫn nhập cứ ở Mỹ, ở Pháp? Chuyện đời không biết đâu mà lần, chỉ riêng với ông anh họ này thật nan giải.
Hỏi sang bên ấy sống bằng nghề gì? Ông ấy bảo đi trồng dưa, trồng cà. Mấy vụ liền bị lỗ vì ở Úc thời tiết khắc nghiệt, ông ấy lại nông dân nửa mùa. Cùng đường mới đi làm nghề chỉ trỏ cho khách du lịch ba lô như hiện nay!
Nghề văn, nghề báo sang đấy không có đất sống. Đó là những nghề phải gắn bó với mảnh đất quê nhà. Khi đã rời bỏ nó, chả khác cái cây bứng lên khỏi đất, không phải ai cũng tiếp tục làm như khi ở quê hương. Hàng rào ngôn ngữ đã đành, còn phong tục tập quán, văn hóa sống của nước người ta, mình biết gì, biết được bao nhiêu mà viết?
Có phải ai cũng có chân trong chân ngoài như ông T, bà H.. cả đâu?
Hết biết luôn, hắn chỉ còn nước lắc đầu.
Hắn nhớ còn một tia hy vọng khác, đêm đó ông MB kể. Nhưng cũng lấy gì làm chắc chắn? Đó là căn nhà ở quận BT, trước khi đi vợ ông ấy làm giấy giao cho người em họ bà ấy.
Ông MB vào Sài kỳ này ý hẳn là muốn bán căn nhà nọ. Xác suất xem ra chả mấy phần trăm/ Dễ gì người em họ đồng tình khi chị họ anh ta không còn liên hệ gì với ông ấy nữa?
****
Nhà phê bình văn học đang say sưa với tay nhà thơ về “Tác phẩm đỉnh cao”. Gã nhà thơ bảo: “Văn chương cũng có vận hội riêng của nó. Có thời có tác giả xuất chúng, tác phẩm để đời. Có thời chỉ toàn thứ nhì nhằng, nhăng nhít, không phải muốn mà được”. Nhà phê bình hỏi: “Nguyên nhân vì đâu?”. “ Chúng ta đang sống một thời kỳ hỗn độn giống như sau trận lũ quét, đất đá nhào lộn. Cần có độ lùi thời gian mới khẳng định được, mới có hình tượng, có tác phẩm tương xứng”… Họ đang mải tranh luận như chả để ý gì đến sự có mặt của hắn..
Nhà hàng Cá Heo bỗng nhốn nháo, hình như vừa có sự cố gì xảy ra. Hắn chào tay nhà thơ và mấy người bạn. Thú thực lúc này hắn chả bụng dạ nào tham gia thơ phú cùng các vị. Đó là câu chuyện dài, cần nơi yên tĩnh chứ không phải nơi như này.

Hơn nữa câu chuyện của ông anh họ làm hắn thấy bứt dứt, tuy chả giúp được gì cho ông ấy. Lòng tốt vô vị là thứ lòng tốt rẻ tiền, hắn biết là ông ấy không cần.
Nhưng biết đâu tiếng nói của gã với ông Cả sẽ tìm lối thoát cho ông ấy.
Không biết có kết quả gì không, nhưng ngay bây giờ phải gọi cho ông ấy hoãn chuyến đi Sài Gòn, hai anh em sẽ trở lại quê.
Và.. hắn bấm máy..
=======


Phần nhận xét hiển thị trên trang