Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Năm, 25 tháng 2, 2016

Trung Quốc ‘được nước lấn tới’ sau Hội nghị Sunnylands


25-2-2016
Trung Quốc đã hoàn chỉnh nhiều công trình quân sự, sân bay  trên đảo Chữ Thập (Trường Sa). Nguồn: báo TQ
Trung Quốc đã hoàn chỉnh nhiều công trình quân sự, sân bay trên đảo Chữ Thập (Trường Sa). Nguồn: báo TQ
Mỹ-Trung căng thẳng và nhiều ‘đấu khẩu’ kèm theo các động thái gây tranh cãi nhiều khi cũng khá gay gắt về Biển Đông. Những diễn biến và cảnh huống như vậy không phải đến bây giờ mới ‘có vẻ căng thẳng’. Vấn đề Biển Đông với mưu đồ bành trướng của Trung Quốc bộc lộ rõ qua việc công khai hóa ‘đường lưỡi bò’ kèm theo những hoạt động trắng trợn ngày càng gia tăng quân sự của Trung Quốc trên Biển Đông đã khiến mối quan hệ Mỹ-Trung có những diễn biến phức tạp khác thường. Mỹ chưa dừng chiến lược ‘xoay trục’ sang Đông Nam Á, Thái Bình Dương. Trung Quốc cũng không ngừng mọi thủ đoạn và hành động với sách lược ‘trỗi dậy hòa bình’, đoạt  chiếm Biển Đông.
Hội nghị thượng đỉnh Mỹ-ASEAN mới đây tại Sunnylands (Califonia –Mỹ) thể hiện rõ sự quan tâm ‘khá toàn diện’ của Mỹ đối với Châu Á-Thái Bình Dương mà điểm nóng là Đông Nam Á. Những nỗ lực thúc đẩy tác chiến lược Mỹ-ASEAN được các nước ASEAN chú trọng hơn, và Mỹ hầu như cũng đang dồn sức theo hiệu quả mong muôn. Theo một số nhà bình luận từ phía Mỹ, Hội nghị Thượng đỉnh bớt hình thức hơn là các hội nghị Mỹ-ASEAN thông thường với nhiều kết quả thương lượng cần đạt.
Văn kiện chung của Hội nghị thượng đỉnh Mỹ-ASEAN là Tuyên bố Sunnylands, trong đó tái xác nhận các nguyên tắc cơ bản để thúc đẩy sự hợp tác đi tới. Văn kiện 17 đoạn liệt kê các nguyên tắc này, từ việc tôn trọng các chuẩn mực chung như tự do hải hành và phát triển kinh tế chung và bền vững đến quyết tâm chung giải quyết những vấn đề riêng biệt như khủng bố, buôn người và thay đổi khí hậu toàn cầu. Một cam kết chung của Hoa Kỳ và ASEAN cho một trật tự pháp luật trong vùng Châu Á-Thái Bình Dương để gìn giữ hòa bình, thịnh vượng và tiến bộ trong vùng đã được ghi nhận trong Tuyên bố chung. Trong đó nhán mạnh những nguyên tắc đề ra tàu bè có thể di chuyển an toàn trên đường biển thế nào; các chính sách hữu hiệu nhằm mở rộng và cạnh tranh trong lãnh vực kinh tế; vấn đề chấp hành Luật biển Quốc tế…
Ngoài ra, tại Hội nghị thượng đỉnh này cũng bàn về nối kết Mỹ-ASEAN (US-ASEAN Connect) là một đề xướng của chính quyền Hoa Kỳ nhằm tận dụng mạng ba chân vạc ở Đông Nam Á – Singapore, Jakarta, và Bangkok – để phối hợp nhịp nhàng hơn các hoạt động kinh tế của Hoa Kỳ trong vùng và nối kết giới doanh nghiệp, đầu tư và thương mại. Chủ yếu tập trung vào việc phối hợp và nối kết các chương trình và cấu trúc hiện thời của Hoa Kỳ, đã và sẽ thông qua nhiều hội thảo giao thương để giúp 6 quốc gia Đông Nam Á chưa là thành viên của TPP tìm hiểu hiệp ước này cũng như những cải tổ cần thiết để tham gia trong tương lai. Hiện thời chỉ có bốn thành viên ASEAN có trong TPP (Brunei, Mã Lai, Singapore và Việt Nam), ba quốc gia đang muốn vào (Indonesia, Phi Luật Tân, Thái Lan), và ba quốc gia khác hiện nay không đủ điều kiện tham gia vì không thuộc Diễn đàn Hợp Tác Kinh Tế Châu Á-Thái Bình Dương (Lào, Miến Điện, Cam Bốt). Đặc biệt, Hội nghị thượng đỉnh Sunnylands rất ít đề cập đến những tố cáo và luận trình ‘đúng nồng độ’ việc đang rất nóng là Trung Quốc xây các đảo nhân tạo, xây sân bay, đưa các hoạt động quân sự ra Hoàng Sa và Trường Sa. Hoa Kỳ chỉ có những động thái ‘sau hậu trường’ hợp tác với các quốc gia Đông Nam Á những vấn đề liên quan đễn Trung Quốc và biển Đông, khiến dư luận cho rằng đây là sự né tránh rất tế nhị.
Có lẽ vì thế, mấy ngày qua cùng với việc ‘chu tất’ cả nội dung và phương sách cho chuyến thăm của Bộ trưởng Ngoại giao TQ, ông Vương Nghị, sang Hoa Kỳ, Trung Quốc tăng cường các hoạt động xây dựng căn cứ quân sự lâu dài, đưa máy bay và các phương tiện, khí tài chiến đâu hiện đại ra khu vực các đảo đã chiếm giữ và đắp trái phép ở quần đảo Trường Sa.
Ngày 24-2, trong buổi điều trần trước Ủy ban Quân vụ Thượng viện Quốc Hội Hoa Kỳ, Đô đốc Harry Harris, Tổng Tư Lệnh hạm đội Thái Bình Dương, loan báo Hải quân Hoa Kỳ chuẩn bị tiến hành các chuyến hải hành tuần tra Biển Đông nhằm bảo vệ quyền tự do đi lại trong vùng biển này, trước sự bành trướng bá quyền quân sự vùng Đông Á của Trung Quốc. Hoa Kỳ sẽ phối hợp với các đồng minh là Nhật Bản và Nam Hàn để thực hiện các chuyến hải hành này. Đô đốc Harris khẳng định rằng “Trung Quốc đang mưu tìm bá quyền ở Đông Á”. Theo ông H. Harris: ngoài việc Bắc Kinh gần đây bố trí tên lửa HQ-9 trên đảo Phú Lâm thuộc Hoàng Sa của Việt Nam, Trung Quốc còn thiết lập hệ thống radar trên Đá Châu Viên thuộc Trường Sa, và xây các đường băng tại khu vực radar. Mới đây, Hoa Kỳ còn phát hiện Trung Quốc đưa cả chiến đấu cơ ra Hoàng Sa.
Theo Ông Darryn James, một sĩ quan cao cấp của Hải Quân hoa Kỳ xác nhận với báo chí thì loại máy bay mà Trung Quốc đưa ra đảo Phú Lâm là chiến đấu cơ tối tân. Đây là nỗ lực chiếm lĩnh quân sự vùng Đông Á của Bắc Kinh, Đô Đốc Harris đề nghị hải quân Mỹ cung cấp thêm các tàu ngầm tấn công tới Châu Á, tăng cường hiện đại hóa thiết bị, đầu tư vào các phi đạn thế hệ mới để đối phó với các đối thủ tiềm năng như Trung Quốc. Cũng vậy, trong mấy ngày qua, tình báo Mỹ đã phát hiện nhóm chiến đấu cơ Shenyang J-11  và Xian JH-7 đã được Trung Quốc đưa tới đảo Phú Lâm trong quần đảo Hoàng Sa.
Ngày 23-2, cùng ngày ông Vương Nghị đến thăm Hoa Kỳ và gặp Ngoại trưởng John Kerry tại Bộ Ngoại giao ở Washington, phát ngôn viên Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ nói rằng “Các chi tiết cụ thể của việc đưa máy bay chiến đấu ra đảo Phú Lâm là dấu hiệu cho thấy Trung Quốc muốn tiến xa hơn tham vọng trong khu vực.”
‘Vừa ăn cướp vừa la làng’, Trung Quốc tố ngược Mỹ đã gây căng thẳng trên Biển Đông bằng các hoạt động giám sát, tuần tra bằng tàu và máy bay những năm gần đây. Nhà cầm quyền Trung Nam Hải còn tung ra nhiều chiêu cáo buộc Mỹ và các nước ASEAN trong việc “có nhiều hoạt động làm rối Biển Đông”. Trung Quốc đưa ra nhiều ngụy biện rất vô lý về các hành động tăng cường quân sự trên biển Đông, đặc biệt tại Trường Sa. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hoa Xuân Oánh ngày 22/2 nói, Bắc Kinh phản đối việc Washington dự định triển khai hệ thống phòng thủ khu vực tầm cao giai đoạn cuối (THAAD) tới bán đảo Triều Tiên. Bà Hoa cho rằng vũ khí này không nên được dùng để “làm suy yếu lợi ích hợp pháp của Trung Quốc”. Một quan chức Mỹ khẳng định với hãng AFP rằng Bắc Kinh đã triển khai hệ thống tên lửa HQ-9 với tầm bắn 200 km tới đảo Phú Lâm và chính Trung Quốc đã không ngần ngại xác nhận họ có “vũ khí” trên đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.
Trước hiện tình đó, Mỹ cáo buộc Trung Quốc gây căng thẳng trên Biển Đông qua việc triển khai tên lửa phòng không HQ-9 đến đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam nhưng đang bị Trung Quốc chiếm đóng. Ngoại trưởng Kerry cho rằng: “Có bằng chứng cho thấy mỗi ngày hoạt động quân sự đang gia tăng theo cách này hay cách khác. Đó là mối lo ngại nghiêm trọng”, ông nói khi đề cập tới những hành động gần đây của Trung Quốc ở Biển Đông. Ông nói:“Chúng tôi đã nhiều lần yêu cầu Trung Quốc rằng không tiến tới quân sự hoá ở Biển Đông”, và nhấn mạnh “sẽ tiếp tục trao đổi nghiêm túc hơn nữa với phía Bắc Kinh về vấn đề này”. Tin từ hãng Reuters dẫn lời người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ Mark Toner cho biết, Mỹ sẽ “gây sức ép buộc Trung Quốc phải hạ nhiệt căng thẳng và ngừng việc quân sự hóa ở Biển Đông”.
Thế nhưng mới đây, trả lời câu hỏi về thông điệp mà Trung Quốc sẽ gửi đến Mỹ liên quan đến tình hình Biển Đông, bà Hoa Xuân Oánh tuyên bố, Mỹ cần tuân thủ cam kết không đứng về bên nào trong tranh chấp Biển Đông và ngừng ngay việc làm trầm trọng hóa vấn đề hoặc làm leo thang căng thẳng. Bà Oánh nhấn mạnh, Mỹ không phải là bên có tranh chấp ở Biển Đông nên vấn đề Biển Đông không nên trở thành vấn đề chung giữa Mỹ và Trung Quốc. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc kêu gọi Mỹ cần đóng vai trò xây dựng trong vấn đề Biển Đông bởi theo bà Hoa Xuân Oánh, việc duy trì hòa bình và ổn định trong khu vực sẽ đảm bảo được lợi ích chung cho Trung Quốc, Mỹ và các bên liên quan. Bà Hoa Xuân Oánh chỉ trích Mỹ vì cáo buộc Trung Quốc “cố tình quân sự hóa tình hình Biển Đông” và nhấn mạnh: “Phía Mỹ đang dùng sai từ ngữ bởi những công trình quốc phòng mà Trung Quốc xây dựng trên lãnh thổ của mình [trên thực tế Trung Quốc đã ngang nhiên ra yêu sách chủ quyền đối với hầu khắp Biển Đông và coi đó là lãnh thổ của mình-ND] cũng chẳng khác gì những gì Mỹ làm ở Hawaii”.
Bà Oánh còn thẳng thừng tuyên bố, việc Trung Quốc xây dựng các công trình trên các đảo của mình ở Biển Đông là vì mục đích dân sự, không liên quan gì đến việc “quân sự hóa tình hình Biển Đông”.
Hầu như có sự ‘tự mãn, yên bề bởi thái độ của Mỹ tại Hội nghị thượng đỉnh Sunnylands, bà Hoa Xuân Oánh khẳng định: “Mỹ không tham gia vào tranh chấp Biển Đông; điều này không và không nên trở thành một vấn đề giữa Trung Quốc và Mỹ. Việc triển khai các cơ sở quân sự phòng thủ cần thiết, hạn chế của Trung Quốc trên lãnh thổ của mình (?) về cơ bản không khác gì việc Mỹ củng cố phòng thủ ở đảo Hawaii”!
Tin mới nhất từ RFA, hôm qua, 24-2, tư lệnh Bộ chỉ huy lực lượng Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương, đô đốc Harry Harris, phát biểu trước Ủy ban Quân vụ Thượng Viện rằng Trung Quốc đang tìm cách kiểm soát khu vực Đông Á. Theo vị đô đốc này thì Bắc Kinh muốn vị thế bá quyền tại đó. Bà Hoa Xuân oánh, phát ngôn của Bộ Ngoại giao Trung Quốc lặp lại rằng không có tranh chấp chủ quyền tại quần đảo Hoàng Sa do đó Bắc Kinh có thể bố trí những gì muốn có trên lãnh thổ của mình. Tin tức về việc Trung Quốc đưa phản lực cơ chiến đấu ra đảo Phú Lâm như vừa nêu được đưa ra vào khi ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị đang có chuyến thăm Hoa Kỳ. Ngoại trưởng Hoa Kỳ John Kerry hôm qua trước cuộc gặp người tương nhiệm Trung Quốc Vương Nghị ở Washington DC lên tiếng nhắc lại rằng biện pháp quân sự hóa các cơ sở tại Biển Đông không hề giúp được gì vào nổ lực giải quyết tranh chấp chủ quyền trong khu vực đó. Phát biểu trước Ủy ban Ngoại vụ Thượng Viện, ông Kerry nói rằng Hoa Kỳ khuyến khích giải pháp hòa bình cho cuộc tranh chấp.
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đầu năm thăm cột mốc 428 nơi cực Bắc


Điểm tham quan được rất nhiều người lựa chọn cho chuyến du xuân đầu năm tại Hà Giang chính là cột cờ Lũng Cú trên đỉnh núi Rồng - nơi được coi là biểu tượng cực Bắc thiêng liêng của Tổ Quốc. Tuy vậy lại có rất ít người biết và tìm đến được với cột mốc 428 - cột mốc địa đầu chứng kiến dòng Nho Quế chảy vào đất Việt.

Nằm cách chân cột cờ Lũng Cú tầm 5km về hướng Bắc, cột mốc 428 chính là điểm đánh dấu phần lãnh thổ Việt Nam vươn xa nhất. Từ bản Xéo Lủng vốn thuần đồng bào Mông, men theo những con đường đất dựng đứng tụt xuống dòng Nho Quế, vượt tiếp các cột mốc 426 - 427 bạn mới có thể đến với cột mốc chủ quyền 428 ở cực Bắc này. Vẫn còn nhiều "tranh cãi" về điểm cực Bắc thật sự của Tổ Quốc, nhưng chính mốc 428 này là cột mốc tiệm cận điểm cực Bắc hơn tất thảy.

< Từ bản Xéo Lủng, đi bộ men theo con đường mòn cuối bản, qua những sườn núi xuống phía bờ sông Nho Quế sẽ qua cột mốc số 426 rồi mới đến mốc 428.
Dulichgo
Sau khi xin phép trưởng đồn Biên phòng Lũng Cú, đoàn chúng tôi được một chiến sỹ hỗ trợ đi kèm ra thăm mốc để tránh đi lạc sang nước bạn. Quãng đường từ bản Xéo Lủng xuống chân cột mốc chỉ chừng 2km đường vòng nhưng dốc đứng liên tục và kéo dài xuống phía dòng Nho Quế, và phải mất 3 giờ đồng hồ toát mồ hôi mới có thể tiếp cận.

Đường từ Lũng Cú xuống thăm cột mốc 428 đẹp như tranh với khung cảnh đặc trưng của cao nguyên đá Đồng Văn. Trong ảnh là cột cờ Lũng Cú ở phía xa xa, cách vị trí chụp khoảng 5km.

Đoạn đường lúc đi thoạt đầu khá dễ dàng vì chỉ phải xuống dốc nên đỡ mệt. Dọc đường đi là những ruộng cải của người dân. Con đường mòn dẫn xuống cột mốc ngoằn ngoèo, uốn lượn quanh sườn đồi.

Những con đường đất bám men theo triền núi sẽ đưa bạn ngày càng tiếp cận với đầu dòng Nho Quế, ranh giới tự nhiên giữa hai quốc gia Việt Nam - Trung Quốc.

Mùa xuân cũng là thời điểm muôn hoa khoe sắc. Con đường trekking xuống với cột mốc biên cương mùa này đi giữa những vạt hoa cải, những cây đào cây mận nở hoa rực rỡ. Cảnh sắc thiên nhiên vô cùng tươi đẹp.

Thật khó để có thể tiếp cận cột mốc dù chỉ cách bản Xéo Lủng 2km, nhưng vẻ đẹp cùng những phút giây tạo hình trước thiên nhiên hùng vĩ nơi đây dường như đã làm giảm đi rất nhiều sự mệt mỏi của các thành viên.
Dulichgo
Qua ruộng ngô tầm 300m, sẽ đến một ngã 3. Mọi người chú ý đi đường bên phải, vì nhóm chúng tôi suýt lạc nhau ở đó.

Qua ngã 3 ấy đập vào mắt tôi là cảm giác chiến thắng tràn ngập trong lòng mỗi người. Mốc 428 tuy chưa phải là điểm cực Bắc, nhưng nó là cột mốc xa nhất về hướng Bắc của Tổ quốc, đây là điểm tiệm cận nhất với điểm cực Bắc (thông tin chưa có ai đến được điểm cực đó cả). Cột mốc cách dòng sông Nho Quế tầm 500m theo đường chim bay. Sông Nho Quế là con sông chung của Việt Nam và Trung Quốc nên nó đồng thời là ranh giới của 2 nước.

Nếu coi mỗi cột mốc ranh giới là một dấu chấm đỏ trên bản đồ, thì nối các dấu chấm ấy lại, sẽ là hình chữ S nước Việt. Mốc 428 là mốc đơn loại nhỏ, nằm trên địa bàn xã Lũng Cú, Đồng Văn của tỉnh Hà Giang. Mốc được làm bằng đá hoa cương.

Từ mốc 428 bạn sẽ dễ dàng quan sát dòng Nho Quế xanh như ngọc bích, đoạn dòng bắt đầu chảy vào nước Việt. Cột mốc nằm cách mặt sông Nho Quế chỉ chừng 500m tính theo đường chim bay.
Dulichgo
Giây phút ăn mừng "chiến thắng" chinh phục thành công mốc 428 tại cực Bắc của nước Việt.

Mốc giới 428 nằm ở thôn Xéo Lủng, xã Lũng Cú. Cột mốc tuy bé xíu nhưng phải đến hơn 2 năm mới xây xong. Phần vì cơ sở vật chất, địa hình hiểm trở, khó khăn. Ở đây chỉ có và chục hộ dân tộc Mông sinh sống. Nhờ những chính sách của lãnh đạo Hà Giang, bà con ở đây yên tâm kiên trì bám đất, biến những triền đá xám xịt kia thành những ruộng ngô, khoai, hoa màu tươi tốt. Và cũng chính họ như những người lính không chính thức canh giữ từng mảnh đất thiêng liêng nơi địa đầu Tổ quốc.

Rời cột mốc 428, trong lòng chúng tôi không khỏi tự hào, và thêm niềm tin yêu Tổ quốc.

Từ bản Xéo Lủng, đi bộ men theo con đường mòn cuối bản, qua những sườn núi xuống phía bờ sông Nho Quế sẽ qua cột mốc số 426 rồi đến mốc 428. Mốc nằm cách bờ sông chừng 2km, đường mòn vòng quanh là thế, nhưng nếu tính đường chim bay thì chỉ chừng không quá 500m. Từ mốc 428 nếu không đi xuống bờ sông mà đi vòng qua sườn núi sẽ gặp mốc 427 nằm khuất phía bên kia sườn dốc. Ba mốc này là ba điểm quan trọng vẽ nên đỉnh cực Bắc Việt Nam.

Tổng hợp từ Dân ViệtZing và nhiều nguồn khác
Du lịch, GO!

Nơi mỏm đất cực Bắc
Đi tìm cực Bắc thật sự - P1
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trung Quốc CÓ THỂ làm gì ở Biển Đông? Nguyễn Quang Dy


 “Chính trị là nghệ thuật của điều có thể” 
(Politics is the art of the possible). (Bismarck)
Biển Đông xa quá!
Sau khi đọc bài của Alexander Vuving (Vũ Hông Lâm), “Trung Quốc sẽ làm gì ở Biển Đông?”, Dự án Đại sử ký Biển Đông, 21/2/2016), tiếp theo mấy bài trước cùng nội dung, đã làm tôi mất ngủ. Không phải vì có nội dung gì mới gây sốc, mà vì tác giả khẳng định một kết luận cũ làm độc giả nhức đầu. Nó làm người ta liên tưởng đến một tai họa sắp xẩy ra, như một trận đại hồng thủy (tsunami) “ai kiểm soát Biển Đông sẽ thống trị châu Á, và bất cứ ai thống trị châu Á sẽ thống trị thế giới”. (Còn ai vào đây nữa!)
Kết luận này là một suy diễn, nên độc giả sẽ suy diễn tiếp (hầu như chắc chắn) là Trung Quốc sẽ kiểm soát Biển Đông, sẽ thống trị Châu Á, và thống trị thế giới. Nói cách khác, trong vòng 15 năm nữa (nếu không có cách gì ngăn chặn), thì Trung Quốc sẽ biến Biển Đông thành cái ao nhà của họ (theo báo cáo của CSIS “Asia Pacific Rebalance 2025”). Nếu điều này xảy ra thật thì (lạy Chúa! lậy Phật!) chắc nhiều người không muốn sống lâu, hoặc phải di cư. Nhưng đi đâu? Chẳng lẽ lên mặt trăng hay sao hỏa! Vì Mỹ, Canada, Australia… sẽ đầy người Trung Quốc (Hán Hóa) trong khi Châu Âu sẽ đầy người Arab (Hồi giáo hóa). 
  
Có cách gì thoát không? Rất khó! Không biết sau khi đọc báo cáo của CSIS, tổng thống Obama (hay ông Donald Trump và bà Hillary Clinton) có nghĩ ra cách gì không, hay là họ quá bận rộn tranh cử nên không có thời gian cho những chuyện viển vông. Lyle Goldstein khen phát biểu của Donald Trump (về việc Trung Quốc xây sân bay trên các đảo mới bồi đắp ở Biển Đông) là “hợp tình hợp lý nhất” (most sensible comments), “nó ở xa quá, và chúng ta có rất nhiều vấn đề. Mà nó đã được xây xong rồi.” (It is very far, and we have a lot of problems, OK? And they are already built). Nói cách khác, hãy mặc kệ nó, không phải chuyện của Mỹ. Nếu Donald Trump mà làm tổng thống Mỹ thì nguy quá. (Lyle Goldstein, “The South China Sea Showdown: 5 Dangerous Myths, National Interest, September 29, 2015; “The Main Problem with America’s Abundant South China sea Hawks”, National Interest, October 28, 2015).
Hay là đến hỏi Henry Kissinger xem ông ấy có cao kiến gì không, vì chính ông ấy (và sếp của ông ấy là tổng thống Nixon) đã có công tạo ra con quái vật Frankenstein của Châu Á. Nếu ông ấy không nghĩ ra được cách gì để ngăn chặn Frankenstein thì hãy cách chức ông ta. (Nhưng ông ấy đã về hưu lâu rồi, làm sao cách chức được nữa). Vậy thì hãy kiện ông ấy ra toàn án quốc tế, vì đã góp phẩn tạo ra hiểm họa này cho thế giới (và nước Mỹ). Chắc nhiều người trên thế giới muốn kiện ông Kissinger (nhất là người Bangladesh). 
Binh pháp nào?
Cái chốt trong lập luận của Alexander Vuving về bàn cờ Biển Đông là người Trung Quốc đang ứng dụng binh pháp Tôn Tử (và cờ vây), trong vùng xám (gray zones), để giành chiến thắng mà không cần phải đánh. Trong khi đó, các chiến lược gia Mỹ lại nhìn nhận bàn cờ Biển Đông theo binh pháp Clausewitz (và cờ vua), trong vùng sáng tối rõ ràng (black & white). Có lẽ tư duy chiến lược của họ được điều khiển bởi hai hệ điều hành (hay văn hóa) khác nhau, nên hiểu thực chất vấn đề khác nhau và đề xuất giải pháp khác nhau. Có người khuyên Mỹ không nên ngăn chặn Trung Quốc. Tranh luận giữa Vuving và Goldstein về Biển Đông phản ánh thực trạng đó. (Alexander Vuving, “Think again: Myths and Myopia about the South China sea”, National Interest, October 16, 2015Lyle Goldstein, “The Main Problem with America’s Abundant South China Sea Hawks”, the National Interest, October 28, 2015).
Trong nhiều trường hợp, việc tranh luận về học thuyết rất khó nhất trí, không ai chịu ai. Nhận ra sai lầm và thừa nhận mình nhầm là một điều rất khó. (nhất là giới academic!)  Đó là cảm tưởng của tôi khi theo dõi các học giả lập luận và tranh luận. Đã có thời, các học giả Mỹ đổ xô kết luận Trung Quốc giống Liên Xô, và Việt Nam giống Trung Quốc (vì họ đều là cộng sản). Muốn ngăn chặn Trung Cộng, phải đánh Việt Cộng (thuyết Domino). Gần đây, muốn ngăn chặn khủng bố, phải đánh Iraq. Can thiệp, hay không can thiệp, đều có thể sai lầm, không phải sai về hành động, mà là sai về lý do hành động. Lịch sử có thể lặp lại.  
Điều đáng mừng là trong báo cáo của CSIS gần đây, “Asia Pacific Rebalance 2025”, các tác giả khuyến nghị rằng học thuyết ngăn chặn (containment) áp dụng từ thời Chiến tranh lạnh không còn phù hợp nữa. Muốn đối phó hiệu quả với sự trỗi dậy “không hòa bình” của Trung quốc hiện nay (đặc biệt là tại Biển Đông), Mỹ phải kết hợp cả ba yếu tố là “tham dự” (engagement), “răn đe” (deterrence) và “trấn an” (reassurance). Dù đây có phải là sự thỏa hiệp giữa các trường phái hay không, thì cách đề cập của CSIS là hợp lý, vì nó phản ánh được bản chất phức tạp của bàn cờ Biển Đông và tư duy lắt léo của người Trung Quốc.  
Khi ứng dụng “Binh pháp Tôn tử” (hay cờ vây), chắc người Trung Quốc cũng ứng dụng một cách linh hoạt như “Tam chủng Chiến pháp” (three warfares doctrine). Linh hoạt (hay “quyền biến”) theo logic “hư hư thực thực” (vừa thật vừa giả), thiên biến vạn hóa như ma trận, luôn là phương châm chỉ đạo hành động của người Trung Quốc. Có thể hình dung bàn cờ Biển Đông sẽ diễn biến giống như một ma trận (hay “trận đồ bát quái”). Nhìn cách Trung Quốc triển khai bố trí các cơ sở hạ tầng quân sự tại Biển Đông (Trường Sa và Hoàng Sa), cũng như trên đất liền, ta thấy hình dạng một chiến lược tổng thể, như một ma trận.    
Cách đánh giá của một số chuyên gia quân sự về giá trị của các hạ tầng quân sự (sân bay, bến cảng, trận địa tên lửa, ra đa, kho tàng…) mà Trung Quốc triển khai trên các đảo mới san lấp tại Trường Sa và Hoàng Sa, có thể sai lạc (misleading). Thoạt nghe thì có vẻ đúng về lý thuyết quân sự nhưng lại không đúng về thực tế, vì không lý giải được bản chất sự việc. Đúng là nếu xung đột quân sự (với Mỹ) xảy ra, thì các hạ tầng quân sự đó (military assets) dễ dàng bị phá hủy trong một trận oanh kích (từ máy bay hay tàu chiến Mỹ). Nhưng tại sao Trung Quốc vẫn đầu tư xây dựng các “lâu đài trên cát”? Không phải họ ngu, mà theo Vuving, họ đang chơi cờ vây, theo binh pháp Tôn Tử (để không đánh mà thắng).
Trung Quốc triển khai trận địa tên lửa HD-9 và ra đa tại đảo Phú Lâm (Hoàng Sa) không phải chỉ để uy hiếp máy bay B-52, mà còn để nhắn nhủ Obama và lãnh đạo 10 nước ASEAN đang họp tại Sunnylands ai là người quyết định cuộc chơi. Một ví dụ khác, trước chuyến thăm Mỹ của ông Tập Cận Bình, Trung Quốc đã cho mấy tàu chiến đến ngoài khơi Alaska, không phải để đe dọa Anchorage, mà để nhắn nhủ Obama (lúc đó đang thăm Alaska) rằng Trung Quốc là một cưòng quốc hải quân không thua kém Mỹ, cần được đối xử bình đẳng theo luật chơi giữa các “nước lớn” (great power relations). Một kiểu gunboat diplomacy.   
Một số người lập luận rằng còn lâu Trung Quốc mới mạnh bằng Mỹ (về tiềm lực hải quân và không quân), nên hiện nay Mỹ chưa phải lo. Nhưng họ quên rằng sự trỗi dậy một cách hung hăng của Trung quốc hiện nay là hệ quả của những gì Mỹ đã làm (hay không làm) cách đây vài thập kỷ. Nếu Mỹ xoay trục như “tiếng kèn ngập ngừng” (uncertain trumpet), đối phó với Trung Quốc một cách nửa vời (half-hearted) như hiện nay thì không răn đe được Trung Quốc, mà còn khuyến khích họ hành động quyết đoán hơn. Thái độ do dự của Mỹ trong vụ tranh chấp đảo Scarborough giữa Trung Quốc và Philippines là một ví dụ. Cho tàu tuần tra FONOP tại Biển Đông theo kiểu “vô hại” (innocent passage) là một ví dụ khác. Đúng là Trung Quốc hiện nay còn yếu hơn Mỹ về tổng thể, nhưng nếu Mỹ không hành động quyết đoán thì Trung Quốc sẽ mạnh hơn Mỹ tại Biển Đông. “Điều duy nhất quan trọng là phải mạnh hơn tại địa điểm quyết định, vào lúc quyết định, để đạt mục đích” (Clausewitz)
Tại sao Trung Quốc không muốn xung đột với Mỹ, nhưng lại gây căng thẳng (brinkmanship)? Thứ nhất, Mỹ là mối lo lớn nhất của Trung Quốc: họ gây căng thẳng để hù dọa Mỹ không can thiệp vào khu vực. Nếu xung đột nhỏ với Việt Nam hay Philippines xảy ra thì họ dễ dàng đè bẹp đối phương, và coi đó là việc nội bộ (song phương), không liên quan đến Mỹ. Trung Quốc sẽ rất mừng nếu có người đề xuất với lãnh đạo Mỹ đừng can thiệp vào Biển Đông. Những người có quan điểm như Goldstein rất dễ rơi vào bẫy của họ (playing into their hands). Thứ hai, Trung Quốc không muốn Nhật, Úc, Ấn Độ can thiệp vào Biển Đông (cùng với Mỹ) vì một liên minh như vậy là mối lo thứ hai của Trung Quốc. Nếu vô hiệu hóa được hai mối lo trên, thì Trung Quốc dễ dàng cô lập, phân hóa ASEAN, có thể dùng cái gậy (vũ lực) để răn đe và củ cà rốt (viện trợ) để mua chuộc các nước này. Vì vậy, cuộc gặp cấp cao Mỹ-ASEAN tại Sunnylands, và đoàn kết ASEAN là mối lo thứ ba của Trung Quốc.
Lý thuyết cái bẫy chiến tranh “Thucydices trap” có giá trị răn đe vì xung đột tất yếu giữa một cường quốc đang trỗi dậy với một cường quốc đang suy yếu. Nhưng cái bẫy này có thể bị trung hòa và triệt tiêu bằng hai yếu tố khác: Thứ nhât, Mỹ và Trung Quốc bị trói buộc bởi lợi ích kinh tế (economic codependency trap); Thứ hai, Mỹ và Trung Quốc cùng lo bị hủy diệt (Mutual assured destruction). Vì vậy, giá trị thực tiễn của lý thuyết “Thucydices trap” tại Biển Đông không cao. Khả năng xảy ra xung đột Trung-Mỹ rất thấp.
Trên thực tế, răn đe sử dụng vũ lực (threat perception) có giá trị thực tiễn và hiệu quả hơn nhiều so với sử dụng vũ lực (tốn kém và rủi ro cao). Chiến tranh tâm lý thường diễn ra trước khi có xung đột thực sự. Tình trạng “nửa chiến tranh, nửa hòa bình” (no war no peace) là lý tưởng để Trung Quốc gây khủng hoảng (bên ngoài) nhằm tháo ngòi khủng hoảng (bên trong) bằng cách bành trướng theo chiến thuật cắt lát (salami), và biến thành chuyện đã rồi (fait accompi), đồng thời nắn gân đối phương bằng nước cờ “gambit”. 
Nhưng Trung Quốc chỉ có thể làm được điều đó nếu đối phương (Mỹ và đồng minh) tự hạn chế và tự kiểm duyệt mình, để chơi theo cờ vây của Trung Quốc. Nếu người Mỹ lo ngại xung đột có thể leo thang (thành chiến tranh hạt nhân) nên không dám can thiệp vào Biển Đông, là mắc mưu Trung Quốc (dù là vô tình). Mỹ cần chuyển đổi tư duy chiến tranh thông thường sang tư duy phản ứng linh hoạt để đối phó với tình trạng “nửa chiến tranh, nửa hòa bình” (no war no peace). Nhưng quan trọng hơn cả là người Mỹ phải vượt qua “hội chứng Trung Quốc”, cho rằng Mỹ không nên đối đầu và không thể ngăn chặn được Trung Quốc. Nếu nghĩ rằng không nên đối đầu với Trung Quốc chỉ vì mấy cái đảo nhỏ, hay mấy bãi đá trên biển, là nhầm to (misleading). Trung Quốc đang lặng lẽ thay đổi thưc địa, và chỉ vài năm nữa là những bãi đá hoang trở thành các căn cứ quân sự, cơ sở hậu cần, và cứ điểm mạnh, để kiểm soát toàn bộ Biển Đông. Vì vậy, không thể chơi cờ vây với Trung Quốc bằng tư duy Clausewitz.
Có thể làm gì?
Về căn bản, tôi tán thành cách nhìn nhận vấn đề và lập luận của Vuving (về Biển Đông). Đây là một trong số ít các nhà nghiên cứu có quan điểm thực tế (realist), hiểu biết sâu sắc về tư duy chiến lược lắt léo của người Trung Quốc, và thực trạng Biển Đông (mà nhiều người khác chưa chắc đã hiểu rõ). Vuving đã giải thích “Trung Quốc SẼ làm gì”, và trong một số trường hợp, thực tế đã diễn ra như vậy. Tôi chỉ muốn bổ sung một chút xem “Trung Quốc CÓ THỂ làm gì”, vì điều này phụ thuộc vào những yếu tố mà có lẽ Trung Quốc không kiểm soát được (như một hệ quả không định trước). Hay nói khác đi, Mỹ và đồng minh CÓ THỂ làm gì để kiềm chế Trung Quốc tại Biển Đông, trong bối cảnh hiện nay.   
Thứ nhất, Mỹ và đồng minh/đối tác tiềm năng cần liên kết thành một liên minh thực tế (de facto alliance) dựa trên cơ sở hợp tác (TPP) và cơ chế an ninh tập thể (liên khu vực), để ngăn chặn Trung Quốc. Một liên minh như vậy có thể gồm mấy nước nòng cốt như Mỹ, Nhật, Việt Nam, Philippines, Ấn Độ, Úc, để cùng tuần tra Biển Đông, bổ sung cho vai trò an ninh tập thể của ASEAN đang yếu kém vì chia rẽ, đồng thời hỗ trợ tam giác Mỹ-Trung-Việt chuyển động theo hướng “thoát Trung”. Điều này là khả thi vì sau sự kiện tranh chấp đảo Điếu Ngư và sự kiện dàn khoan HD 981 là 2 bước ngoặt lớn (tipping point) làm quan hệ Trung-Nhật và Trung-Viêt thay đổi về bản chất, không còn như trước nữa (beyond the point of no return). Điều này là tối cần thiết, vì mối liên kết để lập một liên minh thực tế như vậy còn khá rời rạc, ngay cả sau thỏa thuận TPP và cuộc gặp cấp cao Mỹ-ASEAN tại Sunnylands. Bầu cử tổng thống Mỹ và chuyển giao quyền lực ở một số nước khu vực (như Myanmar, Đài Loan, Việt Nam) có thể ảnh hưởng phần nào tới tiến trình hợp tác với Mỹ (theo lộ trình đó). 
Thứ hai, những gì đang diễn ra tại Đài Loan, Hong Kong, Myanmar, Việt Nam, Lào… đang theo xu hướng “thoát Trung”. Trung Quốc càng đối phó cực đoan, họ càng bị cô lập và khủng hoảng.
Thứ ba, Trung Quốc có thể mạnh lên về quân sự (tại Biển Đông), nhưng tình hình kinh tế, xã hội, chính trị nội bộ đang xấu đi nghiêm trọng (tới mưc khủng hoảng), có thể đẩy nhanh quá trình sụp đổ của chế độ. Đây chính là tử huyệt của Trung Quốc. Nó vừa là nguyên nhân vừa là hệ quả của chủ nghĩa bành trướng bá quyền Đại Hán, dựa trên tinh thần dân tộc cực đoan, để thay đổi nguyên trạng (bên ngoài), và tăng cường các biện pháp trấn áp để duy trì nguyên trạng (bên trong). Đó là hai trụ cột chính của Tập Cận Bình để thực hiện “Giấc mộng Trung Hoa”. Nhưng chính điều này có thể phản lại ông ta, dẫn đến “hệ quả không định trước”. Đó là sự sụp đổ của mô hình phát triển độc đáo (authoritarian resilience) mà nhiều người đã từng đánh giá cao như là động lực làm Trung Quốc phát triển thần kỳ. 
Nhưng ngày càng nhiều người nhất trí về nguy cơ sụp đổ không tránh khỏi của chế độ Cộng sản Trung Quốc. (Minxin Pei, “The twilight of Communist Party rule in China”, American Interest, Nov 12, 2015). Danh sách ngày càng dài, gồm những tên tuổi như Paul Krugman, David Shambaugh, Minxin Pei… Chẳng ai muốn Trung Quốc sụp đổ, vì điều đó là một thảm họa toàn cầu, do phản ứng dây chuyền. Nhưng một nước Trung Quốc ốm yếu và suy sụp (implosion) có thể làm giảm động lực và năng lực bành trướng bá quyền tại Biển Đông. Nói cách khác, những gì đang diễn ra tại Biển Đông không thể tách rời những gì đang diễn ra tại Bắc Kinh và Thượng Hải. Biển Đông là một canh bạc lớn, và một con dao hai lưỡi đối với Trung Quốc, mà mối lo chung (mutual fear) là ẩn số trong mọi trò chơi quyền lực (game of thrones).     
Tham khảo
Alexander  Vuving, “Trung Quốc sẽ làm gì ở Biển Đông?”, Dự án Đại sử ký Biển Đông, 21/2/2016; “Think Again: Myths and Myopia about the south China sea”, National Interst, October 16, 2015; “A Tipping Point in the US-China-Vietnam Triangle”, the Diplomat, July 6, 2015;  “China’s Sun Tzu Strategy: Preparing for Winning without Fighting”, Interview by Patrick Renz & Frauke Heidemann, March 27, 2015;  
Lyle Goldstein, “The South China Sea Showdown: 5 Dangerous Myths”, Nationa Interest, September 29, 2015; “Main Problem with America’s Abundant South China sea Hawks”, National Interest, October 28, 2015.
Minxin Pei, “The Twilight of Communist Party Rule in China”, American Interest, November 12, 2015
Robert Kapland, “Eurasia’s Coming Anarchy”, Foreign Affairs, March/April, 2016
NQD. 25/2/2016
 Tác giả gửi cho viet-studies
http://www.viet-studies.info/kinhte/NQuangDy_TQCOTHELamGi.htm
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chủ tịch UBND TP.Hà Nội: VTV có cần xây tháp truyền hình?


Xem trả lời của ông Chung mà buồn. Dường như ông không biết gì hoặc biết nhưng chưa dám công khai ủng hộ dự án nên cố tình trả lời loanh quanh và đề nghị cứ tiếp tục nghiên cứu, trong khi VTV đã quyết định triển khai dự án này ngay từ năm nay 2016 để kịp hoàn thành vào năm 2021.Ông Nguyễn Đức Chung – Chủ tịch UBND thành phố HN đặt câu hỏi trước dự án gây tranh cãi của VTV. “Tôi nghe nhiều người nói rằng, công nghệ thông tin đang hiện đại, họ sử dụng vệ tinh thì có cần thiết xây tháp không? Theo tôi hiểu, ở đây còn là tổ hợp bao gồm cả khách sạn, nhà hàng… nếu vậy thì cũng phải nghiên cứu tới tính khả thi, tính hiệu quả của dự án như thế nào…?”, ông Chung đặt vấn đề.
Ảnh minh họa
Ông Chung nói thêm, trong một buổi họp với Chính phủ mới đây, ông được biết, phương án xây tháp truyền hình cao nhất thế giới được VTV trình trước đó có quy mô, diện tích là 14,5 ha. Tuy nhiên, VTV lại trình phương án xin mở rộng diện tích lên tới 49 ha.

“Nếu VTV mở rộng quy mô dự án tới 49ha, thì xin thưa rằng sẽ có tới hàng mấy nghìn hộ dân nằm trong diện phải giải phóng mặt bằng. Phương án đó khó có thể khả thi”, ông Chung nói.

Hơn nữa, tại buổi làm việc cả Thủ tướng và lãnh đạo Hà Nội đều khẳng định "chỉ đồng ý cho VTV nghiên cứu phương án 14,5 ha, chứ không thể đồng ý với phương án 49 ha", vị Chủ tịch thành phố thông tin thêm.

Tuy nhiên, ông Chung cũng cho hay, đó là về chủ trương ban đầu, hiện vẫn có rất nhiều ý kiến khác nhau về dự án này.

Vì thế, ông Chung mong muốn thông qua các phương tiện truyền thông tiếp tục ghi nhận thêm những ý kiến phản biện từ các nhà nghiên cứu, các nhà khoa học và các hiệp hội làm cơ sở xem xét tính khả thi của dự án này.

Dân lợi gì?


Trao đổi với Đất Việt, Phó Tổng Giám đốc Đài Truyền hình Việt Nam (VTV) - Nguyễn Thành Lương cho biết, hiện VTV cùng 2 đối tác là Tổng Công ty Đầu tư kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) và Tập đoàn BRG đã thành lập Công ty CP Tháp truyền hình Việt Nam để xây dựng tòa tháp 636 m - cao nhất thế giới - tại khu đô thị Tây Hồ Tây (Hà Nội).

VTV không chỉ xây tháp và khối đế tháp với tổng diện tích khoảng 14,1 ha mà còn xây dựng khối phụ trợ bao gồm các chung cư, văn phòng, khách sạn, khu dịch vụ, vui chơi giải trí và tổ chức sự kiện. Trong các phương án của VTV trình Chính phủ, thì riêng mật độ xây dựng chung cư cao cấp từ 30% đến 50% diện tích (khoảng 300.000 - 600.000 m2).

Đáng chú ý, VTV đã có công văn xin Thủ tướng Chính phủ hàng loạt ưu đãi vốn chỉ áp dụng cho các dự án đầu tư vào những vùng đặc biệt khó khăn.

Cụ thể là xin miễn hoàn trả chi phí đầu tư hệ thống hạ tầng ban đầu, hạ tầng chung; xin áp dụng cơ chế ưu đãi theo hình thức giao đất, miễn 100% tiền sử dụng đất, thuế đất và miễn chi phí giải phóng mặt bằng...

VTV còn đề xuất áp dụng cơ chế ưu đãi cao nhất gồm miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 4 năm đầu, giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp trong 9 năm tiếp theo, các năm còn lại áp dụng thuế suất 10%. Miễn thuế nhập khẩu cho các vật tư, máy móc, thiết bị, vật liệu, linh kiện… phục vụ xây lắp.

Kinh phí đầu tư của dự án cũng rất khổng lồ, từ 1,3 đến 1,5 tỉ USD, trong đó chỉ riêng phần khối tháp là 900 triệu USD.

Theo VTV, khoản tiền này là từ nguồn vốn huy động, vốn cổ phần hóa các doanh nghiệp của VTV. Về phía SCIC, được lấy từ nguồn vốn kinh doanh theo quy định tại Nghị định 151/2013/NĐ-CP (từ quỹ đầu tư phát triển của SCIC, số dư hiện tại khoảng 11.000 tỉ đồng); về phía BRG là từ nguồn vốn hợp pháp của doanh nghiệp.

Hiện nay, VTV, SCIC và BRG đã đề nghị Công ty Nikken Sekkei Ltd (Nhật Bản) xây dựng báo cáo nghiên cứu tiền khả thi với 2 phương án đầu tư để trình Thủ tướng Chính phủ.

Bàn về chủ trương này, rất nhiều chuyên gia, nhà khoa học, KTS đã lên tiếng phản đối. Hầu hết đều cho rằng cả ba vấn đề bao gồm: Sự cần thiết của dự án; Hiệu quả kinh tế; cơ chế đầu tư... tất cả đều không đạt được mục đích.

Do đó, các chuyên gia cho rằng "không cần thiết phải xây dựng án tháp truyền hình trong lúc này".

Vũ Lan
http://baodatviet.vn/kinh-te/doanh-nghiep/chu-tich-ubnd-tpha-noi-vtv-co-can-xay-thap-truyen-hinh-3301190/
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thư gửi ông Võ Văn Thưởng


"Hẳn ông cũng hiểu áp lực đối mới mỗi tờ báo, mỗi nhà báo, không chỉ làm sao giữ được “sợi chỉ đỏ” – làm tốt vai trò cơ quan ngôn luận của Đảng, Nhà nước mà còn phải nói lên được tiếng nói của dân. Nên tôi tin ông sẽ tạo điều kiện và đưa ra những chủ trương, giải pháp đột phá để báo chí phát huy cao nhất vai trò, trách nhiệm của mình đối với sự phát triển của đất nước. Hy vọng dưới sự lãnh đạo của ông, báo chí sẽ thực sự trở thành nơi phản ánh trí tuệ, tâm huyết xã hội, nói lên tiếng nói, tâm nguyện của nhân dân với lãnh đạo đất nước". Ông Võ Văn Thưởng (áo xanh, bên trái) khi còn là bí thư tỉnh Quảng Ngãi vẫn trực tiếp tiếp nhận và giải quyết bức xúc của ngưởi dân địa phương – Ảnh: Hiển Cừ
Kính thưa ông Võ Văn Thưởng!
Tôi viết thư ngỏ này trên tinh thần của một người làm báo gửi đến ông – người đang giữ trọng trách lớn đối với công tác lý luận – báo chí của nước nhà. Trước hết, xin chúc mừng ông đã được Đảng tin cậy giao trọng trách Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương.

Xuất thân từ một cán bộ đoàn năng nổ, đầy bản lĩnh, rồi trưởng thành trên nhiều cương vị như Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn; Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi và Phó Bí thư Thường trực Thành ủy TP.HCM. Có lẽ hơn ai hết, ông thấu hiểu bằng chính trải nghiệm cá nhân mình về một tinh thần đổi mới sâu sắc của lớp lãnh đạo trẻ. Đặc biệt, chính cái cách ông đi bộ đến gần dân, biết cúi xuống lắng nghe dân nói và luôn hết lòng quan tâm đến ngư dân, thậm chí vận động để thành lập Quỹ hỗ trợ ngư dân bám biển, qua đó bảo vệ chủ quyền Tổ quốc đã giúp tôi và nhiều người có đủ cơ sở để tin rằng ông là con người hành động.

Lúc này đây, tôi nghĩ, “tài sản” lớn nhất mà ông đang có chính là niềm tin và kỳ vọng của những người đang khao khát đổi mới. Và tôi thực sự kỳ vọng ông sẽ “nhìn thẳng vào sự thật”, thổi bùng ngọn lửa nhiệt huyết của mình vào công tác lý luận hiện nay, vốn vẫn đang bị coi là trì trệ và lạc hậu so với thực tiễn cuộc sống đầy sôi động ngoài kia. Tôi đã cảm nhận được ngọn lửa mang tên ông đang bắt đầu nhóm lên ở cương vị mới này trong khẳng định: “cần đổi mới cách quản lý, triển khai thông tin tuyên truyền” của ông tại buổi làm việc đầu tiên với các cơ quan báo chí. Vì vậy, xin hãy là ngọn lửa cháy hết mình vì sự phát triển của nền báo chí nước nhà.

Khi báo chí đang ngày càng đóng vài trò then chốt trong sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và gìn giữ bảo vệ an ninh, chủ quyền của đất nước thì trách nhiệm quản lý, định hướng và tạo điều kiện cho báo chí phát triển sẽ đặt nặng trên đôi vai ông.

Từng kinh qua nhiều lĩnh vực công tác, trải nghiệm không ít khó khăn vất vả, hẳn ông cũng hiểu áp lực đối mới mỗi tờ báo, mỗi nhà báo, không chỉ làm sao giữ được “sợi chỉ đỏ” – làm tốt vai trò cơ quan ngôn luận của Đảng, Nhà nước mà còn phải nói lên được tiếng nói của dân. Nên tôi tin ông sẽ tạo điều kiện và đưa ra những chủ trương, giải pháp đột phá để báo chí phát huy cao nhất vai trò, trách nhiệm của mình đối với sự phát triển của đất nước. Hy vọng dưới sự lãnh đạo của ông, báo chí sẽ thực sự trở thành nơi phản ánh trí tuệ, tâm huyết xã hội, nói lên tiếng nói, tâm nguyện của nhân dân với lãnh đạo đất nước.

Dẫu biết rằng, đó là những gánh nặng ngàn cân nhưng xã hội sẽ luôn ủng hộ và hậu thuẫn cho những ai có bản lĩnh đổi mới và hướng đi lên đúng đắn. Tôi gửi gắm niềm tin và hy vọng 5 năm sau, khi nhìn lại, ông sẽ thấy tự hào với những gì mình đã làm cho nền báo chí, cho công tác lý luận của nước nhà và sẽ được lịch sử, nhân dân vinh danh.

Viết từ Sài Gòn, 24/02/2016.

Bạn đọc Nam Phương
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tây Tạng và cái ách thực dân Trung Quốc


>> Lố nhố một đám đông lộn xộn
>> ‘Làm luật’ với dân: Vì sao Bộ Công An thất bại có hệ thống?
>> Ai ‘đạo diễn’ lùi Luật Biểu tình: Quốc hội có vượt trên Bộ Công an?
>> 'Nói trưng dụng một phát là cầm đi luôn, dân biết tính sao'
>> Chân dung Đại tá "rởm" trên chiếc xe biển 80B... và cú lừa 6 vạn người


Phạm Hy Sơn
NCLS - Nhân loại, nhất là những dân tộc ở châu Phi, châu Mỹ tưởng chủ nghĩa đế quốc , thực dân đã tàn lụi vào quá khứ .  Không ai ngờ nó vẫn hiển hiện tại những xứ nhỏ yếu  bên cạnh Trung Quốc .

Vào thế kỷ 17, 18 các nước châu Âu nhờ sớm kỹ nghệ hóa  đã đua nhau đi xâm lăng những nước  lạc hậu trên thế giới để kiếm thị trường tiêu thụ hàng hóa và khai thác nguyên  liệu đem về nước chế biến , nhưng sau khi Thế Chiến thứ II chấm dứt năm 1945 thì những nước bị đế quốc đô hộ đó dần dần tự giải thoát  khỏi ách thực dân .   Ngược lại các dân tộc Mông Cổ, Mãn Châu,  Duy Ngô Nhĩ  và nhất là Tây Tạng vẫn còn bị cái ách đô hộ của Trung Quốc  cho đến nay .

Tây Tạng bị quân đội cộng sản Trung Quốc xâm lăng năm 1950, bị sát nhập thành phủ, huyện của Trung Quốc năm 1951, và cũng như  3 dân tộc kia hiện đang  bị Trung Quốc  áp dụng  chính sách triệt để Hán hóa để xóa bỏ  hẳn trên bản đồ thế giới .

Trung Quốc từ lâu đời có truyền thống xâm lăng những nước nhỏ yếu bên cạnh để bành trướng lãnh thổ và đồng hóa dân bản xứ thành người Hán .   Ngày nay vì nạn nhân mãn trầm trọng với  1.300 triệu người, Trung Quốc càng cần đi xâm lăng các nước khác, nhất là những nước đất rộng ít dân như Tây Tạng, Mông Cổ . . . hầu di dân giải tỏa áp lực dân số .  Do đó  chỉ mới mấy chục năm nay mà người bản xứ của những nước này trở thành dân thiểu số trên chính quê hương của họ với 20% dân số, 80% còn lại là người Hán thực dân .

ĐẤT NƯỚC và DÂN TỘC TÂY TẠNG :

Tây Tạng là 1 quốc gia hiện diện lâu đời ở miền Trung Á, nói rõ hơn ở sườn phía bắc dãy núi Hymalias với độ cao trung bình trên 4.500m (núi Hoàng Liên Sơn cao nhất Việt Nam ở Lào Cai cao hơn 3.000m) nên người ta kêu Tây Tạng là nóc nhà thế giới .  Diện tích Tây Tạng khoảng  2 triệu 500 ngàn km2 ( chiến hơn ¼ diện tích Trung Quốc hiện nay ) bao gồm các khu vực rộng lớn chính như  Amdo, Kham và U-Tsang .  Thủ đô là Lhassa .

Sau khi chiếm Tây Tạng năm 1950, Trung Quốc cắt vùng Amdo rộng lớn phía đông bắc thành những mảnh nhỏ để sát nhập vào các tỉnh Thanh Hải, Cam Túc, Tứ Xyên ; phần phía đông vùng Kham cũng bị cắt nhỏ như thế để sát nhập  vào các tỉnh Vân Nam, Tứ Xuyên , Thanh Hải .     Khu gọi là tự trị Tây Tạng chỉ còn U-Tsang và tây Kham với diện tích hơn 1 triệu km2 .

Cách nay khoảng 5.000 năm,  khi  dân Hoa Hạ (Hán) có mặt ở khu vực tây bắc  (sông) Hoàng Hà thì dân tộc Tây Tạng cũng đã định cư ở vùng Trung Á này rồi và từ từ phát triển về phía đông và đông nam tách ra thành các nước  Nam Chiếu , Miến Điện  và có lẽ cả Thái Lan .  Nước Nam Chiếu rất hùng mạnh vào thế kỷ thứ 8, đã từng đem quân đánh An Nam (VN bây giờ), Miến Điện và tranh hùng với nhà Đường  Trung Quốc vào giữa thế kỷ này .  Nam Chiếu sau đổi thành Đại Lý và bị người Tàu xâm chiếm rồi đồng hóa thành tỉnh Vân Nam hiện nay .

Dân tộc Tây Tạng có 1 nền văn hóa lâu đời và có nhiều nước  từng chịu ảnh hưởng  sâu đậm của nền văn hóa này như  Népal , Boutan ,Sikkim . . . ở phía nam , phía bắc tới tận Mông Cổ và Trung Quốc ( phái Mật Tông) . Tây Tạng có ngôn ngữ riêng (tiếng Tạng Miến), chữ viết riêng, tôn giáo riêng với đạo Bôn xuất hiện  nhiều thế kỷ trước khi đạo Phật từ Ấn Độ truyền sang vào thế kỷ thứ 7 sau TL .   Hiện nay đạo Bôn vẫn còn được 1 số người theo và đạo Phật với phái Mật Tông lan sang Trung Quốc và cả Việt Nam , Mông Cổ .

Ngay từ đầu thế kỷ thứ  7 sau TL. Tây Tạng đã là 1 quốc gia hùng mạnh, đã từng phát triển tới Bangladest, Nam Chiếu ở phía đông, nam ; phía bắc và đông bắc tới Mông Cổ, Trung Quốc .

Liên tiếp 2 năm 635, 636 vua Songsten Gampo (604-650 sau TL ) đem quân đánh Trung Quốc buộc  vua nhà Đường lúc ấy phải gả công chúa Wencheng (Văn Thánh) cho vua Tây Tạng để giảng hòa .  Tuy vậy , sự tranh hùng giữa 2 nước xẩy ra liên miên suốt 3 thế kỷ .   Năm 763 vua Trisong Detsen (756-804) tiến quân tới Trường An , kinh đô nhà Đường, làm vua Đường Thái Tông phải chạy về Lạc Dương .  Vua Tây Tạng lập 1 ông vua bù nhìn ở Trường An để cai trị .  Đến năm 821, dưới triều vua Ralphachen (815-838) hai nước mới có hòa ước ký tại Lhassa, thủ đô Tây Tạng .    Bản hòa ước này được khắc bằng cả chữ Tây Tạng và chữ Hán vào 1 cột đá dựng bên ngoài chùa  Jokhang ở  Lhassa .  Cũng trong thời kỳ này, biên cương 2 nước Tạng, Hoa được vạch rõ, được đánh dấu bằng những trụ đá hay khắc vào núi đá như ở biên giới giữa 2 nước  vùng Vân Nam  .

Tây Tạng cường thịnh được khoảng 500 năm thì bị suy yếu do nạn chia rẽ, tranh chấp quyền hành .  Do đó , đầu thế kỷ thứ 13 nước này bị quân Mông Cổ chiếm để mở 1 con đường tiến quân chinh phục Trung Quốc , sau đó Trung Quốc bị đế quốc Nguyên Mông Cổ  cai trị gần 100 năm .  Khi nhà Nguyên Mông Cổ sụp đổ, Tây Tạng cùng với Trung Hoa và tất cả những nước khác lấy lại độc lập, nhưng đến thế kỷ thứ 16 Tây Tạng lại bị Mông Cổ đô hộ lần nữa .   Đầu thế kỷ thứ 18,  khi đế quốc Mãn Châu củng cố xong sự cai trị ở Trung Quốc thì tiến quân đánh chiếm Tây Tạng, cắt miền đất phía đông  Amdo sát nhập vào Trung Quốc  với cái tên Koko Nor (Hồ Nước Xanh).  Vùng này bị đổi thành tỉnh Thanh Hải năm 1929 dưới chính quyền Quốc Dân Đảng  do Tôn Dật Tiên sáng lập .

Khi đế quốc Mãn châu (nhà Đại Thanh) bị lật đổ ở Trung Hoa năm 1911, nhân cơ hội này Tây Tạng tuyên bố độc lập .   Nền độc lập này  kéo dài  được 39 năm thì bị Mao trạch Đông đem quân xâm chiếm .

Trung Quốc thường viện dẫn rằng trước đây Tây Tạng thuộc quyền đô hộ của nhà Nguyên (đế quốc Mông Cổ) và nhà Thanh (đế quốc Mãn Châu) nên nay họ có quyền tiếp tục cai trị . Lý luận như thế chẳng khác gì nói rằng cái nhà này ông tôi chiếm của hàng xóm, rồi đến bố tôi tiếp tục chiếm nên nay cái nhà này  thuộc về tôi .  Lập luận và lối chứng minh ấy thật lạ lùng  vì Tây Tạng cũng như Trung Quốc xưa kia cùng bị Mông Cổ và Mãn Châu xâm lăng, đều là nạn nhân của 2 đế quốc đó nên nếu lấy lịch sử để chứng minh chủ quyền như thế thì cái quyền ấy là quyền của người Mông Cổ và người Mãn Châu .

Họ có quyền đòi chủ quyền không những ở Tây Tạng mà ở cả Trung Quốc . Tương tự, những nước trong “ Bát Quốc Liên Quân “ Nga, Nhật, Đức . . .  có quyền đòi hỏi chủ quyền trên lãnh thổ Trung Quốc hiện nay,  ít nhất là Nhật có quyền đòi hỏi chủ quyền toàn bộ quần đảo Đài Loan vì quần đảo này đã từng bị sát nhập vào Nhật cho đến hết Thế Chiến thứ II  .

Đế quốc Mãn Thanh  của người Mãn Châu, không phải của người Trung quốc . Hiến Pháp Đại Cương  năm 1908 của đế quốc này gồm  15 điều , điều I ghi rất rõ ràng :

Điều I  : “ Hoàng Đế Đại Thanh thống trị đế quốc Đại Thanh, nối tiếp nhau đến vạn đời .”

Điều II : “Hoàng đế tôn nghiêm như thần, thánh, bất khả xâm phạm . “ . . . .   .

Triều dình của đế quốc Đại Thanh khi ấy thì ông vua Quang Tự là người Mãn,  12 Thượng Thư thì 8 là người Mãn ( trong đó 5 người là hoàng tộc Mãn ), chỉ có 4 là người Tàu ( Nguyễn hiến Lê, Sử Trung Quốc , Chương 8) . 

TÂY TẠNG DƯỚI ÁCH THỰC DÂN  TRUNG QUỐC :

Sau khi chiếm xong Tây Tạng, Mao mở đầu kế hoạch nuốt trọn Tây Tạng bằng cách hủy diệt  nền tảng cấu trúc về tôn giáo và đạo đức của xã hội Tây Tạng .  Đó là chiến dịch  đấu tố Cải Cách Ruộng Đất .  Bên ngoài là tịch thu ruộng đất  của tu viện, chùa chiền và địa chủ, những người giàu có để chia cho dân nghèo xóa bất công xã hội, nhưng bên trong hàm ẩn mục đích tiêu diệt tiềm năng chống đối của người Tây Tạng vì  Đạo Phật và ảnh hưởng của giới tu sĩ bao trùm hầu hết mọi sinh hoạt của Tây Tạng từ đạo đức, chính trị, văn hóa , giáo dục đến phong tục, tập quán  nên diệt được Phật giáo là diệt được Tây Tạng ( khoảng từ 20 đến 25% người trưởng thành Tây Tạng tu trong hàng ngàn tu viện và chùa chiền trên khắp nước (*).  Vì vậy quân đội Trung Quốc tịch thu hết ruộng đất của những cơ sở tôn giáo và đuổi những người tu hành ra khỏi tu viện, chùa chiền bắt phải hoàn tục .  Ai không nghe thì bị đánh đập, bỏ tù, những người chống đối thì bị giết ngay tại chỗ hay bắt đi mất tích .  Hai chữ “ mất tích” ở Tây Tạng từ khi bị Trung Quốc xâm lăng có nghĩa là bị đem đi thủ tiêu , không bao giờ trở lại .

Quân đội Trung Quốc chỉ định những đối tượng của cuộc Cải Cách Ruộng Đất bắt dân chúng phải đấu tố, bắn giết .  Đó là những vị sư sãi, những thân hào nhân sĩ, những người giàu có tại địa phương .   Toàn bộ tài sản liên quan hay thuộc về  họ bị tịch thu;  bạn bè, thân nhân bị canh chừng và bị cô lập bằng cách gạt ra bên ngoài tất cả mọi sinh hoạt xã hội . Dân chúng , giữa cha mẹ và con cái, giữa vợ và chồng, giữa xóm làng phải tố cáo lẫn nhau .

Vì bị cai trị khắc nghiệt như vậy nên chỉ 6 năm sau, năm 1956, người Tây Tạng bùng lên  phản kháng .  Lúc đầu là ở Amdo và đông Kham, những vùng bị cắt nhỏ sát nhập vào các tỉnh Cam Túc- Thanh Hải- Tứ Xuyên- Vân Nam , sau lan cả sang tây Kham và U-Tsang .  Cuộc nổi loạn bị trấn áp thật khủng khiếp, chỉ  trong 3 năm (1956 – 1959) hơn 20.000 người tham dự bị giết chết, dã nam nhất là hơn 200.000 người bị bắt đem đi thủ tiêu .  Đó là cha mẹ, vợ con,anh em,  xóm làng của những người chống đối .    Cuộc tàn sát này giống với cuộc tàn sát diệt chủng người Do Thái mà Hitler ra lệnh cho áp dụng ở châu Âu hồi Thế Chiến thứ 2 .

Từ đó tới nay một mặt Trung Quốc xiết chặt sự cai trị Tây Tạng và mặt khác ồ ạt di dân  cũng như đem hàng triệu tội phạm người Hán tới nhốt rồi cấp phát ruộng đất bắt định cư tại đó sau khi mãn tù (**) . 

Dân tộc Tây Tạng đã được hun đúc bằng  truyền thống văn hóa của ngàn xưa và từng có một lịch sử oai hùng không dễ gì chịu khuất phục trước bạo lực và chính sách Hán hóa của Trung Quốc nên dân chúng luôn luôn có những hành động phản kháng dưới mọi hình thức, từ nhỏ tới lớn .  Ngày  10 tháng 3 năm 2008 dân chúng thủ phủ Lhassa nổi lên biểu tình chống đối  bị công an và Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân Trung Quốc đàn áp giết chết hơn 300 người  và mấy trăm người , trong đó có nhiều nhà sư,  bị bắt đem đi mất tích không bao giờ trở lại .  Từ cuộc nổi lên ở thủ phủ Lhassa này, sự cai trị tàn bạo của Trung quốc càng ngày càng tàn bạo thêm .  Bí Thư Tây Tạng ( người Hán ) Zang Qingli công khai tuyên bố : “ Những ai cần bắt sẽ bị bắt, cần bỏ tù sẽ bị  bỏ tù . Những ai cần giết sẽ bị giết .”

Báo Le Monde ra ngày 14-12-2012 viết : “ Sau vụ nổi dậy năm 2008, trấn áp là biện pháp duy nhất .” (Web site RFI ngày 14-12-2012) .     Còn báo Libération ngày  12-12-2012 đăng 1 bài phóng sự dài về Tây Tạng của  Phillippe Grangereau  có ghi lời  nữ văn sĩ Tây Tạng, bà Tsering Woeser,  mô tả :  hiện nay Tây Tạng không khác gì 1 nhà tù, nhất là tại thủ phủ Lhassa .   Công an, cảnh sát khám người trên khắp các nẻo đường, kẻ cả trẻ em . Vào chùa phải đưa thẻ căn cước vào máy và khi vào bên trong lại bị khám xét nữa.    Chỉ trên 1 đoạn đường 500m bà đi qua có 21 chốt gác của cảnh sát và gặp 3 đội tuần tra .

Ở Đồng Nhân không chỉ có công an, quân đội giữ an ninh, trật tự mà cả các cán bộ, công nhân viên cũng phải dành ½ thời gian canh chừng dân chúng.

Tất cả mọi người Tây Tạng ra đường dù ngày hay đêm đều phải mang theo 5 thứ giấy tờ tùy thân và luôn luôn bị khám xét trong khi người Hán ở Tây Tạng thì không bị sách nhiễu gì cả .

Cũng trong bài phóng sự này  Phillippe Grangereau  đưa ra nhận xét :”  Họ (Trung Quốc) muốn đồng hóa,  muốn triệt bỏ ngôn ngữ, văn hóa, tôn giáo, lịch sử, nhân cách của người Tây Tạng .”

Nhận xét ấy rất chính xác vì chỉ riêng trong thời gian Mao trạch Đông phát động Cách Mạng Văn Hóa vào những năm 1960 có hơn 6.000 tu viện và chùa chiền bị tiêu hủy, những cơ sở chưa bị phá thì bị canh giữ, các ni sư phải học tập chủ nghĩa cộng sản ; những nhà tu nào chống đối thì bị bắt, bị giết hay đem đi biệt tăm; học sinh và trẻ em bị cấm đến chùa ; vinh viên, học sinh phải học những môn học viết toàn bằng chữ Hán; phong tục tập quán, lối sống của người Tây Tạng bị chê bai, lăng mạ .

Chính sách Hán hóa khốc liệt ấy không khác gì chính sách mà quân nhà Minh áp dụng khi xâm lăng Việt Nam đầu thế kỷ thứ 15 .    Sắc chỉ của Minh thành Tổ ngày 21-8-1406 ra lệnh bất cứ sách vở, văn, thơ,  vết tích văn hóa nào của Việt Nam cũng phải thu, phải đốt, phải đục cho hết .

Trong Việt Nam Sử Lược, sử gia Trần trọng Kim ghi : “Đến tháng 8 năm Giáp Ngọ (1414 ) Trương Phụ và Mộc Thạnh về Tàu đem theo những đàn bà, con gái về rất nhiều . Bọn Hoàng Phúc ở lại sửa sang các việc trong nước để khiến người An Nam đồng hóa với người Tàu .   Lập đền miếu bắt người mình phải cúng tế theo tục bên Tàu, rồi từ cách ăn mặc cho chí sự học hành, việc gì cũng bắt như người Tàu cả .  Còn cái gì là di tích của nước mình thì thu nhặt đem về Tàu hết sạch .”

Sử gia Trần trọng Kim ghi tiếp rằng Hoàng Phúc bắt các  châu, huyện phải lập văn miếu thờ  Khổng Tử và lập các bàn thờ trong nhà để thờ các thần sơn (núi), xuyên (sông), phong (gió), vân (mây) . . .  . Bắt đàn ông, con trai không được cắt tóc ngắn; đàn bà, con gái thì phải mặc áo ngắn quần dài theo  cách ăn mặc của người Tàu ( đàn bà Việt Nam thì mặc áo dài, váy đen – PH Sơn chú thích).

(Trần trọng Kim, Việt Nam Sử Lược Q.I trang 211&212, Bộ Giáo Dục xb. năm 1971).

Chúng ta đọc lại giai đoạn lịch sử đen tối của Việt Nam để cảm thông nỗi nguy nan của dân tộc Tây Tạng dưới ách cai trị của Trung Quốc hiện nay .

Trong hoàn cảnh ngặt nghèo như thế, toàn dânTây Tạng đang kiên trì tranh đấu cho sự sống còn của dân tộc bằng sự hy sinh vô bờ bến,  hy sinh bằng chính bản thân họ biến thành những ngọn đuốc sống  đang bừng cháy trên vùng trời Hymalias .

Nhân loại đã nhận thấy sự thống khổ của họ, Liên Hiệp Quốc, Cộng Đồng Âu Châu, các quốc gia, các cơ quan bảo vệ nhân quyền . . .  liên tục lên tiếng mạnh mẽ phản đối chế độ thực dân Trung Quốc tại Tây Tạng .

Trước công luận và sự lên án của thế giới, liệu Trung Quốc có thể duy trì mãi mãi chế độ thực dân ở Tây Tạng, Nội Mông Cổ, Tân Cương hay sẽ sớm nở tối tàn như  3 đế quốc  muộn  Đức, Nhật, Ý năm 1945  ? 

( 18 – 03 – 2013 ) 

GHI CHÚ :

 (*) Dù sống đời sống tị nạn tại Ấn Độ, hiện trong 200 ngàn người Tây Tạng ở Dharamsala có 20 ngàn tăng ni tu trong 200 tu viện hay trong các ngôi chùa – như vậy là 10% dân số đi tu .

(**) Trong  cuộc đàm luận với 1 nhà báo Ấn Độ hồi tháng 4-2012, Đức Đạt Lai Lạt Ma tiết lộ hiện nay ở thủ đô Lhassa người Hán chiếm 2/3 sân số và nắm hết các quyền lợi của người Tây Tạng . Xin xem đầy đủ trên Web site   thuvienhoasen.org  /phần Phật Giáo Thế Giới .


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ẩn dụ về cơm áo với con người?

những con ngựa bị trói ghì bằng cỏ

Chuỗi truyện về những con người không biết và không muốn buông bỏ. Sống và chết trong sân hận, vướng bận, cùng với những tổn thương, sang chấn không sao nhìn thấy bằng mắt thường. 

Thuyền đã sẵn, nhưng không ai qua sông. 

(sẽ cập nhật ngày sách lên kệ sau) 

Phần nhận xét hiển thị trên trang