Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 20 tháng 2, 2016

Tập Cận Bình nói dối..Biển Đông sắp “nhuốm mùi thuốc súng”



Báo Nhật: Tuyên bố của Tập Cận Bình là lời nói dối
Tờ Nihon Keizai Shimbun (Nikkei, Nhật Bản) ngày 19/2 đưa tin, Bộ trưởng quốc phòng Nhật Gen Nakatani tuyên bố không thể xem nhẹ “mục đích của Trung Quốc khi bố trí (trái phép) tên lửa ở quần đảo Hoàng Sa nhằm thay đổi cục diện khu vực”.
Đô đốc Harry Harris, Tư lệnh Bộ chỉ huy Thái Bình Dương của Mỹ, chỉ trích hành động của Bắc Kinh trái ngược với cam kết của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình trong chuyến công du Mỹ tháng 9/2015, rằng nước này “tuyệt đối không quân sự hóa biển Đông”.
Trong cuộc hội đàm giữa ông Nakatani và ông Harris, song phương đã cùng chỉ trích việc Trung Quốc đưa trái phép các hệ thống tên lửa đất đối không HQ-9 lên đảo Phú Lâm của Việt Nam.
Đặc biệt, hai ông nhất trí khẳng định tuyên bố của ông Tập về việc Trung Quốc không có ý đồ xây dựng cứ điểm quân sự trên biển Đông “chỉ là lời nói dối không hơn không kém”.
Ngoại trưởng Mỹ John Kerry trước đó cũng bày tỏ quan ngại về hành động của Bắc Kinh và nói rằng Washington sẽ trực tiếp lên tiếng yêu cầu Trung Quốc chấm dứt hành vi tương tự.
Tuy nhiên, Bộ quốc phòng Trung Quốc huênh hoang rằng “việc bố trí trang thiết bị quân sự tương tự đã được tiến hành từ rất lâu”, và đổi trắng thay đen khi tuyên bố trắng trợn “việc Bắc Kinh xây dựng cơ sở hạ tầng phòng thủ ở biển Đông là hợp tình, hợp lý và hợp pháp”.

 Hình ảnh tên lửa HQ-9 của quân đội Trung Quốc được đưa lên bệ phóng di động, chụp tại Vũ Hán, Hồ Bắc, Trung Quốc tháng 11/2015. Ảnh: CNS

Hình ảnh tên lửa HQ-9 của quân đội Trung Quốc được đưa lên bệ phóng di động, chụp tại Vũ Hán, Hồ Bắc, Trung Quốc tháng 11/2015. Ảnh: CNS
Trung Quốc sẽ tiếp tục “vươn vòi” trong thời gian ngắn
Nikkei bình luận, Trung Quốc đã “nhắm” đúng thời điểm nhiệm kỳ của Tổng thống Mỹ Barack Obama chỉ còn không đầy 1 năm, và nước Mỹ đang bận rộn với cuộc đua vào Nhà Trắng, để thực hiện những bước đi hung hăng của mình.
Giới cầm quyền ở Bắc Kinh nhận định nước Mỹ trong thời gian này “sẽ không tiến hành những hành động quân sự quyết liệt”.
Do đó, quân đội Trung Quốc sẽ “vươn vòi” không chỉ ở biển Đông, mà còn trên biển Hoa Đông và Tây Thái Bình Dương.
Cũng theo Nikkei, Hải quân Mỹ đang thảo luận về “hiện trạng nguy cơ” ở châu Á-Thái Bình Dương, và sẽ điều động lực lượng tàu sân bay mạnh nhất.
Hai tàu sân bay tấn công được Mỹ bố trí ở Đông Á, gồm USS John C. Stennis và USS Ronald Reagan, sẽ được đặt trong tình trạng cảnh giác cao độ.
Song song với việc Mỹ và Trung Quốc chạy đua leo thang sức mạnh quân sự mà không có dấu hiệu “hạ nhiệt”, nguy cơ bùng phát xung đột quân sự giữa hai nước cũng bước vào giai đoạn “đếm ngược”, tờ báo Nhật Bản đánh giá.
Nhà bình luận chính trị quốc tế nổi tiếng Fujii Imuki cho rằng, Mỹ nên có những hành động mạnh như vậy từ sớm hơn, bởi sự tăng cường sức mạnh quân sự của Washington ở Đông Á đã trở thành xu thế tất yếu.
Trước đây, ngay sau khi Tổng thống Obama khẳng định Mỹ “không phải là cảnh sát thế giới”, Trung Quốc đã nhanh chóng bành trướng và liên tục làm gia tăng mối đe dọa về quân sự ở cả biển Đông và biển Hoa Đông.
“Nhật Bản nên nỗ lực hợp tác cùng Mỹ và các quốc gia Đông Nam Á để cùng cảnh giác trước Trung Quốc trển biển Đông và các khu vực khác,” ông Imuki nói.
Trong khi đó, tờ Yomiuri Shinbun (Nhật Bản) ngày hôm nay (20/2) cho biết, các nhà quan sát nước này sau khi phân tích tổng hợp các thông tin quân sự của Trung Quốc, đã nhận định Bắc Kinh rất có khả năng sẽ bố trí cả tên lửa chống hạm ở biển Đông.
Các hệ thống tên lửa đất đối không “bị phát hiện” mà Trung Quốc triển khai phi pháp trên đảo Phú Lâm “chỉ là một bộ phận của hoạt động bành trướng quân sự” mà nước này đang tiến hành.
Theo Yomiuri, quân đội Trung Quốc sẽ bố trí tên lửa chống hạm trong thời gian rất ngắn, chỉ cần có mệnh lệnh từ các lãnh đạo. Động thái này nếu trở thành sự thực trong tương lai gần, sẽ khiến khu vực biển Đông nhuốm “mùi thuốc súng”.

(Theo Thế Giới Trẻ)
Phần nhận xét hiển thị trên trang




Image result for hạt bụi
hình minh họa

Cuối cùng, cho đến trưa hôm đó thì anh cũng bắt được con dế sau mấy ngày theo dõi, nghe ngóng.
Đó là một con dế than, to hơn bất kỳ con dế nào mà lũ trẻ trong xóm có được. Anh bỏ nó vào trong một cái hộp diêm rồi chạy vội xuống nhà Trang. Tới ngõ, anh thấy trong nhà người ta đang chơi bài, còn Trang thì đang cầm một cục xôi, nhai trước sân. Anh vẫy nó ra cổng rồi nói:
- Trang, mày hát cho tao nghe lại cái bài “Em bé hát rong bên cầu Bến Lức” đi. Tao đổi cho mày con dế này.
Trang vừa nhai vừa hỏi
- Con này to hay nhỏ?
- To.
Nói xong anh mở hộp cho nó coi. Nhìn con dế  như để cân nhắc có đáng đổi một bài vọng cổ hay không, nó bỏ hộp diêm có con dế trong đó vào túi rối hắn lấy giọng, ca lại bài vọng cổ này. Anh đứng im nhìn vào cái miệng của nó, còn hồn thì trả trôi theo những áng mây lạ ở một khúc sông nơi có đứa bé hát rong đang dạo bước bên cầu. Năm đó anh mười tuổi.
Phải mất gần bốn mươi năm sau, anh mới đến được cái cầu này. Chiếc xe ngựng lại bên chân cầu. Những cô gái bán trái cây ùa lên xe, rao bán. Anh đảo mắt tìm một bé hát  rong nào đó nhưng không thấy, chỉ thấy lẫn trong đám người này là một em bé gái bán báo, đang cố ngoi đầu qua khỏi những rổ trái cây để có thể đi vào bên trong. Đứa bé có đôi mắt trong veo như một con chuột nhỏ. Nhìn bé, anh cười một mình  rồi vẫy tay ra dấu là anh muốn mua một tờ báo. Nhìn đứa trẻ đưa tay vào cái túi nhỏ đeo bên hông để lấy tiền thối, anh nói nhỏ vào tai nó là con giữ lại số tiền còn lại đó đi để ăn quà. Nó nhìn anh, nói cám ơn rồi đi chỗ khác. Nghe trẻ con miền Tây nói cám ơn không khác chi được họ đãi mình một ly nước dừa. Anh không thể nói cho nó hiểu, là đã từ lâu lắm rồi anh chỉ đọc sách chứ không còn đọc báo. Anh chỉ muốn mua lại cái hình ảnh một thằng bé mười tuổi năm nào,  phải rình mấy ngày trời bắt cho được môt con dế chỉ để muốn gặp lại đứa bé hát rong hay bán một thứ gì đó  bên chân cầu này trong trí tưởng tượng mà anh có được từ một bài vọng cổ.
Chạy chơi cùng những mùa mưa nắng, lũ trẻ con trong xóm lớn dần như những nhánh cây rừng. Những con suối nhỏ trong trẻo, hồn nhiên thưở nào cứ chực chờ tìm ra biển lớn, nơi có gió khô nắng cháy, những hè phố lạ.
Cho đến một hôm có đoàn cải lương tới dựng sân khấu cạnh một ngôi chùa. Tối ngày, anh thấy Trang cứ quanh quẩn nơi đây  nhìn đào kép bằng một cái nhìn ngưỡng mộ. Đây cũng là lần đầu tiên anh nhìn thấy những đào kép của một đoàn cải lương. Hầu hết đều xanh xao, gấy ốm, trông khá nhếch nhác, lôi thôi. Những đứa trẻ con sinh ra trên bước đường lưu diễn cũng giống hệt như bố mẹ chúng, bệu bã, thiếu nắng. Tất cả đều mang tính tạm bợ. Như thể cái cuộc sống thường xuyên di chuyển nay đây mai đó đã biến thế giới này thành một thứ lều trại chẳng có gì đáng được chăm chút. Cuộc sống  chỉ là cuộc sống của từng ngày. Trẻ con chẳng đứa nào được đi học vì phải thường xuyên di chuyển theo bố mẹ. Chúng đẹp tựa một hạt bụi người.
Ngày họ nhổ trại ra đi, Trang cũng biến mất. Ba tháng sau nó quay về, rồi kể: Trong suốt ba tháng đó, tụi nó bắt tao thu gọn bàn ghế, giữ trật tự,  phụ xé vé chớ có được hát hò gì đâu, trong khi tao muốn trở thành kép hát. Cơm thì bữa đói, bữa no. Càng lúc tao càng nhận ra mình chỉ là một thứ báo cô.
Cái xóm nhỏ cứ vắng dần. Cuộc chiến tranh dạo đó lớn dần theo từng ngày. Nắng cứ tắt dần theo những nụ cười vắng bóng. Những đứa bạn của anh cũng lần lượt biến mất khỏi cái xóm nhỏ. Rồi chúng xuất hiện trở lại cũng bất ngờ như lúc chúng đi. Buổi tối hôm đó anh đang ngồi học bài thì có hai người lính bước vào nhà. Đó là Trang với  Đ.S. Điệp, mặt mủi trông rắn rỏi, phong trần.
Nói chuyện lan man một hồi, hai đứa hỏi anh: Mày đã biết mùi đàn bà chưa? Anh nói chưa. Cả hai đều thực sự tỏ vẻ thất vọng. Mọi chuyện cứ như thể đến giờ này mà vẫn chưa biết mùi đàn bà thì còn ra cái thể thống gì nữa. Trang nói: Vậy bây giờ đi theo tụi tao. Anh theo hai thằng tới một cái động điếm ngay trước cửa ga xe lửa Dalat. Chẳng lạ lùng gì với chỗ này vì ngày nào đi học cũng phải ngang qua đây. Bước vào  bên trong anh thấy ba cô gái đang ngồi trên một chiếc ghế dài. Hai đứa nó chọn cho mình mỗi đứa một cô. Cô còn lại là của anh, một cô gái người Nam mập tròn, trông như thể chị Hai của anh vậy.
Tất cả đi theo môt cái cầu thang hẹp để xuống những phòng nhỏ ở phía dưới. Lúc chỉ còn hai trong phòng, anh chẳng chứng tỏ được gì ngoài sự vụng về ngớ ngẩn của một thằng con trai vừa mới lớn. Chị Hai tinh ý nhận ra ngay. Chị hỏi: Lần đầu phải không? Anh gật. Cuối cùng thì người chị gái này cũng giúp anh làm xong chuyện, đâu ra đó. Sau này nhớ lại, cả đời anh chẳng có lần nào thổ tả cho bằng cái lần đó. Cánh cửa đầu tiên mở ra để xem cái thế giới của người lớn mặt mũi ra làm sao, xem ra cũng tệ hạị ngang bằng với sự vụng về lúc anh lột xiêm y người phụ nữ kia vậy. Lúc đang mặc vội quần áo vào người, anh nghe tiếng của Trang từ bên phòng kia nói qua: “Xong rồi thì ra đứng chờ tụi tao ở cái trụ điện trước sân ga”. Anh đứng chờ dưới  ngọn đèn đường, phố xá vắng tanh chỉ còn lại những ánh đèn khuya đổ bóng xuống  mặt đường hoang vắng lê thê đang trôi sâu vào đêm tối. Rồi anh nghe tiếng người cãi cọ bên trong. Tiếng của Trang nho nhỏ ra chiều năn nỉ, còn tiếng của bà chủ chứa thì oang oang: “Mấy anh vừa phải thôi chớ, mấy anh cũng phải thương mấy em nó chớ. Tụi nó cũng cực khổ chớ có sướng gì đâu”. Rồi tiếng của Trang: “Chị yên tâm đi, tuần sau lãnh lương em mang ra trả”. Tiếng bà chủ: “Tôi tin anh”. Cuối cùng thì đâu cũng vào đó, bà chủ cho Trang nợ.
Ba đứa lơ ngơ đi về dưới một bầu trời khuya lơ thơ những ánh sao trời. Anh cứ ngỡ là nó nói cho qua chuyện. Đúng một tuần sau đi ngang qua nhà, Trang nói: “Tao qua đó trả tiền nợ cho mấy em bữa trước đây”. Nghe nó nói anh thấy nhẹ lòng. Lời phân trần của bà chủ nhà chứa  vẫn còn ám trong cái đầu của anh “Mấy anh cũng phải thương mấy em nó chớ. Tụi nó cũng cực khổ chớ có sướng gì đâu”.
Mấy tháng sau đó, Đ.S. Điệp hóa thành người thiên cổ ở Campuchia. Năm đó nó mới hai bốn tuổi, xác được mang về chôn ở Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa. Sau này mỗi lúc nhớ tới thằng bạn này, anh vẫn thường xuyên có cảm tưởng là nó có mặt như một hoài niệm của một thứ thực tại nào đó chưa từng rõ nét, cái chết chỉ khiến cho mọi thứ mơ hồ thêm chút nữa…
Những năm tháng  sau đó, Trang lại xuất hiện trước mặt anh như môt trí thứ. Chẳng biết hắn nhặt được ở đâu một cái kính cận rồi đeo suốt ngày. Trên tay thì lúc nào cũng kè kè cuốn “Tự Do Đầu Tiên Và Cuối Cùng” của Krishnamurti. Gương mặt hắn lúc nào cũng đăm đăm, ưu tư, cái ưu tư chỉ có ở một kẻ đang thất vọng về tình trạng của thế giới và đang tìm cách xoay trục nó lại. Nhìn cái khuôn mặt nó lúc này, anh vẫn thích nhớ lại khuôn mặt lúc nó xuống giọng với bà chủ nhà chứa hơn. Nó dạy anh là phải đặt toàn bộ ý nghĩa cuộc sống trên quan điểm của hiện sinh của “Cái Đang Là” thay vì trao thân cho những hoài nghi triết học với những câu trả lời lơ lửng chẳng đâu vào đâu cả…  Anh phải ầm ừ cho qua chuyện vì nó nói năng khá giống một Đao sư. Nó đang muốn trở thành Đạo Sư cũng nên. Còn anh thì quá mệt mỏi với những ông Đạo này rồi. Những gì nó vừa rao giảng, anh tin chắc nó mới nhặt được từ  cuốn sách đang kẹp trên tay. Anh nhớ mãi một đêm đang ngồi học bài thì có tiếng gõ cửa. Mở cửa thì thấy Trang với cặp kiếng cận to đùng. Hắn nói: Phải suy nghĩ mấy ngày trời tao mới vỡ lẽ một điều là, Không không phải là Không mới đích thị là không. Mừng quá tao muốn gặp mày để chia sẻ”. Nhìn vào đôi mắt thằng này, anh nhận ra đó là những đôi mắt mà người ta vẫn  dễ dàng bắt gặp trong nhà thương điên.


Mấy ngày đầu năm 2016, anh phải lên Buôn Mê Thuột bằng xe gắn máy vì có một vài công chuyện. Lúc quay về gần tới chợ Đinh Văn thì gặp một người đàn ông giống hệt Trang đang đi nhặt rác giống những người điên mà anh vẫn thường gặp đâu đó ở các  thành phố lạ. Cuối cùng anh tin chắc đó là Trang và quyết định quay đầu xe lại. Sau khi tìm được chỗ dựng xe, anh nhìn qua đường nơi có người đàn ông đang chăm chăm cúi xuống mặt đường như tìm một cái gì đó  vừa đánh rơi. Đúng là Trang với cái đầu trọc lốc, khuôn mặt sạm nắng, ốm gầy nhưng rắn chắc.  Anh bước qua đường, đứng trước mặt Trang vừa hỏi vừa cười cười:
- Sao, có còn nhớ ai đây không?
Trang nhìn anh bằng một hố mắt trống trơn, rỗng không, cái nhìn chỉ có ở một con người mà tất cả những gì có liên quan đến ký ức đều đã bị xóa sạch. Rồi hắn nói:
- Bộ mày là công an muốn bắt tao hả? Không dễ bắt thằng này đâu nha.
Anh cười rồi hỏi:
- Có nhớ cái lần chơi chạy ở Thanh Lịch không? Cái động điếm ở trước ga xe lửa Dalat đó ? Bị bà chủ đông la cho một trận đó. Nhớ chưa?
- Xe lửa  chạy kêu hu hu đó hả? Thôi, tao phải đi đây, có mấy con bò đang chờ tao trên núi.
Nói xong nó lại cúi xuống đất như cố tìm một cái gì đó rồi vừa đi vừa ngó chằm chằm xuống đất. Anh nghe là từ lâu rồi, Trang sống một mình trong cái lều nhỏ ở An Phước  cách chỗ nó đang đứng khoảng ba cây số.

Image result for hạt bụi

Đứng nhìn người bạn thân chơi với nhau từ hồi còn nhỏ đang tìm một cái gì đó vô hình  trên mặt đất, anh tự hỏi: Đã bao nhiêu năm rồi, nó tìm cái gì trên mặt đất này, từ lúc cái đầu còn tỉnh táo với một thế giới mà trật tự  vẫn còn ổn định cho đến một sườn núi không hề có thực với một bầy bò đang gặm cỏ đâu đó trên những cánh đồng hoang tưởng? Và nó đi tìm cái gì trong đầu của nó giữa đống hỗn mang sương mù với những mê lộ, tuyệt lộ, không chừng là đạo lộ cũng nên? Những lối mòn ấy, loài người đã dẫm nát hàng triệu năm rồi..
Cũng như anh. Anh đã mất  bao nhiêu năm để tìm một cái gì đó nửa hư nửa thực, nửa có nửa không, giữa một trần gian mà anh có mặt không khác chi một lữ khách tình cờ… Với một cái chết lúc nào cũng treo trước mặt, như một bản án chung thân.
Còn cuộc sống thì tất cả những gì anh muốn hiểu, muốn được khám phá vẫn còn đang ở phía trước, ngổn ngang ở phía trước…


Dalat, những ngày cuối năm 2016

Lê Công Tư
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thạch Lam và những cái tết thanh đạm.



thạch lam


Sự tiết chế, sự điềm đạm vốn là một đặc điểm thấy rõ ở văn chương cũng như con người Thạch Lam (1910-1942).

Biết điều đó, người ta sẽ không ngạc nhiên, khi nghe ông kể rằng ông thường đón Tết một cách không mấy vồ vập, đúng hơn là đơn sơ thanh đạm. “Tết của nhà nghệ sĩ vốn giản dị… một chai rượu mùi, một gói kẹo, một gói thuốc lá, thế là đủ. Chẳng phải vì nghệ sĩ không ước ao hơn, nhưng vì nghệ sĩ vốn nghèo”
. Có điều, trong khi đứng tách riêng ra không chịu đua đả với mọi người về những tiện nghi vật chất, thì nhà văn ấy lại vẫn mở rộng lòng đón Tết, và cũng đủ hồi hộp rung động trước cảnh xuân sang.
Qua văn ông, người ta đọc ra những cảm giác thiêng liêng mà có lẽ người Việt nào cũng trải qua, cái thiêng liêng nảy sinh trước tiên do bắt gặp những vận động tự nhiên của trời đất, nhưng lại càng thiêng liêng vì được cùng với người thân sống lại những phong tục tập quán đã được cộng đồng dân tộc hình thành qua ngàn năm lịch sử.
Những chiếc bánh chưng hay là nét đẹp của phong tục
Những ai từng đọc Hà Nội băm sáu phố phường hẳn nhớ những tinh tế của ngòi bút nhà văn trong việc ghi lại các món ẩm thực hình thành của người dân thường Hà Nội. Trong khi quan sát mọi người chuẩn bị đón Tết, Thạch Lam cũng không quên nhắc lại những phong tục có tự ngàn đời, như việc gói bánh chưng chẳng hạn.
Ồ, chiếc bánh chưng vuông vắn và đầy đặn, màu xanh như mạ non, gạo nhiễn ra như bông tuyết và giữ trong lòng bao nhiêu quý báu của miếng ngon: lượt đậu mịn và vàng đậm, những miếng mỡ trong như hổ phách, những miếng nạc mềm lấm tấm hạt tiêu. Và thoang thoảng một một chút mùi cà cuống, gắt như cô gái chua, sắc như mũi kim lạnh ”.
Trong những đoạn văn như thế, người ta không chỉ thấy sự thành thạo trong chuyện ăn uống, mà còn bắt gặp sự nhạy cảm riêng của tác giả trước cái quan niệm hàm chứa đằng sau các món ăn: Với người Hà Nội thanh lịch, mọi chuyện không được phép qua loa lấy lệ, hoặc xô bồ tuỳ tiện thế nào cũng được, mà phải kỹ lưỡng thận trọng, tuân theo những luật lệ nghiêm khắc và chắc chắn, bao giờ cũng gửi vào đấy một ý niệm về vẻ đẹp.
Từ đấy, toát ra cái tinh thần của một nền văn hóa độc đáo mà theo tác giả, nếu không bảo nhau giữ gìn, ta sẽ đánh mất.
Phố xá với những sắc màu đa dạng
Sau khi tự nhận rằng chỉ chuẩn bị cho Tết ở mức tối thiểu, Thạch Lam kể:


Image result for thạch lam
thạch lam


“Thế rồi hai tay bỏ trong túi áo - và cầu trời cho thời tiết hơi rét và hơi mưa bụi, tôi lẫn trong đám đông xuôi ngược trên hai bên hè phố”. Nói cách khác, niềm vui của ông là được đi ngắm cảnh thiên hạ đón Tết. Trong tầm nhìn của ông, có cây cảnh phố xá, lại có đủ loại mặt người. Trầm lặng và như muốn lẫn đi giữa chung quanh, song con người ông vẫn có sức bao dung rất lớn.
Qua những truyện ngắn như "Cô Hàng Xén", ta biết rằng Thạch Lam rất hay nói tới sự nhẫn nại, sự hy sinh. Thì ngay khi đi trên đường phố nhộn nhịp, ông cũng không quên điều đó.
“Các thiếu nữ trong ngày sắm Tết có rất nhiều vẻ đáng yêu. Đi đâu mà vội vàng thế? Về chậm sợ mẹ mắng hay sao? áo quần không kịp trang điểm, mái tóc không kịp vuốt ve, cho nên có một vẻ lơ đễnh, một vẻ xuềnh xoàng khả ái! Giờ này là giờ các cô đảm đang, đi mua đi bán, đem cái vui vẻ cho em trai và mẹ già, các cô hết lòng lắm. Chen lấn vào đàm đông, không sợ bị chèn ép xô đẩy. Đi guốc cao cho khỏi lấm gấu quần. Và nhất là tự nhiên và dung dị”.
Với tư cách tác giả Nhà mẹ Lê, Gió lạnh đầu mùa, Thạch Lam dành ít dòng để nói về Tết của người nghèo:
“… ở ngoài bãi sông, Tết lại có một vẻ riêng đặc biệt. Trông đứa bé đội mũ bông, áo mới dài và rộng, đeo chiếc khánh mạ vàng, nhặt ngòi pháo đốt, thấy cả cái Tết ái ngại và nho nhỏ của cả một vùng”.
Và đây nữa, một nét Tết Hà Nội, dưới con mắt Thạch Lam:
Đêm 29 Tết, vào giờ trước giao thừa… có ai lên trước chợ Đồng Xuân, để nhìn những cái gì còn lại, những cái gì bị khinh bỉ từ chiều? Những cành đào xấu xí, ít hoa; những bát thuỷ tiên tơi tả, đã chuyền tay hết người này sang người khác mà không được ai mua, những chậu cây cúc và thược dược rã rời và lấm đất. Dưới mưa bụi, bùn đã vấy lên trên những cành đào, mai rải rác trên đường, bao nhiêu bàn chân dày xéo (…). Để trang điểm cho những căn buồng tiều tuỵ, những căn nhà lá nghèo nàn ở các ngoại ô đối với nhiều người, tuy xấu xí tơi tả mặc dầu, những thứ ấy cũng vẫn là biểu hiện của ước mong, của trông đợi”.
Một nét thần thái
Rồi bao nhiêu chuẩn bị đã xong, điều mọi người háo hức chờ đợi, mùng một, mùng hai, những ngày Tết thực thụ đã tới với bức tranh thiên nhiên thoảng qua một chút xao động lẫn những cảnh tượng sinh hoạt như ngàn đời vẫn vậy: Thạch Lam không nói gì khác những điều ai cũng biết, ấy vậy mà đọc ít dòng ghi chép của ông, người ta vẫn cảm thấy như tất cả vừa được nhận ra lần đầu.
Qua bãi cát rộng, con sông ngày Tết từ từ trôi mấy bông hoa nát không biết ở đâu về. Đây Tết rải rải khắp ven bờ. Một cái bến vài con thuyền đỗ, thế là cũng có khói hương cũng có hoa đào và xác pháo (…)
Ngoài trời lại mưa bụi. Xuân có vẻ đè nén, bao bọc và dằng dai:
Ngõ trúc lùn tùn tun ngọn trúc
Mưa xuân lún phún lụn ngày xuân.

Không hiểu tại sao hai câu thơ không nhớ của ai ấy thật đúng cái cảm giác tôi có lúc mùa xuân”.
Câu chuyện về những ngày Tết dưới con mắt Thạch Lam tới đây đã có thể dừng lại. Song có một điều người đọc không khỏi vương vấn:
Hình như nhân nói về một ngày lễ cổ truyền, Thạch Lam vừa động chạm tới một cái gì lớn hơn thuộc về thần thái của sinh hoạt cộng đồng, nghĩa là những yếu tố trường tồn trong thời gian. Và ai cũng muốn thử cắt nghĩa tại sao đến nay nhiều người còn rất thích văn Thạch Lam, có lẽ phần nào tìm được câu giải đáp: Lớn lên trong cảnh đất nước bị thực dân thống trị, song lại tiếp nhận được một cách nhuần nhị nền văn hoá Pháp, Thạch Lam (cũng như nhiều đồng nghiệp đương thời) đã biết hướng toàn bộ tâm tình vào việc yêu mến, tìm hiểu, khám phá cốt cách dân tộc. Mà cái cách trở về với dân tộc của Thạch Lam thì chân thành và cảm động. ở đây mọi tình cảm không ồn ào song lại rất thấm thía, càng hiểu cái nghèo túng chật vật của hoàn cảnh người ta cảm thấy nặng lòng với đất nước đã nuôi nấng mình lớn lên. Đó là cách nhìn, là tấm lòng của những trí thức chân chính.

Sau đây là một bài viết của Thạch Lam trên Ngày Nay số xuân 1940


Image result for thạch lam
 

Nghệ thuật ăn Tết
Hưởng, đấy là khôn ngoan; khiến hưởng, đấy là đức hạnh(Cách ngôn Ảrập)
Ngày Tết, đối với nhiều người, chỉ có thú vị khi nào nghĩ lại - Người ta thường hay cùng nhau nhắc tới những Tết năm ngoái, năm xưa với một vẻ mến tiếc âu yếm, lẫn với đôi chút ngậm ngùi. Nhất những Tết ngày còn nhỏ… Lúc ấy, cùng với những nỗi vui ngày Tết đã qua, còn vướng niềm thương tiếc tuổi niên hoa, cái tuổi mà người ta nhận là “vô tư lự”, ngây thơ và sung sướng.
Nhưng nỗi nhớ tiếc ấy chẳng ích lợi gì, mà lại ngăn chúng ta không toàn hưởng được thời khắc hiện giờ. Đậm đà, mạnh mẽ hơn bao nhiêu là sự hưởng thụ ngay hiện tại, thêm vào cái thú hưởng những giờ vui, cái thú vô song của sự mình biết mình đương hưởng.
Ngày còn ít tuổi, tôi không hiểu biết được cái thú uống trà. Chén trà thơm lúc đó như sao bằng được những mộng đẹp tôi đang mơ tưởng trong lòng. Bây giờ tôi đã có biết rồi - và thỉnh thoảng một buổi sớm hay trưa, nâng chén trà lên để nhìn qua hương khói. Hưởng hương vị chén trà thì ít, nhưng hưởng cái thú ở đời, và nhất là hưởng cái giờ khắc nghỉ ngơi, nhàn nhã, mà tự mình cho phép - (người ta chỉ có thể hưởng được cái khoái lạc của nghỉ ngơi, khi biết cái nghệ thuật nghỉ ngơi cũng như biết cái nghệ thuật làm việc).
Tôi hiểu là vô ích và điên dại cuộc theo đuổi mộng ảo không cùng, việc lần để ngày lại ngày hạnh phúc. Tôi hiểu rằng hoa nở sớm nay cũng tươi đẹp chẳng kém hoa nở ngày mai, thời tiết xuân nay êm dịp hơn xuân bao giờ hết, và trời trong cùng ánh nắng kia hiện giờ đã đẹp vô ngần…
Tết! Còn dịp nào trong đời ta nhiều thú vị vui tươi hơn nữa. Ngày Tết nhắc ta nhớ lại những Tết đã qua, và khuyên ta an hưởng ngay cái Tết bây giờ. Đêm giao thừa “thời gian qua nghỉ bước trên từng cao” là giờ khắc say sưa êm dịu nhất. Hưởng mùi thơm thuỷ tiên, cánh hồng hoa đào nở, hưởng làn khói trầm vấn vít đủ lên cao. Hưởng đi, trong cái khoái lạc của sáng suốt, trong cái minh mẫn của tinh thần, trong sự thư thái thảnh thơi của lòng bình tĩnh. Tiếc thương như gia vị và mong mỏi như làm ấm nóng cái thú vô cùng.
Rượu sánh trong cốc pha lê trong trộn mùi khói pháo với hương thuỷ tiên. Tiếng pháo nổ vui từ nhà nọ sang nhà kia, liên tiếp, đi mãi vào trong đêm để làm vang động bầu không khí xuân của khắp cả các gia đình. Đó là tiếng hiệu lệnh của sự thông đồng chung hưởng.
Lúc đó mỗi nhà đều uống rượu thưởng năm mới. Rồi chiếc bánh chưng đầu năm mang lên, xanh mịn trên đĩa trắng. Bánh chưng gói khéo thì vuông và chắc rắn: gạo mềm và nhiễn, nhân đậu và mỡ quánh vào nhau. Chỗ nạc thì tơi ra như bông gạo. Có nhà gói lắm nạc, nhưng nhiều mỡ vẫn ngon hơn: mỡ phần, chỗ giọi, lúc chín thì trong, và không có thớ. Bánh chưng kể mặn là phải vị. Nhưng có dăm bảy chiếc gói ngọt cũng hay. Chỉ khó làm sao cho đừng sượng, và đường với đậu phải biến với nhau mà thôi.
Tưởng lúc xén đũa đưa miếng bánh chưng lên, thoảng mùi lá dong thơm và mùi nếp cái, ăn với dưa hành trong như ngọc thạch, hoặc với củ cải đậm và ròn như pháo xuân! Đó là tất cả hương vị của cái tết Annam, ngày nay và ngày xưa.
Sáng mồng một, chúng ta uống rượu và ăn mứt. Rượu hẳn là phải rượu tây: những thứ vang cũ ngọt như Porto, nồng chua như Vermouth, hay say như Cognacq. Uống những thứ ấy thích hơn liqueurs. Nhưng sao ta không có rượu ngon của ta? Tiếc vì bây giờ cái gì của người mình cũng vụng về và giả dối. Còn đâu thứ rượu cau có tiếng ở Hoàng Mai, thứ rượu cúc nổi danh ở tỉnh Bắc? Cái hào nhoáng, cái lộng lẫy bề ngoài đã thay cái chân thực, cái cẩn thận của người xưa. Đơn sơ và cẩu thả đã cướp chỗ của tốt bền, ở tất cả những sản phẩm của nước mình.
Mứt ngày trước cũng ngon và khéo léo hơn mứt bây giờ. May gần đây, sự làm đã khá. Đã có mứt sen Cự Hương, mứt khoai Việt Hương, vị cũng nhã, mà trình bày lại sạch sẽ, tinh tươm. Đem làm quà ngày Tết kể cũng tạm được.



Image result for thạch lam


Mứt phải đủ ngũ vị: ngọt, bùi, đậm, béo và cay. Thứ mứt gừng cay là quý nhất. Chỉ tiếc thay mứt gừng ngoài Bắc thô và mạnh quá. Tôi ước ao được một ngành mứt gừng ở trong Trung - mứt gừng của Huế, làm bằng mầm gừng non và cả nhánh, trong như ngọc và cay, mềm dịu cũng như con gái Huế.
Thế rồi đi du xuân ngày mồng một, nhìn cây nêu phấp phới trước các nhà, tiếng khánh sành reo theo gió. Một cuộc hoà nhạc của sắc màu: quần áo mới của bầy trẻ, xác pháo đỏ trên gạch rêu, màu hồng nhạt hay đỏ tươi của câu đối giấy dán trên cổng, và màu củ cẩm (hay cánh sen) trên những tranh tết - nhất cái màu tím mát ấy, màu của đất nước Annam, của thời xưa chân thật mà không bao giờ nhìn tôi không thương nhớ ngậm ngùi…
Trong lúc đó, trời xuân đầy mây thấp và gần gụi, thời tiết êm ả như đợi chờ, gió xuân nhẹ như hơi thở, và cây cối đều nở mầm non, lộc mới - tất cả cái gì như đầm ấm, như dịu dàng. Còn hưởng cái thú nào man mác và thanh cao hơn nữa?
Cho nên ngày Tết, tôi mong các bạn cùng vui vẻ tươi sáng như ánh mùa xuân, trong khi lần giở những trang của tập báo vì các bạn này.


Vương Trí Nhàn

Phần nhận xét hiển thị trên trang