Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Sáu, 22 tháng 1, 2016

Giám đốc Học viện Quốc phòng: Không xác định Trung Quốc là kẻ thù của chúng ta ( Nhưng ta càng nhân nhượng, TQ càng lấn tới thì sao? Họ có thực tâm coi ta là bạn không? Phóng viên quên hỏi điều này ! )

(VTC News) - Thượng tướng Võ Tiến Trung, Giám đốc Học viện Quốc phòng khẳng định, Việt Nam không vào cuộc chạy đua vũ trang, không so sánh hơn Trung Quốc hay bằng Trung Quốc. 

- Hiện nay, tình hình thế giới đang có nhiều diễn biến phức tạp, việc này đặt ra thách thức gì cho quân đội ta?
Tình hình thế giới ngày càng diễn biến phức tạp, theo nhận định của Đảng ta thì chiến tranh lớn ít có khả năng xảy ra, nhưng xung đột sắc tộc, xung đột tôn giáo, đặc biệt vấn đề tranh chấp lãnh thổ diễn biến khó lường.

Trong đó, chúng ta đang có những tranh chấp về Biển Đông, chưa được giải quyết thấu đáo. Đây là vấn đề, nếu ta giải quyết không khéo kẻ thù sẽ lợi dụng để uy hiếp an ninh quốc gia của chúng ta.

Để giải quyết vấn đề này, chúng ta phải giải quyết bằng phương pháp hòa bình. Càng giữ được hòa bình càng ổn định đất nước.
Thượng tướng Võ Tiến Trung, Giám đốc Học viện Quốc phòng(Ảnh: Quang Tùng) 

Nếu không giữ vững được đất nước bằng con đường hòa bình, không thương thảo được thì buộc chúng ta phải sử dụng sức mạnh quân sự.

Chúng ta mong muốn giữ nước bằng con đường tự vệ, chúng ta không đe dọa ai, không sử dụng vũ lực trong bất cứ trường hợp nào, trừ khi chúng ta bị đe dọa.

- Đối với vấn đề chủ quyền, chúng ta có sự nhân nhượng nào không? 

Về vấn đề chủ quyền lãnh thổ, không bất cứ ai có quyền nhân nhượng. 

Chúng ta bình tĩnh giải quyết bằng con đường hữu nghị, thương thảo, hòa bình, bằng con đường ngoại giao, đấu tranh bằng pháp lý, nhưng chúng ta không bao giờ nhân nhượng về vấn đề chủ quyền lãnh thổ.

- Trong tham luận của Đại tướng Ngô Xuân Lịch sáng nay có nêu vấn đề phòng thủ bảo vệ Tổ quốc từ xa, từ khi đất nước chưa lâm nguy. Việc này được cụ thể hóa như thế nào, thưa ông?

Giữ vững đất nước từ khi đất nước chưa nguy, nghĩa là chúng ta phải học tập ông cha chúng ta, phải vừa xây dựng phát triển kinh tế đi đôi với giữ vững quốc phòng an ninh.

Đất nước mạnh lên thì thêm nguồn lực để xây dựng quân đội, xây dựng đất nước, đặc biệt là thế trận lòng dân, tin vào Đảng, tin vào chế độ, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ chế độ ấy, sẵn sàng biến thành lòng yêu nước. 

Bên cạnh lòng yêu nước, chúng ta phải chuẩn bị thế trận quốc phòng, xây dựng quân đội cách mạng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, xây dựng thế trận quốc phòng, giáo dục lòng yêu nước và cảnh giác với mọi thế lực thù địch.

Yêu nước từ xa nghĩa là chúng ta mạnh lên cả kinh tế, cả khoa học kỹ thuật, cả văn hóa, xã hội và quốc phòng an ninh. Bốn yếu tố đó hòa quyện vào nhau thì chúng ta mới giữ vững được đất nước.

Ngày xưa ông cha ta gửi lính vào nhà nông, khi có chiến tranh thì thành lính, không có chiến tranh thì làm nông dân. Giờ chúng ta cũng vậy, chuẩn bị lực lượng quân sự mạnh, bên cạnh đó có lực lượng dự bị động viên, dân quân tự vệ và lòng dân. Khi có chiến tranh chúng ta có chiến tranh nhân dân để bảo vệ Tổ quốc.

- Nhiều nước trên thế giới hiện nay, thay vì sử dụng lực lượng quân sự thì dùng lực lượng dân sự để đấu tranh vi phạm chủ quyền, còn chúng ta thì sao?

Chúng ta cũng dùng dân sự để đấu tranh vi phạm chủ quyền. Ví như, khi Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 vào vùng đặc quyền kinh tế của chúng ta, mặc dù họ dùng tàu quân sự để bảo vệ, nhưng chúng ta đã dùng lực lượng chấp pháp như kiểm ngư, cảnh sát biển và ngư dân ra đó để nói cho Trung Quốc hiểu rằng, đó là vùng biển của chúng ta, thềm lục địa của chúng ta, các ngài hạ đặt giàn khoan ở đây là xâm phạm chủ quyền của Việt Nam và vi phạm công ước của Liên hiệp quốc về biển. Chúng ta quyết liệt, buộc họ phải rời khỏi vùng biển của chúng ta.

Như vậy chúng ta vừa mềm dẻo, vừa quyết liệt, giữ vững tình hữu nghị với Trung Quốc, không tạo ra đối đầu, xung đột, chiến tranh.

- Thực lực của chúng ta không bằng một số nước về trang bị vũ khí, phải giải quyết vấn đề này thế nào? 


Trong đấu trí và đấu lực, chúng ta đã từng đánh nhau với những nước lớn đi xâm lược chúng ta. Dù vũ khí trang thiết bị là yếu tố hết sức quan trọng, bên cạnh yếu tố con người, yếu tố chính trị, chúng ta có chính nghĩa, chúng ta tự vệ bảo vệ tổ quốc của mình, do đó cả thế giới, cả dư luận yêu chuộng hòa bình đứng về phía chúng ta.

Vũ khí hiện đại của chúng ta không bằng họ, nhưng với tinh thần của con người Việt Nam, chúng ta có sức mạnh chính trị, hai yếu tố này hòa quyện với nhau.

- Lâu nay trang thiết quân sự của chúng ta đều mua từ Nga, giờ chúng ta có mở rộng việc này với các quốc gia khác?


Hiện nay chúng ta vẫn sử dụng tất cả những vũ khí của Nga, nó phù hợp về giá cả, về phương tiện, công nghệ. Nếu mua những nước không thân thiện, dùng việc này thì được, dùng việc khác sẽ khó.

Chúng ta đang có hướng mua một số vũ khí của nước khác nhưng việc này đang hết sức cân nhắc. Nhưng không có gì tốt bằng chúng ta mua công nghệ, phát triển vũ khí tự sản xuất để tự vệ.

- Nhiều ý kiến, cả trên báo chí Trung Quốc cho rằng Việt Nam có đầu tư trang bị bao nhiêu vũ khí, cơ sở khí tài thì Trung Quốc sẵn sàng trang bị gấp 10 lần, vì thế họ luôn lấn át trên biển?

Chúng ta có bỏ ra bao nhiêu tiền của để mua vũ khí, thì chúng ta cũng không bằng các nước lớn được. Chúng ta phải tự vệ, vì vậy chúng ta chỉ mua sắm vũ khí trang bị vừa phải, đủ sức và đúng với khả năng nền kinh tế để chúng ta tự vệ.

Chúng ta có sức mạnh của nhân dân, của chính nghĩa, cộng với vũ khí hiện đại vừa phải để chúng ta bảo vệ đất nước. Chúng ta không vào cuộc chạy đua vũ trang, không so sánh chúng ta hơn Trung Quốc hay bằng Trung Quốc. 

Quan trọng, không xác định Trung Quốc là kẻ thù của chúng ta, chúng ta chủ trương xây dựng Trung Quốc thành đối tác chiến lược, bạn bè quốc tế.

Xin cảm ơn ông!

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đại hội giữa lòng khủng hoảng

ĐẠI HỘI VI - BƯỚC NGOẶT LỊCH SỬ 30 NĂM TRƯỚC - KỲ 1:



TT - Đó là một ngày đông nhưng nắng ấm. Từ diễn đàn Đại hội VI, Tổng bí thư Trường Chinh ra lời hiệu triệu “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”.
 
"Nghe đọc bài: Đại hội giữa lòng khủng hoảng"
Các đại biểu dự Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI - Ảnh: TTXVN
Các đại biểu dự Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI - Ảnh: TTXVN
30 năm trước, Đại hội Đảng lần thứ VI đã diễn ra trong bối cảnh cực kỳ khó khăn, thậm chí nguy nan của đất nước. 
Đảng phải “nhìn thẳng vào đại hội vào sự thật" để có câu trả lời sinh tử của mình trước kỳ vọng của nhân dân và tương lai Việt Nam. Và Đại hội VI giữa mùa đông Hà Nội năm 1986 đã để lại những dấu ấn lịch sử, một bước ngoặt cho tiến trình đổi mới và thịnh vượng sau này...
Đứng trước sự lựa chọn
Ông Vũ Mão, lúc bấy giờ là bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn, nhớ lại: Đại hội VI tiến hành vào lúc khủng hoảng đã xuống đến tận đáy rồi, lòng dân không yên vui.
“Sự thật” mà Tổng bí thư Trường Chinh nói đến được khắc họa chân thực trong hồi ký của nguyên ủy viên Bộ Chính trị Vũ Oanh.
Ông Vũ Oanh kể: Giữa thập niên 1980, tình hình kinh tế - xã hội vẫn khó khăn gay gắt.
Cuộc khủng hoảng kinh tế nảy sinh từ cuối thập niên 1970 do cải tạo tư sản ở miền Nam quá mức, do chiến tranh biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc kéo dài gần 10 năm trời và càng gay gắt hơn khi xảy ra sự cố đổi tiền năm 1985.
Nạn đói hàng tiêu dùng kéo dài triền miên, thậm chí đến cây kim, sợi chỉ cũng khan hiếm, vật giá tăng nhanh.
Phát biểu tại một hội nghị cán bộ cao cấp ngày 10-7-1986, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Trường Chinh nhận định:
“Chúng ta đã bỏ lỡ cơ hội quý báu... Khi Liên Xô viện trợ trong mười năm qua hàng chục tỉ rúp, nhưng với cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, ăn không nên làm không ra, chúng ta cứ rút dần mòn mỗi năm vài trăm triệu rúp để chi cho tiêu dùng xã hội, cho bao cấp và bù lỗ, vài trăm triệu rúp khác thì rải ra trên rất nhiều công trình xây dựng”.
Như vậy, Đại hội VI được tiến hành trong bối cảnh rất xấu, khi tất cả lĩnh vực kinh tế đều lâm vào tình trạng khủng hoảng và lòng dân không yên. Họ hi vọng và chờ đợi.
Sự hi vọng và chờ đợi đó buộc những người lèo lái con thuyền đất nước đứng trước sự lựa chọn. Theo lời kể của ông Hoàng Tùng (nguyên trưởng Ban tuyên huấn T.Ư), trong một hội nghị cán bộ trước khi đại hội diễn ra, ông Trường Chinh nói:
“Trong lúc này chúng ta chỉ có hai khả năng lựa chọn: đổi mới để tiến lên hay đi theo con đường cũ để chết”.
... Đại hội VI khai mạc vào sáng 15-12-1986. Về dự đại hội có 1.129 đại biểu chính thức.
Ủy viên Bộ Chính trị Nguyễn Văn Linh đọc diễn văn khai mạc đại hội nhấn mạnh: “Để làm chuyển biến tình hình, Đại hội lần thứ VI này phải đánh dấu sự đổi mới của Đảng ta về tư duy, phong cách, tổ chức và cán bộ. Đó là đòi hỏi bức thiết của đất nước”.
Tổng bí thư Trường Chinh đọc bản trích yếu báo cáo chính trị, xác định nhiệm vụ bao trùm là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế - xã hội.
Tiếp đó, Phó chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Võ Văn Kiệt đọc báo cáo của trung ương về phương hướng và mục tiêu chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội 1986 - 1990.
Những văn kiện được trình bày trong phiên khai mạc này đều thấm đẫm tinh thần đổi mới. Nhưng, không đơn giản để thông điệp đổi mới ấy vang lên mạnh mẽ tại đại hội lịch sử này.
Được tham gia giúp việc Bộ Chính trị, trung ương trước thềm Đại hội VI và là đại biểu đi dự đại hội, ông Nguyễn Đình Hương (nguyên phó trưởng Ban tổ chức trung ương) nhớ lại:
“Lúc bấy giờ lãnh đạo các tỉnh phía Nam có nhiều người ủng hộ đổi mới, nhưng ý kiến khác không ít. Thậm chí có ý kiến đặt vấn đề “hộp đen”, “hộp đỏ” và xếp những người có tinh thần đổi mới vào “hộp đen".
Giáo sư Đào Xuân Sâm - Ảnh: V.V.T.
Giáo sư Đào Xuân Sâm - Ảnh: V.V.T.
“Một suy nghĩ ngông cuồng”
Theo nhà nghiên cứu sử kinh tế Đặng Phong, trong các cuộc họp ở cấp cao cũng như cấp tham mưu vào cuối tháng 3, đầu tháng 4-1986 và cho đến trước thềm Đại hội VI, vẫn còn những ý kiến phê phán gay gắt tư duy kinh tế mới, gọi kinh tế hàng hóa, kinh tế nhiều thành phần là “bắt chước các quan điểm của nước ngoài”, cho rằng phải “cẩn thận với những con ngựa thành Troy”...
Thậm chí một vị lãnh đạo đã cứng rắn tuyên bố: “Những biện luận của vị giáo sư trên báo Nhân Dân mấy ngày qua chỉ là một suy nghĩ ngông cuồng”.
Chuyện gì vậy và vị giáo sư đó là ai?
Là giáo sư Đào Xuân Sâm (Trường Nguyễn Ái Quốc), người sau này là thành viên tổ tư vấn của ông Trường Chinh. Giáo sư Sâm thuật lại với Tuổi Trẻ:
“Câu chuyện bắt đầu từ tháng 3-1986, tôi tham gia một cuộc hội thảo của Ban Bí thư trung ương Đảng tổ chức, bàn về cơ chế kinh doanh của quốc doanh. Đất nước lúc đó cực kỳ khủng hoảng, nhiều nơi có những nhân tố “xé rào” thành công nhưng quan điểm đổi mới chưa chiếm được ưu thế.
Bài viết tôi đọc tại hội thảo thẳng thắn phê phán quan điểm duy ý chí, đi ngược quy luật xã hội trong kinh doanh ...
Hội thảo đồng tình bài viết này. Ông Hồng Hà, tổng biên tập báo Nhân Dân, bảo tôi: “Anh sửa nhanh đưa tôi đăng báo!”.
Tôi đồng ý và ngày 17-3 bài báo khởi đăng trên trang 2 báo Nhân Dân với nhan đề “Kinh doanh XHCN và quyền tự chủ của người kinh doanh”, dài ba kỳ, trình bày trang trọng...”. Nhưng rồi ngay tức thì, bài báo ba kỳ này bị giới lý luận và Ủy ban Vật giá nhà nước “đánh” mạnh. Có địa phương còn cấm không cho phổ biến bài báo này.
Tại sao? Theo nhà viết sử kinh tế Đặng Phong, “trong không khí chung của tư duy kinh tế lúc ấy, cách nhìn nhận như trên là một “quả bom”, gây phản ứng rất mạnh trong giới quản lý, thậm chí đã “đụng đến trời”. Vì “đã đụng đến trời” nên những ngày sau đó liên tiếp xuất hiện những bài báo lên án quan điểm của GS Sâm.
Nghiêm trọng hơn, vào ngày 8-5-1986, trưởng đoàn chuyên gia kinh tế cao cấp Liên Xô P.A. Paskar đã đến gặp các nhà lãnh đạo Việt Nam. Tại cuộc làm việc này, P.A. Paskar đã bày tỏ sự phản ứng gay gắt về những bài báo rất sai trái về quan điểm của GS Đào Xuân Sâm. “Chúng tôi đã cấm và cho kiểm điểm tòa soạn!” - một vị lãnh đạo Việt Nam trả lời như vậy.
“Từ đây, thông tin tôi bị kỷ luật ngày một rõ ràng...” - GS Sâm nhớ lại.
“Nhưng rồi gần thời điểm Đại hội VI, một hội nghị quan trọng được tổ chức và bánh lái lịch sử đã được vặn ngược một cách dũng cảm và kiên quyết. Tôi mừng đến lặng người...” .
Trích Bài thơ tặng Đại hội VI của Đảng
... Nhưng đã mười một năm ai cũng nhận ra rằng
Đường hạnh phúc không phải trong gang tấc
Đã làm bạc những mái đầu ái quốc
Những suy tư khi nhắm mắt vẫn chưa rồi
Cảnh đói nghèo chạy gạo ngược xuôi.
Bởi vì: đơn độc, xa dân dù ta có triệu con người
Cũng là chỉ bóng mờ trên đường thẳm.
Và: Đừng ban lệnh từ trên và cũng không dọa dẫm
Lệnh từ cõi chín tầng dĩ vãng đã lùi xa
Lòng từ bi từ cửa Phật ban ra
Đó cũng chỉ mới là lời cầu nguyện
Mọi ý cao siêu mọi điều phúc hạnh
Không phải từ tấm lòng mà phải từ cuộc sống đặt ra.
Nguyễn Minh Nhị (nguyên chủ tịch UBND tỉnh An Giang, viết năm 1986. Trích tư liệu của Tuổi Trẻ)
________________
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Dàn khoan HD 981 bốc cháy dữ dội ngoài Biển Đông


Dàn khoan HD 981 bốc cháy dữ dội ngoài Biển Đông


Sáng 20.1, dàn khoan HD981 của trung quốc bị cháy dữ dội ngoài biển đông,
no gian khoan dau o mexico, 4 nguoi thiet mang, 16 nguoi bi thuong hinh 0
Lửa cháy dữ dội trên dàn khoan đã được khống chế

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Bài phát biểu tâm huyết, thẳng thắn của Bộ trưởng Bùi Quang Vinh

(PLO)- Theo Bộ trưởng Bùi Quang Vinh, năm năm qua, chúng ta đã tích cực đổi mới về thể chế kinh tế, đạt kết quả nhất định. Nhưng đổi mới hệ thống chính trị thì hầu như chưa làm. Chính vì vậy, công cuộc đổi mới năm năm qua chưa đem lại hiệu quả như mong muốn...
Sáng 22-1, tại Đại hội Đảng XII, thay mặt Ban Cán sự Đảng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ trưởng Bùi Quang Vinh, Ủy viên Trung ương Đảng khóa XI, đã trình bày tham luận về vấn đề "Đẩy mạnh cải cách thể chế, hướng tới một Việt Nam thịnh vượng, sáng tạo, công bằng và dân chủ. Ông Nguyễn Sinh Hùng, Ủy viên Đoàn chủ tịch, đánh giá: "Bài phát biểu tâm huyết, thẳng thắn, nhìn thẳng vào tình hình đất nước, có những phân tích khá quan trọng". 
PLO xin lược ghi bài tham luận này tới bạn đọc.
***
Từ 1986 đến nay, thu nhập bình quân đầu người tăng gần bốn lần, tỉ lệ hộ nghèo từ trên 50% xuống dưới 5%. Những thành tựu của công cuộc đổi mới không thể phủ nhận. Tuy nhiên, chúng ta vẫn là nước nghèo, vì thế chưa thể bằng lòng, thỏa mãn, nhất là khi nhìn lại mình trong tương quan với các nước bên cạnh có cùng điều kiện. 
Có lẽ ít ai biết rằng đầu thế kỷ 19, năm 1820, Việt Nam đã có vị thế đáng nể trong khu vực về dân số và cả quy mô kinh tế, lớn hơn cả Philippines và Myanmar cộng lại, gấp hơn 1,5 lần Thái Lan, thu nhập bình quân đầu người khi đó xấp xỉ bình quân đầu người thế giới. Còn hiện nay, thu nhập bình quân đầu người của ta chỉ bằng chưa đến 1/5 mức trung bình của thế giới, bằng 1/3 Thái Lan.
Mọi so sánh đều khập khiễng, vì chúng ta phải trải qua chiến tranh, giành độc lập, thống nhất. Nhưng ta cũng đã có 40 năm sống trong hòa bình, độc lập, 30 năm đổi mới. Đây là quãng thời gian dài tương đương để các quốc gia lân cận như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan đưa nước mình từ nông nghiệp, nghèo nàn, lạc hậu trở thành quốc gia phát triển.
Hơn nữa, yêu cầu đổi mới phát triển với Việt Nam cấp bách hơn bao giờ hết.
Việt Nam đang ở trong giai đoạn ngắn ngủi còn lại của cơ hội dân số vàng, bắt đầu từ 1970, thường kéo dài 50 năm mà khoảng 2020-2025 là hết cơ hội. Như vậy chỉ còn tối đa 10 năm thời kỳ mà dân số ở độ tuổi lao động cao nhất, sau đó giảm dần.
Những thuận lợi từ công cuộc đổi mới trước đây đem lại đang dần hết tác dụng. Bên cạnh đó, tăng trưởng dựa trên tăng đầu tư, sử dụng lao động giá rẻ, khai thác tài nguyên khoáng sản không còn nhiều lợi thế.
Việt Nam đang ngày càng hội nhập sâu hơn vào kinh tế thế giới. Ta chấp nhận hội nhập tức là chấp nhận cạnh tranh. Nâng cao năng lực cạnh tranh là đòi hỏi sống còn.
Vì ba lý do trên, Việt Nam cần tiếp tục phát triển mạnh mẽ hơn nữa, hiệu quả hơn nữa, nếu không muốn tụt lại phía sau, hay kinh tế trì trệ kéo dài, để rồi đất nước rơi vào nhóm thu nhập trung bình thấp.
Cũng tại hội trường này, cách đây năm năm, Đại hội XI đã thông qua chiến lược phát triển KT-XH trong đó nêu rõ phải kiên trì, quyết liệt thực hiện đổi mới, đổi mới chính trị phải đồng bộ với đổi mới kinh tế. Trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, mở rộng dân chủ trong Đảng và trong XH. Nghị quyết khẳng định phải lấy việc thực hiện mục tiêu này làm tiêu chuẩn cao nhất đánh giá hiệu quả quá trình đổi mới.
Thực tế năm năm qua, chúng ta đã tích cực đổi mới về thể chế kinh tế, đạt kết quả nhất định. Nhưng đổi mới hệ thống chính trị thì hầu như chưa làm. Chính vì vậy, công cuộc đổi mới năm năm qua chưa đem lại hiệu quả như mong muốn.
Nhìn lại thực tế 30 năm qua, thành tựu lớn nhất, bao trùm nhất của công cuộc đổi mới là đã chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường. Chính nó làm căn bản cuộc sống, đưa đất nước phát triển.
Tuy vậy, bao năm qua, cơ cấu tổ chức, phương thức hoạt động của Đảng, Nhà nước, đoàn thể các cấp gần như không thay đổi. Nền chính trị phù hợp với nền kinh tế tập trung, kế hoạch hóa trước đây, đặc biệt là trong hoàn cảnh chiến tranh, nay không còn phù hợp với nền kinh tế thị trường. Thậm chí còn là rào cản, trở ngại cho phát triển. Vì vậy, trong giai đoạn tới, việc đổi mới hệ thống chính trị đồng bộ với đổi mới về kinh tế là yêu cầu hết sức cấp bách. 
Đảng là người lãnh đạo cao nhất của đất nước cần chủ động, nghiêm khắcđánh giá lại chính mình, và thực hiện nghiêm chỉnh Nghị quyết của Đại hội toàn quốc. Kiên quyết đổi mới cơ cấu tổ chức, chức năng hoạt động của bộ máy Đảng, Nhà nước, các đoàn thể chính trị để hoạt động hiệu quả hơn, thực chất hơn. 
Đây là nhân tố tiên quyết, quan trọng nhất cho đổi mới tiếp theo. Làm được điều này, Đảng sẽ lấy lại niềm tin trong nhân dân, bằng tấm gương tự đổi mới, bằng sự lãnh đạo hiệu quả của mình với đất nước, dân tộc.
Về đổi mới thể chế kinh tế, trọng tâm giai đoạn tới ở ba trụ cột chính:
Trụ cột 1: Thịnh vượng kinh tế phải đi đôi với bền vững về môi trường. 
Việt Nam phải có mức tăng trưởng cao, ổn định và liên tục trong 20 năm tới, với mức tăng thu nhập bình quân đầu người 7%/năm - tương đương tăng trưởng GDP 8%/năm, để đến 2035 đạt thu nhập bình quân đầu người 15-18.000 USD. Để đạt mục tiêu này, con đường duy nhất là phải tăng năng suất.
Nhà kinh tế học đoạt giải Nobel kinh tế Paul Robin Krugman đã tổng kết: “Năng suất không phải là tất cả nhưng nó gần như là tất cả. Một quốc gia có khả năng nâng cao mức sống lâu dài hay không gần như hoàn toàn phụ thuộc vào khả năng nâng cao sản lượng tính trên đầu người của quốc gia đó”.
Mức tăng năng suất lao động của Việt Nam đã liên tục tụt giảm từ cuối những năm 90 đến nay khiến giờ ở mức rất thấp so với các quốc gia trong khu vực. Đặc biệt, năng suất lao động ngay trong khu vực tư nhân cũng liên tục tụt giảm, ở mức rất thấp. 
Có ba nguyên nhân chính: Thứ nhất, cơ cấu lao động rất lạc hậu. Lao động trong khu vực phi chính thức cao hơn rất nhiều khu vực chính thức. Hơn 44% lao động làm việc trong nông nghiệp - khu vực tạo giá trị gia tăng rất thấp. Thứ hai, nền tảng KTTT chậm hoàn thiện gây phương hại quyền sở hữu tài sản, giảm tính cạnh tranh trên thị trường hàng hóa. Thứ ba, thị trường các yếu tố sản xuất như vốn, đất đai, tài nguyên khoáng sản được phân bổ chưa theo cơ chế thị trường, chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính.
Phải tập trung cao độ thúc đẩy phát triển DN trong nước, mà chủ yếu là DN tư nhân Việt Nam, về cả số lượng và chất lượng, coi đây là nhiệm vụ của bộ máy nhà nước các cấp. Sức khỏe của DN trong nước chính là sức khỏe của nền kinh tế. Trước mắt phải nâng cao cho được năng lực cạnh tranh và hiệu quả cho các DN trong nước thông qua hoàn thiện, củng cố nền tảng của KTTT, đặc biệt là quyền sở hữu tài sản và xác định các chính sách công bằng, cạnh tranh lành mạnh trong tiếp cận vốn, đất đai, tài nguyên và thông tin.
Phải thúc đẩy mạnh mẽ tinh thần khởi nghiệp. Nhà nước phải tạo môi trường thuận lợi. Xây dựng các trung tâm hướng dẫn, đào tạo cho các DN mới khởi nghiệp. Cung cấp kiến thức, nguồn vốn thông qua hình thức quỹ - ngân hàng đầu tư mạo hiểm để hỗ trợ cho các DN này, nhằm tạo ra làn sóng khởi nghiệp cùng tinh thần DN mạnh mẽ trong XH. Phải coi vị thế của DN là vị thế của quốc gia.
Trụ cột 2: Công bằng trong hội nhập xã hội, hay bình đẳng cho mọi người.
Bên cạnh sự phát triển nhanh, vận động theo cơ chế thị trường, sự cạnh tranh gay gắt làm gia tăng khoảng cách giàu nghèo và cơ hội tiếp cận các phúc lợi XH cơ bản. Do đó phải xây dựng được những chính sách đảm bảo công bằng trong phát triển cũng như cơ hội tiếp cận các dịch vụ XH cơ bản cho người dân, nhất là đối tượng yếu thế, thiệt thòi - như người dân tộc thiểu số, người khuyết tật, người nghèo. Đây cũng chính là tính ưu việt của CNXH, là trách nhiệm của Nhà nước trong thực thi nền KTTT định hướng XHCN và cũng là hành động thiết thực để thực hiện tốt các kế hoạch hành động của LHQ về mục tiêu thiên niên kỷ sau 2015.
Trụ cột 3: Nâng cao năng lực và trách nhiệm giải trình của Nhà nước
Năng suất trì trệ hiện nay và môi trường yếu kém cho phát triển khu vực tư nhân là do Nhà nước còn thiếu hiệu quả. Do điều kiện lịch sử Việt Nam mà những thiết chế công đã bị thương mại hóa, manh mún, thiếu sự giám sát của người dân.
Hiệu lực của Nhà nước dựa trên: 
(1) Chính phủ được tổ chức với công chức thực tài và có kỷ luật, nỗ lực xử lý những vấn đề để tạo cấu trúc Nhà nước chặt chẽ hơn, mạnh mẽ hơn, đảm bảo chế độ chức nghiệp - thực tài. 
(2) Nguyên tắc thị trường cần áp dụng đầy đủ hơn trong hoạch định chính sách kinh tế, dựa trên cơ sở phân rõ các lĩnh vực công - tư, hạn chế xung đột lợi ích, tăng cường bảo vệ quyền tài sản, đặc biệt về đất đai. Thực thi cạnh tranh thị trường và hợp lý hóa sự tham gia của Nhà nước trong nền kinh tế. 
(3) Nâng cao hơn nữa trách nhiệm giải trình thông qua cơ chế hữu hiệu kiểm soát và cân bằng giữa ba nhánh quyền lực, tạo dựng khung khổ pháp lý thúc đẩy quyền công dân, bảo đảm quyền tiếp cận thông tin chính xác và kịp thời, tăng cường vai trò các phương tiện thông tin đại chúng.
Khung khổ pháp lý của Việt Nam đã tạo không gian nhất định cho công dân tham gia vào quá trình quản trị nhà nước. Nhà nước của dân, do dân, vì dân; dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra là những điều đã được khẳng định rõ trong Hiến pháp. Nhưng trên thực tế vẫn có khoảng cách giữa cam kết này với thực tiễn tham gia của công dân trong quản trị nhà nước. Quy trình bầu cử, cơ chế cho sự tham gia của các tổ chức XH chưa bảo đảm tính đại diện đích thực của người dân.
Vừa qua, Bộ KH&ĐT đã chủ trì với Ngân hàng Thế giới tập hợp các chuyên gia kinh tế hàng đầu của thế giới và trong nước, xây dựng Báo cáo Việt Nam 2035 hướng tới thịnh vượng, sáng tạo, công bằng và dân chủ. Báo cáo này xác định nền kinh tế Việt Nam đang ở đâu trong khu vực và trên thế giới? Mục tiêu, khát vọng của Việt Nam đến 2035 là gì? Những cản trở nào cho sự phát triển của Việt Nam hiện nay? Bằng cách nào Việt Nam đạt mục tiêu của mình? 
Báo cáo nghiên cứu sâu về ba trụ cột phát triển nêu trên và sáu chuyển đổi lớn, phác thảo chiến lược phát triển thích hợp với xuất phát điểm của một nước có thu nhập trung bình thấp trong bối cảnh kinh tế thế giới đầy biến động, nhằm đưa Việt Nam thành nước có thu nhập cao hoặc cận trên của nước công nghiệp trung bình cao đến năm 2035. 
Sáu mũi chuyển đổi lớn bao gồm:
(1) Xây dựng nhà nước pháp quyền hiện đại với nền KTTT đầy đủ và XH dân chủ phát triển ở trình độ cao. 
(2) Thúc đẩy hiện đại hóa nền kinh tế song hành với nâng cao năng lực cạnh tranh của khu vực tư nhân.
(3) Phát triển năng lực đổi mới sáng tạo, lấy khu vực tư nhân làm trung tâm.
(4) Bảo đảm công bằng XH cho các nhóm yếu thế và thúc đẩy XH trung lưu phát triển. 
(5) Phát triển bền vững về môi trường và tăng cường khả năng chống chịu biến đổi khí hậu. 
(6) Gia tăng mật độ kinh tế trong quá trình đô thị hóa và tăng cường tính kết nối giữa các thành phố và vùng lân cận. 
Hy vọng rằng báo cáo này sẽ giúp ích cho các nhà lãnh đạo, nhà quản lý, nhất là các đồng chí trong BCH Trung ương khóa XII được trúng cử lần này nghiên cứu trong quá trình xây dựng, hoạch định chính sách của VN.
Nước ta đang đứng trước bước ngoặt của cải cách và phát triển, thời cơ thuận lợi lớn, những thách thức, khó khăn cũng không hề nhỏ. Để đạt được khát vọng hướng tới một Việt Nam thịnh vượng, sáng tạo, công bằng và dân chủ, lựa chọn duy nhất của chúng ta là cải cách ở các vấn đề nêu trên.
Không thực hiện những cải cách đó, chúng ta không thể khai thác được cơ hội, cũng không thể vượt qua thách thức, và nguy cơ tụt hậu xa hơn, rơi vào bẫy thu nhập trung bình là khó tránh khỏi.
Tôi tin tưởng rằng những thế hệ người Việt Nam hiện nay và tương lai có đủ bản lĩnh, ý chí và năng lực để thực hiện thành công công cuộc đổi mới.
Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và đầu tư Bùi Quang Vinh
NGHĨA NHÂN ghi
Phần nhận xét hiển thị trên trang