Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 18 tháng 1, 2016

Ghi chép về Dương Thu Hương,1990

Vương Trí Nhàn

Những ghi chép dưới đây  ghi sau mười năm hậu chiến , nhưng  là những tài liệu giúp hiểu thêm về Dương Thu Hương những năm đó, nên tôi xin phép công bố ngay cho liền mạch
Quan hệ với các đồng nghiệp
Có lần ông Tuân đưa cho tôi cái các-vi-dít và bảo thêm 12 giờ trưa bao giờ cũng độc ẩm. Hương có thể đến chơi bất cứ ngày nào.
Tôi nhận, cám ơn, nhưng không đến.

 Lúc bé, gia đình tôi với gia đình Đỗ Chu gần nhau, nó chuyên môn đến choẹ ông bố tôi. Bao nhiêu khách khứa của nó, ông bố tôi phải tiếp cả. Trong Các vĩ nhân tỉnh lẻ, viết về Đỗ Chu thế là còn hiền đấy chứ!

Nhàn: Tôi là người hay bị lừa lắm.
Hương: Tôi cũng thế. Thằng Bách nó vẫn bảo nó cho tôi ăn quả lừa luôn đấy chứ.
Nguyễn Đăng Mạnh: Quả lừa lớn mà Dương Thu Hương bị mắc là bị với vợ H.N.H.  Bà này bán cho Hương một loại thuốc. Tưởng là thuốc bổ, hoá ra thuốc tăng trọng lợn. Hương uống vào mặt mũi bị đầy mụn. (Ai đó kể bà bán thuốc này từng đi mỹ viện, nó căng mặt ra, bây giờ hoá ra mắt hiếng).

Dương Thu Hương nói hồi gặp ở Moskva:
-- Tôi là phụ nữ, cho nên tôi mê hai cái. Một là ở nhà, tôi phải lo làm món ăn. Hai là, đi một đại hội festival như thế này, thế nào tôi cũng tìm được một vài kiểu quần áo đẹp, và trở về, tôi sẽ may giống vậy.
Trần Ninh Hồ: Con bé chê gì thì chê, nhưng gia chánh thì lại rất chuẩn.

Dương Thu Hương: Tôi không ghét gì Xuân Quỳnh. Tôi thích thơ nó nữa. Tôi chỉ không thích nó cái tính này -- sự khiếp nhược. Làm gì mà nó phải quỵ luỵ thằng Vũ thế? Tự nó không sống được à? Đàn bà phải tự trọng thì đàn ông nó mới quý mình được.
Tôi cũng không chơi với cái Thái. Tôi tả nó trong BKBAV do tưởng tượng. Ví dụ, tôi tin gần như chắc chắn rằng cứ về nhà là nó tụt ngay quần ra.
Tôi thường nhận được nhiều thứ của các cụ già đã về hưu, thứ nào cũng dặn là con phải giữ gìn.
Lại còn cái đám trí thức khoa học của mình (người của những năm 60- Ân xác định), thư nhiều lắm. Ngày 9-2-90, Hương sẽ nói chuyện với CLB trí thức ở Hà Nội.
Có lần trước đại hội nhà văn, báo Lao động đã phỏng vấn Hương, và Hương đã nói là trong những năm gần đây người viết văn nổi nhất là Nguyễn Huy Thiệp.
- Thiệp nó có đến tìm tôi. Trong thâm tâm vẫn chịu là nó viết được hơn mình. Thiệp được chuẩn bị hơn chị, nó nói lại. Mày xông ra như một con mãnh hổ vậy, tôi công nhận.
Nó nói với tôi là bên Bộ Ngoại giao có cho nó biết, bên Pháp mời 2 nhà văn Dương Thu Hương và Nguyễn Huy Thiệp sang. Nó có cho tao đi thì tao đi. Còn nếu bắt tao làm con tin, nói những chuyện gì của bọn nó thì tao không chịu. Thiệp bảo chị phải bình tĩnh mới được. Theo như Thiệp biết, thì bên Bộ Ngoại giao họ rất thiện ý.

Tuổi trẻ vỡ mộng 
 Năm 20 tuổi, tôi tự nguyện vào Trường Sơn. Cùng với đoàn văn nghệ đi các địa phương Quảng Bình (nơi mà tiếng khóc như ri cất lên sau những trận bom.)
Đi với niềm tin trong sáng để rồi vỡ mộng. Nhớ một kỷ niệm. Bí thư Tỉnh uỷ gặp trưởng đoàn văn công, phẩy tay bảo mang cho nó ít bột trứng, táo tầu. Giống như một cú sốc đầu tiên.
 Nghe Tư Thoan nói, cảm thấy gã như một cường hào. Hai chữ đồng chí vang lên như một sự lừa bịp. Tôi còn ngu dại, chưa biết gì thêm.
Cuộc sống như thời đồ đá. Nguồn cung cấp thức ăn là kho gạo bên kia sông nơi thỉnh thoảng cũng cho chúng tôi những hộp thịt. Kho hết phải đi lênxanh, rồi vòng xuống đồng bằng lấy gạo. Nhớ một vụ kỷ luật mấy cô y tá. Tỉnh đội trưởng tỉnh đội Quảng Bình đẹp trai, quyến rũ. Bê bối về nam nữ tràn lan. Những cô gái đó sau bị thuyên chuyển công tác để cấp trên trốn tội.
Tôi sinh ra với tâm lý phong kiến rất nặng. Nghĩ bọn có quyền đó, dùng quyền lực để chiếm đoạt phụ nữ. Hỏi tại sao không phản ứng. Mọi người bảo không thể. Tôi nghĩ chúng ta hèn nhát chúng ta đẫm đầu óc nô lệ.
... Thời kỳ đó qua đi. Sau 1975, tôi vào miền Nam. Tôi không mê lụa là son phấn. Chỉ để tâm một điều -- ở đó có hệ thống thông tin hoàn chỉnh. Người dân người ta biết nhiều. Các vỉa hè đầy sách... Soljenitsin, Pasternak đủ cả.
Tôi choáng váng. Văn hoá ta bị khuôn dính. Tại sao chỉ biết Nga? Dân nghe đài nước ngoài thời ấy bị quy là phản động. Mà cũng mấy ai có đài Mẫu đơn, Xiangmao để nghe? Ở miền Nam, người ta biết nhiều hơn hẳn.. Làm sao mà dân trí ta nâng lên được? Ngay cánh gọi là trí thức trình độ cũng thấp thảm hại. Dễ đi theo giáo điều. Được chỉ đạo bằng tư tưởng duy nhất. Tôi nhớ sách lược bọn thống trị Trung quốc chôn nhà nho, đốt sách.
Phản ánh khát vọng kẻ cầm quyền muốn đặt nhân dân trong vòng ngu dốt. Trở thành bày cừu. Ngu dân là thế. Người đúng là người không bao giờ cam tâm kiếp con cừu.
Tại sao ta chiến đấu, để làm gì. Ta phải đánh giá lại cuộc sống của chính mình. Tôi nghĩ vậy. Tôi không hối tiếc những việc đã làm. Nhưng đặt ra câu hỏi sống để làm gì.
Bạn bè tôi chết nhiều khủng khiếp ở chiến trường B5.
Xã hội phải có lý tưởng. Lý tưởng đó phải chân thực. Đó không thể là một xã hội phong kiến được đánh bóng mạ kền bằng những danh từ xa lạ.
Tôi không biết làm gì, đành viết văn. Động cơ viết là muốn chỉ ra những ngộ nhận của con người trong đời sống.
Chiến tranh xong nhiều kẻ giàu lên. Nhiều người lính khổ sở. Trở về với một khung xe đạp, một con búp bê. Người lính đó là tôi. Còn những kể khác, thu hoạch không giới hạn.
Chúng ta chấp nhận hy sinh. Nhưng thực tế, có sự khập khiễng giữa lý tưởng và bộ máy thực thi. Hình như đồng hồ quay ngang.
  Về mấy tác phẩm đầu tay    
Lúc đầu tôi thích viết truyện tình cốt hấp dẫn, thanh niên đọc.Thầm mong trong truyện tình có thể phát hiện ra chất xã hội. Tôi không buộc bản thân phải nhớ mình là đàn bà. Tôi không coi mình khác đàn ông trong văn học.
Với con người ở các nước khác, bi kịch nổi lên là trong tình yêu. Nhưng ở ta khác, ở xã hội ta, có những gia đình tự tử vì thiếu ăn.
Quan niệm về tình yêu chi phối phương thức biểu hiện tình yêu trong văn học.
Trong viết văn, tôi ẩu tả. Không nghĩ về nghề nhiều. Chỉ viết văn như một nhiệm vụ công dân. Tôi có tư tưởng phong kiến. Tôi hiểu điều đó. Tôi lùi lại. Nay là thời đại đổ vỡ niềm tin. Ở nhiều người là đổ vỡ mà không sao kiềm chế. Lớp trẻ hiện sinh một cách vô ý thức. Họ cho không còn tình yêu nữa. Chỉ có va chạm. Tình yêu như ly nước, cần thì uống. Vì quá khứ đè nặng, tôi dị ứng với những cái đó. Ngay những người đàn ông, đàn bà truỵ lạc nhất cũng không bớt đau khổ.
Người ta phải tìm những cái gì hợp với cá nhân.
Về cuốn Bên kia bờ ảo vọng. Tiểu thuyết đầu tay nhiều nhược điểm. Hăng say. Tự nhủ không nên bán mình vì khi bán mình thì chính anh cũng sụp đổ.
         Còn cuốn Những thiên đường mù  Khi cải cách ruộng đất tôi 9 tuổi. Đang ở Bắc Ninh. Một lần qua đường tàu, thấy một đảng viên tự sát, bộ quần áo nâu trên người còn mới. Một phú nông .
Một lần khác, lại nghe chuyện có một người bị quy là địa chủ tự tử. Người ta kể lai lịch trong kháng chiến ông ta là đảng viên. Ta cài làm lý trưởng. Nay bị quy oan.
Tôi không sinh ra ở nông thôn, nhưng thường đi công tác ở nông thôn. Tôi hình dung ra biến cố đó. Một nhà văn phải nghĩ đến nỗi đau. Không có quyền chỉ nghĩ đến những gì tốt đẹp.
 Lương tâm nhà văn chỉ thanh thản khi anh không bỏ qua những nỗi đau từng sống và chứng kiến.
Tôi biết so với thực tế, mình viết chưa thấm thía gì. Tôi nghe có chuyện cả ngàn người chà lên một xác chết. Có những hoàn cảnh người ta buộc phải làm việc đó. Không ai dám từ chối.
         Không thể tiến lên một xã hội mới, khi dày đạp như thế. Tôi không có kinh nghiệm trực tiếp. Nhưng lòng tôi lúc nào cũng bị ám ảnh. Một nhà văn lớp trước, anh Mai Văn Tạo góp ý kiến cho tôi. Ông Tạo bảo Cải cách ruộng đất là cả một sự ngạo mạn... Khinh sinh mạng con người... Tôi không quên được. Không cần bôi đen. Bôi đen là không lương thiện.
Chưa bằng lòng với Những thiên đường mù. Chỉ được 1%. Nhưng thế cũng được rồi. Thành công sẽ đến khi nhà văn viết như một sự nghiệm sinh, viết về những gì mình từng phải trả giá.

Tìm lại sự thật 
 Xã hội ta luôn luôn tự ngắm mình, ve vuốt mình. Cho nên mới có sự tha hoá như hôm nay. Nhân loại chỉ một lần như thế, thời cộng sản nguyên thuỷ. Xã hội ấy xa rồi. Đến xã hội nô lệ, đã có những thằng hề. Phong kiến còn có gián quan có ngự sử. Họ là hồi quang soi dọi cho nhà cầm quyền. Chúng ta nổ pháo hoàn thành cách mạng. Nhưng đây là thời kỳ khác. Việc bắt chước thời nguyên thuỷ là một sự chế giễu lịch sử.
Tôi không ngắm mình. Nghề văn luôn luôn bất trắc. Có thể mai đây, tôi phải bỏ bút. Luôn luôn người ta phải lựa chọn một cách lương thiện nhất.
Mỗi con người có thể và cần tìm cho mình một lối sống. Mỗi nhà văn đến với văn học theo con đường của mình. Tôi đặt chức trách công dân lên trên vai trò nhà văn. Cá nhân tôi, tôi nghĩ: những bi kịch của dân tộc lớn hơn mọi chuyện gia đình... Hãy tha thứ cho sự nóng vội của tôi. Bây giờ tôi cần nói ngay. Chờ đến khi tôi hiểu được hết...  có khi người ta không cần tôi nữa.
Nhiệm vụ tối thượng nhà văn - giải ảo tưởng. Cái đó cao hơn hết.
Biết ơn dân là chuyện cũ mà không cũ. Quên dân quá lâu. Việc đó gây ra tai vạ cho cả hai. Tôi nói điều đó, với ý nghĩ: phải hiểu đám đông. Sau cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, cần cuộc đấu tranh nâng cao dân trí. XHCN kiểu ta trước đây, là kiểu trại lính. Trêu ghẹo nó, chịu tai vạ.
 Nhưng khi luồng thông tin hồi đáp bị chặt đứt - xã hội không thể lành mạnh.
Tôi thua kém mọi người ở đây về rất nhiều điều. Mọi người cho tôi là liều lĩnh. Tôi không liều lĩnh. Ta đi theo cách mạng, vì một xã hội tự do. Tôi biết tôi là hậu sinh. Tôi thấy các bậc đàn anh sống trong một thời đầy đau khổ.  Kiểu xã hội trại lính chỉ đẻ ra những gia nô. Tôi biết nhiều người những nghệ sĩ, đã trở thành gia nô.
Lịch sử đang được nói tới rất hàm hồ. Nhiệm vụ trí thức tìm lại chân lý bị đánh rơi. Tôi rất thương những người bị thất sủng về vườn đốt than. Nhưng không còn con đường nào khác. Người trí thức phải chiến đấu cho công bằng xã hội. Các trí thức đi theo CNXH không còn rung động với cuộc sống đau khổ của nhân dân. Trong những năm qua, nhiều trí thức bó giáo lai hàng, bởi chế độ  không chỉ nắm dạ dày, mà còn nắm vận mệnh. Tôi hiểu tình trạng trí thức tan nát mong manh. Cơ chế thiếu dân chủ đẩy họ vào bóng tối.
Người ta không thể hy sinh thế hệ này thế hệ khác vì một lý tưởng ảo. Tôi thấy đau lòng khi thấy các anh có tài phải sống trong đau khổ. Chế độ chuyên chế bao giờ cũng tiêu diệt trí thức. Trước bóp mồm bóp mũi người ta không cho người ta nói. Nay khủng bố họ bằng con đường êm dịu hơn. Cắt đứt tất cả quan hệ,  làm cho họ ung thối đi không còn khát vọng.
Một xã hội không thể tiến lên, nếu không có trí thức. Xã hội tiêu diệt trí thức là man rợ, là có tội với lịch sử. Nhân dân đau khổ cũng là nhân dân thần thánh. Nhưng trong mòn mỏi có lúc họ bao che cho tội ác. Chúng ta cần đấu tranh cho thể chế cụ thể. Quốc hội thông qua luật báo chí. Tôi nghĩ rất lạ. Trong đó có cái ý không được in những bài ở nước ngoài. Chân lý được quy nạp trên những quyết định trái chiều. Nếu  không  ai được nói khác đi, xã hội sẽ chìm vào bóng tối chuyên chế.
Tại sao tự do quan trọng?
Mấy thời kỳ vừa qua, đẻ ra một lớp quý tộc mới. Đó không phải những người có tài. Mà là những rập khuôn, là những công chức ngoan ngoãn. Quyền lực đem theo những món lời khác. Xã hội chỉ có bọn lập trường giả tạo, bọn cơ hội.
Không có điều luật nào quyết định được sự suy nghĩ. Trí nhớ không thể  bị chi phối bởi quyền lực. Không có lưỡi dao nào chặt được trí nhớ người ta, chỉ để phần có lợi còn lại. Tự hoàn thiện của nhà nước là điều kiện sống còn của xã hội.
Đại hội nhà văn: Có người tâm huyết, có người cơ hội, có người lừng chừng.

Cuộc phỏng vấn 40 phút
Bắt đầu kể: 
- Lúc đầu tôi chỉ mơ làm cầu thủ bóng bàn, làm vận động viên... Ở trong đội tuyển của tỉnh Bắc Ninh ( lúc ấy chưa sát nhập tỉnh). Lớn lên thích âm nhạc, kéo đàn ắc coóc. Học ắc coóc 1965-1968. Học ở địa điểm sơ tán Yên Dũng gần trường nhạc. Chu + Bằng [ chồng Hương ] đều là bộ đội pháo ở Thắng.
13 tuổi có thơ đăng báo. Vào Quảng Bình, chơi với Mây, Dạ (tôi ở Ty Văn hoá, bọn kia ở Hội).
Sau giải phóng về Huế, làm công tác văn hoá cho sinh viên. Từ 1977 - càng mở rộng quan hệ với giới nghệ thuật
Bà không nghĩ văn chương như một nghề?
- Đúng.
Tức cho rằng không thể sống bằng viết văn.
- Không. Không bao giờ.
Nhưng vẫn xem mình như một nhà văn. Điều đó bắt đầu từ năm nào?
- Ngay bây giờ tôi vẫn không tin là tôi đi mãi với nghề. Ngày mai có thể chán viết. Ngày mai có thể bỏ đi đâu đó. Trước tôi toàn viết truyện ngắn và trước nữa làm thơ. Bây giờ đây nghĩ viết mãi những thứ đó là vô nghĩa.
Tôi trọng văn chương mà cũng khinh văn chương. Ảnh hưởng Nguyễn Huy Thiệp. Thái độ coi văn chuơng là ghê gớm --với tôi -- là xa lạ. Một thánh đường ư, tôi có thể vứt bỏ thánh đường đó.
Bà không coi cái gì là thiêng liêng?
- Sự thiêng liêng là những giá trị mà mình xác lập. Lúc này đây là tự do, là công bằng xã hội. Lý tưởng này khiến tôi bắt tay với những người khác. Kể cả người tôi không thích. Ai yêu tôi, nhưng khác lý tưởng, tôi không chơi.
Mục tiêu của người viết văn?
- Với trí thức, là đấu tranh cho công bằng xã hội. Dám bỏ cả viết văn, nếu cần. Mục tiêu viết văn của tôi không phải là văn chương.
Tôi được biết là nghề này dính lắm, ai vào không ra được.
- Nó còn có danh vọng, có tiếng tăm. Xã hội cổ lỗ, người ta không dễ làm người với nghĩa có quan niệm riêng. Tôi thì khác. Trong sự thách đố xã hội, tìm thấy niềm vui. Tôi chấp nhận cô đơn, kể cả tự tử. Nhưng không thể đánh mất mình. Phải làm mọi việc vì niềm vui.
Bà nhìn giới viết văn ra sao?
- Thương hại. Xin lỗi nhưng tôi không bỏ được từ này. Người ta chạy vạy lặt vặt.. Tôi thấy ái ngại cho họ. Có những người tôi kính trọng như nhà thơ Hữu Loan. Ông sẵn sàng từ bỏ nghề văn nếu không được dùng ngòi bút làm việc của mình. Tôi thương và kính trọng. Ông ấy nghèo khó bần cùng đi. Lựa chọn con đưòng coi như cuộc đời đã hết, còn hơn làm điếm.
Vai trò kiến thức văn hoá với nhà văn?
- Quan trọng. Phải có cái vốn nào đó.
Có cố viết?
- Cũng có với nghĩa được gì hay đấy. Tôi đi chơi, rồi về viết. Mọi sự dùi mài cũng thảm hại, nhưng thà thế còn hơn lười biếng buông trôi.
Ai là người có ảnh hưởng?
- Gần đây, là Nguyễn Huy Thiệp. Đối với ông Châu tốt, quý nhưng không nói chuyện được. Chưa có Nguyễn Huy Thiệp, chả có ai. Chơi nhiều. Bỏ nhiều.
Thiệp ảnh hưởng gì?
- Tôi chú trọng công dân. Tôi thiếu cái phần nhân bản. Chưa đủ thì đúng hơn. Ở Thiệp, nghề văn là nghiêm túc, đương thời là đáng khinh. Nếu nó không biết khinh bỉ tôi không chơi với nó.
Làm sao giữ được cân bằng?
- Cheo leo thế, kệ nó.
Nghiêm túc với Thiệp nghĩa là gì?
- Chú ý đến nghệ thuật. Có ý thức về nội lực. Tôi làm khơi khơi. Đáng lẽ phải tu luyện nhiều về nghề nghiệp.
Bà có tin mình làm được như Thiệp.
- Được.
Bà làm việc như thế nào?
- Đọc sách hàng ngày
Có đọc đi đọc lại quyển nào?
Quyền lực của B. Roussel, Thần đêm u ám của Koestler. Rồi đọc linh tinh  sách Sài Gòn trước 1975. Nhà văn Nga thích nhất là Tchékhov( phần kịch ) rồi Đốt. Vấn đề mà ông ấy quan tâm. Đọc Paustovski thấy nhạt nhẽo.
Bà tự nhận kiến thức chắp vá?
-      Đúng. Tôi không cần hoàn chỉnh.
Văn học Pháp.
-      Đọc hết...
 Văn học cổ ?
- Hồ Xuân Hương. Thích máu nổi loạn. Cả Kiều cũng không thích bằng.
Tự lực văn đoàn?
-- Ghét. Văn chương trước 30-45 chỉ có Vũ Trọng Phụng.
 Nghĩ gì khi thấy một bạn trẻ viết văn ?
- Thấy buồn cười như thấy người ta cưới nhau, rồi nghĩ lại có lúc kính thưa quý toà, bỏ nhau.
Trong đó có chút gì ngớ ngẩn?
- Đúng. Nhưng đó là kiếp người, kể cả tôi.
Thuở bé?
- Tôi là người phụ nữ trưởng thành muộn. Khi các bạn đã yêu nhau tôi  trong cặp vẫn có cặp na - củ đậu để đi chơi.
Người đàn bà viết văn vất vả. Vất vả hơn đàn ông?
- Trong xã hội bạo lực, người đàn ông khó khăn hơn.
Ấn tượng về những phụ nữ viết văn?
- Tôi ít nghĩ tới. Vì mải nghĩ chuyện khác.  Với họ, không chơi. Tôi coi họ như không có.
Có bị họ ghét?
- Tôi không để ý
Bà không sợ dư luận?
- Đến bạo lực tôi cũng không sợ. Tôi chỉ sợ mình chán mình, mình không kính trọng mình nữa. Ngoài ra, cần gì.
Có tình bạn trong văn chương?
- Không có. Chơi với ông Châu, với ông Khải là chuyện cơm nước, trò chuyện, châm chọc.
Viết xong, có hay mang cho ai đọc
- Không!
Đọc thư bạn đọc, cảm tưởng ra sao?
- Cảm thấy lúc ấy, mình có ích cho người ta. Cộng với lòng tha thiết với lẽ công bằng mình đã được đền đáp.
Bà tin ở tác dụng với mọi người?
- Cái đó có. Tôi thiếu thành kính với văn chương. Nhưng tôi thành kính với con người. Tôi thấy có thể giúp cho đau khổ con người được thuyên giảm. Mặc dù tôi biết có khi là mình đau khổ trước tiên.
  Dạo này bà hay nói “nhà văn của nhân dân”?
- Mới vài năm nay. Trước kia viết bản năng. Không muốn vào nhóm nào. Kiến thức là nghe người ta nói, cả nghe cải cách ruộng đất... Nhưng không muốn ràng buộc với bất cứ ai.
Bà không định thành con người hoàn chỉnh.
- Kể cả  khuynh hưóng văn chương. Có nhiều người muốn dạy tôi. Rất tốt bụng. Nhưng tôi từ chối.
Một người học trò ngỗ ngược?
- Đúng, tôi thấy mình thế. Mặc dù anh Phạm Mạnh Hùng mắng tôi xa xả nhưng anh ấy quý tôi. Ai quý, tôi tha thứ. Các ông Nhân văn Giai phẩm mời tôi đến tôi không đến.
 Đấy, tôi là thế. Tôi bảo thủ. Tôi không uyển chuyển. Tôi ít thay đổi, chấp nê, dễ chết. Người đàn ông tử tế đã khổ; đàn bà khổ cách khác.
Bà ít đọc sách tôn giáo và không muốn nhẫn nhục?
- Tôi không chấp nhận sự nhẫn nhục. Một là tôi chết. Hai là tôi sống, tôi chống lại cái ác.
Có cho là mình gặp may?
- Nếu sống thời trước, chết rồi. Vậy gặp may. May mắn nhất là có một quan niệm văn chương thoải mái.
Có lúc nào cảm thấy mình bất hạnh?
- Không và có. Có lúc nghĩ không ai khổ bằng mình Rồi lại nghĩ người khác bất hạnh hơn.
Tại sao viết văn ?
Thấy nhờ đó đấu tranh chống cái ác  tốt hơn.
Có bao giờ định bỏ?
- Sau Bên kia bờ ảo vọng, tôi muốn tự tử. Tôi chả hiểu vì tại sao? Cộng với những đau khổ cá nhân, lúc ấy tôi cảm thấy mọi chuyện vô nghĩa.
Thấy trong cuộc sống, bất hạnh và hạnh phúc có từ lâu, mà vẫn như không có.
Nói chung tôi chả yêu ai bao giờ.  Nhưng thấy truyện tình người ta viết nhiều thì viết. Không có ý thức gì. Như là Chuyện tình kể trước lúc rạng đông. Không có chuyện của mình. Chỉ nghe kể rồi viết lại.
Bà nghĩ sao về giới phê bình?
- Nhiều người trong họ có học nên  thông minh hơn cánh viết văn. Nhưng họ bị nô lệ.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Cộng đồng khoa học quốc tế đã yêu cầu các nhà khoa học Nga phát triển hệ thống có khả năng làm chệch hướng tiểu hành tinh đe dọa Trái Đất với sự trợ giúp của các vụ nổ hạt nhân trong không gian.


Ảnh minh họa - một tiểu hành tinh bay gần Trái Đất.
Điều này đã được TsNIIMash, Viện khoa học trực thuộc công ty nhà nước "Roscosmos" trả lời TASS hôm 16/1. Bộ phận truyền thông của Viện cho biết, "Là một phần Chương trình khung thứ bảy của EU về phát triển nghiên cứu và công nghệ 2012-2015, đã thực hiện dự án quốc tế NEOShield, điều tra và xử lý tất cả các phương thức ngăn chặn đối tượng nguy hiểm đe dọa va chạm Trái Đất. Công trình này được triển khai giữa những người tham gia từ các nước và các tổ chức khác nhau, và nhiệm vụ làm lệch hướng đối tượng không gian nguy hiểm với sự trợ giúp của các vụ nổ hạt nhân đã được giao cho Viện "TsNIIMash - đại diện Nga trong dự án".

Các nhà khoa học Nga cho rằng vụ nổ hạt nhân ở gần tiểu hành tinh nguy hiểm là cách hiệu quả nhất để ngăn chặn nó va chạm với trái đất, tuy nhiên hiện nay các vụ nổ hạt nhân trong không gian đều bị cấm.

Theo Sputnik



















Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chủ Nhật, 17 tháng 1, 2016

Nhóm tin tặc có liên hệ với tổ chức Nhà nước Hồi giáo (IS) tự xưng đã tấn công trang web của Đại học Thanh Hoa (Trung Quốc) và kêu gọi tiến hành thánh chiến.


Thanh Hoa là trường đại học tổng hợp đứng đầu Trung Quốc.
Truyền thông Trung Quốc ngày 18/1 đưa tin nhóm tin tặc tuyên bố có liên hệ với tổ chức Nhà nước Hồi giáo (IS) tự xưng đã tấn công một trang web của Đại học Thanh Hoa - trường đại học hàng đầu Trung Quốc, và đăng tải thông điệp kêu gọi tiến hành thánh chiến.

Bức ảnh đăng trên trang web của Đại học Thanh Hoa, được nhật báo "Bưu điện Hoa Nam buổi sáng" công bố, cho thấy một nhóm chiến binh thánh chiến đang vẫy khẩu hiệu có màu đen-trắng của người Hồi giáo với thông điệp: "Mọi thứ cuối cùng sẽ ổn thỏa. Nếu không ổn, thì đó chưa phải là sự kết thúc". Đây là thông điệp của một kẻ tự xưng là "tin tặc IS". Một nhân viên của Đại học Thanh Hoa đã xác nhận vụ tấn công trên với tờ "Bưu điện Hoa Nam buổi sáng".

Trang web này ngay sau đó đã được thông báo ngừng hoạt động.
TTXVN/Tin Tức (theo Sputnik)










































Phần nhận xét hiển thị trên trang

Quan ngại điều quan ngại


Đầu tuần mà nói ra điều này, quả không phải chút nào.

Hầu như không mấy ai quan tâm đến cái tin Trung Quốc xây thêm 2 đường băng mới sau khi vừa đưa vào hoạt động "sân bay" ở đá Chữ Thập. Hai cái mới này, 1 ở đá Vành Khăn, 1 ở đá Xu Bi, đều ở Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam, đều sắp hoàn thành.


Bây giờ, việc Trung Quốc chiếm đất chiếm biển của ta đã trở nên bình thường không đáng quan tâm rồi sao? Sự dửng dưng trước nỗi nhục mất nước bắt đầu từ bao giờ vậy?


Cả một bộ máy cầm quyền, cả hệ thống chính trị, lực lượng vũ trang, và cả nhân dân nữa, đã làm gì khi Tàu cộng cứ tằm ăn rỗi vậy? Không thể nói là không biết những hành vi của nó.


Ngồi đó mà đại hội với đại hiếc, tự sướng khen rất tốt đẹp với nhau, rồi đến lúc như An Dương Vương "giặc ngồi sau lưng mà nhà vua không biết", nhưng nó không thèm sau lưng đâu, nó trắng trợn trước mặt mà vẫn nhắm mắt làm ngơ.


Lão Maddox cạnh nhà tôi văng tục, lão bảo rồi thế nào cũng nghe thằng bé hói đó nó nói quan ngại cho mà xem, ngại ngại cái lồn.


Nguyễn Thông

Bài trên báo Dân Trí đăng ngày 17.1, http://dantri.com.vn/the-gioi/trung-quoc-sap-hoan-thanh-them-2-duong-bang-phi-phap-tai-truong-sa-20160117080212449.htm

Phần nhận xét hiển thị trên trang

THĂM QUÊ THI SĨ TRẦN DẦN


Nhà thơ Trần Dần (ảnh: Nguyễn Đình Toán)
Nhà thơ Trần Dần (ảnh: Nguyễn Đình Toán)
NGUYỄN TRỌNG TẠO
Tôi có hoài cổ quá không khi về thăm một vùng đất đang ngày ngày mọc lên những nhà cao tầng, những khách sạn nguy nga, những con đường dài rộng mà chỉ đi tìm những gì xưa cũ? Vâng, hoài cổ vẫn có cái hay là chống lại được căn bệnh Alzheimer mất trí nhớ và phản bội quá khứ.
Mới đó mà đã 19 năm ngày giỗ thi sĩ Trần Dần. Còn nhớ hôm tiễn ông, tôi cầm một đầu dây hạ huyệt ông mà như không muốn hạ, chỉ muốn nấn ná thêm chút nữa… Khi mọi người đã rời nghĩa trang, còn tôi, ông Nguyễn Hữu Đang, nhà thơ Hữu Thỉnh và nhiếp ảnh gia Nguyễn Đình Toán cùng gia đình thắp nén hương cuối dưới ngôi mộ mới chất đầy hoa như một ngọn núi…
Trước ngày giỗ, chúng tôi cùng gia đình Trần Dần về Nam Định quê ông, thắp hương Lễ khánh thành nhà thờ họ Trần chi Phán Chương (Trần Văn Chương). Phán Chương là bố đẻ Trần Dần. Ông Chương là nhà tư sản rất nổi tiếng. Ông học qua bậc Thành chung ở quê rồi lên Hà Nội học tiếp và đỗ Tú tài Triết, sau đó làm ngân hàng, có cả trăm mẫu đất, nhà cửa. Khi ông qua đời, dân ở đây yêu quý gọi con đường vào nhà ông là ngõ Phán Chương. Gọi mãi thành quen, rồi Nhà nước cũng cắm biển tên đường ngõ Phán Chương vào đó.
Quanh ngõ Phán Chương có nhiều văn nhân nổi tiếng. Rẽ qua phố Hàng Đồng có ngôi nhà của nhạc sĩ Đặng Thế Phong tác giả “Giọt mưa thu”, “Con thuyền không bến”, rồi nhà văn Lê Tràng Kiều từng là chủ báo “Tiểu thuyết thứ Năm” đình đám. Nghe nói cạnh đó, bên đường Hoàng Văn Thụ ngày xưa có Cà phê Toàn là tụ điểm của thanh niên, sĩ tử lẫn người lao động… vì lắm tin tức vỉa hè và giá cà phê rẻ.
Khánh thành nhà thơ họ Trần chi Phán Chương.
Khánh thành nhà thơ họ Trần chi Phán Chương.
Nhà thờ họ Trần chi Phán Chương tọa lạc trên mảnh đất hình chữ L rộng 170 m2, số 27 Hoàng Diệu, cạnh phố Năng Tĩnh. Dù nhà có mặt phố, nhưng hẹp nên cổng tiền ở bên ngõ nhỏ. Tuy vậy vẫn có khoáng đất làm sân, trồng được cây mít, cây dừa, cây hoa sứ. Thế mới biết, một đại gia từ thời Pháp với cả kho bạc và hàng trăm mẫu đất, phố nhà, giờ chỉ còn lại chút đất con để làm nơi thờ phụng.
Trong khi các thầy chùa đang làm tế lễ dài dài, chúng tôi rủ nhau đi thăm thú vùng đất này. Cùng đi với tôi có nhà văn Lê Hoài Nam, đạo diễn điện ảnh Phạm Lộc, nhà báo Hà Thái, phó tổng giám đốc TTXVN. Nam là thổ công ở đây, nhưng Thái lại thông thạo đến cả những ngõ hẻm vì có người bạn thân quê ở xứ này. Chạy xe đến tận nhà thờ Bùi Chu, nhà thờ Kiên Lao rồi quay về Cổ Lễ… Đến đâu cũng chỉ muốn chụp ảnh vì các kiến trúc kiểu Pháp cổ xưa vẫn còn tràn ngập xứ Thành Nam. Nhà thờ Bùi Chu được xây dựng từ năm 1885 vẫn còn nguyên vẹn. Dù nội thất và trần nhà có vẻ ọp ẹp, nhưng vẫn giữ được vẻ cổ kính, trang nghiêm. Bây giờ đã có hàng trăm nhà thờ kiểu mới to lớn được xây dựng ở xứ này, nhưng nhà thờ Bui Chu vẫn chiếm cảm tình nhất với ai đã ghé qua chiêm ngưỡng. Nghe nói có 2 phương án về nhà thờ này: Đập đi xây mới, hoặc trùng tu. Nhưng không ai muốn đập đi cái hình ảnh đẹp đẽ đã ăn sâu vào ký ức nhiều thế hệ. Thậm chí có người nói: Nếu buộc phải đập đi để xây to lớn hơn thì cũng phải xây đúng kiểu mẫu của nhà thờ Chính tòa này đã xây hơn một thế kỷ trước. Còn tôi thì nghĩ, dù quanh nó đã có nhiều ngôi cao to hơn, nhưng nhà thờ Chính Tòa Bùi Chu cứ mãi mãi khiên tốn thế, một sự khiêm tốn đến khiêm nhường…
Khi trở lại uống chén rượu chúc mừng và tưởng nhớ tổ tiên họ Trần chi Phán Chương, tôi không khỏi bùi ngùi về những con người đã làm cho quê hương họ nổi tiếng, trong đó có cha con, cháu chắt ông Phán, trong đó có gia đình thi sĩ Trần Dần.
Trần Dần tên thật là Trần Văn Dần sinh ngày 23 tháng 8 năm 1926. Từ năm 1946 khi tham gia nhóm Dạ Đài, Trần Dần đã cùng với Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương, Vũ Hoàng Địch… soạn ra bản “tuyên ngôn tượng trưng” nhằm cách tân thơ Việt sau rất nhiều thành công của Thơ Mới (trước 1945). Đến ngày 19-12-1946, ông cùng nhóm Dạ đài ra số báo Dạ Đài 2, khi Kháng chiến chống Pháp bùng nổ, ông trở về Nam Định tham gia công tác thông tin tuyên truyền ở huyện Vụ Bản rồi làm việc ở Sở Tuyên truyền Khu IV. Năm 1948, ông tham gia Vệ quốc quân, ở Ban Chính trị Trung đoàn 148 Sơn La (nay thuộc Sư đoàn 316), làm công tác tuyên truyền cùng Vũ Khiêu, Vũ Hoàng Địch, sau đó làm báo ở mặt trận Tây Bắc và phụ trách văn công Trung đoàn 148 Sơn La. Trần Dần cùng Trần Thư, Hoài Niệm tham gia sáng lập nhóm văn nghệ quân đội đầu tiên – Nhóm Sông Đà. Thời gian này ông bắt đầu làm thơ bậc thang và vẽ tranh lập thể, bị cho là khó hiểu. Ông là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam (lúc ấy có tên là Đảng Cộng sản Đông Dương) từ năm 1949. Ông cũng là nhà tiểu thuyết đầu tiên viết về chiến dịch Điện Biên Phủ với nhan đề “Người người lớp lớp” được phổ biến rộng rãi sau 1954. Dù được khen ngợi nhiều, nhưng Trần Dần vẫn chưa ưng ý. Phải
Nguyễn Trọng Tạo và bà Khuê (vợ Trần Dần) - Ảnh: NĐT
Nguyễn Trọng Tạo và bà Khuê (vợ Trần Dần) – Ảnh: NĐT
Ông yêu bà Khuê nhưng tổ chức không cho cưới vì gia đình bà Khuê có người di cư vào Nam nên Trần Dần đã viết đơn đề nghị được giải ngũ và ra khỏi Đảng để cưới bà. Từ đó ông dồn vào sáng tác với ý thức cách tân văn học và tham gia Nhân văn Giai phẩm, đòi tự do, đòi xuất bản các tác phẩm mang tính cách tân của mình, mặc dù đã bị Chính quyền lúc bấy giờ nhiều lần cảnh cáo nhưng ông vẫn giữ vững sáng tác, ông liên tiếp cho ra đời các tác phẩm phê phán như “Lão rồng” và chuyện “Anh Cò Lấm” phê phán cải cách ruộng đất, để cuối cùng bị cấm in.
30 năm kiên trì sáng tác “trong bóng tối” và dịch sách ký tên khác để kiếm tiền nuôi vợ con, cho đến thời kỳ Đổi mới (1988) Trần Dần mới được phục hồi tên tuổi, được xuất bản và được tặng Giải thưởng Hội nhà Văn và được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về VHNT.
Ông cũng có những người con nổi tiếng như nhà quay phim, đạo diễn truyền hình NSUT Trần Trọng Văn, họa sĩ Trần Trọng Vũ ở Paris và nhà văn Thuận (con dâu của ông).
Rời Từ đường họ Trần chi Phán Chương, chúng tôi đi qua Nhà máy Dệt Nam Định lừng lẫy một thời cung cấp vải vóc áo quần cho nửa nước từ sau hòa bình 1954 trên miền Bắc và suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, giờ hoang tàn, mốc meo như một di sản đau lòng của XHCN bao cấp. Ngõ Văn Nhân cũng không sòn sĩ tử qua lại nhộn nhịp như sách vở xưa đã viết.
Tôi có hoài cổ quá không khi về thăm một vùng đất đang ngày ngày mọc lên những nhà cao tầng, những khách sạn nguy nga, những con đường dài rộng mà chỉ đi tìm những gì xưa cũ? Vâng, hoài cổ vẫn có cái hay là chống lại được căn bệnh Alzheimer mất trí nhớ và phản bội quá khứ.
Cám ơn gia đình thi sĩ Trần Dần đã cho tôi có một dịp về Nam Định để hiểu thêm về gia thế và quê hương ông.
16.1.2016

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nhưng chiến lược lấn dần này của Trung Quốc không phải là hoàn hảo. Nó có thể bị ngăn chặn nếu Mỹ, Nhật Bản, Việt Nam và các cường quốc khu vực khác chơi cờ vây điêu luyện như Trung Quốc.

Trên hết, nếu Trung Quốc vẫn quyết tâm biến biển Đông thành ao nhà của mình thì các nước Việt Nam, Philippines, Mỹ, Nhật và Ấn Độ cần hình thành một liên minh mạnh mẽ hòng đảo ngược lại trạng thái mất cân bằng quyền lực ấy.

Trung Quốc cũng đang xây dưng một sân bay khác trên Đá Subi

Những hình ảnh chụp từ vệ tinh được tờ tạp chí tình báo quốc phòng IHS Jane’s phân tích cho thấy Trung Quốc đang xây dựng trên Đá Chữ Thập thuộc quần đảo Trường Sa một doi đất mang hình dáng sân bay dài 3.000m và một hải cảng đủ lớn cho các tàu chở dầu và tàu chiến lớn neo đậu. Đây không phải là lần đầu tiên Trung Quốc làm vậy, đảo này là hòn đảo mới nhất được Trung Quốc xây dựng trong chuỗi hành động xây đảo lấn biển mà nước này đang tiến hành ở cả quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa trên biển Đông.

Trung Quốc xây đảo để làm gì? Mục đích tối thượng của những dự án này là gì? Lăng kính thông thường chúng ta sử dụng để giải mã các động thái chiến lược trên trường quốc tế không phù hợp để trả lời những câu hỏi ấy. Lăng kính thông thường nhìn trò chơi giữa các quốc gia dưới góc độ cờ vua, nhưng ở biển Đông, Trung Quốc lại đang chơi cờ vây.

Cờ vây (weiqi) là loại cờ cổ xưa nhất Trung Hoa (được biết đến ở phương Tây qua tên gọi của người Nhật là go), mang nhiều điểm tương đồng với một dòng tư duy chiến lược truyền thống có nhiều ảnh hưởng của Trung Hoa. Trong khi cờ vua là trò chơi chiếu tướng thì cờ vây, như tên gọi của nó, lại là trò bao vây. Trong cờ vây, không có vua, hậu hay tốt mà chỉ có những quân cờ giống nhau, quyền lực của chúng phụ thuộc vào vị trí của chúng trong tương quan rộng lớn hơn trên bàn cờ. Nếu như cờ vua là cuộc chiến giữa hai đội quân thì cờ vây là cuộc chiến của những tính toán định hình bàn cờ. Người chơi cờ vua giỏi nhắm đến việc đập tan sức mạnh cứng của đối phương, người chơi cờ vây giỏi nhắm đến việc kiểm soát các vị trí chiến lược, từ đó lan tỏa sức mạnh dựa trên vị trí.

Nếu coi biển Đông là một bàn cờ vua thì những động thái của Trung Quốc ở đó hầu như chỉ là vặt vãnh. Hầu như chỉ có tốt tiến quân, trong khi những quân cờ quyền lực hơn không có mấy động thái. Có lẽ vị trí đáng gờm nhất trên bàn cờ là căn cứ tàu ngầm hạt nhân ở Du Lâm phía nam đảo Hải Nam. Tuy nhiên, căn cứ này không nằm trong vùng biển tranh chấp. Quân đội hiếm khi là lực lượng chính tham gia vào tranh chấp biển Đông, mà chủ yếu là tàu đánh bắt cá và tàu hải giám. Và tâm điểm tranh chấp lại là những đá nhỏ, không thể cư ngụ và thường chìm.

Đá Chữ Thập sau khi được cải tạo thành đảo nhân tạo có diện tích lớn nhất Trường Sa với một đường băng dài 3km
Thoạt nhìn trò chơi này dưới góc độ cờ vua, một nhà ngoại giao kỳ cựu của Mỹ từng nói “các cường quốc không gây chiến với nhau chỉ vì những hòn đá” và một học giả hàng đầu về hàng hải Trung Quốc kết luận “những căng thẳng giữa một cường quốc mới nổi và các nước láng giềng là tự nhiên và không cấu thành mối đe dọa đáng kể nào đối với cân bằng quyền lực toàn cầu cũng như hoạt động bình thường của hệ thống quốc tế.”

Nhưng dưới con mắt của người chơi cờ vây, những gì mà Trung Quốc làm ở biển Đông là ví dụ kinh điển cho thấy nước này đã chơi môn cờ vây tài tình thế nào. Mục đích tối thượng là nhằm kiểm soát khu vực. Chiến lược để đạt được mục đích này dựa vào việc lấn dần, chứ không phải những trận giao tranh lớn. Lấn dần (creeping expansion – hay tằm ăn dâu – NBT) là một chiến lược đã được thực hiện trong suốt nhiều thập kỷ. Song song với chiến lược này là chiến lược cắt lát salami và ngoại giao gậy nhỏ (small-stick diplomacy – tức đe dọa ở mức độ vừa phải – NBT). Logic ẩn dưới đó là dần dần biến chuyển tình hình theo hướng có lợi cho sự bành trướng của Trung Quốc bằng cách khéo léo dùng thủ đoạn thay đổi thế chiến lược trong khu vực.

Chiến lược này đòi hỏi một số bước đi cần thiết, thực hiện tuần tự. Đầu tiên là hết sức tránh các cuộc xung đột vũ trang công khai; có thể khởi phát xung đột nhỏ, nhưng việc ấy chỉ được thực hiện nhằm lợi dụng tình hình vốn đã có lợi cho Trung Quốc. Bước thứ hai là kiểm soát những điểm chiến lược nhất trên biển; nếu không kiểm soát từ trước thì có thể lén lút chiếm, thậm chí có thể có xung đột nhỏ nếu cần. Bước thứ ba là phát triển những điểm đó thành điểm kiểm soát mạnh, tích cực xây dựng các trung tâm hậu cần và căn cứ hiệu quả để phô trương sức mạnh. Lịch sử can dự của Trung Quốc ở xung đột biển Đông cho thấy nước này đã theo sát những đường đi nước bước kể trên.

Mặc dù Trung Quốc sẵn sàng lao vào đối đầu quân sự, nhưng nước này vẫn thường tránh viện đến các cuộc chiến vũ trang lớn để mở rộng không gian kiểm soát. Trong suốt sáu mươi năm qua, chỉ có hai lần Bắc Kinh xung đột quân sự để chiếm đảo. Lần thứ nhất vào tháng Giêng năm 1974 với Việt Nam, kết thúc với việc Trung Quốc chiếm nửa phía Tây của quần đảo Hoàng Sa, nhóm đảo Lưỡi Liềm. Lần thứ hai là một xung đột nhỏ hơn nhiều, nhưng cũng không kém phần đẫm máu với nước Việt Nam thống nhất tại Đá Gạc Ma hồi tháng 3/1988.

Điểm đáng chú ý ở hai lần đối đầu này là chúng đều xảy ra khi trong khu vực này xuất hiện một khoảng trống quyền lực lớn. Lần thứ nhất, Mỹ đang rút quân khỏi khu vực này, và lần thứ hai là khi Liên Xô rút dần sự hiện diện. Trong cả hai lần, Trung Quốc đều được hưởng lợi từ cái gật đầu ngầm của Mỹ, nhân tố quyền lực nhất ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương mở rộng. Vì thế, những cuộc xung đột quân sự ấy không gây ra nhiều hệ lụy về mặt ngoại giao (cho Trung Quốc).

Bước đi thứ hai được phản ánh rất rõ trong cách Bắc Kinh chọn các địa điểm chiếm đóng trong khu vực đang tranh chấp. Khi Trung Quốc chiếm đảo của Việt Nam ở quần đảo Trường Sa năm 1988, Trung Quốc đã chọn chất lượng bù số lượng. Trung Quốc chiếm 6 đảo, nhưng 5 trong số đó là những vị trí chiến lược nhất trong quần đảo.

Lựa chọn đầu tiên của Trung Quốc ở quần đảo Trường Sa là Đá Chữ Thập, một trong những đảo tốt nhất trong quần đảo xét về vị trí và khả năng mở rộng. Rạn san hô này án ngữ vị trí lý tưởng cửa ngõ phía Tây của quần đảo Trường Sa và là một trong số ít các địa vật trong quần đảo này gần các tuyến hải hành xuyên đại dương đi qua biển Đông. Đá Chữ Thập không quá gần cũng không quá xa các nhóm đảo khác, lợi thế giúp giảm khả năng bị tấn công đồng thời mở rộng không gian ảnh hưởng.

Ngoài ra, Đá Chữ Thập còn chiếm một khu vực rộng 110 km vuông, một trong những địa vật lớn nhất trong quần đảo Trường Sa. Bốn trong số năm địa vật còn lại là đá Subi, đá Gaven, đá Gạc Ma và đá Châu Viên nằm ở rìa bốn nhóm đảo khác nhau, từ đó có thể kiểm soát một vùng biển rộng lớn và những tuyến hải hành chủ chốt ở quần đảo Trường Sa. Sau này Trung Quốc còn chiếm thêm hai địa vật nữa cũng có giá trị chiến lược vô cùng to lớn.

Đá Vành Khăn mà Trung Quốc lén lút chiếm của Philippines hồi cuối năm 1994, đầu năm 1995 nằm ngay trung tâm cánh phía đông của quần đảo Trường Sa và rất gần các tuyến hải hành trọng điểm dọc phía đông biển Đông. Bãi cạn Scarborough mà Trung Quốc chiếm năm 2012 với chiến lược ngoại giao gậy nhỏ và “ngoại giao lật lọng” (double-dealing diplomacy) bao quát góc đông bắc biển Đông và là chốt canh lý tưởng nhằm kiểm soát các tuyến hải hành chính qua khu vực này.

Với việc kiểm soát quần đảo Hoàng Sa, bãi cạn Scarbourough và các đảo nhân tạo chiến lược khác trong quần đảo Trường Sa, Trung Quốc có lợi thế hơn bất cứ nước nào khác trong việc kiểm soát cái mà Robert Kaplan gọi là “yết hầu của các tuyến đường biển toàn cầu”. Chẳng hạn, đảo Phú Lâm (đảo lớn nhất trong quần đảo Hoàng Sa), Đá Chữ Thập, Đá Vành Khăn và bãi cạn Scarborough tạo thành một chòm sao bốn điểm với bán kính chỉ 250 hải lý từ đó có thể kiểm soát chặt chẽ toàn bộ biển Đông.

Pháo đài bay B-52 của Mỹ thể hiện uy lực trong cuộc tập trận

Điều đó có nghĩa là để trở thành lãnh chúa trên biển Đông, Trung Quốc chỉ cần phát triển những tài sản ấy thành nền tảng vững chắc có thể cung cấp hậu cần cho một mạng lưới tàu đánh cá, tàu hải giám, tàu ngầm và máy bay nhằm thống trị bầu trời và vùng nước khu vực này, cũng như một số vùng đất để thiết lập những khu kinh tế và an ninh rộng.

Đó chính xác là những gì Bắc Kinh đang tiến hành. Sáu mươi năm trước đảo Phú Lâm chỉ là một bãi cát không người ở, nay đã có gần 1.000 người, cả dân lẫn binh lính. Cơ sở vật chất lưỡng dụng bao gồm một sân bay với một đường băng 2.700m và một đường dẫn máy bay song song, có sức chứa hơn tám máy bay thế hệ thứ tư như tiêm kích SU-30MKK và máy bay đánh bom JH-7, một cảng nước sâu 1.000m có thể cho phép tàu tải trọng 5.000 tấn neo đậu.

Từ năm 2013, Trung Quốc cũng tiến hành các dự án xây dựng khổng lồ ở phía nam quần đảo Trường Sa hòng biến những đá mà nước này chiếm được thành đảo. Theo một quan chức tình báo cấp cao của Đài Loan tên là Lý Tường Trụ (Lee Hsiang-chou), chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã thông qua kế hoạch mở rộng đảo lấn biển để xây dựng các cơ sở quân sự trên năm đảo nhỏ trong vùng biển này, trong đó có Đá Châu Viên, Đá Gạc Ma, Đá Gaven, Đá Tư Nghĩa và Đá Chữ Thập.

Trong số những dự án xây đảo ấy, gây nhiều tác động nhất phải kể đến dự án Đá Chữ Thập. Từ một rạn san hô chìm, Đá Chữ Thập sẽ sớm trở thành đảo lớn nhất trong quần đảo Trường Sa. Sau khi lấn biển, với diện tích đất dự kiến đạt 2km vuông, Đá Chữ Thập sẽ lớn gấp bốn lần đảo tự nhiên lớn nhất trong quần đảo là Ba Bình hiện đang bị Đài Loan chiếm đóng. Khu vực mở rộng này cho phép Đá Chữ Thập chứa được một sân bay với đường băng 3.000m, một cảng nước sâu, các trạm radar, vài tên lửa tầm trung và tầm xa, kho bãi và cơ sở vật chất cung cấp dịch vụ khác đủ khả năng hỗ trợ hàng trăm tàu cá, tàu hải giám, tàu chiến và máy bay.

Chẳng có gì đáng ngạc nhiên nếu trong tương lai gần đến trung hạn Bắc Kinh tiếp tục xây đường băng sân bay và cảng nước sâu ở Subi, Đá Vành Khăn và bãi cạn Scarborough và thiết lập một vùng nhận dạng phòng không ở biển Đông.

Với các đảo được mở rộng và xây mới ở các vị trí chiến lược, Trung Quốc có nhiều khả năng hơn tất cả các cường quốc khác trong việc giành thế thống trị trên không và trên biển ở biển Đông. Mặc dù Bắc Kinh vẫn còn cả một con đường dài phía trước, nhưng trong vòng hai mươi năm nữa viễn cảnh một biển Đông la liệt các căn cứ của Trung Quốc trải dài từ quần đảo Hoàng Sa ở tây bắc tới Đá Vành Khăn ở đông nam, từ bãi cạn Scarborough ở đông bắc đến Đá Chữ Thập ở tây nam sẽ chẳng có gì là quá khó tưởng tượng.

Liệu quá trình lấn dần này có phải là không thể ngăn chặn? Mặc dù Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC) mà Trung Quốc và các nước ASEAN ký năm 2002 không tạo nhiều cơ sở để phong tỏa các điểm xây dựng lại, nhưng các nước muốn duy trì nguyên trạng vẫn có thể gửi các quan sát viên quốc tế tới để giám sát xây dựng và gây sức ép ngoại giao nhằm thuyết phục Trung Quốc dừng hành động.

Một cách nữa để thách thức chiến lược cờ vây của Trung Quốc là dùng chính chiến thuật mà nước này sử dụng. Ví dụ, bước đầu tiên, Việt Nam có thể cho phép Ấn Độ sử dụng căn cứ hải quân ở vịnh Cam Ranh và cho Mỹ sử dụng căn cứ không quân ở Đà Nẵng. Đây là hai địa điểm chiến lược nhất của Việt Nam dọc bờ biển Đông.

Nếu Trung Quốc không để ý tới thông điệp này, Việt Nam có thể tăng cường động thái ngăn chặn bằng cách cho phép quân đội Mỹ và Nhật Bản vào Cam Ranh và Đà Nẵng, từ đó hai nước có thể tuần tra biển Đông. Trên hết, nếu Trung Quốc vẫn quyết tâm biến biển Đông thành ao nhà của mình thì các nước Việt Nam, Philippines, Mỹ, Nhật và Ấn Độ cần hình thành một liên minh mạnh mẽ hòng đảo ngược lại trạng thái mất cân bằng quyền lực ấy.

Đại chiến lược của Trung Quốc ở biển Đông là một kế hoạch thâm sâu tận dụng những điểm yếu của các chiến lược dựa trên các trận đánh lớn mà điển hình là Chiến lược tác chiến không-hải mà Mỹ đưa ra nhằm vô hiệu hóa năng lực Chống tiếp cận – phong tỏa khu vực (A2AD) của Trung Quốc và Chiến lược kiểm soát tầm xa (Offshore Control), lựa chọn thay thế chủ chốt của chiến lược A2AD.

Nhưng chiến lược lấn dần này của Trung Quốc không phải là hoàn hảo. Nó có thể bị ngăn chặn nếu Mỹ, Nhật Bản, Việt Nam và các cường quốc khu vực khác chơi cờ vây điêu luyện như Trung Quốc.

* Tác giả Alexander Vuving là phó giáo sư tại Trung tâm Nghiên cứu An ninh Châu Á-Thái Bình Dương ở Honolulu (Mỹ).

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Bí mật của anh em nhà Castro


Phạm Duy Hiển


Carlos Alberto Montaner

Phạm Nguyên Trường dịch

Fidel Castro

Ngày 1 tháng 1 năm 2016, anh em nhà Castro cầm quyền ở Cuba được 57 năm. Cùng với thời gian, xuất hiện ba câu hỏi đáng quan tâm.

Thứ nhất, làm sao họ bám được vào quyền lực lâu đến như thế?

Thứ hai, nắm quyền lâu như thế là thất bại, như những người phản đối chế độ khẳng định hay là thắng lợi, như những người ủng hộ Castro nói?

Thứ ba, chuyện gì sẽ xảy ra ở Cuba sau khi họ ra đi?

Chế độ của anh em nhà Castro kéo dài được như thế là do chế độ độc tài này đã tìm cách tạo ra trong xã hội thái độ chấp nhận và vâng lời chính quyền.

Chế độ độc tài dựa trên sự nô dịch và kiểm soát dân chúng.

Nói cách khác, bí quyết nằm ở chỗ: nhà độc tài muốn nắm mãi quyền lực thì phải biến nhân dân thành một bày cừu và canh chừng chúng. Muốn thế phải có một bộ máy đàn áp đông đảo. Để làm việc đó, ở Cuba có Cục An Ninh Quốc gia với hơn 60 ngàn nhân viên.

Thực tế và kinh nghiệm hoạt động nhiều năm của KGB Liên Xô và Stasi Đông Đức, những nước vốn là cội nguồn của việc hình thành Cục An Ninh Quốc gia Cuba, thì số nhân viên an ninh không thể ít hơn 0,5% dân số cả nước.

Ở Bắc Triều Tiên cũng có chế độ tương tự như Cuba. Triều đại quân sự của Kim Nhật Thành đã tồn tại được hơn 68 năm. Người sáng lập chế độ độc tài này nắm được quyền lực năm 1948 và cai trị đất nước cho đến khi ông qua đời năm 1994. Sau đó, quyền lực được trao cho con trai là Kim Jong IL, và khi ông này chết thì được trao cho cháu của Kim Nhật Thành – Kim Jong Un.

Cục An Ninh Quốc gia Cộng hòa Dân chủ Nhân Dân Triều Tiên có 106 ngàn người, trong khi nước này chỉ có 24 triệu dân.

Bộ máy đàn áp của Cộng hòa Dân chủ Nhân Dân Triều Tiên tạo ra cái gọi là “sonbun”. Dân chúng được chia ra thành “đáng tin cậy”, “dao động” và “thù nghịch”, thay đổi địa vị là việc gần như bất khả thi.

Đáng tin cậy trước hết có nghĩa là được bảo đảm tốt hơn về lương thực thực phẩm, nhà ở tốt hơn và được sống trong những khu vực thuận lợi cùng khả năng được làm lãnh đạo thành phần “dao động” và “thù nghịch”.
Raul Castro

Không có gì ngạc nhiên khi Fidel Castro thăm Bắc Triều Tiên – theo lời kể của các nhân chứng – ông ta đã kinh ngạc trước kết quả của cuộc thí nghiệm ở đây và cho rằng phù hợp với Cuba.

Thế thì phải coi chế độ của anh em nhà Castro là thành công hay thất bại?

Nếu đánh giá từ khả năng sống sót của chế thì chắc chắn phải coi đó là thành công.

Raul Castro trở thành Bộ trưởng các lực lượng vũ trang cách mạng Cuba khi mới 28 tuổi và lúc nào cũng là nhân vật số 2 sau Fidel. Đối với ông ta và những người thân cận của ông ta, việc ở trong đỉnh cao quyền lực lâu như thế chắc chắn là thắng lợi rồi.

Trong thời gian đó, nhờ các cơ quan an ninh của mình, chế độ ở Cuba đã tăng cường được ảnh hưởng không chỉ ở Venezuela mà còn ở nhiều nước Mĩ Latin khác.

Chỉ cần nhớ lại rằng quá trình thảo luận về thiết lập hòa bình cho Colombia diễn ra ở Gavana là đủ hiểu.

Nhưng nếu xem xét mức sống của người dân Cuba và sự thịnh vượng của dân tộc thì đây là thất bại hoàn toàn.

Trong vòng ba thế hệ đã có hàng ngàn người bị tử hình, hàng chục ngàn người bất đồng chính kiến bị tù đày, hàng triệu người Cuba buộc phải lưu vong sang các nước khác.

Mô hình kinh tế Cuba không hiệu quả, lãng phí và làm nghèo đất nước. Mô hình phát triển như thế được gọi là “tự phá hoại”.

Sau 57 năm cầm quyền của anh em nhà Castro, tất cả các chỉ số của đời sống như thức ăn, nước uống, nhà ở, giao thông, liên lạc, điện, quần áo và giày dép đều xấu đi. Hiện nay có hàng ngàn người Cuba đang ở Costa-Rica để chờ giấy phép vào Mĩ.

Kết quả đáng buồn của chế độ của anh em nhà Castro ở Cuba không phải là quy luật mà chỉ là sản phẩm của thói hám quyền và tham vọng, dựa trên hệ tư tưởng Mac-xít cách mạng. Để nắm quyền lực, họ sẵn sàng giết đồng bào của mình, buộc dân chúng cả nước phải sống theo những quan niệm không tưởng của họ về công bằng xã hội. Kết quả là đất nước tan hoang.

Sẽ xảy ra chuyện gì sau khi họ ra đi?

Chẳng có gì to tát hết.

Vấn đề là khi phe nhóm của Castro chưa rút ra khỏi đời sống xã hội, khi hệ thống chủ nghĩa tư bản quân sự-nhà nước như hiện nay tiếp tục tồn tại thì sẽ chẳng có thay đổi nào hết.

Đất nước tiếp tục phải chịu cảnh: nhiều người ra đi, còn nền kinh tế thì kém hiệu quả.

Vấn đề chính là người dân Cuba không cảm thấy và không tin rằng họ có thể làm được điều gì đó. Vì vậy, Mĩ có bỏ cấm vận hay không, người du lịch có đến nhiều hay không – cũng sẽ chẳng có gì thay đổi hết.

Sẽ chẳng có gì thay đổi sau chuyến thăm Cuba của tổng thống Obama và bài diễn văn ủng hộ tự do nảy lửa của ông, cũng như đã chẳng có gì xảy ra sau chuyến thăm của Giáo hoàng – lần thứ 3 trong 20 năm qua.

Người Cuba không tin hệ thống hiện hành. Họ không tin đồng bào của mình. Họ không tin các nhà lãnh đạo, càng không tin các quan chức quan liêu, những người tiếp tục lập và thực hiện kế tập trung như cũ.

Thay đổi chỉ có thể xảy ra sau khi hệ thồng quyền lực do anh em nhà Castro lập ra bị chôn vùi.

Không thể khác được.

Nguồn: El Nuevo Herald (Mĩ)

Dịch theo bản tiếng Nga tại địa chỉ: http://inosmi.ru/country_cuba/20160106/234987884.html

Phần nhận xét hiển thị trên trang