Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Tư, 13 tháng 1, 2016

Ôtô du lịch Trung Quốc tự lái được hoạt động tại Móng Cái


Xe ô tô du lịch Trung Quốc tự lái chỉ được cấp phép hoạt động trong phạm vi thành phố Móng Cái, không bao gồm các tuyến đường tỉnh lộ, đường hành lang khu vực biên giới, không quá khu vực Km15. Theo tin từ Văn phòng Chính phủ ngày 11/1, Thủ tướng Chính phủ đồng ý UBND Quảng Ninh tổ chức thí điểm hoạt động xe ô tô du lịch tự lái giữa hai thành phố Móng Cái (Việt Nam) - Đông Hưng (Trung Quốc) qua cửa khẩu quốc tế Móng Cái. Thời gian thí điểm kéo dài một năm.
Xe ôtô du lịch tự lái Trung Quốc vào tham quan Móng Cái năm 2014. Ảnh:baoquangninh.
Phương án cấp phép hoạt động xe ô tô du lịch Trung Quốc tự lái hoạt động trong phạm vi thành phố Móng Cái sẽ do UBND tỉnh Quảng Ninh trao đổi và thống nhất với Bộ Giao thông vận tải.

UBND tỉnh Quảng Ninh cho biết, mỗi bên sẽ chỉ định một doanh nghiệp du lịch đứng ra làm đầu mối khai thác hoạt động của loại hình xe du lịch tự lái và làm thủ tục cho các phương tiện của Việt Nam và Trung Quốc khi qua lại cửa khẩu.

Về phía Quảng Ninh, công ty cổ phần du lịch và dịch vụ Hồng Gai là đầu mối thí điểm thực hiện. Phía Trung Quốc là công ty du lịch quốc tế Vận Đức (Quảng Tây).

Xe du lịch tự lái là loại phương tiện cá nhân có từ 9 chỗ ngồi trở xuống; xe du lịch tự lái phải đi theo đoàn; chỉ được hoạt động trong phạm vi thành phố Móng Cái, Việt Nam. Tại thành phố Đông Hưng, phạm vi hoạt động do Trung Quốc quy định.

Xe du lịch tự lái phải chấp hành Luật Giao thông đường bộ Việt Nam; xe du lịch vi phạm sẽ bị xử lý theo pháp luật Việt Nam hoặc các Hiệp định, Nghị định thư, điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia hoặc ký kết.

http://dulich.vnexpress.net/tin-tuc/viet-nam/oto-du-lich-trung-quoc-tu-lai-duoc-hoat-dong-tai-mong-cai-3341153.html

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trung Quốc đang dần dần “thoát Mao”

NGÀY 7/1 VỪA QUA, BỨC TƯỢNG KHỔNG LỒ LỚN NHẤT CỦA ÔNG MAO TRẠCH ĐÔNG Ở TỈNH HÀ NAM – TRUNG QUỐC BỊ PHÁ BỎ SAU KHI VỪA HOÀN THÀNH ĐƯỢC 3 NGÀY. NHIỀU NGƯỜI SUY ĐOÁN ĐÂY LÀ DO LỆNH CỦA LÃNH ĐẠO Ở TRUNG NAM HẢI.

ĐCS Trung Quốc, Trung Quốc, thoát Mao, tập cập bình, Mao Trạch Đông,
Có phân tích cho rằng sự kiện này là biểu hiện bất thường về chính trị, cho thấy xu thế “thoát Mao” đang ngày càng nổi rõ trong xã hội Trung Quốc.
ĐCS Trung Quốc, Trung Quốc, thoát Mao, tập cập bình, Mao Trạch Đông,
(Ảnh: Tân Đường Nhân)
Bài này điểm lại một vài sự kiện liên quan đã diễn ra trong năm 2015 vừa qua.

Những biểu hiện “thoát Mao” trong năm 2015
Trong năm 2015, hàng loạt tín hiệu “thoát Mao” diễn ra rộng khắp trong xã hội Trung Quốc, từ hệ thống chính quyền đến học giới cũng như trong dân chúng.
Vào tháng 3/2015, trong thời gian diễn ra Đại hội đại biểu Nhân dân toàn quốc và Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc, con của ông Vạn Lý (1916 – 2015, nguyên lão của Đảng Cộng sản Trung Quốc) khi trả lời phỏng vấn báo chí đã cho biết, vào năm ông Vạn Lý gần 100 tuổi đã từng lên tiếng cho rằng, thời cơ đánh giá lại về ông Mao Trạch Đông đang ngày càng chín mùi.
Tháng 4/2015, ông Tất Phúc Kiếm (毕福剑 – Bi Fujian) người phụ trách chương trình “Đêm hội mùa xuân” của Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc đã nói nhạo “Mao Trạch Đông là người làm khổ nhân dân Trung Quốc,” video sau đó thành điểm nóng chia sẻ trên mạng. Nhiều người đã lên tiếng cho rằng nguyên nhân vì ông ta đã nói đúng tâm nguyện của người dân Trung Quốc.
Cho dù sau đó nhà đài đã cho tạm dừng công việc của ông Tất Phúc Kiếm, nhưng vào ngày 28/12/2015 vừa qua, truyền thông Trung Quốc lại đưa tin ông Tất Phúc Kiếm sẽ tái nhậm chức tiếp tục chương trình làm việc của mình trong chương trình xuân năm 2016. Có phân tích cho rằng chính quyền Bắc Kinh đã thay đổi thái độ đối với những vấn đề liên quan đến ông Mao Trạch Đông.
Truyền thông ngoài Trung Quốc cũng phát hiện nhiều hiện tượng “thoát Mao” trong năm qua. Vào tháng 10 và tháng 11, báo mạng Tài Tân (được cho là trang của phe cánh ông Tập Cận Bình) lần lượt cho đăng tải các bài viết phủ định về Cách mạng Văn hóa, đó là bài “Đặng Tiểu Bình và sự tiến bộ của Trung Quốc” và “Tại sao cần một Ủy ban nghiêm túc?”
Trung tuần tháng 12/2015, ông Vu Ấu Quân (于幼军 –  Yu Youjun), Giáo sư Đại học Trung Sơn đã tổ chức nhiều buổi tọa đàm “Nhận định lại về Đại Cách mạng Văn hóa”; vào ngày 25 sau đó, báo mạng Tài Tân lại có bài viết “Kẻ mê muội và ma quỷ ở Trung Quốc” để chỉ ra những sai lầm khủng khiếp trong Cách mạng Văn hóa. Có phân tích cho rằng, nếu không có sự đồng thuận của những lãnh đạo đứng đầu ĐCSTQ thì những bài viết táo bạo này không thể xuất hiện được.
Ngoài ra, năm 2015 vừa qua, ông Tập Cận Bình cũng làm lễ kỷ niệm sinh nhật cho ông Hồ Diệu Bang, một “phản đồ” của Cách mạng Văn hóa; đồng thời cũng xét lại vụ án Cao Cương (Gaogang – 高岗) bị ông Mao Trạch Đông kết án. Những sự kiện này cho thấy ông Tập Cận Bình đang có những bước đi “thoát Mao.”
Những nghiên cứu mới về ông Mao Trạch Đông
Tháng 9/2015, nhà sử học nổi tiếng Tân Hạo Niên có buổi diễn giảng tại Melbourne (Úc) và đã chia sẻ thông tin nghiên cứu mới, theo đó ông kết luận trong 8 năm kháng chiến của ĐCSTQ dưới sự lãnh đạo của ông Mao Trạch Đông thì 1 năm kháng chiến tiêu cực, còn 7 năm là tập trung đánh quân đội Quốc Dân đảng. Ông Mao Trạch Đông đã dùng những thủ đoạn xấu xa để cướp được quyền lực và thống trị Trung Quốc.
Giáo sư Tân Hạo Niên chỉ ra, ông Mao Trạch Đông là trùm Hán gian, còn Phan Hán Niên (潘汉年) là kẻ thi hành nhiệm vụ. Kết luận của Giáo sư Tân Hạo Niên vừa khớp với kết luận của học giả Endo người Nhật Bản trong cuốn sách mới «Mao Trạch Đông trong âm mưu của người Nhật». Cuốn sách chỉ ra, có hai đặc vụ của ĐCSTQ làm nhiệm vụ tiếp xúc với người Nhật, một trong đó là Phan Hán Niên, người được xem là “Đảng viên ưu tú và trung thành của ĐCSTQ.”
Có thế thấy ngày càng nhiều thông tin xấu trong xu thế nhìn lại về con người Mao Trạch Đông hiện nay. Năm 2016 là tròn 50 năm nổ ra Cách mạng Văn hóa, cũng là 40 năm kết thúc Cách mạng Văn hóa, nhân dịp này ngoại giới cho rằng Bắc Kinh cần có kiến giải cụ thể nhìn thẳng vào sự thật lịch sử.
Theo daikynguyenvn.com

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Để xem "trực giác" của ông bác sĩ này "khám bệnh" có đúng không nha?

NGƯỜI ĐÀN ÔNG CÓ BỘ MẶT CƯỜI

BS Hồ Hải

Bài đọc liên quan:
+ Chuyện đông, chuyện Tây và chuyện nước Việt
+ Kẻ sỹ giữa đám bần nông

Tôi vẫn nói với vợ rằng, thủ tướng mà lên nắm đầu thiên hạ ở xứ Việt và chọn ra một bộ sậu làm theo ông thì chắc chắn đất nước này sẽ cất cánh vì ông có 2 cái mà những lãnh đạo Việt cộng xưa nay không có:

1. Bộ mặt cười của ông sẽ làm mọi việc cam go của nước Việt từ hung thành kiết và từ tối tăm thành sáng sủa.

2. Ông có phúc lớn can qua chiến tranh mà không chết, thì không ai trong số kẻ thù ông đủ phúc để triệt hạ ông. Và ông cũng đủ phúc để gánh 90 triệu cộng nghiệp vượt qua bão tố.

Vận nước và vận người luôn song hành, trước khi phúc đến họa phải đến, nên ông bà bảo, họa vô đơn chí mà phúc bất trùng lai.

Từ sau nhà Nguyễn sụp đổ Pháp vào dân tộc này phải trả nghiệp diệt chủng Chiêm Thành. Giờ đến tận đáy và người gánh nghiệp cũng họa đến trùng trùng. Vượt qua họa trùng trùng thì mới đủ phúc đẩy cộng nghiệp ra ánh mặt trời. Đó là Nguyên lý của sự dịch chuyển - còn gọi là Dịch Lý. Rất khoa học chứ không phải mê tín.

Vận nước đi, vận người đảo điên để tạo thế, tạo thời rồi mới có sức bật. Đảng cộng sản đã hết thời, cần phúc của một con người lớn mới đi lên. Sự dịch chuyển nào cũng cần thời gian và tích tụ mọi yếu tố mới chuyển được. Không thể vội, mà cần có thời gian.

Cách đây 3 năm một số doanh nhân hỏi tôi, tương lai ai sẽ làm đất nước tươi sáng. Tôi không ngần ngại trả lời: ông Nguyễn Tấn Dũng!

Hôm kia, 11/3/2016, khi Hội nghị trung ương 14 bắt đầu, thằng bạn già nó gọi điện thoại hỏi tôi, liệu kỳ này ông Nguyễn Tấn Dũng có bị hạ đài không? Tôi tự tin trả lời:

Không!

Tôi không thiên vị ai, và cũng chưa bao giờ tin người cộng sản nào, và chả biết nịnh ai bao giờ, nhưng tôi tin vào trực giác thiên phú của tôi và những quy luật tự nhiên và xã hội học không thể nào sai.

Sài Gòn, 18h03', ngày thứ Tư, 13/01/2016

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Án tử hình oan và làn sóng cải cách luật pháp ở Trung Quốc (phần 2 và hết)



Nguyễn Huyền Trang 
– Các bản án oan sai cho thấy nhiều lỗ hổng trong hệ thống pháp lý của Trung Quốc, từ việc dùng cực hình, bức cung nghi can, đến việc sử dụng pháp luật làm công cụ trả đũa luật sư biện hộ, đến sự thiếu độc lập và vô tư trong hoạt động xét xử giữa ba bên điều tra, công tố và tòa án. Luật Khoa tạp chí xin giới thiệu phần cuối báo cáo về cải cách tư pháp ở Trung Quốc: Những bài học từ các vụ án oan sai.
Để khắc phục những sai sót dẫn đến các vụ án oan sai, Trung Quốc cần hướng đến một giải pháp cải cách pháp lý toàn diện, thúc đẩy hệ thống tranh tụng thay thế cho hệ thống tố tụng và minh bạch hóa hoạt động điều tra, xét xử.
Cải cách toàn diện hệ thống pháp lý
Trung Quốc cần một hướng tiếp cận toàn diện để đặt dấu chấm hết cho lề lối làm việc truyền thống. Đất nước này cần cải cách toàn bộ hoạt động tố tụng hình sự bởi việc đưa ra các biện pháp ngăn ngừa tình trạng kết án oan sai sẽ là bất khả nếu như cải cách hoạt động tố tụng hình sự không đi liền với cải cách toàn bộ hệ thống pháp lý.
Trước hết, cần có một sự chuyển đổi giá trị trong các cuộc cải cách pháp lý của Trung Quốc. Thay vì tập trung vào mục đích trấn áp, kiểm soát tội phạm, cải cách pháp lý ở đất nước này cần hướng đến sự cân bằng giữa mục đích duy trì trật tự xã hội và bảo vệ quyền cũng như lợi ích hợp pháp của các bên có liên quan. Văn hóa trấn áp, kiểm soát tội phạm là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng mô hình tranh tụng chưa phát huy được hiệu quả trên thực tế, dù đã được đưa vào luật từ năm 1996.
Ngoài ra, như có thể thấy qua các vụ án oan sai ở Trung Quốc, một nguyên nhân khiến người vô tội phải nhận án oan là hoạt động điều tra, xét xử thường được thực hiện trên giả định có tội thay vì vô tội. Vì giả định có tội, nên lực lượng điều tra tìm mọi phương cách để thu thập chứng cứ có lợi cho hướng điều tra của mình, bất kể phương cách đó vi phạm pháp luật. Cả She Xianglin và Zhao Zouhai đều bị dùng cực hình – họ bị thẩm vấn liên tục suốt một thời gian dài, không được nghỉ ngơi, không được ăn uống đủ, thậm chí bị đánh đập, hăm dọa. Cũng vì giả định có tội, nên các thẩm phán có xu hướng “thà giết nhầm còn hơn bỏ sót”, sẵn sàng kết án người vô tội, thay vì tuyên trắng án khi vụ án xuất hiện những dấu hiệu đáng ngờ.
Có nhiều ý kiến cho rằng trở ngại lớn nhất mà Trung Quốc phải đối mặt không phải là đưa ra các điều luật mới, mà là ở việc triển khai các điều luật đó. Vì vậy, để các cải cách pháp lý phát huy hiệu quả, những động cơ khiến cơ quan điều tra, công tố và tòa án tập trung vào mục tiêu đạt được tỷ lệ phá án, xử án cao phải được loại bỏ. Thực thi công lý cần phải là mục tiêu cao nhất trong công tác điều tra, xét xử.
Bức ảnh nổi tiếng của Reuteurs: Một tử tù nữ, người Quảng Châu, gào thét trước giờ hành hình.
Bức ảnh nổi tiếng của Reuteurs: Một tử tù nữ, người Quảng Châu, gào thét trước giờ hành hình.
Xây dựng hệ thống pháp lý minh bạch, độc lập
Không chỉ giúp khôi phục niềm tin của người dân vào hệ thống pháp lý, tăng cường tính minh bạch còn là điều kiện cần để tránh tình trạng xử oan người vô tội. Ngoài ra, minh bạch hóa hoạt động điều tra, xét xử cũng cho phép giám sát toàn hệ thống pháp lý một cách hiệu quả và rộng khắp, từ đó tránh được tình trạng lạm dụng chức quyền từ phía các nhà chức trách.
Như có thể thấy, một dấu hỏi nổi bật hẳn lên trong các vụ án oan sai là những lời phản cung của bị can tại tòa. Trong vụ Zhao Zhouhai, Zhao đã nhận tội tất cả 9 lần. Nhưng sau mỗi lần kết thúc thẩm vấn, Zhao đều phản cung và cho biết đã bị tra tấn cho đến khi chịu nhận tội. Để tránh tình trạng bức cung, việc ghi hình các phiên thẩm vấn và phát lại băng hình thẩm vấn như một chứng cứ phục vụ xét xử là cần thiết.
Tiến trình minh bạch hóa cũng cần được thúc đẩy qua việc tăng cường hơn nữa vai trò của luật sư biện hộ trong thủ tục tái thẩm án tử hình. Làn sóng cải cách pháp lý năm 2010 của Trung Quốc được đánh dấu bằng sự kiện Tòa án Nhân dân Tối cao khôi phục quyền tái thẩm các bản án tử hình. Tuy nhiên, thủ tục tái thẩm vẫn còn thô sơ và nhiều thiếu sót. Các tòa tái thẩm thường được tổ chức kín, thiếu hẳn thông tin từ phía biện hộ. Vì vậy, để hạn chế nguy cơ xảy ra án oan, các luật sư cần được tham gia và thực hiện vai trò biện hộ trong các phiên tòa tái thẩm.
Mối quan hệ khăng khít của cơ quan điều tra, công tố và tòa án, và sự lệ thuộc của các cơ quan này vào ủy ban nội chính cũng là một yếu tố khác làm tăng nguy cơ xảy ra án oan sai ở Trung Quốc. Từ lâu, mối quan hệ giữa cơ quan điều tra, công tố và tòa án đã được ví như ba chân kiềng, tuần tự và phối hợp cùng nhau trong hoạt động trấn áp, kiểm soát tội phạm. Thiếu sự kiểm tra và cân bằng, các cơ quan này không thể thực hiện tốt vai trò bảo vệ công lý, và thường đứng về cùng một phe trong cuộc chiến pháp lý với bị can và luật sư biện hộ.
Sự can thiệp của các ủy ban nội chính vào tiến trình tố tụng cũng đặt ra sức ép, buộc các cơ quan điều tra, công tố và tòa án phải phá án, xử án nhanh.Nếu không có áp lực từ ban nội chính địa phương, rất có thể She Xianglin sẽ không phải ngồi tù suốt cả chục năm. Nhiều nhân chứng lương tâm nhìn thấy vợ She bỏ đi, thậm chí có người đã giúp vợ She bắt đầu cuộc sống mới ở nơi khác, tuy nhiên tình tiết này không được cơ quan xét xử xem là chứng cứ của vụ án. Hệ thống pháp lý giống như một chiếc băng chuyền lắp ráp sản phẩm, và áp lực từ các ủy ban nội chính là nguồn thúc chiếc băng chuyền đó phải chạy thật nhanh để đi đến phán quyết, bất kể có những dấu hiệu cho thấy bị cáo có thể là người vô tội.
Các lỗ hổng pháp lý đưa đến nhiều hệ lụy, và việc kết án, thi hành án tử hình oan là hệ lụy mà người ta không thể sửa sai hay làm lại. Ngay cả khi những khuyến nghị cải cách trên được thực hiện, các bản án oan sai vẫn là một thực tế khó tránh. Vì vậy, xóa bỏ hoàn toàn án tử hình là tiến trình cần sớm được triển khai. Trong đó, những việc cần làm ngay trước mắt là hoãn thi hành các bản án tử hình đã tuyên và ngừng áp khung hình phạt tử hình, thay bằng hình phạt chung thân.
Lược dịch và tham khảo từ bài viết Death Penalty Reforms in China: Lessons from Wrongful Convictions? của tác giả JIANG Na và Trial in China Tests Limits of Legal System Reform (New York Times, 2011). 

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Án tử hình oan và làn sóng cải cách luật pháp ở Trung Quốc


Nguyễn Huyền Trang – Ngoài sự yếu kém về pháp lý, các yếu tố chính trị, văn hóa cũng là những chướng ngại cản trở sự phát triển hệ thống tranh tụng ở Trung Quốc, khiến hệ thống tranh tụng ở nước này không những không thỏa được các yêu cầu quốc tế, mà còn đi ngược lại với các tiêu chí của một “phiên tòa xét xử công bằng”. Luật Khoa tạp chí xin giới thiệu phần tiếp theo của một báo cáo dài về cải cách tư pháp ở Trung Quốc, liên quan đến vấn đề án tử hình: Những chướng ngại đẩy lùi cải cách.
Mặc dù hệ thống tư pháp Trung Quốc đã có nhiều cải cách, song con đường đi tới một hệ thống tranh tụng hiệu quả để không còn những án oan như vụ She Xianglin hay Zhao Zouhai của đất nước này vẫn còn những chặng dài phía trước. Các làn sóng cải cách đưa vào mô hình tố tụng tranh tụng, song lại thiếu các quy định pháp lý bảo vệ hệ thống này. Vì vậy, hoạt động tranh tụng trong các phiên tòa hình sự, bao gồm cả những phiên tòa kết án tử hình, không được thực hiện đúng thủ tục.
Các trở ngại pháp lý từ Bộ luật Hình sự
Tuy có nhiều điểm mới, nhưng có lẽ Bộ luật Tố tụng Hình sự 2012 của Trung Quốc sẽ không hiệu quả hơn Bộ luật Tố tụng Hình sự 1996 là bao trong việc ngăn chặn và sửa chữa các bản án oan sai. Bộ luật này còn nhiều lỗ hổng. Chẳng hạn, các quy định mới nghiêm cấm sử dụng các chứng cứ thiếu căn cứ tại các tòa hình sự thiếu rõ ràng, và có thể bị những thẩm phán sẵn định kiến vô hiệu hóa. Các điều luật phạt những luật sư biện hộ hăng hái bảo vệ thân chủ cũng chưa được xóa bỏ. Những bù đắp về tinh thần và vật chất cho người bị kết án oan còn rất hạn chế. Ngoài ra, vẫn chưa có sự bảo vệ hiến định và luật định nào đối với quyền im lặng hoặc nguyên tắc suy đoán vô tội – hai điều kiện đảm bảo loại trừ được những chứng cứ phi pháp. Hoạt động kiểm tra và cân đối quyền lực giữa các bên tòa án, công tố và cảnh sát còn nhiều thiếu sót và thường không được triển khai. Nguyên nhân gốc rễ của tất cả những lỗ hổng trên là ba yếu tố “truyền thống” đang tồn tại trong hệ thống tư pháp Trung Quốc. Cụ thể đó là:
  • Truyền thống giả định có tội khi xét xử
  • Cấu trúc quyền lực thiếu cân đối truyền thống giữa bên biện hộ và bên công tố
  • Thái độ miễn cưỡng của các thẩm phán khi phải từ bỏ hệ thống tố tụng truyền thống – thẩm vấn
Chừng nào thực tế trên còn tồn tại, cuộc chuyển đổi sang hệ thống tố tụng tranh tụng bảo vệ quyền của bị cáo ở Trung Quốc sẽ là bất khả.
Nie Shubin bị tử hình năm 21 tuổi vì tội “hiếp dâm, giết người”. 10 năm sau (2005), thủ phạm thật của vụ án bị bắt và đã thú tội. Trong ảnh là mẹ Nie Shubin khóc ngất trên mộ con. Nguồn ảnh: China.org.cn
Nie Shubin bị tử hình năm 21 tuổi vì tội “hiếp dâm, giết người”. 10 năm sau (2005), thủ phạm thật của vụ án bị bắt và đã thú tội. Trong ảnh là mẹ Nie Shubin khóc ngất trên mộ con. Nguồn ảnh: China.org.cn
Một nguyên nhân khác nữa là dù vai trò biện hộ đã được tăng cường qua các lần cải cách pháp lý, song trên thực tế vai trò củng cố này tồn tại chủ yếu là trên giấy tờ. Các luật sư biện hộ dễ bị khép vào tội “làm giả chứng cứ” theo Điều 306 Bộ luật Tố tụng Hình sự 1996, theo đó các luật sư không được “ép hoặc xúi giục nhân chứng” thay đổi lời khai. Với ngôn ngữ mơ hồ, quá trình triển khai thiếu tin cậy và dấu hiệu vi phạm nhân quyền, điều luật này được cho là một trở ngại pháp lý đối với tiến trình xây dựng hệ thống tố tụng tranh tụng ở Trung Quốc. Không chỉ dừng lại đó, nó cũng dễ trở thành một vũ khí trong tay các nhà chức trách để trả thù những luật sư biện hộ thực hiện tốt vai trò đại diện pháp lý. Luật sư biện hộ có thể bị bỏ tù vì “khai man và cản trở công lý” khi “hướng dẫn nhân chứng nói dối” như trong vụ luật sư Li Zhuang [1], trong khi bộ luật lại thiếu các điều khoản hình sự hóa sai sót nghiệp vụ của các nhà chức trách.
Mặc dù rất ít luật sư bị buộc tội theo Điều 306 phải ngồi tù, song bản án dành cho Li Zhuang cho thấy “sự mục nát đáng báo động của môi trường dành cho các luật sư trong hoạt động xét xử hình sự”. Những diễn biến sau cùng của vụ Li quả thật đã khiến việc đại diện cho các can phạm trong giai đoạn trước xét xử trở nên khó khăn hơn, đồng thời khiến sự bất cân đối quyền lực giữa luật sư biện hộ và các cơ quan chấp pháp thêm trầm trọng.
Ảnh hưởng chính trị: Sự can thiệp từ đảng Cộng sản
Một trở ngại khác là ảnh hưởng chính trị không mong muốn lên hoạt động xét xử và kết án trong các vụ án hình sự. Dưới hệ thống tư pháp và chính trị hiện tại, đảng Cộng sản và các cơ quan chính phủ ở Trung Quốc có thể can thiệp vào các phiên tòa hình sự, và có thể gây áp lực chính trị kết án tử hình, như có thể thấy trong nhiều vụ án oan được phát hiện gần đây. Ảnh hưởng này tất yếu dẫn đến những nghi ngờ về tính hiệu quả của các cuộc cải cách pháp lý mà Trung Quốc tiến hành trong thời gian qua.
Tệ hơn nữa, hệ thống thực thi công lý của Trung Quốc vẫn tồn tại tình trạng tham nhũng và chịu sự can thiệp chính trị mạnh mẽ. Lực lượng điều tra, công tố và tòa án không hoạt động độc lập và đều chịu sự giám sát của đời sống chính trị và các ủy ban tư pháp của đảng Cộng sản. Trên thực tế, các yếu tố ngoài luật luôn có những ảnh hưởng thái quá lên việc triển khai các điều luật có liên quan do “tính quanh co của quá trình phát triển pháp lý ở Trung Quốc”. Do đó, nhiều vấn đề pháp lý của Trung Quốc không thể được giải quyết bằng phương tiện pháp lý, mà phải bằng các tính toán chính trị.
Can thiệp chính trị phá vỡ cấu trúc tam giác cần có giữa thẩm phán, công tố và biện hộ, trong đó mỗi bên lẽ ra đều có vai trò riêng để đảm bảo công lý được thực hiện. Các vụ xét xử hình sự bị biến thành một dạng dây chuyền lắp rắp, với cảnh sát ở đầu vào, công tố ở đầu tiếp theo và thẩm phán án ngữ đầu ra, và hậu quả là bất công. Đầu vào ban đầu thường là những lời khai bị ép buộc. Tình hình càng tệ thêm bởi áp lực từ ban Nội chính, ép cho ra một bản tuyên án có tội ngay cả khi bị cáo vô tội và án phạt là tử hình. Thậm chí, kể cả khi có những dấu hiệu đáng ngờ, các quan chức cũng sẽ đưa ra một bản án tử hình nhưng hoãn thi hành án, thay vì tuyên trắng án, để lập thành tích duy trì tỷ lệ phá án cao, hay đúng hơn là tỷ lệ phá án tuyệt đối.
Tóm lại, với việc các ủy ban đảng vẫn nắm quyền chi phối mọi khía cạnh trong đời sống chính trị và pháp lý của người dân, vai trò của luật sư trong các vụ án hình sự ở Trung Quốc chỉ có thể được cải thiện, khi Đảng Cộng sản nước này thể hiện  ý chí và cam kết xây dựng một nhà nước pháp trị thật sự.
Năm 2013, tử tù Wu Changlong (phải) được trả tự do sau 12 năm ngồi tù chờ thi hành án tử vì bị kết tội khủng bố. Nguồn ảnh: caixin.com
Năm 2013, tử tù Wu Changlong (phải) được trả tự do sau 12 năm ngồi tù chờ thi hành án tử vì bị kết tội khủng bố. Nguồn ảnh: caixin.com
Nguyên nhân văn hóa: Kiểm soát tội phạm hay bảo vệ nhân quyền?
Sau thất bại của Bộ luật Tố tụng Hình sự 1996 trong việc đạt được sự cân bằng giữa mong muốn kiểm soát tội phạm và mong muốn bảo vệ các quyền của nghi can, Bộ luật Tố tụng Hình sự 2012 và các cơ chế pháp lý khác cũng đang có nguy cơ gặp phải những trở ngại văn hóa tương tự trong quá trình triển khai.
Với truyền thống đặt ổn định xã hội và giá trị của hoạt động kiểm soát tội phạm là ưu tiên hàng đầu, các nhà chức trách Trung Quốc có thể cảm thấy cần chú trọng đến mục đích kiểm soát tội phạm, và do đó chủ ý hạn chế quyền lực của luật sư trong hoạt động tố tụng. Ngoài ra, với văn hóa Khổng giáo và ý thức hệ xã hội chủ nghĩa luôn đặt lợi ích tập thể lên trước lợi ích cá nhân, các luật sư thường được yêu cầu phải trung thành với mục đích xã hội và đặt lợi ích của xã hội lên trước.
Nhằm cân bằng giữa mục đích kiểm soát tội phạm và mục đích bảo vệ nhân quyền, Bộ luật Tố tụng Hình sự 1997 bắt đầu đặt những viên gạch đầu tiên xây dựng mô hình tố tụng tranh tụng với hy vọng cải thiện tính hiệu quả của các luật sư trong hoạt động bảo vệ quyền của các bị can, và điều chỉnh lại vai trò của các bên tại tòa, trong đó đại diện tư pháp đóng vai trò như một người phân xử độc lập và trung lập giữa công tố và biện hộ.
Tuy nhiên, có thể thấy rõ mục đích kiểm soát tội phạm vẫn chi phối mạnh mẽ hoạt động tố tụng ở Trung Quốc, hay nói cách khác lý tưởng kiểm soát tội phạm vẫn còn rất mạnh mẽ trong não trạng của các cơ quan chấp pháp nước này. Các phiên tòa vẫn tập trung vào mục đích kiểm soát tội phạm, và cảnh sát cũng như công tố vẫn thích áp dụng các hình thức cáo buộc. Chịu ảnh hưởng từ truyền thống đó, các nhà điều tra có xu hướng thu thập chứng cứ trọng yếu bằng bất kỳ phương tiện nào dù là trái luật, như tra tấn, đánh đập và các hình thức phi pháp khác. Trong vụ She Xianlin và Zhao Zhohai, cả hai đều bị dùng cực hình cho đến khi chịu nhận tội. Thậm chí trong vụ Zhao, vợ của anh cũng bị đánh cho đến khi chịu cung khai có lợi cho hướng điều tra của cảnh sát. Rõ ràng, mục tiêu của chiến dịch chống tội phạm không chỉ dừng lại ở bị cáo, mà còn chuyển hướng sang người thân của bị cao, hay luật sư biện hộ, như trong vụ Li Zhuang.
Để hạn chế những trường hợp oan sai dưới hệ thống tranh tụng chưa hoàn thiện, Bộ luật Tố tụng Hình sự 2012 đã cải cách hơn nữa cách thức thực thi công lý của ba cơ quan thông qua việc củng cố mô hình tranh tụng để bảo vệ hơn nữa quyền con người cho phía biện bộ. Mặc dù những vụ án được xét xử sau khi bộ luật này có hiệu lực chưa đủ để đưa đến kết luận thế hệ lãnh đạo mới ở Trung Quốc nghiêm túc đến đâu với kế hoạch cải cách có ý nghĩa, song các vụ oan sai trong quá khứ quả thật cho thấy tầm quan trọng của việc thúc đẩy văn hóa nhân quyền thay cho văn hóa kiểm soát tội phạm.
———-
[1] Li Zhuang là luật sư biện hộ cho Meng Ying trong một phiên tòa xét xử băng nhóm tội phạm có tội chứng năm 2008. Theo cáo buộc của công tố, Li Zhuang đã hướng dẫn Xu Lijun, nhân chứng của vụ án, thay đổi lời khai. Trong phiên tòa, Li Zuang khẳng định anh không can thiệp vào quyết định đưa ra lời khai của Xu Lijun. Vụ Li là một chỉ báo cho thấy những thiếu sót trong các cải cách pháp lý của Trung Quốc và kéo cuộc cải cách của nước này tụt lùi 30 năm, theo nhận định của He Weifang, giáo sư luật học đại học Peking (New York Times, 2011).
Lược dịch và tham khảo từ bài viết Death Penalty Reforms in China: Lessons from Wrongful Convictions? của tác giả JIANG Na và Trial in China Tests Limits of Legal System Reform (New York Times, 2011).
Kỳ sau: Những bài học để lại cho nền tư pháp

Phần nhận xét hiển thị trên trang

TẠ PHONG TẦN ĐÃ RÚT TÊN KHỎI CLB "NHÀ BÁO TỰ DO"






Hoa Xuân
Tranh thủ lúc rảnh lang thang trên các trang mạng thấy thông tin "Tạ Phong Tần đã tuyên bố rút tên khỏi câu lạc bộ nhà báo tự do và có đưa ra lý do cảm thấy mình không phù hợp với cách làm việc của CLB Nhà báo tự vào lúc 11 giờ 30 phút giờ Califonia - ngày 28/11/2015". Tạ Phong Tần được biết đến là một trong những kẻ gắn kết với CLB này từ khá lâu và có khá nhiều bài viết nói xấu, sai sự thật về tình hình đất nước, xuyên tạc chủ trương đường lối chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Thật sự lý do khiến Tạ Phong Tần từ bỏ câu lạc bộ nhà báo tự do ở đây là gì?

Có thể nói qua về sự ra đời CLB Nhà báo tự do, được thành lập vào năm 2001 do Lê Xuân Lập (công tác tại BáoThanh tra Chính phủ, đại diện ở TP.HCM) sáng lập, sau nhiều năm xin Hội nhà báo Việt Nam và Thủ tướng Chính phủ nhưng không được cho phép thành lập. Ngày 19.9.2007, Lê Xuân Lập và nhiều đối tượng khác (trong đó có Nguyễn Văn Hải - hay Điếu Cày) hẹn gặp nhau tại một quán cà phê ở TP.Biên Hòa (Đồng Nai) để thành lập “Câu lạc bộ nhà báo tự do”, thiết kế blog do Lập làm chủ nhiệm. Sau đó, với bản chất lật lọng, lừa bịp Nguyễn Văn Hải tự động thay mật khẩu mới để nắm giữ, quản lý blog, đăng bài viết với tiêu chí không phù hợp nên ông Lập không tham gia nữa. Lúc này, Nguyễn Văn Hải tập hợp thêm Phan Thanh Hải (blogger Anhbasaigon) và Tạ Phong Tần (blogger Sự thật và công lý) cùng tham gia. Với bản chất của những kẻ dân chủ dởm chuyên đi xuyên tạc, làm loạn và kích động nhân dân gây rối xã hội thì Tạ Phong Tần, Nguyễn Văn Hải và Phan Thanh Hải đã sử dụng ngòi bút đê hèn của mình để tuyên truyền chống chính quyền Nhân dân trên trang của câu lạc bộ nhà báo tự do và cả trên blog riêng của mình. Kết quả cho những kẻ nói sai sự thật, xuyên tạc tình hình đất nước là cả 3 kẻ này đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo tội danh được quy định tại Đ 88 - BLHS.
Khi theo được chân Điếu Cày sang Mỹ, Tạ Phong Tần còn hùng hồn rằng: “Tôi rất lấy làm vinh dự được nhận một biểu tượng linh thiêng của chính nghĩa tự do. Lá cờ này đã đại diện cho sự tranh đấu cho dân chủ, tự do của người dân miền Nam trong quá khứ và vẫn tiếp tục nuôi dưỡng cuộc đấu tranh cho tự do và nhân quyền ngày nay”. Hành vị nhận giặc làm cha giúp cho mọi người càng hiểu rõ bản chất xấu xa, lật mặt của Tạ Phong Tần.
Trước đây, Trần Khải Thanh Thủy cũng như Tạ Phong Tần vì thành tích làm tay sai cho ngoại bang để phá hoại đất nước và lừa bịp nhân dân mà được Mỹ cho 01 vé sang định cư. Chính vì điều đấy mà Việt Tân đã nhanh chóng kết nạp Trần Khải Thanh Thủy này vào quỹ đạo của họ ngay kẻo mất một con mồi sáng giá. Thế nhưng khi sang được Mỹ, Thủy đã hiểu được cái bản chất khủng bố, xấu xa của Việt Tân nên đã vạch mặt chúng với nhân dân và Việt Tân đã phải sa thải bà như ném một nùi giẻ không thể tái dụng vào thùng rác...

Tôi thấy rằng sự việc Tạ Phong Tần rút tên khỏi cái CLB kia là điều sớm muộn mà thôi. Những kẻ cộm cán của CLB Nhà báo tự do đã đều nếm trải cảm giác “mặc áo đội bóng Juventus” như thế nào ở Việt Nam đã có phần nhụt chí sau khi bị trục xuất. Mặt khác, việc đưa tin, viết bài nếu không sống trên lãnh thổ Việt Nam thì khó có thể viết sát với những gì diễn ra trong nước. Do đó, các bài đều được nặn ra khi ngồi trong phòng kín với bốn bức tường ở hải ngoại nên nội dung của nó thường “nhạt toẹt” và thậm chí còn phản chủ.

Bên cạnh đó, còn phải kể đến các lý do khác như: Tạ Phong Tần không muốn bị đối xử như Nguyễn Văn Hải ở hải ngoại hiện nay nên đã nhanh chóng rút chân ra khỏi cái câu lạc bộ này. Bên cạnh đó, câu lạc bộ nhà báo tự do cũng chỉ hoạt động cầm chừng do vi phạm pháp luật Việt Nam. Việc Tạ Phong Tần tuyên bố từ bỏ câu lạc bộ nhà báo tự do cũng đồng nghĩa với việc câu lạc bộ này không còn sức để tồn tại vì các lý do trên và có thể sẽ giải tán nay mai.
Tôi nghĩ rằng Tạ Phong Tần cũng sẽ giống kết cục của những kẻ trước đây mà thôi (như Nguyễn Văn Hải, Cù Huy Hà Vũ…). Tạ Phong Tần sẽ sơm bị cô lập và tẩy chay một cách nhục nhã như tấm rẻ bị vứt đi mà thôi.hỉ một thời gian ngắn nữa thôi bà lại bị tẩy chay một cách đau đớn, khi “hết hạn sử dụng” chúng lại coi như những con vật, sống bằng thừa trên đất hải ngoại. Sự lạc lõng, cô đơn của Nguyễn Văn Hải, Cù Huy Hà Vũ,… hiện nay cũng chính là hình ảnh của Tạ Phong Tần sau vài tháng nữa.
Đây là một trong những kết cục của những kẻ núp những điều tốt đẹp (đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền, tôn giáo...) để tiến hành các hoạt động lừa bịp, kích động nhân dân, làm tay sai cho ngoại bang gây rối xã hội, phá hoại đất nước. Chúng chắc chắn sẽ không có kết cục tốt đẹp nào đâu./.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Khinh dân, ắt sẽ phải trả giá



Ngọc Việt
Giáo dục VN
13/01/16 06:05

(GDVN) - Một khi nhân dân bị gạt ra ngoài lề của lịch sử thì không những đất nước sẽ rơi vào bế tắc, xung đột, mà đối với lực lượng cầm quyền cũng phải trả giá.

Cuộc nội chiến tại Cộng hòa Yemen đang là một điểm nóng tại Trung Đông và đã trở thành con bài cho những toan tính chính trị của các quốc gia khác. Nó không còn là sự tranh giành quyền lực giữa các lực lượng và các đảng phái trên chính trường nước này.

Chính phủ Yemen không thể thực hiện chủ quyền quốc gia cũng như không thể bảo vệ cuộc sống và sinh mạng của người dân Yemen được nữa.

Một điều nguy hại trong cuộc nội chiến tại Yemen hiện nay là, người ta không thể xác định được đâu là hành động chính nghĩa, đâu là hành động phi nghĩa vì không xác định được đâu là lực lượng đại diện cho lợi ích của người dân và dân tộc Yemen.

Chính phủ Yemen từ lâu đã không còn là chính thể đại diện cho người dân, cho đất nước này. Còn lực lượng phiến quân Houthi đại diện cho người Zaidi theo dòng Hồi giáo Shiite ở cực bắc Yemen, chiếm khoảng 1/3 dân số Yemen thì bị xem là quân phản loạn, theo Al Jazeera, ngày 6/2/2015.

Cảnh tan hoang của đất nước Yemen bởi nội chiến. Ảnh: AP.

Cũng nên nhờ lại rằng, năm 1990 cả thế giới chứng kiến sự thống nhất của bốn quốc gia: Cộng hòa Liên bang Đức (Tây Đức) hợp nhất với Cộng hòa Dân chủ Đức (Đông Đức); Cộng hòa Ả Rập Yemen (Bắc Yemen) hợp nhất với Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Yemen (Nam Yemen) hình thành nên hai nhà nước là Cộng hòa Liên bang Đức và Cộng hòa Yemen. 


Tuy nhiên, cho đến nay thì chỉ có sự thống nhất của hai nước Đức là đáp ứng được ý nguyện của người dân Đức, còn việc thống nhất hai nước Yemen đã đưa cuộc sống của người dân Yemen ngập chìm trong khó khăn và lửa đạn của nội chiến, theo BBC ngày 12/7/2007.

Tại sao khi sự chia cách đất nước chấm dứt thì lại hình thành nên sự ngăn cách trong xã hội như vậy?

Khi người dân bị gạt ra ngoài lề lịch sử dân tộc

Đã một phần tư thế kỷ trôi qua, đến giờ này người ta có thể nhận thấy rằng việc thống nhất Yemen chưa phải là yêu cầu cấp bách và cũng chưa phải là mong muốn của toàn dân tộc Yemen. Nghĩa là việc thống nhất Yemen diễn ra một cách gượng ép, chưa đúng thời điểm lịch sử. Tại sao lại nói như vậy?

Xét về cơ sở pháp lý thì không hề có một hiệp ước hay thỏa thuận nào mà nội dung hay mục đích của nó gây nên sự chia cắt Bắc và Nam Yemen. Hàng trăm năm dưới sự cai trị của thực dân, đế quốc, người dân hai miền đứng lên giành độc lập và giành chính quyền theo hai cách thức hoàn toàn khác nhau và thành lập nên hai chính thể khác biệt.

Lịch sử ghi nhận việc hình thành nên hai chế độ chính trị ở hai miền Nam Bắc Yemen là hoàn toàn độc lập với nhau, không có sức ép hoặc sự vi phạm bất kỳ thỏa thuận hay nguyên tắc nào.

Do vậy, không có việc đấu tranh cho sự thống nhất Yemen là mục đích thi hành hoặc xóa bỏ những thỏa ước hay những cam kết chính trị trước khi hai nhà nước ra đời, theo Reuters ngày 22/1/2010.

Xét về tình hình thực tế, việc thống nhất không hoàn toàn là ý nguyện của người dân ở cả hai miền, mà rào cản chính là sự khác biệt lâu đời về chính trị và nhất là sự chênh lệch về tiềm lực kinh tế.

Trước khi thống nhất, tiềm lực kinh tế của Bắc Yemen lớn hơn nhiều so với Nam Yemen, thu nhập và mức sống của người dân miền Bắc cao hơn nhiều so với miền Nam.

Vì vậy, việc quyết định thống nhất chỉ là ý muốn chủ quan của giới chính trị nắm quyền điều hành hai nhà nước ở Yemen lúc đó. Bắc Yemen được điều hành bởi chính phủ của vị Tổng thống trẻ tuổi Ali Abdullah Saleh nhưng quyền lực không mạnh vì chính quyền không được sự ủng hộ của phần đồng người dân.

Đất nước Yemen hỗn loạn trong bạo lực. Ảnh: AP.

Còn Nam Yemen thì chính quyền do Ali Salim al-Beidh đứng đầu, nhưng có nguy cơ bị lật đổ bởi làn gió của Cải tổ và Công khai đã lật nhào chính quyền ở hầu hết các quốc gia Đông Âu, những nước tài trợ chính cho chế độ tại Nam Yemen, theo Time ngày 9/1/1989.

Thế là lực lượng nắm quyền hai nhà nước tại Yemen nhận thấy, việc thống nhất là cần cho việc đảm bảo lợi ích của họ. Và việc thống nhất Yemen được giới chính trị định đoạt vào năm 1990.

Theo lịch sử các học thuyết chính trị, việc chia tách hay sát nhập có liên quan đến chủ quyền quốc gia và lợi ích dân tộc, thì nhân dân phải là người quyết định vì họ là chủ thể của lịch sử dân tộc.

Và nếu thuận theo chiều của lịch sử thì ở cả hai miền Nam Bắc Yemen phải tổ chức trưng cầu dân ý để người dân thể hiện ý nguyện và để họ tự viết nên lịch sử cho tổ quốc mình.

Tuy nhiên, một sự việc trọng đại như thế và ảnh hưởng đến quyền lợi của cả dân tộc như vậy mà chỉ là sự thỏa thuận giữa hai chính quyền rồi bỏ phiếu thông qua quyết định tại cơ quan đại diện quyền lực là Quốc hội hai nước.

Điều đó cho thấy trong sự kiện này, nhân dân Yemen không được xem là chủ thể lịch sử. Đây như là một cuộc hôn phối thiên lệch, khiên cưỡng, từ đó khởi nguồn cho những mâu thuẫn nội tại và ngày càng diễn ra gay gắt.

Về mặt chính trị, vì là công dân một quốc gia nên người dân Yemen phải miễn cưỡng chấp nhận cuộc trưng cầu dân ý cho Hiến pháp của một quốc gia thống nhất vào năm 1991 – chuyện thống nhất đất nước trở thành việc đã rồi.

Nhưng về lợi ích thì họ mâu thuẫn với nhau ngay từ khi sáp nhập, theo tài liệu của Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF, năm 2001. Và xung đột xã hội tại Yemen bắt đầu từ đó.

Trong khi đó, chính quyền nhà nước Yemen thống nhất lại không có những giải pháp căn cơ để kiến thiết đất nước, đáp ứng yêu cầu cuộc sống của người dân Yemen và chính quyền cũng không phải là trung tâm hòa giải dân tộc mà lại bị cuốn theo lợi ích đảng phái, tôn giáo và sắc tộc. Vì vậy nội chiến tại Yemen đã nổ ra.

Nội bộ tương tàn, ngoại bang xâu xé. Tương lai Yemen mịt mù trong lửa đạn

Từ năm 1994, nghĩa là chỉ bốn năm sau ngày thống nhất, chính quyền nhà nước Yemen thống nhất đã chĩa súng vào chính người dân đất nước mình. Máu của nhân dân Yemen đã đổ nhưng không phải để nhuốm lên màu cờ của Tổ quốc.

Máu đổ vì những toan tính và lợi ích chính trị của lực lượng cầm quyền, những người mà với nhân dân Yemen không còn là đại diện cho lợi ích của quốc gia, dân tộc nữa.

Cho đến nay, khi mà những con người tự viết nên lịch sử của đất nước Yemen một cách duy ý chí đã bị đánh bật khỏi chiếc ghế quyền lực, hay đã bỏ chạy tháo thân, thì nỗi khổ của người dân Yemen lại còn nặng nề hợn bởi sự xâu xé của ngoại bang, mà người ta lại đang hành động dưới danh nghĩa vì nhân dân Yemen, vì đất nước Yemen.

Hiện nay, hàng ngày người dân Yemen chỉ nghe thấy tiếng đạn pháo và những tuyên bố về việc chính quyền nhà nước Yemen phải được phục hồi. Nhưng với người dân Yemen, nhà nước đó đâu phải của họ, chính quyền đó đâu có đại diện cho ý nguyện của họ?

Vì vậy người dân Yemen trở thành đích ngắm của đạn pháo vì họ đấu tranh với ngay cái chính quyền mà người ta yêu cầu phải được bảo vệ. 

Đất nước Yemen mịt mù trong lửa đạn. Anh: The Telegraph.

Sinh mạng và lợi ích của người dân Yemen lúc này hoàn toàn phụ thuộc vào những lực lượng, những tổ chức, những quốc gia xem Yemen là nơi tranh giành sự ảnh hưởng và khẳng định sức mạnh. Người dân Yemen đang ngã xuống không phải vì nền độc lập cho tổ quốc mình mà để trả giá cho những toan tính của những người xa lạ.

Chính quyền Yemen – lực lượng phải bỏ quyền lực chạy tháo thân - đang được sự hậu thuẫn của Saudi Arabia, nhằm phục vụ cho mộng “bá chủ Trung Đông” của quốc gia này.

Còn phiến quân Houthi thì được xem là có sự đỡ đầu của Iran – đối trọng của Saudi Arabia trong việc khẳng định sức mạnh vả ảnh hưởng tại vùng đất nóng Trung Đông đầy bạo lực, theo Reuters ngày 25/3/2015.

Như thế, đất nước Yemen vốn tồn tại trong xung đột và mâu thuẫn xã hội, nay lại là nơi người ta trút giận bởi mâu thuẫn giữa các quốc gia. Người dân và đất nước Yemen đã trở thành những con rối cho người ta sử dụng trong những toan tính thấp hèn, và trở thành nạn nhân của những hành động hết sức tàn nhẫn.

Đói khát và chết chóc là những gì người dân Yemen đang phải đối mặt hàng ngày. Được sống trong một đất nước hòa bình, được sống một cuộc sống thanh bình có lẽ đã trở thành thứ xa xỉ nhất ngay trong cả giấc mơ của họ.

Và có lẽ ước vọng não nề nhất của người dân Yemen lúc này là, bao giờ cho đến ngày xưa. 

The Telegraph ngày 11/1 vừa qua cho biết, vào ngày Chủ Nhật một quả tên lửa đã rơi vào một bệnh viện của tổ chức Bác sĩ không biên giới (MSF) ở Yemen giết chết ít nhất bốn người. Bà Raquel Ayora, Giám đốc điều hành của MSF đã lên tiếng:

“Chúng tôi lên án mạnh mẽ vụ việc này. Đây là một kiểu tấn công đáng lo ngại vào các dịch vụ y tế thiết yếu. Chúng tôi bày tỏ sự phẫn nộ mạnh mẽ nhất của chúng tôi. Một lần nữa cho thấy chỉ dân thường phải chịu đựng gánh nặng của cuộc chiến này".

Đây là hậu quả của những toan tính thiển cận và ích kỷ của chính quyền hai miền Bắc Nam Yemen khi quyết định thống nhất hai nhà nước, hai chế độ mà không dựa trên thực tế đất nước cũng như khát vọng của người dân. Bây giờ thì họ đã bất lực, để cho người dân Yemen phải nhận lãnh mọi hậu quả do những sự thiển cận ấy gây ra.

Cuộc nội chiến tại Yemen như một lời cảnh báo hữu hiệu cho những chính quyền tại các quốc gia trên thế giới, nếu không xem ý nguyện nhân dân là nền tảng của quyền lực, nếu không xem nhân nhân là nhân tố duy nhất viết nên lịch sử dân tộc thì hậu quả sẽ khôn lường.

Một khi nhân dân bị gạt ra ngoài lề của lịch sử thì không những đất nước sẽ rơi vào bế tắc, xung đột, mà đối với lực lượng cầm quyền cũng phải trả giá khi quyền lực bị tước bỏ, gia thế bị nguyền rủa và có nguy cơ trở thành kẻ thủ của dân tộc mình trong hiện tại và trong cả tương lai.

Ngọc Việt

Phần nhận xét hiển thị trên trang