Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 28 tháng 12, 2015

những quyển tiểu thuyết xã hội rút ruột rủ rê nhau đi mua sắm

cuối năm
những quyển tiểu thuyết xã hội rút ruột rủ rê nhau đi mua sắm
cố tạm quên đi một lúc
những nếp gấp, và
điệu buồn phương nam
phố xá loè loẹt sắc màu
tân cổ giao duyên
cây đờn kìm ngồi nhà một hình một
bóng già nua ngắm nghía cái bìa
sách rỗng ruột
 
mấy chiếc màn hình bầu bĩnh cắm đầu nguệch ngoạc dăm minh hoạ
hoặc giả tập tễnh đồ hoạ một đôi giày người lớn
hoặc giả đặt bày pha màu
bằng những thỏi son acrylic
selfie một chân dung
nửa góc cạnh tiểu thuyết nửa ca cổ ước lệ
 
nhâm nhi chung trà chát ngắt kỷ niệm
áo sờn vai lim dim hình dung
từng trang sách lỏng bỏng trong ký ức
[không gian bên trong nhoè nhoẹt
rượu bia mồi miếc tụ ba năm
thời gian bên trong nhão nhoét
xung khắc dằn vặt nhàu nát chuyện tình!]
có trang còn nguyên nét nguệch ngoạc bản thảo đầu tay
những con chữ phượng rồng tinh khiết vị hạnh ngộ ban đầu
có trang còn phảng phất mùi mực in đầu đời
hạnh phúc dí dỏm thú vị
lại có trang đầy toan tính bất trắc
co giằng dăm nếp gấp vội
quanh co lòn lách con chữ
phai, mờ theo mưa, nắng
thăng trầm ý chính
mất, hút góc sách
tưa, rách rệu rã tư duy
về một kết thúc
câu chuyện dài tình cảm tiểu thuyết xã hội
bỏ quên một góc
cuối năm
 
*
 
cuối năm
những quyển tiểu thuyết xã hội rút ruột rủ rê nhau đi mua sắm
phố xá tân cổ
giao duyên loè loẹt sắc màu
cây đờn kìm một bóng một hình
ngồi nhà
tích tịch tình tang hai sợi dây lòng
thòng ca cổ
thê nhi & sông núi.
 

Phần nhận xét hiển thị trên trang

CON CÁ GỖ





Khi biến cố 30 tháng 4 năm 1975 xảy ra tại Việt Nam, nó được mười ba tuổi. Gia đình nó có có chín người, gồm ba mẹ và bảy anh em nó. Chính phủ thay đổi nên ba nó bị mất việc làm, gia đình nó không có một nguồn thu nhập nào. Một hôm mẹ nó mua một bao gạo hai mươi ký bằng tem phiếu mang về. Một bao gạo tròn, hôi mùi mốc, toàn sâu và mọt. Mẹ nó đổ gạo ra trước hiên nhà, dùng sàng để sàng cho sạch sâu và mọt. Những con sâu gạo mập úc núc, trắng phau bò lổn ngổn khắp nơi. Ban đầu nó sợ lắm, hét toáng lên, không dám đến gần, nhưng mẹ nó bảo: “Đừng sợ, giúp mẹ nhặt những con sâu, bỏ vào bị nilông rồi đem liệng vào thùng rác, đừng phí một hạt gạo nào vì gạo là những hạt ngọc quý giá của trời đất.”
Nó lấy hết can đảm, lượm những cục gạo bị sâu nhả tơ làm thành kén, rũ cho rớt những hạt gạo vào thùng gạo, lấy ở chính giữa ra một con sâu bọc trong kén chuẩn bị biến thành bướm. Và những con mọt thì nhiều vô số, bò tứ tán rất nhanh. Mọt đục những hạt gạo chui vào nằm chính giữa. Chọn những hạt gạo có màu xám đen, bên trong là một con mọt, nó bấm cho vỡ hạt gạo lấy con mọt ra rồi giữ lại hạt gạo vỡ kia. Nó giúp mẹ nó làm sạch gạo, quét dọn và bắt hết những con sâu, những con mọt, thế mà sau đó vài tuần, trong nhà nó có một đám bướm đêm nhỏ xíu màu xam xám bay loanh quanh. Mẹ nó bảo bướm đêm này là từ những con sâu gạo. Từ đó nó không còn sợ sâu nữa.
Chỉ có bấy nhiêu gạo và một ít đậu đen, mẹ nó mua thêm khoai lang khô bảo nó nấu mỗi ngày một ít, để có đủ thức ăn cho gia đình trong vòng sáu tháng. Những bếp dầu hôi (còn được gọi là lò xô) được xếp vào xó bếp, thay vào đó là một chiếc lò mùn cưa và một lò trấu.
Gần nhà nó có một nhà máy xay lúa và một nhà máy cưa gỗ. Mỗi buổi chiều, nó cùng với đứa em trai bảy tuổi, xách hai cái bao đến lò xay lúa để xin trấu và qua nhà máy cưa để xin mạt cưa. Nấu ăn bằng trấu thì bị khói nhiều, hơn nữa phải mất thời gian ngồi bên cạnh lò để canh và gạt tro nên nó thích nấu ăn bằng mạt cưa hơn. Chỉ khi nào không xin được mạt cưa, nó mới nấu ăn bằng trấu. Mỗi ngày, nó thức dậy sớm, dệnh một lò mạt cưa để hầm khoai lang khô với muối cho cả nhà ăn sáng và ăn trưa. Mỗi người được một chén khoai lang khô đã hầm chín, muốn ăn lúc nào tuỳ thích, miễn là giúp cho mình không bị đói. Chị em nó thường ăn một miếng khoai rồi uống một ngụm nước, chỉ cần nửa chén khoai là đủ no cho buổi ăn sáng, nửa chén còn lại chị em nó để dành ăn trưa.
Sau khi hầm khoai, lửa trong lò mạt cưa đủ để nó tiếp tục hầm một nồi cháo đậu đen. Cháo chín, nó múc vào chín cái chén nhỏ, đặt ngay ngắn trên bàn để cả nhà ăn tối. Vừa làm việc nhà, nó thường hát nghêu ngao. Bị cấm không được hát ‘nhạc vàng’, nó bắt đầu tập hát cho thuộc lời những bài hát ‘cách mạng’. Ba nó đi đâu về nghe nó hát nhạc ‘cách mạng’ thì thường bảo: “Đừng hát nữa. Những bài hát đó có hay ho gì đâu, chỉ toàn là chuyện sắt máu và ‘bánh vẽ’ mà thôi.” Nó nghe vậy liền im lặng tuy không hiểu.
Trước kia, buổi ăn tối của gia đình nó cũng là lúc cả nhà quây quần trò chuyện với nhau. Bữa ăn tối thường kéo dài hơn một tiếng đồng hồ. Ba nó luôn bắt đầu bằng một câu chuyện triết lý gì đó, rồi mẹ và các anh nó tham gia vào bàn luận. Ba nó là một người rất dân chủ, ông luôn nghe vợ và các con phát biểu ý kiến rồi cùng nhau bàn bạc để tìm ra cốt lõi của vấn đề hoặc những điều hay lẽ phải, chứ không hề đặt để hoặc cả quyết về một vấn đề nào cả. Nó và các em nhỏ chỉ lắng nghe và học hỏi. Anh lớn của nó thường kể những câu chuyện vui, cả nhà luôn cười vui trong bữa ăn. Mẹ nó thường nấu ba bốn món thức ăn khác nhau, và chúng nó được lựa chọn thức ăn mình ưa thích để gắp vào chén. Người lớn thì thường giúp vẽ cá cho những đứa trẻ để chúng khỏi bị hóc xương.
Từ khi bữa ăn tối của gia đình chỉ còn có cháo đậu đen, câu chuyện ba nó bắt đầu thường là một câu chuyện buồn gì đó xảy ra trong ngày, hoặc ba mẹ và các anh nó bàn bạc với nhau về công việc gì có thể làm để kiếm gạo. Mỗi người chỉ có một chén cháo nhỏ với một cái muỗng, chỉ cần vài phút là hết chén cháo, ai nấy cũng thòm thèm và bụng vẫn còn đói. Bữa ăn tối thường kết thúc nhanh chóng và thiếu tiếng cười.
Trong một bữa ăn tối, anh lớn của nó lấy ra một con cá gỗ, đặt vào một cái đĩa rồi để giữa bàn. Anh nói: “Từ hôm nay nhà mình sẽ có món cá muối ăn với cháo. Mỗi lần múc một muỗng cháo đưa vào miệng thì nhìn vào con cá một lần. Những đứa nhỏ thì phải nhìn kỹ và nhìn cẩn thận để không bị hóc xương.” Cả nhà cười ồ lên vì câu chuyện con cá gỗ đã được nghe anh nó kể trước kia như là một câu truyện cười, vậy mà bây giờ gia đình nó cũng bắt đầu thực hiện phương pháp ‘cá gỗ’. Thế là từ đó, bữa ăn tối nhà nó lại kéo dài thêm ra với những câu chuyện và những trận cười vì có đứa nhỏ bị phát hiện là ‘nhìn cá lâu quá nên bị ăn mặn’, hoặc ‘nhìn cá nhanh quá nên bị hóc xương’.

*

Bốn mươi năm trôi qua, đất nước nó giờ đây vẫn còn rất nhiều người dùng con ‘cá gỗ’ kia trong bữa ăn. Và giờ đây nó khôn lớn để hiểu được từ ‘bánh vẽ’ mà ba nó nói hồi đó. Có vô số các hội từ thiện trên thế giới đang tiếp tục cứu giúp dân trên đất nước nó. Nó rất xót xa và buồn tủi cho thân phận người dân Việt Nam. Cho đến khi nào mọi người dân của đất nước nó mới thoát khỏi cuộc sống khốn khổ?

01/2015




Phần nhận xét hiển thị trên trang

Hết phim!

Trung Quốc “mua đứt” Zimbabwe giá 40 triệu USD
Kể từ ngày 1/1/2016, Zimbabwe sẽ chuyển sang dùng đồng Nhân dân tệ của Trung Quốc trong các giao dịch. Để đổi lại, Bắc Kinh sẽ xóa món nợ 40 triệu USD cho quốc gia nghèo nhất châu Phi này.
.
Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (trái) và Tổng thống Zimbabwe Robert Mugabe 
trong chuyến thăm Zimbabwe của ông Tập tháng 11/2015

Ngày 22/12, Tổng thống Zimbabwe, Robert Mugabe, thông báo như trên đồng thời khẳng định việc sử dụng đồng Nhân dân tệ làm đồng tiền trao đổi sẽ tạo điều kiện cho việc bơm tiền mặt vào thị trường và tạo đà tiến cho nền kinh tế đang bị khủng hoảng. Trước đó Bộ trưởng Tài chính nước này, ông Patrick Chinamasa, thông báo Bắc Kinh sẽ xóa món nợ đến kỳ hạn phải trả trong năm 2015.


Trung Quốc là đối tác thương mại hàng đầu của Zimbabwe, nước bị các đối tác phương Tây tẩy chay vì vi phạm nhân quyền. Tổng thống Mugabe, 91 tuổi, cầm quyền từ năm 1980 đến nay, quyết định quay sang phương Đông. Hồi đầu tháng 1/20152, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã chính thức đến thăm Harare – sự kiện hiếm hoi tại quốc gia châu Phi này.

Kinh tế Zimbabwe bị rơi vào khủng hoảng từ 15 năm qua, và một cuộc cải cách ruộng đất bị nhiều chỉ trích đã tác hại đến nông nghiệp, dẫn tới siêu lạm phát và thất nghiệp tăng vọt.

Năm 2009, Zimbabwe đã ngưng lưu hành đồng tiền của nước mình do đồng tiền quốc gia đã trở nên vô dụng vì tình trạng siêu lạm phát lên đến 500 tỉ phần trăm. Nhiều ngoại tệ khác đã sử dụng để thay thế như đôla Mỹ, đồng rand của Nam Phi.

Iraj Abedian, kinh tế trưởng Cơ quan tư vấn đầu tư Pan African Investments and Research Service nhận xét, chưa có quốc gia nào sử dụng đồng Nhân dân tệ làm đồng tiền giao dịch thứ nhì của đất nước. Đây là thành công tiếp theo của Trung Quốc trong việc quốc tế hóa đồng Nhân dân tệ.

Mới đây, ngày 1/12, Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) quyết định đưa đồng Nhân dân tệ của Trung Quốc vào rổ tiền tệ quốc tế, sánh ngang cùng đôla Mỹ, Euro, Bảng Anh và Yên Nhật.

Đây là lần đầu tiên các thành phần của SDR thay đổi kể từ năm 1999, khi euro thay thế Mark Đức và Franc Pháp trong rổ này. Quyết định của IMF cũng là một bước ngoặt lớn đối với vị thế của đồng NDT trên thị trường tài chính quốc tế. “Thêm NDT vào SDR là dấu hiệu rõ ràng nhất cho thấy Trung Quốc đã và sẽ tiếp tục triển khai nhiều biện pháp cải cách”- Giám đốc IMF nói.

Tuy nhiên, theo nhận xét của giới chuyên môn, việc đưa đồng NDT vào rổ tiền tệ quốc tế sẽ không thay đổi diện mạo thị trường tài chính quốc tế vì đồng tiền của Trung Quốc hiện chỉ chiếm một vị trí thứ yếu: đồng NDT chỉ chiếm 2,5% các giao dịch quốc tế, trong khi yên Nhật chiếm 3%, euro chiếm 29% và USD là 43%.

Nh.Thạch
Nguồn: Theo Le Monde
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Bạo lực xã hội – hệ quả tất yếu của một nền văn hóa không có nền tảng?



Nguyễn Thị Bích Ngà (Ngà Voi)

Sáng qua, vừa mở máy lên, đập vào mắt tôi là một video clip do một chị bạn chia sẻ về cùng những dòng văn chị viết thể hiện sự đau đớn của chị cho văn hóa dân tộc. Những con chữ, những dấu chấm hỏi ám ảnh.
Video clip dài khoảng 6 phút, quay cảnh một đám đông trung và thanh niên bắt trói, đánh đập và lôi đi diễu phố hai vợ chồng trên dưới 70 tuổi vì bắt quả tang họ móc túi. Họ bị dong trên phố cho đến khi họ gặp được một người công an viên của xã còng tay, đưa lên xe máy chở đi. Suốt quãng đường khoảng 100m, hai vợ chồng ông bà già bị trói, trật chân, không có bất kỳ khả năng tự vệ nào nữa đã bị những thanh niên, trung niên đánh đập bằng tay chân, bằng mũ bảo hiểm. Người vợ rất nhiều lần bị một người đàn ông dùng dép tổ ong đánh rất mạnh vào mặt kèm theo những lời chửi bới. Những tiếng nói của đám đông ồn ào xung quanh cổ vũ, những giọng cười khơ khớ, hả hê của vài thanh niên nào đó.. Tất cả tạo nên một màn bạo lực không rùng rợn kinh hoàng vì không có máu đổ đầu rơi nhưng nó làm tôi nấc nghẹn, trái tim ngừng đập, lỗi nhịp trong tích tắc.
Tôi nhớ về những video clip tôi xem trước đây không lâu về những vụ việc người dân bắt, đánh, giết chết người trộm chó ở các vùng miền đất nước. Những chiếc xe, những người trộm chó bị cả làng đốt cháy. Những thân thể bị đánh nằm thoi thóp không được đưa đi cấp cứu vì bị dân làng ngăn chặn, kể cả khi người nhà của người trộm chó đã đến van xin. Lực lượng chức năng cũng không làm gì được. Những người dân làng hiền lành đã cố tình đánh đập, để cho đồng loại hấp hối và chết từ từ trước mắt mình nhằm thỏa mãn chút ấm ức bị dồn nén.
Tôi cũng nhớ nhiều video clip quay cảnh các em học sinh đánh nhau. Các học sinh nữ đánh, xé áo, làm nhục nhau chỉ để quay clip tung lên mạng. Rồi lại có những video clip cảnh các em đánh hội đồng một em khác, không chỉ một hai cái mà kéo dài, có chủ đích, có tính toán. Tàn tệ hơn, có những clip các em trai xông vào đập, đá, đánh bằng tay chân, bằng ghế túi bụi lên đầu, lên người một em nữ một cách không thương tiếc, không chút nương tay. Tất cả các clip đều kèm theo đó tiếng cười của “người đánh”. Sự hả hê hiện lên từng khuôn mặt non trẻ. Các em coi đó là một thành tích, một chiến thắng, một cái để khoe, để thể hiện mình.
Rồi đó tôi thấy cảnh trẻ em phải bỏ học, phải theo ba mẹ đi khiếu kiện lang thang đói lạnh. Tôi thắt ruột khi thấy các con phải cầm những biểu ngữ, băng rôn đòi đất, đòi quyền được đi học. Tôi ôm các con vào lòng nhưng tôi luôn lảng tránh ánh mắt nhìn đau đáu và trưởng thành quá sớm của các con. Rồi tôi thấy những ngày này, trẻ em Ninh Hiệp bỏ học, cầm cờ đỏ, đánh trống, cùng ba mẹ đến trụ sở cơ quan công quyền và trường học để phản đối chính quyền trong việc thu hồi đất đai. Ai, tại sao, nguyên nhân nào đẩy trẻ em phải tham gia cùng người lớn trong những việc đấu tranh?
Việc trẻ em Ninh Hiệp, Gia Lâm, Hà Nội bỏ học cùng ba mẹ đấu tranh lại làm bùng lên làn sóng tranh cãi hầu như không có điểm kết từ trước đến giờ. Những bài viết, những tranh cãi, phản biện qua lại giữa hai phe: Ủng hộ bạo lực và phản đối bạo lực. Họ nhục mạ, tàn sát lẫn nhau thông qua con chữ một cách không thương tiếc nhân danh sự văn minh, hiểu biết.
Khi đi tìm nguyên nhân của những hỗn loạn, bạo lực, trí nhớ của tôi ngụp lặn trong vũng lầy văn học mà tôi được học và được đọc về những “thiếu niên anh hùng Lê Văn Tám, Võ Thị Sáu” và những nhân vật “thằng Mừng, Lượm, Quỳnh…” mà theo nhiều người nói là phỏng tác theo các nhân vật có thật, trong tác phẩm mà triệu triệu trẻ em được ba mẹ mua cho đọc, là sách gối đầu giường, “Tuổi thơ dữ dội” của Phùng Quán. Và xa hơn, kìa là tuổi thơ tôi, câu chuyện cổ tích dân gian “Tấm Cám” mẹ kể hằng đêm với cô Tấm trải qua nhiều khổ nạn, sau khi thoát ra, có cơ hội liền lập tức trả thù bằng cách lừa cô Cám nhảy vào nồi nước nóng và sau khi cô Cám chết, cô Tấm lấy xác cô Cám đem làm mắm gởi cho mẹ Cám ăn. Thạch Sanh tha cho mẹ con Lý Thông nhưng dân gian bắt mẹ con Lý Thông phải chết khi cho sét đánh. “Kẻ ác phải đền tội”, “Ác giả ác báo” là sợi dây xuyên suốt trong hầu hết các mẫu truyện dân gian cổ tích lẫn cận hiện đại “Trạng chết Chúa cũng băng hà”.
Tôi nhận ra, các giá trị nhân bản, yêu thương, nhân ái… thực sự có tồn tại, nhưng các giá trị đó chỉ tồn tại, không phải là các thực thể sống và sinh sôi phát triển trong dòng chảy định hình tính cách, văn hóa dân tộc.
Trí nhớ đi rong, bắt tôi bước chân vào những trang tư liệu lịch sử, nơi xảy ra những cuộc đấu tố làm phá vỡ nền tảng văn hóa, bứt đứt các sợi dây liên kết xóm làng, nghiền nát các giá trị nhân bản, xổ toẹt vào tình yêu thương con người với con người nhân danh đấu tranh giai cấp. Ở đó, con người buộc con người phải lột bỏ tất cả các lớp vỏ, chỉ còn lại mỗi bản năng mãnh liệt nhất: sống còn. Vì sống còn, con cái nguyền rủa cha mẹ, để những ông bà phải gọi trẻ con bằng “ông bà” và những con người từ người lớn đến những đứa trẻ con sung sướng vinh dự hả hê vì được gọi “bẩm ông bà bần cố nông!”. Mọi giá trị bị đảo lộn từ trên xuống dưới, từ phải sang trái.
Tình yêu vốn đã quá mong manh trong cái nền văn hóa “ác giả ác báo” đã bị “đấu tranh giai cấp” thời hiện đại xé toạc. Tình yêu tơi tả thành những sợi bụi bay lượn trong thinh không, hiếm có cơ hội kết dính. Người ta nhân danh tình yêu để “giải phóng,” để gây ra chiến tranh và thù hận để rồi qua hơn nửa cuộc đời vẫn không thể hàn gắn, hòa hợp dân tộc. Thực tế chứng minh, nhân danh tình yêu con người gây ra khổ đau cho nhau gấp trăm ngàn lần nhân danh sự thù hận.
Tôi rùng mình bứt thoát mình khỏi miền suy tư. Tôi bắt gặp ở hiện tại những lập luận “mục đích biện minh cho hành động” đầy rẫy trên những trang viết, lời nói từ anh nông dân cho đến anh chị trí thức, từ những ông bảo thủ cho đến người cấp tiến trong cộng đồng người Việt trong nước, ngoài nước. Các tính xấu, sự vô cảm ngày càng lấn át trong xã hội. Tôi thấy sự đánh tráo các giá trị khi con người không thể phân biệt giữa đúng và sai.
Tôi thấy sự mâu thuẫn nội tại trong tôi, trong anh chị, trong tất cả người Việt khi không thể giải quyết được việc tự giải thoát mình khỏi các giá trị, tư tưởng xưa cũ để tiếp thu các giá trị, tư tưởng mới. Tôi thấy một xã hội hỗn loạn, muốn bứt phá nhưng không tìm được đường thoát nên bị dồn nén đến mức chật chội, bức bối làm cho những con người trong cái bong bóng xã hội đó luôn phải lao vào nhau, va chạm nhau, tiêu diệt lẫn nhau trong một cuộc chiến quyết liệt, thay vì tìm lối thoát. Đó là quy trình giằng xé, mâu thuẫn tất yếu mà dân tộc nào cũng phải trải qua để bước vào một thời kỳ mới.
Ở các dân tộc khác, việc này diễn ra khá nhanh. Ở dân tộc Việt, chịu ảnh hưởng bốn ngàn năm văn minh lúa nước, làng xã co cụm, việc tiếp thu cái mới luôn chậm chạp và mang tính bài trừ, bảo thủ, nên quá trình này mất quá nhiều thời gian của cả đất nước. Tính ỳ dân tộc ngày càng cao và bây giờ thì cao hơn lúc nào hết.
Tôi cảm nhận có điều gì đó không đúng, có cái gì đó sai, nhưng những dòng chữ tôi viết trên đây vẫn chưa thể định hình được một cách rõ ràng, bởi tôi, suy cho cùng, chỉ là một chủ thể nhỏ bé bị quăng quật, va đập, nhào nặn, hình thành và chết dần mỗi ngày trong cái nền văn hóa đã và đang chết dần đó.
Với suy nghĩ nhỏ bé của mình, tôi luôn nghĩ, tình yêu, nhân bản, sự cảm thông, thấu hiểu là những giá trị cơ bản tạo nên nền tảng vững chắc cho một xã hội phát triển. Ở xã hội Việt Nam, khi và chỉ khi những hạt bụi yêu thương có đủ nội lực để có thể kết nối được vào nhau và đủ lớn để tạo thành một mạng lưới vô hình nhưng lại rất cụ thể để xây dựng nền tảng thì lúc đó xã hội này mới có thể hồi sinh và sống đúng nghĩa.
24/12/2015

Phần nhận xét hiển thị trên trang

“Càn khôn bĩ rồi lại thái / Nhật nguyệt hối rồi lại minh”


GS Tươgng Lai

“Càn khôn bĩ rồi lại thái / Nhật nguyệt hối rồi lại minh” (Mênh mông thế sự 24)

Tương Lai
Đó là quy luật vận động của thế giới, thế giới tự nhiên, thế giới con người mà Nguyễn Trãi đã vận dụng nhằm khẳng định bản lĩnh dân tộc trước những thách đố nghiệt ngã với niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh của con người Việt Nam.
Càn Khôn là hai quẻ trong Kinh Dịch. Bĩ cũng vậy, chỉ sự bế tắc, còn Thái là quẻ thứ 11, chỉ sự hanh thông. Từ điển Nho Phật Đạo do NXB Văn học ấn hành năm 2001 thì giải thích thêm: “quốc gia tốt đẹp hanh thông là nhờ vào sự hài hoà của vua tôi trăm họ” (tr.1317) sau khi đưa ra kiến giải “do Càn Khôn đại biểu cho hai lực lượng, tính chất, tác dụng và sự vật đối lập trong vũ trụ, vì vậy ý nghĩa tượng trưng của chúng là rất phong phú, vừa tượng trưng cho trời đất, vừa tượng trưng cho sự vật đối lập và thống nhất… cho nên nó thường được để gọi thay cho “thế giới”” (tr.141).
Nguyễn Trãi dẫn ra quy luật này để kết thúc cho áng “kim cổ hùng văn” Bình Ngô đại cáo viết năm 1428 sau khi đánh tan quân xâm lược nhà Minh để “Xa gần bá cáo, Ai nấy đều hay”. Nhắc lại quy luật chung muôn đời, anh hùng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới Nguyễn Trãi không quên trang trọng nói đến truyền thống dân tộc được hun đúc từ khí thiêng sông núi mà ông cha ta bao đời gìn giữ: “Ngàn năm vết nhục nhã sạch làu. Muôn thuở nền thái bình vững chắc. Âu cũng nhờ trời đất tổ tông linh thiêng đã lặng thầm phù trợ”.
Mời gọi đến anh linh Nguyễn Trãi vào lúc này chính là viện dẫn đến những trang hào hùng và bi thương của lịch sử dân tộc mà ông là một chứng nhân sống động nhất để một lần nữa xác lập điểm quy chiếu trong đoán định chính tà, đạo đức và tài năng, những giá trị cốt lõi trong hệ thống giá trị đang bị xáo trộn và băng hoại. Điểm quy chiếu ấy không thể là gì khác lòng yêu nước, tinh thần quật khởi chống ngoại xâm, một hằng số của lịch sử Việt Nam. Đó là nhân tố tiên quyết và cũng là chỗ đến cuối cùng để nhìn nhận, đánh giá con người.
Điểm quy chiếu đó là gì nếu không phải là ý chí và cách ứng xử trước kẻ thù xâm lược để bảo vệ mảnh đất thiêng liêng được gọi là tổ quốc do ông cha bao đời gây dựng và bảo vệ. Điểm ứng xử đó là đặt tổ quốc lên trên hết và trước hết. Đức tài, chính tà, trung thành hay phản bội đều phải lấy đó làm điểm quy chiếu. Muốn vậy, phải đập vỡ bức tường của sự dối trá và lừa mị mà chúng ta đã tự nguyện xây nên để rồi tự giam cầm chính chúng ta trong sự lừa mị và dối trá đó. Đây là chuyện không hề đơn giản, nhưng nếu không có một bước chuyển động mang tính đột phá thì sẽ không có được bước thứ hai. Càng khó khăn bội phần khi đất nước ta ở vào cái vị thế địa-chính trị oái oăm, nằm sát nước láng giềng khổng lồ mà tất thảy mọi triều đại cai trị của nước khổng lồ này luôn nuôi mộng bành trướng, đồng hoá để biến các nước nhỏ láng giềng trở thành chư hầu. Tiến trình thực hiện tham vọng bành trướng này được biến hoá theo tình hình và tương quan lực lượng, song tính nhất quán của mưu đồ xâm lược và bành trướng thì không bao giờ thay đổi và ngày càng hung hăng hơn khi thế lực bành trướng được phình to ra. Càng nguy hiểm hơn khi chúng lại biết cách dùng thủ đoạn lừa mị, đưa ra cái chiêu bài “cùng chung ý thức hệ xã hội chủ nghĩa” để mua chuộc một nhúm những kẻ dám đặt Đảng lên trên Tổ quốc, đặt Hiến pháp dưới Cương lĩnh của Đảng. Chưa bao giờ mà nguy cơ trở thành chư hầu lại lửng lơ treo trên đầu dân tộc ta rõ như lúc này. Chính vì thế, phải tìm về với lịch sử, với truyền thống ông cha để khẳng định một cách thế sống, một lối ứng xử minh bạch và sòng phẳng với lương tâm, lương tri để không hổ thẹn với ông cha, hổ thẹn với thế giới.
Không phải là ngẫu nhiên mà khí phách của Trần Bình Trọng lại được cả dân tộc sùng kính và noi gương. “Ta thà làm ma nước Nam, không thèm làm vương đất Bắc” chính là sản phẩm của ý chí quật cường của dân tộc nhỏ bé ở phuơng Nam mà các triều đại Trung Hoa xách mé gọi là “Nam Man”. Chúng tự cho là nước “đứng giữa thiên hạ”, bốn chung quanh đều là (Đông) Di, (Tây) Địch, (Bắc) Nhung, (Nam) Man. Theo nhà nghiên cứu Dương Danh Dy thì trong bốn chữ Hán: Di, Địch, Nhung, Man nói trên, có tới 3 chữ có bộ thú, chỉ thú vật ở bên cạnh. Láo xược đến thế là cùng! Ấy vậy mà chính cái nước “nằm giữa thiên hạ” này đã từng bị thống trị bởi những chư hầu mà chúng đè đầu cưỡi cổ. Triều đại nhà Thanh, triều đại phong kiến cuối cùng của Trung Quốc, là một trong những ví dụ về nỗi nhục khó rửa của bành trướng Đại Hán.
Cũng cần phải nói thêm rằng, mối quan hệ giao hảo giữa các triều đại phong kiến Việt Nam với “thiên triều” luôn nằm trong thế bị chèn ép, ức hiếp từ nước lớn, chỉ tương đối dễ thở hơn tí chút là vào thời nhà Lý sau chiến thắng của Lý Thường Kiệt thế kỷ XI. Ấy là lúc Lý Thường Kiệt chủ trương “ngồi yên đợi giặc không bằng đem quân ra trước để chặn mũi nhọn của giặc” đập tan hậu cứ an toàn của chúng ở châu Ung, châu Khâm, châu Liêm sau 42 ngày vây hãm thành Ung Châu rồi rút quân về. Phạt Tống lộ bố vănđược niêm yết khắp nơi, đẩy kẻ thù vào thế bị động, tạo ra thế chủ động phòng ngự của quân dân ta để rồi phản công tiêu diệt 50 vạn quân xâm lược nhà Tống.
Nói điều này là để hiểu thêm bản chất xâm lược của chủ nghĩa bành trướng Trung Hoa và bản lĩnh của ông cha chúng ta trong trường kỳ lịch sử lúc nhulúc cương trong việc xử lý mối quan hệ với nước láng giềng luôn toan tính âm mưu bành trướng. Nhưng nhu hay cương đều phải thực hiện trên cái nền vững chắc của truyền thống bất khuất quật cường, dám vì tổ quốc mà hy sinh, quyết tử cho tổ quốc quyết sinh. Cái chết bi hùng của Trần Bình Trọng là biểu tượng sống động của tâm thế Việt Nam trong vị thế địa-chính trị oái oăm là vì ý nghĩa ấy. Không khẳng định cái tâm thế đó, không sao có đủ dũng khí và trí tuệ để tính đến chiến lược chiến thuật nhu hay cươngđánhhay đàm hoặc vừa đánh vừa đàm nhằm vận dụng nhuần nhuyễn phương châm “dùng yếu chống mạnh, lấy ít địch nhiều” xuyên suốt lịch sử Việt Nam, trở thành một điểm sáng trong học thuyết quân sự của ông cha truyền lại.
Cần nhớ rằng vào thời của Trần Bình Trọng ở thế kỷ XIII, dân số nước ta chưa đến 7 triệu người, (có sách nói là khoảng 3 hoặc 4 triệu), phải chống lại một kẻ thù xâm lược mà vó ngựa của chúng đã xéo nát bao thành trì từ Á sang Âu cho đến tận Hắc Hải. Nhà thơ đương thời người Armenia (1210-1290) V. Frik từng viết: “Không còn một dòng suối, một con sông nào không tràn đầy nước mắt chúng ta. Không còn một ngọn núi, một cánh đồng nào không bị quân Tartar giày xéo (dẫn theo Hà Văn Tấn, Phạm Thị Tâm, Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên-Mông thế kỷ XIII, nxb Khoa hộc Xã hội, Hà Nội, 1972, tr. 38). Đế quốc Nguyên Mông vào thế kỷ XIII-XIV chiếm một vùng lãnh thổ rộng lớn nhất trong lịch sử thế giới từ Đông Á sang đến Hắc Hải. Bóng đen Mông Cổ là nỗi ám ảnh khủng khiếp với châu Âu lúc bấy giờ. Vậy mà chúng dốc toàn lực quyết chinh phục cái nước nhỏ bé ở phương Nam này để mở đường xuống Đông Nam Á. Tổng cộng ba đợt xuất quân, đế quốc Nguyên-Mông huy động từ 60 vạn tới một triệu lượt quân, trong khi dân số Đại Việt khi ấy thì như vừa nói.
(...) 
Có lẽ phải nhắc lại đây một câu của thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược của Bộ Công an tại cuộc toạ đàm ngày 24/11/2012 được ghi lại trong cuốn sách của Nguyễn Mạnh Can – nguyên Phó Ban Tổ chức Trung ương Đảng và nay là Chủ tịch Trung tâm Nghiên cứu Môi trường Văn hoá mới – vừa gửi rộng rãi cho lãnh đạo và những người quan tâm đến thời cuộc: “Ngày xưa hầu hết thất bại của Việt Nam trước xâm lược phía Bắc đều xảy ra trong thời bình, do lãnh đạo yếu hèn và cấp cao có nội gián”. Cũng trong cuốn sách ấy đã ghi lại lời của ông Nguyễn Văn An: “Các ý kiến tâm huyết ở đây, tôi đã trao đổi đầy đủ. Ngoài ra, tôi đã phản ánh với đồng chí lãnh đạo nhiều người dân nói: Trong các đồng chí, có người “PHÁ NƯỚC” có người “BÁN NƯỚC””.
Vấn đề đặt ra tuy hết sức nghiêm trọng song cũng không phải là cái gì quá khó hiểu, mà vốn là “Kê chư vãng cổ, Quyết hữu minh trưng (Việc xưa xem xét, Chứng cớ còn ghi) như Nguyễn Trãi đã chỉ ra trong Bình Ngô đại cáo. Lịch sử không quá hiếm những “nội gián”, những người “phá nước” và những kẻ “bán nước”. Viện dẫn đến Nguyễn Trãi trong bối cảnh hiện nay là muốn gợi lên những nét tương đồng giữa xưa và nay đang hoà quyện vào đời sống đương đại. Một quá khứ gần đang hối hả giục giã những suy nghiệm và mộtquá khứ xa đang đánh thức những bài học lịch sử.
Trần Quốc Vượng – nhà sử học đáng kính – đã có một nhận định sâu sắc mang ý nghĩa gợi mở cho những gì đang diễn ra hôm nay: “Nguyễn Trãi tắm mình trong một bầu khí văn hoá, ở đó đang diễn tiến cuộc đấu tranh gay gắt giữa TRUYỀN THỐNG và ĐỔI MỚI, cuộc đấu tranh giữa xu hướng Trung Quốc hoá với xu hướng giải Trung Quốc hoá trong nội bộ các thế lực cầm quyền và giới trí thức văn hoá Đại Việt. Hai mươi năm Minh thuộc, với chủ trương và âm mưu tái Trung Quốc hoá nền văn hoá Việt của bọn giặc Minh, càng làm gay gắt thêm, phức tạp thêm cuộc đấu tranh nhằm xây dựng một nền văn hoá Việt Nam, một lối sống Việt Nam. Nguyễn Trãi đã dấn thân hết mình vào các cuộc đấu tranh chính trị, văn hoá, xã hội này; và tiếc thay, ông đã ra khỏi cuộc đời này một cách bi thảm” (Văn hoá Việt Nam, tìm tòi và suy ngẫm, nxb Văn Học, 2001, tr. 728).
Gần 600 năm đã trôi qua, cuộc đấu tranh không khoan nhượng của Nguyễn Trãi, cũng là cuộc đấu tranh giữa những trí thức tiên phong – tinh hoa của trí tuệ và bản lĩnh dân tộc – với một bộ phận các thế lực cầm quyền xa rời dân, nhất là trong buổi mạt kỳ, chưa bao giờ ngưng nghỉ vì âm mưu đồng hoá của chủ nghĩa bành trướng Đại Hán chưa bao giờ buông tha. Nguyễn Trãi là danh nhân văn hoá của thế giới vì ông là tượng trưng cao cả nhất, đẹp đẽ nhất cho lòng yêu nước, cho trí tuệ và bản lĩnh dân tộc. Với ông, “coi công việc của quốc gia làm công việc của mình, lấy điều lo của sinh dân làm điều lo thiết kỷ” là nỗi niềm đau đáu (Chiếu cấm các đại thần tổng quản cùng các quan ở Viện, Sảnh, Cục tham lam lười biếng). Tâm niệm của ông là:
Bui có một niềm trung hiếu cũ,
Chẳng nằm thức dậy nẻo ba canh
(Bảo kính cảnh giới, số 158)
Trừ độc, trừ tham, trừ bạo ngược
Có nhân, có trí, có anh hùng
(Bảo kính cảnh giới, số 132)
Trong bối cảnh phức tạp của cuộc chiến đấu chống chủ nghĩa bành trướng Đại Hán đang trực tiếp uy hiếp lẽ tồn vong của đất nước gắn liền với cuộc đấu tranh chống thế lực phản dân chủ cố tình quay lưng lại với tiến trình dân chủ hoá – khát vọng mãnh liệt của các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là của trí thức và thế hệ trẻ – thì điểm quy chiếu ấy lại càng phải rạch ròi, minh bạch. Yêu nước, chống Trung Quốc xâm lược gắn làm một với ý chí đấu tranh thúc đẩy mạnh mẽ tiến trình dân chủ hoá vì độc tài toàn trị phản dân chủ được kẻ xâm lược nuôi dưỡng để làm chỗ dựa cho toan tính của chúng. Có thể nói trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, chưa bao giờ cái xu hướng giải Trung Quốc hoá lại vấp phải một chướng ngại vật lớn và phức tạp như hôm nay! Mà “lớn” và “phức tạp” là vì nó được chính thống hoá bằng Cương lĩnh, đặt lên trên cả Hiến pháp, được áp đặt bởi một bộ máy tuyên truyền khổng lồ cộng với sự hậu thuẫn của một bộ máy bạo lực cũng khổng lồ không kém.
Chướng ngại vật đó là cái “ý thức hệ xã hội chủ nghĩa”. Nguy hiểm và phức tạp hơn còn là vì cái “ý thức hệ” đã bị phá sản ấy lại được hà hơi tiếp sức bởi “người đồng chí láng giềng cùng chung ý thức hệ”. Kẻ xâm lược khoác bộ cánh “cùng chung ý thức hệ” ấy vừa thông qua những thủ đoạn lừa mị, mê hoặc những người kém hiểu biết và thiếu thông tin, vừa tác động trực tiếp vào thế lực đang giữ trọng trách trong bộ máy quyền lực, lung lạc nhúm người này bằng uy hiếp và mua chuộc. Thì ra, món võ Tàu cổ truyền xưa kia ừng uy hiếp, lung lạc những thân vương quý tộc đời Trần như những Thượng vị Văn Chiêu hầu, Chiêu Quốc vương, Thái uý em ruột vua …như vừa dẫn ra ở trên, thì nay đang tìm về những đối tượng hiện đại hơn trong danh xưng của “những đồng chí kiên định lập trường xã hội chủ nghĩa cùng chung ý thức hệ Mác-Lênin” đang chễm chệ trên những cái ghế quyền lực cao ngất ngưởng.
Xưa kia, trong Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi đã mắng “thằng nhãi con Tuyên Đức” (tức là vua nhà Minh): “Tưởng chúng biết lẽ ăn năn nên đã thay lòng đổi dạ. Ngờ đâu vẫn đương mưu tính lại còn chuốc tội gây oan. Giữ ý kiến một người, gieo vạ cho bao nhiêu kẻ khác. Tham công danh một lúc, để cười cho tất cả thế gian. Liệu hôm nay, những lời mắng mỏ ấy Nguyễn Trãi nên dành cho ai đây? Câu trả lời xin nhường cho công chúng. Họ đang là chứng nhân của những rối ren, xáo trộn trong thế cuộc rối bời phơi bày trước mắt.
Dành cho ai, là ai thì sự sòng phẳng của lịch sử sẽ điểm mặt chỉ tên. Mà trước khi chờ sự phán xét của lịch sử thì công luận cũng đã đưa ra những thẩm bình căn cứ vào điểm quy chiếu vừa đơn giản vừa rạch ròi: nhận thức và hành động trước kẻ xâm lược “Ngẫm thù lớn há đội trời chung . Căm giặc nước thề không cùng sống” như Nguyễn Trãi đã khẳng định trong Bình Ngô đại cáo. Những ai là “nội gián”, những kẻ nào là “phá nước”, những tên nào là “bán nước” mà cuốn sách do Nguyễn Mạnh Can chủ biên đã thẳng thắn chỉ ra cũng phải được thẩm định bằng điểm quy chiếu ấy. Đây không là điều gì phức tạp và khó hiểu. Đây là sự đúc kết nghiêm cẩn của lịch sử trong việc nhìn nhận, đánh giá nhân vật lịch sử.
Không có một nhân vật lịch sử nào là toàn bích, thậm chí còn rất nhiều khiếm khuyết. Trần Thủ Độ là một ví dụ. Ông là một nhân vật bị các sử thần thời phong kiến chê trách nhiều. Dưới ngòi bút của họ, Trần Thủ Độ hiện ra như một quyền thần vô học, có tài mà không có đức, có công với nhà Trần, lại có tội với nhà Lý. Thế nhưng bằng những thử thách của thời gian lớp mây mù phủ lên tên tuổi và sự nghiệp của vị khai quốc công thần ấy đã tan dần. Cái gọi là “có tội với nhà Lý” thì sự sáng suốt của lịch sử đã ghi công cho người đã biết khôn khéo thực hiện cuộc chuyển giao quyền lực một cách êm thấm từ một vương triều đã suy vong đang một chướng ngại cho sự tiến hoá của đất nuớc sang một triều đại mới đủ sức đương đầu với những thách đố ghê gớm ở bên trong cũng như từ bên ngoài mà không lâm vào cảnh đầu rơi máu chảy của muôn dân. Không có một bản lĩnh phi thường, một quyết đoạn sáng suốt, không thể thực thi một sứ mệnh lịch sử khó khăn như thế. Vì vậy, trong cái nhìn công minh và soòng phẳng của lịch sử, Trần Thủ Độ xứng đáng được xếp vào hàng những nhân vật kiệt xuất, đi đầu trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước trong lịch sử dân tộc. Câu nói của ông “đầu thần chưa rơi xin bệ hạ đừng lo” mãi ngời sáng trong tâm thế Việt Nam. Chính vì vậy, nhân dân tôn thờ ông. Trong đền thờ ông trên đồi Lim (Tiên Sơn, Hà Bắc) có treo hai câu đối nói lên sự thẩm định công minh và song phẳng ấy:
Công đáo vu kim, bất đán Trần gia nhị bách tải.
Luận định thiên cổ, kỳ tại Nam thiên đệ nhất lưu.
(Công đức của ông để mãi đến ngày nay, không chỉ bó hẹp trong hai trăm năm đời nhà Trần. Sau nghìn đời, công luận đã định, ông đáng liệt vào bậc thứ nhất dưới trời Nam)
Thêm một ví dụ nữa, Lê Lợi. Sử gia Trần Quốc Vượng dẫn Đại Việt sử ký toàn thư và Đại Việt thông sử viết về ông để đưa ra lời bình: “Con người Lê Lợi thật là mâu thuẫn, lượn lờ, phức tạp, đa dạng. Ông giết người ngay mà vẫn biết là họ oan. Ông theo lời bọn gian mà vẫn biết là chúng xảo. Người anh hùng khi đã già yếu thì lẫn cẫn, hay nghi rồi làm sai… đến chết người, nhưng vẫn còn giữ lại trong lòng cái Thiên Lương, cái Lương tri con người”! Phải nói thêm rằng, việc giết hại công thần thì Vương triều Lê mở đầu với Lê Thái Tổ có khi phải xếp vào đầu bảng mà Nguyễn Trãi cũng là ví dụ đau đớn nhất trong suốt chiều dài lịch sử. Thế nhưng, đánh giá một nhân vật lịch sử là phải căn cứ vào đóng góp của nhân vật ấy vào sự thúc đẩy lịch sử đi tới. Những sai lầm và khiếm khuyết của họ cần được xem là những hạn chế của điều kiện trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Chính vì vậy, nhân dân sùng kính tôn thờ Lê Lợi, đặt ông đứng cạnh Nguyễn Trãi vì ông đã cùng Nguyễn Trãi lãnh đạo cuộc kháng chiến chống xâm lược nhà Minh giành thắng lợi trọn vẹn. Không có một Lê Lợi chắc cũng khó có một Nguyễn Trãi, họ cùng đảm đương một sứ mệnh bằng ý chí, trí tuệ và bản lĩnh quyết đoán thực thi sứ mệnh ấy một cách trọn vẹn:
Trời thử lòng trao cho mệnh lớn
Ta gắng trí khắc phục gian nan.
Ngẫm thù lớn há đội trời chung
Căm giặc nước thề không cùng sống
Đau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời
Nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối
Phải chăng đây chính là điểm quy chiếu quan trọng nhất, nếu chưa phải là duy nhất, để nhìn nhận, thẩm định: ai là nhân vật đang thúc đẩy lịch sử đi tới được nhân dân ủng hộ, ai là kẻ kìm hãm bước tiến của đất nước, đi ngược lại quy luật vận động của cuộc sống, bỏ lỡ thời cơ đưa dân tộc bứt lên thoát khỏi lạc hậu và lạc điệu với thế giới, trở thành tội đồ của lịch sử, bị nhân dân phỉ nhổ.
Trong đám mây mù của sự nhiễu loạn thông tin về cuộc đấu quyền lực trước thềm Đại hội XII, hệ luỵ của một thể chế toàn trị bưng bít, che giấu sự thật, bóp nghẹt tự do tư tưởng nếu biết dựa vững vào điểm quy chiếu ấy thì “mọi trao qua đổi lại, mọi xem xét đánh giá đều vẫn rõ ràng như bày ra trước mắt, rành rọt như trỏ bàn tay vậy” (Lê Quý Đôn, Kiến văn tiểu lục).
Một khi mà sự thật đã “rõ ràng như bày ra trước mắt, rành rọt như trỏ bàn tay” thì hành động hướng đến đổi mới mạnh mẽ, đẩy nhanh tiến trình dân chủ hoá đất nước là cái thuận với quy luật, đáp ứng được đòi hỏi của dân. Ai làm được điều đó thì nhân dân đứng về họ, cổ vũ cho họ. Xu thế đó đang được đẩy tới, một xu thế không sao đảo ngược được.
Đó chính là lý do để tin chắc vào sự khẳng định của Nguyễn Trãi “Càn khôn bĩ rồi lại thái, Nhật nguyệt hối rồi lại minh.*
  T. L.
  ____________
*Mọi trích dẫn Bình Ngô đại cáo đều theo bản dịch của Ngô Tất Tố.
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Sự kiện nổi bật năm 2015


Thứ Hai, ngày 28/12/2015 00:03 AM (GMT+7)
Những sự kiện, vấn đề nổi bật của năm
Thích và chia sẻ sự kiện trên:
Những vụ án kỳ quặc, "khó đỡ" nhất 2015 ở Trung QuốcNhững vụ án kỳ quặc, "khó đỡ" nhất 2015 ở Trung Quốc28/12/2015 00:03:00Trộm trát phân lên mặt để trốn cảnh sát, giả gái mang bầu để ép đàn ông làm đám cưới... là những vụ án kỳ quặc, khó đỡ nhất năm 2015 ở Trung Quốc.
5 người đẹp giải trí 'thăng hạng' mặc đẹp năm 20155 người đẹp giải trí 'thăng hạng' mặc đẹp năm 201527/12/2015 05:27:002015 có thể nói là một năm lột xác về phong cách thời trang của các 'bóng hồng' giải trí này.
Những vụ xe “điên” khiến người dân khiếp đảm năm 2015Những vụ xe “điên” khiến người dân khiếp đảm năm 201526/12/2015 10:00:00Năm qua, nhiều vụ xe “điên” gây tai nạn liên hoàn đã xảy ra, cướp đi sinh mạng của bao người và khiến dư luận hoang mang, lo ngại mỗi khi ra đường.
10 vụ rơi vãi và hôi của nổi tiếng nhất Trung Quốc 201510 vụ rơi vãi và hôi của nổi tiếng nhất Trung Quốc 201526/12/2015 02:02:00Năm 2015 chứng kiến nhiều vụ hôi của và rơi vãi của cải tại Trung Quốc với nhiều tình huống phản ứng khác nhau của người dân: có người giúp đỡ người bị hại, có người tranh thủ “vét cho đầy túi tham”.
Những vấn đề giáo dục gây tranh cãi năm 2015Những vấn đề giáo dục gây tranh cãi năm 201525/12/2015 13:00:00Kỳ thi TPHT quốc gia lần đầu tiên được tổ chức; môn Lịch sử “suýt” bị xóa sổ; cấm thi tuyển vào lớp 6… là những sự kiện giáo dục khiến dư luận xôn xao trong năm qua.
5 vụ rơi máy bay kinh hoàng năm 20155 vụ rơi máy bay kinh hoàng năm 201525/12/2015 11:45:002015 chứng kiến nhiều thảm họa hàng không nghiêm trọng do nhiều nguyên nhân khác nhau: khủng bố, lỗi động cơ, chủ ý tự sát hoặc thời tiết xấu.
5 video được xem nhiều nhất năm 20155 video được xem nhiều nhất năm 201525/12/2015 08:30:00Khoảnh khắc cậu bé thiếu nửa hộp sọ nói "xin chào" là một trong những video gây xúc động và thu hút nhiều người xem nhất năm qua.
Những vụ hack đáng quan tâm trong năm 2015Những vụ hack đáng quan tâm trong năm 201525/12/2015 08:03:00IS, Anonymous, Hacking Team,... là những cái tên được nhắc tới nhiều nhất trong các vụ tấn công mạng trong năm 2015.
Những phát ngôn ấn tượng nhất năm 2015Những phát ngôn ấn tượng nhất năm 201525/12/2015 00:05:00Năm 2015, có nhiều người từ bộ trưởng, đại biểu Quốc hội (ĐBQH), nhà quản lý đến người dân bị tù oan đã có những phát ngôn khiến dư luận “dậy sóng”.
Những vụ trọng án chấn động dư luận năm 2015Những vụ trọng án chấn động dư luận năm 201524/12/2015 06:02:00Trong năm 2015 xảy ra nhiều vụ án đặc biệt nghiêm trọng, gây chấn động dư luận bởi kẻ thủ ác đã xuống tay lạnh lùng, sát hại nhiều người, thậm chí trong đó có cả trẻ em...
Chân dung những lãnh đạo trẻ nhất năm 2015Chân dung những lãnh đạo trẻ nhất năm 201524/12/2015 00:05:00Năm 2015 đã có một sự thay đổi đột phá trong hệ thống lãnh đạo các tỉnh, thành. Nhiều cán bộ tuổi từ dưới 30 - 40 được bầu vào những vị trí quan trọng.
Khoảnh khắc ấn tượng nhất 2015 của các lãnh đạo thế giớiKhoảnh khắc ấn tượng nhất 2015 của các lãnh đạo thế giớiCác nguyên thủ quốc gia thường xuất hiện với bộ dạng nghiêm nghị, lạnh lùng. Tuy nhiên, đôi khi nhiếp ảnh gia vẫn "chộp" được những khoảnh khắc rất đời thường hoặc thậm chí, "dở khóc dở cười" của họ...
15 ảnh chụp từ trên không ấn tượng nhất năm 201515 ảnh chụp từ trên không ấn tượng nhất năm 2015Những ngôi nhà trên một ngọn đồi đổ nát vì động đất, một khu phố tan hoang vì bom đạn hay hàng nghìn người chen chúc ngâm mình trong bể bơi của một công viên nước... là những bức ảnh chụp từ trên không ấn tượng nhất năm 2015.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nhiều địa phương khắp Trung Quốc cũng đã phải ban bố tình trạng báo động đỏ để đối phó với tình trạng ô nhiễm không khí vượt quá mức cho phép, gây nguy hiểm cho giao thông và sức khỏe con người.

Vntinnhanh.vn - 

Khói bụi độc hại bao phủ thủ đô Bắc Kinh, Trung Quốc (Ảnh: AFP)
Hãng ABC News cho biết, đã có thêm nhiều thành phố ở Trung Quốc ban bố lệnh báo động đỏ để đối phó với những trận khói bụi độc hại.
Tại tỉnh Sơn Đông, báo động đỏ đã được ban hành tại 4 thành phố sau khi nhận được cảnh báo về mật độ bụi trong không khí vượt quá mức cho phép trong vòng hơn 24 giờ đồng hồ liên tục.
Cục Môi trường tỉnh Sơn Đông cho biết lệnh báo động bắt đầu có hiệu lực trong buổi sáng ngày hôm nay 24/12.
Trong khi đó, tại tỉnh Hồ Bắc, cơ quan khí tượng cũng đã ban hành lệnh báo động đỏ đầu tiên của tỉnh này, vào hôm thứ ba vừa qua. Tỉnh Hồ Bắc được cho là địa phương ô nhiễm nhất Trung Quốc.

Nga: Cháy lớn ở thủ đô Moskva, khói đen cuộn cao ngút trời
Vntinnhanh.vn - Đám cháy xảy ra vào 20h40 ngày hôm qua (giờ địa phương) tại một nhà máy ở phía Tây Bắc thành phố Moskva.
Các thành phố Hình Đài và Hàm Đan tại Hồ Bắc đã ban bố các biện pháp kiểm soát giao thông, nhằm giảm một nửa mật độ giao thông trong những ngày có báo động.
Nhiều thập kỷ phát triển mạnh kinh tế đã khiến Trung Quốc phải chịu hậu quả là tình trạng ô nhiễm không khí nặng nề ở các đô thị lớn, đặc biệt là Thủ đô Bắc Kinh.
Từ đầu tháng 12 tới nay, chính quyền Bắc Kinh đã phải 2 lần ban bố tình trạng báo động đỏ do ô nhiễm không khí.
Tuấn Ngọc (Theo ABC News)

Phần nhận xét hiển thị trên trang