Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Tư, 23 tháng 12, 2015

ĐI TÌM CÂY GỖ QUÝ TRÊN RỪNG!


Truyện ngắn của Doãn Hồng Giang

Kết quả hình ảnh cho ảnh cây ngọc am?

Mới chập tối, làng xóm đã xôn xao. Cứ như thể người ta đang hân hoan kết thúc một ngày cặm cụi vất vả. Người lạ qua đây có khi tưởng trong làng có đám. Ánh điện sáng lòa hắt lên từng vạt ngọn cây. Tiếng nhạc từ những loa đài công suất lớn át cả tiếng thác nước mọi khi đổ ào ào trên khe núi.
Xóm nhỏ có hơn chục nóc nhà mà có đến ba giàn Karaoke, thi nhau mỗi cái một giọng, làm thành thứ âm thanh không biết nên gọi nó là thứ gì? Văn hóa đồng rừng mà, vui là chính, chất lượng đến đâu còn phải chờ nó lên từ từ. Có ai nhắc nhỏ chuyện này, bọn trẻ phân bua như vậy. Dù sao nó cũng làm xóm bản tưng bừng, phấn động hẳn lên. Dù sao cũng còn hơn thời  hắt hiu, đèn nhà ai rạng nhà ấy, gà vừa lên chuồng, nhiều nhà đã tắt đèn đi ngủ. Làng xóm như chỗ không người.
Con đường bê tông ngoằn ngèo băng qua suối chạy mãi tới cuối xóm Khuôn Phầy này. Giờ chắc không ai nhớ ngày trước chỗ này có cây cầu làm bằng cả cây gỗ to ghếch một đầu lên chỗ gốc cây sung ở phía bên kia suối. Mùa lũ về, chỗ cây cầu độc mộc căng thêm sọi dây song làm tay vịn. Mỗi khi qua đây người lớn dò từng bước, còn trẻ con phải “đi bằng bốn chân”. Tức là bò bằng cả hai chân, hai tay..
Mới đó mà cảnh vật đã thay đổi đến không ngờ, làm như sự nan giải, khó khăn đi lại như chưa hề xảy ra.
Năm này một ít, năm sau một ít, sự trắc trở được thu vén dần dần. Chỉ có nhứng người già thì còn nhớ lâu. Còn bọn trẻ chẳng để ý, và ít khi nghĩ đến. Chúng còn nhiều việc để phải làm, “chuyện đời xưa, nhắc mãi làm gì?”.Nếu  có người nhắc nhở về sự vô tâm những ngày đã qua, món trẻ sẽ nói: “Tuổi trẻ là phải hướng tới tương lai, nhìn về phía trước..”. “Nhưng mà các cháu à, hướng về đâu thì hướng, quên đi ngày cũ, những bài học cuộc đời là không hay lắm đâu vớ!”
Lão Đại vừa đi vừa ngẫm nghĩ, vừa tự nhủ thầm như thế. Dù chẳng có ai đi cùng, có lúc lão lầm nhẩm nói luôn ra miệng, y như đang có người cùng đi, cùng nói chuyện với mình. Lão hướng ra chỗ quán Cây đa, nơi ban chiều gặp hai người lạ. Không biết bây giờ họ có còn ở đấy không? Hai con người có vẻ bí hiểm nhưng lại kích thích trí tò mò của lão. Có thể câu chuyện của họ là có thật. Cũng có thể là câu chuyện “tào lao bí đao” nơi bàn rượu, như bọn trẻ thường nói. Nhưng chẳng nhẽ họ mất công mất buổi, đi cả ngày đường lên tận đây, để nói vớ nói vẩn cho vui hay sao? Lão tin rằng trong câu chuyện của họ ít ra có một phần sự thật, còn mục đích chính của nó là gì có nhẽ phải đợi.
Thời buổi có nhiều câu chuyện vu vơ, “nói vậy không phải vậy”, tin sớm quá có ngày phải hối tiếc chưa biết chừng!
Quán xá, lão Đại không hay đi. Không phải tự nhiên đã “quán” rồi lại còn “xá” nữa. Các cụ ngày xưa có ý cả đấy. Nó là nơi người thường, dân “chân chì” như lão không nên lai vãng. Chả có “lành dữ” gì ở đây nhưng cũng lắm phức tạp, vừa tiêu tốn tiền, vừa gây rắc rối nhiều chuyện. Rượu vào thì lời ra, mà có phải lời nào cũng chuẩn cả đâu?
Nhưng hôm nay lão phá lệ, lão sẽ đến.
Lão sẽ hỏi hư thực chuyện chiều hôm trước, khi lão dắt trâu qua đây hai người lạ kia ra mòi bằng được lão vào, ép lão không thể chối từ, đành nâng lên đặt xuống vài ba bận.. Tại sao họ đặc biệt đối xử với lão thế nhỉ? Lão có phải ông này, bà nọ hay đại gia, đại riếc gì đâu?
**
Câu chuyện của hai người lạ nghe có vẻ hoang đường. Lão Đại tuy là dân cố thổ ở đây, nhưng đời lão gian nan nhiều, lên bổng xuống trầm không ít. Đi nước ngoài lão chưa được đi bao giờ ( Vì không có nhiều tiền đã đành, thêm nữa việc cần thiết cũng không có ). Nhưng đất nước hình chữ S này lão cũng được đặt chân đến nhiều nơi. Chuyện này bảo làm sao lão tin được? Lão biết chắc chắn khu rừng thuộc vòng cung Lô Gâm này làm quái gì có thứ gỗ quý đó. Đinh, lim, sến, táu, vảy ốc, lát lủng thời trước không thiếu. Dù rằng những cây gỗ quý ấy bây giờ chỉ còn rất ít, chỉ mang tính biểu trưng chứ không có rừng đại ngàn như hàng chục năm về trước.
Riêng về cái cây Ngọc am này thì từ thời cổ chưa thấy ai nói nó có ở đất này. Cái tay thương lái người Hoa này nói là có là ý làm sao? Rừng ở đây đâu phải là Hà Giang, là Tây Côn Lĩnh bạt ngàn núi đá, ở độ cao hàng ngàn mét để có thứ cây thông có ngọc, đặc biệt quý hiếm này?
Để cho lão Đại nổ hết tràng, lão thương lái mặc áo da sờn, đi giày đinh cao cổ mới nói:
- Có hay không thì ngổ cũng không pết lớ. Nhưng ông đồng ý cho bọn này đào đám nương của ông, ông tồng ế thì được cái tiền mà. Đào xong bọn này sẽ cho người san lại để ông tiếp tục trồng cây gì thì trồng mà!
- Các ông định trử bao nhiêu?
Gã đi cùng tay thương lái là người Việt, có khuôn mặt như mặt chú phỗng, đỏ gay xen vào:
- Tiền có đồng, cá có con. Cứ tính diện tích đất đào bao nhiêu rồi quy ra năm mươi triệu một sào là biết thôi. Tôi tính nhẩm cũng ra mà!
- Tính thế sao được, đất đào lên lộn thổ, đất màu không có thì làm cái gì được, các ông khôn hết phần người ta rồi.
Gã người Hán cao lớn, trắng trẻo cười dễ dãi:
- Cũng tùy ông thôi, không ép nhau mà. Chuối kỳ này xuống giá, bán không có người mua, ông chả mất gì cũng được món tiền lớn chuẩn bị ăn tết, không muốn à?
- Hầy..Tiền thì ai chả tiếc, chả muốn. Nhưng không phải thứ gì bán được tiền đều đem bán cả đâu. Người Việt có câu: “Thứ nhất bán đất, thứ nhì mất con”, ông có nghe câu này chưa?
- Piết chớ, piết chớ, nhưng có mua hẳn của ông đâu mà ông lo?
- Cái này còn phải xem. Cho gửi vài đồng thêm tiền rượu, tôi phải về..
Gã mặt phỗng cười hai tay hua hua trước mặt:
- Ấy chết, bọn tôi mời mà. Ông cứ về nghĩ kỹ đi rồi có gì ra đây gặp tôi. Ông còn giữ ý, chứ người khác người ta đã đồng ý cho tự lâu rồi. Đây này – Gã lấy ra mấy tờ giấy viết tay định đưa lão Đại xem. Lão gạt đi, lão không có hứng chuyện này. Giấy tờ mà làm gì? Không có con dấu, viết gì chẳng được. lão nghĩ thế và quành quảy ra về.

***
Đêm hôm đó lão trần trọc khó ngủ quá. Câu chuyện của hai người lạ cứ trở đi trở lại trong đầu khiến ông không sao chợp được mắt. Ngay cả việc hôm nay là ngày thường xuyên của mỗi tháng “ôn nghèo kể khổ” lão cũng bảo vợ con lui vào hôm khác. Cuộc sống bây giờ tuy gấp năm gấp ba lần hồi nào, lão vẫn giữ lệ cũ. Mỗi tháng một lần cả nhà ăn cơm độn sắn lát, buổi tối thắp đèn dầu ( Dù điện lưới đã có cả chục năm nay ). Không phải làm thế để “hành” vợ con hay tự hành khổ mình, mà vì nhẽ khác. Con người ta quen cái sướng thì mau, quen cái khổ cái sầu rất khó. Dù đời sống có khấm khớ thế nào cũng đừng vội quên những ngày gian nan, đói rét. Những ngày thèm miếng cơm trắng còn hơn cả bây giờ thèm cá thèm thịt bây giờ. Vợ con ban đầu phản ứng, mãi rồi cũng phải theo. Ông làm thế là vì lợi ích chung của gia đình chứ có bắt vọ con khổ cho cái ích kỷ của mình đâu? Hôm nay ông lờ đi việc này, chắc bà ấy và các con vẫn nhớ. Nhưng thấy nét mặt ông đăm chiêu, không ai hỏi vì sao, lặng lẽ làm theo lệ cũ.
Năm gian nhà sàn tối om mặc dù không do cắt điện, hàng xóm vẫn đài nhạc ầm ĩ, đèn điện sáng choang.
Đúng là trong bóng đêm thâm trầm, im ắng người ta nghĩ được nhiều chuyện. Lão Đại thấy hai người kia nói có phần nào đấy là sự thật, không phải nói chơi. Nhưng sự thật đó là cái gì? Gỗ lạt như họ nói, hay là cách lân la dần dần của mấy người muốn mua đất của mình? Ở tỉnh này chưa có việc người Hoa mua đất năm bảy mươi năm để làm dự án. Nhưng nghe nói các nơi khác nhiều ít có rồi. Đất của ông bà tổ tiên mà bán cho người nước ngoài năm bảy mươi năm, không hiểu họ có còn là người nữa không? Đời người được mấy mươi mà dám bán cả quãng thời gian dài như vây? Rồi còn bãi biển nương dâu, chuyện đời đổi thay biết đâu mả lường. Bán cho người ta, người ta có toàn quyền sử dụng. Người ta quây rào gai, cấm ra vào, làm gì trong đó ai biết được?
Ai bán cho họ thì bán, chứ mình quyết là không. Nhà mình chưa đến nỗi nào. Mà dù có khó khăn, mình cũng không làm như thế. Chuối tây không bán được vì con buôn ép giá. Họ nói cửa khẩu đang xiết lại, không có người mua. Thì trồng thứ khác. Bao nhiêu năm nay vẫn sống nhờ hoa màu đủ thứ, chứ căn cứ gì cây chuối?
Đám đất của ông trên lõng Bốc, chỗ hai người kia muốn ấy, ông sẽ trồng cam, trồng bưởi. Rộng vốn ra sau này trồng rừng lim rừng lát để vốn lại cho con cho cháu đời sau.
Nhưng có nhẽ không phải họ gạ mua đất vì chỗ ấy không tiện đường, lại khuất nẻo. Ngoài chuyện cấy trồng ra, chả có thể dự định làm cái gì khác được.
Chợt nhớ hồi thổ ma cụ Khuyên ông có được nghe một câu chuyện. Ông cụ thời trẻ cũng ghê gớm, cầm đầu hẳn một nhóm thanh niên kiểu như đầu gấu thời bây giờ. Nhóm người này được đám thương lái người Hoa thuê đi tìm chỗ chôn giấu gỗ Ngọc am, thứ gỗ mà hàng trăm năm trước ông cha họ sang Việt Nam, tàn sát cả cánh rừng núi Tây Côn Lĩnh. Một số họ đưa được về, số còn lại chưa kịp chuyển thì chôn dấu rải rác khắp nơi. Cánh của cụ Khuyên dọc đường xuôi sông Lô mang được cả chục cây về giấu ở đất Khuôn Phầy. Định bụng gặp khách thì bán lấy tiền chia nhau thì cách mạng tháng tám nổ ra. Tiếp đến mấy cuộc chiến tranh..Đấy là lần đầu tiên duy nhất và cũng là chuyến cuối cùng có chuyện gỗ chở ngược về rừng, đưa ngược lên dốc núi..  Đường đi lối lại thay đổi, chỗ ruộng lúa thành rừng, đèo cao mở ra đường đi. Thực là “bãi biển nương dâu”.. Địa điểm, nơi cất giấu mất hết giấu vết. Không biết trong đám thảo khấu cùng với cụ Cả Khuyên thời bấy giờ có ai ghi chép, đánh dấu, ghi chép vào thứ văn tự để lại  nào, ở đâu đó không?
Có nhẽ lão Mặt phỗng kia là một trong số hậu duệ của đám người theo cụ Khuyên chăng? Một tấm bản đồ hay cuốn sổ ghi chép bằng chữ cổ đã cho lão biết bí mật này?Biết đâu chuyện này là có thật thì sao?
Lão cố nhắm mắt, đợi sáng ra lên khu lõng Bốc xem thế nào?
****
Đây vốn là thung lũng, đầu nguồn của khu rừng lát hàng trăm năm trước. Một vụ cháy rừng chưa rõ nguyên nhân đã để lộ ra vùng đất mầu mỡ. Người Tày Khuôn Phầy chỉ quen cấy lúa nước mà ruộng lại nhiều. Chả ai nghĩ đến chuyện làm nương cao. Chỉ có người Kinh, người Dao ở xã bên cạnh là chuyên canh làm nương đỗ. Rồi nhà nước giao đất giao rừng, người Khuôn Phầy nhận, nhưng vẫn cho dân xâm canh trồng đậu tương. Chỉ thấy nương đậu tương xanh mát mắt mà cây rừng trồng chả thấy đâu. Người ta chỉ trồng đối phó lúc ban đầu, sau rồi lại nhổ bỏ để năm sau trồng đậu tiếp. Tình trạng này kéo dài cho đến khi địa phương làm cam kết với người dân trong bản mới chấm dứt.. Lão Đại nhận khu đất chừng mươi héc ta.
Cây lão vẫn trồng, nhưng xen canh trồng chuối. Theo lối “lấy ngắn nuôi dài”.Không ai ngờ cái “ngắn” lại ăn nhiều hơn, mau hơn cái “dài”. Vườn chuối của lão hơn hai ngàn gốc chỉ sau một năm mang về cho lão tiền tỉ. Cái xe Tô y ô ta để dưới gầm sàn cũng từ bán chuối mà có.
Đột nhiên chuối mất giá, lão ân hận vì khi có đã chẳng biết đắn đo. Sao lại “trứng để cả một giỏ”, cây trồng cả một thứ chứ? Lại thêm cái vội mua gấp cái xe bán tải. Mình có công việc gì đi đâu mà xe với chả pháo? Cần đi thành phố hay đi đâu mất một hai “chai” là đi thoải mái. Lại có người lái, ngồi ngủ vô tư. Có uống rượu say cũng chẳng hề hấn gì. Tiền lãi gửi ngân hàng có khi chi cho tiền đi xe không hết. Bây giờ đắp chiếu nằm đó, muốn mở rộng làm ăn, vốn đọng cả đống. Mang tiếng là người từng trải, vậy mà già vẫn còn ngu! Lão tự trách mình!
Lão hy vọng câu chuyện của hai người lạ là có thật, lão sẽ sửa chữa sai lầm vừa mắc để vợ con khỏi cằn nhằn. Nếu như loại cây quý giấu ở nương của mình là có thật. Chắc cũng có được mớ kha khá. Bọn kia không chịu thì đừng có mà đụng vào đất của lão!

Lão Đại sững sờ nhìn đám chuối ngổn ngang, la liệt trên khu đất của mình. Cảnh tượng này đang xảy ra từ khi chuối quá rẻ, người ta phá đi trồng thứ khác. Nhưng lão Đại là người bền gan, lão đâu có nông nổi vội vàng thế? Vợ con có hó hé việc này nhưng lão cấm chỉ. Người ta phá mặc người ta. Đi chợ muốn học buôn thì “theo cái rẻ, đừng theo cái đắt”. Theo cái đắt nhất thời thế nào cũng gặp người ham đắt mà thứ mình buôn sẽ rẻ. Làm nhà nông cũng vậy. Chen nhau vào chỗ chật là mất ngáp có ngày. Người ta phá mình để có khi lại được. Trồng cái cây ít nhất cũng chín tháng, một năm mới được thu. Chưa gì đã phá bỏ có mà ăn rơm, ăn cám à, lão nghĩ bụng. Hẳn vợ con lão không dám phá. Mấy ngày nay cả nhà có ai lên nương đâu? Vậy ai vào đây phá của lão?
Không cần nghĩ nhiều, lão nghĩ ra ngay. Lúc gần sáng có tiếng chó sủa râm ran gần khu này. Lão cứ nghĩ đám thanh niên lật đèo sang Vân Sơn chơi nên không để ý. Chỉ ca cẩm : “Con cái nhà ai mà đi suốt đêm suốt hôm, giờ mới về!”. Hóa ra không phải.
Đích thị là có bàn tay của hai lão người lạ nhúng vào đây rồi. Có thể chúng thuê người đào bới làm nát gần hết khu vườn chuối của lão. Dấu tích còn sót lại là cái thuốn sắt dài hơn hai mét. Có nhẽ đây là vật chúng dùng để xăm tìm kiếm thứ gỗ tự đời xưa chôn dấu vùng này. Xung quanh có cả vết giày đinh khiến lão nghĩ ngay đến đôi giày đinh cao cổ của gã người lạ khi gặp ngoài quán Cây đa. Thêm nhiều dấu chân người đi chân không cũng có, mang giày đi dép cũng có. Cũng phải khá đông người mới để lại dấu vết tan nát đến thế này, một đám đông ô hợp mới được thuê mướn, chắc đến từ nơi khác, không phải người trong bản.
Lão Đại vừa buồn vừa hoang mang. Từ thủa làm người đến nay ngoài sáu mươi tuổi lão chưa từng thấy có đâu trộm cắp kiểu này. Trộm mà không phải trộm, là lén lút, dấu vụng. Nhưng chắc không kết quả gì vì không có những hố to rộng để có thể moi lên được thứ gỗ người ta giấu kỹ năm nào.
Nhìn đám nương tan nát, lão không khỏi xót xa. Mồ hôi nước mắt chứ đâu phải chuyện thường? Lão sẽ làm gì, tính sao với nó bây giờ?
Chợt nhớ đến ý định đắp hồ chứa nước mà hôm có người bạn bên bản Vang gợi ý. Lão thấy rất có lý. Gì chứ nguồn nước ngọt bây giờ là vàng, là bạc chứ không phải chuyện chơi! Năm xưa, chưa có đường lên đây, lão đã cố công đắp một con đập bằng đất. Thế rồi lũ to phá hủy mất, vì bờ đập yếu không đủ sức giữ được nước. Bây giờ thì đơn giản rồi. Lão sẽ thuê người chở xi măng, cát sỏi lên đây, đổ hẳn tấm bê tông vững chãi. Khu lõng Bốc sẽ là cái hồ nước hẳn hoi chứ không nói chơi.
Có nước lão sẽ chủ động nguồn tưới tiêu cho đám ruộng phía gần nhà. Ai cần nữa phải nói chuyện với lão! Quanh vùng hồ lão sẽ thiết kế vườn rau quả. Ở đâu chứ đất này mầu mỡ sẵn, chúng sẽ lên phải biết.
Rau sạch sẽ từ đây mang về thành phố. Người tiêu dùng là người ta tinh lắm, ăn một bận là biết ngay. Rau của lão sẽ có giá. Lão sẽ làm hẳn một khu chuyên canh rau sạch. Phía trên kia, quanh hồ sẽ trồng mỡ, thứ cây mà người Hà Nội gọi là vàng tâm, báo chí hay nói đến ấy.
Nhìn những cây mỡ còn sót lại, không bị “giết” để làm nương giờ đã cao bằng ngôi nhà ba tầng, tán xanh mướt, gốc vừa người ôm. Đúng là tham bát bỏ mâm, giá để cả rừng mỡ từ đó đến giờ có phải hay không? Tiền cả đấy..Nhưng mà đã muộn rồi!
Đằng nào nương chuối cũng đã bị phá, lại đang rẻ, lão bỏ luôn, theo ý mới. Nếu vận động không ai làm chung, “một răng cũng bừa”.
Có được vườn rau sạch, con Tô y ô ta của lão sẽ có việc chứ không để đấy làm cảnh nữa.
Thôi thì Ngọc am là thứ “ngọc” gì lão không có duyên, không được thấy, cũng không cần biết. Nhưng nó gợi ý cho lão điều tốt lành vừa nghĩ ra sớm nay. Tuy là cái lợi không to, nhưng là cái dài lâu mãi mãi..
Chắc gì Ngọc am đã có giá trị hơn?!

======================



Phần nhận xét hiển thị trên trang

CHỮ NHẪN

Nhiều người sùng đạo Nho thích treo chữ "nhẫn" trong nhà, như 1 thứ "đức" quý báu, 1 thứ "cứu cánh" để tự răn mình và con cháu.
Đạo Nho rõ ràng là 1 thứ "ngoại đạo", bởi nó không giúp ích gì cho nhân loại xét về mặt tiến hóa, giác ngộ... Bề ngoài, nó không có gì "xấu", song rất dễ bị lợi dụng, xuyên tạc nhằm mục đích thống trị, nô dịch giữa con người với con người.
Chữ "nhẫn" trong đạo Nho vì thế cũng mang 1 nghĩa lý tầm thường, nếu không muốn nói là còn xa mới đạt tới... đạo. "Nhẫn" này chỉ có nghĩa là "nhịn" mà thôi.
Có ông đại tướng nỗi tiếng "nhẫn". Kết quả yên được thân mình, con cháu mình. Song cái ác, cái đểu giả thì thả sức tàn phá xã hội, đục ruỗng tâm hồn con người tới mức... vô phương cứu chữa.
Đạo Phật cũng dùng chữ "nhẫn", song nghĩa lý của nó sâu rộng, thậm thâm và cứu cánh hơn rất nhiều.
Chữ "nhẫn" trong đạo Phật có mặt trong suốt quá trình, từ hướng đạo, kiến đạo, tu đạo, cho đến cứu cánh giải thoát, giác ngộ cuối cùng. Song, "nhẫn" ở đây không có nghĩa tầm thường là "nhịn".
Có cả thảy 4 trường hợp dùng đến chữ "nhẫn".
1- Nói về công đức của người tụng trì, giảng nói kinh điển, Đức Phật nói: "từ một phẩm, một bài kệ, nhẫn đến một câu kệ...". Chữ "nhẫn" ở đây chỉ có nghĩa là "cho đến" (cho đến một câu kệ).
2- "Nhẫn" là 1 trong 6 "hạnh" (lục độ) của Bồ Tát đạo. Nhẫn ở đây có nghĩa là nhẫn nhục, song là nhẫn nhục "ba la mật", không phải nhẫn nhục của thế gian. Người nhẫn nhục ba la mật là người dùng trí tuệ Bát Nhã (tính không) để nhẫn nhục. Nhẫn nhục ba la mật là "thực chứng" rằng, cả kẻ làm nhục, lẫn người bị làm nhục đều là... không.
3- Chữ "nhẫn" nằm trong cụm từ "vô sinh pháp nhẫn". Đây là 1 cảnh giới mà chỉ những hàng Bồ Tát đã "đăng địa" mới "chứng" được. "Nhẫn" này không có nghĩa là nhẫn nhục, mà là... nhẫn thín. "Vô sinh pháp nhẫn" là tuyệt không hề có 1 "pháp" nào được sinh ra cả. Ví như nói bất kì 1 vật chất nào đó cũng đều do các phân tử hợp lại mà có. Đến lượt phân tử lại do các nguyên tử hợp lại. Rồi nguyên tử lại do các hạt cơ bản... Cứ thế đến tột cùng (cực vi), thì sẽ chẳng có gì "sinh", nghĩa là toàn bộ vật chất là... không sinh.
4- "Nhẫn" là vị thứ thứ 3 trong "tứ gia hạnh", cũng là "tứ thiện căn" của người học đạo. Tứ thiện căn gồm 4 bậc: Noãn; Đỉnh; Nhẫn; Thế đệ nhất, cũng là 4 vị thứ mà người học đạo đạt tới trước khi chứng thánh quả thứ nhất Tu Đà Hoàn (kiến đạo). Chữ "nhẫn" này cũng không hề có nghĩa là nhẫn nhục, mà có 2 nghĩa. Một là "nhẫn thín" như ở trên, nghĩa là đã "quán" trọn mọi thứ cần "quán", không còn sót lại một nhân duyên nào. Hai là đã chắc chắn trụ lại ở cảnh giới đó, không bao giờ bị thụt lùi nữa. Chính vì cái sự "trụ" này, mà người tu theo hạnh Bồ Tát phải tránh nếu còn muốn trở lại thế gian để hóa độ chúng sinh.
Xem thế thì biết, dù chỉ bàn về 1 chữ đó thôi, song nghĩa lý của nó giữa "chánh đạo" và "ngoại đạo" khác xa nhau như thế nào.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Ba, 22 tháng 12, 2015

Vũ Cao và một kiểu người quản lý văn nghệ những năm chiến tranh

VTN

 Theo nhiều người kể lại, ngôi nhà 4 Lý Nam Đế, nơi làm việc của tạp chí Văn Nghệ Quân đội từ 1957 đến nay, vốn được xây từ trước 1945 để dành cho phi công Nhật. Các phòng gác hai được lát bằng thứ gỗ phẳng lỳ, anh em sống ở tòa soạn chúng tôi thường lau sạch đi, lấy chỗ để hàng chục người có thể ngồi họp hành nghiêm chỉnh hoặc quây quần tán chuyện.
 Sau khi lễ mễ mang cả xô nước từ bể lên gác lại nhoài người lau nhà, mọi người không khỏi tiếc sức, nên trước cửa thường không quên đề rõ rằng vào phòng để dép ở ngoài. Nhưng có lần anh Hà Trì, người trình bày các số báo,  kể với tôi:
-- Ông  mới về không biết, hồi trước đã có lần hình như ông Oánh thì phải đã phải đề rất rõ “Giày dép để ngoài, trừ Vũ Cao”.
-- Sao lại có cái  lệ lạ lùng vậy, chắc là để chiếu cố thủ trưởng?
-- Hồi ấy đâu ông Cao đã lên Phó chủ nhiệm mà chiếu với chẳng cố. Căn bản là ông Cao ở cái phòng dưới nhà mình chuyên đi đất, ra ngoài mới xỏ dép, nên vào phòng đi dép hay bỏ dép cũng thế. Tóm lại chân Vũ  Cao lúc nào cũng bẩn, có thế mà cũng không hiểu, bố trẻ ạ!
  Người phụ trách tờ báo của chúng tôi có tính xuề xòa thật. Trong khi các thành viên tòa soạn hai người một phòng trong ngôi nhà hai tầng sang trọng trên gác thì thủ trưởng Vũ Cao và thủ phó Từ Bích Hoàng chỉ mỗi người một phòng, loại phòng nhỏ dưới ngôi nhà một tầng tường mỏng cửa giả sơ sài, mùa hè thì nóng mùa đông thì lạnh.  Bàn ghế không có gì khác anh em.  Nhân viên có đến làm việc ngồi cạnh cái bàn gỗ mộc. Người công vụ của cơ quan là anh Mạn chỉ ưu tiên cho hai vị  hơn hẳn anh em là mỗi sáng đun sẵn cho mỗi người một phích nước sôi, để các vị tiếp khách.
Trong đời cán bộ của mình trước sau tôi chỉ ở có hai nơi là Văn nghệ quân đội và nhà xuất bản Tác phẩm mới sau là nhà xuất bản Hội nhà văn, nên  không được biết nhiều về lề lối làm việc hồi ấy, nhưng rõ ràng Vũ Cao là loại người xuề xòa hiếm có. Xin kể hai chuyện có liên quan tới bản thân.
Năm 1964, tôi đi bộ đội theo chế độ nghĩa vụ quân sự và bắt đầu đeo cái lon binh nhì. Sau mấy tháng luyện quân ở Nà Sản, lúc được gọi về làm giáo viên văn hóa, nghĩa là làm đúng chuyên môn của mình, tôi cũng chỉ bò dần theo chế độ hạ sĩ quan; tới khi từ Đoàn kịch Tổng cục chính trị chuyển sang tạp chí, mới chỉ đeo quân hàm  thượng sĩ.
Ở Văn Nghệ quân đội đâu độ gần một năm rồi tôi mới được chuyển dần lên chuẩn úy quân nhân chuyên nghiệp 1970, rồi thiếu úy theo hệ sĩ quan chính thức năm 1971, và từ 1976 tới khi xuất ngũ 1978 là trung úy.
Tôi còn nhớ rất rõ cả mấy lần nhận giấy thăng chức. Buổi sáng thức dạy tập thể dục và ăn sáng xong, đang leo lên cầu thang, chuẩn bị làm việc, tới nửa chừng, bỗng nghe có tiếng Vũ Cao khẽ gọi, nhưng lại giật giật từng tiếng một Nhàn Nhàn, tôi không hiểu ra làm sao cả. Sao trước đó thủ trưởng lại cứ đi đi lại lại như đã chờ mình thì phải? Mọi khi có việc gì anh vẫn nhắn qua anh em khác để hẹn tới tận phòng, sao lần này sao khác hẳn? Tôi đã tới sàn tầng một. Vũ Cao đang tay chắp sau lưng vụt giơ về phía tôi tờ giấy với một câu nói khẽ “Của cậu đây này”, rồi bỏ đi luôn không chờ tôi hỏi lại một lời. Lúc lên phòng mở ra, hóa cái quyết định trao quân hàm. Tôi biết rằng ở nơi khác mỗi lần như thế,  các thủ trưởng cơ quan làm rất bài bản. Gọi nhân viên tới. Trước khi đưa quyết định thì huấn thị dài dài, yêu cầu thời gian tới thế nọ thế kia. Và nhất là cố làm cho người được thăng chức biết công ơn mình, nay mai tiếp tục hầu hạ mình. Đằng này Vũ Cao làm như một việc chẳng dây dưa gì đến anh cả, cấp trên đưa tờ giấy phong ai thì anh trao cho người đó thế thôi, và là trao ngay giữa lối đi.
Đến như cái chuyện sau đây thì bây giờ tôi vẫn giật mình không ngờ lúc ấy mình liều thế mà Vũ Cao cũng dễ dãi với mình đến mức vô nguyên tắc đến thế. Hè năm 1972 đó tôi có quyết định theo một đoàn văn nghệ (gồm có các anh Thu Bồn Sơn Nam bên tạp chí tôi, anh Trần Anh Vinh và anh Sơn Nam bên PhòngVăn nghệ) đi chiến dịch Quảng Trị. Theo nguyên tắc mỗi sĩ quan  sơ cấp như bọn tôi đều phải mang theo một khẩu súng lục. Từ lúc lĩnh về, tôi cũng chẳng mở ra xem nữa. Chỉ muốn để ở nhà cho đỡ nặng nợ. Cứ ấp úng mãi,  lúc sắp lên ô tô, tôi không nhịn được nữa, đành nói thật với Vũ Cao:
-                      --  Anh cho em để nó ở nhà được không?
Sau một phút suy nghĩ, Vũ Cao phẩy tay:
     --  Ừ! cất ngay vào tủ trên gác đi…
Sau này biết tôi không mang súng, thiếu tá Anh Vinh trưởng đoàn còn cằn nhằn mãi. Tới một trung đoàn, anh xin hộ tôi một khẩucarbin và bắt tôi mang theo. Lúc này đã vào chiến trường rồi, tự nhiên tôi cũng thấy cần có một khẩu súng nhỏ bên mình, dù cũng chẳng bao giờ tôi nạp đạn để bắn một viên nào cả.
Cái nét phóng khoáng trong sinh hoạt thật ra chỉ là một hậu quả tự nhiên của cái phóng khoáng chung trong quan niệm sống của Vũ Cao.
Nhìn  bọn anh em viết trẻ chúng tôi, bao giờ Vũ Cao cũng mủm mỉm cười. Anh gọi chúng tôi là một lũ “nhốn nháo cách mạng” và ngầm có ý bảo rằng hôm qua bọn mình cũng như các cậu có khác gì đâu.
Sinh hoạt tư tưởng trong những năm chiến tranh có những sự gò bó chấp nhặt rất lạ. Một bậc đàn anh dạy nghề trực tiếp, người nối tôi với tòa soạn bấy giờ là Nguyễn Minh Châu. Trong  những buổi tối trò chuyện đủ thứ với nhau,  tác giả Cửa sông thường không quen dặn tôi, giữa quan điểm văn nghệ của cơ quan mình với các cơ quan chung quanh vênh nhau lắm,  có nhiều chuyện nói trong cơ quan thì được vào trong thành hay trước mặt các phái viên Tổng cục mà cứ nói linh tinh thì khốn đấy. Tôi thấm thía lời dặn  đó của Nguyễn Minh Châu, rõ nhất là trong một lần đi họp với mấy  vị  phụ trách Thư viện và nhân viên các phòng Tư liệu của các cơ quan báo chí bên cạnh.  Với niềm tự tin và cảnh giác cao độ, các đồng chí đó đặt vấn đề phải quản văn nghệ báo chí thật chặt, ngay các biên tập viên các phóng viên cũng không được đọc các tài liệu ngoài quy định của Tổng cục. Ở  một trình độ cao hơn, tôi nghe ra một nguyên tắc nghiêm ngặt  có tính chỉ đạo chung, là phải xây dựng một nền văn nghệ riêng, không để  cho những linh tinh bên ngoài đột nhập.
Họp xong về, tôi lắc đầu le lưỡi bảo với  Nguyễn Minh Châu và mấy người khác, hôm nay tôi mới hiểu thế nào là kỷ luật tuyên truyền trong quân đội.
Câu chuyện rồi cũng đến tai cả Vũ Cao và Từ Bích Hoàng. Vũ Cao bảo nghe ai nói thế nào lúc nào phải phân tích cho kỹ, có khi người ta nói với mình một khác, mình lại nghe lầm thì sao. Còn cụ thể trong trường hợp này, biết tôi có nhiều bạn bè bên ngoài, Vũ Cao dặn là biết thế thôi chứ đừng có đi mà nói rộng ra với cánh Xuân Quỳnh Bằng Việt nhỡ anh em hiểu lầm.
 Trong một dịp hiếm hoi, Vũ Cao nói thêm với tôi rằng cả trong những buổi  họp với cấp trên, anh vẫn báo cáo cho các vị rõ là không có chuyện đó, không có chuyện một nền văn nghệ quân đội hoàn toàn cô lập, và các  vị  không có ý kiến gì khác.
 Nên biết rằng hồi đó, giấy in báo không có, và hình như bên Tuyên giáo cũng không  muốn có nhiều báo làm gì, phát sinh nhiều chuyện thêm mệt.  Từ 1964 về trước, cả giới còn có tờ tạp chí Văn Nghệ của Hội liên hiệp và  tờ báo hàng tuần Văn học của Hội nhà văn.  Sau kỳ Đại hội Hội liên hiệp lần thứ hai, hai tờ này sát nhập lại gọi chung là Văn nghệ. Tờ báo 16 trang mỗi tuần mà phải cõng chung cho cả mỹ thuật, âm nhạc sân khấu, quả thật còn đâu ra đất để mà dành cho các nhà văn.  Văn Nghệ quân độichúng  tôi lúc ấy do Tổng cục chính trị quản. Đằng thằng mà nói, những người phụ trách tạp chí có thể làm theo cái lối là khóa chặt cửa lại, chỉ đăng sáng tác cho anh em nhà, cũng chả ai phê phán anh được. Thời các anh Văn Phác Thanh Tịnh — những người tiền nhiệm của Vũ Cao — việc mở cửa đã bắt đầu nhưng còn khá dẻ dặt. Tới Vũ Cao thì việc này thành một nền nếp. Nhất là Văn nghệ quân đội rất sẵn sàng đón nhận những tác phẩm hay của các bạn trẻ. Tôi nhớ hồi đó, tất cả những Xuân Quỳnh, Lưu Quang Vũ, Bằng Việt, Vũ Quần Phương, Hoàng Hưng, Thi Hoàng, Nguyễn Khắc Phục… đều có thơ hay truyện đăng ở Văn nghệ quân đội và các tác giả trẻ này đều cảm thấy tạp chí không hề có tính chất căng cứng hoặc biệt lập gây cho người khác  chút mặc cảm nào cả.
 Sau này tôi mới hiểu Vũ Cao làm thế  -- không bao giờ tự coi là dân đứng ngoài, không muốn dính dáng đến các sinh hoạt văn học chung -- không phải là chuyện ngẫu nhiên. Sự gắn bó giữa phong trào văn nghệ trong Quân đội với lực lượng sáng tác dân sự đã có từ thời kháng chiến chống Pháp.  Hồi ở Hương Ngải, một trong những câu chuyện đầu tiên Nhị Ca kể với tôi là chuyện Nguyễn Đình Thi sau khi đi chiến dịch trung du đã ghé lại chỗ các anh, ngồi lì 18 ngày viết cho xong Xung kích mới  quay về cơ quan Hội văn nghệ, đưa cho các ông Trường Chinh Tố Hữu duyệt. Vũ Cao thì kể hồi 1948-49, cơ quan của anh tuy đã kéo lên Việt Bắc song vẫn có bộ phận ở Hà Nội, trên này cần gì  dưới đó mang lên. Và thế là các anh có cả một lô những cuốn sách bằng tiếng Pháp, cái quyển mà Vũ Cao nhớ hơn cả đâu là cuốn Cơn bão táp của Ehrenburg. Nghe tin có sách, Nguyễn Đình Thi đang từ cơ quan Hội văn nghệ đi bộ cả ngày đường sang chỗ Vũ Cao đọc nhờ. Mình vừa phải cho nó đọc sách, vừa phải nuôi báo cô nó mấy ngày – Vũ Cao vừa nói vừa cười khà khà vẻ tự tin của một người từ trẻ đến già luôn luôn là ông chủ những cơ ngơi đàng hoàng.  Trong các câu chuyện của ông với chúng tôi về thời nay của văn nghệ, ông không cần nhắc nhiều nhưng cái cảm giác về thời xưa ở Việt Bắc cứ còn mãi trong ông, chả chuyện gì bên Hội nhà văn – bao gồm cả người và việc -- lọt qua mắt ông cả.
1970,  Nam Định làm lễ kỷ niệm 100 năm sinh Tú Xương. Văn Nghệ quân đội cũng một ô-tô riêng về thành Nam. Trở về Vũ Cao chỉ nói với tôi:
-- Sừ Tô Hoài ghê thật!
-- Sao hả anh?
-- Có coi ai ra gì đâu.  Ngồi trên chủ tịch đoàn mà tôi để ý toàn thấy tay ấy viết cả.  Hình như đang viết một tiểu thuyết về Cao Bá Quát. Ra ngoài tay ấy còn bảo là sẽ gửi cho bên mình vài chương. Tôi đồng ý ngay.
Sự thông thuộc tình hình cả giới bảo đảm cho mọi sắc thái làm nên phương hướng mà Vũ Cao phải quyết định .
 Đứng về mặt sáng tác, tác phẩm của Vũ Cao ở lại với lịch sử văn học chiến tranh  chỉ có Núi đôi, bài thơ mà trong thời chống Mỹ, khi tìm hiểu nhiều ba lô các liệt sĩ, người ta thấy nó được chép rất nắn nót trong khi họ chẳng chép bài nào của Tố Hữu. 
Về con người thi sĩ nơi Vũ Cao, riêng tôi  chỉ một lần  đọc là dù quên tên  nhưng thuộc  ngay được bài lục bát sau:
Mẹ tôi ru cháu chiều chiều
Thường là hát mấy câu Kiều cháu nghe
 Mây hồng khóa kín song the
Bụi hồng lẽo đẽo đi về chiêm bao
 Tôi rằng cháu hiểu làm sao
 Những câu thơ tự thuở nào mẹ ơi
Lặng yên mẹ chẳng trả lời
Hai tay ôm cháu ạ ời vẫn ru
Mai sau dù có bao giờ
 Đốt lò hương ấy se tơ phím này
 Con tôi đôi má hây hây
 Lại yên giấc ngủ thơ ngây chiều chiều
Bâng khuâng mẹ nói một điều
Nghĩ mà thương phận cô Kiều ngày xưa
Cũng giống như Chính Hữu, Vũ Cao chỉ có độ vài chục bài thơ. Và cái chính là trong cách sống, ông vẫn có chất của một cán bộ quân đội làm công tác phụ trách, còn người nghệ sĩ trong ông thì còn ở dạng nghiệp dư, khi vui thì viết, cũng không có một bài bản gì đầy đủ, lại càng không chất ngất quyết tâm trở thành nhà văn lớn.
Tuy nhiên đối với tôi, đây là một loại quan chức văn nghệ phù hợp với tình hình lúc ấy.
Một đặc điểm của sinh hoạt văn học trong  thời gian chống Mỹ, là có rất nhiều vụ đánh đấm sát phạt nhau. Tôi sẽ nói lại tình trạng này trong một hồi ký riêng, ở đây chỉ  nói một đặc điểm là rất nhiều vụ trong đó được đẩy lên quá mức cần thiết, nhiều vụ không đáng có mà vẫn xảy ra, chẳng qua là có các vụ đấu tranh tư tưởng trong xã hội nói chung thì người ta phải mượn việc đe nẹt giới văn nghệ để nêu gương. Hồi chiến tranh phá hoại, máy bay Mỹ có cái lệ là sau khi oanh kích các mục tiêu ở Bắc bộ, lúc trở về hạm đội trên biển, còn bao nhiêu bom phải trút ra bằng hết. Và các làng xóm ven biển Nam Định Thái Bình, nhiều khi là một cánh đồng, một bãi hoang vu vơ trở thành nơi hứng bom lu bù là vì thế. Việc  giới văn nghệ được ví với những vùng ném bom tự do – cái cách nghĩ có ở một số anh em thạo đời  hồi ấy -- đã chứng tỏ văn nghệ có một thân phận như thế nào. Liên tục bi cột vào những vụ việc không hiểu đầu cua tai nheo ra sao, cả đám cứ nơm nớp  như đám con nhà nghèo,  sợ cảnh bố mẹ cãi nhau lại mang mình làm cớ. Hơn thế nữa, những việc vội vã  này cũng  mở ra con đường cho những ngòi bút cơ hội, lấy việc hưởng ứng cấp trên để lập thân -- đó mới là điều di họa cho thời gian sau.
 Tôi còn nhớ khi xảy ra các vụ Cái gốc, Tình rừng, đến các vụVòng trắng vòng đen, Cây Táo ông Lành…  thì  ở nhà số 4 chúng tôi, các bậc đàn anh năng nổ là người xầm xì với nhau đầu tiên. Nguyễn Khải mang về các tin bên Hội nhà văn. Hữu Mai thì có đầu mối  là các người quen trong Tổng cục chính trị, cái chữ mà chúng tôi hay dùng là “dân thạo tin trong thành”. Cách nói của Nguyễn Khải là cứ toe loe ầm ĩ cả lên, trong khi  Hữu Mai thì úp úp mở mở, nhưng các anh đều ngầm nói rằng chắc là phen này Tạp chí mình cũng phải lên tiếng chứ.  Với vai trò là nhân vật số một của  VNQĐ,  tôi đoán mọi chuyện Vũ Cao đã biết ngay từ đầu, nhưng trong các buổi họp, Tổng biên tập của chúng tôi – mà hồi đó còn dùng cái chức danh Chủ nhiệm --  chỉ nói là chờ cấp trên. Họp xong giải tán trở về phòng riêng, Nhị Ca nói thẳng với tôi rằng cấp trên là ai, là ông ấy [ = Vũ Cao] chứ còn ai nữa, vậy chắc là người còn đang tính, nhưng chắc là bố mày chả làm gì đâu. Từ lâu mấy anh em làm công tác trị sự trong cơ quan như anh Hà Trì, anh Doãn Trung đều bảo với tôi ông Cao nhà mình tuy chức danh chỉ ngang trưởng phòng, nhưng lại có chân trong Đảng ủy Tổng cục, nơi mà các ông Cục trưởng bình thường cũng không dám mơ. Thế mà Vũ Cao đã trúng mấy khóa liền. Về văn nghệ, người ta có làm gì cũng phải tính đến ý kiến của ông. Nên lần này nghe Nhị Ca nói vậy, tôi tin ngay. Quả nhiên Vũ Cao đã chi đạo tờ tạp chí của mình yên lặng đứng ngoài không  tham gia vào các vụ đánh đấm, các chiến dịch truy quét sai lầm đương thời.
 Khỏi phải nói trong việc này, Vũ Cao đã phải suy nghĩ rất nhiều. Nó là chuyện sinh mạng chính trị của các quan chức. Đấu đá đang là không khí của thời đại. Chỉ có con người lịch lãm và tự tin mới dám giữ một sự im lặng như vậy. Mà với ông nó là một sự nhất trí một sự liên tục.
Từ 1970,  đang từ giọng thơ trữ tình dẫu sao cũng còn đằm thắm, Chế Lan Viên ngả hẳn sang những bài thơ chính luận sống sượng và trong các phát biểu trong các Hội nghị thì có cái giọng sát phạt đe nẹt khiến nhiều người biết Chế Lan Viên từ hồi chữa bệnh ở Trung quốc về không khỏi ngạc nhiên. Tôi tưởng trong cơ quan chỉ Nguyễn Khải vì là người hay đi lại bên Hội biết con người Chế Lan Viên thế nào (điều này tôi đã kể trong các hồi ức về Nguyễn Khải), còn ông Vũ Cao cứ lầm lầm lì lì ngồi đọc Oeuvre et Opinion với lại  Lettre Francais  không để ý. Hóa ra tôi nhầm.
-- Lâu nay cứ tưởng thế nào, giờ mới biết chính bố Lành đứng đằng sau  Chế Lan Viên xúi hết.
Vũ Cao thủng thẳng nói, nhân một lần anh ghé lại chỗ mấy anh em khác trong đó có tôi.
Cái sự Vũ Cao không tham gia các vụ đánh đấm trong mấy năm ấy hóa ra có cả một quan niệm chi phối  dài dài. Anh đã là đồng đội từ Thâm Tâm, đã chứng kiến những phút bi phẫn của Thâm Tâm trước khi hy sinh. Trần Dần là người anh từng mến mộ và có quan hệ tốt với cả gia đình anh. Anh thường nhìn Văn Cao với con mắt của một người cùng quê, trên đường lập nghiệp. Trong những bài thơ Vũ Cao viết hồi kháng chiến, tôi nhớ có bài Đèo trúc với mấy câu kết “ Lên ngang dốc núi / Chợt thấy mình say/ Người ơi hoa tím / Đầy rừng hoa bay”. Kháng chiến hồi đầu là thế, là một lũ thanh niên thích giang hồ kéo nhau đi vừa phục vụ xã hội vừa thỏa chí tò mò. Trong bụng ai cũng một mớ lơ mơ, chỉ có người nói ra thế này người nói thế khác, người ngông cuồng quyết liệt, người lặng lẽ thể nghiệm, chứ sai lầm tư tưởng gì, địch ta gì ở chuyện này.
Chính thức ra công khai từ 1957, thật ra lúc đầu Văn Nghệ quân đội vẫn còn tính chất một bản tin nội bộ. Các vụ đấu tranh chống ảnh hưởng xét lại lẫn xu hướng học theo cách mạng văn hóa bên Bắc Kinh có được giới thiệu ít nhiều trên trang báo khổ lớn thì cũng viết theo các tài liệu từ cấp trên đưa xuống từ bên ngoài đưa vào, chứ không phải lả tiếng nói của các người trong cuộc. Cái sự nhũn nhặn không tham gia vào việc mình không thạo, chỉ lo việc cấp trên giao phó cho mình, thực ra là cả nguyện vọng chung của các cây bút mới thành danh trên tạp chí, chứ không của riêng ai. Nhưng trong tay một người chừng mực và lão luyện như Vũ Cao, nó có sự đúng mức mà người ta có thể vì nể.
Trong việc quản lý Văn nghệ quân đội, Vũ Cao hay nói rằng lãnh đạo tức  không làm gì cả, cứ để cho việc mặc nhiên nó luân chuyển. Thực ra, đó là một cách nói nhũn, nói tránh để không muốn bộc lộ ra những chủ kiến. Vũ Cao chỉ không làm gì cả với nghĩa không hò hét không đao to búa lớn. Chứ đằng sau cái vẻ dễ dãi, thật ra Vũ Cao có tính nguyên tắc của mình. 
Có một chuyện tới nay ít ai nói lại mà  Vũ Cao không bao giờ nói ra, nhưng theo tôi, nó cho thấy bản lĩnh của Vũ Cao, đó là việc sử dụng các cây bút chủ lực của Văn nghệ quân đội. Một tư tưởng chi phối nhiều người lúc đó là tư tưởng bình quân, đại khái cho rằng đã là nhân viên cơ quan thì người nào cũng như người nào, ai cũng phải tuân theo sự phân công của người phụ trách và người phụ trách phải công tâm với nghĩa coi ai cũng như ai. Nhưng tôi nhớ, với hai nhà văn xuất sắc nhất của văn nghệ quân đội những năm ấy là Nguyễn Khải và Nguyễn Minh Châu, thì Vũ Cao có khác. Lệ của Tạp chí là anh em thay nhau về làm biên tập, hết hạn biên tập mới được lo chuyên về sáng tác. Với các nhà văn mà anh ưu ái, Vũ Cao dành cho họ sự biệt nhãn, chứ không đến lượt lại lên, phải bỏ sáng tác để về làm biên tập như mọi người khác. Và điều quan trọng hơn, Vũ Cao để cho hai nhà văn Nguyễn Khải Nguyễn Minh Châu tự do lựa chọn các đề tài và cách viết của mình. Anh tôn trọng những tìm tòi của họ vì rất tin ở con người của họ. Cái công thức ngắn gọn “lãnh đạo tức không lãnh đạo gì cả" thực chất là biểu hiện một sự hiểu biết của Vũ Cao về mọi mặt văn nghệ, trong đó có việc sử dụng các tài năng.
Phần lớn cán bộ phụ trách văn nghệ ở ta coi rằng mình được bầu được cử  ra quản lý tức có khả năng sáng tác hơn người . Nhưng Vũ Cao hiểu khác, anh hiểu sáng tác và quản lý là hai lĩnh vực khác nhau. Một sự tôn trọng đầy thiện chí của người phụ trách đối với cấp dưới có năng lực sáng tác hơn mình, chính nó  làm nên  cái vinh dự  của người quản lý và người ta sẽ ở lại trong lòng đồng nghiệp là ở sự biết người biết của đó .
Sự thực là chỉ có một người đọc nhiều, hiểu rộng như Vũ Cao thì mới có tầm nhìn và cách quản lý kiểu đó.
Tôi nói Vũ Cao là một người đọc nhiều hiểu đọc vì tôi còn nhớ hồi ấy ngay trong chiến tranh mà Văn nghệ quân đội vẫn lo đặt bằng được báo chí phương Tây như Europe,l'Humanité Dimanche …và tôi thấy chúng luôn luôn xuất hiện trên bàn làm việc của Vũ Cao. Không chỉ bó hẹp trong khu vực mình quản lý, Vũ Cao còn hiểu kĩ càng về đời sống văn học nói chung và cả phần văn học phương Tây mà ít nhiều thế hệ như anh đã có biết từ trước. Tôi cho rằng chỉ nhờ vốn văn hóa như vậy mà  Chủ nhiệm của chúng tôi có được quan niệm khá tự do trong xử lý công việc. Một bằng chứng là mặc dù thời đó báo chí trong nước khá im ắng không tính chuyện giới thiệu văn học nước ngoài, nhưng từ 1973, khi tình hình có vẻ cởi mở một chút thì trên  tờ tạp chí của chúng tôi, ở phần lí luận, cũng sớm có được  tin tức và bài vở gọi là hé ra cho thấy thế giới.  Tin tức từ Trung quốc không có vì bên ấy vẫn đang trong không khí của Cách mạng văn hóa. Mà Trung quốc không có thì Nga cũng không thể có. Trong cái khó ló cái khôn, tôi đề nghị đưa các ý kiến bàn về nhà văn và chiến tranh của E. Hemingway  và các ý kiến bàn về văn học của B. Brecht,  rồi có khi đá sang cả Mỹ la tinh, nhất là khi nghe  cuốn Trăm năm cô đơn đang nổi như cồn... Vũ Cao sẵn sàng chấp nhận những bước hội nhập sớm sủa đó.
 Nên cắt nghĩa ra sao về hiện tượng này?
 Cách mạng tháng Tám 1945 và sự nghiệp toản quốc kháng chiến sau đó  sớm lôi cuốn vào hàng ngũ của mình lớp thanh niên ưu tú mà trước đó về mặt con người trí thức được đào tạo khá bài bản trong các nhà trường Pháp thuộc. Trong quân đội, ta cũng thấy tập trung rất nhiều thanh niên tri thức trẻ. Trước khi các đợt chính huấn theo kiểu Trung quốc được phát động những năm 50, nhiều chỉ huy cao cấp trong quân đội là những sinh viên cũ của các trường đai học Hà Nội. Dưới họ, làm nền cho họ, các bậc tú tài  cũ  lại càng đông đảo. Trước khi có sự xuất hiện các cây bút gọi là công nông  đám tri thức trẻ này có vai trò chủ yếu trong việc hình thành nên  bộ phận tuyên truyền báo chí văn nghệ trong quân đội, và sau này họ cũng là những người cốt cán để xây dựng nền văn học nghệ thuật nói chung. Khi có một số vụ việc xảy ra  trong văn nghệ, cán bộ các Hội có vấn đề, người ta đều đưa cán bộ quân đội ra thay.  Đặng Đình Hưng, Đỗ Nhuận, Huy Du, Chính Hữu, Hữu Mai  Nguyên Ngọc … đều là như thế. Những người này đóng vai chèo lái chủ yếu ở các Ban chấp hành, còn nhiều nhân vật có uy tín chuyên môn vốn có ở Hội chỉ còn trên danh nghĩa. Những người này được coi là trung kiên. Nhưng chữ trung kiên này cũng có những nghĩa khác nhau của nó. Có những cán bộ thừa hành lấy việc nhất nhất làm theo cấp trên làm lẽ sống, thậm chí còn làm quá lên nữa để lấy thành tích. Nhưng có những người tự tin ở sự trung thành của mình với cách mạng, vừa làm vừa lắng nghe, vừa làm vừa điều chỉnh, cốt lấy việc phát triển đúng đắn của văn nghệ làm chính. Với bản lĩnh và tầm nhìn sáng suốt, cuối cùng họ lại làm tốt cái điều mà họ và cấp trên cùng mong mỏi  là đưa văn nghệ đóng góp vào sự nghiệp chung. Loại người thứ nhất rất nhiều, ngày càng nhiều tôi không kể ở đây. Còn trong những người loại thứ hai, bao giờ tôi cũng nghĩ tới Vũ Cao.
Hồi ấy, sự hiểu biết của bọn dân đen văn nghệ chúng tôi còn đơn giản lắm.  Làm gì có ai tính thoát ra được khỏi cái không khí thời đại đang hừng hực.  Được gặp những người vừa phải như Vũ Cao, trong hơn mười năm đầu đời làm nghề, tôi tự thấy mình đã may mắn lắm. Nó cũng là cơ sở để sau này tôi tìm dần ra cách thích ứng mà vẫn giữ được cuộc sống tinh thần phần nào độc lập riêng tư  bên Hội nhà văn.
Tôi có một người bạn cũ là Nguyễn Quân , quen nhau từ sau 1975. Vốn đi học ở Đức về kinh tế, trở về nước, anh còn đi dạy tiếng Đức một thời gian, rồi mới chuyển về dạy lý luận nghệ thuật ở trường Mỹ thuật, trước khi trở thành họa sĩ. Một người chen ngang vào nghệ thuật, người ta thường gọi anh như vậy. Theo chính lời kể của Nguyễn Quân, có lần ông già bậc lão làng là Vũ Khiêu đã hỏi anh:
-- Có phải cậu là cái anh lách cửa phụ mà vào với giới văn nghệ phải không?
Quân trả lời ngay:
-- Không thưa bác, cái cửa cháu vào mới là cửa chính còn cửa mọi người vẫn đi mới là cửa phụ, chẳng qua nhiều người đi quá nên tưởng là cửa chính thôi.
 Cái kỳ lạ của Nguyễn Quân là chẳng bao lâu chuyển sang bên Hội mỹ thuật anh đã trở thành một thứ thủ lĩnh mang lại nhiều cách tân  vượt lên trên sự trì trệ kéo dài của những năm chống Mỹ. Đúng vào lúc có những đổi mới, anh trở thành người điều hành công việc của Hội. Có việc đi dự cuộc gặp gỡ của Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh ư, anh là một trong những người đầu tiên người ta nghĩ tới , và quả là đã phát biểu raát mới, đến bây giờ vẫn cứ mới. Vốn là con một vị tướng bên Tổng cục hậu cần, anh có niểm tự tin của đám con cháu trong nhà,  có những điều ở miệng người khác nói ra lập tức ăn đòn, mà Nguyễn Quân nói người ta phải chịu. 
Tôi đã ghi lại điều này  trong nhật ký và giới thiệu trong bài trên mạng   Chuyện văn nghệ Hà Nội nghe ở Moskva 1987 (kỳ II)
 Mới đây, hôm 5-12-2015, Nguyễn Quân kể lại một việc hồi ấy tôi không được biết. Khi Quân làm thường trực Hội cũng là lúc có vụ cấp trên tha bổng cho các vị Nhân văn Giai phẩm. Anh sớm bắt tay ngay vào cái việc cấp thiết  hồi đó là tổ chức có đến mười mấy triển lãm, đưa sáng tác của những người lâu nay sống trong quên lãng trở nên thành tựu và  coi như niềm tự hào của cả giới. Sau khi đưa Dương Bích Liên, Nguyễn Sáng trở lại Hội anh còn lập tức tăng lương cho các cụ hôm qua đã sống rất khổ sở đó, có những người lương cao hơn cả ông trùm đương thời của Hội là Tổng thư ký Trần Văn Cẩn.
Tôi hỏi Quân:
 -- Quả là việc không thể có bên Hội nhà văn. Ông Thi lúc đó chỉ làm công việc đón cánh Nhân văn về một cách tượng trưng. Còn Hữu Thỉnh sau này chỉ dùng ông Lê Đạt như một thứ “đối lập” để làm dáng, để ra vẻ đổi mới,  đối lập nhằm tô vẽ cho chính các quyết định của mình. Thế lúc ấy ông không sợ các ông trên tuyên huấn không bằng lòng à?
-- Cánh bảo thủ toàn phóng đại ảnh hưởng của các cán bộ chính trị. Tôi thấy khác. Một khi người ta đã tin là anh chỉ làm những việc cho người ta đẹp mặt, thì việc gì người ta chẳng tán thành. Cái điều tôi rút ra cho mình thời đổi mới thực ra khá đơn giản. Cái sức ì lớn nhất chi phối mọi hoạt động của Hội lại nằm ở trong đa số Hội viên và những người  đương quyền  trong giới của mình. Thắng được cái đó là thắng tất mà thua cũng là thua luôn.
Tuy  Vũ Cao và Nguyễn Quân thuộc hai  thế hệ khác nhau, và tài năng khác nhau, nhưng tôi cảm thấy ở họ có cái đức tính chung của những người quản lý mà giới văn nghệ rất cần. Lòng họ trong sáng. Họ không có ý định dùng quan chức để leo trèo, kể cả leo lên một địa vị cao trong sáng tác. Lòng tự tin ở họ bắt nguồn từ sự hiểu biết về guồng máy, và trong thời của họ, họ đã điều khiển tốt guồng máy.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tình yêu thời khói bụi tại Trung Quốc


Phạm Duy Hiển


Tình yêu Bắc kinh !!! 

Những hình ảnh sẽ khiến cho nhiều người phải giật mình về "tình yêu thời khói bụi" ở thủ đô Bắc Kinh, Trung Quốc.

Tình trạng ô nhiễm khói mù ở Trung Quốc hiện nay cao gấp gần 24 lần so với tiêu chuẩn an toàn, chỉ số PM2,5 (tức là chỉ số hạt bụi có kích thước nhỏ hơn 2,5 micromet dễ thâm nhập vào phổi) đo được ở mức cao, khoảng 598 microgram/m3 khí, trong khi chỉ số tối đa mà Tổ chức Y tế thế giới WHO khuyến cáo là 25 microgram/m3 khí.






Đám cưới thời khói bụi. 

Cô dâu thời khói bụi


Chú rể cá tính đeo mặt nạ phòng độc chụp ảnh cưới


Những bức ảnh cưới của cặp này đã khiến cho nhiều người phải giật mình vì sự ô nhiễm môi trường khủng khiếp tại Trung Quốc. 


Trong thời buổi hiện nay, hạnh phúc của đôi ta không thể rời xa chiếc mặt nạ phòng độc. 


Tình trạng ô nhiễm khói mù ở Trung Quốc hiện nay cao gấp gần 24 lần so với tiêu chuẩn an toàn



Lẽ nào đây là ảnh chụp gia đình trong tương lai, khi mà lượng khói bụi ngày càng gia tăng nhanh chóng?


Phần nhận xét hiển thị trên trang