Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Ba, 15 tháng 12, 2015

Singapore bắt giữ tàu chở dầu Việt Nam để cấn trừ nợ?

 Thanh Niên Online

Tàu chở dầu MT Nautilus Pioneer đang bị giam ở Singapore được cho là của công ty cổ phần vận tải biển Anh Vũ - Ảnh: website Công ty Khai Nguyên
Một chiếc tàu chở dầu của Việt Nam đã bị giới chức Singapore bắt giữ với lý do để cấn trừ nợ trong một vụ mua bán nào đó.

  • Tàu chở dầu MT Nautilus Pioneer trọng tải 13.700 tấn mang quốc tịch Việt Nam đã bị giữ ở Singapore ngày 14.12 theo lệnh của tòa tối cao nước này, theo trang Ship&Bunker.
Không rõ lý do của vụ bắt giữ, nhưng Ship&Bunker cho biết công ty bảo hiểm AsiaLegal LLC ở Singapore đã đề nghị tòa tối cao ra quyết định giam giữ này.Ship&Bunker cho rằng những trường hợp liên quan đến quyết định giam giữ khẩn cấp của tòa thường liên quan đến nợ nần hoặc những khoản thanh toán có tranh chấp.
Trang VesselValue.com đánh giá con tàu MT Nautilus Pioneer, do Trung Quốc đóng hồi năm 2008, trị giá khoảng 8,88 triệu USD thuộc sở hữu của Công ty cổ phần vận tải biển Khai Nguyên (Prime Shipping).
Trao đổi với Thanh Niên, nguồn tin từ Khai Nguyên cho biết, tàu MT Nautilus Pioneer không thuộc sở hữu của Khai Nguyên. Nguồn tin trên từ chối cung cấp thông tin liên quan đến MT Nautilus Pioneer và nói rằng đã không còn quản lý con tàu đó từ 2 tháng nay.
Trong khi đó, theo trang web của công ty này, tàu chở dầu MT Nautilus Pioneer thuộc sở hữu Công ty vận tài biển Anh Vũ nhưng không đề cập gì thêm về công ty Anh Vũ.
Minh Quang
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ảo tưởng cải cách dưới thời Tập Cận Bình

xi-jinping

Nguồn: Ian Johnson, “Xi’s China: The Illusion of Change”, The New York Review of Books, 29/11/2015.
Biên dịch: Ngô Việt Nguyên | Hiệu đính: Phạm Trang Nhung
Người ta thường nhận xét Tập Cận Bình là lãnh đạo quyền lực nhất của Trung Quốc trong nhiều thập kỷ qua, thậm chí từ thời của Mao. Ông được công nhận, dù đôi lúc miễn cưỡng, rằng đã đeo đuổi một chính sách ngoại giao quyết liệt, các cải cách kinh tế, và một chiến dịch trấn áp tham nhũng mang tính lịch sử.
Nhưng khi Tập kết thúc năm thứ ba cầm quyền vào tháng này, sự đánh giá trên ngày càng trở nên sai lầm, khi Trung Quốc vẫn bị cầm chân bởi những điều cấm kỵ đã giới hạn những người tiền nhiệm của Tập. Điểm cốt lõi ở đây là một chính quyền độc đảng không muốn rút khỏi vai trò lãnh đạo đời sống kinh tế, chính trị và xã hội. Lĩnh vực duy nhất mà chính quyền cho thấy sự sáng tạo thực thụ là việc tìm ra những phương thức mới để hợp thức hóa sự cai trị của họ, thông qua cách lảng tránh những vấn đề mà đất nước thực sự đối mặt.
Điều này còn đáng chú ý hơn nếu chúng ta tính đến việc Tập hiện giờ đang ở đỉnh cao quyền lực. Ông lên giữ chức Tổng Bí thư Đảng Cộng Sản và Chủ tịch Quân ủy Trung ương vào ngày 15/11/2012, đến giờ thì không thể xem Tập như một lãnh đạo mới cần thời gian để thực hiện những ý tưởng của ông nữa. Thay vào đó, chúng ta phải nhìn nhận rằng ông đã lên đến mức đỉnh cao về tầm ảnh hưởng. Đến nửa cuối năm sau, khi các bè phái tranh đấu trước thềm đại hội đảng lần thứ 19 vào năm 2017, người kế nhiệm Tập sẽ được lựa chọn – hai người sẽ làm việc với nhau trong 5 năm tiếp theo, như Tập đã làm việc dưới quyền Hồ Cẩm Đào từ 2007-2012 (Xin nói thêm ở đây là với logic thời gian cố hữu như thế này thì chúng ta phải xem lại tuyên bố thường được nhắc đến là các lãnh đạo Trung Quốc dường như được hoạt động với tầm nhìn (chính trị) dài hạn hướng tới tương lai, nhưng thực chất thì khoảng thời gian họ có ảnh hưởng chính trị chỉ tương đương với phần lớn các lãnh đạo phương Tây.)
Nhưng thay vì những đổi mới quan trọng, mục tiêu lớn nhất của Tập dường như chính là bảo vệ hệ thống cứng nhắc mà ông thừa hưởng vào năm 2012. Về cơ bản, điều này có nghĩa là nhà nước quản lý phần lớn nền kinh tế và xã hội. Nhà nước chiếm ưu thế trong các ngành công nghiệp quan trọng nhất, đặc biệt là công nghiệp nặng và tài nguyên thiên nhiên. Nhà nước quản lý đời sống chính trị và không cho phép những quan điểm trái chiều quan trọng. Nhà nước chỉ đạo đời sống xã hội. Họ cho phép các tổ chức phi chính phủ hoạt động nhưng chỉ với vai trò là nhà cung cấp dịch vụ, chứ không phải những người vận động thay đổi xã hội. Khái niệm về nền xã hội dân sự sống động và có tính phản biện là điều không thể chấp nhận được. Khi xuất hiện đổi mới công nghệ, ví dụ như là mạng xã hội, các khu vực tự do có thể xuất hiện, nhưng nhà nước sẽ làm tất cả trong quyền hạn của mình để đóng chúng lại.
Từ khi được bổ nhiệm vào vị trí quan trọng đầu tiên năm 1982, Tập đã làm việc như một người tổ chức với am hiểu chính trị sâu rộng. Mục tiêu của ông là tái tạo thời kỳ đầu của chính quyền Cộng sản vào những năm đầu và giữa thập niên 1950 khi mà cha ông là một phần của giới lãnh đạo tối cao. Vào lúc đó, theo những gì được lưu hành chính thức, đảng trong sạch và quan chức liêm khiết, và người dân hài lòng (với chế độ). Quay lại quá khứ tưởng tượng này có nghĩa là tăng cường chứ không phải làm suy yếu sự quản lý của nhà nước.
Nếu chúng ta nhìn nhận tổng thể những hành động của Tập trong 3 năm vừa qua, chúng ta có thể xem điều này là mục tiêu chính của các cải cách. Điều rõ ràng nhất và có thể xem là đáng thất vọng nhất với những người lạc quan là nền kinh tế. Một năm sau khi Tập lên nắm quyền, ông đã tuyên bố một kế hoạch cải cách kinh tế được một số người xem là nhiều tham vọng nhất kể từ khi Đặng Tiểu Bình công bố mở cửa nền kinh tế vào cuối thập niên 1970.
Nhưng sau ba năm, phần lớn những thay đổi của Tập, như là dần dần tự do hóa lãi suất ngân hàng hay là mở cửa thị trường chứng khoán rộng hơn một chút cho các nhà đầu tư nước ngoài, có lẽ nên được coi như là những chắp vá về mặt kỹ trị. Đúng thật là nhiều sửa đổi nhỏ có thể đem đến một sự thay đổi lớn, nhưng chỉ khi những thay đổi đó thuộc về một kế hoạch rộng hơn với mục tiêu rõ ràng. Vẫn chưa có dấu hiệu cho thấy sự tồn tại của một kế hoạch như thế, ít nhất là một kế hoạch có thể dẫn đến một nền kinh tế mở cửa hơn.
Tập đổi hướng là điều có thể xảy ra, có lẽ tốc độ tăng trưởng chậm sẽ buộc ông phải làm vậy, nhưng các dấu hiệu hiện nay không cho thấy nhiều triển vọng lắm. Một phóng sự thực tế đáng chú ý gần đây của Wall Street Journal cho thấy rằng mặc dù Tập giận dữ vì nền kinh tế giảm tốc, tỷ lệ tăng trưởng chậm lại làm ông cẩn thận hơn và thậm chí ít sẵn sàng hơn trong việc thúc đẩy cải cách.
Về chính sách xã hội, những thay đổi thực sự cũng chỉ là ảo giác. Thay đổi từ chính sách một con đến hai con đã trở thành đầu đề cho nhiều tờ báo, nhưng điều này không có ý nghĩa với phần lớn người Trung Quốc. Trước đó, nhiều người đã có thể có hai con (vì họ lách luật, sống ở khu vực nông thôn hoặc là người dân tộc thiểu số) nhưng lại càng nhiều người thấy rằng có hai con quá tốn kém. Điều hữu ích hơn là việc nghe những lời các quan chức đã nói. Khi chính sách một con được áp dụng, người ta dự định duy trì chính sách này trong 30 năm và giờ khoảng thời gian đó đã hết. Khi nói về những thách thức về mặt dân số mà đất nước phải đối mặt, nới lỏng chính sách một chút chỉ là một sửa chữa nhỏ, chứ không phải là một cuộc cách mạng.
Trong các lĩnh vực khác, như là pháp quyền, hay đăng ký các tổ chức phi chính phủ, chính sách cũng giống như cải cách kinh tế: những sửa đổi nhỏ tăng cường hiệu quả của các hệ thống hiện tại và thu hút sự chú ý của báo đài nhưng không thách thức sự quản lý của nhà nước.
Còn việc Tập trấn áp tham nhũng? Ở một mức độ nào đó thì những thay đổi rất hiện hữu. Nhiều người, và nhiều nhân vật cấp cao, bị bắt hơn bao giờ hết. Mọi người có thể thấy (ảnh hưởng của) điều này thậm chí với những quan chức cấp thấp ở xa Bắc Kinh, họ trở nên cảnh giác khi đi dự những bữa tiệc thịnh soạn hay lái những chiếc xe mà đáng lẽ họ không có khả năng mua được. Ví dụ, một quan chức ở tỉnh Sơn Tây mà tôi biết đã ngừng đi ăn ngoài vào ngày trong tuần vì ông sợ bị buộc tội sống phung phí. Gần đây, con gái ông kết hôn và ông khăng khăng buộc cô chỉ làm một tiệc nhỏ với vài chục khách, chứ không phải hàng trăm người do ông mời như vài năm trước.
Nhưng chính thực tế rằng điều này được thực hiện bởi một “chiến dịch”, chứ không phải thông qua cải cách luật pháp hoặc việc tạo dựng các bộ máy kiểm soát chính phủ độc lập, cho thấy giới hạn của nó. Để chương trình chống tham nhũng của Tập dẫn đến một xã hội trong sạch hơn cần những cải cách để tạo nên một hệ thống tòa án độc lập. Một số cải cách đã được nhắc đến, nhưng chúng chủ yếu chỉ nhằm giúp hệ thống hiện tại hiệu quả hơn đôi chút. Sự quản lý của Đảng đối với hệ thống luật pháp vẫn còn nguyên. Điều này làm các nhà điều tra, công tố viên, và quan tòa không thể đánh tham nhũng một cách bền vững. (Và nếu không có một nền báo chí tự do dù chỉ là một phần, thì tham nhũng thường không được đưa ra ánh sáng.)
Ngược lai, chính phủ đã rất thông thạo trong việc tìm những nguồn mới cho quyền lực sâu rộng của họ. Một cách là xây dựng ủng hộ thông qua chủ nghĩa dân tộc và các cuộc phiêu lưu đối ngoại, như việc xây dựng các đảo nhân tạo ở Biển Đông. Một cách ít rõ ràng hơn nhưng có thể hiệu quả hơn là việc bày tỏ sự đồng cảm với những bất mãn xã hội phổ biến về sự vô đạo đức, và ủng hộ những giá trị truyền thống. Họ đã cố gắng đạt được điều này thông qua việc pha trộn những giá trị tốt đẹp truyền thống và cộng sản để tạo nên một hình mẫu mới về công chức ngay thẳng và công dân đạo đức. Mô hình này đề cao những đức tính truyền thống như hiếu thảo với cha mẹ, tiết kiệm, và từ thiện, và gợi ý rằng chủ nghĩa cộng sản cũng coi trọng những giá trị này. Ví dụ, trong một chiến dịch cổ động bằng nghệ thuật truyền thống, các sản phẩm thủ công truyền thống, như tượng đất, tranh giấy cắt, và tranh phong cảnh, được kết hợp với những khẩu hiệu như là câu “Giấc mộng Trung Hoa” điển hình của Tập.
Điều này cũng rõ ràng ngay ở những tầng thấp nhất của đời sống văn hóa. Già Mã, một người bạn của tôi ở Bắc Kinh, là một người thợ mộc về hưu thường kiếm tiền uống bia bằng cách hát những bài hát xưa. Một bài giải thích vì sao các cửa ô của thành phố được đặt tên như vậy, còn một bài khác kể về lịch sử của những sản phẩm nổi tiếng của thành phố xưa: giày vải, thuốc bắc, diều, vịt quay, và rượu chưng hai lần. Một ngày nọ, ông hát một bài mới:
Trên Lư Câu Kiều
Lũ cướp Nhật đến
Để cướp đất ta
Nhưng âm mưu của chúng vô vọng.
Tôi cảm thấy lạ lùng và hỏi xem ông đã học nó ở đâu.
“Đây là một điệu nhạc xưa, nhưng lời hát thì từ cục văn hóa Tuyên Vũ Môn. Chúng tôi sẽ hát cho công chúng. Sẽ có 5-6 nghệ sĩ biểu diễn, mỗi người sẽ được 300 tệ!”
Lúc đó là tháng 6, và chính quyền sẽ mừng kỷ niệm 70 năm kết thúc chiến tranh vào tháng 9. Nhưng đến bây giờ, nhiều tháng sau lễ kỷ niệm, Trung Quốc vẫn được bao trùm bởi những khẩu hiệu tuyên truyền yêu nước. Tại sao mà một phòng văn hóa quận phải viết một bài hát cho một vài nghệ sĩ đường phố hưu trí biểu diễn trong khi cơ quan này đã bao phủ đất nước bằng những hình ảnh anh hùng?
“Còn ai để ý đến những chiến dịch tuyên truyền chính thức nữa?” Ông trả lời. “Vì thế người ta trả chút tiền để chúng tôi hát một vài bài ca yêu nước tại các nhà hát. Khi chúng tôi hát, mọi người lắng nghe vì họ không nghĩ rằng tôi sẽ hát chúng”
Càng nghĩ về nó, thì tôi càng thấy cách này thật khôn ngoan. Già Mã và đồng nghiệp của ông hát ở các hội trường nhỏ ở phố nhà hát của Bắc Kinh, hay là tại các sự kiện tư nhân ở các công ty. Ở những bối cảnh riêng tư như thế, mọi người sẵn sàng lắng nghe, và ít có khả năng họ sẽ ngăn tiếng vang của những chiến dịch tuyên truyền.
Nhưng tôi cũng thấy ảnh hưởng của chiến lược này với Già Mã. Trong quá khứ, hát là một đam mê thật sự, ông hát ở công viên và chỉ đôi khi hát để lấy tiền. Bây giờ nó đã trở thành một việc kinh doanh, với khách hàng duy nhất là bộ máy tuyên truyền nhà nước.
Trong mấy tuần gần đây, khi tôi gặp ông, ông nói về việc giành được những hợp đồng lớn có giá hàng chục ngàn đô la để biểu diễn một số bài do người của chính phủ viết. Ông đang chuẩn bị một số tác phẩm cho năm mới vào tháng hai. Rất ít bài mang màu sắc chính trị lộ liễu, nhưng như ông nói với tôi, tất cả các bài hát đều nhằm ca ngợi nhà nước.
“Tôi đoán đây là một cách để duy trì sự ổn định,” ông nói, sử dụng một thuật ngữ mà nhà nước hay sử dụng, weiwen (“duy ổn”, viết tắt của weichi wending, hay “duy trì ổn định”), và ngày càng phổ biến vào thập niên vừa qua. “Người ta nghe anh hát, họ vui mừng, anh hát rằng nhà nước tốt, nhưng chủ yếu là nhằm để họ không nghĩ đến những điều khác.”
Xem thêm:
- See more at: http://nghiencuuquocte.net/2015/12/16/ao-tuong-cai-cach-tap-can-binh/#sthash.XP6JqQUq.dpuf
Phần nhận xét hiển thị trên trang

đọc lại:

Nhà nước Hồi Giáo (IS) là gì?

Militanţi ai Statului Islamic pozează alături de steagul grupului jihadist. (Getty Imges)
Các chiến binh Nhà nước Hồi giáo IS (Ảnh: Getty Image)
Nhà nước Hồi giáo (IS) đã làm thế giới kinh hoàng bới những tội ác ghê tởm mà tổ chức này gây ra. Đây là một nhóm khủng bố với quy mô toàn cầu, bắt nguồn từ Al-Qaeda nhưng nguy hiểm hơn Al-Qaeda, nhóm khủng bố này kiểm soát một vùng lãnh thổ có diện tích tương đương Vương quốc Anh. Lãnh tụ tự xưng là Abu Bakr al-Baghdadi, hiện đang “lãnh đạo” khoảng tám triệu người. Tại vùng lãnh thổ rộng lớn bên trong Iraq và Syria, IS đã lập ra một chế độ tôn giáo khủng bố, trong đó luật pháp duy nhất được chấp nhận là lời của đấng tiên tri và Kinh Coran. Nghịch lý thay, Nhà nước Hồi giáo này lại được tổ chức theo mô hình phương Tây.
Nhóm Nhà nước Hồi giáo cực đoan đang chiếm giữ những khu vực rộng lớn ở miền Đông Syria, phía Bắc và Tây Iraq, và hiện đang bị liên minh quốc tế đứng đầu là Mỹ đuổi đánh. Mỹ đã nhận ra đây là một mối đe dọa không chỉ cho khu vực mà còn đối với cả phương Tây bởi khả năng thiết lập các cuộc tấn công khủng bố. Những tội ác của Nhà nước Hồi giáo – giết con tin, bắt cóc, chặt đầu nhà báo và binh lính – đã gây ra sự phẫn nộ trên toàn thế giới.
Mặc dù không phải là nhà nước phương Tây theo đúng định nghĩa của một tổ chức nhà nước, nhưng IS mong muốn thiết lập một Caliphate, tức là nhà nước do một lãnh tụ chính trị và tôn giáo duy nhất cai trị theo luật Hồi giáo Sharia với lãnh thổ trải dài từ Damascus, đến thủ đô Baghdad, Mecca, Medina và đến tận Cairo. Những kẻ khủng bố thánh chiến không chấp nhận khái niệm có đường biên giới, điều này được minh chứng trong những việc chúng đã thực hiện giữa Iraq và Syria. IS thề sẽ mở rộng biên giới tới cả Jordan, Liban, và sẽ giải phóng Palestin, theo BBC. Tham vọng của Nhà nước Hồi giáo là dẫn dắt tất cả tín đồ Hồi giáo, mà theo quan điểm của chúng, phải tuân theo nhà lãnh đạo tối cao Abu Bakr al-Baghdadi, người tự xưng là hậu duệ trực tiếp của nhà tiên tri Mohammed.

“Nhà nước Hồi giáo tự xưng IS là nhóm khủng bố giàu có nhất trên thế giới với 2 tỷ USD tiền mặt và tài sản. Trong nhiều năm qua, tổ chức này đã nhận tiền từ các nhà tài trợ tư nhân vùng Vịnh. Hiện nay, nó đã tự chủ được về tài chính bằng việc buôn bán vũ khí, bán dầu mỏ và khí đốt trong các vùng lãnh thổ mà chúng chiếm đóng, từ thuế, buôn lậu, tống tiền và bắt cóc. Một lượng tiền lớn của IS là cướp được từ các ngân hàng trong các thành phố mà chúng chiếm đóng”.

Hiện nay, theo ước tính của BBC, nhóm khủng bố này và các đồng minh của chúng đang kiểm soát khoảng 40.000 km vuông lãnh thổ của Iraq và Syria. Cũng có những ước tính rằng IS kiểm soát 90.000 km vuông gồm cả diện tích của Jordan. Lãnh thổ này bao gồm các thành phố như Mosul, Tikrit, Fallujah và Tal Afar của Iraq, Raqqa của Syria, các mỏ dầu, đập nước và đường giao thông. Khoảng tám triệu người đang sống trong vùng do ISIL kiểm soát. Họ buộc phải tuân thủ luật Hồi giáo hà khắc, phụ nữ buộc phải đeo mạng che mặt, những người không phải Hồi giáo buộc phải cải đạo hoặc phải trả một khoản thuế đặc biệt, bị đánh đòn, thậm chí bị hành quyết và đóng đinh. Những chiến binh thánh chiến phải tuân thủ tuyệt đối quy định của Hồi giáo dòng Sunni, còn những người không tuân thủ sẽ bị giết.
Nguồn gốc
Nhóm này ban đầu là một tổ chức trong bóng tối của Al-Qaeda tại Iraq, do Abu Musab al-Zarqawi lãnh đạo. Đến năm 2013, ông ta đã tổ chức nhiều vụ tấn công khủng bố ở Iraq và tham gia các cuộc nổi dậy chống lại Tổng thống Bashar al-Assad ở Syria. Trong tháng 4 năm 2013, Baghdadi công bố sáp nhập các lực lượng của y từ Iraq và Syria và lập nên Nhà nước Hồi giáo Iraq và Levant (ISIL). ISIL đã ngày càng lớn mạnh nhờ lợi dụng việc phân biệt đối xử với người Sunni ở Iraq của Thủ tướng Nuri al-Maliki, nhờ sự bùng nổ cuộc chiến ở Syria và nhờ sự chia rẽ sâu sắc giữa người Sunni và người Shiite ở Trung Đông nói chung.
Nếu không có sự giúp đỡ của các bộ tộc người Sunni, vì họ cảm thấy bị kỳ thị bởi chính phủ của người Shiite ở Baghdad, thì các chiến binh của Nhà nước Hồi giáo không thể kiểm soát được một số thành phố như Fallujah hoặc Mosul. Thủ tướng Iraq Nuri al Maliki, người đã buộc phải từ bỏ quyền lực, là người phải chịu trách nhiệm chính trong việc này. Ông đã hành động chỉ vì lợi ích của người Shiite và đẩy người Sunni ra ngoài lề. Người Sunni bị phân biệt đối xử khi phân chia các vị trí trong chính quyền, cảnh sát và quân đội. Hơn nữa, theo Tổ chức Ân xá Quốc tế, hàng ngàn người Sunni ở Iraq đã bị bắt giữ và giam cầm một cách tùy tiện không qua xét xử, và thậm chí bị tra tấn. Kết quả là họ cảm thấy bị đe dọa và tìm cách liên minh với nhóm Nhà nước Hồi giáo ở Iraq và Syria chống lại chính quyền trung ương của người Shiite. Tương tự như vậy, nếu không có sự hỗn loạn ở Syria, thì chiến binh thánh chiến của ISIL cũng không thể dễ dàng tiến vào và gây bất ổn ở Iraq và Syria.

Tuyển dụng và vũ khí

Nhà nước Hồi giáo đã lợi dụng xung đột sâu sắc giữa người Sunni và Shiite để dễ dàng tuyển dụng người Sunni, những người cảm thấy bị gạt ra khỏi quyền lực của Baghdad. Chừng nào người Shiite còn nắm giữ, không chịu chia sẻ quyền lực một cách hài hòa và người Sunni vẫn không có đại diện trong các cơ quan nhà nước của Iraq, thì chừng đó Nhà nước Hồi giáo ISIL vẫn có một vùng rộng lớn ở phía bắc của Iraq để tuyển mộ chiến binh.
Mặt khác, IS là một lực lượng không đồng nhất, bao gồm chiến binh đến từ nhiều quốc gia, nhiều người trong số họ không nói tiếng Ả Rập, họ chỉ có một điểm chung là luật Sharia. Để áp đặt một nhà nước Hồi giáo, nhóm này cần một mô hình nhà nước có khả năng duy trì và quản lý các vùng lãnh thổ đang chiếm đóng. Tuy vậy, đến nay, nhà nước này đã không thể cung cấp các dịch vụ cơ bản cho người dân tại những vùng đã chiếm được.
Về vũ khí, IS sở hữu nhiều loại vũ khí hạng nặng và hạng nhẹ, bệ phóng tên lửa, hệ thống phòng không và hệ thống tên lửa đất đối không, xe tăng và xe bọc thép thu được từ quân đội Syria và quân đội Iraq. Hơn nữa, trong hàng ngũ của IS có nhiều tướng và các sĩ quan từ thời Saddam Hussein.

Hệ thống tổ chức

Một nghịch lý là nhóm khủng bố này được tổ chức theo mô hình phương Tây mà chúng vẫn lên án. Ngay cả khi nó được xây dựng dựa trên một ý thức hệ cổ xưa để thực hành luật Hồi giáo từ thời của nhà tiên tri Mohammed, thì Nhà nước Hồi giáo hiện nay vẫn có một cơ cấu lãnh đạo được sao chép từ mô hình phương Tây.
Đứng đầu của tổ chức này là Abu Bakr al-Baghdadi, lãnh đạo IS từ hơn bốn năm nay và tự xưng mình là “caliph” vào tháng 6 năm 2014. Ông ta có hai cấp phó, Adnan al-Sweidawi và Fadel al-Hayal, cả hai có vị trí cao trong quân đội Iraq dưới thời của Saddam Hussein. Kỳ lạ hơn, Nhà nước Hồi giáo tuy không chấp nhận biên giới giữa Syria và Iraq, do Pháp và Anh thiết lập một trăm năm trước đây, nhưng vẫn duy trì sự phân biệt đối với lãnh thổ mà chúng chiếm đóng, Sweidawi chịu trách nhiệm đối với Syria, còn Hayal là với Iraq.
Hai viên Phó tướng này ra lệnh cho các tỉnh trưởng của Syria và Iraq nằm dưới sự kiểm soát của Nhà nước Hồi giáo, các tỉnh trưởng này lại ra lệnh cho hội đồng địa phương để triển khai các hoạt động liên quan đến truyền thông, tuyển dụng và tài chính.
Cơ quan quan trọng nhất của Tổ chức này là Hội đồng Shura, bao gồm chín người thông thạo luật Hồi giáo, có nhiệm vụ kiểm soát những người đứng đầu các nhóm, các tỉnh trưởng và hội đồng địa phương về việc tuân thủ theo Luật Sharia, tạp chí Đức Spiegel cho biết. Họ chịu trách nhiệm trước các nhánh hành pháp và thậm chí quyết định cả việc thực hiện các tội ác, chẳng hạn như vụ các con tin bị chặt đầu là James Foley, Steven và David Haines Sotloff. Về mặt lý thuyết, Hội đồng Shura có quyền bãi miễn caliph nếu người này đi chệch khỏi những giới luật của Sharia.
Như vậy, những kẻ khủng bố được tổ chức theo mô hình phương Tây. Baghdadi, các ủy viên hội đồng nội các của y và hai cấp phó đại diện cho một kiểu tổ chức hành pháp. Ngoài ra, chín ủy viên hội đồng Shura, sẽ tương ứng với các Bộ của Chính phủ: Hội đồng tư pháp chịu trách nhiệm giải quyết các xung đột gia đình và các vi phạm luật Hồi giáo. Hội đồng an ninh phối hợp kiểm soát các vùng lãnh thổ chiếm đóng và quyết định về việc thành lập các trạm kiểm soát. Hội đồng trợ giúp các chiến binh phụ trách việc tuyển chiến binh thánh chiến người nước ngoài. Hội đồng quân sự phụ trách các hoạt động quân sự và an ninh trong lãnh thổ chiếm đóng. Hội đồng thông tin tình báo thu thập tin tức về các đối thủ trong nước và nước ngoài của Nhà nước Hồi giáo. Hội đồng thông tin có nhiệm vụ truyền thông chính thức và tuyên truyền trên các mạng xã hội. Và chức năng của Hội đồng tài chính như một bộ tài chính điều phối việc bán dầu và vũ khí.

Khó bị đánh bại

Mặc dù các chiến binh của Nhà nước Hồi giáo gần đây đã bị đánh bật khỏi thành phố Kōbani của Syria sau một cuộc chiến căng thẳng, nhưng chúng vẫn là mối đe dọa không thể được giải quyết được chỉ bằng các cuộc không kích. Một số chuyên gia cho rằng nếu Bashar al Assad vẫn nắm quyền lực ở Syria, thì tổ chức này sẽ không thể bị đánh bại. Đây là một trong những vấn đề lớn của Mỹ và liên minh quốc tế chống lại Nhà nước Hồi giáo. Washington đã tuyên bố rõ ràng rằng sẽ không phối hợp các cuộc không kích vào lãnh thổ Syria với Tổng thống Assad, và cũng không thông báo thời gian và địa điểm không kích.
Gần đây, Nhà nước Hồi giáo đã bị mất nhiều vùng đất ở Syria, phải rút quân và vũ khí hạng nặng ra khỏi các làng gần thành phố Aleppo khi bị lực lượng người Kurd và các lực lượng chiến đấu của chính phủ Syria tiến công.
Sau khi phi công người Jordan Muath al-Kassasbeh bị thiêu sống, Jordan bắt đầu cuộc không kích lớn chống lại Nhà nước Hồi giáo, đã tiêu diệt nhiều chiến binh thánh chiến. Tuy nhiên vẫn còn một chặng đường dài để đánh bại các nhóm có tiềm lực tài chính khổng lồ và có một khả năng đáng lo ngại để chiêu mộ các chiến binh mới. Ngay cả Tổng thống Barack Obama, người vừa yêu cầu Quốc hội cho phép sử dụng lực lượng quân sự chống lại Nhà nước Hồi giáo, cũng đã thừa nhận sẽ rất khó khăn để đánh bại tổ chức khủng bố này một khi chúng rút vào phòng ngự.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

“Nói xấu” lãnh đạo trên mạng xã hội: Hai góc nhìn từ pháp luật Hoa Kỳ


Nguyễn Quốc Tấn Trung
Sau khi gần 16 cơ quan ban ngành Tỉnh An Giang “vào cuộc” để xử lý 2 cán bộ công chức bình luận về chủ tịch tỉnh An Giang hay câu chuyện cựu quán quân chương trình Đường Lên Đỉnh Olympia bị kỷ luật vì nói xấu trường đại học chủ quản trên mạng xã hội, có thể thấy thay vì sử dụng pháp luật, các cơ quan cấp thấp hơn đang sử dụng quyền lực tuyển dụng hành chính của mình để kiểm soát vấn đề ngôn luận.
Một mặt, nhiều người sẽ cho rằng sự quản chế đối với việc phát ngôn cả ở ngoài đời lẫn trong trên mạng xã hội là vô cùng cần thiết nhằm bảo vệ hình tượng chuẩn mực của một số cơ quan hoặc chí ít không ảnh hưởng đến uy tín của cơ quan đó. Một số đông khác lại cho rằng những cơ quan này đã vượt quá thẩm quyền của mình để ra sức kiểm soát quyền tự do ngôn luận của công dân với tư cách là một thành viên của tổ chức.
Noi_xau_DMLR
Quyết định kỷ luật ông Doãn Minh Đăng. Ảnh: internet.
Hai quan điểm thể hiện hai thiên cực rõ ràng nhất của những ý kiến về quyền tự do ngôn luận. Một là cho rằng quyền tự do ngôn luận là quyền tuyệt đối, một lại cho rằng ai cũng có thể giới hạn nó. Vì vậy, bài viết này muốn chỉ ra một số kinh nghiệm lập pháp của Hoa Kỳ để thấy rõ, chỉ có thể phân định rạch ròi quan điểm về quyền tự do ngôn luận khi mang nó vào một ngữ cảnh rõ ràng.
————
Làm việc trong tổ chức tư nhân: Bạn được bảo vệ, nhưng hãy cẩn trọng những gì bạn nói
Trước tiên, có lẽ cần xét lại Tu chính án thứ nhất trong Hiến Pháp Hoa Kỳ ghi nhận những gì:
“Quốc hội sẽ không ban hành một đạo luật nào nhằm thiết lập tôn giáo hoặc ngăn cấm tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận, báo chí và quyền của dân chúng được hội họp và kiến nghị Chính phủ sửa chữa những điều gây bất bình”. (Lược dịch)
Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, cần nhớ rằng Tu chính án thứ nhất nói riêng và các án lệ, văn bản pháp luật liên quan đến quyền tự do ngôn luận tại Hoa Kỳ nói chung chỉ áp dụng cho mối quan hệ và các tương tác giữa công dân với chính phủ.
Đây là điểm sai lầm thường gặp nhất của công dân nhiều quốc gia về quyền tự do ngôn luận của họ cũng như về pháp luật Hoa Kỳ, khi thường xuyên mang quyền tự do ngôn luận ra để bảo vệ cho tuyên bố cá nhân của họ về một cá nhân, tổ chức khác. Nói cách khác, Hiến Pháp Hoa Kỳ không giúp bạn tránh khỏi việc bị một nhà tuyển dụng tư nhân sa thải vì những gì bạn nói trên mạng xã hội (bao gồm cả những bình luận không hay về họ). Người sử dụng lao động không có nghĩa vụ quan tâm liệu quyền công dân cơ bản của nhân viên mình có bị xâm phạm hay không (Hiển nhiên sẽ có các văn bản pháp luật khác đứng ra bảo vệ dưới các dạng quyền lao động).
Điều này rất dễ hiểu, quyền tự do ngôn luận trong Hiến Pháp Hoa Kỳ được đưa ra là nhằm bảo vệ công dân khỏi khả năng đàn áp, độc tài và toàn trị từ chính phủ, không phải bảo vệ bất cứ ai trong mối quan hệ dân sự tư nhân bình đẳng.
Dẫu vậy, không có nghĩa rằng nhà tuyển dụng có thể kiểm soát tuyệt đối những gì mà nhân viên của họ được phép nói. Pháp luật Hoa Kỳ đưa ra hai công cụ chính để bảo vệ quyền ngôn luận của các nhân viên thuộc một tổ chức tư nhân trong hai trường hợp:
  1. Quyền tố cáo – Tổ chức tư nhân chủ quản không được phép thực hiện bất kỳ động thái trừng phạt nào, bao gồm sa thải, nhằm trả đũa việc thành viên của họ vì đã báo cáo, công bố rộng rãi hoặc thông tin cho cơ quan nhà nước về sự tồn tại của những hành vi quấy rối tình dục hoặc các hoạt động bất hợp pháp khác mà tổ chức này đang tiến hành. Điều này đương nhiên có nghĩa là mọi thỏa thuận hạn chế quyền tự do biểu đạt về những sai trái của nhà tuyển dụng sẽ vô hiệu.
  2. Các “hoạt động phối hợp được bảo vệ” – protected concerted activity. Quyền tự do ngôn luận của các nhân viên và thành viên của một tổ chức tư nhân thông thường được bảo vệ triệt để nhất thông qua khái niệm này. Xuất hiện lần đầu tiên trong Đạo Luật Quan Hệ Lao Động Quốc Gia (National Labor Relation Act) năm 1935, được đại diện bởi Ủy Ban Quan Hệ Lao Động Quốc Gia, nhằm bảo đảm rằng nhân viên của một tổ chức, doanh nghiệp có thể hành động cùng nhau để cải thiện chế động lương bổng và điều kiện làm việc, dù có hoặc không có sự tham gia của công đoàn. Trong trường hợp nhân viên nào bị sa thải, kỷ luật, đình chỉ làm việc hoặc các hậu quả khác do tham gia vào “hoạt động phối hợp được bảo vệ”, Ủy Ban Quan Hệ Lao Động Quốc Gia sẽ vào cuộc.
Theo giải thích của Ủy Ban Quan Hệ Lao Động Quốc Gia, nhân viên có quyền bàn luận công khai các thông tin liên quan đến quan điểm về, những chỉ trích của họ nhắm đến một nhà tuyển dụng hoặc điều kiện làm việc, sự bất đồng với quyết định của người quản lý hoặc chính sách của công ty trên các trang mạng xã hộinhư một phần trong các “hoạt động phối hợp được bảo vệ”.
Tuy nhiên cũng cần lưu ý rằng, từ “bàn luận” (discuss) có ý nghĩa trọng tâm. Trong trường hợp một nhân viên chỉ đơn thuần phàn nàn về nhà tuyển dụng và/hoặc oán trách rằng họ ghét công việc của họ như thế nào nhằm mục đích thể hiện sự bực tức, thất vọng của mình mà không hề có động thái liên kết hoặc kêu gọi nào với các nhân viên khác, hành động này sẽ không được gọi là “bàn luận” và không thể được bảo vệ dưới hình thức “hoạt động phối hợp được bảo vệ”.
Để hiểu rõ hơn, chúng ta hãy lấy ví dụ tại một cửa hàng bán lẻ mà trưởng cửa hàng là một ông chủ hết sức độc đoán, được biết đến bởi sự “kênh kiệu”, thường xuyên dùng quyền lực thị uy và coi thường nhân viên cấp dưới. Một nhóm các nhân viên bất bình bắt đầu bàn luận chê trách về cách thức quản lý, điều kiện làm việc, chia sẻ quan điểm qua lại trên một trang mạng xã hội, và thậm chí bắt đầu đăng tải các video clip ghi lại hành vi của vị trưởng cửa hàng. Mặt dù các chất liệu đăng tải được công khai, nhiều người có thể nhìn thấy và ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh tiếng của người trưởng cửa hàng, việc xử lý các nhân viên tham gia sẽ khiến cửa hàng này gặp rắc rối với Ủy Ban Quan Hệ Lao Động Quốc Gia, do họ hành động cùng nhau (“phối hợp”) và biến cuộc bàn luận công khai này trở thành “hoạt động phối hợp được bảo vệ” – protected concerted activity.
Làm việc tại cơ quan công quyền: có được áp dụng Tu Chính Án Thứ Nhất?
Nhân viên công quyền, hiển nhiên, làm việc cho các cơ quan thuộc chính phủ. Vì vậy, các bình luận của họ nhắm đến ban lãnh đạo có thể được xem là mối quan hệ “chính phủ – công dân” và được bảo vệ bởi Tu Chính Án Thứ Nhất khỏi các hành vi trả đũa từ cơ quan nhà nước.
Dẫu vậy, Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ cũng rất cẩn trọng trong vấn đề này. Các thẩm phán tối cao có giới hạn một chút về quyền tự do ngôn luận của nhân viên công quyền trong phạm vi “mối quan tâm công cộng” – public concern thông qua án lệ đầu tiên liên quan đến hành vi xử lý trả đũa của cơ quan chính phủ với nhân viên công quyền –Pickering v. Board of Education 1968Trong đó, giáo viên Marvin L. Pickering, sau khi viết một lá thư cho tờ báo địa phương lên án cách thức phân bổ nguồn ngân sách giữa chương trình học thuật và chương trình thể thao trường học của Ban Giáo Dục là có sai phạm (mà sau đó đã được chứng minh là các cáo buộc không có căn cứ), bị sai thải. Sau nhiều lần phúc thẩm, vụ án được Tối Cao Pháp Viện xem xét và đặt ra phép thử cân bằng được duy trì cho đến ngày hôm nay:
“Vấn đề của vụ án này hay những vụ việc tương tự là phải tìm ra một cách tiếp cận cân bằng giữa quyền lợi của [nhân viên công quyền] với tư cách là một công dân, trong việc bình luận về các mối quan tâm công cộng và lợi ích Nhà Nước, trong nỗ lực thúc đẩy hiệu quả hoạt động của các dịch vụ công thông qua hành động đúng mực và thống nhất của các nhân viên trực thuộc”
Mặc dù Pickering có những bình phẩm không chính xác về quy trình phân bổ ngân sách và có kết luận không hay về Ban Giáo Dục, không có bằng chứng nào cho thấy hành vi này làm ảnh hưởng đến nhiệm vụ hằng ngày với tư cách một người giáo viên tại lớp hay đình trệ hoạt động thông thường của trường học.
Vì vậy, trừ khi cơ quan nhà nước tại Hoa Kỳ chứng minh được nhận định của một nhân viên công quyền được thực hiện dù người đó nhận thức được rằng phát ngôn đó là không đúng sự thật hoặc cố tình không quan tâm đến tính đúng sai của sự thật (gần như không thể chứng minh), quyền tự do ngôn luận của những nhân viên này khi nhắm đến vấn đề lãnh đạo cơ quan sẽ được Tu Chính Án Thứ Nhất bảo vệ như một công dân bình thường. (Người bị nhắm đến có thể khởi kiện một vụ án dân sự riêng biệt về tội phỉ báng cá nhân – tuy nhiên cũng phải tuân thủ theo các tiêu chuẩn khắt khe mà án lệ New York Times Co. v. Sullivan (1964) đặt ra)
Cân nhắc cả hai trường hợp công và tư nói trên, nếu có thể áp dụng, khó có trường hợp nào các nạn nhân tại Việt Nam phải chịu trách nhiệm mà họ đang phải đối mặt. Đây là một quyền vô cùng quan trọng, bởi các nhân viên công thường có vị trí tốt hơn các công dân bình thường để có thể nhìn thấy sự thiếu hiệu quả và các vấn đề bên trong bộ máy nhà nước mà họ đang làm việc. Cho phép những nhân viên này được bày tỏ là con đường ngắn và hiệu quả nhất để cộng đồng có thể vào cuộc và tranh luận vì một nhà nước hiệu quả hơn.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

TPP và mua sắm công – Động lực cho một chính phủ minh bạch


Đức Việt
Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (Trans-pacific Partnership Agreement – TPP) được nhiều nhà quan sát đánh giá như một cơ hội để các quốc gia thành viên tiến dần đến sự minh bạch và cởi mở trong xã hội. Nhiều người đánh giá những thỏa thuận liên quan đến lao động, trong đó một số quốc gia thành viên cam kết mở rộng quyền tự do hiệp hội cho công nhân là thành tựu đáng ghi nhận nhất của TPP. Tuy nhiên, một chương khác trong TPP cũng đóng vai trò rất quan trọng trong tiến trình mở cửa của các quốc gia thành viên, đó là Chương 15 về Mua sắm Chính phủ – hay Mua sắm Công (Government Procurement).
17768469126_cd62f159fc_b
TPP không chỉ mở ra cho Việt Nam các lợi ích kinh tế – thương mại mà còn có những cơ hội cải cách thể chế.
Mua sắm công và những bất cập của luật nội địa
Những nội dung chính của TPP được các bên đàm phán thống nhất vào ngày 5/10/2015, kết thúc hơn 7 năm đàm phán trong bí mật. Tròn một tháng sau, ngày 5/11/2015, văn bản đầu tiên của TPP được công khai bởi các quốc gia thành viên. Văn bản hiện nay vẫn chưa chính thức vì còn phải chờ ủy ban kỹ thuật của các quốc gia hiệu đính về ngôn ngữ. Cơ quan lập pháp của các quốc gia thành viên sẽ phải xem xét và thông qua văn bản này. Văn bản sẽ được thông qua nếu tất cả các quốc gia thành viên công nhận nó, hoặc sau 2 năm kể từ 5/10/2015, các quốc gia công nhận đã công nhận nó đạt được tổng GDP bằng 85% tổng GDP của các quốc gia tham gia đàm phán tại thời điểm 2015.
Mua sắm Công tức là việc chính phủ một quốc gia thông qua ngân khố đất nước để mua sắm hàng hóa hoặc một dịch vụ nào đó nhằm thực thi công vụ của mình. Hàng hóa mà chính phủ mua sắm có thể chỉ là một ấm nước dùng trong trụ sở của Bộ tư pháp, hoặc có thể là vật tư để xây dựng đường cao tốc, hoặc lúa gạo để nuôi quốc gia, hoặc có thể là vũ khí để thực hiện mục tiêu quốc phòng. Còn dịch vụ mà chính phủ mua sắm có thể là các dịch vụ tư vấn, hoặc dịch vụ xây dựng trong các dự án có đầu tư công. Theo một nghiên cứu của Đại học Harvard, tổng giá trị Mua sắm Công thường đạt đến 20% GDP của một quốc gia đang phát triển.[1]
Tuy nhiên, trên thực tế, Mua sắm Chính phủ ở các quốc gia đang phát triển thường là nơi chứa đựng nhiều nguy cơ tiềm ẩn về tham nhũng và không minh bạch nhất.
Tại nhiều quốc gia, thậm chí là các quốc gia đã phát triển – như Canada, Mỹ, chính phủ vẫn có những quy định liên quan đến ưu tiên các nhà thầu trong nước trong các dự án Mua sắm Công (Buy Local). Không bàn đến khía cạnh chính trị của các quy định Buy Local này, tại nhiều quốc gia đang phát triển, hiện tượng các nhà thầu là công ty sân sau, hoặc các thân hữu (crony) của các quan chức chính phủ hoặc các bộ, ngành thắng thầu trong các dự án Mua sắm Công không phải hiếm. Việc các “thân hữu” này thắng thầu không nhất thiết phải dự trên ý định tham nhũng của chính phủ, mà có thể đơn thuần từ sự bất đối xứng thông tin giữa các nhà thầu với nhau. Các “thân hữu” bằng cách này hay cách khác thường biết được nhiều thông tin quan trọng (ví dụ như về giá tham khảo, hay về cán bộ xem xét thầu, hoặc thậm chí là thời hạn mời thầu) mà khu vực tư có thể không biết. Hoặc cũng có thể các “thân hữu” chiến thắng vì sự thiếu minh bạch trong quy trình chọn thầu, hoặc phân biệt đối xử giữa các nhà thầu với nhau.
Giải pháp luật quốc tế – TPP
Chính vì thế, trong mọi hiệp định thương mại, các quốc gia có nhiều nhà đầu tư ra nước ngoài như Mỹ thường cố gắng đàm phán để đưa vào những tiêu chí chọn thầu minh bạch để buộc các chính phủ phải mở cửa cả lĩnh vực Mua sắm Công này. TPP có thể được xem là một nỗ lực của các quốc gia thành viên trong việc tìm kiếm một sự cần bằng về lợi ích giữa yêu cầu mở cửa thị trường và nhu cầu bảo vệ ngành hàng trong nước (“thân hữu” hay không “thân hữu”).
Chương 15 của TPP không bao hàm tất cả các trường hợp Mua sắm Công mà chỉ khi nào các giao dịch này đạt được một giá trị nhất định theo lộ trình. Ví dụ, Việt Nam cam kết với Hoa Kỳ sẽ áp dụng TPP cho các Mua sắm Công có giá trị là 2.000.000 SDR (đơn vị tính theo USD của IMF, 1 SDR khoảng 1 USD) cho hàng hóa và dịch vụ trong năm đầu tiên và giảm đều cho đến năm thứ 26 của hiệp định thì chỉ còn 130.000 SDR. Đối với xây dựng, giá trị để áp dụng TPP là 65.200.000 SDR trong năm đầu và giảm đều chỉ còn 8.500.000 SDR vào năm thứ 16.
Chương 15 cũng cho phép các biệt lệ để các quốc gia không phải áp dụng chuẩn TPP trong Mua sắm Công.
Nguyên tắc lớn nhất trong Chương 15 của TPP đó chính là nguyên tắc “tối huệ quốc” (most-favored-nation) và nguyên tắc “đối xử quốc gia” (national treatment). Điều này có nghĩa là, ví dụ, khi Brunei tham gia TPP và chính phủ nước này có dự án Mua sắm Công, họ buộc phải áp dụng các quyền lợi và thủ tục cho nhà thầu đến từ Mỹ (một thành viên của TPP) ngang với những quyền và thủ tục mà họ đang áp dụng cho chính các nhà thầu Brunei. Brunei sẽ phải xem nhà thầu Mỹ như là nhà thầu Brunei và “Buy Local” sẽ không áp dụng ở đây. Bên cạnh đó, nếu Brunei đã ký kết một hiệp định song phương với, ví dụ, Trung Quốc (là một quốc gia không phải thành viên TPP) được hưởng quyền ưu tiên trong các dự án Mua sắm Công tại Brunei, thì khi gia nhập TPP, các nhà thầu Mỹ (cũng như Việt Nam, Úc, Chile v.v…) sẽ được hưởng quyền ưu tiên ngang với các nhà thầu Trung Quốc kể trên.
Như vậy, những “lợi thế” của các “thân hữu”, hoặc của các quốc gia có tầm ảnh hưởng khác với quốc gia thành viên TPP xem như bị triệt tiêu về mặt pháp lý khi TPP có hiệu lực.
Triển vọng về một chính quyền mở và minh bạch
Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là các quy trình không minh bạch, phân biệt đối xử hiện nay tại nhiều quốc gia đang phát triển trong việc đấu thầu Mua sắm Công cũng sẽ được áp dụng cho các thành viên TPP. Chương 15 của TPP còn quy định về nghĩa vụ xây dựng (lại) luật đấu thầu liên quan đến Mua sắm Công sao cho phù hợp với chuẩn mực quốc tế. Theo đó, việc đấu thầu Mua sắm Công sẽ phải đáp ứng được ba tiêu chí:
  • Thông tin về quá trình đấu thầu phải được cung cấp hoàn chỉnh và kịp thời (cho tất cả các nhà thầu);
  • Thủ tục gọi thầu, xem xét thầu, và chọn thầu phải minh bạch và công bằng; và
  • Các tiêu chí để chọn thầu phải linh hoạt và không được phép có phân biệt đối xử.
Nói một cách ngắn gọn, mọi rào cản liên quan đến Mua sắm Công bấy lâu nay tồn tại trong luật nội địa của các quốc gia sẽ bị phá bỏ, cả rào cản thực tế và rào cản pháp lý. Một nhà thầu bị từ chối thầu nay có thể yêu cầu chính phủ quốc gia thành viên TPP đưa ra các giải thích liên quan đến lý do tại sao họ bị thua thầu. Và đặc biệt, nếu nhà thầu này cảm thấy có cơ sở chứng minh chính phủ đã quy định các nguyên tắc trên trong quy trình Mua sắm Công, nhà thầu đó có quyền khởi kiện chính phủ nước này ra trước một trọng tài đầu tư tại New York, Mỹ theo cơ chế giải quyết tranh chấp của TPP.
Thực tế, các nguyên tắc này không phải là mới nếu so sánh nó với các hiệp định song phương giữa Mỹ và một vài quốc gia thuộc TPP như Việt Nam, Malaysia, Brunei, hay thậm chí là cam kết về mua sắm công của WTO cũng có nhắc đến các nguyên tắc này. Nhưng nhiều người hy vọng rằng, bằng việc một lần nữa nhắc lại nguyên tắc kể trên trong TPP với những phương pháp giải quyết tranh chấp khá cụ thể, TPP sẽ là một văn bản hữu hiệu để vĩnh viễn loại bỏ những bất cập trong pháp luật về Mua sắm Công ở nhiều quốc gia. Đó cũng sẽ là cơ hội để các chính phủ của quốc gia đang phát triển phải thực thi những chuẩn mực quốc tế trong việc công khai, minh bạch, không phân biệt đối xử trong các dự án Mua sắm Công. Mua sắm Công thường đi kèm với nợ công vượt giới hạn nếu việc quản lý không minh bạch, công khai. Vì thế, đối với những quốc gia đang đứng trên bờ vực vỡ nợ, thực thi đúng những gì đã cam kết trong TPP sẽ là cách duy nhất để ít nhất kìm hãm lại nguy cơ vỡ nợ, từ đó mở đường cho một chính phủ mở, minh bạch, và công khai hơn.
Chú giải của tác giả


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Việt Nam đứng ở đâu trên bản đồ giáo dục thế giới?


NHAT-KYLUC

Nhìn vào bản đồ giáo dục thế giới, ta không thấy Việt Nam đâu cả! Trí ta đã có, lực ta đã sẵn nhưng thế giới chưa biết xếp ta vào vị trí nào !!!
LTS: TS. Phạm Ngọc Hiền, Giảng viên khoa Xã hội, trường ĐH Sài Gòn băn khoăn rằng không tìm thấy Việt Nam trên bản đồ giáo dục thế giới. Bằng sự hiểu biết, ông đã đưa ra quan điểm của mình về vấn đề này.
Tòa soạn trân trọng gửi tới độc giả.
Để phát triển nền giáo dục nước nhà, ta cần nhận thức được vị trí của mình trong mối tương quan với các nước khác. Muốn biết rõ hơn Việt Nam hiện nay đang đứng ở đâu trên bản đồ giáo dục thế giới, trước hết, ta hãy nhìn lại những vị thế của giáo dục Việt Nam trong quá khứ.
Việt Nam đã từng tiếp xúc mật thiết với các nền giáo dục hàng đầu thế giới. Thời phong kiến, ta chịu ảnh hưởng sâu sắc giáo dục Trung Quốc, lấy Nho giáo làm nền tảng triết lý giáo dục.
Hệ thống giáo dục Trung Quốc thuộc hàng đồ sộ thế giới, qua đó, Việt Nam cũng tiếp thu nhiều tinh hoa của giáo dục nhân loại.
Chúng ta có quyền tự hào về thành tích khoa cử và những di sản văn hóa, giáo dục mà cha ông để lại. Có lẽ trong nền giáo dục châu Á thời trung đại, Việt Nam chỉ đứng sau Trung Quốc.
Thời cận đại, giáo dục Việt Nam rẽ theo quỹ đạo Phương Tây, chịu ảnh hưởng sâu sắc nền giáo dục Pháp – trung tâm văn minh thế giới. Ta đã hình thành một hệ thống giáo dục bài bản, đào tạo ra những trí thức bậc cao, nhiều người nổi tiếng thế giới.
Trong bản đồ giáo dục thế giới thời đó, Việt Nam đứng trong hệ thống giáo dục Pháp (nếu tính yếu tố hiện đại, ở châu Á, có lẽ ta chỉ đứng sau Nhật).
Ở miền Nam giai đoạn 1954 – 1975, bên cạnh tiếp thu những thành tựu giáo dục từ thời phong kiến và Pháp thuộc, nay bổ sung thêm những thành tựu giáo dục của Mỹ – nền giáo dục hiện đại nhất thế giới.

GIAODUC-BANDO
Nhận dạng một số khoảng cách và sự khác biệt giữa thế giới và Việt Nam về giáo dục đại học trước xu thế toàn cầu hóa (Ảnh: voer.edu.vn)

Hệ thống giáo dục đại học phát triển lên một tầm cao mới, trong đó có Viện đại học Sài Gòn đạt đẳng cấp quốc tế, đào tạo cả cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ. Nền giáo dục Việt Nam cộng hòa đứng trong hệ thống giáo dục Tư bản chủ nghĩa và là một trong những nền giáo dục hàng đầu châu Á.
Ở miền Bắc sau 1954, hệ thống giáo dục chuyển sang quỹ đạo xã hội chủ nghĩa (XHCN), chịu ảnh hưởng sâu sắc mô hình giáo dục Liên Xô từ mục tiêu đào tạo, chương trình học đến quan điểm học thuật…
Các trí thức được đào tạo từ Liên Xô, Đông Âu, Trung Quốc… về đã tạo ra một không khí mới cho giáo dục Việt Nam, làm nên một số thành tựu nổi bật trong lĩnh vực khoa học cơ bản, nhất là Toán học. Trong bản đồ giáo dục thế giới 1955 – 1990, Việt Nam đứng trong hệ thống giáo dục XHCN.
Sau khi hệ thống XHCN tan rã, giáo dục Việt Nam rơi vào bi kịch vì không biết tựa vào đâu. Những thành tựu của giáo dục Trung Quốc, Pháp, Mỹ, Liên Xô… vẫn còn đó tạo ra thế mạnh nhưng cũng là vấn đề khó khăn vì không biết vận dụng và lắp ghép chúng sao cho hợp lý.
Người chủ trương theo mô hình này thì bị người theo mô hình kia phản đối. Người ta cũng dung hợp các mô hình lại nhưng mỗi vị lãnh đạo thiết kế theo một kiểu khác nhau, làm nửa chừng phải bỏ, rồi làm lại…. Suốt 20 năm nay, người ta vẫn loay hoay tranh cãi chưa biết giáo dục Việt Nam nên đặt bệ phóng ở đâu.
Sau Đổi mới, giáo dục Việt Nam đạt được những thành tựu lớn. Tuy nhiên, ta phát triển thì các nước khác cũng phát triển, vậy giáo dục của ta đứng ở vị thứ nào? Nhìn vào danh sách các trường đại học hàng đầu thế giới, Việt Nam không có.
Nhìn vào giải Nobel và các thành tựu khoa học lớn, ta cũng không có. Nếu có người Việt Nam nào tài giỏi thì vinh dự đã thuộc về nước khác mất rồi ! Việt Nam chỉ có công sinh thành chứ không có công dưỡng dục các nhân tài đẳng cấp quốc tế.
Thế giới thừa nhận người Việt Nam thông minh, cần cù nhưng hình như chúng ta chưa biết sử dụng những ưu thế đó để làm việc gì thích hợp. Có thể ta đã dùng nó vào những việc lạc hậu như học thuộc lòng các loại kinh kệ cổ lỗ thay vì phải viết ra một cuốn sách mới.
Nhiều nhà khoa học có tư duy hiện đại, năng động nhưng không có đất dụng võ ở Việt Nam. Lâu nay, ta chỉ quen mang tiền đi học nước ngoài chứ không thu hút sinh viên nước ngoài mang đô-la sang học Việt Nam. Như vậy giáo dục Việt Nam chưa có vị trí nào trên thương trường thế giới.
Có người tự hào rằng, tỷ số GDP đầu tư cho giáo dục của Việt Nam rất lớn so với nhiều nước khác. Việc này chẳng nói lên điều gì vì không biết số tiền ấy sẽ rơi vào túi ai và cơ chế bao cấp không giúp ích cho sự cạnh tranh giáo dục.
Con đường cải tổ toàn diện giáo dục Việt Nam
(GDVN) -Tự chủ tài chính, tự trị quản lý và tự do học thuật là cái kiềng ba chân để nền giáo dục đại học ở Việt Nam có hy vọng hoàn thành được sứ mạng thật sự của mình.
Có người chủ trương bỏ ra khoản tiền khổng lồ phổ cập trung học (để khoe với thế giới).
Xin thưa rằng, cơ chế nước ta còn tạo điều kiện phổ cập cả bậc cử nhân ! Nhưng nếu Việt Nam là nước đầu tiên thế giới phổ cập Đại học thì liệu có ra khỏi danh sách các nước nghèo ?!!
Nhiều cơ quan vẽ ra chỉ tiêu (và hợp thức hóa) bao nhiêu phần trăm thạc sĩ, tiến sĩ để nâng tầm giáo dục. Thực ra, đó cũng là một dạng của bệnh thành tích, bệnh háo danh đang gây cản trở trên đường hội nhập.
Ta coi trọng danh hão nên đào tạo cái bằng để hợp thức hóa việc làm và chức vụ trong các cơ quan nhà nước. Trong khi đó, nền kinh tế thị trường cần người thực tài, cho nên kỹ sư của ta ra nước ngoài bị chê, phải đào tạo lại. Bằng đại học ở Việt Nam hiện nay hầu như không có giá trị quốc tế.
Nhìn vào bản đồ giáo dục thế giới, ta không thấy Việt Nam đâu cả! Trí ta đã có, lực ta đã sẵn nhưng có lẽ do ta chưa xác định rõ mình phải đứng ở đâu nên thế giới chưa biết xếp ta vào vị trí nào !!!
THEO GIÁO DỤC

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Cẩn trọng thì hơn (nhân ghé qua nhà thằng Phọt đọc bài của y, chỉ trích phần cuối )

Hơn chục năm trở lại đây, có một đoạn văn được loan truyền, đồn rằng đây là “Di chúc của Trần Nhân Tông”, như sau:

"Các người chớ quên, chính nước lớn mới làm những điều bậy bạ, trái đạo. Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo. Cho nên cái họa lâu đời của ta là họa nước Tàu. Chớ coi thường chuyện vụn vặt nảy ra trên biên ải. Các việc trên, khiến ta nghĩ tới chuyện khác lớn hơn. Tức là họ không tôn trọng biên giới qui ước, cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được ta, thì gậm nhấm ta, họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích. Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn: Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác. Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu."

Trong khí thế chống Tàu hừng hực, có được đoạn văn tiền nhân dặn dò bằng lời lẽ đanh thép, khí thế kiêu hùng, thật là ấm lòng kẻ sĩ lắm thay.

Vậy là đoạn văn được chia sẻ nhanh chóng trên các trang mạng cả trong lẫn ngoài nước, hiệu quả của nó tuy không có sức mạnh hiệu triệu bằng lời nói đầu Hiến pháp (sửa đổi) của nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, nhưng lay động lòng người không kém.

Cõi mạng vốn mù quáng và mê muội, luôn tin vào những gì mình thích được nghe, nên chẳng ai đặt ra nghi vấn: Trần Nhân Tông để lại di chúc khi nào? Nguồn của đoạn văn là theo sử sách nào? Bất cần biết, cứ có văn hùng văn hay của vua chúa cha ông tiên tổ con bà nó để lại là sái cổ nghe theo, share ào ạt; và thậm chí cái “di chúc” này còn được đúc tạc thành bia nơi đền miếu để phụng thờ.

Truy tầm mải miết chẳng ra link gốc của “di chúc”, tôi chán rồi phải bỏ. Dè đâu, nhân khi tìm sơ đồ phả hệ tôn thất nhà Trần, tôi được đọc quyển tiểu thuyết lịch sử Huyền Trân công chúa của Hoàng Quốc Hải, thì mới biết đây chính là “nguồn” của “di chúc”.



Huyền Trân công chúa là một phần trong bộ trường thiên dã sử Bão táp triều Trần. Bộ này gồm 4 tập: Bão táp cung đình, Thăng Long nổi giận, Huyền Trân Công chúa, Vương triều sụp đổ – được xuất bản lần đầu trọn bộ năm 2003.

Hãy đọc đoạn này, ở chương 14 tiểu thuyết Huyền Trân công chúa:

(…) Vua Nhân tôn thở dài:

– Vậy chớ quan gia và các khanh có ngờ rằng đấy lại chính là chủ ý của triều đình nhà Nguyên không?

Mọi người ngơ ngác. Vì không có ai ngờ một nhà nước lớn như thế, lại xui dân gây sự bất hòa với lân quốc bằng những điều nhỏ mọn, mà ngay đám tiểu nhân cũng không bao giờ làm. Vua Nhân tôn nói với giọng ngùi ngùi:

– Các người chớ quên, chính nước lớn mới làm những điều bậy bạ, trái đạo. Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo. Vả lại, phải xem đây là mưu của người Trung quốc. Chỉ người Trung quốc mới nghĩ ra các thứ mẹo vặt ấy. Ngoại trừ những điều nhân nghĩa ra, thì các nhà cai trị Trung Hoa không việc gì là họ không làm. Từ những việc kinh thiên động địa đến việc táng tận lương tâm, miễn sao họ có lợi. Cũng nên nhớ, đây còn là quốc sách truyền thống của người Hoa Hạ (Người Trung quốc xưa thường cho dân tộc mình là nòi giống đẹp đẽ nhất hoàn vũ, nên gọi là Hoa Hạ); từ ngày họ mới lập nước tới nay. Các người có nhớ hồi đánh giặc Thát, ta chỉ ngại cái đám mưu sĩ người Tống, đầu hàng nhà Nguyên, lẩn vào trong đó. Cho tới khi trừ được bọn Lý Hằng, Lý Quán rồi ta mới yên tâm đánh bọn Thoát Hoan, Tích Lệ Cơ Ngọc. Bọn người Thát, trước sau gì cũng không nuốt nổi Trung Hoa. Cho nên cái họa lâu đời của ta là họa Trung quốc. Chớ coi thường chuyện vụn vặt xảy ra trên biên ải. Các việc trên, khiến ta nghĩ tới chuyện khác lớn hơn. Tức là họ không tôn trọng biên giới qui ước. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được ta, thì gậm nhấm ta. Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích. Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn: Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác. Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu… (hết trích).

Vậy là đã rõ: ai đó đã nhân đoạn văn của Hoàng Quốc Hải có câu “để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc” mà lộng giả thành chân, đánh tháo thành ra là di chúc thật, để làm lời hịch tuyên truyền bảo vệ biển đảo và biên thùy. Cả trong thời đại Internet mà người ta vẫn ngụy tạo lịch sử được, thiệt tình!

Xin có lời nhắn nhủ các nhà “ái quốc” hải nội hải ngoại, từ nay về sau, có dẫn “Di chúc Trần Nhân Tông” thì nhớ đề rõ nguồn giùm cái, là trích từ chương 14 tiểu thuyết Huyền Trân công chúa của nhà văn Hoàng Quốc Hải, để tránh tiếng đạo văn, kẻo bị kiện tụng về sau, he he!

Phần nhận xét hiển thị trên trang