Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Năm, 26 tháng 11, 2015

Nhóm lợi ích ở Việt Nam hiện nay


 Hạ Mai
Từ sau Đại hội XI (2011) của Đảng CSVN, thuật ngữ “lợi ích nhóm” và “nhóm lợi ích” bắt đầu được sử dụng và cũng từ đó thuật ngữ này được sử dụng khá thường xuyên. Nếu như ở trên thế giới, đa phần “nhóm lợi ích” được hiểu theo cả hai nghĩa tích cực và tiêu cực, thì ở Việt Nam, đặc biệt là trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI) Đảng CSVN “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, thuật ngữ này hầu như được nhận thức theo nghĩa tiêu cực.
Dư luận xã hội chủ yếu tập trung vào các nhóm lợi ích hoạt động ngầm trong lĩnh vực kinh tế, cấu kết với những “nhân vật” có thẩm quyền ra quyết định hoặc có khả năng tác động đến chính sách vì lợi ích riêng, làm tổn hại đến lợi ích của các nhóm khác, lợi ích của số đông và đặc biệt là lợi ích quốc gia. TS. Lê Đăng Doanh đã nhận diện nhóm lợi ích hiện nay ở Việt Nam như sau:  “Lợi ích nhóm ở Việt Nam có đặc trưng là liên quan đến những người có chức, có quyền, nhất là quyền liên quan đến cán bộ, tài chính, ngân sách, đầu tư, đất đai, hầm mỏ, rừng, biển, v.v… Những người này có thể ở cấp trung ương, tỉnh, huyện, xã phường hay ở cấp sở, phòng, thậm chí cá nhân thanh tra, cảnh sát hay ở doanh nghiệp nhà nước, tập đoàn, dự án, v.v…”[1].

Như vậy, “lợi ích nhóm” tiêu cực hàm chỉ lợi ích cục bộ của những nhóm người xác định, xung đột, mâu thuẫn với lợi ích chung của nhân dân, của xã hội và thậm chí với quốc gia, dân tộc. Đó là thứ lợi ích chỉ phục vụ cho một nhóm người nhất định dựa vào quyền lực để tạo lập cơ chế, chính sách thuận lợi nhất nhằm mang lại lợi ích từ việc bòn rút, chia chác của công, tìm mọi cách để thâu tóm lợi ích, đặt lợi ích của nhóm mình lên trên lợi ích chung. Những nhóm lợi ích này bành trướng thế lực, thao túng và độc quyền trong một số lĩnh vực, đặc biệt là chính trị- kinh tế, thương mại hóa quyền lực chính trị. Lưu ý thêm rằng, ở Việt Nam, rất nhiều quan chức cao cấp trong các bộ ngành quản lý hiện nay đều có nguốn gốc từ lãnh đạo doanh nghiệp, từ lĩnh vực kinh tế - đây là cơ sở và điều kiện thuận lợi để các nhóm lợi ích – thân hữu trục lợi từ kết nối kinh tế với chính trị, kết nối kinh tế với hoạch định chính sách.
Cũng như ở nhiều nước khác trên thế giới, lợi ích mà các nhóm lợi ích ở Việt Nam theo đuổi không chỉ là lợi ích vật chất mà bao hàm tất cả những lợi ích con người muốn có, như danh tiếng, quyền lực, điều kiện thuận lợi, sự thăng tiến, vị trí làm việc cho bản thân, gia đình, thân hữu... Các nhóm lợi ích tiêu cực ở Việt Nam thường nhân danh hoặc núp bóng những nghĩa cử cao đẹp, nhân danh lợi ích tập thể, thậm chí nhân danh lợi ích quốc gia để giành giật, chiếm đoạt mọi hình thức và loại hình lợi ích khác nhau.
Các nhóm lợi ích ở Việt Nam được hình thành một cách mạnh mẽ và chủ yếu trong thời kỳ chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước, định hướng XHCN (hiện giờ gọi là kinh tế thị trường định hướng XHCN). Quá trình chuẩn bị các nhân tố kinh tế - kỹ thuật, quản lý xã hội và xây dựng những tiền đề mới về cơ sở hạ tầng kỹ thuật, môi trường vĩ mô cho việc phát triển kinh tế hàng hoá – dịch vụ vận hành theo cơ chế thị trường đã tạo ra những cơ hội, những bước ngoặt phát triển quan trọng, nhưng đồng thời cũng bộc lộ những “lỗ hổng” trong cơ chế quản lý, trong hệ thống chính sách, pháp luật… Giai  đoạn chuyển đổi này diễn ra nhanh chóng và  đầy kịch tính (khủng hoảng, lạm phát, biến động giá cả – tiền tệ, đầu tư vào Việt Nam, đẩy mạnh xuất nhập khẩu…) trở thành mảnh đất mầu mỡ cho những nhóm lợi ích bất minh xuất hiện, tồn tại và củng cố vị trí của mình.
Cần nói thêm rằng, các nhóm trục lợi đầu tiên chủ yếu liên quan đến buôn bán qua con đường phi hạn ngạch, kinh tế ngầm hoặc núp bóng tín dụng, gây hậu quả lớn nhưng chưa trầm trọng. Khi Chính phủ Việt Nam đẩy mạnh các cải cách kinh tế nhằm nhanh chóng thúc đẩy hình thành và phát triển đồng bộ các nhân tố thị trường phù hợp với xu thế toàn cầu hóa, các nhóm trục lợi gia tăng nhanh chóng. Việc đầu tư trong nước và nước ngoài, thị trường hàng hóa xuất nhập khẩu, thị trường lao động, xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội ngày càng mở rộng quy mô và sự xuất hiện ngày một nhiều các vùng kinh tế trọng điểm (Thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa-Vũng Tàu, Đồng Nai – Bình Dương, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng, Vĩnh Phúc…), một mặt, tạo động lực phát triển vì lợi ích chung. Bên cạnh đó, trong điều kiện chức năng, cơ chế quản lý của nhà nước chưa theo kịp tiến trình vận động, Đổi mới cũng góp phần cho ra đời hàng loạt nhóm lợi ích thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều địa phương, nhiều cấp độ lợi dụng mọi cơ hội, mọi phương thức (hợp pháp, phi pháp, công khai, bí mật…) để trục lợi ở mọi quy mô và mọi lĩnh vực. Đặc biệt, các nhóm lợi ích trở nên hết sức nguy hiểm, hoạt động tinh vi, có tác động và gây hậu quả nghiêm trọng đến bình ổn xã hội, phát triển kinh tế, quản lý xã hội chính vào thời điểm tái cấu trúcchuyển hướng nền kinh tế trong bóng tối nhá nhem của tha hóa quyền lực nhà nước. Các nhóm trục lợi bám sát những chuyển động có lợi và bất lợi trong quản lý kinh tế, trong quản lý nhà nước, nhanh chóng đưa ra các kịch bản liên kết thị trường, liên kết kinh tế với chính trị, thao túng chính trị và kinh tế để kiếm chác lợi ích ngày càng lớn, ngày càng ngang nhiên.
Theo nhận xét của TS. Lê Đăng Doanh, nhóm lợi ích ở Việt Nam hoạt động rất linh hoạt, theo từng vụ, việc, vây quanh một số cá nhân nhất định. Lợi dụng tính thiếu công khai, minh bạch, các nhóm lợi ích thường tiếp xúc theo “quan hệ” cá nhân, với chất kết dính là lợi ích tiền bạc. Lợi ích càng lớn thì nhóm lợi ích hoạt động càng mạnh; luật pháp càng lỏng lẻo hay quyền lực ít bị giám sát thì nhóm lợi  ích hoạt động càng trắng trợn, liều lĩnh. TS. Lê Đăng Doanh nhấn mạnh: “Nhóm lợi ích ở Việt Nam hoạt  động trong một không gian chủ yếu phi chính thức, bất hợp pháp, trong không ít trường hợp có quan hệ đến buôn lậu hay các hoạt động có tính chất phạm pháp ở mức độ khác nhau[2].
 Những nhóm lợi ích này trục lợi với rất nhiều thủ đoạn tinh vi, biến hóa khôn lường. Điển hình là một số thủ đoạn thu lợi bất chính cơ bản nhất như sau:(1) Lợi  dụng và lạm dụng quyền lực (quyền lực kinh tế, quyền lực chính trị); (2) Lợi dụng bất cập và yếu kém trong quản lý của Nhà nước; (3) Mua bán quan chức, chạy chức, chạy quyền, hối lộ, tha hóa cán bộ lãnh đạo; (4) Liên kết ngầm, hoạt động ngầm dưới vỏ bọc hợp pháp... Đâu đó, người ta đã bàn về sự xuất hiện của một tầng lớp “tư bản đỏ” và maphia chính trị với sự cấu kết chặt chẽ để thực hiện những phi vụ làm ăn lớn, rung động cả nền kinh tế. Trong một bài báo nhan đề "Vietnam’s New Money", Bill Hayton đã chỉ ra sự liên minh lợi ích ở Việt Nam thông qua hình tượng “cuộc hôn nhân giữa chính quyền và lợi ích cá nhân”, khẳng định cuộc hôn nhân đó “đang làm méo mó nền kinh tế, khiến nền kinh tế ấy hương  tới việc phục vụ lợi ích của số ít hơn là đáp ứng nhu cầu của số đông”[3]. Theo Bill Hayton, chính liên minh lợi ích ấy đã khiến “các Tổng công ty Nhà nước lớn nhất thiết lập kênh hỗ trợ vốn để tài trợ cho các dự án vô trách nhiệm với logic kinh tế tối thiểu”[4] – đó hoàn toàn có thể là một hình thức câu kết giữa những cơ sở quốc doanh hùng mạnh với những cá nhân có quyền lực lớn thông qua con em, người thân của mình.
Các nhóm trục lợi ở Việt Nam có nguồn gốc khá đa dạng, tồn tại trong mọi lĩnh vực, song chủ yếu và nổi cộm nhất là những nhóm lợi ích gắn với thị trường, với lợi ích công, ra đời từ bất cập cơ chế, bất cập thể chế và tha hóa chính trị. Những công ty Nhà nước và công ty "sân sau" của các công ty Nhà nước hoặc cổ phần Nhà nước thường là “địa bàn” ảnh hưởng, hoạt động phổ biến của nhóm lợi ích “thân hữu”.
Những nhóm lợi ích “thân hữu” hoạt động trên các lĩnh vực sử dụng tài nguyên hoặc phân bố tài sản quốc gia. Một hệ thống pháp luật chưa đủ mạnh, vai trò độc quyền của Nhà nước, kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, sở hữu tập thể, tư duy nhiệm kỳ trong đầu tư công , trong quy hoạch, trong kế hoạch kinh tế - xã hội, cơ chế xin – cho… là mảnh đất màu mỡ cho sự hình thành và phát triển các nhóm “thân hữu”.
Nhóm lợi ích doanh nghiệp Nhà nước đang duy trì những đặc quyền và thu hút nhiều nguồn lực từ ngân sách Nhà nước. Đây cũng là nhóm đã lên tiếng mạnh mẽ nhất để giữ “vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước”. Nhóm lợi ích doanh nghiệp cũng chính là cơ sở kinh tế hỗ trợ cực kỳ đắc lực cho quyền lực chính trị thông qua những cá nhân cụ thể của bộ máy chính quyền, nhà nước. Không phải ngẫu nhiên mà khi sóng gió chính trường nổi lên, nhiều nhân vật trong bộ máy quyền lực có thể trụ vững, thậm chí “lật cánh” ngoạn mục vào “phút thứ 89”.
Việc cho thành lập hàng loạt tập đoàn kinh tế nhà nước lớn thuộc về những ngành then chốt và nắm giữ những nguồn lực chủ yếu của đất nước cho thấy vị trí vững vàng và “hợp pháp” của nhóm lợi ích này. Quả thật, năm 2014, Chính phủ tăng khoảng 170 ngàn tỷ (trong tình trạng bội chi ngân sách) cho đầu tư  và chắc chắn phần lớn tiền bạc sẽ được rót vào ngân quỹ các doanh nghiệp Nhà nước. Các vụ đại án tham nhũng đều có bóng dáng của quan chức cấp cao, các nhóm lợi ích đặc quyền, nhóm thân hữu. Tham nhũng tiền bạc, đất đai, tham nhũng quyền lực, chính sách là hiện tượng phổ biến, thường ngày. Những tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước làm ăn lỗ với những con số “khủng” là kết quả xâu xé của tham nhũng dưới hình thức nhóm lợi ích[5]. Làn sóng “tái cấu trúc” hệ thống Ngân hàng (Eximbank, Techcombank, Phương Nam, Bản Việt, Vietinbank, BIDV, Bắc Á…) hoặc để thôn tính, hoặc để trốn nợ xấu cũng được diễn ra  dưới “chiếc đũa thần” đầy quyền năng của các nhóm thân hữu. Tham nhũng – lợi ích nhóm góp phần đẩy Việt Nam trượt nhanh trên thang bậc xếp hạng tham nhũng: Năm 2013, theo chỉ số tham nhũng, Việt Nam xếp thứ 116/176 quốc gia được khảo sát; nền kinh tế vĩ mô của Việt Nam hết sức bất ổn, chứa đựng nguy cơ rủi ro, suy thoái; tăng trưởng GDP giảm mạnh (năm 2007: 8,46%[6], năm 2011: 5,89%[7]; 2013: 5,4%[8]). Nợ công của Việt Nam đã ở mức trên 81,885 tỷ USD, bình quân nợ công theo đầu người là 905,18USD, chiếm 47,7% GDP, tăng 10,9% so với năm 2013 (tính đến ngày 13-6-2014)[9]. Việt Nam là một trong 20 nước có khả năng vỡ nợ lớn nhất trên thế giới[10], người dân Việt Nam có gánh nặng thuế và chi phí cao bậc nhất khu vực[11].
Hành vi thao túng của các nhóm lợi ích đối với bất động sản, tài nguyên, ngân hàng, tài chính… - những lĩnh vực kinh tế trọng yếu, gây không ít khó khăn, cản trở cho sự tồn tại, phát triển lành mạnh của đất nước. Những năm gần đây (2006-2015),các chủ đầu tư là trụ cột của nền kinh tế như Tập đoàn Than - Khoáng sản, Tập đoàn Dầu khí, Tập đoàn Điện lực, Tổng công ty Thép, Tổng công ty Hóa chất[12]. để Trung Quốc trúng thầu tới 90% các công trình điện, khai khoáng, dầu khí, luyện kim, hóa chất… trong các dự án kinh tế Việt Nam trọng điểm, hoặc dự án thượng nguồn, liên quan mật thiết tới tài nguyên quốc gia và an ninh năng lượng không khỏi khiến dư luận quan ngại và đặt câu hỏi về những nhóm lợi ích quan chức cấp cao đứng sau.
 Về thị trường, nhóm trục lợi có mặt ở mọi loại thị trường (thị trường lao động, thị trường chứng khoán, thị trường khoa học – công nghệ, thị trường hàng hóa – dịch vụ…), song hoạt động mạnh mẽ và gây ra những hậu quả lâu dài, khó khắc phục là những nhóm trục lợi gắn với thị trường bất động sản và tài chính- tiền tệ (hai thị trường quan trọng nhất của nền kinh tế thị trường).
Quá trình đô thị hóa đã khiến đất đai có giá trị cực kỳ to lớn, đầu tư nhà đất trở thành hình thức kinh doanh kiếm lời nhanh nhất. Nắm bắt đặc điểm đó,  nhóm lợi ích bất động sản (gồm giới nhà giàu và nhiều quan chức tham nhũng) không bỏ qua cơ hội hốt bạc. Lập khu, cụm công nghiệp, cảng, sân bay là biện pháp, bước đi để các nhóm lợi ích bắt tay với giới quan chức ăn chênh lệch giá đất. Tình trạng này diễn ra khá thường xuyên, vì tuy có hiệu quả rất thấp về kinh tế - xã hội, nhưng do “muốn đạt chỉ tiêu tăng trưởng cao, tăng tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ để bằng và hơn các địa phương khác”[13] nên các tỉnh thành, địa phương đua nhau quy hoạch, xây dựng, đô thị hóa. Mỗi năm Việt Nam có gần 200.000 ha đất nông nghiệp bị chuyển đổi mục đích sử dụng, trong đó có nhiều phần trăm được các nhóm lợi ích “phù phép”dưới bóng “chuyển đổi mục đích sử dụng”, mua rẻ, bán đắt kiếm lời.
 Với tính chất phi thị trường nhất, kém hiệu quả nhất, thị trường bất động sản đầy rẫy những bất cập, không đủ điều kiện để hoạt động bình thường như thị trường các nước khác bởi theo luật pháp, Nhà nước quản lý đất đai và quyền lực Nhà nước thường bị thâu tóm. Bài toán địa tô chênh lệch[14] là bài toán thường gặp nhất trong chuyển đổi mục đích sử dụng đất- nó cũng là ví dụ tập trung nhất cho việc các nhóm lợi ích đứng đằng sau các cấp hoạch định và thực hiện chính sách trong các dự án đất đai.
Giá trị to lớn của đất - “tấc đất tấc vàng” đã khiến chính những thửa đất “bờ xôi ruộng mật” bị “khai tử” bởi những nhóm lợi ích bất động sản. Dưới ô dù của quyền lực chính trị, nhóm lợi ích bất động sản đứng sau nhiều vụ thu hồi đất với danh sách tên đất, tên làng dài theo thời gian: Văn Giang, Dương Nội, Bắc Giang, Mễ Trì, Mỹ Đức, Bắc Sơn (Thạch Hà, Hà Tĩnh), Vũng Áng, Đắc Nông, Ninh Thuận… Quy hoạch Hà Nội mở rộng, nhập Hà Tây vào Hà Nội cũng là một cơ hội để nhóm lợi ích bất động sản trục lợi – thực tiễn diễn ra ở thị trường đất đai Hà Tây trước và sau khi sáp nhập đã minh chứng một cách thuyết phục cho nhận định đó. Mất đất, không có việc làm, người nông dân chỉ còn con đường hoặc làm thuê ngay trên mảnh đất của mình, hoặc tha phương. Những năm gần đây, mỗi năm có trên 3 vạn người lao động từ nông thôn đến ở Hà Nội, còn đến thành phố Hồ Chí Minh con số đó là trên 6 vạn. Tháng 8-2013, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội Việt Nam công bố con số di cư tự do từ nông thôn ra thành thị là vào khoảng 8 triệu người. Các thành phố lớn với các khu công nghiệp mọc lên nhanh chóng như Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai…... trở thành thành nam châm, lực hút, thành “miền đất hứa” đẫm nước mắt của nhiều lao động nông dân nhập cư.
Trong lĩnh vực tín dụng - ngân hàng, hệ quả các hoạt động của nhóm trục lợi để lại là khá nghiêm trọng. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Nguyễn Văn Bình đã thừa nhận: “Có những ngân hàng chỉ do một vài cổ đông hoặc một nhóm cổ đông chi phối, dư nợ ngân hàng lên tới 70 - 90% phục vụ cho nhóm cổ đông đó; điều lo ngại là các nhóm cổ đông này gây thất thoát vốn lớn; lợi ích nhóm thao túng ngân hàng và làm ảnh hưởng xấu đến cả hệ thống...”[15]. Các thương vụ thâu tóm ngân hàng Sacombank, Eximbank, Bảo Việt…đang làm một số “đại gia” nhẵn túi; đồng thời, làm căng hầu bao của những ông chủ mới đằng sau thấp thoáng bóng liên minh lợi ích mờ ám của giới mafia tài chính và những quan chức giấu mặt.
Trong quá trình phát triển và trục lợi, các nhóm trục lợi có sự liên kết khá bền chặt, có tính "tổ chức" tương đối cao, câu kết, lôi kéo, vận động, thậm chí là ép buộc cá nhân, tập thể, bành trướng thế lực, làm méo mó chính sách, làm suy yếu chính quyền, lũng đoạn nhiều lĩnh vực, có cả những lĩnh vực trọng yếu liên quan đến an ninh – quốc phòng, an ninh quốc gia.
Vốn ra đời, tồn tại và hoạt động trên nền tảng lợi ích, nhất là những lợi ích hết sức béo bở và đa dạng nên cùng với sự phát triển của các nhóm lợi ích tất yếu xuất hiện mâu thuẫn, xung đột lợi ích một bên là  giữa các nhóm lợi ích với nhau và một bên là giữa nhóm trục lợi với những nhóm bị xâm hại lợi ích (bị thiệt hại lợi ích). Trong các xung đột lợi ích, nhóm nào yếu thế hơn sẽ bị thiệt hại nhiều hơn và trong tổng thể, thiệt hại chung thuộc về toàn thể xã hội.
Nếu coi sự phát triển xã hội như là một tổng thể hữu cơ các quá trình vận động xã hội theo chiều thăng tiến, thì các nhóm lợi ích – trục lợi là một bộ phận tham gia vào đời sống xã hội và tác động trực tiếp đến quá trình vận động xã hội, kìm hãm xu hướng phát triển lành mạnh của nó trong thời kỳ chuyển đổi nền kinh tế do thể chế lỏng lẻo, các chế định giám sát lạc hậu, thiếu tính minh bạch trong nhiều lĩnh vực, nhất là trong những lĩnh vực trọng yếu. Trên nền tảng ấy, các nhóm lợi ích tiêu cực xuất hiện ngày càng nhiều với những sắc thái đa dạng (nhóm thân hữu, nhóm lợi ích cục bộ giữa quan chức với quan chức, quan chức với doanh nghiệp…) ảnh hưởng trực tiếp tới sự vận hành bình thường của nền kinh tế, chính trị, xã hội và thậm chí cả văn hóa.Bên cạnh đó, trong một số trường hợp, có thể đang tồn tại một liên minh không chính thức giữa các nhóm lợi ích ở Việt Nam với các nhóm lợi ích ở nước ngoài. Khai thác bôxit ở Tây Nguyên, việc Trung Quốc trúng thầu tới 90% các công trình điện, khai khoáng, dầu khí, luyện kim, hóa chất… trong các dự án kinh tế trọng điểm, hay như Trung Quốc xuất lậu vào Việt Nam trên 5,2 tỷ USD hàng hóa qua biên giới và Việt Nam xuất lậu 5,3 tỷ USD sang Trung Quốc[16] … là những minh chứng điển hình. Chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh cho rằng, Việt Nam “đã trao quá nhiều công trình cho nhà thầu Trung Quốc theo hình thức EPC[17]”.  Con số này là 23/24 nhà máy xi măng; 15/20 dự án nhiệt điện đốt than, giao thông, khai khoáng, cho thuê rừng và đất rừng ở vùng biên giới[18]. TS. Lê Đăng Doanh đã đặt câu hỏi: “Tại sao chúng ta giao quá nhiều dự án cho nhà thầu Trung Quốc như vậy. Có bao nhiêu lợi ích quốc gia, bao nhiêu lợi ích cho ai?” [19].
Nhìn chung, các nhóm trục lợi đều có khả năng cộng sinh và ký sinh rất cao, bám chặt vào kẽ hở chính sách, pháp luật, nắm bắt nhanh chóng những thời cơ và cơ hội thuận lợi, linh hoạt trong liên kết, chuyển hướng, trắng trợn trong tha hóa bộ máy công quyền…làm mọi việc trong khả năng, điều kiện có thể để tồn tại, phát triển và trục lợi. Lợi dụng những kẽ hở pháp lý trong quản lý đất đai, tiền tệ, sự thoái hóa, biến chất của tầng lớp có chức, có quyền, sự ấu trĩ và bảo thủ trong tư duy lãnh đạo, các nhóm trục lợi thao túng, mua bán chiếm đoạt đất đai, bất động sản, thao túng ngân hàng…, làm giàu bất chính và càng giàu bao nhiêu, các nhóm lợi ích lại có điều kiện, khả năng cũng như khao khát thao túng quyền lực chính trị, thao túng chính quyền. Đối với phát triển xã hội và quản trị xã hội, các nhóm trục lợi trở thành lực cản lớn trong quá trình thực hiện đường lối, chính sách, pháp luật của Nhà nước, gây thiệt hại lớn đối với tài sản của nhà nước, xã hội, tập thể và công dân, xâm phạm quyền và lợi ích của công dân, tha hóa đội ngũ cán bộ, công chức, đảo lộn những chuẩn mực, giá trị đạo đức xã hội, là nguy cơ trực tiếp đối với  sự lành mạnh của nền kinh tế, đe dọa lợi ích toàn dân, lợi ích quốc gia dân tộc. Hệ quả cuối cùng là ngày càng nhiều thêm các nhóm thiệt lợi, các nhóm thất thế, xã hội nghèo đi, bất công và bất bình  đẳng xã hội, phân hóa giàu nghèo, phân hóa giai tầng tăng lên không ngừng; trong lòng xã hội âm ỉ những mâu thuẫn gay gắt – một hiện tượng mà các nhà nghiên cứu quen gọi là “hiện tượng thùng thuốc súng”.
Điều nguy hiểm là ở chỗ, mờ mắt tham, nhằm thỏa mãn lòng tham vô đáy, các nhóm lợi ích này không thể liên kết lâu dài, giữa chúng luôn diễn ra âm thầm “những trận chiến sau bức màn nhung” để cuối cùng “xã hội sẽ biến đổi  theo những thắng thế của phe nhóm mạnh nhất[20]. Nếu mục tiêu của “phe nhóm mạnh nhất” phù hợp với “sự đổi mới và tiến bộ của quốc gia, thì dân chúng vô cùng may mắn. Ngược lại, vấn nạn của xứ sở sẽ kéo dài, vì trên thực tế, đại đa số người dân không bao giờ đủ quyền lực và kiến thức để thay đổi một cơ chế, kể cả những nước dân chủ Tây Phương”[21].
Không còn nghi ngờ gì nữa, hoạt động của các nhóm lợi ích trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội thông qua việc cấu kết tinh vi giữa những chủ đầu tư với các quan chức trong bộ máy Đảng và Nhà nước là một trong những nguyên nhân cơ bản làm đất nước khánh kiệt, gia tăng khoảng cách giàu nghèo, tích tụ bất ổn xã hội, làm trầm trọng thêm các mâu thuẫn giữa các tầng/lớp trong xã hội. Hưởng lợi từ kết quả lao động không chính đáng, với quyền lực cực lớn có thể làm khuynh đảo hệ thống công quyền (quy hoạch đô thị, giao thông, các dự án xây dựng lớn), nhóm lợi ích – nhóm thân hữu trở thành nhân tố trực tiếp đẩy nhanh cuộc khủng hoảng tín nhiệm xã hội[22] dẫn đến nguy cơ rạn vỡ xã hội. Nếu không có những thay đổi căn bản, thích hợp, sáng suốt, đột phá vì lợi ích chung của quốc gia, của nhân dân, của dân tộc, đất nước sẽ trở thành con tin của những nhóm lợi ích, xã hội đứng trên bờ vực thẳm của những đổ nát, xung đột. Đất nước đang thụt lùi tỷ lệ thuận với sự phát triển và lớn mạnh của những nhóm lợi ích bất chính. 
 Việt Nam hiện đang đứng trước những thách thức về đồng thuận xã hội khi các nhóm/tầng lớp trong xã hội đang có sự khác biệt lớn về vị trí xã hội, mức sống, nghề nghiệp, học vấn...  Lợi ích và cách thức chiếm đoạt lợi ích, bảo vệ lợi ích của nhóm đặc quyền, đặc lợi đẩy họ đứng đối lập với đa số tập hợp người khác trong xã hội.
Nhóm lợi ích có tính lịch sử phát triển và chỉ có thể phù hợp với xã hội nếu lợi ích của nó phù hợp đa phần trong tương quan với các nhóm lợi ích và cá nhân khác. Chính vì thế, vấn đề quan trọng nhất, song cũng khó khăn, phức tạp nhất của vận hành, quản trị xã hội là thực hiện phối, kết hợp lợi ích của các nhóm cụ thể với lợi ích của xã hội như một toàn thể. Kết quả củathao tác chính trị đó quy định sự ổn định xã hội, của toàn bộ hệ thống chính trị, tính hợp pháp, hiệu quả của chính phủ, sự năng động của phong trào xã hội và uy tín của Đảng cầm quyền. Xã hội tuy bị ràng buộc, chế định, chi phối bởi điều kiện kinh tế - văn hóa, chuẩn mực pháp luật và đạo đức, song yếu tố chi phối quyết định nhất, căn bản nhất, trực tiếp nhất là hệ thống chính trị; trong đó, vấn đề sâu xa, cội rễ nhất là vấn đề quyền lực chính trị/quyền lực nhà nước.
Quyền lực chính trị thiếu kiểm soát, hoặc kiểm soát không chặt chẽ là bà đỡ của những nhóm lợi ích bất minh - điều đó đang diễn ra trong thực tiễn xã hội Việt Nam. Có một hiện thực là ở Việt Nam hiện nay, cơ chế vận hành xã hội, hệ thống chính sách, pháp luật chưa hoàn thiện, phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước còn nhiều hạn chế, thiếu hiệu quả là “cơ hội vàng” để các nhóm lợi ích hoạt động ngầm, thao túng, thâu tóm những lợi ích của sự phát triển, tạo sự bất công, bất bình đẳng trong xã hội, làm tăng khoảng cách giàu nghèo, làm méo mó quan hệ xã hội, xói mòn lòng tin của nhân dân, gây bất ổn xã hội, thậm chí đẩy Nhà nước đứng đối lập với nhân dân.
Để đấu tranh với các nhóm lợi ích tiêu cực, thúc đẩy xã hội phát triển bền vững, vấn đề chất lượng thể chế chính trị thể hiện qua khả năng, mức độ kiểm soát quyền lực chính trị/quyền lực nhà nước và chống độc quyền quyền lực có ý nghĩa sống còn.
 Nếu “thể chế chính trị là tổng hợp các phương pháp và cách thức thực hiện quyền lực nhà nước do tình hình chính trị trong nước chi phối”[23], thì “điểm cốt yếu nhất, quyết định nhất đến thể chế chính trị là bản chất, hình thức, tính chất của quyền lực nhà nước, quyền lực chính trị”[24]; do đó, để “bản chất, hình thức, tính chất của quyền lực nhà nước” thực sự thuộc về số đông, đảm bảo lợi ích cho số đông, đảm bảo công bằng xã hội cho tất cả mọi người, vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước,chống tập trung quyền lực được đặt ra từ rất sớm và luôn luôn tồn tại một khi còn tồn tại nhà nước. Ở nhiều quốc gia, kể cả các quốc gia có thể chế chính trị tương đối hoàn thiện, việc tiếp tục xây dựng, hiện đại hóa cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước – tạo lập một cơ chế có khả năng khuyến khích tối đa ảnh hưởng tích cực của nhóm lợi ích (phân bổ công bằng lợi ích nhóm), cũng như giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực của nhóm lợi ích (giảm thiểu phân bổ lợi ích bất công giữa các nhóm, kìm chế tiềm năng, tước đoạt điều kiện phát triển) vẫn luôn được chú trọng. Bàn về vấn đề này, nhà xã hội học người Mỹ Frank Scarpatti nêu quan điểm: “Mục tiêu của công bằng xã hội chỉ có thể thực hiện thông qua một chính sách làm giảm sự tập trung quyền lực và những nguồn tài nguyên kinh tế trong tay một tầng lớp nhỏ đặc quyền của xã hội”[25].
Thật vậy, tập trung quyền lực vượt ngưỡng/vượt chỉ giới gắn liền với tha hóa tinh thần, đạo đức, bởi đã là con người thì khó tránh khỏi ít nhiều thiên kiến và vị kỷ. Một trong những yếu điểm của con người là bị chi phối, điều khiển bởi khát vọng quyền lực. Khi quyền lực tập trung ở những con người khát quyền lực trong môi trường thiếu cơ chế kiểm soát quyền lực, hoặc cơ chế kiểm soát quyền lực yếu kém sẽ trở thành thứ “ma túy” mạnh đẩy con người vào ảo giác, ngộ nhận, đánh đồng lợi ích xã hội với lợi ích cá nhân vị kỷ, bước một bước đến độc tài quyền lực. Trong đại đa số trường hợp, tập trung quyền lực là cha đẻ của độc tài và gia đình trị. Philippines là một ví dụ điển hình: 178 gia tộc[26] kiểm soát 72 tỉnh (94%) của Philippines; trong số 178 gia tộc, 100 gia tộc là giới tinh hoa cũ (thuộc những tập đoàn chính trị hàng đầu của Philippines từ sau chiến tranh thế giới thứ hai), 78 gia tộc còn lại là giới tinh hoa mới (sau năm 1986)[27]. Cựu Cố vấn An ninh Quốc gia Philippines Jose Almonte nhận xét: “Độc quyền quyền lực chính trị cản trở dân chủ hóa đời sống chính trị, sinh ra và nuôi dưỡng chế độ gia đình trị”[28].
Con ông cháu cha
Ở trên thế giới nói chung, ở Việt Nam nói riêng, xây dựng pháp luật cùng với thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật là những hoạt động cơ bản, đặc biệt quan trọng, thể hiện khả năng nhận thức, khả năng mô hình hóa các quan hệ xã hội của cơ quan lập pháp, hình thành các qui phạm pháp luật để điều chỉnh xã hộitạo ra khuôn khổ pháp lý cho sự phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm việc thực hiện lợi ích của giai tầng, các nhóm xã hội. Hệ thống pháp luật là “chân đế” của thể chế chính trị, đế có vững, thể chế mới bền; tuy nhiên, luật pháp và các quy định của bộ máy hành chính Việt Nam có bốn nhược điểm: (1) Hết sức cồng kềnh, rườm rà, đa dạng về thể loại văn bản và khổng lồ về số lượng văn bản quy phạm pháp luật gây khó khăn trong thực hiện[29]; (2) Tính minh xác, tính minh địnhphạm vi điều chỉnh, tác động nhiều khi chưa thực rõ ràng[30]; (3) Thường xuyên thay đổi, tính ổn định không cao; (4) Xây dựng pháp luật chưa gắn với quản lý thi hành pháp luật. Theo điều tra của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, thực trạng kém chất lượng của hệ thống pháp luật hiện hành có thể gói gọn trong "chín không": Không đầy đủ, không rõ ràng, không cụ thể, không tương thích, không minh bạch, không tiên liệu trước, không hợp lý, không hiệu quả và không hiệu lực. Như thế, tình trạng pháp quyền (lập pháp, hành pháp, tư pháp) của hệ thống chính trị Việt Nam vẫn tồn tại không ít “kẽ hở”, “lỗ hổng”, chưa đóng vai trò thực sự điều chỉnh hành vi, nhận thức của xã hội, cá nhân và tổ chức, chưa làm tròn vai trò phản tỉnh đối với xã hội - đó là một chính phủ yếu kém! Về thứ hạng hiệu quả khuôn khổ luật Pháp, Việt Nam từ hạng 57 năm 2009 xuống 74 năm 2012; tính minh bạch của Chính phủ giảm từ hạng 58 năm 2007 xuống 91 năm 2012[31].
Một hệ thống pháp luật như vậy tạo điều kiện cho bộ máy quyền lực ngày càng phình to trên cả phương diện bộ máy hành chính lẫn công cụ bạo lực. Không hiếm gặp trường hợp “tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Quyền lực nhà nước là thống nhất”[32] bị bóp méo, bẻ cong, bị lợi dụng, dẫn đến dân chủ hình thức, tập trung quyền lực, độc quyền quyền lực, lũng đoạn chính sách, biến quyền lực được nhân dân và Nhà nước giao phó thành quyền lực cá nhân, trục lợi cho bản thân, cho nhóm lợi ích mà họ thuộc về. Một cách tổng quát, thể chế chính trị Việt Nam có hàng loạt khiếm khuyết: Tiếng nói của người dân chưa được chú ý lắng nghe; các cơ quan nhà nước được “ưu ái” về trách nhiệm giải trình; chất lượng chính sách và năng lực điều hành của cơ quan công quyền thấp, chậm được cải thiện; chống tham nhũng hầu như không có tiến bộ; tính công khai minh bạch thấp; hiệu quả của Chính phủ và chất lượng của các văn bản pháp quy thấp, chưa đáp ứng yêu cầu. Bộ máy công quyền ngày càng xa dân, quản lý đất nước kém hiệu quả, quyền lực bị thả lỏng không được giám sát, thiếu công khai, minh bạch. Một khi “chế độ tước đoạt lên nắm quyền, tức là quyền lực chính trị bị tập trung trong một nhóm nhỏ thì không có sự thịnh vượng hay quyền tư hữu nào có thể cứu đất nước đó khỏi kết cục suy tàn vì quyền sở hữu có thể bị thao túng”[33] – Việt Nam đang ở trong tình trạng này.
Một thể chế chính trị văn minh và tương đối hoàn bị khi có hệ thống pháp luật hoàn thiện, tạo thế đối trọng giữa các nhóm lợi ích; “chủ động phát triển cơ chế đề kháng thông qua các quá trình tự cải tổ, đổi mới liên tục, thường xuyên, lâu dài, không ngừng trệ”[34]; đồng thời, phân chia quyền lực cho các thành phần khác nhau của bộ máy công quyền - giám sát và cân bằng quyền lực. Thể chế chính trị được coi là minh bạch, tiến bộ khi có khả năng hóa giải xung đột nhóm lợi ích, đạt tới cách thức phân bổ lợi ích thỏa đáng, làm cho lợi ích phát huy giá trị động lực, kích thích tối đa khả năng đóng góp, hạn chế tối đa khả năng gây hại của các nhóm lợi ích cho xã hội. Trên nền tảng ấy, xây dựng cơ chế giám sát hữu hiệu trong bản thân bộ máy nhà nước là thao tác đầu tiên để kiểm soát quyền lực nhà nước. Những lập luận nêu trên cho phép kết luận: Ở Việt Nam hiện nay, để giảm thiểu và đi đến loại trừ tác động tiêu cực của các nhóm lợi ích đối với phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội, điều hòa phân tầng xã hội và phân hóa giàu nghèo theo chiều hướng tạo động lực, thể chế chính trị hiện hành phải được thay đổi căn bản hoặc thay thế với sự ra đời của một nhà nước lấy sự công bằng là một trong những mục tiêu, tôn chỉ tối cao trong tổ chức và hoạt động. Nhà nước ấy coi “sự phân quyền với nghĩa phân công chức năng và kiểm soát quyền lực trở thành phương thức tồn tại” [35], của chính mình.
Nhấn mạnh thêm rằng, nguyên tắc phân chia quyền lực, kiểm tra và giám sát, kiềm chế và đối trọng giữa các nhánh quyền lực trong xây dựng nhà nước pháp quyền đảm bảo ngăn chặn nguy cơ tập trung quyền lực nhà nước trong tay một cá nhân, cơ quan hay một lực lượng chính trị - xã hội nào đó như là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự lạm quyền, chuyên quyền, dẫn đến những lỗ hổng luật pháp. Bên cạnh đó, nguyên tắc phân quyền còn có khả năng bảo vệ nhân dân khỏi sự tùy tiện, độc đoán, mang tính quan liêu, phiền nhiễu của các cơ quan và công chức trong bộ máy nhà nước, đảm bảo các cơ quan và công chức này luôn luôn chỉ thực hiện tuân theo pháp luật. Một thể chế dân chủ có bộ máy nhà nước xây dựng trên nguyên tắc tam quyền phân lập một cách thực sự đi cùng với xã hội dân sự[36] là những gì người dân Việt Nam cần và mong đợi lúc này. 

[1] TS. Lê Đăng Doanh: “Đổi mới tư duy và cải cách thể chế những yêu cầu từ thực tiễn”, Từ bất ổn vĩ mô đến con đường tái cơ cấu, Dự án “Hỗ trợ nâng cao năng lực tham mưu, thẩm tra và giám sát chính sách kinh tế vĩ mô” do Ủy ban Kinh tế của Quốc hội chủ trì với sự tài trợ của Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc tại Việt Nam (UNDP), tr.277-278.
[2] Như trên, Tlđd, tr.278.
[3] Bill Hayton: Vietnam’s New Money, Foreign Policy, 21-1-2010.
[4] Bill Hayton: Vietnam’s New Money, Ibid.
[5] Năm 2010, Vinashin  lỗ 4,5 tỉ USD, năm 2011, EVN lỗ  3.500 tỷ đồng, năm 2012, các tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước lỗ khoảng 2.253 tỷ đồng… Tính chung hai năm 2011- 2012, tổng số doanh nghiệp rời khỏi thị trường bằng 20 năm trước đó; trong số gần 500.000 doanh nghiệp đang hoạt động, tỷ lệ thua lỗ cũng rất cao (NguồnChi phí vốn của doanh nghiệp Việt cao gấp 10 lần công ty đa quốc gia, Cafef.vn, 24-11-2012).
[6]Tổng cục Thống kê: Kinh tế - xã hội thời kỳ 2006-2010 qua số liệu một số chỉ tiêu thống kê chủ yếu, www.gso.gov.vn.
[8] GDP năm 2013 tăng hơn 5,4%VnExpress.net, 23-12-203.
[9] Nợ công ở ngưỡng nguy hiểm: Công bố các khoản nợ để xã hội giám sát, Nhanh.net.vn, 16-6-2014. Khối nợ xấu khổng lồ “có thể lên đến trên 500.000 tỷ đồng; nợ công quốc gia có thể lên đến 95-106% GDP - theo tiêu chuẩn Liên Hợp Quốc” (Nguồn: Phạm Chí Dũng: Liệu sẽ xảy ra khủng hoảng kinh tế dẫn đến khủng hoảng chính trị ở Việt Nam? Tạp chí Thời đại mới, số 28/tháng 8-2013).
[10] Kinh tế Việt Nam, Wikipedia.
[11] Việt Nam nhiều dân nghèo gần nhất khu vực, BBC Vietnamese, 7-9-2012.
[12] Trung Quốc trúng thầu 90% công trình thượng nguồn của Việt Nam, Vieetnam Economic Forum, 32-7-2010.
[13] TS. Lê Đăng Doanh: “Đổi mới tư duy và cải cách thể chế những yêu cầu từ thực tiễn”, Tlđd, tr.270.
[14] Ví dụ như thu hồi đất đai của người dân đền bù cho họ 1 triệu đồng/m2, bán lại cho một người khác là 3 triệu đồng/m2, sau đó người này lại bán đi với giá 25 triệu đồng/m2. Đa phần 22 triệu đồng chênh lệch địa tô là rơi vào tay nhóm lợi ích.
[15] Thống đốc: “Có lợi ích nhóm trong ngân hàng”, Tin mới, 8-10-2012.
[16] Kỳ Duyên: Vận mệnh nước Việt và lợi ích nhóm, vietnamnet.vn, 12-7-2014.
[17] Loại hợp đồng nhà thầu thực hiện toàn bộ các công việc từ thiết kế kỹ thuật đến thi công xây dựng công trình, hạng mục công trình và chạy thử bàn giao cho chủ đầu tư.
[18] Kỳ Duyên: Vận mệnh nước Việt và lợi ích nhóm, Tlđd.
[19] Kỳ Duyên: Vận mệnh nước Việt và lợi ích nhóm, Tlđd.
[20] TS. Alan Phan: Lợi ích từ… các nhóm lợi ích, Vietnam.net, 26-5-2011.
[21] Như trên, Tlđd.
[22] “Khủng hoảng tín nhiệm xã hội” có nghĩa là chính quyền không nhận được sự tín nhiệm của người dân, một bộ phận quần chúng nhân dân cho rằng chính quyền không thể hiện được ý chí của họ. Một cuộc khủng hoảng tín nhiệm xã hội sẽ gây ra sự nhiễu loạn về tư tưởng, gây mất niềm tin của dân chúng , có thể dẫn đến khủng hoảng chính trị.
[23] http://dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn
[24] Như trên, Tlđd.
[25] Frank Scarpatti: Social Problems, Dreyden Press USA, 1977, p. 632.
[26] Một dòng họ/gia đình/gia tộc được liệt vào hệ thống gia đình trị (political family) khi có hai thành viên trở lên (tính đến huyết thống đời thứ ba) chiếm giữ vị trí trong quốc hội hoặc bộ máy chính quyền bang.
[27] Monopoly of political power,  GMA News, 6-11-2012.
[28] Ibid.
[29] Trong vòng 10 năm (1988-2008), chỉ tính riêng văn bản pháp luật do các cơ quan Trung ương ban hành, thì hệ thống pháp luật Việt Nam đã có tới 19.126 văn bản, trong đó có 208 luật, bộ luật, 192 pháp lệnh, 2.097 nghị định, 267 nghị quyết và 36 thông tư, 1.213 thông tư liên tịchPháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 đã cần đến trên 40 văn bản pháp luật khác nhau để hướng dẫn thi hành. Luật Đất đai năm 2003 muốn được thực hiện phải dựa trên 126 văn bản. Trong lĩnh vực môi trường, có đến khoảng 300 văn bản pháp luật khác nhau đang còn hiệu lực. Trong khi đó, nếu kể cả các văn bản pháp luật do các cấp chính quyền địa phương ban hành, trung bình mỗi năm lại "mọc" thêm 4.000 văn bản quy phạm pháp luật mới (Nguồn, Cơ sở liệu pháp luật, www.vbqppl.moj.gov.vn; Hà Phong, Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật chồng chéo: Khốn khổ với “9 không, Hà Nội mới Online, 31-3-2012).
[30] Chất lượng văn bản quy phạm pháp luật cũng chưa cao, nhiều quy định pháp luật không rõ ràng, thiếu ổn định, gây khó khăn cho việc tiếp cận, nhận thức và thực hiện pháp luật. Do đó, trên thực tế, pháp luật nước ta xảy ra tình trạng luật ra đời phải chờ nghị định hướng dẫn và nghị định chờ thông tư mới thi hành được…Theo Báo cáo tổng kết của Cục kiểm tra văn bản, Bộ Tư­ pháp, năm 2004, các cơ quan chức năng đã thực hiện kiểm tra trên 21.000 văn bản quy phạm pháp luật từ cấp bộ trở xuống và đã phát hiện trên 3.000 văn bản trái với quy định của pháp luật.
[31] TS. Lê Đăng Doanh: “Đổi mới tư duy và cải cách thể chế những yêu cầu từ thực tiễn”, Tlđd, tr.280.
[32] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, 2011, tr. 52.
[33] D.Acemoglu và J.Robinson, Why Nations fail, The Origins of Power, Prosperity, and Poverty, Crown Publishers, New York, 2012.
[34]  Rawls, J. A: Theory of justice, N. Y, 1971, p. 60.
[35] Đào Trí Úc:  Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Sđd, tr.39.
[36] Nội dung căn bản của việc kiểm soát quyền lực nhà nước từ bên trong là giải quyết mối quan hệ phân công, phân quyền giữa các cơ quan nắm giữ quyền lực nhà nước; trong đó, vấn đề phân định, kết hợp các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp là nội dung cốt lõi. Quyền lập pháp là quyền đại diện cho nhân dân thể hiện ý chí chung của quốc gia. Những người được nhân dân trao quyền này là những người do phổ thông đầu phiếu bầu ra hợp thành cơ quan gọi là Quốc hội. Thuộc tính cơ bản, xuyên suốt mọi hoạt động của quyền này là đại diện cho nhân dân, bảo đảm cho ý chí chung của nhân dân được thể hiện trong các đạo luật mà mình là cơ quan duy nhất được nhân dân giao quyền biểu quyết thông qua luật là quyền lập pháp; đồng thời, là người thay mặt nhân dân giám sát tối cao mọi hoạt động của Nhà nước, nhất là hoạt động thực hiện quyền hành pháp. Quyền hành pháp là quyền tổ chức thực hiện ý chí chung của quốc gia do Chính phủ đảm trách. Thuộc tính cơ bản, xuyên suốt mọi hoạt động của quyền này là quản lý nhà nước (hay cai trị) mà thực chất là tổ chức thực hiện pháp luật để bảo đảm an ninh, an toàn và phát triển xã hội. Quyền tư pháp là quyền xét xử, được nhân dân giao cho Tòa án và các cơ quan tư pháp, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật là nguyên tắc xuyên suốt và cao nhất trong tổ chức thực hiện quyền này. Mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức không được phép can thiệp vào hoạt động xét xử của Tòa án. Đây thực chất là quyền bảo vệ ý chí chung của quốc gia bằng việc xét xử các hành vi vi phạm Hiến pháp, pháp luật từ phía công dân và cơ quan nhà nước. Xã hội dân sự cấu thành từ tổng thể của các tổ chức xã hội và dân sự tự nguyện mà các tổ chức này tạo nên cơ sở của một xã hội tự vận hành, khác với các cấu trúc quyền lực của một nhà nước (bất kể hệ thống chính trị của nhà nước này thuộc kiểu gì) và các thể chế thương mại của thị trường. Nhìn chung, đó là lãnh vực bên ngoài gia đình, nhà nước và thị trường, nơi người dân kết hợp hoạt động nhằm thăng tiến các lợi ích chung. Thành tố quan yếu nhất của xã hội dân sự, do đó, chính là mỗi công dân, ý thức được trách nhiệm và nghĩa vụ của mình đối với bản thân và xã hội, tự nguyện tham gia vào các sinh hoạt giúp cho xã hội tốt đẹp hơn.

Tác giả gửi cho viet-studies ngày 26-11-15
http://www.viet-studies.info/kinhte/HaMai_NhomLoiIchVNHienNay.htm

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nhặt tin 26-11-15



VN bỏ 'phiếu trắng' cho dự thảo nhân quyền

Thông cáo báo chí của Liên Hiệp Quốc cho biết, Việt Nam đã bỏ phiếu trắng cho dự thảo nghị quyết của Liên Hiệp Quốc về những người bảo vệ nhân quyền.
Ngày thứ Tư 25/11, sau phiên họp "căng thẳng", Ủy Ban số 3 của Liên Hiệp Quốc đã thông qua dự thảo Nghị quyết lần cuối về những người bảo vệ Nhân quyền.
Thông cáo từ Liên Hiệp Quốc cho biết phiên họp đã diễn ra với "thảo luận căng thẳng hàng loạt vấn đề", Ủy ban chuyên trách các vấn đề xã hội, nhân đạo và văn hóa đã thông qua dự thảo nghị quyết về những người bảo vệ nhân quyền, sẽ trình lên Đại Hội Đồng vào Tháng 12.
Đại diện từ Na Uy là người giới thiệu nội dung văn bản dự thảo trong cuộc họp. Nước này cho biết trong các phiên họp trước, 'Đại Hội Đồng đã thể hiện mối quan tâm khẩn cấp đối với những cuộc tấn công nhắm vào người bảo vệ nhân quyền'.
Bản dự thảo mạnh mẽ lên án bạo lực và đe dọa chống lại người bảo vệ nhân quyền. Với văn bản này, Đại Hội Đồng sẽ 'mạnh mẽ kêu gọi các quốc gia kiềm chế các hành vi đe dọa hay trả đũa chống lại những người bảo vệ nhân quyền'. Văn bản này cũng 'nhấn mạnh vai trò của mọi tập đoàn doanh nghiệp tôn trọng quyền của những nhà bảo vệ nhân quyền'.
"Thiếu rõ ràng"?
Trong phiên họp, đã có 117 quốc gia bỏ phiếu thuận, 14 nước bỏ phiếu chống và 40 nước bỏ phiếu trắng.
Việt Nam bỏ phiếu trắng với dự thảo nghị quyết này.
Giải thích lý do bỏ phiếu trắng, thông cáo của Liên Hiệp Quốc dẫn lời người đại diện Việt Nam nói đoàn Việt Nam "đã tham vấn đầy đủ các cấp" và "vì lý do nghị quyết thiếu rõ ràng và cân bằng", Việt Nam quyết định bỏ phiếu trắng.
Trung Quốc bỏ phiếu chống vì cho rằng: "Các nước phương Tây đã sử dụng việc bảo vệ người bảo vệ nhân quyền là lý do để can thiệp vào nội bộ các nước đang phát triển".
14 quốc gia bỏ phiếu chống dự thảo nghị quyết gồm Burundi, Kenya, Nga, Syria, Myanmar, Nigeria, Ả Rập Saudi, Zimbawe, Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, Nam Phi, Iran, Pakistan, Sudan.
Trước khi phiên họp ngày 25/11 diễn ra, Tổ chức quốc tế chống tra tấn OMCT và Phong trào nhân quyền thế giới FIDH đã gửi thư thỉnh nguyện đến Liên Hiệp Quốc yêu cầu công nhận vai trò của những nhà đầu tranh nhân quyền và việc bảo vệ họ.
Thư của OMCT viết:"Người bảo vệ nhân quyền thường phải đối mặt với hàng loạt sự xâm phạm và lạm dụng dưới bàn tay của nhà nước và các tổ chức phi nhà nước.Các quốc gia phải công nhận vai trò của người bảo vệ nhân quyền, những nguy cơ đặc thù họ phải đối mặt, và cam kết bảo vệ họ."

-----------------------

Tiền mặt vẫn là "vua"

Tiền mặt vẫn là "vua"
Người ta đã nói về ngày tàn của tiền mặt từ gần 60 năm nay với sự ra đời của thẻ tín dụng, các hình thức thanh toán contactless.
Tuy nhiên, theo các số liệu thống kê về thanh toán tiền mặt trên thế giới, tiền mặt vẫn được sử dụng phổ biến.
Ở Mỹ, lượng tiền mặt lưu thông tăng 42% trong khoảng từ 2007 cho đến 2012 và lượng USD lưu thông trên thị trường được dự báo sẽ tăng thêm 5% mỗi năm.
Một nghiên cứu khác cho thấy ở 7 quốc gia bao gồm Úc, Áo, Canada, Pháp, Đức, Hà Lan và Mỹ, có từ 46% cho đến 82% trong tổng số các giao dịch hồi năm 2012 là bằng tiền mặt.
Ngay cả ở những nước vốn thường được cho là những nước tiên phong trong việc thanh toán không cần tiền mặt như Thụy Điển và Đan Mạch thì tiền giấy và tiền xu vẫn không biến mất.
Các nhà khoa học giải thích, con người vẫn gắn bó với tiền mặt chủ yếu do vấn đề tâm lý. Lịch sử cho thấy con người có cảm giác an toàn hơn về tiền mặt mà tiền ảo không thể bì được. Khi khủng hoảng tài chính nổ ra thì ai cũng muốn có tiền mặt trong tay hơn là cất giữ trong tài khoản ngân hàng.
------------------------

Cận cảnh nhà ga 900 triệu USD hiện đại nhất Việt Nam

Nhờ số vốn đầu tư gần 18.000 tỷ đồng, nhà ga hàng không T2 Nội Bài đã lọt vào danh sách những sân bay tốt nhất châu Á năm 2015.
nhà ga, nhà ga hàng không T2, sân bay, Nội Bài
Khu vực làm thủ tục của nhà ga T2 dùng tường kính từ vách đến trần để tận dụng ánh sáng mặt trời. Phong cách thiết kế này giống nhiều sân bay trên thế giới nhằm mục đích chính là tiết kiệm nhiên liệu.
nhà ga, nhà ga hàng không T2, sân bay, Nội Bài
Các phòng chờ VIP cũng được trang trí sang trọng hơn so với các nhà ga hàng không khác ở trong nước.
nhà ga, nhà ga hàng không T2, sân bay, Nội Bài
Những tiện ích nhỏ như sạc điện thoại miễn phí tại sảnh tạo sự thuận lợi cho hành khách.
nhà ga, nhà ga hàng không T2, sân bay, Nội Bài
Nhà ga số 2 đã có thêm hai buồng ngủ đôi phục vụ hành khách, giống dịch vụ tại tầng 3 của T1 (giá bên T1 thấp hơn một chút, và có buồng đơn).
nhà ga, nhà ga hàng không T2, sân bay, Nội Bài
Nhà hàng trong khu vực T2.
nhà ga, nhà ga hàng không T2, sân bay, Nội Bài
Sau gần một năm khánh thành, đến nay các gian hàng kinh doanh đã phủ kín 80% của cả 4 tầng.
nhà ga, nhà ga hàng không T2, sân bay, Nội Bài
Một số khu vực có bàn ăn riêng tư để khách có không gian riêng.
nhà ga, nhà ga hàng không T2, sân bay, Nội Bài
Phòng C trong nhà ga T2 dành cho khách thương gia (bay các chuyến ngoài Sky Team). Khu bàn ghế ngồi sang trọng, có hướng nhìn ra đường băng.
nhà ga, nhà ga hàng không T2, sân bay, Nội Bài
Nếu chỉ nhìn qua ảnh, sẽ khó phân biệt được đây là sân bay nào trên thế giới.
nhà ga, nhà ga hàng không T2, sân bay, Nội Bài
Tại đây có phục vụ đồ ăn nhẹ, ghế massage, tủ chứa đồ, phòng hút thuốc, sạp báo...
nhà ga, nhà ga hàng không T2, sân bay, Nội Bài
Không gian rộng rãi, nằm trên tầng 4 của T2.
nhà ga, nhà ga hàng không T2, sân bay, Nội Bài
Nhà vệ sinh, phòng tắm sạch sẽ hơn hẳn so với nhiều nhà ga hàng không trên thế giới. Trong đó có bàn thay tã cho trẻ em, và ghế cho trẻ ngồi chờ.
nhà ga, nhà ga hàng không T2, sân bay, Nội Bài
Phòng này còn có quầy máy tính, máy in, fax, kết nối Internet phục vụ công việc của hành khách.
nhà ga, nhà ga hàng không T2, sân bay, Nội Bài
Tủ để đồ. Khách có thể trả 20 USD để được sử dụng phòng chờ hạng sang này.
nhà ga, nhà ga hàng không T2, sân bay, Nội Bài
Sảnh chờ lên máy bay được đầu tư, mở mới hàng loạt gian hàng miễn thuế.
nhà ga, nhà ga hàng không T2, sân bay, Nội Bài
Trong đó chủ yếu là mỹ phẩm, quà tặng, bánh kẹo, hàng thời trang.
nhà ga, nhà ga hàng không T2, sân bay, Nội Bài
Phía bên ngoài cũng có một vài gian hàng tại tầng 4 và tầng 3.
nhà ga, nhà ga hàng không T2, sân bay, Nội Bài
Bên ngoài nhà ga T2 cũng rất rộng rãi và sạch sẽ. Năm 2014, nhà ga T1 sân bay Nội Bài từng bị đánh giá là một trong những cảng hàng không tệ nhất. Vừa qua, trang Guide to Sleep in Airports bầu chọn ở vị trí 28 trong top 30 sân bay hàng đầu châu Á.
(Theo Anh Tuấn/Zing)
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Bài đọc đáng để si nghĩ!

Cộng đồng ASEAN: Việt Nam không khéo sẽ tụt lại phía sau


Cao Huy Huân
Bộ trưởng 12 nước đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) tổ chức một cuộc họp báo để thảo luận về tiến bộ trong các cuộc đàm phán ở Lahaina, Maui, Hawaii, ngày 31/7/2015. Photo: Reuters.
Sáng ngày 22/11, thay mặt các quốc gia thành viên ASEAN, Thủ tướng Najib Razak của Malaysia – nước chủ nhà Hội nghị cấp cao ASEAN lần 27, đã tuyên bố thành lập Cộng đồng ASEAN (gọi tắt là AC) vào ngày 31/12 năm 2015. Sự kiện này, sau việc hoàn tất đàm phán Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương, mang đến sự phấn khởi, nhưng cũng gợi lên nhiều nỗi lo cho Việt Nam.
Cơ hội đa dạng hóa thị trường
AC ra đời có nghĩa là 10 nước ASEAN sẽ giảm mạnh, tiến tới xóa bỏ hàng rào thuế quan, tạo điều kiện cho dòng vốn và hàng hóa dịch chuyển mạnh mẽ nội khối, kích thích thương mại và đầu tư phát triển. Các chuyên gia nhận định AC sẽ trở thành một trong những trung tâm sáng giá và năng động nhất tại khu vực châu Á nói riêng và toàn thế giới nói chung.
Hãy thử hình dung, rào cản thuế quan giảm, thị trường hàng hóa được kích thích, mỗi quốc gia sẽ có nhiều lựa chọn hơn trong việc xuất và nhập khẩu, từ đó kích thích giao thương giữa các quốc gia. Thủ tướng Najib Razak phát biểu: “GDP của ASEAN dự kiến sẽ đạt 4,7 nghìn tỉ USD vào năm 2020. Theo một dự báo, ASEAN có tiềm năng trở thành nền kinh tế lớn thứ tư trên thế giới vào năm 2030. Có rất nhiều lợi ích kinh tế mà chúng ta sẽ gặt hái được, qua đó mang lại cuộc sống sung túc hơn cho tất cả người dân ASEAN”.
Ngoài việc mở rộng thị trường nội khối, AC còn mang lại khả năng kết nối thương mại ngoại khối mạnh hơn. Tham dự Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN hôm 22-11, Trung Quốc và nhiều nước đối tác trong khối ASEAN+ cũng khẳng định sẽ đồng hành cùng quá trình xây dựng, hoàn thiện AC trong thời gian tới. AC chính là động lực để các cơ chế thương mại ASEAN+ được thúc đẩy, giúp quá trình hội nhập khu vực châu Á và toàn cầu của các nước ASEAN trở nên nhanh chóng và hiệu quả hơn.
AC còn có ý nghĩa với Việt Nam hơn bao giờ hết khi thời gian qua, thị trường xuất nhập khẩu của Việt Nam phụ thuộc quá nhiều vào người láng giềng “khó chơi” Trung Quốc. Trung Quốc hiện vẫn là thị trường xuất khẩu lẫn nhập khẩu hàng đầu của Việt Nam. Việc AC ra đời, mà cốt yếu là cộng đồng kinh tế ASEAN (gọi tắt là AEC) sẽ là động lực và môi trường để Việt Nam thực tế hóa chủ trương chuyển hướng đầu tư và thương mại, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu nhằm hạn chế tối đa những phụ thuộc một chiều “lợi bất cập hại” đối với Việt Nam trong quá trình tổ chức giao thương.
Và nỗi lo tụt hậu
Chính Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng từng phát biểu rằng “Chắc chúng ta đã nghe thấy tiếng kêu của doanh nghiệp, của người dân đối với chúng ta trong lĩnh vực cải cách hành chính. Không phải chúng ta không quan tâm mà có quan tâm, có tiến bộ nhưng chúng ta chỉ so với chúng ta không là không được. Chúng ta giờ đang đứng chót ở ASEAN-6, có cái còn thấp hơn Lào, Campuchia, Myanmar thì làm sao đất nước mình, dân tộc mình chấp nhận được”.
Nỗi lo tụt hậu kinh tế đã xuất hiện nhiều năm qua, trên các văn bản chính thức, phát ngôn của quan chức, báo chí, truyền thông, chuyên gia… Kèm theo đó là sự lo lắng trước tốc độ phát triển như vũ bão của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và việc phá sản hàng loạt công ty theo hiệu ứng domino, sự yếu kém trong hệ thống doanh nghiệp nhà nước… Nhiều chuyên gia còn lo ngại thế hệ doanh nghiệp vừa và nhỏ vốn chẳng có cơ hội “ngoi lên” ở Việt Nam, bởi lẽ sức cạnh tranh quá yếu. Doanh nghiệp nào phát triển một chút thì bị doanh nghiệp nước ngoài mua lại, còn không thì đua nhau phá sản vì không thể tồn tại được trên thị trường đầy cạnh tranh. Những nỗi lo này, khi AC mà đặc biệt là AEC hình thành, sẽ càng tăng lên bội phần vì sự xuất hiện ngày càng mãnh liệt của các đối thủ đến từ nội khối và các quốc gia thuộc khối đối tác đối thoại với ASEAN.
Cần lưu ý rằng, khi AEC thành lập, bên cạnh Việt Nam có cơ hội đa dạng hóa thị trường xuất nhập khẩu, thì các doanh nghiệp nước ngoài cũng tăng cơ hội lựa chọn đầu tư. Tức là các doanh nghiệp có thể chọn Lào, Campuchia, Myanmar, Philippines… để đến đầu tư hậu AEC thay vì vẫn chọn Việt Nam. Điều này có nghĩa là nếu Việt Nam không nhanh chóng cải cách và hoàn thiện một số vấn đề liên quan đến môi trường đầu tư, chất lượng giáo dục và nguồn lao động, các khâu chuỗi cung ứng hàng hóa theo chuẩn khu vực thì các khoản lợi từ AC sẽ trôi theo nguyên tắc “nước chảy chỗ trũng”, chỗ nào tốt, lợi ích ắt theo.
Việc làm: lo nhiều hơn phấn khởi
Một trong những nội dung của AEC chính là dịch chuyển việc làm. AEC cho phép nguồn lao động dịch chuyển tự do hơn, thoải mái hơn, cởi mở hơn trong khu vực nội khối. Hiện AC đang thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là tại các quốc gia đang phát triển như Việt Nam , Lào, Campuchia… Các cơ chế AEC cho phép người lao động có tay nghề có nhiều chọn lựa hơn, tức là các lao động tay nghề thấp sẽ có ít cơ hội hơn. Với khả năng chuyên môn, kỹ năng, kinh nghiệm và trình độ về ngoại ngữ nằm ở mức áp chót trong khu vực, lao động thất nghiệp hay làm việc trái tay sẽ là những nỗi lo dài hạn cho Việt Nam, nhất là trong bối cảnh ngành giáo dục những năm qua chưa có những dấu hiệu được cải thiện đáng kể.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

"Đã Đại Đoàn Kết sao lại thất bại toàn tập?



         Thế là, sau hơn 2 năm chờ đợi, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm (Hà Nội) đưa ra xét xử vụ án nhà báo Từ Khôi khởi kiện  báo Đại Đoàn Kết.
         Phiên tòa xét xử chiều 20.11.2015. Chiều 25.11.2015 tòa tuyên án. Nguyên đơn nhà báo Từ Khôi thắng kiện. Bị đơn báo Đại Đoàn Kếtlại thêm một lần bại trận.
         Trong 3 tháng kề nhau (9-10-11.2015 ) báo Đại Đoàn Kết trở thành bị đơn của 3 vụ án, với 3 nguyên đơn đều là “người trong nhà” của tờ báo này, cả 3 nhà báo có hàm cấp phó ban chuyên môn.
          Ba nguyên đơn đều thắng. Báo Đại Đoàn Kết thì ngược lại, bị nốc ao trắng bụng.
          Ba nguyên đơn là đồng nghiệp của tôi. Chúc mừng ba đồng nghiệp, những người hiên ngang chống tiêu cực tại cơ quan báo chí có bề dày thuộc tốp đầu của làng báo Việt Nam.
         Xin chia phần xót xa với báo Đại Đoàn Kết, bị lôi ra tòa và thất bại ê chề mà nguyên nhân hoàn toàn do chủ quan gây ra.
         Những ai là người của báo Đại Đoàn Kết, nếu thật sự khách quan và không bị lợi ích nhóm lôi kéo, khi tòa chưa xét xử đã tự tin với khẳng định: phần thắng chắc chắn thuộc về nguyên đơn.
         Với báo Đại Đoàn Kết, trong 3 vụ án này, sai phạm chồng lên sai phạm, bị đơn không thua kiện mới là chuyện lạ.

         Đã là vụ án thì đương nhiên có tội danh, xét xử và tuyên án dựa vào các điều khoản do pháp luật quy định. Thực ra, về bản chất, 3 vụ án này có chung hành vi là trù dập người dũng cảm chống tiêu cực.
        Những người bị trù dập là nhà báo, thể hiện phẩm chất báo chí cách mạng bằng cách nêu gương chống tiêu cực ngay trong nội bộ cơ quan.
        Kẻ ra tay trù dập chính là người có bề dày tiêu cực nhưng lại đứng đầu cơ quan báo chí.
        Tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa 13, có vị đại biểu nêu vấn đề bi đát nhưng có thật: người tiêu cực xử lý người chống tiêu cực.
        Tại báo Đại Đoàn Kết, dưới thời nguyên Tổng biên tập Đinh Đức Lập, hiện trạng bi đát ấy phát sinh nghiêm trọng và kéo dài nhiều năm, đến nay vẫn chưa “nuốt” hết hậu quả.
        Ba vụ án xảy ra tại báo Đại Đoàn Kết và cơ quan này thất bại đắng cay, một phần có nguồn gốc từ cơ quan chủ quản.
         Người đứng đầu trù dập ba nhà báo, từ đó dẫn đến ba vụ án, chính là Đinh Đức Lập, nguyên Tổng biên tập báo Đại Đoàn Kết.
         Ngay từ ngày đầu đưa Đinh Đức Lập về chiếm ghế lãnh đạo báoĐại Đoàn Kết, cơ quan chủ quản vi phạm nghiêm trọng quyết định 75 của Ban Bí thư. Quyết định 75 của Ban Bí thư có điều khoản mang tính bắt buộc: người làm lãnh đạo cơ quan báo chí (tổng biên tập hoặc phó tổng biên tập) phải có thẻ nhà báo, phải có quá trình làm báo từ 3 năm trở lên.
           Đinh Đức Lập không phải là nhà báo, chưa một ngày hoạt động nghiệp vụ ở cơ quan báo chí. Thế mà, như kẻ điếc không sợ súng, cơ quan chủ quản phớt lờ quyết định 75 của Ban Bí thư, ra quyết định giao cho Đinh Đức Lập ngồi vào ghế cao nhất của báo Đại Đoàn Kết. Mọi phát sinh bất ổn và tiêu cực của báo Đại Đoàn Kết bắt nguồn từ đó.
          Sẽ là hàm hồ nếu cho rằng mọi thành viên của cơ quan chủ quản đều sai phạm khi lôi Đinh Đức Lập về làm báo Đại Đoàn Kết. Thực ra chỉ là một nhóm nhỏ (chứ không phải là một bộ phận không nhỏ) gây ra sai phạm nghiêm trọng ấy. Đứng đầu và giữ vai trò quyết định là ông Vũ Trọng Kim. Đinh Đức Lập là sản phẩm của ông Vũ Trọng Kim. Là Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, ông Vũ Trọng Kim đã lạm quyền khi quyết định để cho Đinh Đức Lập đứng đầu báo Đại Đoàn Kết. Chỉ vì quan hệ cá nhân, vì lợi ích nhóm, ông Vũ Trọng Kim bất chấp đến mức phớt lờ quyết định 75 của Ban Bí thư.
         Những năm cầm quyền ở báo Đại Đoàn Kết, Đinh Đức Lập tác giả bài viết thì ít nhưng “tác giả” sai phạm thì nhiều. Ông Vũ Trọng Kim lại tiếp tục ô dù bao che cho Đinh Đức Lập. Cặp đôi Đinh Đức Lập - Vũ Trọng Kim giống như quan hệ con nghiện với người nuôi con nghiện. Càng dung dưỡng cho con nghiện thì con nghiện càng nghiện nặng hơn. Và kết cục bi đát đã ập đến với Đinh Đức Lập: không những mất chức Tổng biên tập mà còn thảm hại ê chề về danh dự.
        Nếu dũng cảm thừa nhận sự thật, cơ quan chủ quản không khó tìm ra bài học chua chát về công tác nhân sự tại báo Đại Đoàn Kết. Khó tránh khỏi nhầm lẫn khi chọn người nhưng làm nhân sự liên tục “có vấn đề” như ở báo Đại Đoàn Kết thì quả thật hơi bị hiếm. Cơ quan chủ quản vung tay “gieo” còn báo Đại Đoàn Kết è cổ gánh chịu hậu quả.
        Có mặt tại Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm dự phiên tòa xét xử vụ án với nguyên đơn nhà báo Từ Khôi, vụ cuối cùng trong 3 vụ án có chung bị đơn là báo Đại Đoàn Kết, tôi miên man nghĩ về báo Đại Đoàn Kết. Giá như, khi xét xử 3 vụ án này, lãnh đạo báo Đại Đoàn Kết có mặt tại tòa sẽ rất có ích. Nghe tranh tụng tại tòa, lãnh đạo báo Đại Đoàn Kết sẽ tìm ra bài học từ những thất bại do chính họ gây ra. Nhìn lại những diễn biến vụ án được trình bày tại tòa, lãnh đạo báo Đại Đoàn Kết sẽ phải sửa đổi điều hành quản lý làm cho nội bộ lành mạnh hơn, trong sáng hơn và vươn tới thực hiện mơ ước xứng danh tên gọi Đại Đoàn Kết.
Bá Tân

Phần nhận xét hiển thị trên trang