Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Ba, 17 tháng 11, 2015

Biểu tượng thơ Hoàng Hưng


Nhà thơ Hoàng Hưng


Lê Hồ Quang


Khi nói về thơ Hoàng Hưng, nhiều người thường sử dụng ngay những biểu tượng trong thơ ông để khái quát hóa cảm nhận của mình, chẳng hạn Hoàng Hưng đi tìm mặt (Hoàng Cầm); Người chỉ đếm đến một(Thanh Thảo); Người đi tìm mặt, người đi tìm… thơ (Nguyễn Thị Minh Thái); Hành trình Hoàng Hưng(Vân Long), “Hành trình” đến giấc mơ “tràn ánh sáng” (Nhật Lệ), v.v. Điều đó không phải ngẫu nhiên. Quả thực, nhà thơ này đã tạo nên trong các sáng tác của mình một hệ biểu tượng khá đặc biệt, vừa giàu cảm giác trực tiếp vừa giàu khả năng khêu gợi liên tưởng, tưởng tượng. Được cấu trúc như một thứ “ngôn ngữ”, ý nghĩa và giá trị của những biểu tượng ấy, nói theo ý của Gilbert Durand, không phải nằm ở chỗ “những sao chép thực dụng do tri giác cung cấp” mà là khả năng làm “biến dạng” chúng, nhằm đánh thức xúc cảm và trí tưởng tượng, và làm lộ ra, theo một cách thức bí ẩn nào đó, một thực tại khác, ẩn tàng sau cái hiện thực bề mặt.
Nếu tập thơ đầu tay của Hoàng Hưng – Đất nắng (1970, in chung với Trang Nghị) vẫn nghiêng về một lối diễn tả trực tiếp, mộc mạc, như phần lớn thơ cùng thời, thì từ Ngựa biển (1988), cách “nói” bằng những hình ảnh giàu tính biểu trưng trở nên nổi bật. Đó là kết quả của một quá trình tìm tòi và thử nghiệm nghệ thuật, sự trầm tích vốn sống, vốn đọc, đồng thời là sự tích chứa và bùng vỡ của những dồn nén, ẩn ức thông qua sáng tạo. Như một dấu hiệu đã được mã hóa bằng ngôn từ, ngay trong tên của các tập như Ngựa biển, Người đi tìm mặt, Hành trình đã báo trước cái thông điệp thẩm mĩ mà rồi sẽ được biểu lộ một cách khá đậm nét trong những hình ảnh và câu chữ phía sau. Bản thân mỗi tiêu đề ấy cũng chính là một biểu tượng, chúng “tiết lộ mà che giấu, che giấu mà tiết lộ” một ý nghĩa nào đó rộng lớn hơn chính bản thân chúng. Những biểu tượng này tồn tại trong sự liên kết với vô số hình tượng, hình ảnh khác, tạo nên một ấn tượng đa dạng nhưng khá thống nhất của bầu sinh quyển thơ Hoàng Hưng. 
Ngay từ cái tên, Ngựa biển đã là một kết hợp ngôn từ độc đáo. Từ góc nhìn của văn hóa học, Ngựa là tượng trưng cho sức mạnh của núi thẳm, non cao hoang vu, thuần phác (dương) và Biển tượng trưng cho biển cả, sóng nước (âm), những sức mạnh tự nhiên mạnh mẽ, dữ dội. Dẫu vậy, tôi nghĩ ngựa biển không đơn thuần là kết quả của trò chơi ghép chữ. Đây là một hình ảnh mang đậm tính siêu thực, kết quả của trí tưởng tượng mãnh liệt, một hình ảnh như “vụt hiện” nhưng không thể đúng hơn, diễn tả những “cường liệt dục vọng, của tuổi trẻ con người, với tất cả tính bồng bột, năng lực sản sinh và tính hào phóng của nó” [1]. Đó cũng là biểu tượng của năng lực sáng tạo và những khát vọng tinh thần mạnh mẽ, bay bổng. Sự kết hợp những sự vật và tính chất vốn đối nghịch, xa lạ ấy tạo nên một ấn tượng tập trung và chói gắt về một sức mạnh hoang dại, bí ẩn, khó kiểm soát, như chính đời sống tâm linh của con người (ấn tượng này càng được tô đậm khi ta xem những bức tranh phụ bản trong tập thơ, nét vẽ phóng túng, với hình ảnh đầu ngựa ngẩng cao và những lớp bờm rũ tung như sóng).
Đi sâu hơn vào thế giới thơ tác giả này, sẽ thấy Biển – như một biểu tượng độc lập, không phải được “đóng khung” bởi những ý nghĩa có tính tiên nghiệm. Ngược lại, hình tượng này được xây dựng trên những cảm giác trực tiếp, tươi tắn và bởi vậy, ý nghĩa của nó được bổ sung, “nới rộng” một cách tự nhiên. Với nhà thơ, Biển là kí ức gắn liền thành phố cảng Hải Phòng với một không khí phóng khoáng, mạnh mẽ, bạo liệt mà ông “rất mê”. Biển hiện lên trong nhiều cảm giác sống động: thị giác (vàng rực bờ biển nắng), thính giác (sóng thầm reo); xúc giác (những bắp thịt săn của sóng/ đánh vào ta nồng nàn); vị giác (muối mặn ngấm vào rực máu)… Trong tất cả sự nồng nàn, Biển chính là hiện thân của Em và ngược lại: Rồi một ngày anh gặp em/ Vàng rực bờ biển nắng/ Em mới hiểu chính em là biển/ Bao nhiêu năm sóng thầm reo trong mình/ Anh mới hiểu chính em là biển/ Bao nhiêu năm anh tìm… Cảm giác về Biển hòa lẫn trong cảm giác về Em, về Tình yêu, một giấc mơ trong thực tại. Tình yêu được “định nghĩa” bằng một trạng thái cảm xúc bất ngờ và đầy đối nghịch: Anh sặc nước rồi em sặc nước/ Tỉnh dậy một mình đầm nước mắt/Thôi chúng mình đã yêu… Sau này, Biển của ông trầm tư và thương cảm hơn, với những hình ảnh chấm phá giàu ấn tượng, kết đọng trải nghiệm đời người: Sáng mùa đông/ Trắng đồng/ Cò dạt bão/ Tháng ba Đồ Sơn biển không người tắm/ Xe đạp Tàu con cón lưng ong…
Song cũng từ những hình ảnh cụ thể, một cách tự nhiên, niềm say mê đã dẫn nhà thơ đến một hình tượngBiển đậm chất siêu thực:
Ngoài thẳm biển
Có cây nghìn lá
Nghìn lá reo nghìn xanh
Nghìn lá reo gốc gió
Ngoài thẳm biển
Gió làm đứt chân trời
Ùa bão sóng
                                    (Gốc gió)
Hình tượng Biển được mô tả với sắc xanh bất tận, như một loài cây hồng hoang (cây nghìn lá/ Nghìn lá reo nghìn xanh/ Nghìn lá reo gốc gió), là cội nguồn của sự sống, sự tái sinh; nhưng mặt khác, nó cũng được hình dung như cái rốn thẳm của vũ trụ, cội nguồn của gió bão, của tai ương, sự đe dọa nguyên thủy, không thể chế ngự (Ngoài thẳm biển/ Gió làm đứt chân trời/ Ùa bão sóng). Đấy là một sức mạnh uyên nguyên có tính hai mặt, vừa kiến tạo, vừa phá hủy. Đó là biểu tượng của Sự Sống – Tất cả từ biển mà ra và tất cả trở về biển. Nhưng đồng thời, nó còn tượng trưng cho một nguồn năng lượng nguyên thủy trong vô thức con người, bởi “những quái vật cũng nổi lên từ chốn sâu thẳm của biển”[2].
Trong Ngựa biểnNgựa với tư cách một biểu tượng độc lập, chỉ xuất hiện hai lần, một trong câu đề từ cho phần Thơ tình và một trong bài Không đề (phần Thơ cho bạn bè). Cũng như Biển, Ngựa là một biểu tượng có tính lưỡng trị. Đó là hình ảnh tượng trưng cho khát vọng tự do, tiếng nói của bản năng tự nhiên phóng túng, đối lập với một đời sống nhân tạo, nô lệ của thói quen và sự sợ hãi. Và bởi vậy, tiếng ngựa hí thức dậy những giấc mơ hoang dã:“chập chờn nghe hí/ Xa xăm đỉnh mơ”. Nhưng khi vào thành phố, đối mặt với một hiện thực khắc nghiệt, những giấc mơ bị đồng hóa, từ đây Ngựa trở thành biểu tượng của sự cô đơn, sự bất lực, cảm giác lạc loài. Lạc giữa “quanh co phố dựng”, bi kịch loài ngựa đã kịp bộc lộ trong giấc “ngủ chìm đáy mộng, bọt mồ hôi”. So với hình tượng con hổ “gậm một khối căm hờn trong cũi sắt” của Thế Lữ, hình tượng Ngựa của Hoàng Hưng đem lại một ám ảnh khác hẳn. Ở đây, Ngựa không nhằm diễn tả nỗi đau hay sự căm hận của kẻ bị động rơi vào cảnh ngục tù. Nó là một sự lựa chọn của chủ thể, nhưng là một sự lựa chọn không – thể – khác, bởi vậy, nó gợi nên một tình thế hiện sinh bi đát của kiếp ngựa/ người.
Ta hãy chuyển sang tập Người đi tìm mặt (1994). Cái tiêu đề Người đi tìm mặt trên thực tế đã “ám” vào tâm trí nhiều độc giả và điều này có lí do của nó: Người đi tìm mặt là cảm hứng chủ đạo trong tập thơ này. Bản thân tiêu đề ấy cũng mang chứa một hình ảnh biểu trưng: Mặt – đó là cái “Tôi” sâu kín đã bóc trần ra một phần. Ý định của tác giả lộ rõ khi ứng với cái tên của tập thơ Người đi tìm mặt là phần Người đi tìm mặt và bài thơ duy nhất của phần này cũng có tên Người đi tìm mặt. Bài thơ khá dài, được chia làm nhiều đoạn nhỏ, và xen kẽ giữa những đoạn thơ dài ngắn không đều là âm vọng liên tục, dai dẳng, không dứt của điệp khúc Đi tìm mặt mình đi tìm mặt mình đi tìm mặt mình (cũng có khi xáo trộn một chút về trật tự từ ngữ, chẳng hạn: Tìm mặt mình đi tìm mặt mình đi tìm mặt mình đi hoặc Mặt mình đi tìm mặt mình đi tìm mặt mình đi tìm…); Xen kẽ vào đó là những hình ảnh đời sống vụt hiện qua một cái nhìn thảng thốt; những câu hỏi đan chéo hoang hoải, những lời than, tiếng gọi như buột ra từ tiềm thức, trong những cơn mê sảng: Đi thôi đi thôi/ Đi tạc mặt vào đêm/ Hút hút…
Thật ra, dù Người đi tìm mặt được tác giả “giao phó” cho cái trọng trách là thể hiện tập trung cái tứ chủ đạo của toàn tập, nhưng sức ám ảnh sâu hơn có khi lại nằm ở một số bài thơ khác, chẳng hạn Người về, Mưa đêm, Người điên, Mùi mưa hay bài thơ của M., Định mệnh, Sốt… Nếu hình dung mỗi bài thơ là một mảnh vỡ nội tâm thì hiện lên trong tập thơ này là một diện mạo nội tâm đầy những cảm giác nát tan, đơn độc, âm thầm, bồn chồn… Đó là gương mặt của con người “đã mất những tháng năm đẹp nhất”, là “kẻ biết mình vô tích sự”; là kẻ “tha hương nửa đời vật lộn/ Sống chỉ còn như một thói quen”… Người về đã phục nguyên trạng thái chấn thương kinh hoàng của cái tôi rời rã tự bên trong ấy:
Người về từ cõi ấy
Vợ khóc một đêm con lạ một ngày

Người về từ cõi ấy
Bước vào cửa người quen tái mặt
Người về từ cõi ấy
Giữa phố đông nhồn nhột sau gáy

Một năm sau còn nghẹn giữa cuộc vui
Hai năm còn mộng toát mồ hôi
Ba năm còn nhớ một con thạch thùng
Mười năm còn quen ngồi một mình trong tối

Một hôm có kẻ nhìn trân trối
Một đêm có tiếng bâng quơ hỏi

Giật mình
Một cái vỗ vai.
Bài thơ sử dụng thủ pháp giản lược tối đa. Văn bản không cho ta biết gì về “người về” cũng như “cõi ấy” trước cái thời điểm được kể. Đó là một khoảng trắng. Nhưng nó chi phối tuyệt đối đến đời sống và cảm giác sống của con người sau đó: có một cuộc đời bị cắt đôi vĩnh viễn sau thời điểm ấy. Bản thân người về là một nỗi ám ảnh tàn khốc, với người khác (vợ khóc, con lạ, người quen tái mặt), với chính anh ta (giữa phố đông nhồn nhột sau gáy, nghẹn giữa cuộc vui, nhớ một con thạch thùng, quen ngồi một mình trong tối…). Nỗi ám ảnh thường trực về sự bất trắc và phi lí của đời sống biến con người thành địa ngục của chính mình. Điệp khúc người về từ cõi ấy lặp lại đến ba lần, đóng đinh vĩnh viễn anh ta trong cảm thức thân phận “kẻ xa lạ”. Nhịp điệu chậm rãi mà dồn nén của những con số thời gian: một năm/ hai năm/ ba năm/ mười năm chỉ làm nhọn sắc thêm tính chất bi kịch của chi tiết kết thúc: Giật mình/ Một cái vỗ vai. Tính chất phiếm chỉ của hình tượng người về và cõi ấy, sự giản lược và sắc gọn của những chi tiết, sự đối lập giữa giọng điệu trần thuật trầm tĩnh, rành rọt và trạng thái đời sống bi đát được diễn tả… tất cả đã đưa Người vềgiã từ việc tả thực để trở thành một biểu tượng.
Những đau đớn cùng cực của con người còn được tác giả tượng hình hóa bằng người điên. Nếu Hàn Mặc Tử trực tiếp bộc bạch: Bây giờ tôi dại tôi điên/ Chắp tay tôi lạy cả miền không gian…, thì trong thơ Hoàng Hưng, nỗi điên dại được khách thể hóa: Anh cứ đi chăm chắm giữa đường/ Cái mặt không tuổi/ Tấm thân không thời tiết/ Hai mắt để ngỏ một căn phòng trống không (Người điên 1)… Quả thực đây là một hình tượng gợi nhiều suy ngẫm. Cái cô độc của người điên giữa phố xá và cái cô độc của con người trong cuộc tìm kiếm mình, ai cô độc hơn? Sự điên rồ của một người điên và sự “điên rồ” của nhà thơ, rốt cục kẻ nào điên rồ hơn? Hay chính trong sự “điên rồ” ấy đã hé lộ một sự hiền minh mà người đời xô bồ không thể nhận thấy? Chi tiết nhà thơ “bắt gặp” chính mình “lẩm bẩm giữa đông người” ở phần kết thúc bài thơ tự nó nói lên nhiều điều. Không chỉ là cảm giác bất ngờ (và bất thường) bởi sự tương đồng, sâu xa hơn, nó là một thức nhận thân phận. Nó ám gợi “một trạng thái bi kịch” của đời sống.  
Khao khát khẳng định tiếng nói cá nhân trong những biểu hiện chân thực và sâu kín nhất của nó đã sớm trở thành cái đích tìm kiếm của Hoàng Hưng trên hành trình sáng tạo. Bên cạnh những lí do khách quan, đi tìm mặt mình, với ông, còn là để truy tìm ý nghĩa của đời sống cá nhân mà trong một nghịch cảnh số phận, đã cho nhà thơ trải nghiệm đến đáy sự bi đát của nó. Đồng thời, như một nghịch lí dễ hiểu, đi tìm mặt mìnhcũng là để ông tìm kiếm câu trả lời cho những băn khoăn nhân sinh, thế sự, mà càng gập ghềnh trắc trở, càng trở nên quyết liệt, bền bỉ.
Bây giờ là lúc ta bàn đến tập thơ Hành trình và biểu tượng nổi bật nhất của nó – hành trình. Tập thơ bao gồm những bài thơ được viết trong giai đoạn từ 1995 – 2005. Nó đánh dấu một trạng thái tinh thần mới của nhà thơ, với một cái nhìn đời sống trầm tĩnh, khoan hòa, gần hơn với minh triết, dù vẫn không nguôi những “thao thức hồ nghi”.
Nhìn từ một góc độ nào đó, có thể thấy Hành trình rất giàu tính “kí sự”, “thuật sự”. Những chuyến đi giúp nhà thơ mở rộng tri thức, thu nạp những cảm giác, ấn tượng hết sức tươi tắn, mới mẻ và hiện đại về con người và thế giới. Như một sự sắp xếp có chủ ý, Hành trình đi từ Ngày lạ đến Made in USA, đến Sống & Chết, và cuối cùng là Đường lên núi tuyết. Cách sắp xếp này dễ gợi cho người đọc hình dung về tính chất của một hành trình: từ gần đến xa, trong không gian lẫn thời gian, với những trải nghiệm vật chất đến tinh thần… Tuy nhiên, những miền đất, những thành phố, những quốc gia nhà thơ đặt chân đến đánh thức trong ông không phải cái háo hức hiếu kì của một du khách trước vùng đất lạ, mà là những ngổn ngang suy tư thế sự và cao hơn là những câu hỏi về nhân sinh, những bi kịch của đời sống, những băn khoăn muôn thuở về kiếp người, về sự sống và cái chết, đi và ở, danh và thực, vĩnh cửu và phù du… Đó là cuộc viễn du của con người “một đời mồ hôi một đời bụi bặm”, hướng về “phương Bắc tuyết trắng”, “triền hoa xanh mong manh”, để tìm kiếm “giấc mơ anh tràn đầy ánh sáng”… Có thể nói đó cũng là sự chuyển dịch nội tâm. Đi từ những kích tấc giới hạn để đến những kích tấc Vô cùng. Từ sự đo đếm của lí tính đến những cảm giác của tâm linh. Gạt bỏ những ảo tưởng sân si để đạt tới tuệ giác. Chính vì vậy, những địa danh nhưAmerica hay Himalaya và Manhattan, sông Hằng, Calcutta hay Hymalaya, Tuyết sơn, phương Bắc… đã vượt ra khỏi ý nghĩa tả thực để mang chứa những ý nghĩa tượng trưng mới.
Có người đã nói đến chất Thiền hiện đại trong Hành trình của Hoàng Hưng. Quả có vậy. Nhưng theo tôi nghĩ, trong tập thơ này vẫn thể hiện cái nhìn phân tích sắc sảo, luôn muốn truy sát gốc rễ của vấn đề, vốn là một phẩm tính nổi bật của con người hiện đại, (cái vừa là động lực, vừa là lực cản khiến con người khó đạt đến trạng thái an bằng tuyệt đối của tâm hồn, phải chăng đây là điều nhà thơ muốn nói khi ông viết trong Mưa Bangkok: Mình hành khất gì đây hành khất một niềm tin bên trên lý lẽ?). Có thể thấy điều đó qua những tự vấn đầy day dứt về cuộc đời, về đi và ở, sống và chết…, như những ám ảnh thường trực:Chúng mình đi đâu, đâu những con cá lạ?/ Những ngày sắp tới có gì mới hơn? (Cửa sông); Ta không lên được đỉnh Bài Thơ/ Dù bậc xi măng đã xây đến đỉnh/ Hay chính vì bậc xi măng đã xây? (Bài thơ trên núi); Suốt đêm thao thức hồ nghi/ Tiếng chó rừng có thật không có thật? (Chó rừng)… Một mặt, cái tôi nhà thơ luôn khát khao cái đích đến cuối cùng – cái trạng thái tự do tuyệt đối trong tinh thần. Nhưng đồng thời anh ta cũng ý thức sâu sắc về sự thật là con người không bao giờ tồn tại như một ý niệm siêu hình, sống và bị vây khốn giữa bao “mồ hôi” và “bụi bặm” nhân sinh, anh ta khó lòng “chạy đâu cho thoát”. Là một con người thực tế, Hoàng Hưng hiểu rõ giới hạn ngặt nghèo của những cuộc vượt thoát tinh thần ngay trong chính ông. Nhưng là một nghệ sĩ, ông biết rằng chính cái khao khát ấy đem lại cho đời sống cá nhân một ý nghĩa cao quý nào đó, và bởi vậy, bất chấp những đớn đau và bi kịch, “giấc mơ tuyết trắng” vẫn luôn là vĩnh cửu.
Có thể nói, dẫu chưa hoàn toàn hết “ngập ngừng”, “phân vân”, song trong Hành trình, nhà thơ dường như đã nhìn thấy đích cuối của cuộc hành trình trong một cảm giác khá thấu suốt và an tĩnh. Gạt bỏ dần những lỉnh kỉnh, vướng víu trong hành trang tinh thần, ông nhìn đời sống và chính mình với tâm thế nhẹ nhõm của một kẻ tự biết “Tự do ngay phút này – hoặc không bao giờ nữa”.
Bây giờ ta phải trả lời cho câu hỏi: hệ biểu tượng trong thơ Hoàng Hưng đã được kiến tạo bằng những thao tác nghệ thuật như thế nào? Dĩ nhiên, thế giới hình tượng không chỉ được tạo tác bởi những thao tác thuần lí mà còn có thể được kiến tạo bởi vô số “thao tác” của vô thức nghệ sĩ. Nhưng văn bản luôn hiện diện như một tiếng nói khách quan và với tư cách một “cấu trúc mở”, nó luôn “mời gọi” cách đọc/ diễn giải đa dạng của độc giả.
Một trong những điểm gây chú ý trước hết trong thơ Hoàng Hưng là cách đặt tiêu đề. Đó có thể là những hình ảnh vốn có hoặc dễ gợi ý nghĩa tượng trưng (ví dụ Hành trình, Người điên, Cửa sông, Bài thơ trên núi, Tuyết sơn…), hoặc những biểu tượng được xây dựng mới theo hướng lạ hóa (chẳng hạn Người đi tìm mặt, Ngựa biển, Gốc gió, Trưa Chàm). Có thể xem những cái tên này như những “ẩn ngữ”, chúng kích thích và khêu gợi sự liên tưởng, tưởng tượng, “xúi bẩy” độc giả tham dự sâu hơn vào cuộc tiếp nhận văn bản. Nhiều khi, nó còn là một sự chỉ dẫn cần thiết cho người đọc giải mã tác phẩm (Trưa Chàm là một ví dụ). Nhưng tiêu đề, dù khá quan trọng, vẫn mới chỉ là bước đầu tiên trên hành trình đọc thơ. Quan trọng hơn là cách tổ chức ngôn từ và hình tượng. Trong một số bài thơ, tác giả không ngại triển khai theo hướng luận đề trực tiếp, tác phẩm thường bám rất sát vào sườn ý bất chấp nguy cơ lộ ý rườm lời, chẳng hạn Tiếng đập của không gian, Xa lộ thông tin, Made in USA, Amêrica… Song thường gặp hơn trong thơ ông là lối luận đề gián tiếp, thông qua những hình ảnh – biểu tượng. Có khi tác giả chú trọng mô tả, dùng nhiều hình ảnh, chi tiết mô tả để chạm khắc biểu tượng (chẳng hạn Người yêu miệt biển, Gốc gió, Trưa Chàm, Chậu cây trong nhà, Biển, hai câu một…); có khi ông sử dụng hình thức kể chuyện (Cửa sông, Bài thơ trên núi, Bạn thơ, Đường đổi ngày, Phương Bắc); cũng có khi, các biểu tượng được xây dựng trên những tương quan đối nghịch, nhằm tạo nên ý nghĩa tượng trưng, chẳng hạn:
Đêm bập bùng ghi ta Granada
Bom nổ sáng mai quảng trường tan tác
                                                            (Lorca)
Đường lên núi súng nổ
Xe cháy
Sáng nay đôi chim hạc bay về
Mang trên cánh
Tuyết núi xa
                                                            (Tuyết sơn)
Nhiều bài thơ mang dáng dấp “kí sự” của Hoàng Hưng có kiểu kết thúc chắc gọn, đầy bất ngờ, có khả năng làm bật ra những tư tưởng và xúc cảm đa chiều, chẳng hạn: Đường đổi ngày, Ngoại ô Paris, Trước mộ Apollinaire, Bài thơ trên núi, Nghe tiếng quạ kêu ở Calcutta, Tuyết sơn, Ở phương Bắc
Để tô đậm tư tưởng/ hình tượng trung tâm và hơn thế, tạo nên một sự ám ảnh cao độ, phép lặp cũng là thủ pháp được sử dụng khá thường xuyên, trên nhiều cấp độ: từ ngữ, hình ảnh, ý thơ… Chẳng hạn, trong tậpNgười đi tìm mặt, cụm từ người đi tìm mặt được sử dụng làm tiêu đề của toàn tập, được dùng làm tên của phần 6, được dùng làm tên bài thơ duy nhất trong phần này, cũng là cụm từ được lặp đi lặp lại (5 lần, với một số biến thể) trong bài thơ. Không nghi ngờ gì nữa, Người đi tìm mặt là một biểu tượng thơ độc đáo, thể hiện một cuộc truy tìm nội tâm đầy dằn vặt, nhức nhối, chủ đề trọng tâm của thi phẩm. Một ví dụ khác –Người vềBài thơ là nỗi kinh hoàng được hình tượng hóa. Nó trở thành nỗi ám ảnh dày vò bởi sự trùng điệp cú pháp, bởi sự điệp lại của cụm từ người về từ cõi ấy, bởi sự lặp lại của những con số một năm/ hai năm/ ba năm/ mười năm; một hôm/ một đêm…
Trong thơ Hoàng Hưng, ta cũng thường bắt gặp hiện tượng gián đoạn, đứt mạch giữa các hình ảnh, từ ngữ, tạo nên những khoảng trống liên tưởng rộng rãi. Theo tác giả này, “hình ảnh trong thơ hiện đại bất ngờ, sửng sốt, nhiều khi kết hợp hai sự vật rất xa nhau, tạo thành sự nhảy vọt về trí tưởng”[3]. Tất nhiên, sức mạnh mĩ cảm của chúng không nằm trong những thao tác “lắp ghép” thuần túy kĩ thuật – nó nằm trong sự dồn nén và “nhảy vọt” của tiếng nói nội tâm, của vô thức, trực giác. Trong thơ Hoàng Hưng, có khá nhiều hình ảnh “vụt hiện” bất ngờ, như được nảy sinh trong “những phút xuất thần”: Em bỗng chín đỏ như trái cây chạm mặt trời mùa hạ/ Trái cây hoang dã/ Vùng biển nâu; Em chín đỏ/ Mà không sao hái được/ Rồi em sẽ rụng nằm trong cát/ Bỏng rẫy mặt trời hoang… Nếu chỉ dừng lại ở đây, thơ Hoàng Hưng vẫn chưa vượt quá ngưỡng lạ. Nhưng không dừng ở đó, ông tiếp tục đẩy tới những tìm tòi xa hơn, với những thử nghiệm theo lối “viết tự động” trong Thơ vụt hiện (Ngựa biển), Nhập môn, Đường phố 1, 2, 3 (Người đi tìm mặt)… Những sáng tác này, như ta đã biết, đã “châm ngòi” cho cuộc xung đột gay gắt giữa nhiều cách đánh giá trái ngược. Tạm đặt sang bên vấn đề thành công/ thất bại, hay/ dở cụ thể, theo tôi nghĩ, cái đáng nói nhất ở những sáng tác này chính là ở chỗ, bằng việc đẩy tới cùng sự thử nghiệm, bất chấp những “dở dang”, “chông chênh” thường gặp ở những sản phẩm tiên phong, chúng kêu gọi những nỗ lực cách tân và “làm mới” thơ không ngừng trên cơ sở hướng tới xây dựng những hệ chuẩn mực mới, đa dạng trong cách viết cũng như cách đọc văn chương hiện đại. Đó là những thử nghiệm có tính mở. Quả thực là cùng với xu hướng phát triển và hội nhập với thế giới hôm nay, ta thấy nỗ lực sáng tạo nhằm vượt qua “cái computer chương trình hóa có tên là lí trí”, để “ghi hình trực tiếp diễn biến vật lộn, sinh thành trong bóng tối của bản năng”[4] cũng là nỗ lực của rất nhiều tác giả Việt Nam đương đại.
Bên cạnh đó, việc tước bỏ những lối diễn đạt hoa mĩ, cầu kì, không ngại dung nạp những chất liệu đời sống vốn bị xem là “bất nhã”, “phi thơ”, nhằm tiếp cận trực diện cái lõi cảm giác của đời sống và nới rộng những đường biên trong quan niệm về thơ…, cũng là một cái đích Hoàng Hưng hướng tới khi trong Mùi mưa hay bài thơ của M.ông viết: Nhớ điên cuồng mùi anh như con bò cái nhớ mùi phân rác và Trước mộ Appollinaire, ông viết: Trên những dấu chân bờ sông Seine/ Tôi nhẩm từng câu thơ anh/ Trên từng dấu chân anh/ Xác lá ngô đồng lẫn cùng/ Phân chó… Nếu như những hình ảnh “vụt hiện” làm người đọc bất ngờ vì sự lạ lùng của chúng thì những ngôn từ và hình ảnh miêu tả trên lại làm người đọc sửng sốt vì tính chất táo tợn và suồng sã – đấy là những hình ảnh mà trước đó, rất hiếm gặp trong thơ. Chúng gây “sốc” mạnh với độc giả, nhất là những ai vốn quen nghĩ về thơ như một thế giới ngôn từ trau chuốt, đẹp đẽ. Song, nếu đặt chúng vào ngữ cảnh cụ thể, chẳng hạn trong bài Mùi mưa hay bài thơ của M., sẽ thấy những ngôn từ và hình ảnh ấy có khả năng diễn tả cảm giác chân thực cao độ mà một cách viết “nhã” hơn, “thơ” hơn, trong trường hợp ấy, khó lòng đạt đến. Dĩ nhiên không phải trường hợp nào trong thơ Hoàng Hưng cũng gây được hiệu ứng như vậy, đôi khi những hình ảnh được sử dụng mới chỉ thể hiện được cái trụi trần, thô bạo của đời sống chứ chưa chạm được vào cái “hồn vía” thật sự của nó.
Có người nhận xét, sau rất nhiều những bứt phá, tìm tòi theo hướng hiện đại chủ nghĩa, giờ đây dường như Hoàng Hưng đang trở về với những giá trị, chuẩn mực có tính “cổ điển”. Đúng là lối viết mộc ngày càng rõ hơn trong các sáng tác của ông, nhất là trong tập Hành trình. Tuy nhiên, bút pháp giản dị này đã đạt đến trình độ nghệ thuật khác hẳn sự “giản dị”, “trong sáng” của những sáng tác đầu tay. Đó vừa là kết quả tất yếu và tự nhiên của quy luật “lượng đổi thành chất”, song đồng thời, nó còn là kết quả của một sự tự ý thức cao độ của người cầm bút – luôn phải viết khác, trước hết là khác với chính mình.
Với Hoàng Hưng, sáng tạo chính là hành trình đi tìm mặt mình, tìm kiếm cái diện mạo đích thực của con người cá nhân. Nhìn rộng ra, đó cũng là hành trình tìm kiếm Thơ, tìm kiếm những giá trị Lí tưởng. Ý thức ấy sớm hình thành bởi tác động của một hoàn cảnh có tính biệt lệ, song nó cũng nhanh chóng trở thành một sự lựa chọn mang tính tự giác của tác giả. Đi sâu vào đời sống cá nhân, cá thể, cố gắng lắng nghe và diễn tả những tiếng nói sâu kín, bí ẩn bên trong đời sống tâm linh, vô thức, trực giác…, điều này khiến thơ Hoàng Hưng, nhìn từ một góc độ nào đó, có vẻ khép kín và tách rời khỏi những biến động sử thi của thời đại. Tuy nhiên, lời trong thơ, nói như M. Bakhtin, không thuần túy là lời cá nhân, lời của nhà thơ bao giờ cũng mang âm vang của “dàn đồng ca”. Bởi vậy, từ góc nhìn thân phận cá nhân, người ta vẫn có thể nhận thức một cách sâu sắc nhiều vấn đề của dân tộc, của lịch sử. Mặt khác, một nền thơ tiến bộ và phát triển luôn tìm được sức mạnh trong sự chấp nhận và dung dưỡng nhiều hướng tìm tòi, sáng tạo đa dạng của cá nhân nghệ sĩ.
Với một bản lĩnh và ý thức cách tân mạnh mẽ, bền bỉ, Hoàng Hưng đã tạo nên một cách nói nghệ thuật riêng, khác biệt. Hiện diện trong thơ ông là một hệ biểu tượng phong phú. Ấy là kết quả của một cách nhìn, một cách tư duy độc đáo về thế giới, và đồng thời, cũng là một trải nghiệm tinh thần đầy chất thơ.
                                                                        Vinh, 6/5/2012



[1] Jean Chevalier – Alain Gheerbrant (1997), Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, Nxb Đà Nẵng, Trường Viết văn Nguyễn Du, tr. 660.
  [2] Jean Chevalier – Alain Gheerbrant (1997), Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, Nxb Đà Nẵng, Trường Viết văn Nguyễn Du, tr. 81.
  [3] Hoàng Hưng (1992), “Bạn đọc Việt Nam và thơ hiện đại”, Thế giới mới,http://www.vanchuongviet.org
[4] Hoàng Hưng (1994), “Về bản sắc dân tộc và thơ hôm nay” (tham luận tại Hội thảo “Bản sắc dân tộc của thơ Việt Nam”, Trường Viết văn Nguyễn Du), http//www.vanchuongviet.org
Nguồn: SÁch “Âm thanh và tưởng tượng :”

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nguyên cán bộ an ninh ở tù vì... facebook!

Bức xúc cấp trên, nguyên cán bộ an ninh phát tán bản sao văn bản “Tối mật” lên… facebook. 


Ngày 17-11, TAND TP HCM xử sơ thẩm và tuyên phạt Phạm Thanh Trung (SN 1989, nguyên cán bộ Đội Tham mưu - Công an quận Bình Thạnh, TP HCM) 3 năm tù giam về tội “Cố ý làm lộ bí mật nhà nước”.

Theo cáo trạng, ngày 26-4-2015, Công an quận Bình Thạnh xác định trên facebook “An Pham” có đăng tải văn bản “Tối mật” (gọi là “Thông báo số 5”) liên quan đến công tác đảm bảo an ninh trật tự cho các hoạt động kỷ niệm 40 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Ngoài ra, facebook “An Pham” có bài viết chỉ dẫn tổ chức Việt Tân cách thức rải truyền đơn, đặt chất nổ tại trụ sở chính quyền.

Phạm Thanh Trung nhận tội tại tòa
Phạm Thanh Trung nhận tội tại tòa

Điều tra ban đầu xác định, facebook “An Pham” trên là của Phạm Thanh Trung, cán bộ Đội Tham mưu - Công an quận Bình Thạnh. Tối 25-4-2015, sau khi nhận lệnh cầm “Thông báo số 5” đi photocopy, Trung tự ý lấy một bản sao mang về phòng ở của mình chụp lại rồi đăng facebook. Chưa dừng lại ở đó, Trung còn gửi hình chụp “Thông báo số 5” kèm theo hướng dẫn cách thức rải truyền đơn, đặt chất nổ trong ngày TP HCM tổ chức mít tinh đến tài khoản facebook của Việt Tân.

Kết quả kiểm tra máy tính xách tay của Trung phát hiện trong máy có lưu 6 tấm hình chụp văn bản nêu trên. Cơ quan điều tra còn phát hiện năm 2010, sau khi nhận công tác tại Đội Tham mưu - Công an quận Bình Thạnh, Trung tạo nhiều tài khoản facebook để tìm hiểu nhiều trang facebook khác, trong đó có tổ chức phản động lưu vong Việt Tân.
Tại tòa, Trung thừa nhận do bức xúc cấp trên trong việc chỉ đạo công tác, bình xét thi đua, giải quyết chế độ nên thực hiện hành vi phạm tội.
 
Nguồn: Nld

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trung Quốc sẽ vẽ lại đường chín đoạn?


 
BẮC KINH (NV) - Ông Hồng Lỗi, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Trung Quốc, vừa lên tiếng xác định, chủ quyền quần đảo Natuna thuộc về Indonesia. Tuyên bố này chẳng khác gì việc hứa vẽ lại đường chín đoạn. Nếu Trung Quốc không vẽ lại đường chín đoạn, thì quần đảo Natuna của Indonesia vẫn thuộc phạm vi yêu sách của Trung Quốc mà vẽ lại để đường chín đoạn không xâm hại đến chủ quyền của Indonesia thì “những bằng chứng vững chắc về chủ quyền của Trung Quốc tại Biển Đông” lại bị chính Trung Quốc làm cho lung lay. 

Một cảng ở đảo Natuna của Indonesia. (Hình: Wikipedia.org)
Trong vài ngày qua, Indonesia liên tục dọa sẽ đưa Trung Quốc ra tòa nếu Bắc Kinh không rút lại yêu sách về chủ quyền đối với quần đảo Natuna của Indonesia. Trước đây, yêu sách của Trung Quốc về chủ quyền tại Biển Đông chỉ được xem là xâm hại đến chủ quyền của Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei và Đài Loan, nhưng sau đó, có thêm Indonesia phản đối yêu sách này.

Jakarta khẳng định, đường chín đoạn mà Trung Quốc tự vạch để đòi chủ quyền tại Biển Đông đã lấn một phần vào vùng biển quanh quần đảo Natuna.

Hôm 24 Tháng Mười, khi trao đổi với nhật báo The Wall Street Journal (WSJ), ông Luhut Pandjaitan, bộ trưởng đặc trách chính trị - pháp lý - an ninh của Indonesia, nhấn mạnh, Indonesia không công nhận đường chín đoạn, không chấp nhận yêu sách của Trung Quốc về chủ quyền tại Biển Đông. Đường chín đoạn mà Trung Quốc đơn phương vạch ra để đòi chủ quyền tại Biển Đông là sản phẩm của trí tưởng tượng.

Cũng vì vậy, ông Pandjaitan khẳng định, Indonesia sẽ tham gia tích cực hơn vào việc giải quyết tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc ở Biển Đông. Ông nói thêm với WSJ rằng, kế hoạch của Hoa Kỳ đưa chiến hạm đến tuần tra tại Biển Đông, thậm chí tiến sâu vào khu vực 12 hải lý bao quanh các đảo nhân tạo mà Trung Quốc vừa bồi đắp tại quần đảo Trường Sa, là chính đáng. Hoa Kỳ có quyền làm như vậy vì đó là là vùng biển quốc tế.

Ông Pandjaitan còn bày tỏ hy vọng sẽ nhận được sự giúp đỡ của Hoa Kỳ để phát triển lực lượng tuần duyên, gia tăng tuần tra tại các vùng biển của Indonesia. Lúc đó, Trung Quốc im lặng, không bình luận về các nhận định, tuyên bố của Indonesia.

Đến cuối tuần này, cả ông Pandjaitan lẫn ngoại trưởng Indonesia lần lượt khẳng định sẽ kiện Trung Quốc ra Tòa Hình Sự Quốc Tế nếu Bắc Kinh khăng khăng giữ yêu sách về chủ quyền đối với quần đảo Natuna của Indonesia.

Dường như sự cương quyết của Indonesia khiến Trung Quốc vừa phải cân nhắc thiệt hơn, vừa phải hành động ngay lập tức: Xác định chủ quyền quần đảo Natuna thuộc về Indonesia..
.

Tuyên bố mới nhất của Trung Quốc: Từ bỏ yêu sách chủ quyền đối với một phần vùng biển quanh quần đảo Natuna của Indonesia có thể giúp Trung Quốc không phải đối mặt với một vụ kiện mới, liên quan tới yêu sách của Trung Quốc về chủ quyền tại Biển Đông, nhưng chưa rõ Trung Quốc sẽ làm gì với đường chín đoạn để chứng tỏ “thiện chí:” Quần đảo Natuna là của Indonesia chứ không phải của Trung Quốc.

Cần nhắc lại rằng, kể từ khi công bố đường chín đoạn để xác định chủ quyền của mình tại Biển Đông, Trung Quốc từng nhiều lần khẳng định, khu vực này là di sản mà tổ tiên người Trung Hoa để lại cho Trung Quốc. Trung Quốc đã dựa vào các bằng chứng vững chắc về lịch sử để vạch ra đường chín đoạn nhằm xác định chủ quyền bất khả tranh biện của Bắc Kinh tại Biển Đông.

Nay, nếu Trung Quốc không vẽ lại đường chín đoạn, thì quần đảo Natuna của Indonesia vẫn thuộc phạm vi yêu sách của Trung Quốc mà vẽ lại để đường chín đoạn không xâm hại đến chủ quyền của Indonesia thì “những bằng chứng vững chắc về chủ quyền của Trung Quốc tại Biển Đông” lại bị chính Trung Quốc làm cho lung lay. (G.Đ.)


http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=217449&zoneid=1
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nên hay không báo chí tư nhân, và hiểu thế nào cho đúng?


LTS: Trước thềm sửa đổi Luật báo chí, có rất nhiều ý kiến xoay quanh vấn đề có nên để báo chí tư nhân hoạt động hay không? Về vấn đề này, Tòa soạn trân trọng giới thiệu bài viết của tác giả Phạm Mạnh Hà, một người hành nghề luật. Tác giả phân tích dựa trên nghiên cứu chính xác để làm sáng tỏ vấn đề. kết luận chính xác là: Không nên cho hoạt động báo chí tư nhân, vì tư nhân không thể đảm bảo được năng lực định hướng cho dư luận của báo chí.

(Ảnh: news.zing.vn)
Có nhóm ý kiến cho rằng phải cho báo chí tư nhân hoạt động để đảm bảo quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của công dân theo điều 25 của Hiến pháp hiện hành. Trái lại, nhiều ý kiến không đồng tình vì lo ngại như thế sẽ khó kiểm soát. Sau khi đi sâu nghiên cứu tìm hiểu đến tận cùng về vấn đề này, bài viết sau mong được làm sáng tỏ mấy nội dung sau:

Một xã hội luôn có nhu cầu cần được biết nên đi theo hướng nào giữa muôn vàn ý kiến, quan điểm, tư tưởng trong dư luận. Vì vậy qua những tổ chức chính trị, chính trị - xã hội, báo chí đã ra đời để đáp ứng cho nhu cầu cần được định hướng này.

Cũng chính vì thế mà báo chí có hai chức năng chính là: thông tin và tuyên truyền.

Với chức năng thông tin, thì đòi hỏi nguồn tin phải chính xác, chịu trách nhiệm, và tiếp nhận rộng rãi trên toàn xã hội. Do đó nguồn tin phải được xác định nơi cung cấp, người cung cấp, người chịu trách nhiệm.

Do có chức năng thông tin, nên báo chí còn là nơi tập hợp các ý kiến nguyện vọng của nhân dân để nhà nước nắm bắt được mà có chính sách hợp lòng dân.

Và do một xã hội cần đi theo một hướng nhất định để tiến lên phía trước, cho nên báo chí có chức năng tuyên truyền để định hướng cho dư luận biết được đâu là lựa chọn đúng đắn giữa muôn vàn ý kiến quan điểm trái chiều trong xã hội.

Cũng lưu ý rằng do báo chí có sức lan tỏa trong xã hội nên tuyên truyền định hướng dư luận mới là nhiệm vụ chính của báo chí hơn cả.

Bởi lẽ một xã hội cần biết được phải đi theo hướng nào để tiến lên phía trước, thì từ nhu cầu định hướng đó mà xã hội cần được báo chí thực hiện chức năng cung cấp thông tin.

Cho nên khi báo chí thực hiện chức năng cung cấp thông tin cũng chính là để góp phần thực hiện mục đích gốc là tuyên truyền định hướng xã hội.

Như vậy, một mặt báo chí tiếp nhận rộng rãi tất cả các ý kiến phản ánh quan điểm, nguyện vọng cá nhân trong toàn xã hội để thực hiện chức năng thông tin qua lại giữa nhân dân và nhà nước, giữa nhân dân với nhau.

Nhưng một mặt báo chí lại phải nhận xét đánh giá chuẩn xác các quan điểm nguyện vọng đó, lập luận thuyết phục để đưa ra một định hướng tiến bộ cho toàn xã hội, tức là báo chí thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền cho toàn xã hội đi theo một hướng tích cực nhất định. 

Điều này đòi hỏi nhà báo phải là những người có tư cách đạo đức chuẩn mực, có kiến thức sâu rộng, nghiệp vụ lí luận vững vàng.

Đó cũng là đồng nghĩa với việc phải có cơ quan báo chí chuyên ngành đạt tiêu chuẩn quốc gia, có sự kiểm soát chặt chẽ của nhà nước. Thì như vậy yêu cầu từ thực tiễn này rõ ràng đã bác bỏ quan điểm nên cho báo chí tư nhân hoạt động do không thỏa mãn được yêu cầu thực tiễn đó.

Chú ý rằng điều này không hề mâu thuẫn với sự cần phải có phản biện xã hội.

Tuy rằng báo chí tư nhân đóng vai trò rất tốt trong việc tự do nêu quan điểm cá nhân phản biện lại các quan điểm của các cá nhân khác và nhà nước, nhưng do không phải là chuyên ngành định hướng xã hội được kiểm soát chặt chẽ nên báo chí tư nhân không thể tránh được sự phản ánh quan điểm lệch lạc sai trái, lại gây ảnh hưởng đến dư luận khiến cho dư luận không biết đâu là con đường đúng đắn để đi theo.
Hậu quả là báo chí tư nhân dễ gây hoang mang, nhầm lẫn, ảo tưởng trong dư luận xã hội, mà điều này tất yếu dẫn đến sự rối loạn, chệch hướng trong tư tưởng của xã hội.

Cho nên để thực hiện vai trò phản biện xã hội nhằm làm sáng tỏ và có thể bổ khuyết cho những thiếu sót của nền báo chí định hướng chuyên ngành, thì báo chí tư nhân chỉ nên được lồng vào báo chí chính thống qua những mục phản ánh ý kiến, phản biện xã hội, từ đó báo chí chính thống có những hồi đáp thuyết phục, để dư luận được phục vụ tốt nhất nhu cầu định hướng mà dư luận cần có.

Một lý do nữa là tình trạng các trang mạng của tư nhân sao chép lại bài vở của các trang báo chính thống làm thất thoát độc giả của báo chính thống, khiến cho báo chính thống bị chiếm đoạt chất xám bài vở của mình làm ra, lương nhà báo chính quy vì thế rất thấp, dẫn đến nhà báo chân chính dễ bị sa vào con đường phải kiếm sống thêm mà bẻ cong ngòi bút, viết không đúng sự thật chạy theo yêu cầu được thuê.

Cho nên để bảo vệ quyền lợi của nhà báo chân chính thì báo chí nói chung phải tinh gọn, ít số lượng để đảm bảo chất lượng, chính vì thế đó lại là lí do không thể cho hoạt động báo tư nhân.

Còn về quan điểm cho rằng phải có báo chí tư nhân để đảm bảo quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của người dân, thì như vậy là có sự nhầm lẫn ở đây.


Đó là, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí không phải đồng nghĩa với quyền tự do xuất bản báo chí, mà cần được hiểu đó là tự do viết báo.

Công dân vẫn luôn có quyền tự do viết báo, phản ánh quan điểm, ý kiến của mình lên truyền thông. Nhưng chú ý ở đây là báo chí có vai trò định hướng tư tưởng trong dư luận, thế cho nên các cá nhân không có đầy đủ các yếu tố chuẩn mực về đạo đức, kiến thức, trình độ lý luận thì không thể được quyền định hướng dư luận.

Để định hướng được dư luận tức là được quyền xuất bản báo chí phát hành rộng rãi tuyên truyền trong xã hội, thì đòi hỏi phải có tổ chức chính trị phục vụ lợi ích quốc gia dẫn đầu về tư tưởng, đường lối, có học thuyết chính trị soi sáng, chính sách đối nội - đối ngoại rõ ràng thì báo chí mới có đủ năng lực để định hướng dư luận, mà điều này thì báo chí tư nhân lại không thể đảm bảo được do không có tổ chức chính trị nào dẫn dắt.

Điều này đã giải thích thỏa đáng vì sao ở Việt Nam tư nhân không được thành lập cơ quan báo chí.

Như vậy, qua những cơ sở thực tiễn được làm sáng tỏ như trên, đã dẫn đến kết luận chính xác là: Không nên cho hoạt động báo chí tư nhân, vì tư nhân không thể đảm bảo được năng lực định hướng cho dư luận của báo chí.
Phạm Mạnh Hà

(Giáo Dục)
http://giaoduc.net.vn/Xa-hoi/Nen-hay-khong-bao-chi-tu-nhan-va-hieu-the-nao-cho-dung-post163405.gd

Phần nhận xét hiển thị trên trang

VTN: Khuôn mặt nhàu nát - Tưởng tượng về Nguyễn Huy Thiệp

Nếu có một thứ “quả bóng vàng” (hay là “cây bút vàng”) dành để tặng cho các cây bút xuất sắc hằng năm, thì trong năm 1987 – và cả nửa đầu năm 1988 – người xứng đáng được giải trong văn xuôi ta, có lẽ là Nguyễn Huy Thiệp. Nhắc tới anh, người ta nhớ Tướng về hưu gây xôn xao một dạo, bởi cách viết rạch ròi, trần trụi; nhớ Muối của rừng tưởng như không đâu, hóa ra lại đượm nhiều ngụ ý âm thầm; nhớ Một thoáng Xuân Hương lịch duyệt mang đậm phong vị kẻ sĩ Bắc Hà; nhớ Con gái thuỷ thần lẫn lộn hư thực, và liều lĩnh đến tùy tiện.

 Với mỗi một truyện ngắn, Nguyễn Huy Thiệp như đang làm một cuộc phiêu lưu cho ngòi bút mà cũng là tự phác ra chân dung mình. Cuộc phiêu lưu đó đang tiếp tục nhưng do chỗ mỗi truyện ngắn đã là một nét vẽ hằn lên rõ ràng, nên người đọc vẫn có thể vượt qua những khoảng trống để phác ra hình ảnh Nguyễn Huy Thiệp. Khi một ngòi bút có được cá tính mạnh mẽ thì sự định hình dẫu có đến sớm cũng là một điều dễ hiểu.


Sự độc đáo kỳ lạ là một yêu cầu nhất thiết với văn học, thế nhưng một phong cách như Nguyễn Huy Thiệp lại hai lần kỳ lạ, vì nó mang tới cái chất mà lâu nay trong văn học Việt Nam hơi thiếu:chất kiêu bạc, tàn nhẫn, cay đắng. Bằng một lối kể thâm trầm của một kẻ vừa trải đời, vừa chán đời và không còn những hy vọng dễ dãi vào đời, trong Tướng về hưu, tác giả vẽ ra một khung cảnh ở đó, nếp sống thực dụng lan tràn, trở thành một thói quen; con người lì lợm lâu ngày đến mức mất hết cảm giác về sự lì lợm của chính mình; cái tốt bé nhỏ như một cái gì trớ trêu rơi rớt lại không được việc gì; lương tri vẫn còn trong mỗi người nhưng nó chỉ đủ sức làm cho người ta nghẹn ngào khi phải đối mặt với những cảnh tha hóa, bần cùng. Vả chăng, như là sản phẩm của tất yếu, tất cả giản dị, hồn nhiên, nhiều hành động bột phát lại như đã tính toán sẵn từ trước, một câu nói buột miệng lại sắc cạnh như một châm ngôn. Con người không phải muốn làm gì thì làm, và càng giãy giụa, nó càng chứng tỏ mình đã bị hoàn cảnh khống chế chặt chẽ.


Trong một nét vẽ thoáng qua, có lần Nguyễn Huy Thiệp tả một nhân vật “mặt nhàu nát vì đau khổ”. Vẻ nhàu nát ấy phải nói cũng là nét chính trên khuôn mặt văn học của Nguyễn Huy Thiệp mà ta thấy hiện lên qua các sáng tác – nhàu nát, tê dại, để rồi trở nên hung hãn, táo tợn. Chỉ người xa lạ với tác phong đám học trò nhạy cảm học đòi làm văn mới dám viết – tức là “chường mặt mình ra” – như vậy, viết bất chấp mọi lề thói trong nghề, chỉ tuân theo một luật chơi duy nhất là nói những điều đào sâu chôn chặt trong lòng. Những sinh thể kỳ dị vốn có sức sống lạ lùng, câu chuyện về lão Tôn (Tôn Ngộ Không) nứt ra từ đá đã nói rất hay về điều đó. Về phần mình, mượn cách nói mà chính tác giả đã dùng, văn chương Nguyễn Huy Thiệp có phần giống “con gái thuỷ thần”, hoặc một thứ con hoang, kết quả của những cuộc lang chạ đầy đau khổ. Chỉ có điều là phong cách con hoang dị dạng đó lại biết nói về những nét đặc trưng của cuộc sống hôm nay đích đáng, mà ta không thể tìm thấy trong bất cứ phong cách nào khác. Có phải đã đến lúc lối sống, lối nghĩ tự mệnh danh là tinh tế ý nhị đã trở thành vô nghĩa; mọi điều phải trái xưa nay lấp lửng phải được nói toẹt cho rõ ràng; mọi sự ngộ nhận phải được đính chính? Và như vậy thì lối viết lạnh lùng, suồng sã, không cái gì là quan trọng, cái gì cũng muốn nói tuột ra – lối viết ấy có cái lý của nó.


Trừ một vài cây bút “chuyên đề”, còn đối với phần lớn các nhà văn ta hiện nay, thực tại lịch sử thường là một cái gì xa lạ. Con người tác giả, con người bạn đọc thường lo sống sát với nhu cầu hàng ngày. Ai dám tự nhận biết rõ khuôn mặt lịch sử mà dây vào cho phiền? Ở chỗ mọi người ngại ngùng, Nguyễn Huy Thiệp lại sẵn sàng “lĩnh đủ”. Sự định hướng trong cách hiểu đời sống trước mắt mạnh mẽ đến nỗi nó chi phối luôn cách khai thác lịch sử và khơi mào cho những hư cấu, có thể là bịa đặt mà không dễ gì nghi ngờ. Và thế là trong những thiên truyện như Kiếm sắc, Vàng lửa, chất dã sử và chất hiện đại có dịp thâm nhập vào nhau, tạo ra những món ăn lạ miệng cho trí tuệ. Sở dĩ một thiên truyện như Tướng về hưu như khắc vào đầu óc ta, một phần vì ở đó, tác giả biết trình bày hiện tại như một cái gì đó đã thuộc về lịch sử, còn trong Vàng lửa, Kiếm sắc, người viết lại nhìn lịch sử bằng con mắt ngày hôm nay. Biết nhìn hiện tại như lịch sử thì có thể tránh được những yêu ghét cá nhân vớ vẩn, những run rẩy vô lối mà đám nghệ sĩ kiêu căng và yếu lòng thường có. Còn biết nhìn lịch sử như hiện tại thì tuy có thể mang tiếng suồng sã nhưng sẽ tránh được những cái chắp tay vái dài trước người xưa và biết sử dụng lịch sử như một phương tiện để hiểu hiện đại (Người sành văn học phương Đông có thể bảo ở chỗ này, Nguyễn Huy Thiệp muốn học theo bút pháp lạnh lùng hằn học của nhà viết sử Tư Mã Thiên, nhưng phải hiểu điều đó như một liên tưởng hô ứng chứ không phải một sự cóp nhặt cụ thể!).


Ở cuối truyện Kiếm sắc, Nguyễn Huy Thiệp kể Đặng Phú Lân nghe xong giọng hát cô Cầm “thở dài, trào máu ra từ ngũ khiếu”. Hôm sau “Lân bỏ đi, không chào chủ quán cũng không hỏi người khách trẻ tuổi với cô Cầm chủ quán”. Tại sao? Người ta đoán rằng sau những im lặng và cái hành động giật cục của nhân vật võ biền là mối xúc cảm lớn lao không nói lên lời.Cách bày tỏ tình cảm kiểu này của nhân vật Kiếm sắc là một gợi ý tốt giúp chúng ta hiểu mạch trữ tình kín đáo nơi văn Nguyễn Huy Thiệp. Chắc hẳn trên khuôn mặt nhàu nát kia còn những nét trữ tình ẩn giấu không dễ mấy ai nhận ra. Chẳng thế mà thỉnh thoảng vẫn bắt gặp những thoáng rưng rưng của tác giả khi nói về những con người yếu đuối trước trận cuồng phong của lịch sử, hoặc về nỗi cô đơn của người nghệ sĩ. Trong phạm vi của một cái gì manh nha hé mở, chúng ta cảm thấy tác giả muốn đưa hình ảnh cô Cầm ra như là biểu hiện của cái đẹp và sự yếu đuối, những thứ mãi mãi còn lại trên cõi đời này và càng hiếm lại càng đáng quý. Giữa cuộc sống nghiệt ngã, phải chăng đây vẫn là một phần lý do để mỗi chúng ta sống, hy vọng vào cuộc sống? Chính thế! Mà trước hết, sự sáng tạo văn chương phải được hiểu theo nghĩa đó. Khi cái ác được viết ra, tức là có điều kiện để đẩy lùi nó. Mỗi lần nghệ thuật chiến thắng là một lần cái thiện chiến thắng.


Với thói bi phẫn thường trực, ở cuối Kiếm sắc, Nguyễn Huy Thiệp viết rằng công việc viết văn phức tạp, nhọc nhằn, lại buồn tẻ nữa. Nhưng tôi ngờ có lúc Nguyễn Huy Thiệp sẽ thấy mình nhầm! Cái việc oan nghiệt ấy cũng rất thú vị, dù chỉ là một thứ thú vị kiểu Xi-díp (Sisiphe). Nếu tác giả không cảm thấy trước, thì làm sao tác phẩm của anh có được cái hấp dẫn ma quái với bạn đọc như nó đang có?

Bài đăng trên Văn Nghệ , 1988,
Đã in trong Những kiếp hoa dại, 1993

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Kể chuyện Miến Điện Kể chuyện Miến Điện



Sau cuộc tổng tuyển cử tự do mà đảng NLD của bà Aung San Siu Kyi vừa giành thắng lợi lớn, Chủ blog tôi  xin giới thiệu lại loạt bài của tác giả Chu Công Phùng. 

Hồi blog tôi nhận được bài, ông Chu Công Phùng đang là Đại sứ Đặc mệnh Toàn quyền CHXHCN Việt Nam tại Myanmar. Vì yêu thích công tác nghiên cứu và viết lách nên ông đã cất công nghiên cứu tư liệu và có những quan sát kỹ càng tại chỗ, ông viết bài và gửi cho blog tôi một serie bài (gồm 13 bài) về Myanmar. Khi đó chủ blog tôi đặt tên chung cho loạt bài này là "Kể chuyện Myanmar".

Suốt từ ngày post lên (6/3/2012) cho đến nay, khi theo dõi trên trang blog, điều đáng nêu ra ở đây là vẫn thấy bạn đọc vẫn liên tục vào trang xem những bài viết đăng đã lâu rồi đó (khi bài 1, khi bài 5, bài 7, bài 9, bài 12...). Điều này cho thấy vấn đề Myanmar rõ ràng có sức thu hút nhiều sự quan tâm ở VN chúng ta.  

Với lý do đó, chúng tôi xin đưa lại đây để mọi người cùng có dịp đọc, hoặc đọc lại.

Vệ Nhi g-th

-----

 * Các bạn quan tâm bài viết nào (trong số 13 bài viết đã nói đến) xin mời nhấp chuột vào đường Link tương ứng (ở phần dưới).
  
Kể chuyện Myanmar

CHU CÔNG PHÙNG

BÀI 2; 3; 4 - http://vinhnv43.blogspot.com/2012/03/myanmar-at-nuoc-ang-thay-oi-ngoan-muc.html
BÀI 5 - http://vinhnv43.blogspot.com/2012/04/ke-chuyen-myanmar-5.html
BÀI 6 - http://vinhnv43.blogspot.com/2012/04/ke-chuyen-myanmar-6.html
BÀI 7 - http://vinhnv43.blogspot.com/2012/04/ke-chuyen-myanmar-7.html
BÀI 8 - http://vinhnv43.blogspot.com/2012/04/ke-chuyen-myanmar-8.html
BÀI 9 - http://vinhnv43.blogspot.com/2012/05/ke-chuyen-myanmar-9-tiem-nang-kinh-te.html
BÀI 10 - http://vinhnv43.blogspot.com/2012/05/ke-chuyen-myanmar-10-van-hoc-nghe-thuat.html 
BÀI 12 - http://vinhnv43.blogspot.com/2012/05/ke-chuyen-myanmar-12-giao-duc-o-myanmar.html
BÀI 13 -  http://vinhnv43.blogspot.com/2012/08/ke-chuyen-myanmar-13.html


                             TỔNG SỐ: 13 BÀI (TÍNH CẢ BÀI 1 NÀY)

Đất nước Myanmar (từ năm 1989 trở về trước gọi là Burma - Miến Điện) lâu nay vẫn là miền đất huyền bí, xa lạ đối với cộng đồng quốc tế nói chung và nhiều người Việt Nam nói riêng. Bạn đọc Việt Nam muốn tìm hiểu thông tin chính xác về lịch sử đất nước, con người, kinh tế, văn hóa, phong tục tập quán, quan hệ đối ngoại… của Myanmar là điều khá khó khăn vì ở Việt Nam hiện có rất ít sách báo giới thiệu về Myanmar, các thông tin trên mạng Internet tuy có nhiều nhưng được viết dưới lăng kính quan sát của những người có quan điểm không giống nhau, thậm chí trái ngược nhau.

Từ nửa cuối năm 2011 tới nay, các phương tiện thông tin đại chúng của thế giới và Việt Nam liên tiếp loan báo nhiều thông tin về những thay đổi chóng mặt tại đất nước có chùa Vàng (Shwe Dagon) nổi tiếng. Nhiều dự báo được đưa ra xung quanh việc hòa giải giữa 134 sắc tộc ở Myanmar, việc Mỹ và Phương Tây đang cải thiện quan hệ, tiến tới chấm dứt chiến dịch bao vây cấm vận kéo dài hơn 20 năm đối với Myanmar, việc Myanmar sẽ hội nhập đầy đủ với cộng đồng thế giới và một dự báo khiến nhiều nước láng giềng không khỏi giật mình: Myanmar thời kỳ “hậu cấm vận” sẽ phát triển nhanh chóng và sẽ khôi phục vị trí “cường quốc nông nghiệp, giáo dục, thể thao…” của Châu Á hồi giữa thế kỷ XX.
 
               Xét theo phép biện chứng, thăng trầm, tiến thoái của vạn vật không phải ngẫu nhiên mà đều có nguyên nhân khách quan và chủ quan.  Đất nước Myanmar cũng không nằm ngoài quy luật này. Chuyên mục “Kể chuyện Myanmar” sẽ giới thiệu cho bạn đọc hiểu thêm về những câu chuyện thời sự và lịch sử của Myanmar mà nhiều người đang rất quan tâm.
 
Bài 1: Những thay đổi “lạ kỳ” ở Myanmar
 
            Báo chí quốc tế và nước ta đã viết nhiều. Ở đây xin tổng hợp 10 sự kiện lớn đã xảy ra tại Myanmar trong hơn một năm qua. Những sự kiện này tuy không xảy ra cùng một lúc mà gối tiếp nhau, đan xen nhau, thúc đẩy lẫn nhau, vừa là nguyên nhân vừa là hệ quả tất yếu của việc Myanmar đã và đang “lột xác” để lộ dần ra gương mặt rất mới mẻ.
 
1/ Đó là cuộc Tổng tuyển cử ngày 7/11/2010 bầu Quốc hội Myanmar. Đầu năm 2010, sau khi đã hoàn thành 4 bước trong “Lộ trình dân chủ” 7 bước” (công bố và thực hiện từ đầu năm 2003), chính phủ quân sự của Thống tướng Than Shwe quyết định chuyển sang B­ước thứ 5: Tổ chức cuộc tổng tuyển cử tự do, dân chủ, công bằng để bầu ra Quốc hội theo quy định của Hiến pháp 2008. Đây là cuộc bầu cử được dư luận chờ đợi suốt 20 năm kể từ cuộc bầu cử tháng 5 năm 1990. Hơn 3.000 ứng cử viên từ 37 đảng chính trị khắp cả nước đua nhau tranh cử 1.159 ghế Quốc hội. Đoàn ngoại giao tại Yangon được mời đi chứng kiến các địa điểm bầu cử tại 14 Bang (state) và Vùng (Division) của Myanmar [1].
 
Khác với dự đoán của nhiều nhà quan sát Phương Tây, cuộc bầu cử ngày 7/11/2010 diễn ra trong không khí hòa bình, ổn định, dân chủ và tự do. Bà Aung San Suu Kyi – lãnh tụ đảng Liên minh Dân chủ quốc gia - NLD - đảng đối lập lớn nhất, được phép tham gia bầu cử nhưng đã từ chối.
 
Ngày 17/11/2010, Ủy ban bầu cử Liên bang công bố kết quả bầu cử. 11/37 đảng trúng cử ở Thượng viện và Hạ viện; 25/37 đảng trúng cử ở Nghị viện Bang, Vùng. Đảng Đoàn kết phát triển - USDP của chính phủ thắng cử áp đảo tới 76% , còn lại 24% thuộc các đảng khác.

Các nhà quan sát quốc tế nhận xét, cuộc bầu cử Quốc hội 7/11/2010 khác với cuộc bầu cử 27/5/1990 ở 2 điểm:

Thứ nhất, trước và sau cuộc bầu cử 7/11/2010, tình hình nội bộ Myanmar tương đối ổn định, không xảy ra biểu tình, khủng bố trong lãnh thổ Myanmar. Sau bầu cử chỉ xảy ra một cuộc đụng độ giữa quân đội chính phủ với nhóm phiến quânLiên minh dân tộc Karen – KNU tại vùng biên giới giáp Thái Lan. Tuy nhiên, sau 2 tuần lễ giao tranh, với lực lượng hơn hẳn của quân đội chính phủ và sự phối hợp của phía Thái Lan, lực lượng vũ trang của nhóm KNU nhanh chóng bị đẩy lùi.

Thứ hai, Liên Hợp Quốc, Mỹ và EU tuy phê phán cuộc bầu cử 7/11/2010 không công bằng, không dân chủ..., nhưng đều không tẩy chay kết quả bầu cử, đều để ngỏ cửa đối thoại với Quốc hội mới Myanmar.

2. Ngày 31/1/2011, Quốc hội Myanmar (Thượng viện và Hạ viện) cùng Nghị viện 14 Bang, Vùng trong cả nước họp phiên đầu tiên thống nhất quy tắc, lề lối làm việc và bầu người đứng đầu Nghị viện các cấp. Ông Thura Shwe Mann  (nguyên Đại tướng, Tổng tham mưu trưởng các lực lượng vũ trang Myanmar, nhân vật thứ 3 trong chính phủ quân sự) được bầu làm Chủ tịch Hạ viện. Ông Khin Aung Myint (nguyên Bộ trưởng Văn hóa chính phủ quân sự) được bầu làm Chủ tịch Thượng viện. Theo quy định của Hiến pháp Myanmar, chủ tịch Thượng viện sẽ làm Chủ tịch Quốc hội 2,5 năm đầu, Chủ tịch Hạ viện sẽ làm Chủ tịch Quốc hội 2,5 năm tiếp theo trong nhiệm kỳ Quốc hội 5 năm.

            Đông đảo nhân dân Myanmar và nhiều đảng đối lập ghi nhận và hoan nghênh các vị đứng đầu Thượng viện và Hạ viện các cấp xứng đáng là đại diện của cơ quan tư pháp Myanmar.


            Đối với các nước dân chủ, việc bầu cử quốc hội và thành lập chính phủ mới là chuyện rất bình thường, nhưng đối với Myanmar, sự kiện 31/1/2011 và sự kiện 4/2/2011 có ý nghĩa rất quan trọng vì suốt hơn nửa thế kỷ kể từ năm 1962 sau khi xảy ra cuộc đảo chính quân sự lật đổ chính phủ dân chủ Đại nghị của Thủ tướng dân sự U Nu, Myanmar dưới sự quản lý của các chính phủ quân sự, vai trò của Quốc hội đã bị thủ tiêu, thậm chí kết quả cuộc bầu cử quốc hội tháng 5/1990 đã bị chính phủ quân sự của Thủ tướng Saw Maung không chấp nhận.

4. Ngày 30/3/2011, Thống tướng Than Shwe chính thức tuyên bố giải tán Hội đồng Hòa bình và Phát triển quốc gia các cấp – SPDC (tức chính phủ quân sự); đồng thời chính thức chuyển giao quyền quản lý đất nước cho chính phủ dân sự mới. Ngày 31/3/2011, Tổng thống Thein Sein cùng 30 Bộ trưởng và 14 Thủ hiến các Bang, Vùng thực hiện Lễ tuyên thệ nhậm chức. Tổng thống Thein Sein tuyên bố tư tưởng và phương châm của chính phủ mới là “xây dựng Chính phủ hành chính làm việc hiệu quả và trong sạch”.

Đến đây, "Lộ trình dân chủ 7 bước" của chính phủ Myanmar hoàn thành bước thứ 6, chuyển sang bước thứ 7 – bước cuối cùng: xây dựng đất nư­ớc phát triển, hiện đại và dân chủ.

5. Ngày 16/5/2011, Tổng thống Thein Sein ký lệnh giảm án và đại ân xá cho 14.758 tù nhân, trong đó có hơn 200 tù chính trị. Tiếp đó, tháng 12/2011, chính phủ Myanmar đã thả tự do cho hầu hết tù chính trị, trong đó có cựu Thủ tướng Khin Nyunt (bị bắt giam năm 2004) và các lãnh tụ sinh viên bị bắt trong cuộc biểu tình lớn chống chính phủ ngày 8/8/1988 (sự kiện 8888).

Động thái này của chính phủ Myanmar không chỉ được nhân dân cả nước hoan nghênh mà còn được Liên Hợp Quốc, Mỹ, EU hoan nghênh khích lệ.

6. Ngày 12/8/2011, Bộ trưởng Tuyên truyền và Văn hóa thay mặt chính phủ Myanmar lần đầu tiên họp báo tại Thủ đô Nay Pyi Taw tuyên bố chính sách mới của chính phủ mong muốn ngừng bắn, đàm phán hòa bình với các nhóm sắc tộc vũ trang ly khai trong cả nước. Đến cuối năm 2011, chính phủ Myanmar đã ký Thỏa thuận ngừng bắn với hầu hết các lực lượng vũ trang ly khai đồn trú ở vùng biên giới giáp Trung Quốc và Thái Lan.

7. Ngày 19/8/2011, Tổng thống Thein Sein hội đàm với bà Aung San Suu Kyi – Lãnh tụ đảng NLD, hai bên đạt được thỏa thuận gác bỏ bất đồng, cùng hợp tác vì lợi ích của quốc gia và nhân dân. Tiếp đó, ngày 4/11/2011, Tổng thống Thein Sein ký sắc lệnh “Sửa đổi Luật đăng ký đảng phái”. Ngày 25/11/2011, đảng NLD đăng ký và được khôi phục vị trí hợp pháp.

            Dư luận Myanmar và quốc tế đánh giá rất cao cuộc gặp gỡ lịch sử ngày 19/8/2011 giữa “2 con gà” (Thein Sein và Aung San Suu Kyi đều sinh năm Ất Dậu 1945). Báo chí Myanmar hy vọng “2 con gà” sẽ cất vang tiếng gáy báo hiệu thời kỳ hòa hợp dân tộc ở Myanmar đã đến.

8. Ngày 30/9/2011, căn cứ theo đề nghị của Quốc hội và nguyện vọng của cử tri cả nước, Tổng thống Thein Sein tuyên bố ngừng xây dựng dự án thủy điện khổng lồ Myitsone trên sông Irrawaddy – bang Kachin trị giá 3,6 tỉ USD do Trung Quốc đầu tư để bảo vệ môi trường sinh thái  và thượng nguồn dòng sông thiêng Irrawaddy – được người dân Myanmar ví như sông Hằng của Ấn Độ.

Đây là lần đầu tiên trong hơn 20 năm qua Myanmar công khai nói “không” với Trung Quốc, gây tiếng vang rất lớn trong và ngoài nước. Động thái này của chính phủ Myanmar không chỉ được các Tổ chức bảo vệ môi trường quốc tế hoan nghênh mà còn được chính phủ Mỹ và nhiều nước Phương Tây ghi nhận và khích lệ.

9. Ngày 17/11/2011, Tổng thống Thein Sein tham dự Hội nghị Nguyên thủ ASEAN lần thứ 19 tại Bali – Indonesia. Nguyên thủ 10 nước ASEAN nhất trí trao nhiệm vụ vinh dự cho Myanmar làm Chủ tịch luân phiên ASEAN năm 2014.

            Kể từ khi Myanmar gia nhập tổ chức ASEAN (tháng 7/1997), đây là lần đầu tiên Myanmar được tín nhiệm nhận trọng trách vinh dự này. Liên Hợp Quốc, Mỹ, EU đều hoan nghênh quyết định của ASEAN.

10. Từ 30/11 – 2/12/2012, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton thăm chính thức Myanmar. Đây là “chuyến thăm lịch sử” sau 55 năm lạnh nhạt giữa hai nước, đánh dấu quan hệ Myanmar – Mỹ đã chuyển từ giai đoạn đối đầu sang đối thoại, cải thiện và tiến tới bình thường hóa.

            Ngày 1/12/2012, cùng ngày Tổng thống Thein Sein tiếp Ngoại trưởng Hillary Clinton, Quốc hội Myanmar thông qua “Luật tụ tập và biểu tình hòa bình”, mở đầu cho thời kỳ dân chủ hóa ở Myanmar.

            Tiếp theo chuyến thăm của Ngoại trưởng Mỹ, hàng loạt ngoại trưởng Phương Tây như Anh, Pháp, Đức, Nauy, Úc, Nhật bản, New Dealand… đến thăm và viện trợ tài chính cho  Myanmar. Kết quả cụ thể là: Mỹ quyết định trong năm 2012 sẽ nâng quan hệ ngoại giao với Myanmar từ cấp Đại biện lên cấp Đại sứ; EU quyết định từ tháng 4/2012 chính thức mở Văn phòng đại diện tại Myanmar. Cả Mỹ và EU đều bật đèn xanh cho Tổ chức tiền tệ thế giới (IMF) cử các chuyên gia đến Myanmar khảo sát, hội thảo, hỗ trợ Myanmar cải cách, nâng cao năng lực hoạt động của ngành tài chính, tiền tệ Manmar.

           

            Từ một chính phủ quân sự có nhiều tai tiếng với thế giới bên ngoài, từ một quốc gia có tới 134 sắc tộc với hàng chục nhóm vũ trang ly khai chưa bao giờ ngừng tiếng súng chống lại chính phủ kể từ sau khi giành độc lập (1947), đất nước Chùa Vàng đang xảy ra những thay đổi “lạ kỳ” thu hút sự quan tâm của toàn thế giới. Chính phủ dân sự mới Myanmar với đại đa số nhân sự chuyển từ chính phủ quân sự sang, cũng chính những con người đó đang làm đổi thay bộ mặt đất nước chùa Vàng mà không cần đến bất cứ cuộc cách mạng sắc màu nào như đã xảy ra ở một số nước Châu Âu, Trung Đông, Bắc Phi… Liệu đây có phải là trường hợp “ngoại lệ” không? Xu thế đổi mới đang diễn ra ở Myanmar là lâu dài hay chỉ là tạm thời. 10 sự kiện lớn kể trên đương nhiên chỉ là kết quả tất yếu của cả một quá trình thai nghén và phát triển trong lịch sử hiện đại Myanmar…
            Lịch sử đang tiếp diễn. Chúng ta sẽ chờ đón những thay đổi lớn và mới hơn nữa trên đất nước Chùa Vàng kỳ bí và hấp dẫn này.

CCP
-----
3. Ngày 4/2/2011, Quốc hội Myanmar bỏ phiếu bầu ông Thein Sein (do Hạ viện giới thiệu) làm Tổng thống CHLB Myanmar; ông Tin Aung Myint Oo (do các nghị sĩ quân đội giới thiệu) làm Phó Tổng thống; ông Sai Mauk Kham (do Thượng viện giới thiệu ) làm Phó Tổng thống. Tiếp đó, Quốc hội bỏ phiếu thông qua kiến nghị của Tổng thống Thein Sein về việc thành lập Chính phủ dân sự mới gồm 34 Bộ (tăng 2 Bộ so với chính phủ quân sự cũ) và phê chuẩn danh sách 30 Bộ trưởng mới (2 Bộ trưởng kiêm nhiệm 2 Bộ), trong đó có 5 Bộ trưởng là dân sự. Cùng ngày, Nghị viện 14 Bang, Vùng cũng bỏ phiếu bầu Thủ hiến và phê chuẩn bộ máy nhân dự các cấp địa phương.
 
(Đọc tiếp ở các Entry sau)


Phần nhận xét hiển thị trên trang