Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Tư, 23 tháng 9, 2015

Những nhà văn trẻ VN đâu rồi?


image
Văn chương Việt Nam hiện đại: Những nhà văn trẻ đâu rồi?

Tôi sống ở nước ngoài đã được vài năm. Ngày trước, khi còn ở Việt Nam, tôi bàng quan hơn về mọi chuyện xảy ra xung quanh, phần lớn vì mỗi khi mở vội một tờ báo nào đó, lại chỉ thấy xung quanh mình toàn chuyện cướp giật, nông dân mất mùa, đường sá ngập lụt… Lật qua trang thì toàn thấy tin hot, tinh giật gân, đánh ghen, lộ hàng… Rồi tôi lại chuyển qua đọc văn chương, đọc truyện, đọc thơ của các tác giả trong nước. Vì tôi nghĩ, dù sao văn chương vẫn sáng tạo hơn, vì nhà văn có cái khoảng không gian sáng tác rộng hơn, tự do hơn là nhà báo. Nhưng sau khi đọc xong các tác phẩm của một nhà văn chuyên viết về chuyện nhà quê Nam bộ Việt Nam, và các tác giả trẻ viết về những chuyến đi phượt, tôi lại không tài nào tìm được những quyển sách thú vị hơn ngoài các tiểu thuyết tình cảm uỷ mị được tưởng tượng trong một bối cảnh phi thực tế và mơ hồ, khác xa với một Việt Nam mà tôi biết, nếu không muốn nói là sao chép trào lưu văn học diễm tình của Trung Cộng.

Năng lực tư tưởng của văn chương

image
Tôi tin rằng, cây viết và con chữ là công cụ tư tưởng đắc lực của mọi nền văn hoá, văn minh, đặt biệt là của sự công bằng và cấp tiến. Các tác phẩm văn chương, theo tôi, là một công cụ để đánh giá một xã hội có văn minh phát triển hay không. Văn chương không chỉ đơn giản là để phản ánh hay cải tạo văn hoá, nó còn có tác dụng giáo dục, tạo ra những ý thức về thực trạng của xã hội, thông tin đến người đọc những cuộc đời, cũng như những tâm tư, tình cảm của con người trong xã hội với nhau. Đỉnh cao của văn chương là tập hợp ý chí tinh thần của con người lại với nhau, tạo ra vốn xã hội để góp phần cải thiện thực tế, bằng việc kiến tạo những mơ ước về những điều tốt đẹp thông qua các tác phẩm sáng tác.

Trong một thế giới đầy bất công, với những tiếng kêu lầm than của người nghèo, kẻ yếu trong xã hội, thì vai trò của văn chương là gì, nếu không phải là bênh vực những kẻ yếu, lên án những bất công, nói lên tiếng nói của một người trẻ giữa thời đại đầy biến động như hiện nay? Đó là lý do vì sao người ta thường nói văn chương là cách mạng, và ngòi bút là thứ vũ khí đắc lực của người dân.

Giới trẻ và nghề viết ở Việt Nam

image
Tôi muốn nói đến thế hệ nhà văn trẻ 8x, 9x của Việt Nam hiện nay, vì tôi luôn tâm niệm rằng, thế hệ chúng ta có những cơ hội mà cha anh chúng ta không có: được học, được tiếp cận với thông tin mở từ nhiều nguồn, được giao lưu với nhiều nền văn minh, văn hoá khác, và quan trọng hơn, là được nhiều tự do hơn trong việc lựa chọn cho mình hoài bão, nghề nghiệp, con đường sống. Những điều mà, vì chiến tranh hay những nổi lo toan về cơm ăn áo mặc, các thế hệ trẻ ngày trước không thể có được.

image
Tôi thích đọc. Tôi thường tìm đọc các tác phẩm văn chương trong và ngoài nước. Ở nước ngoài, tôi đọc nhiều tác phẩm văn học hiện đại, được viết bởi những nhà văn trẻ của các nước. Có những nhà văn chỉ vừa tròn đôi mươi, nhưng ngòi bút của họ đã rất táo bạo, quyết liệt, tiêm vào xã hội những tư tưởng mới mẻ, cấp tiến, góp phần tạo nên một nền văn hoá trẻ hừng hực lý tưởng sống và những trăn trở quyết liệt về những biến đổi không ngừng của thời đại ta đang sống.

image
Nhìn lại nền văn học Việt Nam, đặc biệt là văn học trẻ hiện đại, tôi trăn trở nhiều. Lướt qua những quầy văn học trẻ Việt Nam, tôi thấy chiếm gần hết các kệ là những quyển sách với những tựa đề đại loại như anh, em, yêu, thôi, dừng, ngày mai, mãi mãi, trọn đời, vân vân, đi kèm là hình ảnh những cô gái, chàng trai ăn mặc bảnh bao, mắt nhìn xa xăm đượm buồn. Đọc lướt qua, tôi chỉ thấy những cốt truyện về một cô gái (hay chàng trai) thất tình, đang nhớ về một cuộc tình chóng vánh vừa tan vỡ vì một lý do vẩn vơ, rồi tự hứa rằng trọn đời này sẽ không bao giờ quên anh. Các “nhà văn” này lớn lên từ một tạp chí tuổi teen nào đó, và giọng văn cũng như thể loại sáng tác của họ cũng  gói gọn trong ngần đấy chuyện hẹn hò, chuyện làm đẹp, hay những mối tình đổ vỡ đẫm lệ.

image
Những thể loại văn học diễm tình này ở đâu cũng có. Cái đáng chú ý ở đây không phải là những tác phẩm đang “có”, mà là những tác phẩm “không thấy đâu” trên thị trường. Ý tôi là vắng bóng những tác phẩm mang tính lạc quan, hoài bão của tuổi trẻ, lý tưởng của một con người hiện đại muốn thể hiện mình và nói lên tiếng nói của một thế hệ. Những nhà “kiến trúc văn hoá” như thế đang vắng bóng trong nền văn học hiện đại của Việt Nam. Điều đó phản ánh hai điểm. Một là những người trẻ đang thờ ơ với xã hội, với chính ước mơ và hoài bão của bản thân mình, để đánh đổi sự an nhàn của những điều dễ dãi. Hai là nhà nước Việt Nam không thực sự khuyến khích sự phát triển của văn chương. Vì nó đòi hỏi chính quyền một quốc gia phải tạo ra một khoảng không gian văn học đủ rộng, đủ tự do để những người trẻ sáng tạo, thử nghiệm, và vấp ngã.  Điều này có lẽ không nằm trong ưu tiên về chính trị xã hội hiện nay.

Lời Kết

image
Có lẽ chúng ta, những người cầm bút, đang quá dễ dãi đối với những tác phẩm của chính mình, hay ta đang đặt bút viết một cách không suy nghĩ mà cho rằng đó chỉ là một công việc mưu sinh. Ta xoay lưng lại với trách nhiệm của một nhà văn, nhà báo, là kiến tạo một xã hội tốt đẹp hơn bằng tư tưởng, bằng ước mơ ta muốn thổi vào mỗi câu chuyện ta viết. Hay ta đang giấu đi lương tâm, tri thức của bản thân mà thoả hiệp với bất công, với những giá trị xói mòn của xã hội để đối lấy công việc ổn định, một nguồn thu nhập đều đặn. Tôi tin rằng một ngày nào đó, chính bản thân mỗi nhà văn, mỗi người cầm bút sẽ phải trả lời chất vấn của các thế hệ về sau, rằng chúng ta đã và đang làm gì để cho văn chương Việt Nam đi vào lối mòn như hiện nay.


Cao Huy Huân

http://baomai.blogspot.com/


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tôi viết truyện "Tướng về hưu"


Theo Tuổi trẻ Cuối tuần, Nguyễn Huy Thiệp
Đổi mới với ý thức xây dựng một cơ sở mỹ học mới từ ngay trong thực tế nội tình văn học ở trong nước là điều quan trọng nhất... Đó là điều mà các thế hệ nhà văn đổi mới trong 30 năm qua đã làm được. Không nên coi là sai đúng, chỉ biết rằng nó đã diễn ra, nó sống, nó tồn tại.
Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp. Ảnh: Trần Việt Đức
Năm 1986, “cùng tắc biến, biến tắc thông”. Ngày 15-12-1986, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Đảng Cộng sản Việt Nam tuyên bố “đổi mới”. Bấy giờ tôi 36 tuổi, “tam thập nhi lập”, vừa tròn ba giáp. Hoàn cảnh đất nước bấy giờ khá thê thảm. Mẹ tôi mất ngày 12-3-1987. Sau tang mẹ, tôi ngồi viết truyện Tướng về hưu. Đám tang trong truyện y hệt đám tang mẹ tôi.



Tôi gửi bản thảo truyện Tướng về hưu cho báo Văn Nghệ khoảng tháng 4-1987. Biên tập viên bấy giờ là Ngô Ngọc Bội nhận bản thảo. Báo Văn Nghệ in truyện này ngày 20-6-1987 (gộp ba số 24, 25, 26 lại thành một số). Trong truyện, Ngô Ngọc Bội sửa chữ “tếu” thành chữ “láo” trong câu thoại: “Cái Vy hỏi: “Đường ra trận mùa này đẹp lắm có phải không ông?”. Cha tôi chửi: “Mẹ mày! Láo!”.

Thời gian này tôi mới ở miền núi Sơn La chuyển về Hà Nội, chỉ là một nhân viên quèn ở Công ty Sách - thiết bị trường học (Bộ Giáo dục), tôi chưa có tên tuổi gì ở trên văn đàn, chưa có tâm thế và sự cả gan để mắng câu thơ “đường ra trận mùa này đẹp lắm” của Phạm Tiến Duật là “láo” được (Phạm Tiến Duật cũng là thần tượng trong thời trẻ của thế hệ thanh niên chúng tôi).

Bản thảo truyện Tướng về hưu viết tay, sau này được Bùi Xuân Phái viết chữ sơn dầu trên bìa màu xanh, hiện lưu giữ trong bộ sưu tập của gia đình ông Phạm Văn Bổng, ở số nhà 93 Hàng Buồm, Hà Nội.

Truyện Tướng về hưu xuất ngoại lập tức được in trên tạp chí Đoàn Kết số 395 tháng 10-1987 của Hội Người Việt Nam tại Pháp do Trần Hải Hạc và Bạch Thái Quốc chuyển đi, sau này được Kim Lefevre dịch và in trên tạp chí Les Temps Modernes số 512 tháng 3-1989 (tạp chí này do Jean-Paul Sartre và Simone De Beauvoir chủ trương).

CÂY VIẾT TRONG TAY THƯỢNG ĐẾ

30 năm đã qua, truyện Tướng về hưu được một số người coi là mốc đánh dấu mở đầu cho thời đổi mới văn học ở Việt Nam. Nói như lời mẹ Teresa “tôi chỉ là một cây viết trong tay Thượng đế”, truyện Tướng về hưu ngoài việc “cập thời vũ” (mưa đúng lúc), hợp về thời gian lịch sử, nó đã làm được hai việc rất quan trọng, đáng gọi là “đổi mới” ở trong văn học:

Một là về hình thức: Đây là tác phẩm đặc sắc có tính chất bạo động về ngôn ngữ (tôi dùng khái niệm bạo động về ngôn ngữ để chỉ chung cho cả một thế hệ nhà văn đổi mới cùng thời như Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh, Nguyễn Quang Thiều, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái, Nguyễn Bình Phương, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Việt Hà, Lại Văn Long, Đỗ Phước Tiến, Đỗ Hoàng Diệu, Nguyễn Ngọc Tư...) Trước đổi mới, văn học chỉ có một giọng điệu mà Nguyễn Minh Châu gọi là “văn học minh họa”.

Hai là về nội dung: Đây là tác phẩm đặc sắc đưa được “đạo” vào nội dung tác phẩm văn học. “Đạo” đây nên hiểu là con đường tự nhiên, con đường thoát hiểm, con đường sống sót, con đường hi vọng. Nó là trăm ngàn sắc thái trong cuộc sống bình thường của con người ta như sinh, lão, bệnh, tử, ái, ố, hỉ, nộ, dục, ưu, lạc...

Giống như lời trong bài hát Mùa xuân đầu tiên của Văn Cao “ngày bình thường”, “mùa bình thường”, “khói bay trên sông, gà gáy bên sông”, “người biết thương người, người biết yêu người”... Dấu hiệu nhận biết đầu tiên của “đạo” là nụ cười, sau đó là những biểu hiện của tình yêu thương với lòng chẳng nỡ, tính nhân văn...

Lê Quý Đôn từng nói: “Văn chương có đạo thì thịnh, không như thế thì suy”. Văn học hướng về sự sống, “mang khuynh hướng lý tưởng và khuynh hướng duy tâm” (di chúc văn chương của Alfred Nobel) chứ không phải là văn chương vô thần, cổ vũ hoặc ngụy biện cho tinh thần thực dụng, bạo lực, cho chiến tranh, cho khủng bố (dù với tính chất gì đi nữa).

Trong mối tương quan với các truyện khác, Tướng về hưu chưa phải là truyện “đổi mới” triệt để. Truyện vẫn còn có sự rào đón trước sau trong câu chuyện của “người kể chuyện”. “Đổi mới” dứt khoát phải là truyện Không có vua, sau đó là  Con gái thủy thần, Những người thợ xẻ, bộ ba truyện giả lịch sử Kiếm sắc, Vàng lửa, Phẩm tiết (thực chất bộ ba truyện này là truyện bịa đặt lịch sử. Lịch sử nào cũng bịa đặt, cũng “dường như”. Alexandre Dumas nói: “Lịch sử là chỉ là cái đinh để tôi treo lên đó trí tưởng tượng của mình”. Lịch sử nào thật ra cũng được dựng lên nhằm mục đích biện hộ, giải thích cho những tư tưởng chính trị “đang là”, “đang diễn ra”, “đang thượng phong”, “đang đắc thế” mà thôi).

THÊM VÀI Ý KIẾN VỀ KHÁI NIỆM “ĐỔI MỚI”

Đổi mới là thay cái cũ bằng cái mới, phù hợp với hoàn cảnh mới. Tất cả đều diễn ra trong “dịch”, trong dòng chảy lịch sử. Phản ứng lại kiểu gì với nó cũng chỉ là “chạy ngược trên chiếc thuyền xuôi”, không phải là phản ứng tích cực. Điều quan trọng là hòa nhập, đồng thuận được với hoàn cảnh.

Đổi mới có nhiều cách, nhiều “cảnh giới”: Đầu tiên phải là phá vỡ cái cũ, giống như khoan cắt bêtông, giải phóng mặt bằng, rất khó chịu, thậm chí bất công và lộn xộn. Trong văn học có lẽ đó là trường hợp của Trần Mạnh Hảo, Trần Huy Quang, Nguyễn Quang Lập... và một số cây bút ký sự như Phùng Gia Lộc, Hoàng Hữu Các...

Đổi mới trên cơ sở mỹ học cũ, có cơi nới, phản tỉnh, đắp điếm thêm. Trong văn học có lẽ đó là trường hợp Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Lê Lựu, Mai Ngữ, Vũ Bão, thậm chí Nguyễn Khắc Trường, Dương Hướng, Hoàng Minh Tường...

Đổi mới với ý thức xây dựng một cơ sở mỹ học mới từ ngay trong thực tế nội tình văn học ở trong nước là điều quan trọng nhất. Nó hợp thời: “Tác hữu trần sa hữu/Vi không nhất thiết không” (Có thời có tự mảy may/Không thời cả thế gian này cũng không). Đó là điều mà các thế hệ nhà văn đổi mới trong 30 năm qua đã làm được. Không nên coi là sai đúng, chỉ biết rằng nó đã diễn ra, nó sống, nó tồn tại.

Văn học thật sự luôn hướng về chân - thiện - mỹ, luôn giữ gìn được bản sắc dân tộc và tìm đến sự hòa nhập trong thế giới văn minh.
Nguyễn Huy Thiệp - Tướng về hưu được viết trong cảnh giới vô tâm diệu hữu. Đây là điều khiến cho Nguyễn Khải - một bậc đàn anh trong văn đàn bấy giờ (1987) phải thốt lên rằng “sẵn sàng đánh đổi truyện ngắn này với tất cả các tác phẩm viết ra trong 30 năm cầm bút trước đây”.

Một bản "Tướng về hưu" được xuất bản tại Pháp
Thế nào là vô tâm diệu hữu? Trước đổi mới, văn học Việt Nam nằm trong cảm hứng của hệ tư tưởng duy lý trí (hữu tâm viết văn). Đổi mới thực sự là cơ hội có một không hai để cho văn học “chớp thời cơ qua sông gí tốt”, vượt ngục ra khỏi sự cầm tù nghiệt ngã và đáng sợ kia. Lý trí đơn thuần thường ham cắt xén, chỉ thấy sự ngưng đọng và chết chóc. Trên thực tại, dòng đời giống như dòng sông, như “dịch”, không một sát-na nào ngừng trôi chảy, luôn ở trong thế tương sinh tương lập. Đấy chính là đối tượng văn học, cũng là của Đạo và Thiền. 



Con người ta, mỗi người đều như một que diêm đang cháy, không ai sống hộ cho ta, “không ai mang bệnh hộ mình, không ai hôn được người tình giúp ta1, mỗi người đều là một bản ngã, một duy nhất không lặp lại. Que diêm kia cháy hết rồi tắt lịm đi, chỉ còn chút khói xanh vấn vương để lại. Rồi chính chút khói xanh mong manh cũng tan loãng và biến mất tựa như vết chân trên cát bị sóng xóa nhòa. 
Tuy nhiên, cũng nên chụp lấy làn khói xanh đang còn ở trong phút giây phiêu lãng, bồng bềnh kia bởi dù cho khái niệm (ngôn ngữ, tiếng nói) không chuyên chở được thực tại nhưng người ta vẫn có thể nương vào khái niệm (ngôn ngữ, tiếng nói) để tìm đến và tìm lại thực tại. Viết đến đây, tôi chợt nhớ đến những tấm bia mộ ghi tên tuổi ngày tháng năm sinh, năm mất của bao người và hiểu ra được cái ý nghĩa níu kéo cuối cùng của sự sống trên thế gian này!
Truyện Tướng về hưu viết ra sau đám tang mẹ tôi, sau ba tháng tôi trực tiếp săn sóc mẹ mình. Có lẽ việc chứng kiến từng giây, từng phút lâm chung của mẹ đã khiến cho tôi ngộ ra được nhiều điều về lẽ tử sinh ở đời. Xin mẹ tha lỗi cho con. Con xin lạy mẹ!
Lúc đầu tôi viết Tướng về hưu chỉ với ý nghĩ hòng mong chụp lại ít nhiều “làn khói xanh” sau đám tang đau thương của mẹ tôi. Sau này truyện được in ra, rồi được dư luận quan tâm, nhiều người đọc Tướng về hưu khen ngợi, phát hiện ra văn học Việt Nam, đọc lại văn học Việt Nam, tìm hiểu nghiên cứu về văn học Việt Nam, thậm chí cầm bút viết văn; truyện được giới thiệu cả trong và ngoài nước. Chính khi đó tôi mới hiểu ra điều diệu hữu (có điều kỳ diệu) của việc viết truyện ngắn này.
Thế nào là  vô tâm diệu hữu?
Trong Thiền học có khái niệm vô tâm (không tâm). Nhưng đừng quên rằng cùng song hành với vô tâm là  diệu hữu. Nếu chỉ đơn thuần không tâm thì đó chỉ là ngoan không, một cái không trống rỗng, không có gì, không ý nghĩa gì.
Để giải thích về Thiền, về vô tâm diệu hữu không có cách gì khác ngoài việc giải thích bằng giai thoại. Vậy xin kể lại vài giai thoại sau đây:
Giai thoại 1:
Một thiền sinh trẻ tuổi đi thăm thiền sư. Vừa gặp thiền sư, thiền sinh này đã thao thao bất tuyệt:
- Làm gì có tâm, làm gì có trí! Làm gì có thiện, làm gì có ác! Làm gì có trên, làm gì có dưới! Thầy chẳng có, trò cũng không, chẳng có cái gì cho đi, chẳng có cái lấy về! Tất cả là không! Tất cả đều là hư vô!
Vị thiền sư điềm tĩnh lắng nghe không nói một lời. Bất ngờ ông cầm cái gậy giáng đòn thật mạnh lên người thiền sinh. Thiền sinh kia hoảng hốt, giận dữ nhưng không biết nói sao. Thiền sư điềm tĩnh bảo rằng:
- Nếu không có gì trên đời này là thực và tất cả đều là hư vô thì sự giận dữ của ngươi ở đâu mà đến? Hãy suy nghĩ thêm về điều ấy.
Cái gậy của vị thiền sư chính là một bài học về vô tâm diệu hữu, cũng đồng thời nói về sự phá chấp của Thiền.
Giai thoại 2:
Có hai thiền sinh vui vẻ đi chơi gặp một vũng nước. Bên vũng nước có một cô gái đang đứng lúng túng không biết làm sao lội qua để khỏi ướt người. Thiền sinh A lẳng lặng đi tới bế cô gái sang bờ bên kia. 
Trên đường về, thiền sinh B bực bõ không vui. Cuối cùng nhịn không nổi, thiền sinh B nói:
- Tôi hỏi đạo hữu: Ta là người tu hành tại sao đạo hữu lại đi bế cô gái trẻ đẹp trên tay qua chỗ lội kia? Vậy thử hỏi xem có được không?
Thiền sinh A mỉm cười bình thản:
- Đạo hữu ơi, thật tội nghiệp cho anh! Tôi đã giúp cô gái qua chỗ lội rồi, cô gái nay đã về nhà. Tôi không ngờ đạo hữu vẫn còn cõng nàng đến tận bây giờ!
Phải chăng đây cũng là một bài học cho sự vô tâm diệu hữu và vô tâm không ngoan?
Giai thoại 3:
Một chàng trai tự thấy mình tu luyện đắc đạo bèn tìm đến xin gặp thiền sư làm lễ nhập môn. Thiền sư bảo:
- Con hãy về bỏ hết không giữ chút gì ở trong lòng nữa rồi đến gặp ta.
Chàng trai về nhà, sau đó nhiều lần tìm đến để gặp thiền sư, lần nào cũng nói rằng mình đã buông bỏ hết mọi sự trong lòng không còn gì nữa. Thiền sư mỉm cười:
- Con phải rũ bỏ cái biết mình đã rũ bỏ mới thực là rũ bỏ hết. Bồ tát không biết mình là Bồ tát nữa mới là Bồ Tát! 
Phải chăng đây cũng là một bài học cho sự vô tâm diệu hữu và  vô tâm không ngoan?
Giai thoại 4:
Hôm trước, nhà nghiên cứu phê bình văn học Nguyễn Đăng Điệp, Viện trưởng Viện Văn học đến gặp mời tôi góp tham luận về thời kỳ văn học đổi mới. Tôi không biết góp gì nhưng không muốn phụ lòng thành của bạn. Nguyễn Đăng Điệp bảo:
- Anh hãy kể lại chuyện anh viết Tướng về hưu.
Đầu bài thật khó. Tôi bật cười nhớ đến chuyện có con rết đang nhịp nhàng lanh lẹ đi lại, bỗng gặp con bướm bay qua chọc ghẹo.
- Này anh Rết, anh bò khéo thế, vậy chân nào trước chân nào sau nhỉ?
Thế là rết về nhà phân tâm, trở nên rối trí, vụng dại, bò lê bò càng, cố gắng phân tích xem chân nào đi trước chân nào đi sau.
Phải chăng việc viết Tôi viết truyện Tướng về hưu cũng tội nghiệp chẳng khác gì truyện rết!
Đến nay Tướng về hưu đã được dịch sang nhiều thứ tiếng nhưng công đầu thuộc về công cuộc đổi mới “có thời có tự mảy may, không thời cả thế gian này cũng không”, thuộc về những độc giả, những người bạn thân thiết của tôi, những dịch giả, những biên tập viên và cộng tác viên trong và ngoài nước. Nhân đây tôi xin cảm ơn tất cả. 
-----------
1 Thơ Bảo Sinh
Nguồn: http://tuoitre.vn/tin/tuoi-tre-cuoi-tuan/van-hoa-nghe-thuat/20150609/nha-van-nguyen-huy-thiep-toi-viet-truyen-tuong-ve-huu/757242.html

http://tuoitre.vn/tin/tuoi-tre-cuoi-tuan/van-hoa-nghe-thuat/20150609/nha-van-nguyen-huy-thiep-toi-viet-truyen-tuong-ve-huu/757242.html
http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=115&News=8818&CategoryID=41

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ảnh cơ thể người từ máy scan mới của GE


Các bác sĩ ở Florida, Mỹ mới đây đã thử nghiệm và công bố những bức hình chụp thử nghiệm thế hệ máy scan mới của General Electric (GE) - có khả năng ghi lại hình ảnh chất lượng cao của các bộ phận như xương, mạch máu, nội tạng cơ thể người.
Phương pháp này là thế hệ mới của chụp cắt lớp CT - được đặt tên là "Revolution CT". Với chiếc máy chụp thế hệ mới này, người bệnh sẽ được nằm trong buồng chụp, sau đó, các chùm tia X-quang sẽ được bắn ra, quét đều bộ phận cần chụp để ghi lại hình ảnh cắt lớp chân thực nhất. Máy tính sẽ có nhiệm vụ tổng hợp lại hình ảnh theo từng tấm với độ phân giải cao hơn nhiều so với ảnh chụp CT cũ. Những bức ảnh dưới đây sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các bộ phận đang "vận hành" trong cơ thể mình.

Hình ảnh cho thấy kết cấu bên trong của não bộ.

Hình ảnh ghi lại phần bụng và động mạch chủ đang hoạt động trong cơ thể chúng ta.

Tìm hiểu hoạt động của những mạch máu bao bọc trái tim 
không còn quá khó với các nhà khoa học.

Bức hình cho thấy hộp sọ và vòng động mạch willis.

Vòng mạch willis là khu vực tham gia của một 
số động mạch ở phía dưới (thấp hơn) của não. 

Chiếc vít nối khớp xương hiện lên "rõ mồn một".

Bức hình chụp phần khoang ngực của chúng ta.

Phần xương chậu và động mạch chủ hiện lên rõ nét trong bức hình.

Bức hình ghi lại phần lồng ngực, tim trong cơ thể chúng ta.


Hình ảnh chụp lồng ngực cho thấy sự khác biệt về hai phương pháp chụp ảnh GE (trái) và CT (phải)
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Ba, 22 tháng 9, 2015

XÂY MỘT HÒN ĐẢO NHÂN TẠO NHƯ THẾ NÀO ?


PATRICK J. KIGER - Chính phủ Trung Hoa từ lâu đã dính liếu vào tranh chấp với Việt Nam, Philippines và các quốc gia Đông Nam Á khác về tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông. Để tạo điều kiện thuận lợi cho sự hiện diện về mặt quân sự, Trung Hoa đang xây dựng các đảo đá và bãi ngầm trong khu vực để tạo ra một chuỗi đảo nhân tạo mới.
Trong khi các nước khác tranh cãi rằng các thực thể nhân tạo không đủ tiêu chuẩn như một vùng đất hợp pháp, về mặt lý thuyết Trung Hoa có thể sử dụng chúng để khẳng định việc kiểm soát một khu vực đặc quyền kinh tế kéo dài 200 dặm hải lý xung quanh mỗi vị trí. Những sự cải tiến trong xây dựng đã làm cho việc xây dựng đảo dễ dàng hơn, nhưng phương pháp thực hiện vẫn tương đối đơn giản, và bao gồm những bước cơ bản như sau:

Tìm một bãi đá để làm cơ sở.



Một trong những vị trí được Trung Hoa lựa chọn là Johnson South Reef, địa điểm của một cuộc xung đột nhỏ năm 1988 giữa hải quân Trung Hoa và Việt Nam. Theo tường thuật mới đây của tờ South China Post, Trung Hoa cũng đang hoạch định xây dựng một cơ sở ở bãi Fiery Cross Reef gần đó, cơ sở này có thể được dùng làm nơi đỗ máy bay hải quân và làm cho Trung Hoa có khả năng thiết lập một khu vực bảo vệ hàng không ở Biển Đông.

Tập trung vật liệu xây dựng.



Phương pháp thông thường là nạo vét hàng triệu tấn cát và đá từ lòng biển. Theo báo Bloomberg Businessweek, một ngư dân Philippines đã quan sát thấy một chiếc tàu Trung Hoa đồ sộ đang dùng bơm và vòi để hút vật liệu. Tất cả chúng được chứa trên chiếc tàu vét cho đến khi được dùng.

Tạo ra đảo nhân tạo.



Những người xây dựng đảo đổ cát và đá lên phía trên bãi đá đang tồn tại. Một kỹ thuật tiên tiến được gọi là rainbowing, được dùng ở vịnh Persian, bao gồm việc xịt cát theo từng lớp, trông như là nó sơn. Bằng việc sử dụng dữ liệu từ vệ tinh định vị toàn cầu để hướng dẫn, những người xây dựng đảo có thể tạo ra hình dạng chính xác.

Xây một bức tường biển.



Một khi hòn đảo được tạo ra, điều quan trọng là nhanh chóng xây dựng một kè bê tông kín nước để bảo vệ hòn đảo nhân tạo khỏi bị cuốn trôi.

Dựng lên các cấu trúc để con người có thể sống và làm việc ở đó.



Hình ảnh này, được đưa ra bởi một viện thiết kế thuộc Công ty đóng tàu nhà nước Trung Hoa, cho thấy một cơ sở quân sự trên một trong những đảo mới, gồm có cả các tòa nhà và một sân bay.

https://bienvanguoi.wordpress.com/2014/09/16/lam-sao-xay-mot-hon-dao/
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ông Tập Cận Bình nói gì về Biển Đông, Trường Sa?


China Times ngày 22/9 đưa tin, trong cuộc phỏng vấn độc quyền tờ The Washington Post, ông Tập Cận Bình, Chủ tịch nước Trung Quốc trước thềm chuyến thăm chính thức của ông tới Hoa Kỳ, người đứng đầu Trung Nam Hải đã có một vài bình luận xung quanh vấn đề Biển Đông và hoạt động bồi lấp, xây dựng đảo nhân tạo (bất hợp pháp) ở Trường Sa (thuộc chủ quyền Việt Nam).
Ông Tập Cận Bình trong cuộc gặp với 5 Thống đốc 
Hoa Kỳ tại Seattle, Washington. Ảnh: Reuters.
Ông Tập Cận Bình được The Washington Post dẫn lời nói rằng: “Quần đảo Trường Sa là lãnh thổ Trung Quốc từ thời cổ đại đến nay, chúng tôi có đầy đủ chứng cứ lịch sử và pháp lý để chứng minh điều đó. Việc Trung Quốc tiến hành các hoạt động xây dựng và lắp đặt thiết bị trên một số thực thể ở Trường Sa không ảnh hưởng, cũng không nhằm vào bất kỳ quốc gia nào, không nên chú ý thái quá đến chuyện này”?!

Cũng theo lời ông Bình: “Trung Quốc xây dựng đảo nhân tạo chủ yếu là để cải thiện đời sống sinh hoạt của nhân viên đồn trú (bất hợp pháp) ở đó, đồng thời cung cấp các dịch vụ sản phẩm công cộng cho cộng đồng quốc tế, có ích cho việc bảo vệ duy trì tự do và an toàn hàng hải ở Biển Đông”.

Là người đứng đầu một nước mà nước đó đang cố chứng minh vai trò cường quốc toàn cầu, tìm cách tham gia quá trình xác lập trật tự thế giới mới ngang bằng với Mỹ, chắc hẳn mỗi lời mỗi chữ ông nói ra đều phải cân nhắc kỹ càng bởi “vua không nói chơi”. Ông nói quần đảo Trường Sa “là lãnh thổ Trung Quốc từ thời cổ đại”, lại nói nước ông có “đầy đủ bằng chứng lịch sử và pháp lý chứng minh”, vậy xin ông vui lòng cho dư luận thế giới và khu vực thấy nó được chăng?

Nếu làm được điều này, chưa cần nói đến kết quả xác minh “bằng chứng chủ quyền” ông Bình đưa ra đúng sai, công luận khu vực và quốc tế cũng phải tâm phục khẩu phục thừa nhận rằng, ông đúng là chính khách đẳng cấp quốc tế, nói đi đôi với làm, nói được và làm được. Nhược bằng nói xong để đó, né tránh việc giải thích và cung cấp chứng cứ chứng minh cho yêu sách của mình thì dư luận sẽ đánh giá ra sao chắc không cần nói ông cũng đã rõ.

Cho đến nay Trung Quốc không thể đưa ra bất cứ tài liệu pháp lý nào để chứng minh cho cái gọi là chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam mà ông nói là Trung Quốc “có chủ quyền từ thời cổ đại”. Nhưng chỉ cần lên internet gõ tìm kiếm bằng từ khóa “hải chiến Trường Sa” ông sẽ thấy ngay video quân đội nước ông tiến hành chiến tranh xâm lược, tàn sát đẫm máu các chiến sĩ Hải quân Nhân dân Việt Nam canh giữ chủ quyền ngoài đá Gạc Ma ngày 14/3/1988.

Trước đó là cuộc chiến xâm lược nốt nửa phía Tây quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam mà quân đội nước ông tiến hành năm 1974 lợi dụng lúc Việt Nam đang gấp rút thống nhất đất nước. Tất cả những điều này là sự thật và diễn ra cách đây không lâu, có nhiều nguồn tư liệu có thể kiểm chứng.

Sau khi xâm lược và chiếm đóng bất hợp pháp quần đảo Hoàng Sa, Trung Quốc mặc nhiên phủ nhận lịch sử và từ chối đàm phán với Việt Nam về quần đảo này. Nếu ông tự tin có đầy đủ bằng chứng “lịch sử và pháp lý”, tại sao Trung Quốc phải né tránh câu chuyện chủ quyền Hoàng Sa?


Đường băng quân sự Trung Quốc xây dựng bất hợp pháp trên đá Chữ Thập, Trường Sa, Khánh Hòa, Việt Nam. Ảnh: CSIS.

Ngoài ra, chính phủ Philippines đã đâm đơn khởi kiện Trung Quốc áp dụng và giải thích sai Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 ở Biển Đông, xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp của các nước khác trong khu vực khi đường lưỡi bò bành trướng gần như toàn bộ Biển Đông, liệu ông và cấp dưới của ông có thể nói rõ về điều này?

Hoa Kỳ, Indonesia đã chính thức lên tiếng nhiều lần yêu cầu Trung Quốc giải thích về đường lưỡi bò. Dư luận Việt Nam cũng như giới học giả quốc tế chắc hẳn đều rất sẵn lòng, hào hứng muốn nghe ông giải thích về cái đường lưỡi bò quái gở hòng nuốt trọn Biển Đông ấy ở đâu ra, căn cứ vào quy định nào của luật pháp quốc tế?

Còn câu chuyện Trung Quốc bồi lấp, xây dựng đảo nhân tạo bất hợp pháp ở Trường Sa theo lời ông nói là “chủ yếu để cải thiện đời sống sinh hoạt của nhân viên đồn trú, không nhằm vào quốc gia nào, không gây ảnh hưởng đến ai” thì dường như chỉ là miệng nói tai nghe và không thể thuyết phục được dư luận. Tại sao?

Thứ nhất, ngay trước thềm chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ của ông, Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và quốc tế (CSIS) của Mỹ đã công bố những hình ảnh mới nhất chụp đầu tháng 9 cho thấy, 3 đường băng quân sự dài 3 ngàn mét mà nước ông xây dựng bất hợp pháp ở Chữ Thập, Xu Bi và Vành Khăn. Giới phân tích quân sự quốc tế tin rằng những đường băng này có thể được sử dụng để cất hạ cánh các máy bay chiến đấu, máy bay ném bom hiện đại nhất mà nước ông đang sở hữu.

Thứ hai, bản chất các thực thể ở Trường Sa mà Trung Quốc dùng vũ lực, xâm lược và chiếm đóng trái phép của Việt Nam từ năm 1988, 1995 là những rặng san hô, những bái đá nửa nổi nửa chìm dưới mực nước biển, theo UNCLOS chỉ có tối đa 500 mét vùng an toàn.

Tuy nhiên quân đội Trung Quốc sẵn sàng giương vũ khí đe dọa bất cứ máy bay, tàu thuyền nào qua lại khu vực này trong phạm vi 12 hải lý, vốn là quy chế lãnh hải của UNCLOS chỉ áp dụng cho các đảo/đá tự nhiên nhô hẳn trên mặt nước khi thủy triều lên. Nói cách khác, Trung Quốc đang dùng vũ lực để biến các bãi đá ngầm thành đảo về mặt pháp lý.

Thứ ba, trong giai đoạn 1990 – 1995 khi Trung Quốc chiếm đá Vành Khăn ở phía Đông Trường Sa và xây dựng nhà nổi công sự bất hợp pháp tại đây, Trung Quốc cũng nói công khai trước dư luận quốc tế là xây nhà trú ẩn cho ngư dân tránh bão. Sau đó là cả tòa nhà công sự kiên cố trang bị đầy đủ vũ khí mọc lên.

Còn “nhân viên đồn trú” mà ông đề cập đến bây giờ đã lộ rõ chân tướng là lính hải quân Trung Quốc. Rất mong ông hay các cơ quan chức năng Trung Quốc có thể làm rõ những nghi vấn này trước công luận quốc tế.


http://kenh13.info/ong-tap-can-binh-noi-gi-ve-bien-dong-truong-sa.html
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đêk có gì để khoe!





Người khoe của 
kẻ khoe nhà
khoe mông 

khoe ngực..
còn ta khoe gì?
Mỗi con tủ lỉ tù lì
vừa ngu vừa xấu đáng gì để khoe?
Đẹp đem bày,

xấu phải che..
Thế nhân muôn thủa vẫn đi lối này
Rất mong.. 
chẳng thấy ai bày
thành tâm, trắc ẩn...
Mỗi ngày mỗi vơi..

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nóng: SẬP NHÀ CỔ Ở HÀ NỘI - NHIỀU NGƯỜI ĐANG BỊ MẮC KẸT


Khoai@

Tin mới nhất cho hay, ngôi nhà số 109 Trần Hưng Đạo, Hà Nội bị đổ sập hoàn toàn vào trưa hôm nay 22/9, hiện chưa rõ nguyên nhân. Con số thiệt hại về người và tài sản cũng chưa được thống kê.

Lực lượng chức năng, đặc biệt là lực lượng công an TP Hà Nội đã được tăng cường để giải cứu những người còn đang bị mắc kẹt trong đống đổ nát. 

Khi nhà sập, có nhiều người trong toà nhà, lực lượng chức năng đang sơ tán khẩn cấp người dân.

Cập nhật 1:


Đây là căn nhà được xây dựng từ thời Pháp, được chia nhỏ thành các phòng cho nhiều hộ. Hiện tại, trong đống đổ nát có người mắc kẹt. Cảnh sát và lực lượng cứu hỏa đang phá nhà vào cứu người.

15:43 ngày 22/09/2015: Theo báo cáo nhanh của bệnh viện Việt Đức, tính tới thời điểm này có 5 nạn nhân của vụ sập nhà được đưa vào bệnh viện cấp cứu. Trong số này, nạn nhân Lê Thị Hường đã tử vong vào lúc 15h10.

Các nạn nhân còn lại gồm: Nguyễn Thị Tiêu (SN 1951, nữ, bị tường đổ vào người); Vũ Thị Thu Hằng (SN 1978, nữ, HKTT: 107 Trần Hưng Đạo, chấn thương sọ não; chấn thương xương chậu); Nguyễn Văn Nức (SN 1971 nam-HKTT: Thôn Sâm Khúc -Việt Hưng -Văn Lâm- Hưng Yên, bị thương ở chân); Tào Thị Hiện (SN 1965, nữ- Cát Động- Kim Bài- Thanh Oai- HN, bị thương ở chân).

Cập nhật 2:

Tòa nhà bị sập có diện tích sử dụng 1.100 m2, chia 2 tầng, xây bằng gạch, mái vòm cốt thép. Trong đó, tầng 2 vốn là một hội trường giờ đã được sử dụng là phòng làm việc rộng 120 m2, tầng 1 là nhà kho và phòng làm việc. Hai bên cánh của hội trường là cầu thang, hàng lang, phòng vệ sinh rộng khoảng 100 m2. Hiện nay toàn bộ mái tầng 2 tòa nhà này đã bị sập đổ.

Một cán bộ ở Ban quản lý dự án đường sắt khu vực 1 cho biết, lúc 12h30, khi anh đang làm việc tại ngôi nhà thì may mắn có một nhân viên phát hiện cột trụ bị tróc vữa và sập xuống, người này đã hô hoán mọi người tháo chạy.

"Chúng tôi ra khỏi nhà chỉ 5 phút thì toàn bộ mái sập xuống. Khả năng cột nhà bị ải lâu ngày nên tự tách gạch ra và gãy. Các cột này đã bị hư hỏng từ lâu song không được cải tạo. Công trình này có thể thuộc diện phải bảo tồn", vị cán bộ Ban dự án đường sắt cho biết.

16:00 ngày 22/09/2015

Trả lời báo chí tại hiện trường, ông Nguyễn Ngọc Đông- Thứ trưởng Bộ Giao thông Vận tải cho rằng nguyên nhân vụ việc do ngôi nhà quá cũ nát, hết hạn sử dụng.

Ngôi nhà cũ, xây từ thời Pháp nằm trong ngõ 107 phố Trần Hưng Đạo, cách mặt đường 50 m, cách ga Hà Nội khoảng 200 m. Đây là trụ sở của Ban Quản lý dự án đường sắt khu vực 1 (Tổng công ty Đường sắt). Cả tòa nhà 2 tầng là công trình do người Pháp xây dựng, song hội trường (khu vực bị sập đổ) đã được Tổng công ty đường sắt cải tạo lại.





























Phần nhận xét hiển thị trên trang