Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 13 tháng 9, 2015

Gần 50 ngàn lao động VN tại Thái Lan có nguy cơ bị trục xuất


thai-9496-1440489744-622.jpg
Người lao động làm thủ tục xuất nhập cảnh tại cửa khẩu Lào – Thái Lan.
Những người Việt Nam đang lao động ‘chui’ tại Thái Lan có nguy cơ bị trục xuất về nước. Lý do vì chính phủ Thái Lan không cho những người nước ngoài đang cư trú tại Thái được đi gia hạn Visa du lịch tại các cửa khẩu như lâu nay. Nguyên nhân nào dẫn đến qui định được áp dụng kể từ ngày hôm nay 12 tháng 9 như thế?

Nguyên nhân việc siết chặt cửa khẩu

Giới chức Thái Lan đã tổ chức cuộc họp và đưa ra quyết định siết chặt tất cả các cửa khẩu quốc tế trên cả nước Thái. Quyết định đạt được sau khi một trong những nghi can trong vụ đánh bom tại Bangkok, Thái Lan hôm tối ngày 17/8/2015 thú nhận rằng anh đã hối lộ nhân viên tại cửa khẩu tỉnh Sa Kaeo để vào Thái Lan một cách bất hợp pháp.
Trong một báo cáo mới đây trình cho thủ tướng Thái Lan, chỉ huy cảnh sát Thái Lan Somyot Poompanmoung, nêu ra tình trạng cảnh sát di trú nhận tiền để gia hạn hộ chiếu một cách bất hợp pháp. Hoạt động này được nêu lên rất rõ qua 6 tiêu cực của cảnh sát di trú tại các cửa khẩu quốc tế. Ông cũng yêu cầu thủ tướng phải xử lý những tiêu cực này.
Cửa khẩu đó họ nói rằng do vụ đánh bom ở Bangkok, cái người đánh bom đã đi qua cửa khẩu bằng cách hối lộ tiền, nên cảnh sát nghiêm cấm các cửa khẩu, những người nước ngoài sẽ phải trở về nước trước rồi sau đó mới được sang lại.
-Anh Bảo
Anh Bảo, một người chuyên làm dịch vụ để đưa những người Việt Nam lao động tại Thái Lan đi gia hạn hộ chiếu tại các cửa khẩu quốc tế Thái giáp ranh với Cambodia, anh chia sẻ về việc bị cảnh sát di trú tại các cửa khẩu không cho những người Việt Nam gia hạn hộ chiếu, việc này chính thức áp dụng từ ngày 12/9/2015. Anh chia sẻ về nguyên nhân:
“Từ hồi trước đến giờ vẫn đi bình thường, nhưng bắt đầu từ ngày mai, các cửa khẩu sẽ không đóng dấu hộ chiếu nữa.
Cửa khẩu đó họ nói rằng do vụ đánh bom ở Bangkok, cái người đánh bom đã đi qua cửa khẩu bằng cách hối lộ tiền, nên cảnh sát nghiêm cấm các cửa khẩu, những người nước ngoài sẽ phải trở về nước trước rồi sau đó mới được sang lại.”
Theo con số thông kê không chính thức từ chính phủ Thái Lan, hiện nay có khoảng 50.000 người Việt Nam đang lao động bất hợp pháp tại đây. Và theo chia sẻ của anh Bảo mỗi ngày có khoảng 1.000 người Việt Nam đang sẽ trở thành những người cư trú bất hợp pháp vì không được đi gia hạn hộ chiếu. Anh bảo nói thêm:
“Bắt đầu từ ngày mai, những người mới đi gia hạn hộ chiếu về thì còn được một tháng, nếu mà đã đi cách đây một tháng thì ngày mai hộ chiếu của họ sẽ hết hạn.
Tính ra mỗi ngày có khoảng 1.000 người đi gia hạn hộ chiếu.”

Khó khăn cho người lao động

Trong tình trạng hiện nay, những người Việt Nam đang lao động bất hợp pháp tại Thái Lan sẽ gặp phải vô vàn khó khăn, họ có thể bị cảnh sát bắt bất cứ lúc nào. Họ có thể bị bắt và bị truy tố với hai tội danh lao động bất hợp pháp và cư trú bất hợp pháp tại Thái Lan.
ThaiLan-400.jpg
Quầy làm thủ tục xuất nhập cảnh tại cửa khẩu Thái Lan. Courtesy photo.
Linh mục An Tôn Lê Đức – thuộc dòng Ngôi Lời, người đang giúp đỡ cho những người lao động Việt Nam tại Thái, Linh mục Lê Đức nói:
“Trước đây, nếu mà người lao động có hộ chiếu sống nhưng mà làm việc thì họ chỉ mang một tội ‘làm việc bất hợp pháp’ và thường thường thì họ chỉ bị bắt khi họ đang làm việc. Còn nếu họ có hộ chiếu chết thì họ sẽ mang hai tội, thứ nhất là làm việc bất hợp pháp và thứ hai là lưu trú tại Thái Lan bất hợp pháp.
Cho nên nếu có hộ chiếu sống mà anh không làm việc, anh đi lại ngoài đường thì vẫn được gọi là người hợp pháp, và mình chỉ bị bắt khi mình đang làm việc. Nhưng mà nếu hộ chiếu chết rồi mà mình đi lòng vòng ngoài đường thì mình cũng có thể bị bắt cho dù mình không làm việc.”
Linh mục An Tôn Lê Đức cho biết thêm về một thực tế lâu nay:
“Nếu mà người cảnh sát bắt người bất hợp pháp với lý do là ‘muốn thi hành luật pháp’ thì người đó sẽ đưa người bị bắt đến sở di trú, rồi sau đó lập biên bản, rồi chờ ra tòa, hoặc vào tù.
Còn nếu người cảnh sát đó chỉ muốn lợi dụng cơ hội để kiếm tiền người Việt Nam thì ‘đôi khi’ họ sẽ nhận hối lộ trên đường phố rồi sau đó thả cho người Việt Nam đi và xem như không có chuyện gì xảy ra.”
Tuy vậy nếu mang hộ chiếu chết những người lao động tại Việt Nam có thể sẽ bị cảnh sát Thái bắt giam, bị trục xuất về nước và rất khó để quay lại Thái Lan.
Chị Phượng, một người lao động bất hợp pháp tại Thái Lan chia sẻ:
“Công an bắt được thì có thể ngồi tù, nếu mà về Việt Nam làm hộ chiếu để sang Thái thì cũng không sang được.”

Cơ hội làm việc tại Thái Lan là rất ít

Họ cho về đã, nhưng họ chưa nói thời gian nào sẽ mở lại, cái này thiệt thòi cho người Việt Nam mình lắm. Người Hà Tĩnh, Nghệ An và Thanh Hóa ở bên này rất nhiều.
-Anh Bảo
Việc không được đi gian hạn hộ chiếu tại các cửa khẩu đã bị ngưng, và chưa có bất kỳ thông tin nào về việc các cửa khẩu này tiếp tục chấp nhận việc gia hạn hộ chiếu cho người lao động nước ngoài tại Thái Lan.
Anh Bảo buồn bã nói:
“Họ cho về đã, nhưng họ chưa nói thời gian nào sẽ mở lại, cái này thiệt thòi cho người Việt Nam mình lắm. Người Hà Tĩnh, Nghệ An và Thanh Hóa ở bên này rất nhiều.”
Linh mục An Tôn Lê Đức chia sẻ thêm về việc Thái Lan và Việt Nam đang đàm phán về việc đăng ký lao động cho công nhân Việt Nam. Tuy nhiên sự kiện này đã bị hoãn lại vào ngày 1/9/2015 vừa qua:
“Theo những gì được biết, chính phủ Thái Lan và chính phủ Việt Nam vẫn đang còn trong quá trình đàm phán và cân nhắc những điều kiện. Vừa rồi, đáng ra là ngày 1/9/2015 sẽ được đăng ký lao động, nhưng những điều kiện bên Thái Lan đưa ra nó hơi khắt khe và hạn hẹp cho nên bên Việt Nam không có thuận lợi cho những công nhân Việt Nam nên đã yêu cầu chính quyền Thái Lan cân nhắc lại. Và bên Thái Lan quyết định sẽ hoãn lại ngày 1/9/2015 và không cho đăng ký lao động. Đến bây giờ thì họ vẫn chưa thông báo đến khi nào sẽ cho đăng ký lao động.”
Theo nguồn tin không chính thức, nếu chính phủ Thái Lan và Việt Nam ký kết hợp tác lao động, thì người Việt Nam sẽ có hai cách để làm giấy phép lao động. Thời gian đầu sẽ cho phép những người đã đến Thái Lan với hộ chiếu hợp pháp và những người chưa đến Thái Lan cũng được đăng ký giấy phép lao động.
Tuy nhiên, thủ tục làm giấy phép lao động như thế nào thì vẫn chưa được tiết lộ và thời gian nào thì được làm vẫn đang là dấu hỏi lớn cho gần 50.000 công nhân Việt Nam đang lao động tại Thái Lan. Và hiện tại, 50.000 công nhân Việt Nam đang phải đối mặt với nguy cơ bị trục xuất về nước bất cư lúc nào.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Em đi ngoại tình đây, mình ạ.




Em đi ngoại tình đây mình ạ. Em đã chán cảnh phải ăn cơm một mình lắm rồi. Mâm cơm phần mình hôm nào cũng nguội ngơ nguội ngắt. Từ nhiều năm nay, em đã trở thành “chuyên gia” mang đồ thừa đến cơ quan ăn trưa. Thi thoảng cũng có hôm mình… bất chợt về sớm. Bất chợt mang theo bảy tám ông bạn rượu từ quán về nhà. Các quán thịt chó, thịt vịt, thịt bò xung quanh nhà mình đã quá quen với việc bê cả mâm sang rồi lại bê về. Nhiệm vụ của em sau đó là bôi vôi vào gan bàn chân và đổ nước cam chua vào miệng cho cả phi đội. Nhà mình không có chó mà bạn “đồng… mâm” của mình vẫn cho ra cả… đống chè.

Em đi ngoại tình đây mình ạ. Cả chục năm nay, đi chơi đâu cũng chỉ có em và hai con. Mình không bận việc cơ quan thì lại bị cuốn vào những cuộc thi đấu thể thao hoăc các cuộc họp mặt với bạn phổ thông, bạn đại học và bạn… nhậu. Có lần em đưa chúng đi suối nước nóng Kim Bôi. Một người đàn ông trên xe tưởng em là mẹ đơn thân. Ông ấy bị rơi vào hoàn cảnh gà trống (không thiến) nuôi con nên có ý đi tìm… gà mái.

Em đi ngoại tình đây mình ạ. Từ lâu rồi chúng mình chẳng còn thói quen cùng tán gẫu về một cuốn sách hay mua vé đi xem ca nhạc cùng nhau. Những cuốn sách em tâm đắc thì mình cho là “nổi loạn”, “vô duyên”. Những chương trình ca nhạc em muốn xem thì mình chê bai không tiếc lời, cho rằng gu thẩm mỹ của em chưa qua khỏi lũy tre làng. Chúng mình đã bị lệch pha rồi.

Em đi ngoại tình đây mình ạ. Từ hồi lấy nhau, tất cả bạn bè của mình đã trở thành bạn chung. Hội hè, gặp gỡ cần có cả đôi, thể nào em cũng bố trí công việc để "sánh vai” cùng mình. Nhưng mình toàn để em tự mình xoay sở với những việc hiếu, hỉ của bạn bè em. Cả những chuyến đi chơi do cơ quan em tổ chức cho cả gia đình, mình cũng kiếm được lý do thoái thác.

Em đi ngoại tình đây mình ạ. Cái vòi nước ở bồn rửa bát bị băng bó cả tháng trời do hỏng gioăng không làm mình áy náy. Em xách bao gạo 10kg đi qua phòng khách để vào bếp mà mình cũng không bỏ dở câu chuyện tiếu lâm với bạn học cũ để giúp em. Chính em là người dạy con trai biết khoan tường đóng đinh để treo tranh. Cũng chính em là người dạy con trai buộc dây giày, thắt ca-vạt khi nó đi phỏng vấn xin học bổng.

Em đi ngoại tình đây mình ạ. Em chán cảnh lúc ốm đau, phải tự gượng dậy đặt cho mình nồi cháo thịt bằm. Nằm một chỗ để giải thích cho mình từ chỗ để gạo đến công dụng của nồi cơm điện có khi còn ốm thêm. Em cũng chán khi phải thấy mình nhấc điện thoại lên cầu cứu các bà chị.

Em đi ngoại tình đây mình ạ. Em nghe mọi người nói hay gặp mình đi cùng một cô gái trẻ. Họ nói thế nào mặc kệ họ. Em chẳng có thời gian đi làm thám tử. Em chờ mình nói thật với em một tiếng. Cũng như em đang viết thư thông báo cho mình những việc em sắp làm.

Em đi ngoại tình đây mình ạ. Hôm em đi kiểm tra sức khỏe định kỳ, cô bác sĩ phụ khoa tưởng mình đi lao động xuất khẩu ở Đông Âu rồi ở lại không về. “Sao chị không đi ngoại tình? Cơ quan “phụ nữ” của chị đã khô và teo hết lại rồi. Mà chị đã đến tuổi TMK đâu?”. Bác sĩ chuyên ngành ấy bao giờ cũng nói thẳng tưng, không cần rào trước đón sau. Chúng mình đã ngủ riêng từ sau ngày em sinh con gái bé. Mình sợ ngủ quên nằm đè lên con; rồi lại sợ mùi sữa mẹ gây gây; sợ nhỡ con tè dầm ướt sang người bố… Bây giờ con sắp thành thiếu nữ và chúng mình đã quên luôn cả chuyện nằm cùng giường.

Em đi ngoại tình đây mình ạ. Tuần này em đã đăng ký đi học khiêu vũ. Từ chỗ học thêm của con, em sẽ đi thẳng về sàn nhảy. Học xong, em sẽ quay lại đón con rồi hai mẹ con cùng đi ăn tối với nhau. Bếp ăn gia đình sẽ đóng cửa mỗi tuần hai ngày.

Em đi ngoại tình mình nhé. Nếu mình không muốn thế thì chúng ta sẽ ngồi lại thương thảo từng điều khoản trong bản “hợp đồng đi tù” mà nhà nước gọi bằng mỹ từ “Đăng ký kết hôn”.

Em chào mình.

***
Bài lượn trên NET không rõ nguồn và tác giả.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Bảy, 12 tháng 9, 2015

Cần xóa ngay những dòng chữ "lạ" này để tránh phiền phức về sau!

Chữ Trung Quốc tràn ngập trong các hang động ở Vịnh Hạ Long


11-9-2015
Nhiều chữ được viết bằng mực hoặc sơn nhưng rất khó tẩy xóa do ở cao hoặc mực, sơn đã “chết” vào đá. (Hình: Báo Lao Động)
Nhiều chữ được viết bằng mực hoặc sơn nhưng rất khó tẩy xóa do ở cao
hoặc mực, sơn đã “chết” vào đá. (Hình: Báo Lao Động)
QUẢNG NINH (NV) – Hàng loạt hang động nổi tiếng trên Vịnh Hạ Long như : Thiên Cung, Đầu Gỗ, Sửng Sốt… hiện tràn ngập chữ Trung Quốc được khắc, vẽ ở khắp mọi nơi từ vách đá, những khối đá và cả trên trần hang.
Điều đáng nói là cơ quan quản lý Vịnh Hạ Long lại không biết những chữ trên có từ bao giờ, nội dung gì! Theo báo Lao Động, ngày 10 Tháng Chín, trong hệ thống hang động trên Vịnh Hạ Long, thắng cảnh hang Đầu Gỗ là một trong những điểm thu hút khách tham quan nhiều nhất do tập trung được một quần thể kiến trúc cổ xưa và gắn liền với nhiều sự kiện lịch sử.
Thế nhưng, hiện nay bên cạnh những vần thơ Hán Nôm của vua Khải Định được khắc trên bia đá dựng ngay trong hang Đầu Gỗ từ năm 1918, xuất hiện trên vách đá nhiều dòng chữ viết bằng sơn ngay vách hang mà hầu hết những nhân viên của Ban Quản lý vịnh Hạ Long đều không rõ về lai lịch, thậm chí nghĩa của những dòng chữ Trung Quốc này.
Theo một chuyên gia nghiên cứu văn hóa, những dòng chữ Trung Quốc trong hang Đầu Gỗ có thể do công nhân Trung Quốc viết vào khoảng năm 1998, khi họ sang thực hiện dự án lắp đặt hệ thống chiếu sáng trong một số hang động trên Vịnh Hạ Long.
“Nhiều dòng chữ ở vị trí cực khó, như trên nóc hang cao chót vót, vách hang thẳng đứng. Có lẽ khi họ lắp thiết bị chiếu sáng ở những vị trí đó tiện tay viết luôn, chứ không ai rảnh rỗi hoặc có đủ khả năng trèo lên viết nếu không có máy móc, thiết bị hỗ trợ,” chuyên gia này phỏng đoán.
Tuy nhiên, theo ông Ngô Hùng, nguyên trưởng Ban Quản Lý Vịnh Hạ Long giai đoạn 2002-2011, những dòng chữ Trung Quốc trong hang Đầu Gỗ có trước thời điểm năm 1998.
“Tôi không rõ những chữ đó có từ bao giờ, nhưng theo tôi được biết, từ thời điểm tôi sang làm trưởng Ban Quản Lý Vịnh Hạ Long năm 2002, những chữ đó đã có từ rất lâu rồi,” ông Hùng nói.
Theo các nhân viên quản lý hang, có những chữ khắc sâu vào trong đá, nhưng cũng có những chữ được viết bằng mực hoặc sơn, tuy nhiên rất khó tẩy xóa.
Trao đổi với truyền thông Việt Nam, bà Phạm Thùy Dương, trưởng Ban Quản Lý Vịnh Hạ Long, năm 2013, đơn vị này đã mời các chuyên gia của Viện Địa Chất và Khoáng Sản về giúp, nhưng vẫn không thể tìm được giải pháp hữu hiệu gì để tẩy những chữ đó, vì nhiều chữ khắc rất sâu, lại bôi màu lên.
Một số ý kiến cho rằng, có thể dùng các biện pháp mạnh, như đục, khoan… để xóa chữ nhưng việc này có thể làm ảnh hưởng tiêu cực tới mặt vách đá trong hang động. (Tr.N)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thế giới sẽ ra sao vào năm 2100?

Hiện tại, loài người đã và đang đối mặt với đói nghèo, khan hiếm tài nguyên, đô thị hóa, cùng với những vấn đề thay đổi khí hậu. Cho tới năm 2100, chúng ta liệu có vượt qua được viễn cảnh u tối này không?
Khi dân số thế giới không dừng lại ở con số trên 7 tỉ, chúng ta bất giác hướng tầm nhìn về thế giới những năm sau này. Liên Hợp Quốc đã ước tính số dân sẽ tăng lên thành 10 tỉ trong năm 2100.
1. Năm 2010, mật độ dân số đô thị sẽ là 80%
Quá trình đô thị hóa sẽ tăng manh để đáp ứng nhu cầu sinh sống của 10 ti dân. Những thành phố, hay siêu thành phố sẽ mọc lên như nấm, với sức chứa mỗi thành phố là hơn 20 triệu người.
Bắc Kinh, Delhi, Mexico, Mumbai, Sao Paulo, Thượng Hải có khả năng sẽ trở thành những siêu thành phố sau này.
2. Chỉ còn lại một vài ngôn ngữ sống sốt
Hiện có hơn 7.000 ngôn ngữ được sử dụng. Nhưng chúng đang dần bị biến mất do tiếng Anh ngày càng được sử dụng nhiều hơn trên toàn cầu.
3. 22,3% dân số sẽ thọ ít nhất là 65 tuổi
Từ 7,6% dân, đến năm 2100 sẽ tăng lên 22,3%, và đây sẽ là một cuộc biến chuyển đáng kể. Gánh nặng lên vai thế hệ trẻ vì thế mà sẽ càng nặng nề hơn. Chủ yếu dân số tăng mạnh ở những nước đang phát triển, đặc biệt là ở Châu Phi. Dân số châu lục này sẽ tăng từ 1 tỉ người (năm 2010) đến 3,6 tỉ người vào năm 2100.
Sự chuyển dịch về nhân khẩu học và địa chính trị sau này sẽ là một khía cạnh quan trọng, khi mà hiện tại cứ 1 người châu âu lại tương ứng với 5 người thuộc tiểu vùng sa mạc sahara ở châu Phi.
Dân số những vùng khác thì tăng trường chậm hơn. Dân số Mĩ sẽ tăng từ 311 triệu lên 478 triệu người. Tuổi thọ toàn cầu sẽ vào khoảng 81 tuối.Hiện nay, tuổi thọ trung bình của con người là 68 tuổi.
Tuy vậy, báo cáo của Liên Hợp Quốc không hề đề cập đến khả năng về sự cải thiện tuổi thọ, dựa trên nghiên cứu về công nghệ gen, y học nano, trí thông minh tăng cấp số nhân
Báo cáo cũng không đề cập đến những mối nguy hiểm như dịch bệnh, hay sự đổ bộ của người ngoài hành tinh,
4. Nóng lên toàn cầu dẫn đến khan hiếm lương thực
Đã có 925 triệu người bị đói trên toàn thế giới. Con số này sẽ không dừng lại ở mức đó, khi mà dân số không ngừng tăng mạnh, và tình trạng nóng lên toàn cầu sẽ làm chúng ta khó có thể khắc phục tình trạng này.
Nhiệt độ tăng lên làm rút ngắn mùa sinh trưởng ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, tăng nguy cơ hạn hán, giảm mùa vụ. Điều này đồng nghĩa với việc hàng trăm triệu người sẽ phải đi tìm nguồn thức ăn ở một nơi khác khi nguồn lương thực truyền thống gần cạn kiệt
5. Những rặng san hô, và hệ sinh thái mong manh sẽ tan rã
Cho tới cuối thế khỉ, lượng các bon tăng mạnh do hơn 9000 rặng san hô bị tàn phá.
Ngoài giá trị thẩm mĩ, san hô còn là nơi trú ngự của hàng nghìn loài cá, là thức ăn và là chỗ đẻ trứng của bao loài sinh vật khác.
Khả năng tái sinh của san hô là rất mong manh, vì nhiệt độ và độ axit ở trong nước biển quá cao.
6. Lượng Dầu đốt, khí thiên nhiên, than đá sẽ gần như cạn kiệt
Nguồn năng lượng có hạn cuối cùng thì cũng sẽ cạn kiệt, đặc biệt là với mức tiêu thụ như hiện nay. Một vài nghiên cứu chỉ ra rằng lượng dầu đốt giảm 5% 1 năm sau năm 2040. Khí đốt thậm chí còn giảm mạnh hơn.
Năng lượng hydro và năng lượng thay thế như gió và mặt trời được dự đoán là sẽ được sử dụng nhiều hơn, và trở thành nguồn năng lượng chủ yếu vào năm 2100.
7. Một thị trường lưu động hơn đồng nghĩa với việc thiếu đồng nhất ở những nước như Nhật Bản, Trung Quốc.
Trong Thế giới ngày một toàn cầu hóa sẽ ngày càng có nhiều người mang trí tuệ của mình vượt khỏi biên giới quốc gia để tìm kiếm cơ hội ở những nước khác. Phân hóa sẽ ngày một rõ rệt ở các nước mà đã tồn tại sự thiếu đồng nhất về dân tộc, như tình trạng nhiều người Mĩ đến Châu Á, hay Châu Âu ngày một hòa tan vì hội nhập. Tuy vậy, nơi nào không hội nhập, nơi đó sẽ bị tụt hậu phía sau.
8. Dân số sẽ tăng thêm hơn 5 tỉ người, hay giảm đi 1 tỉ?
Trong báo cáo của Liên Hợp Quốc, ngoài phán đoán về con số 10 tỉ người trong năm 2100, còn có 2 suy đoán khác, mặc dù khả năng xảy ra là thấp hơn. Đó là, hoặc có tới 15,8 tỉ người, hoặc là sẽ chỉ có khoảng 6,2 tỉ.Với 6,2 tỉ người, hành tinh này sẽ dễ thở hơn nhiều, trong khi 15,8 tỉ sẽ là một con số quá lớn.
Chúng ta cần tạo những bước tiến ngoạn mục để kiểm soát dân số nếu chúng ta muốn tồn tại. 10 tỉ người, là hơn cả một sự khủng hoảng mà con người phải đối mặt.
Theo TRÍ THỨC TRẺ

Hình ảnh khủng khiếp về trận 'đại hồng thủy' đang tàn phá Nhật Bản


TPO - Sau bão Etau, mưa lớn đã gây ra lũ lụt nghiêm trọng tại Nhật Bản, sông vỡ đê, phá hủy nhiều nhà cửa, hàng trăm tấn nước nhiễm xạ tràn ra biển và hàng chục nghìn người phải sơ tán.
Trực thăng cứu hộ trong trận lụt ở tỉnh Ibaraki, Nhật Bản gợi nhớ đến đợt sóng thần năm 2011. Ảnh: KyodoTrực thăng cứu hộ trong trận lụt ở tỉnh Ibaraki, Nhật Bản gợi nhớ đến đợt sóng thần năm 2011. Ảnh: Kyodo
Hình ảnh khủng khiếp về trận 'đại hồng thủy' đang tàn phá Nhật Bản - ảnh 1Hình ảnh khủng khiếp về trận 'đại hồng thủy' đang tàn phá Nhật Bản - ảnh 2
Hình ảnh trên truyền hình cho thấy bức tường nước bùn khổng lồ tràn ra khỏi sông Kinugawa ở Igaraki, phía bắc Tokyo, khiến khu vực sinh sống của khoảng 65.000 người chìm trong nước. 
Hình ảnh khủng khiếp về trận 'đại hồng thủy' đang tàn phá Nhật Bản - ảnh 3Hàng trăm ngôi nhà bị ngập, nghiêng ngả hoặc bị cuốn trôi. Các nhân viên cứu hộ phải dùng máy bay trực thăng kéo nhiều người dân mắc kẹt trên các ban công, trong khi dòng lũ bên dưới đe dọa kéo sập nhà dưới chân họ. 
Hình ảnh khủng khiếp về trận 'đại hồng thủy' đang tàn phá Nhật Bản - ảnh 4 Cơ quan Khí tượng Nhật Bản ra cảnh báo đặc biệt đối với tỉnh Tochigi và Ibaraki, phía bắc Tokyo, kêu gọi đề phòng lở đất và lụt. Báo cáo ban đầu xác nhận ít nhất 1 người thiệt mạng, 2 người mất tích, 3 người bị thương nặng và 14 người bị thương nhẹ; khoảng 6.900 ngôi nhà bị hư hỏng vì lũ quét, khoảng 22.000 người bị ảnh hưởng.
Hình ảnh khủng khiếp về trận 'đại hồng thủy' đang tàn phá Nhật Bản - ảnh 5Nhiều khu vực ở tỉnh miền trung Tochigi có lượng mưa gần 60 cm từ tối 7/9. Khoảng 90.000 người dân Tochigi đã được lệnh sơ tán và khoảng 160.000 người được khuyên nên rời khỏi nhà.
Hình ảnh khủng khiếp về trận 'đại hồng thủy' đang tàn phá Nhật Bản - ảnh 6 Trong khi đó, đài NHK cho biết 20.000 người ở tỉnh Ibaraki được lệnh phải sơ tán do lo ngại lũ lụt.
Hình ảnh khủng khiếp về trận 'đại hồng thủy' đang tàn phá Nhật Bản - ảnh 7“Chúng tôi chưa từng thấy mưa lớn như vậy”, chuyên gia khí tượng Takuya Deshimaru cho biết tại cuộc họp báo khẩn. Lũ lụt một phần là hệ quả của trận bão Etau, gây ra gió lớn và mưa to từ khi đổ vào Nhật Bản sáng 9/9. 
Hình ảnh khủng khiếp về trận 'đại hồng thủy' đang tàn phá Nhật Bản - ảnh 8 Lũ lụt cũng khiến hệ thống bơm của nhà máy điện hạt nhân Fukushima quá tải. Hàng trăm tấn nước bẩn đã chảy từ nhà máy hạt nhân Fukushima ra Thái Bình Dương trong nhiều giờ vào sáng sớm qua.
Hình ảnh khủng khiếp về trận 'đại hồng thủy' đang tàn phá Nhật Bản - ảnh 9Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe cho biết chính phủ đang ở mức báo động cao. Một nhóm chuyên trách được lập ra để tập hợp thông tin về tác động của trận lụt, sẵn sàng đối phó với thảm họa.
Hình ảnh khủng khiếp về trận 'đại hồng thủy' đang tàn phá Nhật Bản - ảnh 10
Theo AFP

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Giải mã đạo Phật


Dẫn nhập
Phật giáo là một tôn giáo hay triết lý?
Đó là câu hỏi được giới học giả phương Tây đặt ra khi tiếp cận với đạo Phật. Với sự mặc định tri thức phương Tây luôn vượt trội hơn phương Đông các nhà nghiên cứu Phật học phương Tây sẽ vĩnh viễn không thể chạm đến sự tận cùng, rốt ráo của con đường giác ngộ giải thoát hoàn toàn.
Để có câu trả lời các học giả phương Tây đã thông qua giáo lý, kinh điển đạo Phật cùng việc tiếp cận với các học giả Phật học cũng như các vị hành giả danh tiếng phương Đông nhằm thâm nhập, lĩnh hội giáo lý, pháp hành và giá trị thật sự của đạo Phật. Song việc ra sức nghiên cứu đạo Phật bằng các phương cách trên khó thể chạm đến giá trị cốt lõi, đúng mực vốn có của Tam Tạng giáo điển.
Dẫu rằng Tam Tạng giáo điển vẫn còn vẹn nguyên giá trị chánh pháp. Tuy nhiên, việc “Tam sao, thất bản” trải qua một khoảng thời gian lâu xa truyền giữ nên bản gốc Tam Tạng kinh khó tránh khỏi rơi vào tình cảnh dị bản cùng sự thêm thắt giáo lý của ngoại đạo Bà la môn giáo, Ấn Độ giáo, Lão giáo,… cũng như yếu tố lai căng các tôn giáo bản địa.
Một yếu tố quan trọng khác khiến cho giáo lý Tam Tạng kinh có sự khiếm khuyết so với lời Phật Thích Ca thuyết đó là “Giấy không thể gói được lửa”.
Tại sao tôi lại nói đến yếu tố “Giấy không thể gói được lửa”?
Đây chỉ là một cách nói hàm ngôn. Lửa mà tôi nói với hàm nghĩa lời Phật Thích Ca thuyết là lời nói của bậc Giác giả hoàn toàn; Giấy với hàm nghĩa Tam Tạng giáo điển do người học Phật về sau kết tập. Thực tế là sau khi Phật Thích Ca nhập diệt Tam Tạng giáo điển mới được tựu thành, việc cho ra đời pho Tam Tạng kinh đầu tiên được các vị Tổ Ca Diếp, A Nan cùng các bậc chứng đắc A la hán, đệ tử đời thứ nhất của Phật Thích Ca đúc kết. Cho dù gắng sức hoàn chỉnh pho Tam Tạng kinh nhằm lưu truyền hậu thế nhưng các bậc A la hán Ca Diếp, A Nan,… khó thể kết tập đúng mực, sáng rõ, hoàn hảo những lời Phật Thích Ca từng tuyên thuyết.
Vì sao lại có sự khiếm khuyết, tì vết nơi bộ Tam Tạng kinh được kết tập lần thứ nhất?
Vì lẽ những người ra sức kết tập bộ Tam Tạng kinh lần thứ nhất chỉ là các bậc A la hán. Dẫu rằng Nhị Tổ A Nan là người đa văn, trí nhớ siêu việt lại được sự tiếp sức của Sơ Tổ Ca Diếp, vị Tổ đắc A la hán bằng vào lối tu Tiểu thừa cực đoan khổ hạnh, cùng các vị đồng tu chứng đắc A la hán khác nhưng tin rằng bộ Tam Tạng kinh kết tập được chỉ là phần xác, dù là lời Phật Thích Ca từng thuyết song tin rằng nội dung Tam Tạng kinh đầu tiên ở một mức độ nào đó đã có sự thiếu khuyết phần hồn, sự viên dung, sáng rõ, thông suốt 3 thời của lời Giác giả Thích Ca.
Bởi do lời Phật Thích Ca thuyết là các pháp phương tiện nhằm chỉ bày cho người thoát khổ cũng như việc giải thoát hoàn toàn cho những chúng sinh đã nhàm mỏi việc sinh tử luân hồi. Đây là việc làm có tính khế hợp, tùy duyên, Phật Thích Ca còn được xem là một Bậc đại y vương, do vậy nên tùy căn tánh, trình độ của người cầu pháp mà Phật dùng pháp phương tiện xảo hợp đúng người, đúng bệnh, đúng thời. Pháp của Phật nhằm độ người, độ mình nên là bất định pháp, là pháp bất nhị, là pháp bất khả tư nghì.
Trong khi đó, cái biết của những môn đồ học Phật chỉ là sự góp nhặt, tích lũy với tư kiến, định kiến hạn cuộc, thế nên việc trùng tuyên Tam Tạng kinh của các đời Tổ khó tránh khỏi sự thiếu xót, lỗi lầm.
Ở một mức độ tương đối nhằm diễn đạt về vấn đề khiếm khuyết giới hạn khi tham cứu cũng như kết tập Tam Tạng kinh ở người học Phật là việc này sẽ tựa như việc con vẹt nói tiếng người, tiếng thời giống vậy như nghĩa thời khó thông suốt, cùng tột vì pháp bất định đã trở thành định pháp; pháp bất nhị thù thắng, vi diệu đã rơi vào nhị pháp đối đãi nơi tâm phân biệt, dính mắc của người viết, người đọc, người thuyết, người nghe.
Sự giác ngộ của bậc A la hán so với cái biết của Giác giả có thể xem như là ánh sáng của con đom đóm với ánh sáng của vầng trăng tròn đầy. Vậy nên làm sao Sơ Tổ, Nhị Tổ cùng chư vị A la hán có thể trình bày toàn bích, trọn vẹn những lời Giác giả Thích Ca thuyết đúng theo tâm Phật?
Việc kết tập kinh điển Tam Tạng ngày nào có chút nét tương đồng với việc các nghiên cứu sinh, sinh viên đại học ngày nay góp nhặt, sao chép lại tài liệu của các vị Tiến sĩ, Bác học thực học, thực nghiệm.
Phải chăng sự hiểu biết của các sinh viên, Nghiên cứu sinh sẽ tự có sự giới hạn cùng với ít nhiều sai lạc tri thức so với kiến thức của Tiền nhân có sự thực nghiệm đúng mực?
Về sau khi những vị Tổ lần lượt nhập niết bàn thì Tam Tạng kinh lại được trải qua vài lần kết tập bổ khuyết. Bản gốc Tam Tạng kinh đầu tiên do các bậc A la hán kết tập vốn đã chứa đựng sự thiếu sót lại trải qua thêm vài lần hiệu chỉnh bởi các vị học Phật đã xa thời Chánh pháp, do vậy nên giáo lý đạo Phật về sau thì càng bổ sẽ càng khuyết, càng mất dần hay nói đúng hơn là càng nhạt nhòa giá trị đúng mực nguyên thủy.
Tất nhiên là không hẳn việc kết tập lại Tam Tạng kinh không mang lại chút giá trị đúng mực nào song qua mỗi lần kết tập thì giáo lý Tam Tạng kinh sẽ có sự len lõi ít nhiều giáo lý của ngoại đạo tiêm nhiễm vào bản gốc, nguyên nhân là do sự vô minh của người học Phật mà ra sự bổ khuyết sai lầm.
Về sau, Tam Tạng kinh được dịch giải ra nhiều thứ tiếng và được người học Phật diễn giải bằng vào sự hiểu biết cá nhân, việc làm này quả thật là khó tránh khỏi tính chủ quan, biên kiến, phiến diện; học giả dịch giải khác, hành giả diễn nghĩa khác.
Thời may yếu tố giác ngộ giải thoát hoàn toàn nơi Tam Tạng kinh đã không bị lược giải hoàn toàn, Tam Tạng kinh một khi hãy còn cụm từ giác ngộ giải thoát hoàn toàn thì giá trị chánh pháp của đạo Phật hãy còn vẹn nguyên.
Sự giác ngộ giải thoát hoàn toàn của chánh pháp tựa như là đốm lửa nhỏ giữa đống tàn tro khi đủ duyên thì ngọn lửa chánh pháp sẽ bùng cháy sáng rỡ soi sáng, đẩy lùi sự vô minh, tăm tối nơi tri thức nhân loại.
Tương tự như việc “Giấy không gói được lửa” ở pho Tam Tạng giáo điển việc hỏi đáp, chia sẻ thông tin giữa các nhà nghiên cứu phương Tây với giới học giả, hành giả phương Đông cũng chỉ là việc làm kém đúng mực, khách quan. Đây quả thật lại là việc làm khó tránh khỏi sự thiếu xót, sai lầm.
Học giả Phật học và hành giả phương Đông nào phải đâu là Giác giả.
- Học giả phương Đông cũng chỉ là những người mò mẫm giá trị Tam Tạng kinh qua ngôn từ, giáo lý với cả một bầu tri thức có phần tự phụ hiểu biết hơn người cùng nỗi hoài nghi về sự tồn tại của con đường thoát khỏi hoàn toàn khỏi quy luật sinh tử luân hồi. Việc “cởi ngựa xem hoa” ở giới học giả phương Đông hiển nhiên chỉ có thể chạm đến góc nhìn hiện tượng, thật không thể chạm đến bản chất tinh hoa của đạo Phật.
- Hành giả phương Đông, những người học và hành trì theo giáo lý đạo Phật hãy còn là những người học Phật ở trong lưới vô minh. Thế nên sự hiểu biết của họ cũng không dễ chạm đến sự đúng mực, sáng rõ của đạo Phật. Dẫu rằng sau những nỗ lực hành trì miên mật cùng với  yếu tố duyên đã có một vài vị hành giả chân tu đạt được sự tỏ ngộ nhưng sự chứng ngộ tiểu phần về sự giác ngộ giải thoát hoàn toàn đó hãy còn kém xa cái biết cùng tột của một bậc Giác giả.
Vậy nên dù các học giả phương Tây, phương Đông cùng các hành giả danh tiếng có cùng ngồi lại trao đổi chia sẻ sự hiểu biết về đạo Phật một cách thẳng thắn, chân thành, khách quan, cởi mở thì việc làm đó nào khác gì việc làm của những gã mù sờ voi. Hơn nữa, đã có bao giờ hai nền tri thức Đông Tây thật sự cùng nhau trao đổi một cách chân thành, không vụ lợi, không giữ kẽ, không giam mình trong định kiến hơn người. Dường như… có vẻ là điều đó chưa bao giờ xảy ra khi con người còn trong sự vô minh, cái biết không sáng rõ, đúng mực. Người phương Tây, người phương Đông mà nhất là các vị học giả, các nhà nghiên cứu Phật học thật chẳng thể rũ bỏ, đặt xuống cái biết giới hạn của tư kiến cá nhân nên việc tham cứu, điều nghiên Tam Tạng kinh khó mong chạm đến sự tinh hoa, cùng tột. Đây chỉ việc làm thiển cận, ấu trĩ và mông muội của các bậc trí giả, hành giả khi nhân loại tựa nơi góc nhìn tổng thể, khách quan nhận diện, xét lại vấn đề.
Đạo Phật không là một loại hình tôn giáo và cũng không là một hệ thống trường phái triết học.
Giáo lý chánh pháp mà Phật Thích Ca trao truyền nơi nhân loại thật sự không phải là một hệ thống triết lý suy lường, phán đoán theo đường lối triết học cổ đại phương Tây. Con đường giác ngộ giải thoát hoàn toàn là kết quả của một công trình thâm nhập, quán chiếu đến cùng lý, tận tánh bản thể vạn pháp gồm vũ trụ, sự sống, cái chết của mỗi loài và cả muôn loài hay nói cách khác đó là kết quả của một sự thực chứng giác ngộ tổng thể, toàn diện. Đó là sự hiểu biết không có sự giới hạn bởi tư duy, nhận thức chủ quan, cục bộ, cực đoan.
Thế nên, ngày nay con người, các học giả, những nhà nghiên cứu Phật học Đông Tây dùng cái biết nơi trí năng giới hạn hãy còn chưa tỏ tường gốc ngọn vạn pháp để đánh giá Tam Tạng kinh hiển nhiên là một việc làm ngớ ngẩn, ấu trĩ, mê lầm. Việc xem giáo lý đạo Phật như là một loại hình tôn giáo hoặc một hệ thống triết lý rồi dùng tư tưởng, tri kiến ở các trường pháp triết học cổ đại, hiện đại Đông Tây như là một lăng kính đối chiếu, thẩm định, đánh giá giá trị của giáo lý đạo giác ngộ giải thoát đã làm sai lạc giá trị thường tại thật có ở những lời Phật Thích Ca từng nói. Việc làm chứa yếu tố chủ quan, sai lầm của giới học giả Đông Tây đã làm lu mờ, nhòa nhạt sự sáng rõ, đúng mực, khách quan về nguồn tri thức ẩn tàng nơi Tam Tạng kinh, việc làm ấu trĩ, thiển cận đó cũng đã góp phần gây ra sự khuất lối con đường giác ngộ giải thoát hoàn toàn khỏi sinh tử luân hồi có thật nơi nhân loại.
Giáo lý chánh pháp Phật Thích Ca trao truyền vốn không nhằm vào việc tạo dựng nên một hệ thống tôn giáo mới trong lòng nhân loại. Nơi giáo lý chánh pháp là một chuỗi các pháp phương tiện giúp người thoát khổ, hướng dẫn chỉ bày con người cách thức vượt khỏi quy luật sinh tử luân hồi quẩn quanh. Thế nên với những giá trị cốt lõi, then chốt có nơi giáo lý chánh pháp thì nơi nào có khổ đau, có chúng sinh nhàm mỏi việc sinh tử thì giáo lý đạo giác ngộ giải thoát sẽ cần đến và rất đắc dụng.
Khổ não, muộn phiền do Tham sân si mạn nghi phải chăng trải đều, rộng khắp trong nhân loại từ xưa đến nay và mai sau?

Với tính logic biện chứng thì rõ thật giáo lý chánh pháp có nơi lời Phật Thích Ca là giành cho toàn nhân loại chứ nào phải của riêng người học Phật. Việc nhốt giáo lý chánh pháp vào đạo Phật, vào tôn giáo để rồi về sau nhân loại sinh khởi định kiến suy lường về mục đích, giới hạn chia chẻ giáo lý chánh pháp là sai lầm của tri thức nhân loại (nói chung) và người học Phật vô minh (nói riêng).

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tư liệu về Văn Cao:


BÀI THƠ VỀ CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT CỦA VĂN CAO
(Không có trong trong triển lãm CCRĐ)
NTT: Bảo tàng lịch sử quốc gia VN vừa trưng bày triển lãm về "Cải cách ruộng đất 1946-1956", để chứng minh là cuộc cải cách đúng đắn vì "dân cày có ruộng". Bây giờ hàng triệu dân cày đâu còn ruộng nữa, thì sao? Thật trớ trêu cho câu chuyện đang cố vùi đi, lại bới lên như một niềm tự hào?
Tôi đã được Nhà thơ-Nhạc sĩ Văn Cao cho công bố bài thơ về Cải cách ruộng đất của ông, "Đồng chí của tôi", như một bi kịch mà ông giữ mãi trong sổ tay cho đến khi từ biệt cõi đời...
Giữa quá nhiều bất trắc cuộc đời, tiếng thơ Văn Cao chẳng bao giờ đổi giọng. Chữ nghĩa của ông như được viết ra từ ngòi bút kim cương chứ không phải bút lông bút sắt. Và khi tiến hành chọn bản thảo tập thơ Lá, Văn Cao rất vui lòng ủy thác cho Nguyễn Thụy Kha, Thanh Thảo và tôi tuyển chọn. Hầu như ông hoàn toàn yên tâm về việc đó. Ông nói: “Ba thằng mày bảo được là được!”. Dù là trong thời kì “đổi mới” rất mạnh mẽ, chúng tôi vẫn thấy ông có một bài thơ mà nhà xuất bản khó lòng chấp nhận, đấy là bài Đồng chí của tôi viết năm cải cách ruộng đất (1956). Bài thơ tràn đầy lòng tin vào chủ nghĩa xã hội mà cảnh tỉnh những sai lầm của hiện tại, nó là tiếng lòng thống thiết của người cộng sản bị xử bắn oan gửi tới các đồng chí của mình. Không trung thực với Đảng, không có lòng can đảm của một đảng viên, không chan chứa một trái tim nhân đạo… không thể viết được một bài thơ rớm máu như thế. Nhưng 30 năm và hơn thế nữa, nó vẫn chỉ là bài thơ của riêng ông. Chúng tôi biết điều đó, và đề nghị ông “để lại”, ông đồng ý ngay. Đầu năm 1995, tôi nhắc lại với ông bài thơ ấy, và thấy đã đến “thời” bài thơ có thể in được rồi, nhưng ông nói sau khi nhấp một ngụm rượu: “Thôi, cứ để sau khi mình chết rồi in cũng chưa muộn”. Ngày ông qua đời, tôi bỗng mở sổ tay xem lại bài thơ ấy, và tôi đã khóc.
*
ĐỒNG CHÍ CỦA TÔI
Người ta các đồng chí của tôi
Treo tôi lên một cái cây
Đợi một loạt đạn nổ
Tôi sẽ dẫy như một con nai con
Ở đầu sợi dây
Giống như một nữ đồng chí
Một anh hùng của Hà Tĩnh
Tôi sẽ phải kêu lên
Như mọi chiến sĩ bị địch bắn
Đảng Lao động Việt Nam muôn năm
Cho mọi người hiểu khi tôi chết
Vẫn còn là một đảng viên
Cho mọi người hiểu khi tôi chết
Máu của tôi vẫn còn là máu của Việt Nam
Ở dưới gốc cây có các cụ già các bà mẹ
đã nuôi cách mạng
Các em nhỏ từ ba tuổi đứng nhìn tôi
dẫy chết
Có mẹ tôi
Ba lần mang cơm đến nhà tù
Hãy quay mặt đi
Cho các đồng chí bắn tôi
Tôi sợ các cụ già không sống được
Bao năm nữa
Để nhìn thấy xã hội chủ nghĩa
Của chúng ta.
Chết đi mang theo hình đứa con
Bị bắn
Tôi sợ các em còn nhỏ quá
Sẽ nhớ đến bao giờ
Đến bao giờ các em hết nhớ
Hình ảnh tôi bị treo trên cây
Bị bắn
Hãy quay mặt đi
Cho các đồng chí bắn tôi…
Nước mắt lúc này vì Đảng nhỏ xuống
Dòng máu lúc này vì Đảng nhỏ xuống
Đảng Lao động Việt Nam muôn năm
Đảng Lao động…
(1956)
Ảnh: Văn Cao của Nguyễn Đình Toán

Phần nhận xét hiển thị trên trang