Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Năm, 10 tháng 9, 2015

hiệp sĩ nguyễn bắc sơn


                                          thơ   vương tân




              Bi kịch của chúng ta 
              Là mơ làm hiệp sĩ
              Cứu khôn với phò nguy
              Tả xung rồi hữu đột
              Cứ tưởng mình ghê gớm
              Cuối cùng mệt phờ râu
              Lăn ra cười bò càng
              Mình làm hề bố láo
              Bi kịch của chúng ta
              Là thay trời hành đạo
              Và luôn luôn cao ngạo
              Với vai trò hiệp sĩ
              Đã vung gươm chém càn
              Lấy máu diệt yêu ma
              Yêu ma đâu chẳng thấy
              Bạo lực mãi tràn lan
              Bi kịch cứ liên hồi
              Cuộc đời buồn quá lắm
              Hãy cho nhà thơ sống
              Như một người bình thường

              Đã yêu vì được khóc
              Được uống rượu say khướt
              Và được được cười điên khùng
              Rồi nhún vai lắc đầu
              Đời đâu cần gì ta
              Ta sống chỉ chặt đất
              Nhưng ta cứ phải sống
              Để ngông nghênh với vợ
              Để khóc cười thoải mái
              Để rỡn chơi chửi thề
              Chửi thề ta ngu quá
              Sâu bọ đòi làm người.

                 VƯƠNG TÂN
                

Phần nhận xét hiển thị trên trang

về lại vũng tàu... thăm ngôi nhà xuân sách xây 'granitô' , đã thay chủ mới (?) / bài viết: xuân ba / báo tiền phong , thứ sáu 11/9/2015)

về lại vũng tàu ... / xuân ba

báo tiền phong (hà nội) 


           về li vũng tàu ...
      thăngôi nhà xuâsách xây'granitô' 
      đã thay ch m(?)
                                                      bài viết: xuân ba 

                                                  NGHÌN NĂM VỀ TRƯỚC TA CHẢ CÓ
                                                                               NGHÌN VỀ SAU CŨNG CHẲNG CÓ TA ...
                                                             thơ trần tử ngang


   Về lại Vũng tàu không biết lần thứ mấy.  Vẫn biển ấy, vũng ấy, điểm binh trong số người quen; cứ thấy chông chênh, hình như đang thiếu một người. Thiếu và vắng biệt; hẳn, chẳng bao giờ có thể gặp. 

     Người anh đồng hương Xuân Sách ấy đã biệt hẳn với Vũng tàu, sau hơn chục năm tá túc -- mà về nằm lại cố hương, xứ Thanh.

    Nhà thơ Lê huy Mậu (chung với Nguyễn trọng Tạo ca khúc Sông quê) năm ấy rì- rì xe máy; đưa tôi [Xuân Ba] đến thăm ngôi nhà xây 'granitô'-- xây, hồi mà Xuân Sách quyết tâm châm dứt giai đoạn lê thê, hằng sống của một gia cảnh chua chát nhiều hơn ngọt -- mà dấn thân sang địa hạt chất lượng sống -- dám ràng buộc đời mình với một người đàn bà viết truyện thiếu nhi; nhưng không cho Xuân Sách một đứa trẻ nào.  Nhưng nào hề chi!  Hình như những năm cuối; chất lượng sống ấy, người ấy từng chia sẻ với Xuân Sách nhiều thứ : thuộc địa hạt chữ nghĩa, viết lách.

  Ngôi nhà cũ kỹ này từng tấp nập bạn bè vô ra; năm Xuân Sách gặp hên, lẫn gặp họa; khi cho xuất bản 'Chân dung nhà văn'. 

  ... Cũng cách bài trí như hơn 20 năm trước tôi ghé  --mà, hình như có xuống cấp hơn.(?)  Vẫn bức ký họa của ông bạn già.  Bức ấy, chép bài thơ Trần tử Ngang :

                                              Nghìn năm trước chả có ta
                                              Nghìn năm sau cũng chả có ta
                                              Nghĩ trời đất vô cùng
                                              Một mình rưng rưng lệ ...
                                                     thơ TRẦN TỬ NGANG

    Mới rồi về Vũng tàu, tôi [Xuân Ba] ghé cái nhà 'granito' ấy; thì đã có chủ mới. (?)  Bà vợ Xuân Sách, nghe đâu đã về Sài gòn với người thân.

  Anh Xuân Sách nghìn năm trước sau, mà chi -- giờ; chỉ có mình kẻ này [Xuân Ba]đang ngơ ngẩn, lẩn thẩn ngóng vọng về đất Bắc, xứ Thanh [hóa] với niềm tin mong manh-- địa hạt viết lách, chữ nghĩa nước Nam mình : đã, đang; và, còn nhắc dài dài chân dung Xuân Sách.


                                                               ***

 ... Xin trở lại cái vật; có lẽ, Bảo tàng văn học Việt nam chưa kịp bổ sung.(?) Vậy ấy là: lá đơn.. có chữ ký của 41 nhà văn :

     Hà nội, ngày 12/5/1992

     Kính gửi:  Ban Tư tưởng văn hoá Trung ương- bộ Văn hóa, Thông tin, Thể thao-  ban chấp hành Hội Nhà văn Việt nam,

     Chúng tôi, những nhà văn ký dưới đây; xin bày tỏ sự bất bình về cuốn 'Chân dung nhà văn' (dưới đây xin gọi tắt CDNV) của Xuân Sách, do nhà xuất bản Văn học ấn hành.  Những bài thơ gọi là CDNV của Xuân Sách, đã lộ rõ tâm địa và dụng ý xấu xa của người viết; và, sự thiếu trách nhiệm của nhà xuất bản [Nxb.]
    CDNV không nêu tên người; nhưng, Xuân Sách đã lấy tên tác phẩm để miêu tả; thì, chẳng khác gì gọi tên người ta ra.  Dưới con mắt của Xuân Sách, CDNV Việt nam trở nên méo mó, dị dạng.  Cố nhiên; Xuân Sách cũng tỏ ra xu phụ, nịnh bợ một số người.
     Bằng giọng thơ châm chọc, giễu cợt; bằng thái độ cao ngạo, răn dạy kẻ khác, kích động kẻ khác; Xuân Sách đã mượn cách tả chân dung, để : 
     - bôi nhọ, phỉ báng; thậm chí vu khống đối với nhiều nhà văn, kể cả những nhà văn đáng kính đã quá cố.
     - xuyên tạc, lăng mạ đời tư các nhà văn một cách vô trách nhiệm; đặc biệt là các nhà văn nữ; gây những hậu quả cực kỳ xấu xa, đối với họ.
     - với vị trí văn học hạn chế của mình, Xuân Sách đã miệt thị tài năng; và, thành tựu văn học của đồng nghiệp.
     - qua cách đánh giá thiên lệch của mình; Xuân Sách đã gây không khí bất lợi cho sự đoàn kết nội bộ của Hội [Nhà văn Việt nam.]
      Chúng tôi coi đây là một vết xấu trong sinh hoạt văn hoá của chúng ta; đặc biệt là trong quản lý xuất bản.
      Chúng tôi kiến nghị:
     1- xem xét lại trách nhiệm của người cấp phép xuất bản, của giám đốc Nxb Văn học; và, các biên tập viên, đã cho in cuốn sách [Chân dung nhà văn.]
     2- phải có biện pháp thực sự thu hồi; và hủy bỏ cuốn sách [Chân dung nhà văn.]
     3- Ban chấp hành Hội Nhà văn [VN] xem xét tư cách nhà văn của Xuân Sách -- và, có kỷ luật thích đáng; chiếu theo điều lệ của Hội [Nhà văn VN] -- vì, đã xúc phạm nhân cách, gây mất đoàn kết nội bộ.  Kỷ luật cần được thông báo cho toàn thể hội viên biết.
     Ngoài các cơ quan hữu trách; chúng tôi còn gửi bản kiến nghị này đến những nơi cần thiết:
     - Cục Xuất bản -  bộ Văn hóa, Thể thao, Thông tin .
     - Nxb Văn học
     - Tỉnh ủy Ủy ban nhân dân tỉnh Bà-rịa- Vũng tàu

     - Hội Văn nghệ Bà -rịa- Vũng tàu.

      Kèm theo là tên và chữ ký của các nhà văn kiến nghị.
     Trong 'Di cảo/ Xuân Sách' ; tôi [Xuân Ba] thấy ông ghi: ' trong số 41 người ký tên; có 26 nhà văn không có chân dung trong tập thơ [Chân dung nhà văn.]
     Gay gắt hơn; một nhà văn có đơn [riêng], gửi giám đốc Nxb Văn học -- khi đó là nhà thơ Lữ huy Nguyên.

     Văn bản dài, xin trích lại:
      " ... Các anh chắc không thấy rằng xuất bản cuốn sách bẩn thỉu ấy; các anh đã vô tình cung cấp cho các phần tử chống Cộng, những vũ khí lợi hại chĩa vào Đảng và nhân dân ta. Tất nhiên; đội ngũ nhà văn chúng ta phải đón nhận những'cú' đánh đầu tiên.  Vậy thì; nó không còn phụ thuộc phạm vi văn học nữa rồi . (...) 

     Ban Kiểm tra Hội [Nhà văn VN] đã thu thập tài liệu, thu thập dư luận.  Trưởng và Phó ban Kiểm tra Hội; đã có ý kiến.  Như sau:
     1- Trong văn học, những ý kiến đánh giá sự nghiệp, tác phẩm, tính cách, cuộc đời của nhà văn đối với nhau; là, việc làm bình thường, kể cả việc sử dụng các thể loại, từ chính luận đến biếm họa.
     Nhà văn Xuân Sách như mọi người; có cái quyền mô tả chân dung nhà văn, bằng thể loại do tác giả lựa chọn -- và, những tác phẩm ấy cũng phải chịu sự thử thách của thời gian và bạn đọc.
    Tuy nhiên từ xưa đến nay; những thể loại bình luận đánh giá, dưới hình thức giai
 thoại : thơ chân dung, chơi chữ, châm biếm; thường chỉ được lưu hành, dưới hình thức truyền miệng -- và, được sàng lọc dần dần.  Cái gì hay, phản ánh đúng bản chất của sự vật thì còn lại.  Điều này đã thành  tập quán trong lịch sử nước ta. 
    Trên thế giới, thì lại khác; ở những nước phát triển, việc biếm họa chân dung; từ nhà văn đến chính khách là việc bình thường.  (...)
    Rõ ràng tác giả  và nhà xuất bản đã rất thận trong trong việc cho ấn hành cuốn 'Chân dung nhà văn'.
    Cái hại; do thực tế khách quan, [là] việc ấn hành cuốn sách trên; đã gây tai tiếng không đáng có cho một số nhà văn, gây nghi ngờ phần nào đối với cả một loạt tác phẩm --và, thậm chí cả một nền văn học, gắn với một thời lỳ cách mạng vẻ vang của dân tộc.(...)
    Vi những lý do trên; chúng tôi cho rằng cuốn sách[Chân dung nhà văn] không đến mức có tác hại chính trị.
    Chúng tôi đã xử lý, như sau:
   Ban chấp hành Hội [Nhà văn Việt nam] có ý kiến với Bộ [Văn hóa, Thông tin, Thể thao]:
   -  phê bình sự thiếu thận trọng của Nxb, có ý kiến phê bình các hội viên phụ trách nhà xuất bản.  Việc đồng chí giám đốc Nxb gửi thư xin lỗi với tất cả nhà văn, là cần thiết.
   -  riêng đối với anh Xuân Sách, BCH gửi một thư phê bình: cho việc in tác phẩm này là có hại; yêu cầu tác giả lắng nghe ý kiến phẫn nộ của một số đồng nghiệp; và, nên tỏ thái độ đúng đắn với họ.
   -  đề nghị các hội viên không nên đưa việc này ra thảo luận công khai, thu hút sự chú ý của quần chúng: có hại nhiều hơn có lợi.

    Trưởng ban Kiểm tra,
    xuân cang
    ( VIẾT DỊP ĐẠI HỘI NHÀ VĂN LẦN THỨ 9/
     HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM)

                                              ( rút trong tập DI CẢO/ XUÂN SÁCH)

                                        xuân sách [i.e. ngô xuân sách 4/7/1932 -- 2/6/2008)
                                            (ảnh: in kèm theo bài viết của Xuân Ba)
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Lăng Nguyễn Bá Thanh, và cây Nguyễn Bá Thanh

Cây thì xem lại ở đây.




( Cây này xưa vua chúa cho dùng làm đũa ăn, khi có độc đầu đũa sẽ đen lại )

Ở dưới là lăng Nguyễn Bá Thanh (tên đầy đủ là khu lưu niệm Nguyễn Bá Thanh).

---


Ngắm khu lưu niệm ông Nguyễn Bá Thanh trước giờ mở cửa



10/09/2015 16:22

(NLĐO) – Ngoài phòng trưng bày tư liệu về cuộc đời và sự nghiệp, khu lưu niệm còn lưu giữ những kỷ vật, bài thơ, bài hát mà người dân TP Đà Nẵng viết tặng ông Nguyễn Bá Thanh khi ông qua đời.

Khu lưu niệm về ông Nguyễn Bá Thanh đang được xây dựng trong khuôn viên nghĩa trang gia tộc ở xã Hòa Tiến, huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng.
Nơi đây sẽ là chỗ để người dân có thể viếng thăm, xem những hình ảnh, tư liệu quý về ông.
Khu lưu niệm được thiết kế có cổng chào, hồ nước và thảm cỏ… Đặc biệt, bên trong khuôn viên khu lưu niệm có xây dựng nhà ba gian bằng gỗ để trưng bày hình ảnh, tư liệu về ông Nguyễn Bá Thanh từ thời kỳ bắt đầu hoạt động cách mạng cho đến khi đảm nhiệm chức vụ Trưởng ban Nội chính Trung ương.
Ngoài ra, tại đây cũng sẽ trưng bày những kỷ vật, bài thơ, bài hát mà người dân TP Đà Nẵng viết tặng ông Thanh khi ông qua đời.
Theo một người quản lý tại nghĩa trang gia tộc này thì kinh phí xây dựng khu lưu niệm do gia đình ông Thanh bỏ ra nhằm để người dân đến viếng thăm có thể tìm hiểu rõ hơn về cuộc đời, sự nghiệp của ông.
Khu lưu niệm này khởi công xây dựng cách đây khoảng một tháng trên diện tích đất khoảng 1.000m2, đang trong giai đoạn hoàn thiện để mở cửa đón tiếp những người quý mến ông Nguyễn Bá Thanh - một người có đóng góp quan trọng cho sự phát triển của đô thị Đà Nẵng ngày nay.
Cổng dẫn vào khu lưu niệm ông Nguyễn Bá Thanh nằm bên trong khuôn viên nghĩa trang gia tộc ở xã Hòa Tiến, huyện Hòa Vang
Cổng dẫn vào khu lưu niệm ông Nguyễn Bá Thanh nằm bên trong khuôn viên nghĩa trang gia tộc ở xã Hòa Tiến, huyện Hòa Vang
 
Thợ xây đang tô lại bức tường bọc bên ngoài khu lưu niệm xây bằng đá tổ ong
Thợ xây đang tô lại bức tường bọc bên ngoài khu lưu niệm được làm bằng đá tổ ong
 
Kiến trúc nhà ba gia cổ kính bên trong khu lưu niệm sẽ là nơi trưng bày hình ảnh, tư liệu về cuộc đời và sự nghiệp của ông
Kiến trúc nhà ba gian cổ kính bên trong khu lưu niệm sẽ là nơi trưng bày hình ảnh, tư liệu về cuộc đời và sự nghiệp của ông Nguyễn Bá Thanh
 
Nhà ba gia này được xây dựng hoàn toàn bằng gỗ và lát gạch
Nhà ba gian này được xây dựng hoàn toàn bằng gỗ và lát gạch
 
Công trình khu lưu niệm này được xây dựng cách đây khoảng một tháng và đang trong giai đoạn hoàn thiện
Công trình khu lưu niệm này được xây dựng cách đây khoảng một tháng và đang trong giai đoạn hoàn thiện
 
Bên cạnh phần mộ của ông Thanh là hồ nước với cây cối và thảm cỏ xung quanh
Sát bên phần mộ của ông Thanh là hồ nước với cây cối và thảm cỏ xung quanh
 
Theo các thợ xây thì tấm bia này sẽ là nơi khắc lên những bài thơ do chính ông Thanh sáng tác
Theo các thợ xây thì tấm bia này sẽ là nơi khắc lên những bài thơ do chính ông Thanh sáng tác
 
Mộ phần ông Nguyễn Bá Thanh nằm bên trong khu lưu niệm
Mộ phần ông Nguyễn Bá Thanh nằm bên trong khu lưu niệm
Tin-ảnh: B.Vân

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Về hưu nói hay (2)



Trương Duy Nhất

Ông Vũ Ngọc Hoàng, Phó trưởng ban thường trực Ban Tuyên giáo trung ương.


Trước hết, mời bấm đọc hai bài của ông Vũ Ngọc Hoàng, Phó trưởng ban thường trực Ban Tuyên giáo trung ương: “Nếu không đổi mới, Việt Nam có nguy cơ tụt hậu xa hơn nữa” và “Lợi ích nhóm và chủ nghĩa tư bản thân hữu“.
* * *Tôi biết ông. Đã từng nhiều lần phỏng vấn, chất vấn, thậm chí… tra kích ông. Công bằng thì Vũ Ngọc Hoàng là nhân vật có tư duy. Ông sẽ được việc nếu được trọng dụng. Tiếc là từ khi rời ghế Bí thư Quảng Nam ra Ba Đình suốt hai nhiệm kỳ qua, ông toàn bị ném vào những chỗ không thực quyền, có cũng như không, chẳng vai trò gì. Trong khi những tay ất ơ dưới trướng và dưới tầm ông đứa nào đứa nấy lần lượt vượt mặt.
Đã có thời cùng lúc hai chiếc ghế được kê sẵn mời ông chọn: Phó Chủ tịch nước hoặc Bộ trưởng Kế hoạch đầu tư. Nhưng gần sát lại bị gạt lui vì… lý do sức khoẻ (ông từng bị một cơn tai biến nặng tưởng đi khi đương nhiệm Bí thư Quảng Nam). Từ đó, mỗi bận soạn bàn chuyện cất nhắc ông, cánh đàn em lại lôi “chuyện sức khoẻ” này.
Một nhân vật có thời tưởng như dành cất cho ngôi vị tứ trụ, hơn 10 năm qua bỗng mờ nhạt chìm khuất đến mức chẳng ai còn nhớ, biết ông là ai, làm gì.
Mấy tháng gần đây (chỉ vài tháng thôi) đột nhiên ông… trỗi dậy! Những bài viết, những phát ngôn gây cả sự chú ý lưu tâm của các hãng truyền thông quốc tế.
Ông viết, ông nói, ông phán khi biết chắc chỉ còn vài tháng nữa thôi sẽ giã từ Ba Đình về lại Quảng Nam “vui thú điền viên”.
Cũng như lúc Chủ tịch quốc hội Nguyễn Văn An mới nghỉ hưu. Cũng như ông Vũ Quốc Hùng cựu Phó chủ nhiệm thường trực Uỷ ban kiểm tra trung ương hiện đang rất hăng trên các trang báo. Cũng như ông Phạm Thế Duyệt, cựu Thường trực Bộ Chính trị, cựu Chủ tịch Uỷ ban trung ương Mặt trận.
Họ chỉ dám mở mồm khi cầm chắc trong tay cái… quyết định hưu.
Nhiều khi, trong rất nhiều sự thể chỉ cần một tiếng nói, một ai đó trong hàng ngũ họ lên tiếng. Tôi kỳ vọng và chờ mong nhiều ở sự lên tiếng của một ai đó trong lớp thượng tầng ấy. Nhưng tất cả câm lặng. Có kê xà beng nạy mồm cũng chịu.
Họ chỉ mở mồm, chỉ lên tiếng, thậm chí rất hay khi đã hưu, khi tiếng nói của họ chẳng còn chút gram nào.
Ấy là cái bệnh về hưu nói hay.
Tôi thích cách nghĩ của ông Bường (Nguyễn Bường, cựu Chủ tịch tỉnh Quảng Trị – bấm đọc lại bài: Ông Bường và những huyền thoại nhậu). Hỏi hưu rồi ông có… tham gia gì với địa phương? Ông cười: nghỉ rồi để yên cho lớp trẻ nó làm, ý kiến ý cò mần chi. Mà hưu rồi nói ai thèm nghe. Lúc đương chức mình cũng vậy, có thèm nghe ai nói đâu. Giả vờ nghe nhưng bỏ ngoài tai hết. Vậy nên giờ nói làm gì. Không ích gì mà chúng thêm ghét. Vui với cháu con, viết sách hay đi nhậu cho khoẻ!
Tôi đặt bài này là “Về hưu nói hay 2” bởi đã có một bài về hưu nói hay từ rất lâu rồi.
– Bấm đọc lại bài viết cũ: Về hưu nói hay (1).
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Cái gì cũng phải trả giá, đâu có cho không?


Tiết lộ mức tiền mời Bill Clinton đến Việt Nam

Mời các chính trị gia hay các doanh nhân hàng đầu thế giới đến Việt Nam, hóa ra cũng không khác biệt nhiều so với việc mời một người mẫu hay diễn viên nổi tiếng.
Cựu Tổng thống Mỹ, Bill Clinton từ sau khi về hưu vẫn luôn nổi tiếng nhờ tài “hái ra tiền” của mình: Đi khắp nơi trên thế giới trong vai trò diễn giả chuyên nghiệp. Một thống kê nhỏ cho thấy, chỉ trong vòng 5 tháng từ tháng 1/2014 đến tháng 5/2014, vợ chồng nhà Clinton đã bỏ túi 25 triệu USD thông qua 104 bài diễn thuyết. Trong khi vợ ông, Hillary Clinton đang bận bịu tại Nhà Trắng, Bill Clinton vẫn đang miệt mài kiếm tiền nhờ tài lẻ của mình.
Để bỏ túi hàng trăm nghìn USD tiền công như vậy, Bill Clinton phải nằm trong nhóm A Class – nhóm diễn giả hạng A với thành phần là những tỉ phú hàng đầu thế giới, hay những chính trị gia (như cựu Tổng thống Mỹ) có tầm ảnh hưởng và triết lý được đông đảo mọi người biết tới.
Để mời được những người này, các đơn vị không thể mời trực tiếp mà nhất thiết phải qua một người hay công ty đại diện cho họ.
“Về cơ bản, nó cũng giống như ca sĩ và bầu sô”, ông Nguyễn Quốc Trung, CEO của M.O.V.E, đơn vị mời Richard Branson về Việt Nam cho biết. “Một chương trình giải trí hay hội thảo về bản chất giống nhau trong cách tổ chức”.
diễn viên nổi tiếng, cựu tổng thống Mỹ, hái ra tiền, chương trình giải trí, tổ chức hội thảo, tổng thống mỹ, người đại diện, Cựu Tổng thống, chính trị gia, tổ chức sự kiện, cựu-tổng-thống, Việt-Nam, Bill-Clinton, Donald-Trump, tỷ-phú, nổi-tiếng
Giả sử, các công ty ở Việt Nam cần tổ chức hội thảo và tìm diễn giả, họ sẽ tìm một đơn vị trung gian tại Việt Nam. Công ty này có nhiệm vụ liên kết với công ty đại diện của diễn giả đó, thỏa thuận hợp đồng sau đó báo lại giá với các công ty Việt Nam.
Thậm chí, một số diễn giả nổi tiếng và nghệ sĩ có cùng một công ty đại diện. Như “nữ hoàng truyền thông” Oprah Winfrey và Donald Trump có cùng một công ty đại diện cho mình. Công ty này đồng thời cũng là người đại diện cho rất nhiều các diễn giả khác. Hiện nay có hàng nghìn công ty như vậy trên khắp thế giới. Họ không tham gia tổ chức sự kiện mà chỉ là người kết nối với các diễn giả nói trên.
Danh sách những diễn giả này rất lớn, từ chính trị gia như Bill Clinton, Tony Blair cho tới tỉ phú ngành công nghệ như Elon Musk, Steve Wozinak hay Eric Schmidt,... Miễn họ có tham gia làm diễn giả, sẽ có cách để các công ty giới thiệu đưa họ về.
Mức giá cho những diễn giả này chắc chắn không hề khiêm tốn. Như Bill Clinton, người ta ước tính trung bình mỗi bài diễn thuyết của ông trị giá 250.000 USD. Con số này về tới Việt Nam sẽ đội lên nhiều. Đằng sau những diễn giả này là hệ thống công ty đại diện hoạt động chuyên nghiệp nên khách hàng sẽ có mức báo giá và bảng xếp hạng rất chi tiết và đầy đủ.
“Chẳng hạn để mời Tony Blair về Việt Nam sẽ có giá 500.000 USD, Elon Musk sẽ có giá 600.000 USD, mời Donald Trump sẽ có giá khoảng 1,2 triệu USD”, ông Trung cho biết.
diễn viên nổi tiếng, cựu tổng thống Mỹ, hái ra tiền, chương trình giải trí, tổ chức hội thảo, tổng thống mỹ, người đại diện, Cựu Tổng thống, chính trị gia, tổ chức sự kiện, cựu-tổng-thống, Việt-Nam, Bill-Clinton, Donald-Trump, tỷ-phú, nổi-tiếng
Ophra Winfrey lại có cùng người đại diện với Donald Trump
Tất nhiên, những người không phải là diễn giả như Mark Zuckerberg, hay người không có hứng thú như Bill Gates, thì doanh nghiệp có đổ bao nhiêu tiền cũng không thể mời về.
Đó là những diễn giả hạng A. Với những diễn giả hạng B (chủ yếu truyền cảm hứng là chính chứ không nổi tiếng trong giới kinh doanh), mức phí sẽ thấp hơn, trong khoảng từ 50.000 – 100.000 USD. Nick Vujicic là diễn giả trong nhóm này.
Nên nhớ, mức phí kể trên chỉ là mức phí diễn thuyết, chưa bao gồm phí đi lại hay ăn ở. Nếu diễn giả chọn đi lại bằng phi cơ riêng thì hẳn nhiên sẽ có thêm một khoản phí đáng kể nữa.
Đó là chuyện tiền bạc. Là một diễn giả hàng đầu thế giới, còn có rất nhiều yếu tố khác ảnh hưởng tới sự thành công của thương vụ như: Diễn giả có hứng thú với địa điểm đến hay không, đơn vị tài trợ cho chương trình là ai, hay đơn giản là lịch làm việc của họ có phù hợp với chuyến đi,… Thậm chí có trường hợp doanh nghiệp bỏ hàng triệu USD để mời các diễn giả cũng từ chối. Nguyên nhân đơn giản bởi công việc của doanh nghiệp đó không liên quan gì tới diễn giả.
Để giảm bớt gánh nặng chi phí, các công ty tại Đông Nam Á cũng biết cách tận dụng tối đa ưu điểm của mình. Chẳng hạn trong trường hợp của Richard Branson, khoản phí mời tỉ phú này sẽ được giảm xuống đôi chút nhờ yếu tố “giảm giá cho các quốc gia đang phát triển”. Ngoài ra, nếu việc mời diễn giả để phục vụ cho lợi ích xã hội thay vì bán vé thương mại, chi phí cũng sẽ giảm một chút.
Đó cũng là lý do khiến các agency (công ty quảng cáo) nếu có nhu cầu mời một diễn giả tới Việt Nam cũng thông qua những công ty trung gian, bởi nếu agency trực tiếp mời, họ sẽ không nhận được những ưu đãi này
Những yếu tố như vậy có thể khiến quá trình thỏa thuận kéo dài từ 2 – 3 năm là bình thường. Đơn vị liên hệ trong quá trình đó phải chứng minh năng lực thực thi cũng như có hồ sơ tương đối ổn. Dần dần, các đơn vị đều có mối quen và được đưa vào ‘danh sách’ của các công ty đại diện.
“Mời được càng nhiều người nổi tiếng, việc mời những người tiếp theo càng trở nên dễ dàng hơn. Khi uy tín của công ty được nâng lên, điều tồn tại duy nhất chỉ còn là khả năng tài chính mà thôi”, ông Trung chia sẻ.
Theo Trí Thức Trẻ

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Lan Hữu trở lại


Cuối cùng, cuốn tiểu thuyết Lan Hữu đã trở lại:


Tôi đã tưởng hôm qua, mồng 8 tháng Chín, đúng chính xác ngày Nhượng Tống qua đời (vào cái năm 1949 u uất ấy), đã phải có Lan Hữu. Nhưng sự lận đận đeo đuổi Nhượng Tống suốt cuộc đời và mãi cả sau đó vẫn chưa chịu buông tha. Vẫn bị lệch mất một ngày.

Cuối năm ngoái, buổi tọa đàm về văn nghiệp Nhượng Tống mà tôi tổ chức nhận được tin phải bãi bỏ chỉ năm ba hôm trước ngày dự kiến. Sau khi loay hoay, biết là không ăn thua, tôi cam tâm thúc thủ, và mang Lan Hữu đi giới thiệu với mấy cơ sở xuất bản. Tất cả đều từ chối hoặc không trả lời. Tôi đã biết Nhượng Tống nghĩa là lận đận nên kiên nhẫn tiếp tục. Với tôi, Nhượng Tống chỉ thực sự trở lại khi Lan Hữu trở lại. Tác phẩm đầu tiên của Nhượng Tống mà tôi làm phải là Lan Hữu, không thể là một cuốn nào khác. Lan Hữu là cuộc đời Nhượng Tống, còn hơn thế nữa, đó là thần phách của Nhượng Tống. Không có Lan Hữu thì tức là cái sự "thần phách lạc hình hài" (Đinh Hùng) vẫn cứ tiếp diễn. Tôi quan tâm đến toàn bộ văn nghiệp của Nhượng Tống, nhưng thần phách của Nhượng Tống, như Nhượng Tống thể hiện ra với tôi, nằm trong Lan Hữu.

"Sự lận đận của Nhượng Tống" còn hiện ra dưới hình thức này: cái lần rất hiếm hoi Nhượng Tống có chỗ trong một bộ sách lưu danh hậu thế là Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan (cũng là lúc Vũ Ngọc Phan bình luận vềLan Hữu), thì quyển sách (tập cuối cùng, tức là quyển tư hạ), mặc dù đã viết xong từ lâu, được in trong cái năm 1945 nháo nhào, nên Nhượng Tống ở trong đó mờ mịt như thế này:

Vừa muốn giậm chân bứt tóc, thậm chí phát khóc, tôi lại vừa muốn phá lên cười vì một ông Nhượng Tống lận đận đến từng chi tiết, từng sự kiện.

Cuối cùng, đã có một cơ sở xuất bản nhận in Lan Hữu, với một sự hào hứng đặc biệt và sự thấu hiểu giá trị văn chương của cuốn tiểu thuyết ấy. Địa chỉ trang web ở đây và fanpage ở đây.

Nỗi lận đận đeo đẳng đến mức, lẽ ra Lan Hữu phải xong từ vài hôm rồi, thì lại gặp đúng cái thời điểm các nhà in ở Hà Nội chỉ chăm chăm in một thứ gì đó rất ngớ ngẩn, lại bị lần lữa, muộn hẹn đủ thứ, và rồi rốt cuộc nó đã đến đúng vào một ngày Hà Nội mưa bão.

Ông Nhượng Tống, tài tình đến thế mà trầm luân thì tới vậy, sao không nhường bớt cho người khác một ít nỗi uất hận, sự lận đận mà cứ ôm hết vào mình như thế (Tả hận từng phen quăng ngọn bút/Thêu sầu xin chớ mượn đường kim - thơ Nhượng Tống)? Tôi lần theo dấu chân ông mà lắm lúc thấy như mọi nỗi oan khuất, bi phẫn cứ tìm cả đến ông, ông cũng nhiều phen làm tôi lạnh hết cả sống lưng. Nhưng tôi tin là tôi hiểu đúng ý muốn của ông, rằng Lan Hữu, phần thần phách đậm đà hơn hết của ông, phải trở lại. Thần phách của ông là hoa, là ngọc, người ta cần phải nhìn vào đó, chứ những thứ khác xét cho cùng đâu có đại diện được cho con người ông. Mới có ba phần tư thế kỷ trôi qua thôi, kể từ ngày ông cho inLan Hữu, bảo là dài thì dài, nghĩ rằng ngắn thì ngắn. Tôi vụng về viết một bài đề tựa cho Lan Hữu của ông, mong rằng ông hiểu tôi đã làm giống như ông năm xưa, đề tặng Phan Văn Hùm một cuốn sách, cho một người bạn không quen. Coi như là chút đồng thanh khí giữa những kẻ văn chương.


Khu vườn của Nhượng Tống

Năm 1940, đúng mười lăm năm sau khi Song An Hoàng Ngọc Phách cho xuất bản Tố Tâm, Nhượng Tống Hoàng Phạm Trân in Lan Hữu ở nhà xuất bản Lê Cường, Hà Nội, với “Lời tựa” của Lưu Trọng Lư. Giờ đây nhìn lại, ta chỉ có thể kinh ngạc khi thấy hai cuốn tiểu thuyết gần nhau đến thế về nhiều mặt lại có số phận khác nhau đến vậy.

Cách tồn tại của Nhượng Tống ở trong hậu thế rất giống một nhà văn lớn khác cùng thời: Khái Hưng. Sau này cả hai vẫn sẽ được biết đến, nhưng chủ yếu là theo lối phiến diện. Văn nghiệp của Nhượng Tống thường chỉ được nhìn nhận qua các bản dịch (những bản dịch tuyệt vời như Nam Hoa kinhThơ Đỗ PhủMái Tây tức Tây sương ký… nhưng cả ở mảng này người ta cũng ít biết Nhượng Tống còn dịch Ngọc Lê Hồn một cách trác tuyệt, chưa kể nhiều dịch phẩm khác nữa), trong khi ông còn là một nhà thơ, một tiểu thuyết gia tài năng. Về phần Khái Hưng người ta chỉ biết đến Hồn bướm mơ tiên hay Nửa chừng xuân và một số tác phẩm khác, trong khiBăn khoăn, cuốn tiểu thuyết cuối cùng của ông, in năm 1943[1], mới thực sự là một kiệt tác. Rất có thể, toàn bộ mảng văn xuôi đồ sộ của văn chương tiền chiến Việt Nam chỉ có ba tiểu thuyết thực sự lớn, là Tố Tâm,Lan Hữu và Băn khoăn. Trong bộ ba ấy, chỉ mình Tố Tâm có được số phận tương đối xứng đáng với giá trị của mình.

Nhưng lịch sử văn chương là câu chuyện của các giá trị, nếu không thì ta sẽ không có lịch sử văn chương. Cả Tố TâmLan Hữu và Băn khoăn đều là những câu chuyện tình. Tố Tâm đã quá nổi tiếng với cốt truyện bi thảm của nó, Lan Hữu là cái nhìn đầy thương xót nhưng không kém phần tỉnh táo của một người trưởng thành nhớ lại mối tình xưa, còn Băn khoăn, với những câu chuyện tình ái lắt léo của nó, là cuốn tiểu thuyết Việt Nam xứng đáng nhất, và rất có thể cũng là duy nhất, của một giai đoạn suy đồi.

Một cuốn tiểu thuyết được coi là lớn, là “giá trị” một cách toàn diện nhất, khi bên trong nó chứa đựng những điều kỳ diệu, giống như hạt mầm giấu kín ở đâu đó, sẽ hồi sinh và nảy nở mãnh liệt khi gặp được môi trường phù hợp và xứng đáng. Tố Tâm đã có một số phận như vậy, và giờ đã đến lúc chúng ta cần trả về đúng vị trí một tác phẩm khác, không kém phần kỳ diệu - Lan Hữu của Nhượng Tống. Đến nay, ngoài lần ra mắt năm 1940, nó mới chỉ tái xuất một lần duy nhất, tại nhà xuất bản Á Châu (Hà Nội) đầu thập niên 50, vài năm sau khi Nhượng Tống qua đời.

Lan Hữu có thể được đọc trên ba phương diện: vì nó thuật lại rất trung thực một quãng đời tác giả, đây chính là một tài liệu quan trọng góp cho việc tìm hiểu tiểu sử Nhượng Tống Hoàng Phạm Trân, một tiểu sử mới chỉ được biết đến sơ sài, với rất nhiều chi tiết nhầm lẫn. Vì gia cảnh, Nhượng Tống phải bỏ học rất sớm vào năm mười tám tuổi, sau khi thân phụ qua đời (người cha bất đắc chí, tuy từng là “thủ khoa thành Nam”, nhưng giữa một thời kỳ lịch sử u tối, đã chán chường mà chết: cái chết này được thuật lại rất cặn kẽ trong Lan Hữu). Vụ việc liên quan đến mấy mẫu đất gây thiệt hại lớn cho gia đình Nhượng Tống cũng được kể lại trong Lan Hữu. Đặc biệt, tác giả viết rất chuẩn xác về dòng dõi của mình: “nối dõi cái mạch thư hương của nhà tôi, truyền từ đời Lê cho đến bấy giờ”. Nhượng Tống thuộc một gia đình rất thành đạt về học vấn suốt nhiều thế hệ, tiền nhân của ông từng là thầy dạy hai nhân vật lớn của “thành Nam” là Nguyễn Khuyến và Trần Bích San.

Nhượng Tống bộc lộ tài năng văn chương rất sớm, mười sáu tuổi đã có bài đăng trên Khai Hóa (tờ báo của nhà tư sản Bạch Thái Bưởi), đúng như trong Lan Hữu có kể. Sự nghiệp báo chí của Nhượng Tống còn dài: vài năm sau Khai Hóa là đến giai đoạn cộng tác với tờ Thực nghiệp dân báovới yếu nhân Mai Du Lân; ngay sau đó, ông sẽ cùng vài người bạn lập ra Nam Đồng thư xã, in một số sách, tài liệu. Nhượng Tống là thành viên sáng lập của Việt Nam Quốc dân đảng, dưới sự lãnh đạo của người anh hùng dân tộc Nguyễn Thái Học; vì được Nguyễn Thái Học giao nhiệm vụ ở Huế năm 1929 rồi bị mật thám Pháp bắt nên Nhượng Tống tình cờ mà thoát khỏi chuỗi án tử hình đẫm máu của thực dân đầu thập niên 30, trong đó chấn động hơn cả là “vụ Yên Bái”, khi những người đồng chí thân thiết của ông như Nguyễn Thái Học và Phó Đức Chính bỏ mình dưới lưỡi dao máy chém. Thoát chết nhưng Nhượng Tống phải chịu cảnh tù đày ở Côn Đảo (trong Lan Hữu cũng có lúc ông ám chỉ chuyện này: “đày tôi ra Côn Đảo ba năm, tôi không sợ bằng đày tôi cửa chùa Thiên Trù suốt ba tháng hội”) và tiếp theo là những năm dài bị quản thúc ở quê, định kỳ phải ra Phủ Lý trình diện mật thám. Nhượng Tống còn viết báo thêm vài năm từ sau 1945, ở các tờ như Chính nghĩaThời sự… Ông mất năm 1949 ở Hà Nội.

(Trong các tài liệu tra cứu phổ biến nhất hiện nay, ta thường đọc ở tiểu sử Nhượng Tống hai chi tiết: sinh năm 1897 và được thả từ Côn Đảo về năm 1936; hai chi tiết này đều sai, vì Nhượng Tống tuổi Bính Ngọ, sinh năm 1906 và sau các sự kiện của Việt Nam Quốc dân đảng, Nhượng Tống được thả khỏi Côn Đảo trước 1936 nhiều, bởi trước đó mấy năm ông đã lấy vợ ở quê nhà Ý Yên; các chi tiết này hiện nay đều còn lại văn bản để kiểm chứng.)[2]

Trong Lan Hữu, Nhượng Tống buộc lòng phải giấu đi nhiều chi tiết để tránh kiểm duyệt của chính quyền (thế nhưng vẫn bị kiểm duyệt bỏ thêm nhiều chỗ). Chí khí cách mạng của ông có lẽ thể hiện đậm nét hơn cả trong Lan Hữu ở đoạn luận thơ với cha và bác (người bác thích Lý Bạch, người cha nhiều phẫn uất lại thích Lục Du); khi được hỏi, cậu bé Ngọc nhận là mình thích nhất thơ Đỗ Phủ, bởi: thơ ấy gồm “biết bao nhiêu bài tả những cảnh huống khổ nhục của đám dân nghèo. Mỗi khi con đọc, lại thấy như có đám người khố rách, áo ôm ấy kêu khóc ở bên tai, mà trong lòng thì uất ức muốn đứng phắt dậy… Thơ như thế mới thật là ‘khả dĩ hưng, khả dĩ quan, khả dĩ quần, khả dĩ oán’.” Câu chuyện này cũng được Nhượng Tống kể lại bằng thơ, bài thơ ấy dùng làm lời tựa cho bản dịch Thơ Đỗ Phủ in năm 1944, sau Lan Hữu bốn năm; đoạn đầu của bài thơ như sau:

Tôi biết đọc thơ từ thuở nhỏ
Trong thơ thích riêng thơ Đỗ Phủ.
Một hôm thầy tôi hỏi: “Tại sao?”
Đứng dậy chắp tay tôi sẽ ngỏ
Rằng: “Tại thơ ông là đời ông:
Lạ, đẹp, hùng tráng mọi vẻ đủ,
Mà còn chan chứa một lòng thương
Những kẻ nghèo nàn, phường xấu số.
Vì tấm lòng ấy nên nhiều khi
Đối với quan lại với vua chúa
Ông thường chê trách, thường mỉa mai,
Không thèm nịnh hót, không xu phụ.
Ngoài một thiên tài hiếm có ra,
Ông còn một tâm hồn hiếm có…”
Nghe xong, thầy tôi gật đầu cười
Dạy rằng: “Ồ! mày thật con bố!
Thế nhưng bất lợi ở thời này!
Rồi đó xem: Đời mày sẽ khổ!”

Lan Hữu lại có thể được đọc như một sự “chuyển dịch cốt truyện” Hồng Lâu Mộng vào khung cảnh Việt Nam, với hai điều rất dễ thấy: đại quan viên của Vinh phủ trong Hồng Lâu Mộng được chuyển về tỉnh Thái Bình, trong khi mối tình tay ba Giả Bảo Ngọc, Lâm Đại Ngọc, Tiết Bảo Thoa được tái hiện trong mối quan hệ của (Lương) Ngọc, (Mai) Hữu và Lan.

Nhượng Tống chọn cho nhân vật của mình cái tên “Ngọc” với rất nhiều chủ ý. Nó rất gần với tên thật của ông nhưng ngay lập tức cũng gợi đến Giả Bảo Ngọc, và Ngọc của Lan Hữu cũng mau chóng nhắc thẳng tới Hồng Lâu Mộng (thông qua Thạch đầu ký), và cụ thể hơn, bài thơ “Khóc hoa” nổi tiếng mà Ngọc dùng để dò xem Hữu có yêu mình hay không.

(Lan Hữu, qua chuyện Ngọc dịch “Táng hoa từ”, nhắc ta nhớ đến Nhượng Tống trong vai trò một dịch giả kiệt xuất. Giai đoạn rực rỡ nhất của sự nghiệp dịch thuật Nhượng Tống là mấy năm trước 1945, chủ yếu in ở nhà xuất bản Tân Việt với ông chủ Lê Văn Văng là một người thân tình với ông. Tính riêng “Lục tài tử thư” do Kim Thánh Thán bình chọn, ông đã dịch ít nhất năm: Ly TaoThơ Đỗ PhủNam Hoa kinh, Mái Tây (Tây sương ký), Sử ký. Có tài liệu cho biết Nhượng Tống từng dịch cả Hồng Lâu Mộng,Đạo đức kinh, thậm chí cả cuốn thứ sáu của “Lục tài tử thư” là Thủy hử. Trước đó, cuối thập niên 20, ông cũng đã dịch Ngọc Lê Hồn của Từ Chẩm Á với nhan đề tiếng Việt Dưới hoa cùng một số tác phẩm nhỏ khác. Riêng năm 1945, ông in ít nhất ba cuốn sách: Nguyễn Thái HọcTân Việt Cách mệnh đảng và Hỗ trợ. Thảo luận - đây là thời điểm Nhượng Tống chứng tỏ vai trò sử gia và nhà bình luận chính trị-xã hội của mình. Từ 1945, Nhượng Tống còn viết vài vở kịch, dịch một ít Liêu Trai chí dị và tác phẩmHương ngọc[3]; dùng bút danh Mạc Bảo Thần để dịch Đại Việt sử ký toàn thư và Lam Sơn thực lục. Ông còn giúp Thi Nham Đinh Gia Thuyết hiệu chỉnh và dịch thêm Ức Trai tập - tác phẩm mới chỉ ở dạng bản thảo. Trước tác của Nhượng Tống còn rải rác trong một số tuyển tập giờ đây ít người được biết đến như Tản văn mới của “Thư viện Tố Như” trước 1945; thơ của ông từng được Trúc Khê Ngô Văn Triện bình luận trên Văn học tạp chí và xuất hiện không ít trong Thi thoại của Văn Hạc Lê Văn Hòe in năm 1942; một nhà phê bình văn học nổi tiếng từng bình luận về văn chương Nhượng Tống là Vũ Ngọc Phan miêu tả văn chương ấy “tài hoa lãng mạn”.)

Bởi vì trước hết là những bông hoa: “Nguyên từ bé tôi đã có tính yêu hoa”, ngay ở đầu cuốn sách, Nhượng Tống đã viết như vậy. Lan là tên một loài hoa, còn Hữu có tên đầy đủ là “Mai Hữu”, cũng liên quan đến một loài hoa khác (ngay câu chuyện tình với hai cô gái trong đó một là họ hàng cũng từng xảy ra trong đời thật Nhượng Tống). Tình yêu hoa xuất phát từ tình yêu đối với người ông qua đời năm Ngọc mười bốn tuổi, một người rất gắn bó với cậu bé trong một thời gian dài: “ngoài sự sợ, tôi cũng yêu ông tôi và yêu cả những cây hoa mà ông tôi yêu. Là vì ông tôi yêu thứ hoa nào, lại cắt nghĩa cho tôi biết tại sao mà ông tôi yêu. Và tôi khi ấy, ông tôi nói gì tôi cũng cho là phải cả. Những khi tôi theo ông tôi ra vườn, lại được nghe ông tôi kể cho nghe các chuyện cổ tích về hoa. Nào chuyện Võ Tắc Thiên bắt hoa đi đày, nào chuyện Đường Minh Hoàng giục hoa phải nở. Nào vô số những chuyện hoa hóa ra người, người hóa ra hoa. Nghe nhiều những chuyện ấy, tôi thành ra coi các hoa trong vườn đều là những người bạn có cảm giác như tôi, chỉ kém tôi cái biết đi và biết nói”. Nhiều khi ta tưởng như tình của Ngọc nồng nàn nhất là với các loài hoa, thậm chí còn hơn tình của Ngọc với Lan và Hữu; để tang cuộc tình suốt mấy năm trời, Ngọc đặt trước ảnh họ lọ hoa để thờ, và những câu văn đẹp nhất trong Lan Hữu là dành cho hoa: “Dưới trăng, các cây hoa hiện ra trước mắt tôi như những mặt bạn thân, vắng mấy ngày mới lại gặp”, hoặc khi gặp lại Hữu trên Phú Thọ: “Dưới ánh trăng tà, các cây hoa trồng trong các chậu in bóng cành bóng lá xuống đầy sân. Tôi ước ao lại được cùng Hữu ngồi đôi nói chuyện ở giữa cảnh vườn xuân”.

Mối sầu tình của Ngọc trong Lan Hữu cũng có yếu tố họ hàng như cuộc tình duyên bi lụy của Hồng Lâu Mộng. Hoa và tình, nhưng cũng thêm cả mộng nữa: ít có tiểu thuyết Việt Nam nào tả mộng nhiều và hay như Lan Hữu. Về sau, cuộc tình không còn là thực nữa, chỉ là mộng mà thôi: “Trong mộng, tôi với họ cùng sống cuộc đời êm ái năm xưa. Trong mộng, nhan sắc của họ càng thêm rực rỡ, câu chuyện của họ càng thêm thơ ngây”. Lan Hữu “viết lại” Hồng Lâu Mộng theo một cách thức chưa từng có, không khỏi làm ta liên hệ tới những gì mà Nguyễn Du từng làm vớiKiều.

Và tất nhiên, trước hết, Lan Hữu cần được đọc cho chính nó, với chính nó. Câu chuyện của Lan Hữu rất ý vị và không hề đơn giản. Nó lại được viết một cách hết sức chín chắn, bởi con mắt hồi cố của một người đã trải đời nhìn lại tuổi hoa niên thơ mộng. Ngọc không phải là Đạm Thủy củaTố Tâm, vì Ngọc ý thức rất rõ sự phi lý của tình duyên, thậm chí đến cả tính chất vớ vẩn của những mối tình thơ trẻ. Nhưng vẫn có đó nỗi ngậm ngùi khôn nguôi: “Tuy trong khi yêu ấy tôi đã tốn bao nước mắt, bao tiếng thở dài, cùng chịu bao mối cảm xúc mệt người, năm mười sáu tuổi, tôi nhìn lại vẫn là một năm có hạnh phúc”; hạnh phúc ở tuổi mười sáu là điều được Nhượng Tống nêu lên ngay từ đầu Lan Hữu, và sẽ được lặp lại nhiều lần trong suốt tác phẩm. Khởi đi là nỗi bàng hoàng của tình yêu đầu đời, càng bàng hoàng hơn vì nhận ra cùng một lúc mình yêu cả hai người con gái: “Tôi bắt đầu cảm thấy cuộc đời phiền phức vô cùng”, và nảy sinh một khát vọng rất trẻ con: “Người tôi yêu chẳng phải là người tri kỷ, mà người tri kỷ lại chẳng phải là người tôi yêu! Tôi ước ao có thể hợp cả Lan lẫn Hữu làm một người”. Hữu, cô em họ, xuất hiện trước, đó là mối tình đầu tiên, nên khi có thêm Lan, thoạt tiên với Ngọc, tình cảnh là: “Vướng có Lan, tôi mất cả tự do yêu Hữu”, nhưng dần dần Ngọc nhận ra Lan có những điều mà Hữu không hề có, “[h]uống chi Lan yêu tôi có khi còn hơn Hữu: Lan còn biết thương cái tài của tôi nữa. Ở đời, được một người yêu mình, biết mình cũng khó lắm chứ!” Không chỉ là bạn thanh khí với Ngọc, Lan còn là tri kỷ, lại có một tấm lòng yêu tưởng chừng như mù quáng; Lan cũng là một con người quyết liệt, như thể sẵn sàng chống đối mọi ràng buộc gia đình, xã hội để được yêu Ngọc. Trước mối cuồng tình như vậy, một cậu bé mười sáu tuổi đầy nhút nhát khó có thể thoát được mảnh lưới đã buông, cho đến lúc phải bật ra ý nghĩ: “tôi vẫn tin ái tình chuyên nhất mới thật là ái tình, mà nay tôi tự trông thấy trái tim tôi chia đôi cho Lan và Hữu”.

Nhìn lại một cách tỉnh táo, pha rất nhiều “vỡ mộng”, nhưng tài năng tiểu thuyết của Nhượng Tống nằm ở chỗ ông vẫn thổi được vào câu chuyện lẽ ra không mấy đặc sắc một tấm màn vi diệu của tình cảm, của lòng thành thực yêu mến tuổi trẻ; giọng văn đầy tiết chế, nhiều khi lạnh lùng, thiên hẳn về hướng phân tích, lại càng làm nổi bật lên một tâm hồn yêu đương nồng cháy, lẫn vào với những dằn vặt nội tâm không ngừng, thậm chí còn nhiều khi đi tới chỗ tự khinh bỉ chính mình. Tâm hồn ấy cũng có thể rất lạ: khi mới đến một khu vườn mới, thỏa lòng mong mỏi được kề cận với những bông hoa, trong lòng Ngọc nảy ra một ý nghĩ: “Thiếu giai nhân, tôi đành mong được gặp hồ, gặp quỷ như những anh chàng nào trong truyện Liêu Trai”. Cái tâm hồn Á Đông đa tình trộn lẫn với huyền hoặc này, thỉnh thoảng ta mới thấy, một cách kỳ diệu, ở một số tác phẩm văn chương Việt Nam, chẳng hạn như khi Đinh Hùng viết những câu thơ:

Có những bông hoa, tiền thân là thiếu nữ
Những mùi hương rạo rực hiện hình người
Hương công chúa và men say hoàng tử
Cánh bướm thời gian treo võng tóc buông lơi

Lan Hữu là cả một bầu trời huyền hoặc của tình tuổi trẻ được Nhượng Tống, sau khi đã thấm thía rằng “đời là một cuộc đổi thay, muôn sự, muôn vật ở trên đời, nào có cái gì là vĩnh viễn”, thuật lại một cách kỳ diệu. Dẫu câu chuyện này, đúng như Lưu Trọng Lư đã nhìn ra khi viết lời tựa cho bản in 1940, là chuyện mà ai cũng có, ai cũng giấu đâu đó trong ngóc ngách ký ức mình, thì cách kể của Nhượng Tống, bởi nó thu gom được những tinh túy của Hồng Lâu Mộng lẫn những gì mà chỉ mình tâm hồn Nhượng Tống mới có, vẫn còn gây rung động mãnh liệt ở độc giả sau đến ba phần tư thế kỷ.

Lan Hữu chính là một khu vườn, khu vườn ngôn từ của nhà nghệ sĩ Nhượng Tống, cho đến giờ vẫn không hề cũ kỹ, thậm chí còn mới mẻ đến bất ngờ, và đó cũng là một khu vườn hoa, nhưng là một khu vườn không hề tầm thường, nơi in dấu hạnh phúc và cũng chứa đựng biết bao nhiêu thương xót của một dĩ vãng: “Kìa cảnh vườn hoa, tôi không dám bước chân ra nữa: Đấy là nơi nghĩa địa đã vùi xương [cái “tôi” mơ mộng và sung sướng]”. Khu vườn ấy xứng đáng được những tâm hồn đồng điệu viếng thăm với lòng ngưỡng mộ chân thành. 



[1] Ban đầu nhà xuất bản Đời nay đặt cho nó nhan đề Thanh Đức và hệ thống quảng cáo của Tự Lực văn đoàn còn gán cho nó một tên phụ, Tội lỗi; sau này khi Nhất Linh cho tái bản cuốn sách ở Sài Gòn, cuốn tiểu thuyết trở lại nhan đề ban đầu mà Khái Hưng đã chọn lúc sinh thời: Băn khoăn.
[2] Các chi tiết liên quan đến cuộc đời Nhượng Tống sử dụng trong bài viết đều đã được xác nhận bởi bà Hoàng Lương Minh Viễn, con gái độc nhất của Nhượng Tống Hoàng Phạm Trân, hiện vẫn sống ở Hà Nội.
Phần nhận xét hiển thị trên trang