Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Năm, 3 tháng 9, 2015

MÔI CONG

Truyện ngắn của Bùi Mai Hạnh:


(NCTG) “Hơn một lần tôi tự hỏi, sẽ thế nào nếu hôn vào đôi môi ươn ướt trêu ngươi kia nhỉ? Làm tình với một chân có khác gì khi làm tình với hai chân???”.

Ảnh: Bùi Mai Hạnh
Ảnh: Bùi Mai Hạnh
Đây, hiếp em đi hiếp em đi!”. Tôi choàng tỉnh, ú ớ hỏi cô bạn đang lái xe: “Cái gì, ai hiếp ai?”. Nàng, tay vung lên không khí cùng cái nhún vai ưỡn ngực ra phía trước rồi buông thõng hai cánh tay xuống, chộp lấy tay lái, cười giòn: “Là tớ bảo lão chồng tớ thế khi lão đòi làm tình. Thế cậu không nghe tớ kể chuyện à? Ngủ rồi à”. Tôi ngáp ngáp kiểu cá trên thớt: “Thì cứ kể chuyện đi cho khỏi buồn ngủ, nhưng đừng có buông tay lái thế”. Nàng cười vang: “Đừng lo. Tớ có buông tay lái chúng mình cũng chưa chết được. Tớ đã lao vào gầm tàu hỏa để chết mà vẫn sống. Cậu biết vì sao tớ mất một chân chưa? Chưa à? Tưởng kể rồi! Tớ nói bị tai nạn à. Chúa ơi, tai nạn đâu, tớ cố tình chết mà Chúa chưa cho tớ chết đấy chứ”.

Lao vào gầm tàu hỏa ư? Như nàng Anna Karenina ấy ư? Tim tôi bỗng nhiên đập gấp. Tôi liếc mắt nhìn đồng hồ ô tô quá nửa đêm. Vận tốc 130km /giờ. Xăng còn hơn nửa bình. Chiếc gạt nước ngoáy tíu tít. Sau ngót ba tiếng lạc đường rồi tìm đường quay lại, tôi bất ngờ bị nhấn chìm vào cơn buồn ngủ khi nghe nàng reo lên: “Giờ thì đúng đường rồi. Có thế chứ, sao tớ không tin vào mình mà lại tin vào cái GPS ngu này. Mình đi sai đường mà nó chẳng nói gì”. Ánh đèn trên đường cao tốc mờ chìm trong làn mưa nặng hạt. Thỉnh thoảng một cái xe tải dài cả mấy chục mét rầm rầm lao tới.Tôi thấy mình có nghĩa vụ gợi chuyện: “Sao cơ, nói thế thì ai dám hiếp, dù là hiếp vợ”.

Thế mà lão ấy vẫn hiếp tớ đấy, tớ chỉ muốn ngủ thì lão bảo, em cứ ngủ đi, để mặc anh chơi với nó. Lưu manh thế đấy. Tớ cáu tiết gào lên, đây hiếp em đi hiếp em đi. Bọn đàn ông lúc nào cũng chỉ muốn hiếp là sao?”. Rồi nàng cười chuỗi dài. Nghe như tiếng thủy tinh vỡ cứa vào tim tôi nhoi nhói.

Ở cái thành phố nuốt chửng mọi quái tính này tôi chả quen ai ngoài nàng, cái “chatter box” đáng yêu không bao giờ cạn pin. Tôi thèm nàng như thèm tiếng mẹ đẻ. Cái cách dùng từ sai của nàng mới đầu nghe tức thủng dạ dày sau quen rồi thích. Cái cách chuyển đề tài thoăn thoắt như chim chuyền cành rất trẻ con của nàng làm tôi phát rồ sau quen rồi nhớ. Tôi khoái cách nàng vóng vót lên giữa phố: “Lại đây đi, hai chân mà lại bắt một chân đến với mình à?”. Ơ hay, sao tôi có thể quên nàng mồm năm miệng mười nhưng chân chỉ có một. Ý nghĩ nàng là người khuyết tật chỉ thoáng trong đầu thôi cũng đã khiến tôi đỏ mặt xấu hổ cho cái sự gọi là lành lặn của mình. Thi thoảng nàng bám vào tay tôi khi sang đường nhắc tôi nhớ ra nàng đi tập tễnh. Tôi chỉ nhận ra mình đã bỏ xa nàng một đoạn dài khi nghe tiếng nàng hét lên: “Hai chân kia đi chậm thôi, chờ một chân đã chứ”. Hừ, phải nói ngay kẻo bạn đọc hiểu lầm, tôi không phải thứ “hai chân” vô tâm. Bạn mà đứng trước nàng rồi cũng thành vô tâm như tôi thôi. Bạn cũng sẽ quên bénh dáng người nghiêng lệch để lập tức hút vào đôi môi cong tớn nhìn là muốn cắn của nàng. Hơn một lần tôi tự hỏi, sẽ thế nào nếu hôn vào đôi môi ươn ướt trêu ngươi kia nhỉ? Làm tình với một chân có khác gì khi làm tình với hai chân???

Nàng có mặt trong đời tôi cũng tình cờ như tôi có mặt trên đời, nhưng hình như Chúa trời không nghĩ thế. Ngài cố tình cưỡng tôi tham dự vào một phép lạ, nếu có thể gọi khoảnh khắc này là một phép lạ. Sao tôi lại ở đây, bên cạnh người đàn bà mới quen. Nếu so sánh với cường độ quăng quật và chiều dài đời sống của tôi dưới ánh mặt trời, nàng là một vảy nắng sớm vào hôm trời nhiều sương mù. Tôi liếc trộm chân trái nàng. Đùi yên vị trên ghế. Lần đầu tiên tôi dạn dĩ nhìn thẳng vào chỗ đó. Chỗ nối chân gỗ với đùi trồi lên sau làn vải quần thô giúp tôi xác định được là nàng không còn đầu gối. Dưới ánh sáng hư hư thực thực của trời đêm, dáng ngồi lái xe mà thư giãn như đang cầu nguyện của nàng làm tim tôi dịu dàng trở lại. Nhưng rồi, những âm thanh của câu nói “hiếp em đi”, “lao vào gầm tàu hỏa” và “Chúa chưa cho chết” cứ trở lại va đập trong đầu tôi như những con sóng bất ngờ ngày biển lặng. Ở nàng có điều gì đó kỳ lạ, nhưng lao đầu vào tàu hỏa mà không chết thì thật quá giống tiểu thuyết. Tôi ừ hữ ngả ghế ra sau cố chiến thắng cơn buồn ngủ thoắt đến thoắt đi. Thực ra, tôi đang rất muốn nghe chuyện của nàng nhưng lại sợ phải biết sự thật. Từ khi quen nàng, tôi đã chẳng thèm mảy may để tâm đến nó sao giờ phải bận lòng! Nhắm tịt mắt lại. Kệ Chúa. Tôi miên man tỉnh tỉnh mơ mơ, bồng bềnh trên đại dương không biết đâu là bờ. Tại sao tôi lại ở đây. Trôi theo người đàn bà trẻ con này. Lao trên đường hun hút với tốc độ tự sát. Để đến một nơi nàng bảo đẹp lắm thích lắm thiên đường lắm…

Taxi chở nàng đến đúng lúc tôi đang ngồi ấm áp trong quán bar dưới nhà, nhấm nháp whisky với nấm trộn pho mát dê om trong hũ nóng, ngắm dòng nước chạy ngoằn nghèo trên cửa kính, nghĩ mưu trả đũa thằng đồng nghiệp mới quen đã chơi bẩn. Gã trai trẻ chủ quán biến sắc mặt nhìn tôi lao ra mưa một tay xách cái va-li nhỏ, tay kia kéo nàng tập tễnh vào quán. Rồi gã ngoác cười, mắt hút vào nàng miệng nói mắt nói cánh tay nói ngón tay nói toàn thân nói. Sau một hồi tán đủ thứ chuyện trên đời về thời tiết chết tiệt, về mùi thơm chết người của các loại rượu mạnh, gã lấy được thực đơn của nàng một ly trà gừng mật ong cho ấm bụng. Tôi tì tì chén gần hết hũ nấm. Trong lúc chờ trà sữa, nàng thò tay nhón một miếng nấm, bĩu môi chê không ngon. Rồi nhón thêm miếng nữa để khẳng định là không ngon bằng món nấm nàng tự trồng. Đón ly trà, nháy mắt với gã chủ quán, nàng ghé sát mặt tôi thì thầm: “Định không lái xe à mà uống rượu?”. Tôi thản nhiên ra lệnh: “Cậu đến chậm nửa tiếng đấy biết không? Ngủ lại thôi. Mai đi sớm. Ngồi đây nhâm nhi ngắm giai đẹp gái đẹp nghe nhạc hay chả sướng hơn lao vào mưa gió à”. Nàng không nói gì, khe khẽ nhấp từng ngụm trà điệu đà e thẹn tiểu thư ngày kén chồng. Hình như nàng đang suy nghĩ căng lắm. Coi như nàng đã đồng ý ở lại, tôi ngó nhìn ánh chớp lóe bên ngoài cửa kính, ngoắc tay ra hiệu thêm li thứ ba. Giọng hát của ả ca sĩ người xứ sương mù bồng bềnh nhừa nhựa làm người ta muốn nhão ra hút chặt hơn vào ghế. Nhìn màn mưa mà ớn lạnh, tự nhiên tôi muốn văng tục. Thiên đường là đây sao phải nhọc công đi kiếm ở đâu. Tôi cố tình nhìn xoáy thẳng vào mắt nàng xem cái đầu nhỏ bé ấy sắp toan tính mưu mô hay ho gì. Đấu mắt được một phút rưỡi thì tôi bỏ cuộc. “Đi thôi, tớ không ngủ được đâu”. Nàng thì thào. “Ở lại sẽ tí toáy nói chuyện cả đêm. Mai sẽ như chết rồi. Đằng nào cũng thức. Đừng lo. Tớ lái hết. Cho cậu ngủ. Lái một mạch nửa đêm là tới, tha hồ ngủ ở thiên đường không sướng à”.

Không hiểu sao nàng lại át vía được tôi, dù nàng hưởng ít hơn tôi cả tuổi đời lẫn tuổi khổ. Là tôi đoán thế. Có lẽ vì, như có lần nàng dịu dàng bảo, “cậu là đứa hai chân dễ chịu nhất mà tớ chấp nhận kết bạn ở cái tuổi chả cần thêm một người bạn nào nữa”. Đúng là sự ngọt ngào làm tan chảy. Tôi đứng dậy thanh toán tiền, biết có cố thuyết phục nàng cũng vô ích, nghĩ bụng: “Thiên đường vẫn còn đấy đã ai ăn trộm mất đâu mà vội”. Trong vụ này, tôi là kẻ muốn đi theo nàng nhiều hơn là nàng muốn kéo tôi theo, tôi phải nhượng bộ cũng đúng.

Thế tớ chưa kể cậu nghe chuyện vì sao tớ mất một chân nhỉ? Nó là một câu chuyện dài”. Nàng bất ngờ lên tiếng.

Tôi nhỏm người dậy, dựng thẳng lưng ghế chứng tỏ sẵn sàng hầu chuyện. Nàng quay sang tôi để chắc chắn tôi vẫn còn đó chứ chưa biến mất, e hèm lấy giọng, bắt đầu kể: “Ngày xửa ngày xưa ở một vương quốc nọ có một đứa nữ xinh đẹp là tớ, mọi người gọi tớ là hoa hậu. Bọn con gái thì ghét tớ còn bọn con trai thì đứa nào cũng muốn hiếp tớ. Hiếp chứ còn gì nữa. Làm tình mà không được cả đứa nữ và đứa nam sung sướng thì gọi là hiếp đúng không. Tớ chỉ thấy thích một tí chứ chưa biết cái sung sướng lên đỉnh là gì. Tớ cứ đi tìm cái đó hoài giống như nàng công chúa đi học phép rùng mình trong truyện cổ tích ấy. Rất nhiều đứa hiếp được tớ. Dù không thích nhưng chẳng hiểu sao tớ cứ để cho chúng nó hiếp. Muốn gần tớ, chúng nó phải dâng cho tớ đủ thứ trên đời, làm tớ cứ tưởng mình là công chúa. Đùng một cái phải cưới lão nhà tớ, chỉ vì lão ấy hiếp tớ ngay lần đầu tiên đã làm được em bé. Lão ấy tiếp tục hiếp tớ nhiều đến nỗi tớ phát sợ. Đời không giống tớ mơ mộng. Sống chẳng có gì vui. Thế là tớ chỉ muốn đi chết. Tớ đi nhà thờ từ nhỏ nên tớ không nói được với ai về cái mơ mộng chết của mình. Vì tự chết là một trọng tội. Giờ thì tớ biết, lúc đó, thằng quỉ Sa Tăng trong tớ muốn lắm làm cho tớ chết. Tớ vẫn làm việc của người vợ cho chồng hiếp nhưng luôn tìm cách chết. Tớ khóc lóc suốt đêm nên bị mang vào trại tâm thần.Tại sao thế thì tớ không biết. Chỉ biết là tớ thấy đời sống chán chết đi được. Rồi tớ được về nhà. Ngay lập tức, con quỉ dụ dỗ tớ ra ga tàu hỏa trong trung tâm thành phố. Nhìn thấy chiếc tàu đi đến, tớ sướng điên lên được, muốn lao vào ngay nhưng tớ lại sợ. Thế là chiếc tàu đầu tiên đi qua tớ rồi dừng lại. Rồi chiếc thứ hai đi qua, tớ vẫn chưa dám lao vào. Tớ nghĩ thôi để ngày mai vậy, nhưng thằng quỉ trong tớ xúi bẩy, làm đi chứ, nếu không thì sẽ không thể chết được đâu, phải làm bây giờ hoặc là chẳng bao giờ làm được. Thế là tớ nhắm tịt mắt lao vào trước đầu tầu. Nhưng Chúa chưa cho tớ chết. Con quỉ chỉ lấy được một chân của tớ thôi. Chúa đã thắng. Ngài vẫn bảo toàn tính mạng của tớ. Tớ nằm dưới gầm tàu gào to lên với bọn người lăng xăng ở trên, tôi ở đây cơ mà. Mãi họ mới mang máy móc đến cưa cái tàu để kéo tớ ra. Người ta đăng báo đầy hình của tớ cậu tìm mà đọc. Tự chết không được, mà lại mất chân, ai cũng nhìn tớ thương hại, canh gác tớ sợ tớ lại tìm cách chết nữa. Nhưng họ sai hết. Tớ đã thấy phép màu của Chúa. Ngài đã biến tớ thành một con người khác. Tớ trở lại trường đại học nghiên cứu về tâm thần học.Tớ chẳng thấy mình thiếu một chân. Tớ vẫn lái xe đi, còn đi nhiều hơn khi có hai chân. Tớ làm việc thiện nguyện giúp đỡ người tâm thần, giống như tớ ngày xưa, chúng tớ dùng thứ ngôn ngữ người như cậu không hiểu được. Cậu có thấy tuyệt diệu không? Nếu không có Chúa thì tớ chết tươi dưới gầm tàu hỏa rồi. Giờ tớ chỉ muốn được sống mãi không bao giờ chết. Cậu có thấy đó là phép lạ không? Ai đã cho chúng mình hơi thở để sống? Ai đã khiến tớ và cậu gặp nhau. Ai đã khiến mọi người ngủ còn chúng mình lao đi ngoài trời mưa gió. Tớ có nhắm mắt vào lái xe cũng chẳng chết được. Cậu vẫn thức đấy chứ. Cậu yên tâm, đi với tớ thì Chúa cũng sẽ bảo vệ cả cậu nữa”.

Nàng quay sang tôi, cố nghiêng người ngó vào mặt tôi kiểm tra xem tôi còn thức không. Tôi hét lên: “Lái xe đi, đừng có nhìn ngang nhìn ngửa nữa. Tớ chưa muốn chết đâu”.

Nàng cười nắc nẻ. Tiếng cười như tiếng ma khóc rơi vào lòng tôi trống hoác. Tôi căng mắt nhìn con đường quốc lộ vàng vàng xám xám vun vút trôi về phía sau. Nàng chỉ hơi giảm tốc độ một chút để lái xe ngoặt vào một con đường nhỏ. Câu chuyện nàng vừa kể tôi nghe là của nàng thật ư, hay nàng bịa ra cho có chuyện mua vui quãng đường dài giúp tôi tỉnh ngủ? Sao nàng lại chọn thời khắc này để kể tôi nghe những chuyện đáng lẽ phải nhìn vào mắt nhau mới nói được? Nàng nói về sự sống và cái chết cứ thản nhiên như chuyện đang mải hái hoa thì sảy chân ngã vì dẫm phải một viên sỏi nhỏ. Giá mà nàng không lái xe, tôi sẽ ôm lấy nàng, xiết chặt. Giá mà nàng kể tôi nghe câu chuyện này trong ánh lửa lò sưởi trắng đêm, tôi sẽ chạm tay tôi vào tay nàng thay cho một nụ hôn nhỏ. Tôi muốn cất lời nói một điều gì đó mà lưỡi cứng lại, người chênh chao như say, ngỡ chiếc xe đang lao vào một hố thẳm vô đáy. Hai bên con đường nhỏ là những khoảng không bao la mù mịt hơi nước. Không một cái gì chứng tỏ đang có sự sống tồn tại. Tôi ngỡ mình lạc sang cảnh giới khác. Có lẽ chúng tôi đang lái xe xuống địa ngục. Mụ phù thủy một chân ngồi bên tôi rắp tâm dâng hiến tôi cho quỉ Sa Tăng làm bữa đêm trước khi trời sáng chăng? Tôi nhắm tịt mắt lại. Kệ Chúa! Giả sử bỗng nhiên nàng muốn thử thách Chúa của nàng lần nữa, cứ buông tay lái, mặc cho chiếc xe muốn chạy đi đâu thì chạy, thì sao nhỉ? Ý nghĩ này làm tôi lạnh người. Tôi quay sang nàng rất muốn nói “này, nghỉ đi để tớ lái cho” mà không thể cất lên lời. Như đọc được ý nghĩ của tôi, nàng cất tiếng cười vui: “Tớ tỉnh như sáo mới lái được, cậu gật gù thế kia có mà lái xuống địa ngục à”. Trong ánh sáng nhờ nhợ, chẳng cần nhìn tôi cũng biết môi nàng đang bĩu ra cong tớn.

Tôi im. Là tôi nghĩ vậy chứ nàng có bắt tôi cầm lái lúc này tôi cũng chịu. Có vẻ như rượu uống đêm qua giờ mới ngấm. Có vẻ như khái niệm về không gian và thời gian bỗng nhiên mờ nhòe trượt hẳn khỏi ý thức. Có vẻ như phải đi qua địa ngục mới đến được thiên đường? Có vẻ như phải lao vào cái chết mới biết giá trị của sự sống? Tôi bỗng nghe giọng mình vang lên mê sảng: “Sắp đến thiên đường chưa?”. “Cứ ngủ tí nữa đi.” Nàng hớn hở đáp. “Sắp tới rồi. Cậu sẽ thấy, thoát khỏi thành phố ngột ngạt điên rồ nó sung sướng thế nào. Tớ đang tưởng tượng ra cái hạnh phúc được ngồi im lặng ngắm nhìn dòng sông ấy, ngắm nhìn dãy núi bên kia dòng sông, ngắm nhìn lũ vịt trời chim trời chí chóe tranh nhau bắt cá. Tớ chỉ cần có thế thôi…”.

Tôi cũng chỉ cần có thế!

Tôi ngả hẳn ghế ra nằm cho thoải mái. Một sự thanh thản kỳ lạ hòa tan vào da thịt nâng tôi bay vút lên cao. Địa ngục nhẹ bỗng châng lâng chạm ngõ thiên đường. Trước khi thiếp đi tôi còn kịp lưu vào đáy mắt một vệt hồng mờ mờ cuối con đường…

Và cả đôi môi nhìn nghiêng của nàng nữa…
Bùi Mai Hạnh

Phần nhận xét hiển thị trên trang

HỒI TƯỞNG CỦA SIMONOV VỀ STALIN (Phần 3)


Thứ sáu - 02/12/2005 23:52

(NCTG) “Fadeyev nói về một nhà văn đang trong cảnh rất nghèo khó. - Phải giúp đỡ hắn - Stalin nói và nhắc lại: - Phải giúp đỡ hắn. Cho hắn ta tiền. Và các anh hãy nhận những gì hắn viết, cho in rồi giả tiền hắn. Việc gì hắn ta phải ăn đồ bố thí? In bài rồi giả tiền cho hắn!”.

Xem Phần 1 và Phần 2 của loại bài viết. 

 
Simonov (ngoài cùng, bên phải) cùng các bạn văn nghệ trong chiến tranh (năm 1943) - Ảnh tư liệu 

Trích đoạn sau đây nhắc đến những kỷ niệm cá nhân của nhà văn đối với nhà độc tài Stalin. Simonov kể về lần gặp gỡ đầu tiên của ông với Stalin năm 1946, khi đó, ông còn là một nhà văn trẻ được Stalin ưa thích. Trên cương vị TBT tờ tạp chí “Novy Mir” (Thế giới mới), nhà văn tận dụng cơ hội đặc biệt này để xin tăng số trang cho báo. 
Cạnh đó, Simonov cũng tranh thủ xin được đăng tải các truyện ngắn của Zoshchenko (1), một nhà văn Nga nổi tiếng bị trù dập trong nhiều năm. Qua mẩu chuyện này, chúng ta có thể thấy dưới thời Stalin, số phận một nhà văn, một tác phẩm, một tờ tạp chí... hoàn toàn phụ thuộc vào tính khí nhất thời, thất thường như mưa nắng... của nhà độc tài! 
  
- Và nếu chúng ta tăng số trang, sẽ có đủ bài vở chứ? - Stalin hỏi. 

Tôi nói trước kia không phải chúng tôi không phạm sai lầm, khi mỗi số báo chỉ dày 12 “tay sách” (2) chúng tôi cũng có thể sai sót, trong tương lai cũng vẫn có thể có những sai lầm và khuyết điểm, nhưng tôi tin rằng sẽ có đủ bài vở và tôi sẽ cố gắng hết sức mình để làm một tờ tạp chí dày 18 “tay sách” có giá trị toàn diện. 

Tôi đề nghị: dù có thể làm một tờ tạp chí giá trị hay không với số trang như thế, hãy cho tôi thử và nếu tôi đảm đương được việc này trong nửa cuối của năm 47 thì có thể đặt vấn đề tăng trang hơn nữa cho tạp chí, bằng không, lúc đó vẫn có thể giảm số trang và trở về khuôn khổ hiện tại. 

- Đúng vậy - Stalin nói - tờ tạp chí khá hơn thật. Này, tờ “Zvezda” (Ngôi sao) cũng đăng nhiều bài lý thú, những bài về triết học, khoa học, lắm khi còn hay hơn tờ “Bolshevik” (Người bôn-sê-vích). Rõ ràng là tờ “Zvezda” và “Novy Mir” đã khá hơn trước nhiều. Nhưng, ngộ nhỡ không có đủ bài vở thì sao? - Stalin kiên trì nhắc lại câu hỏi đó, giờ đã là lần thứ ba. 

Và tôi lại nói rằng tôi sẽ cố gắng hết sức mình. 

- Thế thì chúng tôi phải cho phép thôi, cần phải thử xem sao - Stalin nói. - Nhưng nếu chúng tôi cho phép anh thì các tạp chí khác họ cũng cãi vã ầm ĩ lên. Vậy phải làm thế nào? 

Tôi đề nghị đầu tiên hãy để chúng tôi thử nghiệm với tờ “Novy Mir” và dựa trên kinh nghiệm của đó, sau này có thể đưa ra những quyết định tiếp tới. Fadeyev (3) đứng về phía tôi, ông bảo quả thực, cho đến cuối năm nay phải thử nghiệm ở một tờ tạp chí rồi sau hãng hay. 

- Được - Stalin đồng ý. - Thử xem nào. Chúng ta sẽ tăng độ dày tờ “Noviy Mir”. Các anh cần bao nhiêu “tay sách”? 

Tôi nhắc lại con số đã nói lúc trước: 18. 

- Chúng ta hãy cho họ 17 - Stalin nói. 

Tôi nhắc ông: vì tờ tạp chí có thêm mục Khoa học và Quốc tế nên về sau còn phải tăng biên chế. Tôi cần hai người phụ trách các chuyên mục đó. 

Stalin mỉm cười: 

- Thôi được, các anh cứ đệ đơn lên ủy ban đi. 

Zhdanov (4) nhận xét: lá đơn của tôi nhằm xin lương cho các cng sự, hiện đang ở chỗ ông ta. 

- Chúng ta không tiếc tiền - Stalin nói và nhắc lại: - Chúng ta không tiếc tiền. 

Tôi giải thích cho ông biết: ở tòa báo chúng tôi, người phụ trách mỗi chuyên mục chỉ được nhận có 1.200 rúp thôi [cố nhiên, tính theo tiền hồi ấy]. 

- Hãy để ủy ban thông qua quyết định này - Stalin nói và lặp lại lần thứ ba: - Chúng ta không tiếc tiền. 

Sau đó, Fadeyev nói về một nhà văn đang trong cảnh rất nghèo khó. 

- Phải giúp đỡ hắn - Stalin nói và nhắc lại: - Phải giúp đỡ hắn. Cho hắn ta tiền. Và các anh hãy nhận những gì hắn viết, cho in rồi giả tiền hắn. Việc gì hắn ta phải ăn đồ bố thí? In bài rồi giả tiền cho hắn! 

Zhdanov kể rằng cách đây ít lâu, ông ta nhận được từ nhà văn ấy một lá thư chứa chất nhiều tình cảm sâu sắc. Stalin nhếch mép cười. 

- Zhdanov, đồng chí đừng tin vào những lá thư có tình cảm sâu nặng. 

Chúng tôi đều cười. [...] 

Đột nhiên tôi đâm bạo dạn và làm một việc mà trước đây tôi chưa làm bao giờ làm, mặc dù tôi đã nghĩ đến nó: tôi bắt đầu nói về Zoshchenko. Tôi nói về những truyện ngắn đề tài du kích của ông, thực sự được viết dựa trên những mẩu chuyện của các du kích, tôi nói tôi đã lựa chọn vài truyện trong số này, tôi muốn đăng tải chúng trên tờ “Novy Mir” và xin Stalin cho phép. 

- Này, thế đồng chí đã đọc những truyện ngắn đó của Zoshchenko chưa? - Stalin quay sang hỏi Zhdanov. 

- Thưa, chưa - Zhdanov đáp -, tôi chưa đọc. 

- Nhưng anh thì anh đọc rồi chứ? - Stalin quay về phía tôi. 

- Tôi đọc rồi - tôi đáp và giải thích: Zoshchenko có tổng cộng khoảng hai mươi truyện ngắn, nhưng tôi chỉ lựa chọn mười truyện, những truyện mà tôi coi là hay nhất. 

- Nghĩa là trên cương vị tổng biên tập, anh cho rằng đó là những truyện ngắn tốt? Rằng có thể đăng tải chúng? 

- Vâng - tôi đáp. 

- Vậy thì thế này: nếu trên cương vị tổng biên tập, anh cho rằng có thể đăng tải chúng thì anh cứ đăng. Và nếu anh cho đăng thì chúng tôi sẽ đọc. 

Bây giờ, sau từng ấy năm, tôi tin rằng trong câu nói cuối cùng của Stalin có một chút sắc thái gì đó của thứ hài hước mà người ta vẫn gán cho ông, thứ hài hước tiềm ẩn và có thể nguy hiểm cho người đang nói chuyện với ông; nhưng tất nhiên tôi không thể đảm bảo điều đó. 

Thời đó, những giả thuyết của tôi hiện nay không hề xuất hiện trong óc tôi: tôi quá hồi hộp, thứ nhất là vì tôi đã dám đả động đến Zoshchenko, thứ nhì, bởi Zhdanov, người mà tôi cứ nghĩ chắc chắn phải đọc nhũng truyện ngắn của Zoshchenko, lại nói là chưa đọc và điều này bất ngờ đối với tôi, cuối cùng, vì Stalin đã cho phép đăng tải chúng. 

Chú giải: 
(1) Mikhail Zoshchenko (1895-1958): bậc thày của dòng văn học châm biếm Nga. Năm 1946, theo chỉ thị của Stalin, ông đã bị cấm sáng tác và cấm in các tác phẩm trong một thời gian dài. 

(2) Đơn vị và thuật ngữ được sử dụng trong công nghệ in ấn: 1 “tay sách” = 8-16-32 trang. 

(3) Aleksander Fadeyev (1901-1956): nhà văn Liên Xô, tác giả “Đi cận vệ thanh niên”, được coi là người mở đường trường phái văn học hiện thực xã hi chủ nghĩa. Tổng thư ký Hi Nhà văn Liên Xô trong thập niên 50. Tự sát vì khủng hoảng lý tưởng sau khi những ti ác của Stalin bị phanh phui đầu năm 1956. 

(4) Andrei Zhdanov (1896-1948): Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, phụ trách văn hóa và tư tưởng, thuộc giới lãnh đạo thân cận nhất của Stalin; nổi tiếng như người đặt nền móng và đại diện cho đường lối văn hóa giáo điều, ngự trị ở Liên Xô suốt mấy thập niên liền. Khét tiếng trong vụ đàn áp hai nhà văn lớn của nước Nga - Xô-viết là Zoshchenko và Akhmatova năm 1946.
 
Trần Lê dịch


Phần nhận xét hiển thị trên trang

HỒI TƯỞNG CỦA SIMONOV VỀ STALIN (Phần 2)


Thứ sáu - 25/11/2005 23:35

(NCTG) “Stalin đứng tại chỗ một hồi rồi tiếp tục đi dạo bên cạnh chiếc ghế, cũng theo hướng mà trước đó ông đã đi. Ông làm một vòng quanh chiếc bàn họp, quay lại và đi dọc căn phòng trong bầu không khí lặng như tờ, rồi ông lại quay lại, rút chiếc tẩu khỏi miệng và chậm rãi nói, không hề cao giọng: - Lẽ ra không cần nói câu đó!”.

 Xem Phần 1 của loạt bài. 

 
Quân xâm lược và xe tăng Liên Xô bị phục kích và tiêu diệt trên Con đường chết Raate trong cuộc chiến Phần Lan - Ảnh tư liệu
 

Trong trích đoạn sau đây, Simonov thuật lại cuộc trò chuyện với Thiếu tướng Hải quân Isakov, người lãnh đạo hạm đội Xô-viết, từng có nhiều dịp gần gũi Stalin. Isakov thuật lại một mẩu chuyện rất đặc thù cho bản tính tự phụ của Stalin; đụng chạm đến nó là giáp mặt với tử thần. 

Điều này không chỉ đúng đối với các thường dân mà còn ứng cả với những tư lệnh quân đội cao cấp, được thăng cấp vào cuối thập niên 30 để bù đắp vào khoảng trống để lại bởi thế hệ tướng lĩnh bị Stalin sát hại. Trong số đó, có đôi người quá trẻ, hay quá trọng danh dự cá nhân và do đó, không thần phục vô điều kiện nhà độc tài.
 

(...) Sự việc xảy ra trong Hội đồng Quân sự, ít lâu trước cuộc chiến tranh. 

Mọi người bàn về nguy cơ tai nạn rất lớn trong ngành không quân. Stalin, theo thói quen của ông trong các phiên họp như thế, rít chiếc tẩu và phì khói vào những người tham dự cuộc họp trong khi ông đi dạo dọc bàn họp. Đôi khi ông nhìn vào mắt họ, đôi khi ông quan sát họ từ phía sau lưng. 

Người ta lên tiếng giải thích tại sao nguy cơ tai nạn ở binh chủng không quân lại cao, đến khi Richagov, Tư lệnh Không quân hồi đó, đến lượt phát biểu. Tôi nhớ anh mang hàm trung tướng, còn trẻ và trông anh trẻ hơn tuổi rất nhiều, hệt như một cậu bé. Khi đến lượt, đột nhiên anh nói: 

- Nguy cơ tai nạn sẽ vẫn còn cao bởi chúng tôi bị buộc phải bay trong những chiếc quan tài! 

Lời tuyên bố đó khiến mọi người bất ngờ, ai nấy đỏ mặt, người cứng đờ, bầu không khí lặng như tờ bao trùm căn phòng. Chỉ có Richagov vẫn đứng, chưa hoàn hồn sau cú nổ của chính mình, mặt mày đỏ lựng và nóng nảy; Stalin đứng cách anh vài bước. Đúng ra là ông ta đi lại, nhưng ông dừng lại ngay sau khi nghe lời tuyên bố của Richagov. 

Xin được nêu ý kiến riêng của tôi. Theo cái cách thức như đã được nêu ra, lời tuyên bố nói trên không có chỗ đứng trong Hội đồng Quân sự. Stalin đã làm nhiều việc cho binh chủng không quân, ông quan tâm nhiều đến ngành và có hiểu biết tương đối kỹ càng trong các vấn đề liên quan đến ngành; dù sao đi nữa, ông cũng am hiểu hơn nhiều so với những người đứng đầu Bộ Dân ủy Quốc phòng hồi đó. 

Stalin hiểu rõ về binh chủng không quân hơn họ nhiều. Chắc chắn ông coi lời đáp của Richagov - ở dạng được đưa ra - như một sự xúc phạm đến cá nhân ông và mọi người đều hiểu điều đó. 

Stalin đứng tại chỗ một hồi rồi tiếp tục đi dạo bên cạnh chiếc ghế, cũng theo hướng mà trước đó ông đã đi. Ông làm một vòng quanh chiếc bàn họp, quay lại và đi dọc căn phòng trong bầu không khí lặng như tờ, rồi ông lại quay lại, rút chiếc tẩu khỏi miệng và chậm rãi nói, không hề cao giọng: 

- Lẽ ra không cần nói câu đó! 

Rồi ông lại bước tiếp. Ông đi dạo quanh chiếc bàn, quay lại, đi dọc phòng họp, lại quay lại và hầu như ông dừng ở đúng chỗ mà trước đó ông đã đứng, và nói bằng một giọng cũng nho nhỏ như thế: 

- Lẽ ra không cần nói câu đó! - và sau một chút nghỉ, ông nói thêm: - Phiên họp kết thúc! 

Stalin ra khỏi phòng họp đầu tiên. Mọi người lục đục sửa soạn hành lý, xách cặp giấy, túi tắm ra về và chờ xem điều gì sẽ xảy ra sau đó. Ngày thứ hai, thứ ba và thứ tư, nhưng đến ngày thứ năm vẫn chưa có gì xảy ra. Một tuần sau, Richago bị bắt và anh mất tích vĩnh viễn. 
* 

Trong trích đoạn sau đây, Simonov thuật lại lời kể của Nguyên soái Aleksandr Vasilyevsky, Tổng tham mưu trưởng Hồng quân trong Thế chiến thứ hai, một người có dịp tiếp xúc thường xuyên với Stalin và thấu hiểu tính cách nhà độc tài. 

Đề tài được nhắc đến là cuộc chiến Phần Lan, vốn bị coi là “cấm kỵ” ở Liên Xô (cũ) trong nhiều thập niên dài. Năm 1939, nhằm củng cố biên giới phía Bắc, chính phủ Xô-viết đề nghị Phần Lan nhượng lại cho Liên Xô eo đất Karelia; bù lại, Liên Xô sẵn sàng trao cho Phần Lan một khoảng đất lớn hơn: bán đảo Kola. 

Đọc đoạn trích, độc giả có thể thấy ý kiến của Vasilyevsky: ngay từ thời điểm trước Đệ nhị Thế chiến, Stalin đã tỏ ra là một chiến lược gia tồi, bản tính tự cao tự đại và những sai lầm của ông đã khiến hàng vạn binh lính Xô-viết phải thiệt mạng một cách oan uổng trong cuộc chiến xâm lược Phần Lan. 

Những ý kiến thẳng thắn và trung thực này đã không được đưa vào cuốn hồi ký nổi tiếng “Bộ Tổng tham mưu Xô-viết trong chiến tranh” của Vasilyevsky, từng được dịch và xuất bản ở Việt Nam. Lý do rất dễ hiểu: bộ máy kiểm duyệt và thời kỳ đình trệ dưới “triều đại” Brezhnev...
 
 
Lính trượt tuyết Phần Lan tại mặt trận phía Bắc chống Hồng quân xâm lược (ngày 12-1-1940) - Ảnh tư liệu 

Cuộc chiến Phần Lan bắt đầu như thế nào? Chính phủ ta mở những cuộc đàm phán với Phần Lan nhằm chuyển dịch đường biên giới và đề nghị họ nhượng lại eo đất Karelia cho Liên Xô, vùng đất này cần thiết để đảm bảo an toàn vùng Leningrad; chúng ta cũng đề nghị bồi hoàn xứng đáng cho họ. 

Khi những cuộc đàm phán ấy tỏ ra thất bại hoàn toàn, Stalin triệu tập Hội đồng Quân sự và đặt vấn đề: nếu mọi sự diễn tiến như thế thì chúng ta phải mở một cuộc chiến tranh với Phần Lan. Tổng tham mưu trưởng quân đi Shaposhnikov được mời đến để thảo luận kế hoạch tác chiến. Cố nhiên, kế hoạch chiến sự cho cuộc chiến Phần Lan đã được bàn định xong xuôi và Shaposhnikov đệ trình nó lên Stalin. 

Kế hoạch này xuất phát từ sự đánh giá thực tế sức mạnh quân sự của Phần Lan, cạnh đó, nó còn căn cứ vào trạng thái hệ thống chiến lũy phòng thủ của Phần Lan. Do đó, Shaposhnikov đòi hỏi sự tập trung của những lực lượng quân sự và vũ khí đáng kể, ông cho rằng đó là các yếu tố không thể thiếu được để thực hiện thành công kế hoạch nói trên. 

Khi Shaposhnikov kê khai tất cả những lực lượng và phương tiện quân sự mà ông cho rằng Bộ Tổng tham mưu phải tập trung trước khi khởi sự, Stalin biến kế hoạch đó thành một trò hề. Ông nói đại loại như sau: Shaposhnikov đòi hỏi những lực lượng và phương tiện quân sự quá lớn để đánh Phần Lan, không thể cần đến những nhu cầu quá lớn như thế được. 

Sau đó, Stalin quay sang phía Meretskov, Tư lệnh Quân khu Leningrad, và hỏi ông ta: “Quả thực các anh cần đến những lực lượng quân sự khổng lồ đến thế để đánh Phần Lan? Quả thực cần nhiều đến thế ư?”. Meretskov đáp: “Thưa đồng chí Stalin, phải tính toán, phải cân nhắc về chuyện này. Chúng tôi cần sự hỗ trợ, nhưng có lẽ không theo chiều hướng đã được nói ở đây”. 

Như vậy, từ đầu, Stalin đã loại trừ Bộ Tổng tham mưu khỏi chiến sự sắp tới. Thậm chí, ngay tức khắc, ông còn bảo Shaposhnikov cần nghỉ ngơi, ông phân cho vị chỉ huy quân sự một nhà nghỉ ở Shochi và cho Shaposhnikov nghỉ phép. Tất cả các cộng sự của Shaposhnikov đều bị phân tán, Stalin cử họ đi làm đủ mọi thứ công tác “giám sát” ở mọi nơi. Ví dụ: ông tìm được một cớ gì đó để thuyên chuyển tôi đến giới tuyến ở Lithuania. 

Ai cũng biết những gì xảy ra sau đó. Thiếu chuẩn bị, mặt trận Leningrad bước vào cuộc chiến trong tình trạng thiếu lực lượng quân sự cần thiết và thiếu phương tiện vũ khí, họ dậm chân tại chỗ trọn một tháng trời ở eo đất Karelia, bị thiệt hại nặng nề và về thực chất, họ chỉ vượt qua được chặng đầu của tuyến phòng thủ. 

Chỉ sau tháng đầu, họ mới đến được phòng tuyến thực sự của Mannerheim, nhưng lúc đó binh lính đã quá mệt mỏi và không còn sức lực để chiếm các thành quách của đối phương. Khi ấy, Stalin cho triệu hồi Shaposhnikov (đang nghỉ phép) và Hội đồng Quân sự lại thảo luận kế hoạch tiếp tục cuc chiến Phần Lan. Về đại thể, Shaposhnikov đệ trình một kế hoạch giống như kế hoạch của ông trước đó một tháng. 

Bây giờ, kế hoạch đó được thông qua. Vấn đề được đặt ra là ai sẽ chỉ đạo chiến sự vùng eo đất Karelia? Stalin tuyên bố Meretskov bất lực trước nhiệm vụ, vì thế ông ta không được ủy nhiệm. Stalin hỏi: 

- Vậy ai chịu nhận nhiệm vụ lãnh đạo các lực lượng quân sự chiến đấu ở eo đất Karelia? 

Mọi người lặng thinh, một sự im lặng kéo dài và khó xử. Cuối cùng, Timoshenko đứng dậy và nói: 

- Nếu nhận được mọi thứ đã nói đến ở đây, tôi xin nhận nhiệm vụ chỉ huy và tôi hy vọng sẽ không gây thất vọng. 

Timoshenko đã được bổ nhiệm như thế. 

Ngoài mặt trận, cuộc chiến tạm ngừng trong một tháng. Thực chất chiến sự chỉ tái diễn vào tháng Hai. Trong tháng ấy, người ta khởi thảo kỹ lưỡng các kế hoạch tác chiến, điều đng các đơn vị quân đi, đào tạo họ và chuyên chở vũ khí đến vị trí cần thiết. Timoshenko điều khiển tất cả những công việc này tại vùng eo đất Karelia. 

Phải công nhận quả thực ông quan tâm đến công việc một cách rất năng đng: ông huấn luyện, giảng dạy, chuẩn bị cho các đơn vị quân đi vào chiến trận. Các lực lượng không quân, chiến xa và trọng pháo được tập trung. Cuối cùng, khi các cuộc hành quân diễn ra, khi đó đã đầy đủ lực lượng quân sự và khí cụ cần thiết, thành công là điều tất yếu: Hồng quân nhanh chóng chọc thủng phòng tuyến Mannerheim. 

Xem tiếp Phần 3. 
Trần Lê dịch - Còn tiếp

Phần nhận xét hiển thị trên trang

HỒI TƯỞNG CỦA SIMONOV VỀ STALIN (Phần 1)


Thứ sáu - 18/11/2005 23:05

(NCTG) “Các đồng chí có nhận ra bao nhiêu người đứng gác ngoài kia không? Con người ta đi ngoài hành lang và luôn luôn phải suy nghĩ: Chẳng biết đứa nào đây? Nếu là tay này, hắn sẽ bắn vào lưng, nếu anh ngoặt ở góc hành lang, kẻ khác sẽ nổ súng vào trán anh. Người ta đi cạnh bọn chúng ngoài hành lang và có những ý nghĩ như thế đấy...”.

 
Nhà văn Konstantin Simonov và nữ tài tử Valentina Serova - Ảnh tư liệu
 

Lời giới thiệu: Nhà văn, nhà thơ Konstantin Simonov (1915-1979) là một văn nghệ sĩ - chiến sĩ rất được ưa chung ở Liên Xô (cũ). Ông là tác giả của nhiều bộ tiểu thuyết đồ sộ về chiến tranh, về nhân sinh... như “Ngày và đêm” (1944), “Những người sống và những kẻ chết” (1959), “Không sinh ra để làm chiến sĩ” (1965), “Mùa hạ cuối cùng” (1971)... 

Độc giả Việt Nam chủ yếu biết đến Simonov qua bài thơ “Đợi anh về” nổi tiếng, được coi là một lời tỏ tình nồng nhiệt, một khẩn cầu tha thiết, một biểu tượng sắt son, một lòng chung thủy không gì lay chuyển giữa các chàng trai và các cô gái trong thời kỳ chinh chiến. Bài thơ này được tác giả sáng tác vào cuối hè 1941, khi phát-xít Đức khởi cuộc tấn công Liên Xô, để tặng một người đàn bà mà ông say đắm: nữ tài tử điện ảnh và sân khấu lừng danh của Liên Xô (cũ), bà Valentina Serova, người được tôn vinh là “người phụ nữ hấp dẫn nhất của nền điện ảnh Xô-viết”. 

“Đợi anh về” đã được dựng thành phim (do chính Serova thủ vai), được in thành hàng triệu ấn bản để phân phát cho các quân nhân Xô-viết ngoài mặt trận; ở Việt Nam, nó được Văn Chung phổ nhạc và theo lời nhạc sĩ Phạm Duy, đó là một “ca khúc tuyệt vời” mà ông đã cùng gia đình nhà vợ (ban hợp ca “Thăng Long”) trình diễn ngay tại Sài Gòn thời trước 1954. 

Mặc dù thuộc số văn nghệ sĩ được Stalin và chính quyền rất sủng ái nhưng trong thời gian về sau, khi nhận ra bản chất độc đoán của “Ông chủ”, Simonov đã cố gắng làm tất cả những gì có thể để trở thành một con người cương trực. Trên cương vị TBT tờ “Novy Mir” (Thế giới mới), ông đã cho đăng tải nhiều tác phẩm gây chấn động dư luận vào cuối thập niên 50. Cũng vì thế mà trong một thời gian, Simonov phải tự lưu đày ở Tashkent, xa lánh mọi sự kiện ở Moscow. 

Vào những năm cuối đời, Simonov đã khởi công viết những hồi tưởng về Stalin (dưới tiêu đề “Stalin dưới con mắt thế hệ chúng tôi”) nhưng ông không có thời gian để kết thúc. Gần mười năm sau ngày nhà văn qua đời, bản thảo dang dở của tập hồi ký mới được nguyệt san văn học “Znamya” hiệu chỉnh và đăng tải vào mùa xuân 1988. Trong thời kỳ cải tổ ở Liên Xô, đây là cuốn hồi ký về Stalin được giới phê bình đánh giá rất cao, mặc dù trong sách Simonov vẫn chưa có điều kiện nói thẳng ý kiến của ông về nhà độc tài (nhiều người trách ông vì thái độ “mập mờ” này). 

Dù sao đi nữa, cuốn sách cũng đưa ra được nhiều tấm “chân dung văn học” muôn màu muôn vẻ, sắc sảo và chân thực về một con người có tính cách vô cùng đa dạng, phức tạp và đầy mâu thuẫn: Stalin. Tựu trung, “Stalin dưới con mắt thế hệ chúng tôi” là một tác phẩm rất có giá trị về văn học và sử liệu. 

NCTG xin trích dịch một số đoạn trong tập hồi tưởng nổi tiếng đó, ngõ hầu giúp độc giả một số thông tin hữu ích về tính cách và con người - cũng như về những bộ mặt khác nhau - của nhà độc tài Stalin. Các chú thích trong bài là của người dịch. 
  
* 

Trong trích đoạn sau đây, Simonov thuật lại cuộc trò chuyện với Thiếu tướng Hải quân Isakov, người lãnh đạo hạm đội Xô-viết, từng có nhiều dịp gần gũi Stalin. Qua đó, chúng ta có thể thấy phần nào một số mặt trong tính cách đa dạng của Stalin. 
 
Stalin trong tranh cổ động của Liên Xô: “Bữa trước mẹ cho con xem ảnh - Ông Xít-ta-lin bên cạnh nhi đồng - Áo Ông trắng giữa mây hồng - Mắt Ông hiền hậu, miệng Ông mỉm cười” (Tố Hữu) 

Tôi nghĩ rằng mẩu chuyện này xảy ra trước khi Kirov (1) bị ám sát. Tôi là thành viên một ủy ban chịu trách nhiệm về các công trình xây dựng quân sự lớn. Ủy ban đó họp hành đều đặn hàng tuần, lúc thì tại văn phòng của Stalin, lúc ở chỗ khác. Sau những phiên họp như thế, đôi lúc, có một nhóm nhỏ, phạm vi khá hẹp, cùng nhau ở lại ăn bữa tối, hoặc chúng tôi xem phim, cũng trong phạm vi hẹp. Trong lúc coi chiếu bóng, chúng tôi cũng uống và ăn lai rai. 

Khi sự kiện tôi muốn nói đến sau đây diễn ra, chúng tôi ăn bữa tối trong một căn phòng ở tầng dưới: đó là một buồng tương đối nhỏ, thấp, bốn bề là những kệ sách. Từ phòng làm việc, có những hành lang rất dài và khúc khuỷu dẫn đến căn phòng này. Ở mọi hành làng và chỗ ngoặt đều có lính gác, thực ra không phải các vệ sĩ mà là các sĩ quan trực ban của NKVD (2). 

Tôi còn nhớ ngay sau phiên họp, chúng tôi đi qua căn phòng đó và trước khi ngồi vào bàn, Stalin đột nhiên nói: “Các đồng chí có nhận ra bao nhiêu người đứng gác ngoài kia không? Con người ta đi ngoài hành lang và luôn luôn phải suy nghĩ: Chẳng biết đứa nào đây? Nếu là tay này, hắn sẽ bắn vào lưng, nếu anh ngoặt ở góc hành lang, kẻ khác sẽ nổ súng vào trán anh. Người ta đi cạnh bọn chúng ngoài hành lang và có những ý nghĩ như thế đấy...”. 

Như mọi người khác, tôi cũng im lặng lắng nghe những lời lẽ đó. Câu chuyện làm tôi bàng hoàng. Giờ đây, sau nhiều năm, trường hợp này giải thích được nhiều điều - cố nhiên không phải tất cả, nhưng chắc chắn được một số điểm - về cuộc đời và cung cách cư xử của Stalin. 

Một chuyện khác. Tôi trở về sau một chuyến đi miền Bắc. Có một cơ sở quân sự, một nhà máy khổng lồ được xây dựng ở đó. Nhưng không làm sao chúng tôi xây được đường xá phù hợp với căn cứ này. Thoạt đầu, người ta làm đường thông qua một đầm lầy, nhưng nó mềm như một chiếc gối khiến mọi thứ điều nghiêng ngả khi một chiếc xe chạy qua. 

Sau khi công việc được thúc đẩy trước khi xây dựng tuyến đường sắt, đơn thuần người ta đặt gỗ ván và đường ray lên con đường này. Phải vượt một phần của đoạn đường đó bằng xe hơi, phần kia bằng thứ xe lửa mở nóc, tức là một đoàn tàu chỉ vỏn vẹn có hai toa chở hàng. Nghĩa là tất cả chỉ là điều ngu xuẩn, ai cũng biết điều đó: không thể làm nên trò trống gì với cung cách này. 

Trong ủy ban mà tôi là thành viên, có cả các đại diện của nhiều ban ngành. Vị chủ tịch ủy ban không dính dáng gì đến Bộ Dân ủy Giao thông, vì thế ông ta hoàn toàn không để tâm đến con đường. Tôi phản đối nhưng vô ích: ông ta báo cáo với Stalin rằng mọi việc tiến triển tốt đẹp và thành tựu ở mức cao nhất - về hình thức ông ta cũng có lý bởi quả thực, ở cơ quan thuộc thẩm quyền của ông, mọi việc đều ổn thỏa; ngoài ra, ông ta không hề nhắc đến một lời về con đường. 

Thấy vậy, tôi xin được phát biểu và tôi buồn rầu báo cáo về trạng thái thứ đường sắt này, tôi nói giải pháp đó hoàn toàn tệ hại, như thế chúng ta không thể xây dựng được bất cứ nhà máy nào và nói chung, việc đưa tuyến đường sắt ra đường cái, thậm chí ra một con đường duy nhất, chính là phá hoại chứ không phải gì khác. Thời ấy, “phá hoại” là một cách diễn đạt hợp mốt và tôi cũng sử dụng nó vì nó hợp với ngoại cảnh. 

Stalin lắng nghe rồi nói bằng giọng điềm đạm: “Đồng chí (ông gọi tôi bằng bằng tên họ) đã đánh giá tình hình một cách rất thuyết phục. Cố nhiên, nếu khách quan, con đường ở trạng thái hiện nay đúng là phá hoại chứ không phải gì khác. Nhưng trước tiên, hãy xem ai là người phá hoại? Kẻ phá hoại dĩ nhiên là tôi. Tôi đã ra chỉ thị xây dựng con đường này. 

Người ta thuyết phục tôi rằng không còn giải pháp nào khác, rằng điều này sẽ thúc đẩy tiến trình công việc; họ chỉ nhắc đến một cách đại để, hoặc nói chung họ chẳng báo cáo chi tiết cho tôi. Tôi đã đồng ý cho thúc đẩy công trình xây dựng. Nghĩa là trong trường hợp này, chính tôi là kẻ phá hoại. Chúng ta sẽ xem ai có lý. Nhưng bây giờ hãy quyết định những biện pháp tiếp tới.
” 

Đây là một trong số những trường hợp khi Stalin cũng tỏ ra có khiếu hài hước. Bởi lẽ ông ta có khiếu hài hước rất phát triển, đó là một thứ hài hước rất đặc thù, và thường thường Stalin có thể nói về những sai sót, lầm lẫn của mình, nhận chúng về phần mình. (...) 

Xem tiếp Phần 2. 

Ghi chú: 

(1) Lãnh tụ cộng sản Kirov - từng được coi là đối thủ của Stalin trong đảng - bị ám sát cuối năm 1934. Có nhiều bằng chứng cho thấy Stalin đã hãm hại ông. 

(2) Viết tắt của Bộ Dân ủy Nội vụ Liên Xô, trong thực tế là một cơ quan mật vụ chính trị.
 
Trần Lê dịch và giới thiệu - Còn tiếp

Phần nhận xét hiển thị trên trang

TƯỞNG NHỚ NGUYỄN HỮU ĐANG, KẺ SĨ BẮC HÀ


Thứ tư - 21/02/2007 13:37

(NCTG) Trong những ngày giáp Tết Đinh Hợi năm nay, chúng ta lại đau buồn chia tay một nhà hoạt động văn hóa và cách mạng lớn của Việt Nam thế kỷ XX, thuộc hàng những kẻ sĩ Bắc Hà kiên cường và có khí phách nhất.

Trưởng ban Tổ chức Nguyễn Hữu Đang là người ngồi thứ ba từ trái sang. Ảnh chụp trong cuộc họp mặt những người tham gia tổ chức Lễ Độc lập (năm 2005)

Đó là Nguyễn Hữu Đang, thủ lĩnh tinh thần và trong thực tế của phong trào Nhân văn Giai phẩm, một con người mà theo nhận định của giới trí thức cấp tiến Hà Thành khi ông qua đời, nền dân chủ - tự do của nước Việt sau này sẽ phải ghi danh ông. 
Nguyễn Hữu Đang sinh ngày 15-8-1913 trong một gia đình trí thức ở tỉnh Thái Bình. Từ thuở ấu thời, ông đã nổi tiếng là ham hiểu biết và học giỏi, yêu tự do và công bằng xã hội. Lòng mong mỏi cho quê hương được độc lập khiến ông, từ khi là học sinh, đã tham gia những hoạt động yêu nước. Cuối năm 1930, ông bị Pháp bắt giam, nhưng chỉ bị quản chế vì chưa đến tuổi thành niên nên không thể ghép án tù.
Lên Hà Nội học Cao đẳng Sư phạm, Nguyễn Hữu Đang được nâng cao tầm học vấn, trở thành một nhà hoạt động văn hóa lỗi lạc thời Mặt trận Bình dân: cùng một lúc, ông viết và biên tập cho nhiều báo, là một yếu nhân trong phong trào chống nạn thất học rồi tham gia sáng lập và chỉ đạo Hội Văn hóa Cứu quốc.
Ý thức được rằng một dân tộc chỉ có thể phú cường khi người dân có học thức, có hiểu biết, trong nhiều năm ròng, Nguyễn Hữu Đang bôn ba khắp Việt Nam trên cương vị lãnh đạo Hội Truyền bá Quốc ngữ và trở thành một diễn giả, một nhà hùng biện chuyên nghiệp và uyên thâm.
Nhớ về những ngày tháng hào hùng này của ông, nhà văn Phùng Quán trong một thiên ký sự động lòng về Nguyễn Hữu Đang, đã viết: “[Ông] hoạt động công khai, ăn vận sang trọng như một công tử loại một của Hà Nội, thắt cà vạt đỏ chói, đi khắp Trung Nam Bắc diễn thuyết, oai phong, hùng biện…
Sau mốc 19-8-1945, với uy tín và tài năng đang lên cao, đồng thời, có ảnh hưởng sâu sắc trong giới trí thức và các tầng lớp trên ở thành thị, Nguyễn Hữu Đang được cử làm trưởng ban tổ chức Ngày Độc lập mùng 2-9, rồi tiếp tục giữ những trọng trách trong Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa như Thứ trưởng Bộ Thanh niên, Thứ trưởng Bộ Thông tin Tuyên truyền.
Trên cương vị Trưởng ban Thanh tra Bình dân Học vụ, Nguyễn Hữu Đang đã có vai trò lớn trong việc phổ cập tri thức, học vấn cho người dân thất học ở những vùng xa xôi.
*
Tuy nhiên, chắc hẳn bản thân Nguyễn Hữu Đang cũng không thể ngờ rằng, vai trò lịch sử của ông lại diễn ra vỏn vẹn trong vòng 2 năm, từ năm 1956 đến 1958, trên tư cách người thủ lĩnh nhóm Nhân văn Giai phẩm đấu tranh đòi quyền tự do, dân chủ và nhân phẩm trong sáng tạo, phản kháng sự đè nén, áp đặt của chính trị trong tư tưởng.
Có lẽ trong các yếu nhân của Nhân văn Giai phẩm, không ai ý thức được trọng lượng những gì mình làm, mình tranh đấu một cách sâu sắc và uyên bác như Nguyễn Hữu Đang; điều này được phản ánh trong một bản viết cho một nhà nghiên cứu ngoại quốc về phong trào Nhân văn Giai phẩm cuối năm 1998 tại Hà Nội, khi tác giả đã 86 tuổi:
Ý thức, tư tưởng chủ đạo của phong trào là chống lại sự biến chất của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam từ chế độ chuyên chính thông thường đã bắt đầu có xu hướng hướng cực quyền (còn gọi là toàn trị, tiếng Pháp là totalitarisme, tiếng Anh là totalitarianism) trong đó con người bị cưỡng bức toàn diện, triệt để nhiều khi tàn nhẫn đến vô nhân đạo, phi nhân văn, biến con người bị trị thành nô lệ của một tập đoàn thống trị ít người và duy ý chí tuy nhân danh cách mạng mà hành động, nhưng hiệu quả khách quan của hành động lại phản tiến hóa.
Với Nhân văn Giai phẩm, Nguyễn Hữu Đang thực sự là linh hồn. Chẳng những là một nhà tổ chức tài ba trong những công việc thu thập bài vở, ấn hành báo, chiêu tụ những người cùng một ý tưởng trong sáng là đòi hỏi những quyền tự do căn bản cho người sáng tác, Nguyễn Hữu Đang còn là tác giả của nhiều bài viết rất “nặng ký”, mang ý nghĩa sâu xa mà đến nay, khi đọc lại, chúng vẫn còn nguyên thời sự tính.
Chẳng hạn, bài phân tích về Hiến pháp Việt Nam đăng trên tờ “Nhân văn”, số 5, tháng 11-1956, Nguyễn Hữu Đang đòi hỏi nhà nước phải ban bố một Hiến pháp dân chủ, đảm bảo các quyền tự do cho người dân, và phải coi đó là “một nền tảng cho cái lâu đài pháp trị”.
Ông quả quyết: dù Hiến pháp sẽ được ban bố có nội dung thế nào đi nữa, thì phần bảo đảm tự do dân chủ của nó về căn bản vẫn phải có những quyền như tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do cư trú, đi lại trong nước và ra ngoài nước, và một khi tư pháp chưa quyết định thì không được bắt bớ và giam cầm người công dân Việt Nam, nhà ở và thư từ của công dân Việt Nam không ai được xâm phạm một cách trái pháp luật.
Ông khẳng định: một khi cách mạng càng đi lên thì càng phải tăng cường, mở rộng các quyền tự do dân chủ cho đông đảo các giai tầng nhân dân, chứ không phải ngày một bó hẹp, hạn chế nó, mang danh “chuyên chính vô sản”, như giữa thập niên 50 thế kỷ trước ở miền Bắc.
Liên hệ đến những cuộc nổi dậy của nhân dân Ba Lan và Hungary năm 1956, Nguyễn Hữu Đang đã chỉ ngay ra mấu chốt của vấn đề, là vì thiếu dân chủ, và lại quá chuyên chế đối với nhân dân.
Trong một bài báo khác đăng trên báo “Nhân văn” số 4, năm 1956, nhắc đến việc Liên Xô sau hơn 30 năm xây dựng cái gọi là CNXH và tuyên bố chuẩn bị bước vào kiến thiết CNCS, vẫn phải đặt vấn đề tôn trọng pháp luật, Nguyễn Hữu Đang liên hệ đến tình trạng vô pháp luật lan tràn.
Ông chỉ ra nguồn gốc của nó, là sự tùy tiện, là nếp cũ, là sự lạm quyền, độc đoán, là thứ “lập trường cách mạng” méo mó: “Trong Cải cách Ruộng đất, những việc bắt người, giam người, tra hỏi (dùng nhục hình dã man), xử tù, xử bắn, tịch thu tài sản, hết sức bừa bãi, bậy bạ, cũng như việc bao vây đến làm chết đói những thiếu nhi vô tội trong các gia đình địa chủ (hoặc chính là nông dân mà bị quy sai thành phần), không phải chỉ hoàn toàn do sự lãnh đạo kém cỏi mà còn do thiếu chế độ pháp trị hẳn hoi.
Rồi ông căm phẫn: “Do pháp trị thiếu sót mà Cải cách Ruộng đất hỏng to đến thế. Do pháp trị thiếu sót mà quân đội chưa có chế độ binh dịch hợp lý, công an hỏi giấy giá thú đôi vợ chồng ngồi ngắm cảnh trăng lên ở bờ hồ, hộ khẩu rình bên cửa sổ khiến người ta mất ăn, mất ngủ, cán bộ thuế tự tiện vào khám nhà người kinh doanh, ở khu phố có chuyện đuổi nhà lung tung hoặc ép buộc người ở rộng phải nhường lại một phần nhà cho cán bộ hay cơ quan ở.
Do pháp trị thiếu sót mà nhiều cơ quan bóc xem thư của nhân viên và một ngành rất quan trọng nọ đòi thông qua những bài báo nói đến mình, làm như một bộ phận của Nhà nước lại có quyền phục hồi chế độ kiểm duyệt mà chính Nhà nước đã bãi bỏ. Do pháp trị thiếu sót, người ta đã làm những việc vu cáo và đe doạ chính trị trắng trợn, ngăn cản việc mua đọc báo “Nhân văn”, hành hung báo “Trăm hoa” v.v…”.
Dễ hiểu là những bài viết đầy tâm huyết, nhưng mang tính học thuật và cấp tiến như vậy của Nguyễn Hữu Đang đã như những trái bom bên cạnh các sáng tác văn nghệ của phong trào Nhân văn Giai phẩm. Xét về mặt này, có lẽ chỉ có bài viết đòi dân chủ và pháp quyền của cụ Nguyễn Mạnh Tường, nổi danh với hai bằng TS Luật khoa và Văn chương tại Pháp, là có tầm ảnh hưởng tương tự.
Không phải ngẫu nhiên mà trong chiến dịch “đánh” Nhân văn Giai phẩm sau này, đại đa số những kẻ “bẻ cong ngòi bút” - trong đó có nhiều tên tuổi như Hoàng Trung Thông, Mạnh Phú Tư, Như Phong… -, mặc dù đã dùng những từ ngữ hết sức tồi tệ đối với Nguyễn Hữu Đang, nhưng vẫn phải thừa nhận ông là linh hồn, là ngọn cờ đầu của phong trào.
Ấy là chưa nói đến chuyện, trong hành động thực tiễn, Nguyễn Hữu Đang cũng đi rất xa: ngay trước khi bị bắt, ông đã đề nghị Quốc hội miền Bắc cho phép biểu tình theo đúng Hiến pháp, để bảo vệ những quyền tự do và dân chủ.
Sau khi Nhân văn Giai phẩm bị đàn áp, Nguyễn Hữu Đang bị bắt giam tháng 4-1958 và đến năm 1960, ông bị bản án tù giam 15 năm, nặng nhất trong số các thành viên của phong trào. Sau Hiệp định Paris, tháng 2-1973, ông được trả tự do, nhưng bị quản chế ở quê nhà Thái Bình.
Thời gian từ 1960 đến 1973, Nguyễn Hữu Đang bị giam ở Hà Giang, gần sát biên giới Trung Quốc, và ông là một trong vài người tù của miền Bắc không hề được biết đến cuộc chiến Việt Nam trong những năm đó!
*
Vụ án “Nhân văn”, kéo dài trong hơn 30 năm, là một trong những trang sử bi thảm của giới trí thức Việt Nam thế kỷ XX. Khởi đầu năm 1956 với những nỗ lực dân chủ hóa đời sống tinh thần, văn nghệ và xã hội của một nhóm văn nghệ sĩ nổi tiếng, vụ án Nhân văn đạt tới đỉnh điểm khi nhiều thành viên của phong trào bị khai trừ, cảnh cáo, bị bôi nhọ, lăng nhục bởi chính những bạn hữu, đồng nghiệp của họ, vào mùa hạ năm 1958. 

Một năm sau, sinh mạng chính trị của những tên tuổi tiêu biểu của phong trào Nhân văn và của nền văn nghệ Việt Nam - trong đó, có Nguyễn Hữu Đang - coi như bị khai tử với những lời chỉ trích và nhục mạ tệ hại trong 370 trang sách “Bọn Nhân văn Giai phẩm trước tòa án dư luận”. Trong hơn ba thập niên tiếp tới, về căn bản, những “bị cáo không án” của vụ “Nhân văn Giai phẩm” đã bị cấm sáng tác, cấm xuất hiện và đăng tải dưới tên thật, đa phần sống cơ cực, nhọc nhằn bên lề xã hội và bên lề những sinh hoạt văn nghệ “chính mạch”. 

Trên cương vị nhà tổ chức, linh hồn và thủ lĩnh chính trị của Nhân văn Giai phẩm, Nguyễn Hữu Đang chịu bản án tù nặng nhất - 15 năm vì tội danh “phá hoại chính trị” và bị đưa lên giam ở Hà Giang. Đánh giá vai trò của ông trong phong trào, Trần Dần khẳng định: “Nếu không có Đang, không ai có thể tập hợp anh em được. Sẽ không có tham luận với những đề nghị: gặp Trung ương, ra báo... mà cũng sẽ không có tờ Nhân Văn”. Hoàng Cầm, một yếu nhân khác của phong trào, cũng cho hay, Nguyễn Hữu Đang là “người sinh ra báo “Nhân văn”. 

Trong vòng gần 20 năm kể từ khi được trả tự do năm 1973, Nguyễn Hữu Đang bị an trí ở Thái Bình và có lẽ chúng ta sẽ không thể biết về quãng đời gian nan cùng cực ấy của ông, nếu không có một thiên ký động lòng của Phùng Quán, người em kết nghĩa, thành viên trẻ nhất, thường được coi là “Triệu Tử Long của Nhân văn Giai phẩm”. 

Bài ký kể về những kỷ niệm của hai người bạn vong niên, đặc biệt là về chuyến thăm Nguyễn Hữu Đang của Phùng Quán đầu thập niên 90, vào những ngày giáp Tết. Tại một vùng quê nghèo xác xơ ở miền Bắc, Phùng Quán đã gặp Nguyễn Hữu Đang, ông cụ ở độ tuổi gần 80, không vợ không con, sống độc thân trong một cái chái bếp rộng chỉ khoảng 5 mét vuông mà theo lời tả của Phùng Quán là: 

“… chật kín những tư trang, đồ đạc. Mấy cây sào ngọn tre gác dọc ngang sát mái, treo vắt cả chục cái khăn mặt rách xơ như giẻ lau bát, áo may-ô thủng nát, quần lao động vá víu. Cạp quần đeo lủng lẳng một chùm lục lạc làm bằng vỏ hộp dầu cao Sao Vàng xuyên thủng, buộc dây thép, bên trong có hòn sỏi nhỏ. Đụng vào, chùm lục lạc rung lên leng keng, nghe rất vui tai. 

[…] Chính giữa gian chái kê cái tủ gỗ tạp nhỏ, hai cánh mọt ruỗng không khép kín được, khóa một chiếc khóa lớn như khóa nhà kho. Trên nóc tủ, xếp một chồng mũ cối, mũ vải, mũ lá mà ở Hà Nội người ta thường quẳng vào các đống rác. Cạnh tủ là một cái giường cá nhân, bốn chân giường được thống cố thêm bốn chồng gạch. Trên giường một đống chăn bông trần rách thủng, và một xấp quần áo cũ làm gối…. 

Sát chân giường kê chiếc bàn xiêu vẹo chỉ có hai chân, hai chân kia được thay bằng hai sợi dây thép buộc treo vào tường […] Dưới gầm bàn là mấy chục đôi dép cao su hư nát, đứt quai, được bó thành từng bó, hai cái vại muối dưa rạn nứt, sứt miệng, một đống bản lề cửa, sắt vụn, đinh còng queo, mẩu dây thép han rỉ… Tất cả những đồ lề đó, phủ lên một lớp bụi tro
…” 

Nguyễn Hữu Đang đã sống âm thầm và đói khát như thế bao nhiêu năm, mỗi lần lặng lẽ đạp chiếc xe cà khổ trên đường vào buổi đêm, chùm lục lạc đeo vào cạp quần, vừa báo hiệu có người để thanh niên họ tránh xe, vừa để “nghe tiếng lục lạc loong coong ngang thắt lưng, tự nhiên cảm thấy đỡ cô độc”. Không có gì ăn, ông lượm lặt vỏ bao thuốc lá để đổi lấy cóc, nhái, rắn nước của lũ trẻ trong làng, và tự an ủi đó là thứ thịt “thừa chất đạm, mà là loại đạm cao cấp”, “ăn thịt cóc của tôi rồi sẽ thấy các thứ thịt khác đều nhạt hoét”. 

Trong hoàn cảnh cực khổ đến tận cùng như vậy, Nguyễn Hữu Đang vẫn an nhiên tự tại, viết hồi ký và nghiên cứu, dịch sách lịch sử, vì ông nghĩ đó là những điều có ích cho đời sau. Mối lo duy nhất của ông chỉ là không biết chết ở đâu, như lời ông tâm sự: “Lúc sống thì tôi ở nhờ nhà ai chẳng được, ở đây cũng như ở trên Hà Nội... Nhưng lúc chết thì người thân mấy cũng làm phiền người ta. Có ai muốn một người không phải ruột ra máu mủ lại nằm chết trong nhà mình? 

Ngay cả cái chái bếp này cũng vậy, tôi nằm chết sẽ làm phiền đến nhà trường, các thày các cô, các cháu học sinh... Bởi vậy mà hai năm nay tôi không muốn lên Hà Nội. Ở đây, tại quê hương bản quán, tôi đã chọn sẵn chỗ để nằm chết... (...) Đấy, dưới chân búi tre ấy có một chỗ trũng nhưng bằng phẳng, phủ đầy lá tre rụng, rất vừa người tôi... Tôi sẽ nằm đó chết để khỏi phải phiền ai... Tôi đã chọn con đường ngắn nhất để có thể bò kịp đến đó, trước khi nhắm mắt xuôi tay
...”. 

Là người phải tiết kiệm đến từng xu để lo chuyện hậu sự, ấy vậy mà khi biết một người bạn, người em tâm giao thời Nhân văn Giai phẩm là Phùng Cung cần tiền để in “Xem đêm”, tập thơ của cả đời người, Nguyễn Hữu Đang đã không ngần ngại trao tất cả số tiền mà ông đã dè sẻn dành dụm trong 20 năm, chỉ với một yêu cầu duy nhất là “tập thơ phải in thật đẹp, mà đẹp giản dị, thanh nhã, chứ không rườm rà, lòe loẹt như nhiều tập thơ đang bày bán”. 

Cái nghẹn ngào của Phùng Quán khi viết những dòng sau đây, có lẽ cũng là niềm thương cảm đến thắt lòng của mọi người dân Việt ngày hôm nay, khi nghĩ đến hình bóng một trí thức dấn thân cho dân chủ hết sức can trường, một hào kiệt bậc nhất của một thời: “Không hiểu sao nghe anh nói tim tôi hồi hộp và cổ tôi như nghẹn ngào. Tôi được quen biết anh đã gần bốn mươi năm nhưng cho mãi tới hôm ấy tôi mới thật hiểu anh là người như thế nào. 

Nguyễn Hữu Đang là người nếu chỉ dùng cho bản thân thì một trăm đồng ba quả khế chua để gội đầu (thay chanh mà anh sợ đắt) cũng tiếc tiền, bất đắc dĩ mới phải mua, nhưng đã là việc nghĩa hiệp thì sẵn sàng san sẻ đến đồng tiền cuối cùng
”. 
* 

Năm 1989, Nguyễn Hữu Đang bắt đầu được “phục hồi” và từ năm 1990, ông được lương hưu trí, nhưng không theo mức mà lẽ ra một trí thức như ông phải được hưởng. Cho dù được về sống ở Hà Nội từ năm 1993 và vào thời gian cuối, đôi lúc, một vài tờ báo ở Việt Nam có nhắc đến cái tên Nguyễn Hữu Đang trên cương vị người tổ chức Lễ Độc lập năm 1945, nhưng sự tham gia của ông trong phong trào Nhân văn Giai phẩm vẫn nằm trong “vùng cấm”. 

Khác với trường hợp một số cộng sự trong Nhân văn Giai phẩm như Hoàng Cầm, Lê Đạt, Trần Dần, Phùng Quán…, trong những năm cuối đời, Nguyễn Hữu Đang vẫn tiếp tục bị tước quyền phát biểu, quyền công khai lên tiếng với báo chí, công luận. Nhà phê bình văn học Thụy Khuê kể lại, lần cuối cùng bà về Hà Nội vào mùa thu năm 1997, Nguyễn Hữu Đang đến thăm hai lần, nhưng lần nào cũng do một nhân viên của Bộ Nội vụ đi kèm nên ông đã không nói được gì. 

Là người nghiên cứu lâu năm về phong trào Nhân văn Giai phẩm và từng có những dịp tiếp xúc, phỏng vấn trực tiếp Nguyễn Hữu Đang, Thụy Khuê phải thốt lên căm phẫn khi thuật lại câu chuyện: “Những điều không thể hỏi ông qua điện thoại, đến khi gặp mặt cũng không hỏi được. Bao nhiêu chi tiết muốn ông soi tỏ về những hoạt động, những khúc mắc ngày xưa, về quãng đời tranh đấu truân chuyên, vẫn còn nguyên trong bóng tối. (...) 

Khi trở về Paris, tôi đã cố gắng điện thoại cho ông nhiều lần để “thực hiện chương trình”, nhưng chỉ sau vài câu thăm hỏi là điện thoại lại bị cắt, mặc dù đề tài nói chuyện, như đã dự định, chỉ chuyên về văn hóa. Có lần phẫn uất quá, ông đã quát lên trong điện thoại: “Chúng ta chỉ nói với nhau những chuyện văn hóa văn nghệ, chứ có làm gì phản dân, hại nước đâu mà chúng nó cũng...”. Lời ông chưa dứt, tiếng điện thoại đã lại u u... Câu nói dở dang ấy đã gây chấn động trong tôi trong nhiều năm tháng
”. 

Nguyễn Hữu Đang ra đi ngày 8-2-2007, tính theo lịch Âm là trước Phùng Quán, người em kết nghĩa và thân yêu của ông, một ngày. Tang lễ được cử đúng vào ngày ông Công ông Táo lên trời, rất cảm động với sự hiện diện của bà Ngô Thị Kim Thoa (vợ Phùng Cung) và bà Vũ Bội Trâm (vợ Phùng Quán) chít khăn tang đứng cùng thân quyến bên linh cữu chịu tang. 

Từ Đà Lạt, nhà thơ Bùi Minh Quốc đã nhờ bà Vũ Bội Trâm đặt viết trên lụa đôi câu đối viếng Nguyễn Hữu Đang: “Dâng Tổ Quốc kỳ đài Độc Lập, vun gốc Nhân Văn một đời trong trắng - Hiến Nhân Dân diệu lý Tự Do, đắp nền Pháp Trị muôn thuở sáng ngời”. TS Hà Sỹ Phu cũng có những lời vĩnh biệt ông hết sức cảm động: “Thê tử không màng, dựng một Kỳ đài cho thế kỷ! - Nhân văn là thế, khơi ngàn Ước vọng để mai sau!”. 

Được biết, đã có rất nhiều vòng hoa trắng được mang đến viếng ông trong ngày đưa tang. Bởi lẽ, như lời cám ơn của gia đình: “Cụ Nguyễn Hữu Đang, thân nhân ruột thịt của chúng tôi có một cuộc sống không được bình thường như mọi người: Không vợ con. Không gia đình. Mọi hoạt động, mọi tâm nguyện đều hướng về phục vụ nhân dân, phục vụ xã hội cho đến cuối đời. Không một đòi hỏi cá nhân ích kỷ.” 

Một Hiệp sĩ hào hiệp, một nhà Văn hóa uyên thâm và trung thực, một Con người trong sáng và quả cảm đã ra đi như thế, để lại một di sản dân chủ mà chúng ta còn phải mất nhiều năm để thấu hiểu và đánh giá một cách đầy đủ…
Nguyễn Hoàng Linh

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Xem hết rồi sẽ phát bểu nhá!:

Video toàn bộ cuộc mít tinh, diễu binh, diễu hành 2/9/2015


(TNO) Sáng 2.9, tại quảng trường Ba Đình (Hà Nội) diễn ra buổi diễu binh, diễu hành kỷ niệm 70 năm Quốc khánh. Trước lễ mít tinh là phần chào cờ và bắn 21 phát đại bác từ khu vực Hoàng thành Thăng Long. Thành phần tham gia diễu binh, diễu hành thuộc các lực lượng vũ trang nhân dân quân đội, công an, du kích, dân quân, tự vệ cùng các lực lượng quần chúng công nhân, nông dân, doanh nhân, thanh niên, phụ nữ, các dân tộc..., với chủ đề “Phát huy sức mạnh dân tộc, quyết tâm xây dựng, bảo vệ vững chắc nhà nước VN XHCN”.

Đoàn diễu binh, diễu hành sau khi đi qua quảng trường Ba Đình sẽ tiếp tục di chuyển theo hai hướng đường Nguyễn Thái Học - Kim Mã - Liễu Giai; Nguyễn Thái Học - Hàng Khay - Tràng Tiền - Nhà hát Lớn. Người dân có thể đứng dọc các tuyến đường này để xem trực tiếp. Để phục vụ nhân dân, các màn hình lớn cũng sẽ được lắp đặt dọc các tuyến đường kể trên. Kết thúc phần diễu binh, diễu hành sẽ là chương trình nghệ thuật do các nghệ sĩ, nghệ nhân, sinh viên các trường nghệ thuật biểu diễn.


Video Trung Quốc duyệt binh 3-9-2015 ở Bắc Kinh

Bây giờ mới có thời gian xem (video) VN và Trung Quốc diễu binh, duyệt binh. Trung Quốc làm hoàn toàn khác VN, bác Tập chỉ đọc diễn văn có 3 phút; không có diễu hành của dân; không tuyên truyền dài dòng. Họ tường thuật từ trước khi bắt đầu chính thức, tường thuật chi tiết đón khách, đưa khách lên lễ đài. Lực lượng vũ trang rất hoành tráng; chọn toàn những người cùng chiều cao, kích cỡ; thể hiện đều tăm tắp... Có nhiều bài hát quen thuộc với người Việt, trong đó có bài bác Hồ của ta rất thích: Kết Đoàn (nghe từ lúc bắt từ 1:59:42'). Đưa lên để bạn nào thích thì xem:
Truyền hình duyệt binh 3-9-2015 ở Bắc Kinh
Trung Quốc - Catch up on China's most spectacular ever military parade only on CCTV English! This is China's V-Day commemoration celebration of the 70th Anniversary of China's victory in the Chinese People's War of Resistance against Japanese Aggression & the World Anti-Fascist War.
https://www.youtube.com/watch?v=i_OaQpcUL-Q


Lễ diễu binh sẽ có sự tham gia của 12.000 quân nhân, binh sỹ thuộc Quân đội giải phóng nhân dân Trung Quốc. 30 nguyên thủ cùng với quan chức cấp cao từ 19 quốc gia sẽ có mặt tại sự kiện này, trong đó có Tổng thống Nga Vladimir Putin.

Tân Hoa Xã trước đó đưa tin, Trung Quốc sẽ phô trương hơn 500 khí tài quân sự cùng với khoảng 200 máy bay chiến đấu. 84% trong số này chưa từng xuất hiện trước công chúng.

Để chuẩn bị cho sự kiện này, Trung Quốc yêu cầu hơn 10.000 nhà máy cùng hàng loạt công trình xây dựng bên nội đô và ngoại thành Bắc Kinh tạm ngừng hoạt động hoặc cắt giảm sản xuất.

Bắt đầu từ ngày 20/8, Bắc Kinh cũng giới hạn việc sử dụng các phương tiện giao thông cá nhân trong thành phố, phân chia theo số chẵn, lẻ của biển số xe, trừ xe buýt, xe cứu thương, cứu hỏa hay xe điện. 80% phương tiện của các cơ quan nhà nước hay công ty quốc doanh đều bị cấm trong dịp này. Sân bay quốc tế Bắc Kinh cũng đóng cửa sáng nay 3/9.

Phần nhận xét hiển thị trên trang