Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Ba, 28 tháng 7, 2015

Sự cô đơn và định nghĩa về bạn bè


Định nghĩa 'bạn bè' ngày nay được dùng quá tự do. Tôi muốn chỉ ra sự khác biệt giữa bạn bè, đồng nghiệp và những người quen, cũng như giữa bạn thật và bạn Facebook.

Nghiên cứu của Đại học Chicago (US) đã phát hiện một điều thú vị rằng sự cô đơn có thể làm tăng huyết áp của những người hơn 50 tuổi. Nhưng một điều thú vị không kém là các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự cô đơn không liên quan đến việc một người có bao nhiêu bạn.
Các nhà nghiên cứu sử dụng thang đo UCLA Loneliness. Thang đo này không dựa trên số lượng. Người tham gia không đánh giá bản thân trên tiêu chí “Càng đông càng vui” hay “Tôi chưa bao giờ gặp người lạ”. Thang đo dựa trên các tiêu chí như “Bạn thường cảm thấy mình có thể chịu được sự cô đơn trong bao lâu?” hoặc “Bạn thường đợi người khác viết thư hay gọi cho mình trong bao lâu?”
Có thể nói, sự cô đơn không phải chỉ là trạng thái ở một mình, mà là cảm giác về trạng thái đó.
Chúng ta đều biết về cảm giác cô đơn mặc dù có rất nhiều người xung quanh trong một buổi tiệc nhưng lại cảm thấy thoải mái khi ở trong một ngôi nhà trống. Chúng ta đồng ý trong tình bạn thì “chất lượng thì hơn số lượng”, điều này cũng được các chuyên gia xác thực. Người có ít bạn không phải là những người cảm thấy buồn và cô đơn. Dù nhiều hay ít bạn, miễn là các mối quan hệ này thật sự gần gũi và ý nghĩa thì chúng ta đều thấy vui!
Định nghĩa “bạn bè” ngày nay được dùng quá tự do. Tôi muốn chỉ ra sự khác biệt giữabạn bèđồng nghiệp và những người quen, cũng như giữa bạn thật và bạn Facebook.
Thế nào là một người bạn thật sự? Mỗi người đều có câu trả lời riêng cho mình. Đối với tôi, đó là người mà tôi không cảm thấy cô đơn khi ở bên cạnh. Đó là người không quấy rầy tôi, là người tôi có thể cảm thấy thoải mái khi tôi cần lời khuyên, và là người làm tôi cảm thấy vui (thậm chí là vinh dự) khi được làm điều tương tự cho họ.
Tôi có thể nói rằng tất cả những điều trên chỉ có ở một số ít người bạn của tôi. Và sau đó là “bạn bè loại hai”. Tôi thích và quan tâm tới họ nhưng không chia sẻ những suy nghĩ thầm kín với họ.
“Con số của Dunbar”, được đề xuất bởi nhà nhân chủng học Robin Dunbar vào năm 1992, là một đánh giá thường được dùng về số lượng các mối quan hệ mà chúng ta có thể duy trì, và con số đó là 150. Tôi có khoảng chừng ấy người trong mạng lưới quan hệ. Mặc dù vậy, chắc chắn không phải ai tôi cũng gọi là bạn bè.
Thực ra, tôi là người sử dụng Facebook thường xuyên, nhưng tôi bắt đầu cảm thấy mình có quá nhiều bạn bè. Số bạn bè của tôi không thấp hơn nhiều so với số lượng bạn bè mà một người nhìn vào và có thể đánh giá tôi là người thảm hại, cần sự chú ý của người khác. Một nghiên cứu đã chỉ ra số lượng bạn bè lý tưởng trên Facebook là 302. Con số này đủ để bạn không cảm thấy thảm hại hay quá lệ thuộc vào người khác.
Tôi đã xác nhận yêu cầu kết bạn từ một số người mà mình cảm thấy không có điểm chung. Trong một số trường hợp, những người lạ này đã trở thành bạn ảo. Một vài người thậm chí đã trở thành bạn thật sự. Điều này thật tuyệt. Nhưng những người khác chỉ là một khuôn mặt nhỏ trong khung avatar. Chúng ta không có gì để chia sẻ với họ. Và có nhiều “bạn bè” không làm cho tôi cảm thấy tốt hơn về bản thân mình, mà nó làm tôi cảm thấy giả tạo.
Bên cạnh đó, cho dù chúng ta có bao nhiêu bạn bè thì chúng ta chỉ giao tiếp với một số ít người trong số đó, theo Cameron Marlow, một nhà nghiên cứu về Facebook. Một người phụ nữ với 500 người bạn thì cô ấy chỉ thường xuyên gửi bình luận trên facebook của 26 người và thực sự giao tiếp với 16 người. Đối với nam giới, con số này là bình luận cho 17 người và giao tiếp với 10 người. Tôi chưa bao giờ làm toán về “bạn bè” của mình, nhưng điều này có vẻ đúng. Đây là những người bạn tôi phải gìn giữ, và một vài người khác mà tôi cảm thấy thú vị.
Những người còn lại? Họ có vẻ là những người tốt, thế nhưng có lẽ tôi nên giao tiếp với họ bên LinkedIn (LinkedIn: mạng xã hội dùng để giao tiếp về công việc, được những người đi làm sử dụng) cùng lúc với các đồng nghiệp và những người quen khác.
Theo VIET PSYCHOLOGY

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nước cờ sai lầm đẩy TQ phải đối đầu với đối thủ mạnh truyền kiếp?


Lê ngọc Thống – Sohanews

Nước cờ sai lầm đẩy TQ phải đối đầu với đối thủ mạnh truyền kiếp?
Sự nôn nóng cùng dã tâm “nuốt trọn” Biển Đông đã khiến Bắc Kinh mù quáng và vô hình trung tự tay “tháo xích” cho đối thủ truyền kiếp đầy sức mạnh – Nhật Bản.

Luật an ninh mới của Nhật Bản đã chứng tỏ Lực lượng phòng vệ nước này giờ đây có tính chất và tầm vóc của một cường quốc quân sự.
Họ, quân đội Nhật Bản, có thể tác chiến bất cứ nơi đâu, với bất cứ ai khi an ninh của Nhật Bản, của đồng minh, bạn bè của Nhật Bản bị tấn công, đe dọa…
Được coi như một “mũi tên đã lắp vào nỏ” thì Sách trắng quốc phòng Nhật Bản năm 2015 đã chỉ rõ “đích” mà mũi tên hướng đến.
Trung Quốc lo ngại, phản đối quyết liệt khi cho rằng, đây là hành động trỗi dậy của “chủ nghĩa quân phiệt Nhật”. Nhưng ngược lại, khu vực châu Á-Thái Bình Dương lại không có thái độ như vậy với sự trỗi dậy, thay đổi của nước Nhật.
Trong tương lai, quân đội Nhật Bản có thể chủ động tham chiến ở nước ngoài dưới sự ra lệnh từ chính Thủ tướng.
Trong tương lai, quân đội Nhật Bản có thể chủ động tham chiến ở nước ngoài dưới sự ra lệnh từ chính Thủ tướng.
Nước cờ chiến lược sai lầm của Trung Quốc
1. Lấy nước sau dùng làm nước đi đầu, tạo điều kiện cho Nhật Bản trỗi dậy
Kể từ năm 2010, khi GDP của Trung Quốc chính thức vượt Nhật Bản cũng là lúc tranh chấp quần đảo Senkaku (Trung Quốc gọi là Điếu Ngư) cũng được Bắc Kinh đẩy lên nấc thang cuối của cuộc xung đột.
Thực ra, quần đảo này, về địa chính trị, quân sự và kinh tế đối với Trung Quốc không đến mức vì nó mà sẵn sàng xung đột, chiến tranh với liên minh hùng mạnh Mỹ-Nhật Bản.
Nhưng chủ nghĩa dân tộc như một con dao 2 lưỡi, quá lạm dụng thì như “cưỡi trên lưng hổ” cho bất cứ chính phủ nào.
Trung Quốc đã trở thành nạn nhân của nó, vì thế, chuyến “ra khơi” đầu tiên để thâu tóm Biển Đông lại bị “mắc cạn” tại quần đảo Senkaku/Điếu Ngư.
Đây là một sai lầm tai hại của Trung Quốc mà từ đó, làm nên chiến thắng vang dội của đảng Dân chủ Tự do (LPD), đưa ông Shinzo Abe – một người được Mỹ ủng hộ – lên làm Thủ tướng Nhật Bản.
Tranh chấp quần đảo Senkaku/Điếu Ngư, Trung Quốc vô tình thúc đẩy việc cởi trói Nhật Bản. Ảnh: Kyodo News.
Tranh chấp quần đảo Senkaku/Điếu Ngư, Trung Quốc vô tình thúc đẩy việc “cởi trói” Nhật Bản. Ảnh: Kyodo News.
Vụ tranh chấp với Bắc Kinh về quần đảo Senkaku/Điếu Ngư vừa qua, Nhật Bản đã rút ra 2 bài học giá trị từ chính Trung Quốc.
Một là, một quốc gia giàu có chỉ là nhất thời, mạnh về quân sự mới là vĩnh viễn. Giàu mà không mạnh thì bị đe dọa hay trấn lột bất cứ lúc nào. Chỉ có sức mạnh quân sự của quốc gia mới bảo đảm tính ổn định, bền vững và phát triển của nền kinh tế.
Hai là, mối hận thù dân tộc của Trung Quốc với Nhật Bản chưa bao giờ mờ phai. Nhật Bản luôn bị Trung Quốc coi là mối “quốc nhục” 100 năm chưa trả hận.
Đảng LPD cầm quyền của ông Shinzo Abe thừa nhận thức sâu sắc 2 bài học này và quyết tâm tái vũ trang, xây dựng một sức mạnh quân sự đủ sức răn đe Trung Quốc, đề phòng liên minh Mỹ-Nhật không có giá trị.
Thực hiện quyết tâm này, về mặt kỹ thuật thì không mấy khó khăn với Nhật Bản khi nước này có một nền công nghiệp tiên tiến hiện đại bậc nhất thế giới.
Tàu ngầm, máy bay, tàu chiến, tên lửa… nói chung là những thứ vũ khí trang bị hiện đại, Nhật Bản muốn là họ tự sản xuất chế tạo.
Tuy nhiên, khó khăn nhất với chính phủ của ông Abe là cơ chế, cụ thể là “điều 9 hiến pháp” đã trói buộc, mà muốn xóa bỏ nó thì tác động của bên ngoài mang yếu tố quyết định.
Trung Quốc đã làm rất tốt vai trò tác động này khi biến mình là nguyên nhân duy nhất, nguy hiểm nhất buộc Nhật Bản phải lựa chọn.
Chỉ chưa đầy 2 năm với từng bước đi cụ thể, chính phủ của ông Shinzo Abe đã có những cách giải thích về “điều 9 Hiến pháp”, tiến tới xóa bỏ bằng Luật an ninh mới.
Không rõ Trung Quốc đi nước cờ sai lầm ở Senkaku/Điếu Ngư hay là Nhật Bản, chỉ biết Mỹ đã lợi dụng Senkaku/Điếu Ngư để “cởi trói” Tokyo, cho phép Nhật Bản tham gia sâu, trực tiếp vào cấu trúc an ninh Tây Thái Bình Dương.
Nhưng, điều mà Trung Quốc không muốn, không bao giờ muốn là đối đầu với Nhật Bản tại Biển Đông bất cứ hình thức nào, thì nó đã và đang đến.
HỘI ĐỒNG QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI (CFR), MỸ
Sheila Smith
Vấn đề không chỉ nằm ở những tranh chấp lãnh thổ, mà thực chất lý do lớn nhất khiến quan hệ Trung Quốc – Nhật Bản sẽ khó có thể cải thiện là sự mất lòng tin lẫn nhau, sự ngờ vực của một bên đối với các tham vọng trong khu vực của bên còn lại.
Biển Đông, như Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng từng cảnh báo: “Chỉ cần một hành động thiếu trách nhiệm, gây xung đột sẽ làm gián đoạn dòng hàng hóa khổng lồ này và nhiều nền kinh tế không chỉ trong khu vực mà cả thế giới đều phải gánh chịu hậu quả khôn lường.”
Trong khi đó, sự trùng hợp “lạnh sống lưng” giữa Trung Quốc và Nhật Bản là tuyến hàng hải trên Biển Đông đều là “đường sinh mạng”.
Cho nên, dễ hiểu là, Biển Đông chứ không phải là Senkaku/Điếu Ngư mới là “chiến trường chính” của cuộc đối đầu Trung-Nhật vì tính chiến lược sống còn của đôi bên trên đó.
Rõ ràng Trung Quốc đã đi sai nước cờ khi phải đối đầu với một đối thủ mạnh, truyền kiếp quá sớm là Nhật Bản mà nguy cơ “bị loại khỏi vòng bảng” đang ám ảnh bởi “lời nguyền từ Nhật Bản” không phải là điều không thể.
Hạ viện Nhật thông qua dự luật an ninh mới là một thành công lớn của Nội các Thủ tướng Abe (giữa). (Ảnh: AP)
Hạ viện Nhật thông qua dự luật an ninh mới là một thành công lớn của Nội các Thủ tướng Abe (giữa). (Ảnh: AP)
2.Từ bỏ sách lược “giấu mình chờ thời”
Phải khẳng định chắc chắn dã tâm của Bắc Kinh muốn chiếm trọn Biển Đông, biến Biển Đông thành “ao nhà” là trước sau như một, không bao giờ thay đổi, không sớm thì muộn. Vấn đề là từng giai đoạn, bước đi thực hiện chiến lược này ra sao mà thôi.
Chiến lược thâu tóm Biển Đông của Trung Quốc, đúng ra phải là nước cờ cuối sau khi đã “đuổi” được Mỹ ra khỏi Đông Nam Á và Tây-Thái Bình Dương.
Điều này vốn được thực hiện bằng “cuộc chiến địa chính trị” mà thời gian đầu khi Trung Quốc đang theo đuổi chiến lược “giấu mình chờ thời” (‘Tao guang yang hui’ Policy) của ông Đặng Tiểu Bình đã tỏ ra rất hiệu quả.
Đáng tiếc, Trung Quốc bị cái tăng trưởng GDP liên tục làm mờ mắt, ảo tưởng sức mạnh của mình và với truyền thống ngạo mạn, bành trướng, Bắc Kinh cho rằng không cần “giấu mình”, muốn “ăn” ngay Biển Đông béo bở mà bất chấp tất cả.
Hành động của Bắc Kinh trong các tuyên bố chủ quyền phi lý, phi pháp và chuẩn bị quân sự để đe dọa sử dụng sức mạnh… đã bộc lộ mục tiêu, ý đồ nguy hiểm nhất quán của họ.
Động thái này đã khiến các quốc gia trong khu vực, bao gồm cả Việt Nam, Nhật Bản… và kể cả Mỹ phản kháng với một tinh thần “ngay và luôn”.
Như vậy, vội vàng từ bỏ sách lược “giấu mình chờ thời”, Trung Quốc đã phạm sai lầm lớn về xây dựng thế trận.
Thay vì để Biển Đông tạm thời là một vùng đệm chiến lược, mở rộng vòng vây thì Bắc Kinh lại biến nó thành “vùng nóng”, có thể trở thành vùng chiến sự bất cứ lúc nào.
Chính Trung Quốc tự thu hẹp không gian chiến lược của mình.
Nhật Bản có khả năng sát cánh bên Mỹ ở châu Á-Thái Bình Dương trong vai trò một cường quốc quân sự. Điều này đủ khiến Trung Quốc lo sợ? (Ảnh minh họa)
Nhật Bản có khả năng sát cánh bên Mỹ ở châu Á-Thái Bình Dương trong vai trò một cường quốc quân sự. Điều này đủ khiến Trung Quốc lo sợ? (Ảnh minh họa)
Tại sao Trung Quốc phản đối quyết liệt Nhật Bản tuần tra trên Biển Đông?
Thực ra, việc tuần tra trên biển, đại dương đề bảo đảm an toàn, an ninh hàng hải là vấn đề thường xuyên, không có gì ghê gớm của các cường quốc biển như Mỹ. Và tuần tra trên Biển Đông – một tuyến hàng hải rất quan trọng của thế giới – cũng không ngoại lệ.
Tuy nhiên, Trung Quốc lại ngang nhiên tuyên bố Biển Đông là chủ quyền của họ nên không ai được quyền đưa máy bay, tàu chiến vào vùng này.
Hành động “tuần tra” trên vùng biển mà Trung Quốc gọi là “chủ quyền” bị Bắc Kinh “bóp méo” là thách thức, tuyên chiến.
Đó là lý do vì sao Trung Quốc và Mỹ trở nên căng thẳng quyết liệt đến mức mà báo chí Trung Quốc cho rằng “chiến tranh với Mỹ là không thể tránh khỏi…” khi Mỹ đem máy bay, tàu chiến tuần tra trên Biển Đông.
Và đến khi cả Nhật Bản tuyên bố sẽ “tuần tra” trên Biển Đông với sự hậu thuẫn của Philipines khi dùng căn cứ Rubic tiếp tế hậu cần cho Hải quân Nhật Bản thì Trung Quốc “giãy lên như đỉa phải vôi”.
Như vậy, khi Mỹ-Nhật Bản bắt tay “tuần tra” trên Biển Đông thì cán cân so sánh lực lượng ở khu vực Tây Thái Bình Dương mà cụ thể là trên biển Hoa Đông và Biển Đông đã hoàn toàn nghiêng về Mỹ bởi Nhật Bản tham gia vào thế trận với tư cách của một cường quốc kinh tế và quân sự.
Không hồ nghi gì nữa, Tokyo đã sẵn sàng cùng Mỹ tham chiến tại Biển Đông nếu như Trung Quốc có ý đồ chiếm Biển Đông, biến thành “ao nhà”, tức là ngăn chặn, phong tỏa tuyến hàng hải sống còn của Nhật Bản trên vùng biển quốc tế này và đe dọa an ninh Mỹ…
Trước việc “tuần tra” của Mỹ và Nhật Bản trên Biển Đông, Trung Quốc chỉ có thể hoặc là bằng vũ lực, xua đuổi hay đánh đuổi lực lượng tuần tra của Mỹ-Nhật Bản ra khỏi Biển Đông hoặc là tôn trọng luật chơi chung.
Vậy, Trung Quốc chọn lựa thế nào đây?
Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả Lê Ngọc Thống, Kỹ sư chỉ huy-Hoa tiêu, nguyên sỹ quan Tham mưu Hải quân.
theo Đại Lộ
Phần nhận xét hiển thị trên trang

HẬU CHUYỆN KỂ NĂM 2000-KỲ 9


ngominh | 28 Jul, 2015, 09:05 | VĂN | (91 Reads)

HẬU CHUYỆN KỂ NĂM 2000

(Thời biến đổi gien)
  Kỳ 9
    Bùi Ngọc Tấn
Đinh Chương và tôi đều phải rời cơ quan báo, đi cải tiến quản lý hợp tác xã nông nghiệp. Đến lúc ấy chúng tôi mới thực sự hiểu mình đã là những con mồi của nhà tù đói khát, là vật phẩm của ông giám đốc công an Hải Phòng muốn có cái lễ biện lên ông Lê Đức Thọ trong hoàn cảnh thiên tải nhất thì đấu tranh chống xét lại này, để được lọt mắt xanh, đạt được một bước ngoặt trên con đường “phục vụ cách mạng”
Mùa đông năm 1967 chúng tôi về một làng ở Thủy Nguyên — Phả Lễ hay Phục Lễ, tôi không nhớ — học tập chính sách cải tiến quản lý hợp tác xã để trở thành anh cán bộ Đội. Nông thôn ngày ấy cực kỳ nghèo đói. Tường đất. Sân đất. Mái rạ mỏng kẹt. Nhà nọ nhìn sang nhà kia thông thống. Chúng tôi được một người trong ban tổ chức lớp học đầy nghi vấn xếp ở một nhà chỉ có hai mẹ con, bà mẹ già và cô con gái. Ăn tập trung ở bếp, còn ngủ trên một cái giường gian bên, đầu giường gần sát bàn thờ gian giữa. Đã là những con thú bị săn đuổi, chúng tôi rất cảnh giác. Đặt ba lô chăn màn xuống giường, chúng tôi quan sát chung quanh, quan sát gầm giường. Không có gì đặc biệt. Nhìn dưới gầm bàn thờ: Một cái hòm gỗ mới tinh đánh dầu bóng đỏ au, rất lạc lõng với đồ dùng trong nhà cũ kỹ bụi bặm. Phải là một nhà khá giả mới đóng được một đồ mớp thế này — dù nó chỉ to gấp hai gấp ba, bốn cái hòm cắt tóc, bởi gỗ thời đó cực kỳ quý hiếm. Không chỉ đỏ au, nó còn được khóa kỹ, chiếc khóa đồng mới tinh bóng loáng, hoàn toàn không ăn nhập gì vói đồ đạc trong nhà. Chính nó đây rồi. Không nghi ngờ gì nữa.
– Bà ơi. Bà mua cái hòm này bao nhiêu hở bà?
Bà chủ nhà tươi cười:
– Của các anh bên kia gửi đấy. Các anh trên Hà Nội về ở nhà tôi hôm qua. Sáng nay vừa dọn sang bà… bên kia để lấy chỗ cho hai bác.
Chúng tôi nhìn theo tay bà. “Nhà bên kia”, từ cửa sổ bên này nhìn sang rất rõ. Ngoài sân mấy người ăn mặc đúng kiểu cán bộ công nhân viên thành phố, quần phăng, áo bông xanh, khăn quấn cổ… Và dép Tiền Phong trắng có quai hậu, thứ dép cán bộ bình thường có nằm mơ cũng chẳng thấy, loại dép chỉ những người có thứ hạng mới có thể xỏ chân vào. Cả một tài sản. Thứ dép gọi là móng trắng. Vấn đề như đã được kết luận. Chờ mẹ con bà chủ đi làm, chúng tôi im lặng cúi cúi thám hiểm cái hòm gỗ. Một sợi dây đồng đỏ au kẹp giữa nắp và thành hòm. Tôi định sờ vào. Đinh Chương vội ra hiệu làm tôi rụt tay lại. Và hiểu ngay đấy là cái ăng ten. Cái hòm để dưới đất, chúng tôi lại nằm trên phản kê trên hai chiếc mễ khá cao. Với khoảng cách này và sợi dây ăng ten nhỏ thế kia, chất lượng thu âm hẳn sẽ kém, không rõ, nhất là khi chúng tôi tâm sự tiếng to tiếng nhỏ. Chúng tôi quyết định tạo điều kiện thuận tiện hơn cho ngành công an để có một chất lượng ghi âm tốt nhất. Đinh Chương xuýt xoa khi hai mẹ con bà chủ đi làm đồng về:
– Bà ơi! Rét quá, chúng cháu xin bà ít rơm giải ổ bà nhá.
Bà chủ thông cảm với chúng tôi ngay. Bà bảo cô con gái ra đống rơm rút mang vào cho chúng tôi hai ôm rồi cùng chúng tôi bỏ hai cái mễ — kê tấm phản — cất xuống bếp. Tấm phản giờ đây đặt sát đất, cách chiếc hòm gỗ thông chứa bên trong nó những máy móc đầy hăm dọa chỉ hơn gang tay. Trải rơm, giải chiếu, vun vén những cọng rơm thòi ra ngoài chiếu, cả hai chúng tôi nằm ườn lên cái đệm rơm thơm mùi nắng và êm ái, lại còn tung chăn đắp kín người, thò đầu ra cười với hai mẹ con bà chủ nhà:
– Ấm lắm rồi bà ạ.
Ăn cơm tối về, chúng tôi chui vào chăn, giả cách rên lên vì ấm, xuýt xoa vì thích thú, chân giẫy đạp trong chăn như những đứa trẻ — năm ấy tôi ba mươi ba tuối còn Đinh Chương đã bốn mươi. Chúng tôi trùm chăn kín đầu, ghé sát tai nhau, thì thầm thỏa mãn về sự cảnh giác tuyệt vời của mình, về thắng lợi trước những trò quá đơn giản đến mức thô sơ của ngành công an. Thế rồi tối tối, nằm trên chiếc phản trải ổ rơm, chỉ cách cái hòm gỗ có một gang tay ấy, tôi và Đinh Chương diễn bài tụng ca theo từng chủ đề đã thống nhất từ chiều. Ca ngợi giải phóng quân. Ca ngợi cánh đồng 5 tấn. Thống kê số máy bay Mỹ bị bắn rơi. Rồi chuyển sang ca ngợi đồng chí đại tướng Trường Sơn, vị tướng đánh trận cũng giỏi, làm nông nghiệp cũng giỏi… Chúng tôi vui lên vì trò chơi ấy. ([1]) Đinh Chương còn bảo: Công an có khi còn phải cấp bằng khen cho chúng mình vì đã tạo điều kiện để ghi âm không sót một câu.
Chúng tôi cùng chung một nhận xét: Lớp học do thành phố tổ chức, nhưng tay cán bộ sắp xếp chỗ ăn ở trông rất lạ. Điều đặc biệt là không nói chuyện với chúng tôi hay bất kỳ học viên nào về những chuyện, những người, những đơn vị trong thành phố. Đúng là công an trên bộ. Suy luận càng được khẳng định khi đến ngày chủ nhật, “đồng chí” phụ trách đời sống lớp học giục chúng tôi “về nhà thăm các cháu ngày Chủ Nhật không các cháu mong.”Đạp xe trên đường về, Đinh Chương bảo tôi: Các đồng chí cần kiểm tra chất lượng ghi âm. Còn tôi bảo Đinh Chương: Cũng có thể phải thay pin. Pin bật suốt ngày đêm mấy ngày liền, hết pin rồi.
Sau đợt học tập, tôi về xã Tràng Cát, còn Đinh Chương đi một xã khác, Chúng tôi nắm chặt tay nhau, chúc nhau tai qua nạn khỏi và không ngờ phải sáu năm sau mới gặp lại nhau, Mấy tháng sau khi chia tay, mùa Xuân năm Mậu Thân máu chẩy thành sông ở miền Nam, Đinh Chương bị bắt. Tôi biết tin ấy khi vợ tôi ốm nằm bệnh viện Hà Sắn bên Thủy Nguyên và đạp xe về báo cho vợ. Chưa có cuộc gặp nào giữa hai vợ chồng buồn đến thế. Vợ viêm thận nằm bệnh viện, chiếc tủ đầu giường không một chiếc kẹo, một quả cam, một hộp sữa, còn chồng một chân đã bước qua ngưỡng cửa nhà tù. Sau Đinh Chương sẽ là tôi, không trệch đi đâu được. Đến bây giờ mới biết thì ra tất cả những người đã bị bắt đều không có tội gì.
Chia tay vợ, trở về Hải Phòng để hôm sau đạp xe đến Tràng Cát, tiếp tục công việc cải tiến quản lý hợp tác xã, hai chúng tôi cùng chung tâm trạng không biết có còn gặp lại nhau nữa không. Nghĩ tới cái cánh cửa nhà tù mở ra nuốt chửng tôi, tôi quay lại nhìn một lần nữa người vợ bé nhỏ nằm trên giường bệnh. Qua phà, Hải Phòng mất điện tối om, định sang nhà Nguyên Bình nhưng chợt nhớ anh đã về Vĩnh Bảo. Vác xe lên thang, mở cửa căn buồng vắng tanh, các con đã về quê với ông bà, ngồi một mình trong bóng tối, tôi nghĩ tới Vũ Thư Hiên, Vũ Huy Cương, Đinh Chương, Hồng Sỹ đang trong tù, cuộc đời mình sắp bị khai đao, cảm thấy hết sự cô đơn trơ trọi trong một đêm Việt Nam dài tối tăm ghê sợ.
Kỷ niệm không còn một trời mây Đông Bắc
Mái tóc mắt yêu tiếng guốc nhẹ rụt rè thang gác
Kỷ niệm không còn một khung cửa tiếng khóc con
thơ
Nắng xuân ấm cành xoan mềm dây tã trắng chưa
khô
Người
Trời
Ngày xưa
Không gợi nghĩ tương lai
Không gợi buồn dĩ vãng
Ta
Một mình
Ta không có chính ta
Hiện tại
Trắng.
Những ngày tiếp theo là những ngày chờ bị bắt. Nhưng qua mùa xuân, tới mùa hè, đợt cải tiến quản lý hợp tác xã đã kết thúc, đã có kết luận về ông bí thư, về ban chủ nhiệm “ruột thẳng như cái cù lèo”; được trả về cơ quan ngồi chơi xơi nước, không được giao việc, qua một mùa hè nóng bỏng, tiếp một mùa heo may cho đến mồng 8 tháng 11, một ngày sau kỷ niệm cách mạng tháng 10 Nga tôi mới được “hưởng” cái điều mình chờ đợi. Một năm ấy dài chẳng kém một năm tù, cái thân phận chuột trong trò chơi mèo vờn chuột thật căng thẳng nhiều lúc chỉ muốn nhào ngay vào tù để yên phận một bề. Cái chi tiết tôi và Đinh Chương diễn kịch trên giường tôi cũng dành nốt cho vợ chồng Nguyên Bình — nhân vật Lê Bình trong Chuyện kể năm 2000 — để khỏi dồn vào mình quá nhiều sự kiện. Tôi bị bắt, Nguyên Bình trở thành ứng viên kế tiếp, anh bị bám, bị gọi hỏi, bị đe dọa. Ra tù, gặp nhau, anh không kể cho tôi mà tôi cũng không hỏi. Chúng tôi còn nhiều chuyện để nói, hoặc chỉ để im lặng nhìn nhau. Giống như vợ chồng tôi chưa bao giờ chuyện cùng nhau về những ngày đen tối của hai đứa. Tôi không dám hỏi mà vợ tôi cũng vậy. Moi chuyện đau lòng ấy ra để vết thương lại ứa máu làm gì. Những điều tôi biết được và viết về vợ tôi trong Chuyện kể năm 2000 là do những lúc tôi có điều gì đó khiến nàng buồn, nàng “kể lể khúc nhôi” thay cho lời trách móc, hoặc những lúc nàng dạy bảo con cái, những điều nàng nói cứ in sâu trong trí óc tôi.
Trong những năm tháng hậu tù thất nghiệp đi bốc vác, kéo xe bò… thoi thóp kinh hoàng ấy, tôi có làm một cuộc khảo sát đời sống: Ra đầu phố những giờ đi làm và tan tầm, nhìn những người đạp xe qua Ngã Sáu và phát hiện một điều: Tất cả những người trên đường không một ai cười. Giống nhau. Xam xám. Đăm chiêu. Đồng phục quần áo. Đồng phục mặt người.“Đồng phục” dáng đi, dáng đạp xe. Nhiều trưa. Nhiều sáng. Nhiều chiều. Càng hoang mang khi thấy có những mặt người quen quen như đã gặp ở trại nào. Cảm giác này tôi đã đưa vào trang cuối tập 1 Chuyện kể năm 2000và được nhiều người thích. Đấy là một hiện thực, hoàn toàn không phải tôi sáng tạo — bịa đặt — ra.
Khi quyển tiểu thuyết chưa hoàn thành, chị Hoàng Ngọc Hà, giám đốc nhà xuất bản Hà Nội, nơi Bầu làm biên tập viên, đã biết có nó. Tại Lê Bầu. Anh không nhịn được, đã khoe với chị những đoạn tôi đọc hoặc kể cho anh nghe. Qua Bầu, tôi biết chị muốn tôi gửi dự thi quyển tiểu thuyết của tôi ngày ấy còn mang tên Mộng Du. Đó là năm 1993, đang có cuộc thi sáng tác kỷ niệm 40 năm giải phóng Thủ Đô. Nghe nói 40 năm giải phóng Thủ Đô mà giật mình. 40 năm đã qua rồi. Năm 1954 tôi mới tròn 20 tuổi và khao khát viết được tác phẩm của đời mình. Tôi đã lăn lộn với nông thôn, với các nhà máy rồi chuyển hẳn về Hải Phòng quê hương để được gần cơ sở thu nhận ghi chép tích cóp từng chi tiết cuộc sống thợ thuyền, của giai cấp công nhân trong cuộc sống mới mà đảng là người đạo diễn để thực hiện mơ ước ấy. Đâu ngờ phải sống cạn một kiếp tôi. Để rồi viết về chính kiếp đó.
Vốn là người nhẹ dạ, tôi gửi dự thi. Không trực tiếp đưa cho chị Hà. Mà tôi cũng chưa một lần gặp chị. Tôi đưa cho Lê Bầu. 644 trang đánh máy. Ngót nghét nghìn trang in. Đưa thì đưa thôi. Chứ không hy vọng.
Tôi đã dặn kỹ Bầu để Bầu nói lại với Hoàng Ngọc Hà về nguyên tắc bảo mật, rằng không được để lọt ra ngoài, rằng công an biết thì sẽ hỏng việc, không chỉ hỏng việc mà vĩnh viễn hỏng việc, vĩnh viễn không bao giờ được in…
Khoảng một tháng sau, tôi lên Hà Nội gặp Lê Bầu. Vẫn giọng sôi nổi, nhiệt tình vốn có, anh trợn mắt:
– Bà Hà bắt tao đi phô-tô. Chính tao đi phô-tô. Tao đứng lỳ ở cửa hàng cho đến khi phô-tô xong. Những trang phô-tô hỏng tao thu về hết. Gần một trăm nghìn! Đi. Đi lên nhà xuất bản gặp bà Hà đi. Sáng nay bà ấy có ở cơ quan đấy.
Tôi theo Lê Bầu đến nhà xuất bản gặp chị Hoàng Ngọc Hà. Chị Hà thời thiếu nữ hẳn là “một trang nhan sắc.” Ngày ấy đã ngoài năm mươi, trông chị vẫn đẹp. Đẹp từ dáng người, từ nước da vẻ mặt. Mãi sau này khi thân nhau, tôi mới biết chị cũng rời trường phổ thông gia nhập Đội Thanh Niên Xung Phong công tác tiếp quản Thủ Đô. Tôi tròn mắt:
– Thế chị ở phân đội nào nhỉ?
– Tôi ra muộn nên về đơn vị khác, không kịp vào Đội.
Và nhìn tôi cười tinh nghịch:
– Chứ không thì Tấn đã lượn quanh Hà rồi.
Tôi cũng lây vẻ nghịch ngợm của chị:
– Hà hơi chủ quan đấy. Tấn ngày ấy coi các em bằng nửa con mắt.
Trong lần gặp đầu tiên, Hoàng Ngọc Hà tiếp tôi rất thân mật. Pha trà mời tôi với Lê Bầu xong, chị tới chỗ đặt máy điện thoại. Bấm số, nhấc máy:
– Anh Kiên đấy à. Anh Tấn đang ở đây.
Chỉ nói vậy. Và đặt máy, bước lại chỗ chúng tôi:
– Tôi gọi điện mời anh Nguyễn Kiên, giám đốc nhà xuất bản Hội Nhà Văn đến. Hôm nọ đi họp, ngồi cạnh anh Kiên. Tôi nói với anh Kiên là tôi mới nhận được một quyển tiểu thuyết dự thi hay lắm. Viết về tù. Đọc rất thích. Anh Kiên hỏi tên tác giả. Tôi nói tên anh. Anh Kiên bảo: Bùi Ngọc Tấn thì tôi biết. Hai thằng ở Trung Ương Đoàn với nhau mãi. Tôi còn biết cả vợ nó. Anh ấy sắp sang bây giờ đấy. Anh Kiên vừa mổ mắt, chắc phải đi ô tô. Nếu đi ô tô thì cả anh Ngô Văn Phú cũng sang.
Kiên đến. Đến một mình. Đi xe đạp đến một mình. Đã lâu lắm mới gặp lại Kiên. Mấy chục năm rồi. Anh đã là một ông già hom hem. Gầy. Nhỏ. Má hóp. Tôi hỏi thăm sức khoẻ Kiên.
– Mình vừa mổ xong. Mấy lần mổ rồi. Lại vừa mổ mắt.
Anh kể về những lần mổ thập tử nhất sinh của anh, kể cả lần mổ nhầm rồi kết luận:
– Mình sống đến bây giờ là lãi rồi.
Tôi rất thích chữ lãi của anh. Tôi cũng vậy. Tôi sống đến bây giờ là lãi rồi. Tất cả những gì tôi có được cho đến hôm nay, dù rất ít ỏi, rất tối thiểu cũng đều nằm ngoài ý muốn, ngoài quy định của những người nắm mạng sống của tôi. Kiên hỏi lại tôi về sức khoẻ.
Tôi cười:
– Mình quyết sống dai.
Kiên cười sảng khoái:
– Ông Phùng Quán gửi mình cái giấy mời đi dự mừng sinh nhật ông Nguyễn Hữu Đang 80 tuổi. Chả mình là thiếu sinh quân, cũng là quân của ông Nguyễn Hữu Đang. Giấy mời, ông Quán ghi tới dự buổi họp mặt mừng ông Nguyễn Hữu Đang sống dai. Ông ấy không đề mừng ông Nguyễn Hữu Đang 80 tuổi mà mừng ông Nguyễn Hữu Đang sống dai!
Những người nổi tiếng như ông Nguyễn Hữu Đang hay dù chỉ tép riu như tôi đều phải sống dai. Không hẹn mà gặp. Hẳn Quán cũng quyết tâm sống dai, nhưng thật buồn, ít lâu sau anh qua đời. Vẫn là Kiên:
– Cả hai giấy mời A25 cũng đề như vậy. Ông Quán ông ấy bảo không mời, họ cũng đến. Vậy thì mời cho đàng hoàng.
Chuyện trò một lúc, Hoàng Ngọc Hà nói với tôi đại ý: Tập tiểu thuyết của tôi vẫn dự thi 40 năm giải phóng Thủ Đô nhưng sẽ được chuyển sang nhà xuất bản Hội Nhà Văn và in ở bên ấy. Nhà xuất bản Hà Nội in không thuận lắm, vì đây là một câu chuyện ở Hải Phòng, Hà Nội in bất tiện. Nhà xuất bản Hội Nhà Văn in dễ hơn. Nó mang tính nghề nghiệp, học thuật.
Bầu bảo Kiên:
– Ông để cái Khuê biên tập.
Hoàng Ngọc Hà cũng nói:
– Phải đấy. Để Lê Minh Khuê.
Tôi không biết Lê Minh Khuê là ai. Mãi sau này khi đã đọc chị, tôi mới hiểu đề nghị của Bầu và cái gật đầu tán thành của Kiên. Khuê viết thật hay, vừa thơ cũng vừa quyết liệt, triệt để. Tôi luôn nghĩ Lê Minh Khuê là một trong vài nhà văn Việt Nam tôi thích đọc nhất. Những lần sau lên Hà Nội thăm thú, gặp Kiên, Kiên bảo:
– Mình in cho ông. Nếu có gì gay go thì mình gãi đầu gãi tai: Báo cáo các anh, tôi cứ tưởng tác phẩm này nó thế này thế này. Bây giờ nghe các anh phân tích tôi mới biết rằng tôi dốt.
Và cười:
– Tôi cứ nhận là tôi dốt thôi. Bài này là học được của bậc đàn anh Nguyễn Khải.
Rõ ràng Kiên hiểu nỗi hiểm nguy sẽ đến khi in tập tiểu thuyết của tôi và đã nghĩ sẵn cách chống đỡ. Một lần khác, tiễn tôi ra cửa, Kiên đi cùng tôi dọc hè phố Nguyễn Du, rủ rỉ:
– Sẽ có một dòng văn học tù đầy mà ông là người mở đầu.
Lại còn thêm:
– Hiện nay bọn mình có hai quyển. Quyển Mộng Du của ông và quyển Ba Người Khác của Tô Hoài viết về cải cách ruộng đất. Ông già viết cũng giỏi lắm. Không viết về cải cách ruộng đất mà viết về ba người đi làm cải cách ruộng đất nhưng vẫn thấy được tất cả. Chúng mình in của ông trước, của Tô Hoài in sau.
Vậy là chắc chắn sách của tôi sẽ được in rồi. Lòng tôi như múa lên. Tôi chỉ còn phải dặn dò Kiên hãy giữ bí mật cho đến phút cuối cùng, đừng nói gì với ai về tập sách của tôi. Dặn đi dặn lại dù tôi rất tin vào sự chín chắn của Kiên. Rồi tôi sang gặp chị Hà. Chị Hà gửi quà cho vợ tôi, “cho chị Ngọc.” Đó là cách gọi của chị. Cho đến lúc đó chị cũng chưa biết tên vợ tôi.
Hoàng Ngọc Hà còn bảo:
– Bọn tôi sẽ tặng giải thưởng cho anh. Giải thấp thôi. Tặng giải cao như Bảo Ninh thì phiền.
Tôi biết cái giải nhất tặng cho Bảo Ninh về quyển tiểu thuyết Nỗi Buồn Chiến Tranh vẫn còn bị lôi thôi. Người ta dùng sức ép chính trị, dùng cả tiền bạc — trả nhuận bút thật cao — để một số nhà văn viết bài phê phán nó. Chính những người bỏ phiếu ủng hộ nó đã viết bài phản tỉnh, sám hối. Sau này gặp Vũ Tú Nam tại trại sáng tác Đại Lải, anh cho tôi biết giữ nguyên được giải cho Bảo Ninh đã là rất khó khăn, TRÊN còn muốn Ban Chấp Hành Hội Nhà Văn tuyên bố huỷ bỏ giải thưởng của Bảo Ninh. Vũ Tú Nam khi ấy là tổng thư ký Hội. Tôi tin lời anh.
Vốn không quan tâm và không đánh giá cao các giải thưởng được trao tuỳ tiện — trừ trường hợp Bảo Ninh và vài trường hợp khác — tôi cười bảo Hoàng Ngọc Hà là thường trực hội đồng chung khảo cuộc thi:
– Thấp vừa thôi. Thấp quá Tấn không nhận còn phiền hơn.
Bản thảo chuyển sang chỗ Kiên đã bị chị Hà cắt đi nhiều. Phải đến hơn trăm trang đánh máy. Chị an ủi tôi:
– Thà anh công bố 70 phần trăm còn hơn anh không công bố được phần trăm nào.
Những đoạn chị cắt là những đoạn đau — cắt đoạn nào mà không đau. Chị động viên tôi:
– Chờ đến khi tái bản, in bổ sung cũng được.
Biết bao giờ tái bản. Nhưng thôi. Đành chấp nhận.
Mặc dù Lê Minh Khuê đã biên tập, Nguyễn Kiên và cả Ngô Văn Phú khi đó là phó giám đốc kiêm tổng biên tập đã đọc và đã nói với tôi chuyện in ấn, nhưng từ trong thâm tâm tôi vẫn không tin tập sách của tôi sẽ được xuất bản. Vì nó đụng đến điều cốt lõi nhất, nhậy cảm nhất, tử huyệt của chế độ, chưa một nhà văn nào đề cập: Chuyên chính vô sản và tệ mất dân chủ. Linh tính mách bảo tôi như vậy. Kinh nghiệm sống mách bảo tôi như vậy. Sự tung hô thường xuyên đảng quang vinh, sự ca ngợi cuộc sống triệu lần dân chủ hơn, một cuộc sống không có bi kịch, lời tụng ca nhà nước của dân do dân vì dân nói với tôi như vậy. Tác phẩm của tôi là tiếng reo hồn nhiên: “Ơ kìa! Vua cởi truồng!” của đứa trẻ. Rất hồn nhiên. Không cãi được. Cũng không đánh được! ([2])
Nỗi lo của tôi đã thành sự thật.
Nhà xuất bản Hội Nhà Văn mà Nguyễn Kiên làm giám đốc trước khi in tập tiểu thuyết của tôi đã in Nổi Loạn của tác giả Đào Hiếu. Ở Hải Phòng, tôi đọc báo thấy một loạt bài đăng trên báo Công An Thành Phố Hồ Chí Minh phê phán người viết, phê phán nhà xuất bản. Nguyễn Kiên viết trả lời trên báo Văn Nghệ. Nổi xung lên, ngay lập tức báo Công An Thành Phố Hồ Chí Minh tung ra loạt bài phê phán đích danh anh. Lại đăng tin truy tố tác giả, truy tố những người đã cho xuất bản tập sách. Thời gian ấy báo Công An Thành Phố Hồ Chí Minh là người gác cửa văn học mẫn cán trung thành, cảnh giác cách mạng kiên quyết tuyệt vời nhất của nền văn học nước ta mà Năm Tu Huýt là lưỡi kiếm thật sắc. Tôi vội tìm đọc Nổi Loạn. Giờ đây tôi không nhớ nội dung, nhưng đại khái là quyển sách trung bình, có một số đoạn sex mà họ đã tập trung khai thác để ra đòn.
Tôi bảo vợ tôi đưa cho ít tiền lên Hà Nội. Đến Kiên. Tôi biết trong tình hình này, Nguyễn Kiên chẳng thể nào in được quyển tiểu thuyết của tôi. Tôi kéo Kiên đi uống nước tại một quán giải khát bên kia đường Nguyễn Du:
– Thôi, ông đưa lại bản thảo cho mình. Nó đánh thằng Kiên nhưng thằng Tấn chết.
Kiên bảo:
– Một năm mình phải ra cả trăm đầu sách. Chỉ mong lấy hai mươi phần trăm sách hay thôi là quý lắm rồi. Còn phải làm hàng chợ. Phải lo tiền nhà, tiền điện, tiền nước, tiền điện thoại, tiền ô tô, tiền lương anh em. Nổi Loạn là hàng chợ của mình.
Và anh cho biết những gì ẩn đằng sau vụ đánh anh. Nó nằm ngoài văn chương. Anh chỉ là cái bung xung. Đào Duy Tùng thường trực Ban Bí Thư Trung Ương Đảng gọi điện vào bảo thôi đừng bới chuyện ra nữa, “Sài Gòn”cũng không nghe. Chỉ đến khi đích thân tổng bí thư Đỗ Mười gọi điện vào mới thôi. Phải là Vua. Phó Vương không được. Ông có biết Năm Tu Huýt là ai không? Chính là Vũ Hạnh.
Thế là Mộng Du lại trở về Hải Phòng cùng chủ nó. Kèm theo Mộng Du là hai trong nhiều bản giám định mà Lê Bầu đã phô-tô, một của Nguyễn Thị Ngọc Tú, một của Hoàng Ngọc Hà, những thành viên ban giám khảo cuộc thi sáng tác 40 năm giải phóng thủ đô, 1954–1994. Sau khi phân tích tác phẩm, Nguyễn Thị Ngọc Tú viết: “Là một người đọc, một người viết, tôi hết sức trân trọng và đánh giá cao lao động sáng tạo này.” Còn Hoàng Ngọc Hà kết luận: “Đây là một tập tiểu thuyết có giá trị văn học cao. Phản ánh một thời kỳ của đất nước khá trung thực.” Đó là những nhận xét bằng văn bản của giới văn chương chính thống mà tôi có trong tay cho đến lúc ấy. Tôi không biết còn những ai đã đọc và giám định nhưng cũng đoán được một số người, bởi Lê Bầu thỉnh thoảng lại nói với tôi ai thích đoạn Giang cầm hòn gạch đập vỡ cái chảo, ai thích đoạn tắm ở sân kho hợp tác, ai thích đoạn Ngụy Như Cần treo cổ…
Ôm bản thảo về nhà, tôi đọc lại, tôi sửa. Trong thời gian ủ Mộng Du, tôi vừa sửa chữa, chuốt lại nó, vừa viết được tập hồi ký Một Thời Để Mất, hai tập truyện ngắn Những Người Rách Việc, Một Ngày Dài Đằng Đẵng. Nhưng phải nói tốc độ làm việc của tôi đã giảm nhiều. Bởi trong nhà lúc nào cũng có một quyển tiểu thuyết dầy cộm chưa in làm mình yên tâm là vẫn còn của để. Cũng như con ong làm mật. Các tầng mật còn đầy thì cũng chưa vội vàng gì. Nếu sách được in từ năm 1993, 1994 ấy, có thể tôi đã viết xong một quyển tiểu thuyết khác nữa rồi.
Việc xuất bản mấy tập sách ngắn cũng không đơn giản. Trước tiên là tập hồi ký Một Thời Để Mất viết về Nguyên Hồng và các bạn tôi. Suýt nữa không được in. Vì có ý kiến nghe rất có lý: “Bùi Ngọc Tấn là cái thớ gì mà viết hồi ký?” Cuối cùng nhờ Nguyễn Kiên, — tôi đoán vậy qua những bức thư của Vương Trí Nhàn — tập hồi ức văn học của tôi được vào kế hoạch dù phải cắt đi nhiều đoạn “căng.” Nhà xuất bản bỏ tiền in và phát hành. Tập sách được đánh giá là hay, 180 trang, 13.000 đồng một cuốn, dễ đọc, in 600 cuốn nhưng một số lượng kha khá trở về nằm trong quầy sách hạ giá của nhà xuất bản với giá 7.000 đồng một cuốn. Tôi mua cả mấy chục cuốn. Không buồn vì sách phải bán hạ giá, lại còn phấn khởi vì có sách tặng giá rẻ không ngờ. Đấy là tập sách đầu tiên của tôi sau gần 30 năm im tiếng.
Tập truyện ngắn Những Người Rách Việc thì mệt mỏi hơn. Rất nhiều truyện khó nhá. Cún. Người Ở Cực Bên Kia. Khói. Chuyện một cô trung sĩ ở Trường Sơn phục viên về làm điếm. Những chuyện oan trái, những chuyện tù đày, mất mát, những thân phận quăng lên quật xuống. Gửi đăng báo đã khó.Người Chăn Kiến chẳng hạn. Không báo nào đăng. Minh Đà cùng làm phóng viên báo Hải Phòng một thời với tôi rất thích truyện này, trong một lần nghỉ phép về quê Nghệ An đã mang theo nó đưa cho Thanh Quế và được Thanh Quế in trên tạp chí Sông Lam. Tôi reo lên vì sung sướng và đem tờ tạp chí đi phô-tô. Tất cả các truyện ngắn đã được đăng báo tôi đều đem phô-tô, đóng những bản phô-tô ấy lại thành một tập, rồi mới gửi đến nhà xuất bản. Kiểu bản thảo này mang theo câu nói không thành lời với các biên tập viên, các giám đốc rằng: Đã được in rồi, không sao cả. Các vị cứ yên tâm, nếu xẩy ra chuyện gì các vị có thể nói: Truyện đã đăng báo, chúng tôi chỉ in lại thôi.
Nhưng vẫn rất khó khăn. Từng truyện đọc riêng, có thể cho qua, nhưng xếp liền cả chục truyện bên nhau, truyện này nối truyện kia, gây một hiệu ứng đáng lo ngại. Tôi đem tập truyện đến giao cho Hoàng Ngọc Hà. Chị duyệt, trao lại bản thảo cho tôi với lời dặn dò:
– Tôi đã đăng ký kế hoạch bổ sung quý tư tập của anh với Cục Xuất Bản rồi. Hết năm nay tôi về hưu. Anh phải in trong năm nay. Để đến sang năm phải đăng ký lại, giám đốc mới sẽ duyệt lại, có thể sẽ gặp khó khăn.
Nhìn tập bản thảo có chữ ký phê duyệt của Hoàng Ngọc Hà, dù mới quen nhau, tôi vẫn ôm chầm lấy chị và biết mình phải làm gì. Không thể đánh mất cơ hội vàng này. Đã là tháng 12, sắp hết năm rồi. Tôi bàn với Vũ Huy Cương, người bạn cùng ở trung ương đoàn ngày trước, tác giả hai câu thơ nổi tiếng “Đồng chí Mác là nhà thơ thiên tài vĩ đại / Câu thơ hay nhất là “Vô sản toàn thế giới liên hiệp lại!” bị bắt tù trước tôi và cũng được tha trước tôi trong cùng vụ án Chống Đảng mặc dù cả hai chúng tôi không ai là đảng viên, nhờ anh lo việc in ấn, còn tôi lo tiền. Giáng Hương, Hải Yến rất vui góp tiền cho bố in sách mà không cần thu hồi vốn.
Đầu năm 1996 sách in xong. Tôi đem bán ở các nơi. Gửi các hiệu sách, trực tiếp vào các trường học. Ngày ấy chẳng ai biết đến cái tên Bùi Ngọc Tấn. Bán sách thật khó khăn. Thồ vào Hà Đông gửi Phượng Vũ, giám đốc Sở Văn Hóa Thông Tin Du lịch 200 cuốn thì phải nhận lại 150 cuốn. Tập Một Thời Để Mất dễ đọc thế, vừa túi tiền thế mà còn phải bán hạ giá cơ mà! Thế mới biết tạo dựng được một cái tên, một “thương hiệu” theo cách nói hiện nay, thật quan trọng. Tôi nhớ chuyến đi Mỹ năm 2009, tôi tặng chị Chấn thủ thư đại học Havard tập Biển Và Chim Bói Cá dầy trên 500 trang, chị nhận sách tôi tặng và mua thêm hai cuốn cho thư viện trả bằng dollar. Cũng lúc ấy, tôi đưa tặng thư viện một tập thơ mỏng của một nhà thơ trẻ nổi tiếng nhờ tôi mang sang, chị Chấn không nhận vì lý do thư viện không có chỗ!
Nhân tiện cũng nói ở đây một kinh nghiệm nữa trong việc in sách. Hãy biết chấp nhận việc cắt bỏ những đoạn gay cấn mà mình tâm huyết để có thể ra được sách nếu các ông biên tập kiên quyết đòi cắt bỏ. Rồi mỗi lần tái bản sẽ thêm vào, tuồn vào. Khi tái bản, người ta không chú ý, khắt khe như lần in đầu tiên. Mỗi lần thêm một chút, đến khi tái bản lần thứ 5, thứ 7, thứ 9 gì đó, bản in sẽ đúng hoặc gần đúng bản thảo. Cái nước mình phải thế. Dù chẳng đổ đình đổ chùa, chẳng kêu gào chống đối, nếu không chú ý thì thấy các bản in chẳng có gì khác nhau. Cứ phải nhích từng tí một. Cái nước mình nó thế. Thầy Hoàng Ngọc Hiến bảo vậy.
B.N.T.
  ([1]) Như Thao và Bình trong Chuyện kể năm 2000, tôi và Đinh Chương cũng cười rung cả người. Làm sao không cười được vì mồm ca ngợi vị đại tướng Trường Sơn, bỗng lại nghĩ đến bản tổng kết về những gì có tên Trường Sơn của Nguyên Bình: Thuốc lá Trường Sơn, bút máy Trường Sơn — những thứ tồi nhất, rẻ tiền nhất, cùng bất đắc dĩ mới phải dùng. Và đại tướng Trường Sơn.
(2) Suy nghĩ của tôi đã đúng. Sau này khi sách đã in họ không đánh. Chỉ cấm, chỉ thu hồi tiêu hủy thôi.
(Xem tiếp kỳ sau)
( Nguồn: VV)
Phần nhận xét hiển thị trên trang


Mối nguy hiểm của Trung Quốc ở Hoàng Sa

Moi nguy hiem cua Trung Quoc o Hoang Sa
Với tham vọng bá quyền, Trung Quốc muốn biến Phú Lâm thành một trung tâm kinh tế và căn cứ quân sự để làm bàn đạp vươn ra thôn tính Biển Đông.
Trung Quốc khởi công hàng loạt công trình phi pháp trên đảo Phú Lâm thuộc Hoàng Sa của VN, trong đó có một trung tâm chỉ huy liên thủ phòng ngự.
Những diễn biên đáng lo ngại ở Trường Sa phần nào khiến cộng đồng quốc tế ít chú ý đến tình trạng nguy hiểm không kém đang diễn ra tại quần đảo Hoàng Sa, cụ thể là ở đảo Phú Lâm. Nơi này bị Trung Quốc phù phép thành thủ phủ của cái gọi là “TP.Tam Sa” để đơn phương tuyên bố quyền quản lý đối với cả Hoàng Sa và Trường Sa.
Từ năm 2012 đến nay, chính quyền Bắc Kinh liên tục cho xây dựng nhiều cơ sở hạ tầng phi pháp ở Phú Lâm và không giấu giếm ý định xây dựng Hoàng Sa thành căn cứ quân sự cùng với củng cố tổ chức hành chính để tạo cơ sở chiếm đoạt vĩnh viễn quần đảo này và tiến tới thôn tính nốt Trường Sa.

"Chuẩn bị chiến tranh"
Mới đây nhất, Nhân Dân nhật báo đưa tin “lãnh đạo TP.Tam Sa” ngày 25.7 ngang nhiên cho khởi công một trại giam mới và Trung tâm chỉ huy liên thủ phòng ngự ở Phú Lâm. Trung Quốc không công bố rõ chi tiết nhưng truyền thông nước này khoe rằng trung tâm nói trên sẽ đóng vai trò điều hành hoạt động “phòng thủ phối hợp” giữa quân đội, cảnh sát và ngư dân đang đồn trú phi pháp trên các đảo ở khu vực.
Cơ sở này cũng là nơi huấn huyện, tích trữ vật tư chuẩn bị cho khả năng xảy ra chiến tranh trong tương lai. Trung tâm sẽ “nâng cao khả năng chỉ huy phối hợp hiệp đồng giữa dân, cảnh sát và quân khu Tam Sa, tăng cường phòng thủ khu vực biển gần” để bảo vệ cái gọi là quyền và lợi ích hải dương của Trung Quốc, theo Nhân Dân nhật báo.
Hồi năm 2012, Tân Hoa xã từng dẫn lời chuyên gia Bạch Tú Lan của Viện Nghiên cứu chiến lược quốc tế thuộc Trường Đảng trung ương Trung Quốc cho rằng Tam Sa cần được tập trung đầy đủ cả hải, lục, không quân, biến nơi đây thành tiền đồn quân sự. Đáng quan ngại hơn, theo chuyên gia Bạch, đảo Phú Lâm có thể bị biến thành địa điểm trung chuyển, tiếp vận cho tàu chiến, máy bay từ đảo Hải Nam, phục vụ mưu đổ kiểm soát cả khu vực Biển Đông.
Về trại giam mới trên đảo Phú Lâm, Nhân Dân nhật báo đưa tin cơ sở này gồm 2 tòa nhà 3 tầng, có thể giam giữ tới 56 người.
“Phó thị trưởng Tam Sa Phùng Văn Hải lên giọng nhấn mạnh trụ sở giam giữ là nhằm giữ gìn xã hội ổn định, bảo vệ vững chắc vùng biển... Thực chất, ai cũng biết Hoàng Sa và vùng phụ cận là phần không thể tách rời của VN, là ngư trường truyền thống bao đời nay của ngư dân ta. Chỉ có các lực lượng chấp pháp trên biển của Trung Quốc thường xuyên bắt giữ trái phép tàu cá và ngư dân VN hoạt động ở Hoàng Sa. Từ đó, có thể thấy ý đồ “bảo vệ vững chắc vùng biển” của trại giam kia la nhằm vào ai.
Củng cố hạ tng phi pháp
Ngày 26.7, đến lượt Tân Văn xã, hãng thông tấn lớn thứ 2 của Trung Quốc, khoe rằng nhằm đánh dấu 3 năm thành lập TP Tam Sa”, giới chức Trung Quốc hồi cuối tuần đưa vào sử dụng nhiều công trình dân sự mới trên đảo Phú Lâm. Thứ nhất là công trình lắp đặt, bố trí cầu cảng bao gồm kho trữ lạnh, cột hướng dẫn tàu bè, kho vật tư ngư nghiệp...
Theo Tân Văn xã, công trình này sẽ giúp “tăng cường khai thác, bảo vệ tài nguyên và tàu bè của ngư dân Trung Quốc” hoạt động ở Biển Đông. Thứ hai là Trung tâm dự trữ vật tư ứng cấp có thể trữ lạnh tới 150 tấn hàng phục vụ những người đang sinh sống trái phép trên đảo. Ngoài ra, “chính quyền Tam Sa đưa vào hoạt động nhà máy xử lý nước thải và Trạm thu gom vận chuyển rác thải quần đảo Tây Sa (tên Trung Quốc gọi Hoàng Sa - NV).
Những diễn biến nói trên chứng tỏ Trung Quốc vẫn bất chấp dư luận và pháp lý, vi phạm chủ quyền của VN đối với Hoàng Sa và Trường Sa đề ra sức hợp lý hóa “TP.Tam Sa.
Thực tế, không ai công nhận thực thể hành chính phi pháp này và bằng chứng mới nhất là Google Maps hồi giữa tháng 7 đã loại bỏ tên phiên âm của TP.Tam Sa la “Sansha” ra khỏi hệ thống tìm kiếm của dịch vụ này.
Văn Khoa/ Thanh Niên
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chả hiểu các bác nhớn đang nói cái gì? Khen hay chê đây?


TINH TƯỜNG, HÓM HỈNH, SẮC LẠNH THAY CÂY PHÊ BÌNH DO MINH TUAN. CẢM ƠN ANH.
Artist Do Minh Tuan


ảnh Nghị Ko

HIỆU ỨNG GIÁN CÁCH CỦA B.BREST TRONG VỤ ÁM SÁT GIẢ TƯỞNG ĐẠI TƯỚNG PHÙNG QUANG THANH
Sự xuất hiện trở lại của Đại tướng Phùng Quang Thanh làm ai vui nhất? Chắc chắn đó là Trung Quốc và những chiến hữu cùng e-kip với Đại tướng. Cho dù Đại tướng thân Trung Quốc thực lòng như dư luận vẫn mặc định coi như vậy, hay khổ nhục kế theo sự phân công để làm an lòng bạn lớn như tôi đã có lần suy đóan, hay vừa thực lòng vừa khổ nhục kế như thường thấy trong sự giằng xé của cốt cách Việt và thân phận Việt, thì vụ ám sát giả tưởng làm náo động xã hội vừa qua đã đem lại sự cân bằng cho bàn cờ chính trị Việt Nam. Và mở một con đường giải thoát Đại tướng khỏi số phận bị nhân dân nghi ngờ và căm ghét.
HIỆU ỨNG GIÁN CÁCH CỦA SÂN KHẤU B.BREST
Bình thường hàng ngày ta không để ý đến giá trị của những vật dụng ta thường xuyên dùng đến, nhưng bỗng một hôm cái bút, cái chìa khóa hay bất kỳ vật dụng quen thuộc nào bị mất, ta bỗng thấy tiếc và nhớ đến những kỷ niệm gắn với nó, thầm nghĩ sao mình không giữ nó cẩn thận hơn? Đó là hiệu ứng tâm lý từ sự gián cách mà B. Best đã dựa trên đó để cách tân sân khấu, xây dựng kịch gián cách, trong đó con người và sự vật không được thể hiện gần gũi than thuộc y như thực trong hệ sân khấu cổ điển, mà được gián cách ra, xa lạ hóa. Sự gián cách đó đã đem đến những hiệu ứng sân khấu mới mà hệ sân khâu Stanilapxki không có.
Việc Đại tướng vắng mặt trong thời gian qua có thể được hiểu là đi chữa bệnh, cũng có thể hiểu là bị ám sát nhưng không chết phải nằm viện chữa. Tôi thiên về khả năng đi chữa bệnh, hoặc đi nghỉ dưỡng ở Pháp, vì đó là một phương án cách ly Đại tướng khỏi chuyến thăm Mỹ của TBT Nguyễn Phú Trọng, vừa đỡ làm hỏng bữa tiệc đổi đời dân tộc nếu Đại tướng thân Trung Quốc thật, vừa đỡ tránh trách nhiệm (giang hồ) cho Đại tướng trước Trung Quốc khi có mặt trong Nhà Trắng mà để cho quan hệ Việt Mỹ hiện hình ngoạn mục thế! Ngoài ra, kịch bản Đại tướng bị ám sát này còn tạo ra hiệu ứng gián cách gia tăng giá trị của Đại tướng với Trung Quốc, giá trị này sẽ ảnh hưởng đến các ứng xử của Trung Quốc với Việt Nam.
QUẢ CÂN BỎ RA RỒI LẠI ĐẶT VÀO
Không biết ai là tác giả của thông tin về vụ ám sát giả tưởng, nhưng có thể trao giải thưởng cao cho kịch bản xuất sắc này. Đây vừa là kịch bản cắt dán hậu hiện đại, vừa là kịch bản theo trường phái gián cách của B.Brest. Ngoài việc đưa Đại tướng thoát khỏi trách nhiệm chồng chéo vụ TBT thăm Hoa Kỳ, kịch bản này còn tạo ra phép thử kiểu Trăm hoa đua nở ở Trung Quốc thời CMVH để biết lòng dạ thế gian và mưu chước của các phe (giống như một vở kịch Pháp kể chuyện ông chồng kia giả chết để thử tình yêu của vợ, ông ta nằm trong quan tài và phát hiện ra vợ mình âu yếm bàn bạc với tình nhân).
Khi bị mất con át chủ bài quân sự ở Việt Nam, Trung Quốc mới thấy hết giá trị của phe thân Tàu hay giả thân Tàu mà chúng không biết. Sau đó, thấy quan hệ Việt Nam và Hoa Kỳ trở nên nồng thắm, chúng càng tiếc hơn. Bản tính côn đồ gia trưởng đã khiến chúng bộc lộ sự tức giận và hung hãn, có những hành vi chuẩn bị chiến tranh hay dọa dẫm chiến tranh. Đúng lúc ấy, Đại tướng bất ngờ hiện diện tháo ngòi nổ. Giống như anh chồng trong vở kịch Pháp bật nắp quan tài ngồi dậy xóa sạch các mưu đồ phản trắc của người vợ lăng loàn.
Trung Quốc có lại Phùng Quang Thanh sẽ quên đi mối hận TBT nghe người Mỹ đọc Kiều trong Nhà Trắng. Cán cân ngoại giao sẽ cân bằng trở lại nhờ quả cân Phùng Quang Thanh vốn nằm bên đĩa cân Trung Quốc bị bỏ ra để rồi lại đặt vào. Đó là trí tuệ Việt Nam, bản lĩnh Việt Nam mà ngàn đời bọn xâm lược bành trướng Trung Hoa không thể nào lường được.
Nếu đúng như tôi suy đoán - chỉ hoàn tòan là suy đoán và bình luận Mao Tôn Cương thôi - thì đây là nghệ thuật chiến tranh tâm lý cao cường trong đấu tranh ngoại giao của Đảng CSVN bắt nguồn từ bản lĩnh TÍN TÂM, KHÔNG CHẤP HÌNH TƯỚNG, DĨ BẤT BIẾN ỨNG VẠN BIẾN từ ngọn nguồn văn hóa Việt Nam.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Có hay không chuyện này?

Logo TSQ Nguyễn Văn Trỗi


Bloger Báo Liếp Nguyễn văn Trỗi:

Nhục nhã quá, khi quân nhạc cử "Ca ngợi Tổ quốc Trung Hoa"

Tại đêm ca nhạc "Khát vọng đoàn tụ", sau khi Chủ tịch nước Trương Tấn Sang phát biểu, quân nhạc đã cử "Cờ hồng bay vờn gió kìa 5 cánh sao..." bài của TQ.
Sao có thể như vậy?
Mời nghe và xem!

Phần nhận xét hiển thị trên trang