Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 11 tháng 7, 2015

TẢN MẠN QUA HAI BÀI VIẾT CỦA TÁC GIẢ NGÔ NGUYỄN VÀ LÊ THIẾU NHƠN…





Vũ Duy Chu 
Những nội dung Nhà thơ Lê Thiếu Nhơn đề cập trong bài viết của ông là một phần bức tranh thơ Việt hiện nay. Thực tế còn tệ hơn nhiều.
Các Nhà Xuất bản thì bán giấy phép xuất bản lấy tiền, chỉ đọc bản thảo qua loa cho xong. Tình trạng này ở lĩnh vực thơ là nhiều nhất, nhiều không kể xiết. Nhiều Nhà xuất bản danh giá cũng gắn mác cho những tác phẩm dưới mức trung bình…

Bạn đọc, những nhà văn, nhà thơ gọi Văn học hiện nay là cái chợ trời Văn chương bát nháo. Xếp loại thơ theo các cấp độ phường, xã, Câu lạc bộ dựa vào chất lượng thơ là có cơ sở, một việc làm hết sức bình thường… Có thứ sản phẩm gì trên đời này lại không được xếp hạng theo một tiêu chuẩn nào đó, kể cả xếp hạng công dân.

Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam Nguyễn Quang Thiều hưng phấn tuyên bố Việt Nam là cường quốc thi ca, tôi cũng thấy chả có gì để hãnh diện. Chúng ta chỉ được thiên hạ kính nể tôn trọng thực sự khi là cường quốc kinh tế. Đó mới là điều đáng để cho mỗi người dân lao động nghèo khổ, mỗi người cầm bút có lòng tự trọng đau đáu nhất…

Còn anh công bố một tác phẩm, đương nhiên là anh đã tự nguyện phát đi một thông điệp tư tưởng tới cộng đồng. Và cộng đồng đương nhiên có cái quyền đánh giá tốt xấu tác phẩm của anh.

Ai cũng có quyền làm thơ, in thơ theo nhu cầu riêng của mình, không có luật nào cấm. Nói theo ngôn ngữ nghị trường, cái gì luật không cấm đều được làm. Nhưng có những nhu cầu chỉ thấy ở Việt Nam: Quan chức bổng lộc no nê, lúc về hưu kiếm chút danh văn chương để thiên hạ khỏi gọi mình là trọc phú, là xôi thịt… thì ông ta làm thơ, đó là cách nhanh nhất, dễ nhất. Ông có tiền là sẽ có thợ ca ngợi, gọi ông là nhà thơ…

Cách đây chưa lâu, người ta đưa cả thơ đạo, thơ thiền của ông Hoàng Quang Thuận lên bàn thờ của Đền thơ Việt Nam, rồi vái lạy xì xụp đấy thôi.
Chủ soái Hữu Thỉnh “khăn đống áo dài” tổ chức hội thảo thơ thiền của ông Hoàng ở cấp quốc gia, quan khách lớn nhỏ tới dự tấp nập.
Những người viết tham luận về thơ thiền ông Hoàng có phong bì chất lượng hẳn hoi.
VTV làm hẳn một chương trình ông Hoàng lên Yên Tử non cao vãn cảnh, để ông nhập thần cho thơ…
Rồi ông Hoàng mời Tổ chức Guinness công nhận kỉ lục thơ to nhất, thơ nặng nhất, sắp sanh gửi thơ đạo của mình đi dự Giải Nobel…

Không năm nào trao Giải thưởng Văn học danh giá nhất của Hội Nhà văn Việt Nam cho các tác giả tác phẩm lại không gây ra sự phẫn nộ, bài xích trong văn giới. Chỉ vì các tác phẩm ấy dở. Chủ tịch Hội lờ đi, coi như không nghe, không thấy, không biết các phản ứng xã hội, hoặc có thì ông cũng thanh minh thanh nga qua loa, lấy lệ…
Vấn đề kết nạp hội viên thì mánh mung, khuất tất. Đã có nhiều bài viết trên mạng về cái “quy trình” vào Hội do chính hội viên phanh phui, thật não nề…

Thượng bất minh, hạ tắc loạn.
Thơ cấp phường xã có mặt ở những nơi sang trọng nhất còn được, thì nó xuất hiện ở Hội tỉnh nhà bác Trần Mỹ Giống là lẽ đương nhiên. Chỉ cần đọc các bài viết về Giải thưởng Lương Thế Vinh của Hội Nam Định trên chính trang Blog này, là chúng ta phải thừa nhận thơ cấp phường nhiều phen lên ngôi thật sự…

Văn chương là món ăn tinh thần, nhưng trước hết nó phải là thức ăn sạch cái đã, ngon bàn sau, vì khẩu vị mỗi người mỗi khác.
Món lục bát thì buộc người viết phải thuộc cách gieo vần. Trật vần chân câu lục với vần lưng câu bát hoặc lặp vần là chưa “sạch” nước cản.
Món thơ Đường luật thì rất khắt khe ở cách thể hiện. Luật chính là cách buộc người viết không được phạm luật, phải làm cho đúng luật, cho “sạch” câu chữ. Chưa nắm chắc luật thì chưa nên chơi, hoặc có chơi thì chơi trên sân phù hợp với khả năng của mình.
Chẳng có sân chơi nào hèn mọn cả, chỉ người chơi có tự biết mình hay không mới là vấn đề quan trọng…

Có nhiều tác giả phật ý khi người khác gọi thơ mình là thơ phường, cho là bị hạ thấp vô cớ. Thế là tác giả bèn đem ca dao ra đối chứng. Rằng kho tàng văn học dân gian, ca dao tuyệt cú là sáng tạo của người nông dân, trong đó có cả những người không biết chữ.
Rất chính xác, tôi không dám cãi.

Nhưng các câu ca dao tuyệt cú ấy ban đầu có khi chỉ một câu nói vần vèo, một ý tưởng thô ráp. Nhưng nhờ truyền khẩu qua hàng trăm thế hệ đã gọt đẽo, chỉnh sửa, gia công nên mới có cơ tồn tại phát sáng đến ngày nay. Trong số những kẻ gia công ấy dứt khoát không thể thiếu những bậc chữ nghĩa cao siêu. Nếu các tác giả nói trên đem ca dao ra so sánh, bênh vực cho thơ mình, thì không ổn.
Thơ Bút Tre hiện nay có nhiều câu, nhiều bài rất thú vị cũng là một dạng được truyền khẩu, sáng tạo như thế.

Còn một điều đáng nói là nhiều thế hệ văn chương của chúng ta đã mắc không ít lỗi nghiêm trọng.
Chúng ta để cho Chị Tấm đun nước sôi dội lên đầu Cám (người em) đến chết, rồi làm mắm cho mẹ Cám ăn. Chúng ta vô cùng quen thuộc mà không biết nhàm chán với cách thức truyện nào cũng phải kết thúc có hậu, rằng địch thì phải thua, ta nhất định phải thắng vẻ vang, rằng ở hiền gặp lành. Việc lấy oán trả oán này của Tấm là một hành động làm bao thế hệ trẻ em mê man cổ tích, phụ nữ thì sung sướng khi được ví von với cô Tấm thơm thảo nết na…

Theo chiều ngược, chúng ta vừa xay thành bột giấy tác phẩm của Nhà văn Bùi Ngọc Tấn. Chúng ta từng ”đánh” cho Nhà văn Bảo Ninh lên bờ xuống ruộng, vì ông dám viết tác phẩm “Nỗi buồn chiến tranh” nổi tiếng…

Xin nói thẳng là xu hướng “hiệu ứng đám đông” trong văn chương ở ta từ xa xưa đã rất mạnh rồi. Và có cả cái gọi đúng tên là “văn chương quyền lực”. Không ai dám chê thơ Tố Hữu thời ông còn đương chức đương quyền. Ai cũng khen thơ ông hết lời, là khuôn vàng thước ngọc. Bây giờ thì người ta lại tranh luận ồn ào thế nào là một bài thơ hay. Thế là mình tự phủ nhận cái mình tôn vinh, cái mình coi là chân lý rồi còn gì. Thế là sao?
Những bậc cây đa cây đề sừng sững thần tượng Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Chế Lan Viên… chẳng hạn… thì lại tự phủ nhận mình. Những cuộc chiến tư tưởng thi ca trong tâm hồn họ làm rung chuyển văn đàn…

Thế thì cũng nên bình tĩnh, đừng khẳng định mọi tác phẩm trong bảo tàng văn chương của ta đều là kim cương. Ông cha để lại cho chúng ta những tác phẩm văn chương vô giá. Nhưng tác phẩm nào cũng có những hạt sạn, kể cả Truyện Kiều của Thi hào Nguyễn Du. Chúng ta phải viện đến lăng kính thời @, thời thế giới phẳng này mới dám nói đến, đụng đến các hạn sạn ấy…

Chúng ta ca ngợi thơ Thiếu nhi của Trần Đăng Khoa là mẫu mực của sự sáng tạo thần đồng. Nhưng trong nhiều bài viết, bài trả lời phỏng vấn báo đài, ông Khoa không nhận mình như thế. Ông nói thật lòng, nhưng nhiều người cứ nhất định phải cho rằng ông Khoa khiêm tốn. Tôi thì cho rằng thơ thiếu nhi của ông Trần Đăng Khoa là một thứ lộc trời ban tặng cho riêng ông ấy…
Tôi rất thích nhiều câu, nhiều bài thơ thiếu nhi của ông Khoa, tôi cảm phục ông.
Nhưng khi ông viết rằng:
….
“Bắn tàu Mỹ cháy
Là bạn thiếu nhi
Ngu xuẩn nhất nhì
Là Tổng thống Mỹ”…
thì nhất định không phải là thơ thiếu nhi rồi. Thơ thiếu nhi thường ngộ nghĩnh, trong vắt, nói đến cái xấu cũng không hàm hồ như người lớn được. Ông Khoa đã “đạo” cách nói về kẻ thù của các nhà tuyên huấn thời ấy…
Sau này hình như được đi nhiều hơn, thấy nhiều hơn, nên ông đã rút hai câu ấy ra khỏi các tập thơ thiếu nhi của mình...

Xin nói thêm trước khi kết thúc bài viết.
Người làm văn chương hay dẫn ra những câu danh ngôn, tuyên ngôn chí lý: “Văn mình, vợ người”.
Nhưng tôi đồ rằng “Văn mình vợ người” được sinh ra để đi kèm với “Bút sa, gà chết”, với “Trường văn trận bút”…
Người ta chỉ mải mê với “Văn mình vợ người” mà quên mất lời dặn dò “sấm truyền” về qui luật đào thải thơ ca khắc nghiệt nằm ở hai câu sau…

Sài Gòn, 10.7.2015
VDC


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Hoàng Sa sắp có dân


() - Số 155 Thanh Hải - Phước Tín 
 Một góc phường Thọ Quang, phần đất dự kiến nhập vào huyện đảo Hoàng Sa

Nếu đề xuất đưa 2 phường Thọ Quang, Mân Thái thuộc quận Sơn Trà nhập vào huyện đảo Hoàng Sa của Đà Nẵng được đồng ý, huyện Hoàng Sa sẽ có đất, có dân và có bộ máy chính quyền thực thụ.

Điều này sẽ nâng cao hiệu lực chính quyền, có điều kiện tăng cường đấu tranh chính trị, tăng sức mạnh ngoại giao, hướng đến mục tiêu khẳng định quyết tâm bảo vệ chủ quyền biển đảo đối với Hoàng Sa của Việt Nam... Thời điểm chín muồi

Sáng 8.7, tại kỳ họp thứ 14, HĐND TP.Đà Nẵng khoá VIII, ông Nguyễn Đăng Hải, Phó Chủ tịch thường trực UBMTTQ VN TP.Đà Nẵng đưa ra đề xuất tách 2 phường Thọ Quang và Mân Thái thuộc quận Sơn Trà để nhập vào huyện đảo Hoàng Sa. Theo ông Hải, đây là ước nguyệt từ lâu của nhân dân cũng như của chính quyền địa phương, tuy nhiên do vướng vào các cơ sở pháp lý nên chưa thực hiện được.
Sắp tới, đầu năm 2016, khi luật Tổ chức chính quyền địa phương có hiệu lực, theo đó tái lập tổ chức HĐND cấp quận huyện, buộc huyện đảo Hoàng Sa phải có nhân dân thì mới bầu ra được HĐND, chính quyền UBND, chủ tịch… Đây là cơ hội, thời điểm chín mùi để đặt ra vấn đề "cắt" một phần đất liền nhập vào huyện đảo Hoàng Sa.
Ông Hải nói: “Đà Nẵng vinh dự được Trung ương giao phó quản lý huyện đảo Hoàng Sa, một phần máu thịt thiêng liêng của Tổ quốc. Đây là vinh dự to lớn và trách nhiệm cũng nặng nề. Từ trước đến nay, chính quyền Đà Nẵng đã cố gắng làm hết sức mình để bảo vệ chủ quyền biển đảo nói chung, trong đó có Hoàng Sa bằng những việc làm cụ thể như sưu tầm hiện vật, bản đồ khẳng định chủ Hoàng Sa, ra mắt chính quyền, các hoạt động triển lãm, tuyên truyền trong nước, đấu tranh ngoại giao...
Nhưng đến nay, quần đảo Hoàng Sa vẫn bị Trung Quốc cưỡng chiếm bất chấp luật pháp quốc tế, bất chấp đạo lý. Điều đó cho thấy trách nhiệm đòi lại chủ quyền đặt ra càng lúc càng lớn hơn đối với chính quyền và nhân dân TP Đà Nẵng. Nhân luật Tổ chức chính quyền địa phương có hiệu lực từ ngày 1.1.2016, tôi mong muốn Đà Nẵng đưa hai phường trên vào Hoàng Sa, kéo Hoàng Sa về với đất liền. Đây là việc làm hết sức ý nghĩa mà chính quyền Đà Nẵng cần quan tâm để khẳng định chủ quyền Hoàng Sa của Việt Nam”.
Hai phường Thọ Quang, Mân Thái hội đủ các điều kiện để có thể sát nhập với huyện đảo Hoàng Sa  
Đại biểu HĐND khác của thành phố Đà Nẵng, bà Nguyễn Thị Anh Đào nói thêm: “Nếu tách được các phường đó vào huyện đảo Hoàng Sa, nhân dân rất mừng. Vì về tương lai, việc sáp nhập sẽ tạo sự phát triển kinh tế biển mạnh mẽ, đặc biệt là cơ hội phát triển du lịch biển. Đây cũng là ước vọng của nhân dân".
Gám đốc Sở Nội vụ, kiêm Chủ tịch huyện đảo Hoàng Sa, ông Võ Công Chánh cho biết, thực ra, từ  năm 2003, ông Trần Thọ, Trưởng ban Tổ chức chính quyền TP Đà Nẵng lúc đó đã trình Chủ tịch UBND TP.Đà Nẵng-Huỳnh Năm đề án tăng cường quản lý nhà nước đối với huyện đảo Hoàng Sa. Trong đó đề nghị “cắt” 2 phường này để nhập vào huyện Hoàng Sa.
Ngay năm 2003, UBND TP.Đà Nẵng đã chính thức đề xuất Ban biên giới, Bộ Ngoại giao, Chính phủ cho phép tách phường Thọ Quang ra làm 2 phường, thêm phường Mân Thái để hình thành huyện đảo Hoàng Sa, nhưng chưa thực hiện được vì nhiều lý do.
Cách đây 2 tuần, Sở Nội vụ cũng chủ động làm việc với Thứ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Duy Thăng về vấn đề này. Ông Thăng có giao tôi về bàn với Bí thư Thành uỷ Đà Nẵng, Chủ tịch UBND TP tính toán dần phương án cho phù hợp…”
Khát vọng của toàn dân
Nhận được thông tin về đề xuất trên của đại biểu HĐND, ông Đặng Công Ngữ, nguyên Chủ tịch UBND huyện đảo Hoàng Sa (trong năm 5, 2009-2014) không giấu được vui mừng, xúc động. Ông gói gọn tâm trạng mình bởi 2 từ: “Hạnh phúc”.
Ông nói, đây là mong ước của nhiều người, của nhân dân cả nước nói chung và nhân dân Đà Nẵng nói riêng. Theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương, khi bỏ việc thí điểm không tổ chức HĐND cấp quận huyện, thì UBND huyện đảo Hoàng Sa buộc phải có dân mới tồn tại. Vì vậy đề xuất này đúng thời điểm cần thiết.
Khi được thông qua, huyện đảo Hoàng Sa sẽ được xác lập lại, sẽ có trụ sở, có dân, có điều kiện để tổ chức bộ máy chính quyền hoàn chỉnh, là một thực thể với đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, để công tác quản lý nhà nước được rõ ràng. Đặc biệt, khi có bộ máy chính quyền thực thụ, huyện Hoàng Sa sẽ có thêm nhiều điều kiện để giúp đỡ nhân dân, đặc biệt là ngư dân đánh bắt hải sản trên vùng biển Hoàng Sa.
Tàu cá Việt Nam (trái) và tàu Trung Quốc trên vùng biển Hoàng Sa 
Đã có thời điểm, khi đề xuất “cắt” một phần đất liền ở quận Sơn Trà sát nhập huyện Đảo Hoàng Sa chưa hiện thực, nhiều nhân sĩ, trí thức cả nước lẫn chính quyền UBND huyện Hoàng Sa đã từng có ý định “thu nhận” công dân danh dự của Hoàng Sa, và hàng triệu người đã hưởng ứng với ý tưởng này.
Tiến sĩ Trần Đức Anh Sơn, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế xã hội TP.Đà Nẵng cho biết, việc đề xuất tách 2 phường thuộc quận Sơn Trà để nhập vào huyện đảo Hoàng Sa không phải là ý tưởng mới. Trước đây, từ thời Ngô Đình Diệm, một phần huyện đảo Hoàng Sa đã có trong lục địa, đó là xã Định Hải thuộc quận Hoà Vang. Bây giờ xác lập lại là sự cần thiết. Theo TS Sơn, việc đưa 2 phường Thọ Quang và Mân Thái sát nhập, trở thành đơn vị hành chính cấp xã, trực thuộc huyện đảo Hoàng Sa có ý nghĩa to lớn cả về thực tiễn lẫn ý nghĩa chính trị.
Thực tế, quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam đã bị Trung Quốc dùng vũ lực chiếm đóng hoàn toàn từ tháng 1.1974. Vì vậy, từ sau ngày giải phóng, cho dù chúng ta đã tái thành lập UBND huyện đảo Hoàng Sa, có Chủ tịch UBND huyện, nhưng không hoàn chỉnh về bộ máy hành chính, vì không có đất, không có dân.
Sẽ không còn “đứng trong bờ nói chuyện ngoài đảo” 
Theo luật pháp và công ước quốc tế, nếu liên tiếp trong vòng 50 năm, quốc gia không lên tiếng, không tuyên bố, không có động thái xác lập chủ quyền đối vùng đất bị nước khác chiếm đóng, thì vùng đất đó sẽ không được công nhận.
Vì vậy, để duy trì các hoạt động đấu tranh khẳng định chủ quyền biển đảo đối với Hoàng Sa, chúng ta chấp nhận mô hình tổ chức hành chính theo hình thức biểu trưng như hiện tại. Điều này đã từng bị một số đồng bào không hiểu, cho rằng chúng ta đứng trong bờ mà nói chuyện ngoài đảo là vô nghĩa.
Cho ên, việc lấy một phần đất trong lục địa, ghép với quần đảo Hoàng Sa để đơn vị hành chính này có đất, có dân là phù hợp với luật pháp hiện hành, có điều kiện xây dựng một chính quyền thực sự. Có tổ chức HĐND, UBND, có các hoạt động dân sự thực sự…
Và đương nhiên, với việc hình thành cơ quan hành chính huyện đảo trên đất liền này sẽ tạo nhiều điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động đấu tranh khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa trong tương lai. Điều đó cũng thể hiện rõ quyết tâm của nhà nước trong việc theo đuổi mục tiêu khẳng định và bảo vệ chủ quyền biển đảo đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Chủ tịch Hội sử học TP.Đà Nẵng, ông Bùi Văn Tiếng rất vui mừng trước đề xuất này của Đại biểu HĐND TP.Đà Nẵng. Ông Tiếng cho rằng đây là bước tiến triển đáng khích lệ, bởi ý định này đã từng được Đà Nẵng nung nấu, đề xuất nhiều lần nhưng chưa thành hiện thực.
Động thái này nhằm tạo ra một chính quyền hiệu lực. Có được bộ máy chính quyền thực thụ, sẽ tăng thêm hiệu lực để đấu tranh chính trị, tăng sức mạnh ngoại giao lên rất nhiều cho huyện Hoàng Sa, cho Việt Nam.
Theo ông Tiếng, 2 phường Thọ Quang, Mân Thái là địa phương ven biển, có ngư dân sống bằng nghề chài lưới, đi biển, đánh bắt tại vùng biển Hoàng Sa. Tại phường còn có cảng biển, bến cá, có hải quân, bộ đội biên phòng… Tất cả các điểm này hội đủ điều kiện để thành lập huyện đảo Hoàng Sa có đất liền gắn với quần đảo ngoài biển khơi.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trèo cao ngã đau, Trung Quốc đối diện "Đại Khủng hoảng" 2015 - SNEWS SO HA

Trong khi mọi con mắt đang đổ về Hy Lạp và Eurozone thì một cuộc khủng hoảng kinh tế khác mang hậu quả to lớn hơn rất nhiều đang diễn ra tại Trung Quốc.

Theo thống kê của Wall Street Journal, thị trường chứng khoán (TCCK) Trung Quốc đã mất hơn 3,2 nghìn tỉ USD giá trị chỉ trong tháng vừa qua.
Sau khi tăng 130% trong khoảng thời gian từ 9/2014 tới 6/2015, chỉ số Shanghai Composite đã tụt dốc không phanh và mất đi hơn 30% giá trị trên thị trường, lượng giảm gần gấp đôi so với giá trị của cả hệ thống thị trường chứng khoán Ấn Độ.
"Bong bóng" xuất hiện
The Diplomat phân tích, dấu hiệu cho sự xuất hiện của "bong bóng" đã nhiều lần hiện hữu trong năm vừa qua.
Ngày càng nhiều người Trung Quốc bắt đầu mua và trao đổi cổ phiếu trên sàn Thượng Hải và Thâm Quyến; từ sinh viên tới các cụ ông cụ bà đều kiếm được tiền từ việc "xào nấu" cổ phần.
Phần đông các "nhà đầu tư" này đã vay tiền để mua cổ phiếu, họ tin rằng thị trường đã chạm đáy, và chỉ có thể đi lên chứ không thể giảm thêm được nữa.
Thị trường giá lên (bull market) xuất hiện trong lúc kinh tế Trung Quốc đang chững lại rộng khắp, một xu hướng dẫn tới việc TCCK bị định giá quá cao, đồng thời khiến thị trường ngày một tách biệt ra khỏi kinh tế Trung Quốc.
Trước tình hình này, bộ máy lãnh đạo Trung Quốc đã có những điều chỉnh nhằm kìm hãm đà tụt dốc của cổ phần. Cụ thể, chính phủ đã tạm dừng phát hành lần đầu ra công chúng (IPO) cũng như khuyến khích các công ty tài chính mua thêm cổ phiếu.
Ngoài ra, các doanh nghiệp nhà nước (SOE) đã được lệnh từ Ủy ban Giám sát và Quản lý Tài sản Trung Quốc không được phép bán cổ phiếu của các công ty đứng tên họ, đồng thời được khuyến khích mua thêm cổ phần nhằm ổn định phần nào giá trị.
Nhưng động thái đáng kể nhất là việc gần 1.500 công ty Trung Quốc, tức là hơn một nửa số công ty được niêm yết trên sàn giao dịch Thượng Hải và Thâm Quyến, đã xin tạm ngừng giao dịch cổ phiếu của mình để hạn chế thêm thiệt hại.
Màu đỏ bao trùm các sàn giao dịch Trung Quốc. Ảnh: Reuters
Màu đỏ bao trùm các sàn giao dịch Trung Quốc. Ảnh: Reuters
Trước mắt, việc những bước điều chỉnh này có đem lại hiệu quả trong việc giảm thiểu thiệt hại cho TCCK Trung Quốc hay không còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố.
Bộ máy lãnh đạo Trung Quốc trước đó đã áp dụng một loạt các biện pháp cải cách kinh tế như giảm lãi suất, dùng quỹ hưu trí chính phủ để hỗ trợ thị trường, và điều tra các hoạt động tài chính mờ ám, nhằm mục tiêu để thị trường tự quyết định số phận.
Trong đó, theo Reuters, Bắc Kinh đã thông qua một gói hỗ trợ từ quỹ hưu trí chính phủ trị giá 322 tỉ USD, cao nhất trong lịch sử nước này.
Mặt khác, những cơ quan chính phủ chịu trách nhiệm định hướng những biện pháp cải cách này lại chính là các tác nhân "đóng góp" vào sự đi xuống của kinh tế Trung Quốc.
Một ví dụ cụ thể là việc Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBOC) và Ủy ban Điều hành Ngân hàng Trung Quốc (CBRC) đã từng theo đuổi những chính sách "mở đường" cho ngân hàng ngầm (shadow banking) và nâng mức nợ.
Do vậy, không còn lựa chọn nào khác, chính phủ Tập Cận Bình đã phải dùng đến "hạ sách" can thiệp vào thị trường.
Không những vậy, chiến dịch chống tham nhũng "đả hộ diệt ruồi" của nhà lãnh đạo Trung Quốc cũng đang cho thấy "tác dụng phụ" của nó, tạo tâm lý cẩn trọng giữ mình trong các doanh nhân thay vì đẩy mạnh đầu tư.
CHUYÊN GIA KINH TẾ - TẠP CHÍ FINANCIAL TIMES
GEORGE MAGNUS
Chiến dịch chống tham nhũng của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đang cản trở tăng trưởng cũng như khiến các cải cách kinh tế nước này phản tác dụng.
Theo The Diplomat, tình hình kinh tế bất ổn hiện nay đang đặt ra một thách thức quốc nội "khó nhằn" cho chính phủ Trung Quốc, khi điều này sẽ được đổ cho công tác điều hành kinh tế của bộ máy lãnh đạo. Độ tin cậy của họ cũng sẽ vì thế mà bị đặt dấu hỏi.
Người Trung Quốc ở mọi tầng lớp từ tỉ phú tới những người nông dân sẽ ngờ vực khả năng đảm bảo một tương lai kinh tế thịnh vượng cho người Trung Quốc của tầng lớp lãnh đạo. Các nhà đầu tư cũng sẽ điều phối tiền của mình sang các thị trường khá khẩm hơn.
"Đổ tội" cho ngoại cảnh
Trong lịch sử, khi thị trường Trung Quốc đứng trước một cuộc suy thoái, lãnh đạo nước này luôn tìm cách "đánh lạc hướng" dư luận trong nước sang một vấn đề bên ngoài.
Năm 2012, khi kinh tế Trung Quốc tăng trưởng ở mức thấp nhất trong hơn một thập kỉ, Bắc Kinh lập tức lái sự chú ý sang các vấn đề đối ngoại, cụ thể là tranh chấp chủ quyền với Nhật Bản.
Hệ quả là người dân Trung Quốc tràn ra đường biểu tình, tẩy chay dùng hàng Nhật Bản, phá hoại các doanh nghiệp có vốn đầu tư Nhật Bản, mà quên mất những khó khăn về kinh tế mà nước nhà đang gặp phải.
Người Trung Quốc biểu tình trước Đại sứ quán Nhật ở Bắc Kinh. Ảnh: AFP
Người Trung Quốc biểu tình trước Đại sứ quán Nhật ở Bắc Kinh năm 2012. Ảnh: AFP
Ngoài lo ngại Bắc Kinh sẽ tái áp dụng chiến thuật này, các nhà phân tích cho rằng việc TCCK Trung Quốc tụt dốc không phanh sẽ có ảnh hưởng không nhỏ tới kinh tế toàn cầu. Các dấu hiệu trong tuần vừa qua đã cho thấy nguy cơ một hiệu ứng domino có thể xảy ra.
Tuy vẫn còn thời gian để chính phủ Tập Cận Bình cứu vãn tình hình, nhưng theo đánh giá của tác giả Scott McDonald trên National Interest, bộ máy lãnh đạo đảng Trung Quốc đang đứng trước thử thách đối nội lớn nhất kể từ sự kiện Thiên An Môn 1989.
Ông McDonald quan ngại, nếu Bắc Kinh vẫn tiếp tục bất lực trước đà tụt dốc hiện nay của chứng khoán, một cuộc Đại Khủng hoảng Tài chính sẽ xảy ra.
Khi đó, những gì xảy ra tại Hy Lạp hiện nay sẽ chỉ là một "chấm nhỏ" nếu so với những hậu quả mà một cuộc khủng hoảng tại Trung Quốc có thể gây ra cho kinh tế toàn cầu.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Sáu, 10 tháng 7, 2015

Bình thường hóa quan hệ Việt - Mỹ: Hóa giải 'những cái đầu nóng' coi Mỹ là kẻ thù chiến lược ra sao?

(VTC News) - Được cử theo dõi mảng quan hệ Việt-Mỹ thời kỳ xúc tiến bình thường hóa của báo Quân đội Nhân dân, nhà báo Lê Thọ Bình kể về hành trình gian nan của các nhà ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch và Lê Mai.


20 năm trước, ngày 11/7/1995, Tổng thống Mỹ Bill Clinton tuyên bố bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Đây là sự kiện có ý nghĩa to lớn đối với nền ngoại giao Việt Nam nói chung và quan hệ Việt Nam- Hoa Kỳ nói riêng. Để có được kết quả có tính bước ngoặt này cả hai phía Việt Nam và Hoa Kỳ đã những nỗ lực vượt bậc. Tuy nhiên có những thời điểm mà đáng ra hai bên đã có thể làm tốt hơn r
ất nhiều.

Nhà báo kỳ cựu Lê Thọ Bình, người từng công tác tại báo Quân đội Nhân dân, được phân công theo dõi mảng quan hệ Việt - Mỹ thời kỳ xúc tiến bình thường hóa quan hệ kể về hành trình gian truân, cam go của các nhà ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch (Bộ trưởng Ngoại giao) và Lê Mai (Thứ trưởng Ngoại giao).


Bình thường hóa quan hệ Việt - Mỹ: Hóa giải 'những cái đầu nóng' coi Mỹ là kẻ thù chiến lược ra sao?
Thứ trưởng Lê Mai (bên phải) và Thượng nghị sĩ John Kerry trả lời các nhà báo sau phiên họp tại Hà Nội tháng 11/1992 
Lần đầu tiên tôi được gặp và trò chuyện với ông Lê Mai là vào cuối những năm 80 của thế kỷ XX khi ông vừa được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Ngoại giao.

Hôm đó tại cuộc họp báo do Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Cơ Thạch và Bộ trưởng Ngoại giao (sau này là Thủ tướng) Thái Lan Siddhi Savetsila chủ trì tại Nhà khách Chính phủ (số 2, Lê Thạch, Hà Nội), ta tuyên bố Việt Nam rút quân hoàn toàn khỏi Campuchia.

Tôi còn nhớ hôm ấy chính ông Siddhi Savetsila đã ca ngợi ông Lê Mai với vai trò là Đại sứ Việt Nam tại Thái Lan. Ông Siddhi Savetsila đã gọi ông Lê Mai là “Người đã tạo dựng một vòng liên kết thân thiện và cảm tình của dư luận quốc tế trong việc đối phó và hóa giải vấn đề Campuchia một cách mềm dẻo và khôn khéo”.

Sau khi kết thúc cuộc họp báo, tôi đã có dịp được trò chuyện cùng Thứ trưởng Lê Mai khi  ông đứng chờ xe trở về trụ sở Bộ Ngoại giao.

Tuy nhiên phải tới cuối tháng 11 năm 1991, với vai trò là Bình luận viên quốc tế được giao phụ trách mảng quan hệ Việt- Mỹ, tôi mới có được bài phỏng vấn chính thức đầu tiên với Thứ trưởng Lê Mai.
Bình thường hóa quan hệ Việt - Mỹ: Hóa giải 'những cái đầu nóng' coi Mỹ là kẻ thù chiến lược ra sao?
Tổng thống Clinton là người đã đặt nền móng chính thức cho việc bình thường hoá quan hệ song thương Việt - Mỹ trong chuyến thăm Việt Nam ngày 17/11/2000 
Cuộc phỏng vấn được thực hiện khi ông dẫn đầu Đoàn đàm phán Việt Nam vừa kết thúc phiên đàm phán với Trợ lý Bộ trưởng ngoại giao Hoa Kỳ về Đông Á- Thái Bình Dương Robert Solomon ngày 21-11-1991 tại New York.

Đây là vòng đàm phán chính thức đầu tiên về bình thường hóa quan hệ Việt- Mỹ. Trong bài phỏng vấn này Thứ trưởng Lê Mai đã nói rằng, quan hệ Việt Nam- Hoa Kỳ đang có những bước tiến đáng kể.

Tuy nhiên ông cũng cảnh báo rằng, chặng đường phía trước còn đầy cam go và có những diễn biến khó lường, cần hết sức tỉnh táo, nhưng việc bình thường hóa là không thể đảo ngược được.

Sau này, trong vòng 4 năm trời, cứ sau mỗi vòng đàm phán tôi lại có dịp được gặp ông, phỏng vấn ông. Cũng có lúc ông trực tiếp gọi tôi đến phòng làm việc của ông để trao đổi một vấn đề nào đó còn khúc mắc và cần làm cho dư luận rõ hơn và ủng hộ. Cũng có khi chỉ là những câu chuyện không đầu không cuối về một vấn đề nào đó.

Thời cơ bị bỏ lỡ

Những câu chuyện mà tôi được nghe từ Thứ trưởng Lê Mai bao giờ cũng thực sự thú vị và hữu ích. Trò chuyện với Thứ trưởng Lê Mai tôi mới hiểu ra rằng, thực ra ngay sau ngày 30/4/1975, vấn đề bình thường hóa quan hệ Việt Nam- Hoa Kỳ đã được đặt ra.

Khi ấy phía Việt Nam chúng ta đã chuyển cho chính quyền Washington một thông điệp rất rõ ràng, rằng Việt Nam mong muốn có quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ trên tinh thần tôn trọng lẫn nhau.

Chúng ta cũng cam kết sẽ tạo mọi điều kiện để phía Mỹ tiến hành di tản nhân viên của Mỹ; không làm xấu đi quan hệ hai nước trong tương lai và không có sự thù địch với Mỹ tại Việt Nam. Ngược lại, Việt Nam cũng yêu cầu Mỹ thực hiện những cam kết như vậy.
Bình thường hóa quan hệ Việt - Mỹ: Hóa giải 'những cái đầu nóng' coi Mỹ là kẻ thù chiến lược ra sao?
Tổng thống thứ 42 của nước Mỹ bắt tay người dân tại ban công một ngôi nhà đối diện Văn Miếu Quốc Tử Giám 
Ngày 8/5/1976, Ngoại trưởng Mỹ thời bấy giờ là Henry Kissinger đã gửi một công hàm cho ông Nguyễn Cơ Thạch, khi ấy đang là Quốc Vụ khanh Bộ Ngoại giao Việt Nam, đề nghị thảo luận vấn đề bình thường hóa quan hệ hai nước.

Phía Mỹ đưa ra điều kiện để thiết lập quan hệ ngoại giao gữa hai nước là Việt Nam phải tạo điều kiện và làm đầy đủ hồ sơ để phía Mỹ tìm kiếm người Mỹ mất tích (Missing in Action) gọi tắt là MIA và trao trả hài cốt lính Mỹ. Điều kiện mà phía Việt Nam đưa ra là Mỹ phải bồi thường chiến tranh. Tuy nhiên Hoa Kỳ không chấp nhận vì cho rằng, Việt Nam đã vi phạm Hiệp định Paris.

Mặc dù vậy, khi Jimmy Carter nhậm chức Tổng thống thứ 39 của Hoa Kỳ (1977-1981), ông đã nỗ lực đẩy mạnh việc bình thường hóa quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ.

Tháng 3/1977, Jimmy Carter gửi một phái đoàn sang Hà Nội dự kiến sẽ đàm phán về việc nối lại bang giao giữa hai nước. Tiếp theo, ngày 4/5/1977, chính quyền Washington đã không chống đối để Việt Nam vào Liên Hiệp Quốc.
Bình thường hóa quan hệ Việt - Mỹ: Hóa giải 'những cái đầu nóng' coi Mỹ là kẻ thù chiến lược ra sao?
Cựu Tổng thống Bill Clinton phát biểu trong lễ kỷ niệm 20 năm quan hệ Việt Mỹ - Ảnh: Tùng Đinh 
Những diễn biến ngoại giao thời điểm ấy thực sự tiến triển khá thuận lợi. Ngày 3/5/1977, phái đoàn Việt Nam do Thứ trưởng Ngoại giao Phan Hiền dẫn đầu đã tới Paris để tiến hành vòng đàm phán đầu tiên với Mỹ.

Tại vòng đàm phán này Việt Nam vẫn kiên quyết đòi Mỹ phải bồi thường chiến tranh. Phía Mỹ đề nghị hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao, sau đó Mỹ sẽ xem xét vấn đề viện trợ cho Việt Nam, chứ không bồi thường chiến tranh.

Thứ trưởng Ngoại giao Lê Mai nhớ lại: “Khi ấy Trưởng đoàn đàm phán Phan Hiền đã báo cáo về vấn đề này với Lãnh đạo Bộ Ngoại giao. Ông Nguyễn Cơ Thạch lúc này đã là Bộ trưởng Ngoại giao (thay ông Nguyễn Duy Trinh- NV) cho rằng đây là thời cơ hết sức thuận lợi để chúng ta thiết lập mối bang giao với Mỹ, đánh dấu sự trở lại của Việt Nam với cộng đồng quốc tế, đặc biệt là phương Tây. Tuy nhiên, tiếc rằng, Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch đã không thuyết phục được lãnh đạo cấp cao của ta”.

Cuối những năm 1977, đầu 1978 quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc đã trở nên hết sức căng thẳng. Để cải thiện môi trường quốc tế, đầu năm 1978, tại Tokyo, thông qua Trưởng đoàn đàm phán, Việt Nam đã thông báo với phía Mỹ là Việt Nam sẵn sàng bình thường hóa vô điều kiện với Hoa Kỳ.

Tuy nhiên lúc này Mỹ quan tâm hơn tới việc đàm phán bình thường hoá với Trung Quốc hơn, vấn đề Việt Nam không còn được ưu tiên nữa. Cuối năm 1978, Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch đã cố gắng một lần nữa hối thúc Hoa Kỳ ký kết hiệp định bình thường hóa quan hệ Việt Nam- Hoa Kỳ, nhưng bất thành.

Rào cản lớn nhất: Người Mỹ mất tích trong chiến tranh

Năm 1978, chiến tranh biên giới phía Tây Nam diễn ra. Để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, đồng thời giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi thảm họa diệt chủng, Việt Nam đã đưa quân vào Camphuchia. Năm 1979, ở biên giới phía Bắc Trung Quốc đưa quân sang xâm lược Việt Nam. Đây là giai đoạn hết sức khó khăn với Việt Nam chúng ta.

Vì vậy, việc nối lại quan hệ với Hoa Kỳ đã bị dán đoạn một thời gian dài. Mãi tới cuối năm 1990 vấn đề quan hệ Việt Nam- Hoa Kỳ mới lại được đặt ra.

Ngày 29/9/1990, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch tới New York và có cuộc gặp với Ngoại trưởng Mỹ J. Baker để bàn về quan hệ hai nước. Tiếp đó, ngày 9/4/1991 phía Hoa Kỳ đã đưa ra "Bản lộ trình" 4 bước về bình thường hoá quan hệ với Việt Nam.

Video những chuyến thăm của Tổng thống Mỹ Clinton đến Việt Nam

Trong cuộc trả lời phỏng vấn sau khi kết thúc phiên đàm phán đầu tiên với Trợ lý Bộ trưởng ngoại giao Hoa Kỳ về Đông Á- Thái Bình Dương Robert Solomon ngày 21/11/1991 tại New York, Thứ trưởng Lê Mai đã nói nhiều và khá kỹ về những vấn đề mà ông cho là rào cản mà cả hai bên đều phải vượt qua.

Ông nói, hai chướng ngại bao trùm trong quan hệ hai nước là Việt Nam đóng quân tại Campuchia và vấn đề  tù binh chiến tranh (Prisoner of War) và người Mỹ mất tích (Missing in Action). Sau này chúng ta gọi tắt là vấn đề POW/MIA. Đầu những năm 1990 vấn đề Campuchia đã được giải quyết, nhưng vấn đề POW/MIA vẫn còn rất nhiều việc phải làm.

Thứ trưởng Lê Mai bảo rằng, khó khăn nhất đối với chính quyền của Tổng thống G. Bush là người dân Mỹ vẫn không hài lòng về vấn đề POW/MIA.

Ngay sau Hiệp định Paris năm 1973 Việt Nam đã trao trả 590 tù binh Mỹ bị bắt ở Việt Nam, Lào và Campuchia. Tuy nhiên người Mỹ vẫn cho rằng còn tới 2.646 lính Mỹ mất tích. Những cố gắng của chính quyền Mỹ đã không làm hài lòng người dân Mỹ. Họ cho rằng chính quyền Mỹ chưa làm hết sức mình trong việc tìm kiếm POW/MIA.

 

Bình thường hóa quan hệ Việt - Mỹ: Hóa giải 'những cái đầu nóng' coi Mỹ là kẻ thù chiến lược ra sao?Cái khó khăn nhất từ phía Việt Nam chúng ta là làm sao hóa giải “những cái đầu nóng” của một bộ phận vẫn nhìn Mỹ như là “kẻ thù chiến lược”.Bình thường hóa quan hệ Việt - Mỹ: Hóa giải 'những cái đầu nóng' coi Mỹ là kẻ thù chiến lược ra sao?
 
“Còn cái khó khăn nhất từ phía Việt Nam chúng ta là gì?”. Tôi còn nhớ, khi ấy ông Lê Mai chần chừ một lúc rồi bảo: “Cái khó khăn nhất từ phía Việt Nam chúng ta là làm sao hóa giải “những cái đầu nóng” của một bộ phận vẫn nhìn Mỹ như là “kẻ thù chiến lược”.

Trong bối cảnh “trong chưa thực sự ấm”, “ngoài chưa thực sự êm” ấy thì những đóng góp của các nhà ngoại giao Việt Nam, đặc biệt là Thứ trưởng Lê Mai là hết sức quan trọng.

Tôi đã có dịp phỏng vấn các Nghị sỹ, Thượng nghị sỹ (TNS) Mỹ, những người có vai trò quan trọng trong tiến trình bình thường hóa quan hệ Việt Nam- Hoa Kỳ như TNS John Kerry, John McCain, Bob Smith…, trao đổi với các đồng nghiệp phương Tây, đặc biệt là các phóng viên Mỹ.

Khi nói về Thứ trưởng Lê Mai, họ đều cảm phục và kính trọng. Họ luôn đồng nhất ông với câu nói nổi tiếng (của ông) như là biểu tượng của quan hệ Việt- Mỹ “Việt Nam là một đất nước chứ không phải là một cuộc chiến tranh”.

Còn nữa...
Lê Thọ Bình
Phần nhận xét hiển thị trên trang

tại sao nhà thơ im lặng?

câu hỏi
 
những cơn gió còi cọc và những con chim không hát
trên vĩ độ xám xịt của lục địa suy tàn
sống sót qua miền châu thổ
các cụm từ bạo lực sẽ kéo lê tôi
ra khỏi vùng ánh sáng
nơi tôi có thể đọc được tương lai của bầu trời
màu xanh sâu thẳm của nó cũng giống như một con quái vật
hoặc đã chết hoặc bỏ đi hoặc đang quằn quại
từ đống tro tàn của diệt vong
bốc mùi hôi thối
đau khổ là câu hỏi nặng nề nhất của con người
tại sao nhà thơ im lặng
 
 
 
nơi thất lạc của thế giới
 
trong cái hang có nắp đậy
chúng ta là món hàng tồn kho bí mật
một kho báu của bọn cướp biển
miền đất cơ hội của loài ăn thịt
và những bài thơ để giết mổ
biểu cảm như rạp xiếc
có kẻ bước vào quán và bắn loạn xạ
giống như một khách ăn sáng lắm lời
ẩu đả giữa đống hàng hóa và gian lận
xin lỗi, nhưng tôi ghét những bộ phim hành động
bạn đừng bao giờ chĩa vào ai
nếu không định chết
 
 
 
bài thơ đôi cánh
 
suốt mùa xuân
hầu như không một giọt
chúng tôi quỳ và cầu nguyện
trò chơi rủi ro
trên luống cày thưa thớt
ngày khác, khi tôi nằm trên cỏ
nhìn lên những đám mây
xa xôi và tráng lệ
chúng tôi bay trên đầu họ
cảnh đẫm máu của cuộc chiến
giống như một thành phố lỗi thời
oằn mình trong thời gian tĩnh mịch
 
 
 
trong một góc của đàn lia
 
nơi họ đã cùng nhau vẽ những đám mây
món tráng miệng đỏ tươi, ẩm ướt
nắng bị cạo sạch lông
từ mùa hè phía trước
người đàn ông nheo mắt giữa trưa
cái bóng khoanh tròn lại
vầng hào quang khô
của những bông hoa tàn lụi
tôi lấy chút khoảng tối con đường
dưới những hàng cây trăm tuổi
từng mảnh ân sủng của ngôi nhà
giấu trong một góc đẹp và bối rối
 
 
 
-----------------------
 
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nghệ thuật không cần mặc quần! ( không rõ tác giả )




Phần nhận xét hiển thị trên trang

Việt Nam cử đoàn dự vụ kiện 'đường lưỡi bò'

Đoàn đại diện của Việt Nam đang dự với tư cách quan sát viên vụ kiện do Philippines đưa ra tại Tòa trọng tài thường trực (PCA) tại The Hague, Hà Lan.
binh-5409-1436490664.jpg
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Hải Bình. Ảnh: Quý Đoàn
"Là quốc gia trực tiếp liên quan đến tranh chấp ở Biển Đông, Việt Nam đã cử đoàn đến dự và theo dõi phiên tranh tụng về vấn đề thẩm quyền của Tòa Trọng tài vụ kiện này với tư cách quan sát viên”, ông Lê Hải Bình, phát ngôn viên ngoại giao Việt Nam hôm qua trả lời câu hỏi củaVnExpress.
Từ ngày 7/7, PCA đã mở phiên tranh tụng đầu tiên về vấn đề thẩm quyền của tòa, bắt đầu bắt đầu xem xét vụ kiện của Philippines đối với yêu sách "đường 9 đoạn" hay "đường lưỡi bò" của Trung Quốc ở Biển Đông. Bắc Kinh ngang nhiên tuyên bố có chủ quyền với hầu hết Biển Đông dựa trên "đường 9 đoạn" nước này tự đưa ra, đi vào sát bờ của các nước láng giềng như Philippines, Việt Nam, Brunei và Malaysia.
Ngoại trưởng Philippines Albert del Rosario hôm 7/7 nêu rõ trước PCA rằng Trung Quốc đang thực hiện chiến thuật cắt lát ở Biển Đông để tiến tới kiểm soát toàn bộ khu vực này. 
Trung Quốc từ chối dự vụ kiện và cho rằng PCA không có thẩm quyền xem xét yêu cầu của Philippines. Bắc Kinh còn cảnh báo Manila "chớ có đối đầu" với nước này và vẫn khẳng định giải quyết vấn đề theo song phương.
Từ khi đệ đơn lên tòa PCA hồi đầu năm 2013, Philippines đến nay đã nộp hàng nghìn tài liệu và có sự chuẩn bị kỹ lưỡng. Manila muốn tòa tuyên bố "đường 9 đoạn" của Trung Quốc là bất hợp pháp và tin rằng tòa án sẽ đưa ra phán quyết có lợi cho mình.
Việt Anh
Phần nhận xét hiển thị trên trang