Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Tư, 3 tháng 6, 2015

Lại chuyện chữ với nghĩa.


nguyen-thanh-loi-1


Từ nhiều năm nay, có một ông nọ kinh doanh ngành nghề cà phê. Ông ta cho in hàng trăm triệu bản những quyển sách dịch của nước ngoài như Quốc gia khởi nghiệp, Khuyến học, Nghĩ giàu làm giàu, Đắc nhân tâm, Không bao giờ là thất bại, tất cả là thử thách. Sách này, chỉ dùng để tặng. Nghĩ cho cùng cũng là một cách thực hiện ước mơ của nhà cải cách giáo dục Mỹ Horace Mann (1796 - 1859): “Nếu tôi có uy quyền, tôi sẽ gieo rắc sách khắp mặt đất như người ta gieo lúa trong luống cày vậy”. Việc làm này tốt quá phải không? Vâng, rất tốt, nếu đi kèm với việc tặng sách, ông chủ cà phê không nghĩ ra câu slogan như sau: “Những cuốn sách đổi đời, bên tách cà phê đổi đời”. Nghe chõi tai ở chỗ “tách cà phê đổi đời”. Làm gì trên đời có những tách cà phê đem lại tác dụng này? Trong khi đó, sách thì có thể bởi từ những gì đã học, đã đọc ở sách có thể thay đổi số phận một con người. Nếu mọi sự chỉ dừng lại ở đó, chẳng sao. Đáng tiếc nhất, lại còn có thòng theo một câu cực kỳ kiêu ngạo: “Những cuốn sách đổi đời do chủ tịch Đặng Lê Nguyên Vũ chọn cho thanh niên Việt”. Đừng quên "chọn giúp", "chọn giùm" hoàn toàn khác với "chọn cho" rất trịch thượng kia. Câu này khi xin giấy phép xuất bản không có, nhưng lại nằm chình ình trên các bìa sách, trên các bảng quảng cáo v.v.... Báo chí mấy hôm nay đã phê phán ầm ầm, không nhắc lại làm gì. Đã có lệnh tháo gỡ các bảng hiệu ghi câu đó, lệnh từ UBND tỉnh Đắk Lắk,  do chữ nghĩa gây hiểu lầm.
Nghĩ rằng, đã có không ít doanh nhân, doanh nghiệp sau khi đã giàu sụ lên thường có nhu cầu quan hệ thân thiết với văn nghệ sĩ, nhà báo, trí thức tiếng tăm... Thích ngao du với những người có chữ nghĩa để bàn luận về các vấn đề triết học, chính trị, văn hóa và nhất là về tôn giáo. Chuyện này cũng bình thường. Có điều, nhiều người đã bị lòe mắt, bịt mắt bằng cách đểu cáng rất êm ái: Hễ một lời nói, một hành động, một bước đi, một cái hắt hơi của doanh nhân đó thốt ra, lập tức chúng hùa vào tán dương, ca ngợi đến chín tầng mây xanh. Dần dà, “lộng giả thành chân”, có doanh nhân ảo tưởng đã trở thành vĩ nhân, có sứ mệnh phải thay đổi số phận của dân tộc lầm than, dốt nát này; hoặc ít ra cũng phải chọn sách đổi đời cho bọn nhải ranh mới chập chững vào đời kiếm sống. Do đó, từ cách phát ngôn đến hình thức bên ngoài cũng phải thay đổi, chẳng hạn, cạo trọc như thiền sư, bước vào quán thịt chó nhai nhồm nhoàm, hễ há mồm ra lại bàn về triết lý Phật giáo; hoặc đội cái mũ bê rê, ngậm điếu xì gà Cu Ba cho ra dáng dấp anh hùng Che Guevara v.v…
Muốn nổi danh, muốn được nhiều người biết đến “cái tên”, “cái tôi” của mình chẳng có gì sai. Nhưng nếu ai đó thèm khát đến độ háo danh, làm mọi cách để có danh, e rằng sẽ khó nhận được sự đồng thuận. Nhìn lại thời gian qua, công luận đã quá chán ngán với những trường hợp tìm danh bằng nhiều cách rất quái đản. Có thể liệt kê một số cách thô thiển đã được “vận dụng” như: tuyên bố gây sốc giữa thanh thiên bạch nhật về những điều thầm kín chỉ có thể phát ngôn ở chốn phòng the; sẵn sàng lột bỏ mọi vật dụng che thân để khoe tất tần tật những gì cần phải che đậy nơi công cộng...Những “thủ pháp” này  “rẻ tiền” quá.
Đã mang danh “trí thức” thì phải có cách “sang trọng” hơn!
Thiên hạ chưa quên tập sách có cái tựa rất “kêu”: Tài năng và đắc dụng của một NXB cấp quốc gia ấn hành do hai Giáo sư - Tiến  sĩ khoa học biên soạn. Chưa nói đến nội dung, chỉ với liên từ “và” ở tựa sách, đã mắc một lỗi sơ đẳng về cú pháp. Nhà nghiên cứu An Chi - một trong những chuyên gia hàng đầu về tiếng Việt phân tích: “Ta gọi từ “và” là “kết từ” hoặc “từ nối” dành cho cho hai từ cùng từ loại (chẳng hạn danh từ/ danh từ; tính từ/ tính từ…). Ở đây “tài năng” là danh từ; “đắc dụng” là tính từ, vì thế sử dụng kết từ “và” ở đây là không chính xác. Muốn chính xác phải là Tài năng và sự đắc dụng”.
Nghĩ cũng lạ, có những chuyện đã rành rọt, minh bạch như ban ngày nhưng rồi nhiều người có học hàm, học vị vẫn nhầm lẫn. Cho đến tận bây giờ vẫn còn nhiều vị đang giảng dạy cho sinh viên vẫn còn rổn rảng những câu như Người Việt cao quý là tác phẩm của nhà văn Ý A. Pazzi, Nguyễn Trãi là tác giả Gia huấn ca, Truyện Kiều là tác phẩm viết bằng chữ Hán v.v… Mới ngày hôm nay thôi, NXB nọ vừa đình chỉ phát hành quyển Phùng Há - Trọn đời trả nợ dâu  cũng vì những sai sót tương tự.
Trở lại với Tài năng và đắc dụng. Cuốn sách này đề cập đến một loạt danh nhân Việt Nam và nước ngoài được đề cập đến (theo thứ tự trong sách): Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi, Đào Duy Từ, Hồ Chí Minh, Chulalongkorn, Lê Quý Đôn, Trần Văn Giàu, Albert Einstein, Thomas Edison, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Trường Tộ, Bạch Thái Bưởi, Đặng Lê Nguyên Vũ và Bill Gates. Đọc thoáng qua đã thấy sắp xếp này cẩu thả, lộn xộn, hoàn toàn ngẫu hứng. Ai cũng biết, cấu trúc chung của một cuốn sách, tùy theo tầm quan trọng, sự đóng góp của nhân vật mà người viết sử dụng số lượng chữ dành cho các nhân vật khác nhau. Số lượng chữ này cũng được ngầm hiểu là sự đánh giá của người viết về vai trò của từng nhân vật. Ở đây, nhân vật Đặng Lê Nguyên Vũ chiếm kỷ lục với 42 trang, trong khi các danh nhân Trần Quốc Tuấn được 15 trang, Nguyễn Trãi có 10 trang, Đào Duy Từ chỉ 6 trang và Chủ tịch Hồ Chí Minh 25 trang!
Một con người bình thường, không hoang tưởng, không có triệu chứng về trí não, khi ai đó vì lẽ gì đó ca ngợi mình, xếp mình “ngồi” chung với các danh nhân thì vì sự tự trọng và liêm sỉ, cũng nên biết cách thoái thác, rút lui. Nếu không, sự háo danh ở đây chỉ có thể gọi là “xú danh”. Cái sự nhàm nhí đó, thời nào cũng có. Mỗi ngày lướt web, đọc vô số thông tin còn nhờm, còn lợm hơn nhiều lắm. Biết thế, càng thêm quý nhiều người không ồn ào, không huênh hoang, khoác lác, không lên mặt dạy dỗ ai, cứ lẵng lặng làm việc. Hữu ích cho đời biết bao nhiêu.
Nghĩ rằng, mẫu người trí thức khiêm tốn, thật sự uyên bác như cỡ cụ Nguyễn Văn Tố, thời buổi này có còn không? Theo hiểu biết hạn hẹp của y, thuở sinh thời, cụ Tố chưa in một tác phẩm nào, hầu hết chỉ công bố trên báo chí. Cụ viết nhiều lắm. Nhưng với y, đáng nể nhất là loạt bài Tài liệu để đính chính những bài văn cổin nhiều kỳ trên Tri Tân. Lầm lũi hết ngày này qua tháng nọ, cụ khảo cứu từng chữ, chép lại từng văn bản, chỉ ra những cái sai mà nhiều người đã nhầm lẫn. Công việc ấy, nếu không say mê, không tâm huyết, không tận tụy, không có một lối làm việc chỉn chu, không có một kiến văn uyên bác có lẽ khó đeo đuổi lâu dài. Mệt mài từng trang viết. Bền bĩ đi qua ngày tháng. Nhẫn nại. Lặng lẽ. Đáng khâm phục quá. Mấy hôm nay, vẫn đọc Kinh Thánh, chép lại câu này: “Ai nâng mình lên, sẽ bị hạ xuống. Còn ai hạ mình xuống sẽ được cất nhắc lên cao”(Lc 14:11).
Vừa nhận thêm được vài quyển sách hay. Hay ở chỗ, nhiều người vẫn lặng lẽ làm việc, không ồn ào. Có thể kể đến vài cuốn liên quan đến Sài Gòn như Từ Bến Nghé đến Sài Gòn (Trần Nhật Vy), Sài Gòn - Chuyện đời của phố I & II (Phạm Công Luận),  Văn hóa dân gian người Việt ở Nam bộ (Thạch Phương, Hồ Lê, Huỳnh Lứa, Nguyễn Quang Vinh), Ngôn ngữ văn hóa vùng đất Sài Gòn và Nam Bộ (Lý Tùng Hiếu)… Rồi sáng nay, vừa nhận thêm quyển Sài Gòn đất và người của anh bạn nhà giáo, nhà nghiên cứu Nguyễn Thanh Lợi. Mừng vì biết, từ nhiều năm nay, anh đã dành nhiều thời gian viết về vùng đất Sài Gòn. Đọc và thích thú với những địa danh bị viết sai mà nay đã trở thành quen thuộc:
An Thít (Ăn Thịt: vùng này ngày xưa nhiều cọp dữ, hay ăn thịt người); Bến Lức (Bến Lứt: người miền Nam không phân biệt phụ âm cuối -c và -t), Cát Lái (Các Lái: các lái buôn ghe bầu từ miền Trung vào Gia Định);Rạch Chiếc (Rạch Chiết: chiết là thứ cây mọc hoang, thấp nhỏ, lá lớn hay mọc hai bên mé sông vùng nước lợ, thường ra lá non, mùi chát chát, có thể ăn như rau); Gò Vấp (Gò Vắp: gò có nhiều cây vắp, một loại cây cứng như lim), Hàng Xanh (Hàng Sanh: sanh là thứ cây lớn, nhánh có tua, thuộc về cây da, mà lá nhỏ); Rạch Ông(Rạch Ong: mật ong được khai thác nơi này và đem bán vùng bên cạnh, nay còn địa danh Cầu Mật), Dần Xây(Giằng Xây: tên một loại gỗ tạp), Hốc Hươu (Hóc Hươu)/ Hốc Môn (Hóc Môn): Hóc là dòng nước nhỏ; Trao Trảo (Trảo Trảo); Thạnh Đa (Thanh Đa: về sau do bỏ dấu khi in trên bản đồ thời Pháp, nên địa danh Thạnh Đa biến thành Thanh Đa)…
Đọc khoái chưa?
Cứ từ từ mà đọc. Chẳng việc gì vội. Ngày đọc vài ba trang, vậy là vui rồi, phải không?
L.M.Q
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Ba, 2 tháng 6, 2015

TẦN THUỶ HOÀNG TÂM SỰ

 Truyện ngắn

Hiếu Tân
Tần Thuỷ Hoàng ngồi ngả người trên một đám mây xốp. Bên cạnh y, Kinh Kha cũng trong tư thế ấy. Hai người đang chăm chú xem những hình ảnh loang loáng trước mặt.
Tần Thuỷ Hoàng ngồi trên bệ rồng, uy nghi lẫm liệt. Phía dưới, ngồi trước án, Kinh Kha đang giở một cuộn giấy (địa đồ). Nét mặt gã căng thẳng. Bàn tay gã ngập ngừng. Giở đến cuối cuộn, nét mặt gã căng thẳng tột độ, gần như hốt hoảng. Bàn tay gã ngưng lại, khoảng độ một thế kỉ. Cuối cùng, con chuỷ thủ hiện ra.
Một tay cầm chuỷ thủ, Kinh Kha đuổi vua Tần chạy vòng quanh, đến một gian phòng trống. Lũ quan hốt hoảng đứng vây quanh nhưng không ai dám làm gì. Vua Tần cuống. Bỗng có tiếng nói “Nhà vua đeo kiếm sau lưng”. Vua Tần tỉnh ra, vội rút thanh kiếm lớn. Kha bị dồn vào chân tường. Nét mặt gã kinh hoảng đến dúm dó. Thuỷ Hoàng đã lấy lại oai vệ. Nét mặt ngài là một khối căm hờn. Ngài cầm kiếm bằng hai tay, đâm Kha chừng nghìn nhát, trút vào từng nhát kiếm lòng hận thù điên dại.
Kinh Kha tủm tỉm cười, hích tay vào sườn Dinh Chính (tên thật của Tần Thuỷ Hoàng. Thật ra, về phương diện sinh học, y họ Lã). Ngươi có thấy thoả mãn không? Ngươi thì uy nghi lẫm liệt, còn ta thì hèn nhát đến khốn nạn, trong giây phút ấy. Ngươi thấy không, chúng ta bất tử, nhưng đâu phải bất tử theo cách ấy.
Tần Thuỷ Hoàng bẽn lẽn:
Ta cũng thấy buồn cười. Có lẽ ta nên xấu hổ một chút, sau khi ngươi đã dạy ta thế nào là liêm sỉ, và mọi thứ khác. Nhưng sao bọn nó, cái bọn hậu thế ấy, có thể đổi trắng thay đen đến mức ấy nhỉ? Ta không hiểu.
Đây là một film (chàng phát âm chữ film thật chuẩn) của bọn hậu duệ ấy đấy. Những kẻ đang muốn kế tục sự nghiệp dở dang của ngươi, Kinh Kha giải thích. Nhưng ngươi hãy nhìn xem ở dưới kia kìa. Chàng chỉ tay xuống dưới, nơi có hàng tỉ cái chấm đen cũng đang như họ: thưởng thức phim. Không có một cái dấu hỏi nào bật ra cả.
Kha trầm ngâm: Cái lũ này! Cách đây 64 năm, nó đứng về phía ta, công khai, dõng dạc lên án ngươi. Bây giờ, nó đứng về phía ngươi. công khai, dõng dạc xỉ vả ta. Hay thật. Có điều ngươi không biết chứ, nó bao giờ cũng vẫn là nó.
Chàng nói thêm, như nói với chính mình: Là nó. Dù cho lưỡi nó quay đảo ngàn vòng.
Hơn hai ngàn năm đã trôi qua. Ta và ngươi vẫn còn đây. Không phải Thiên đường , Địa ngục. Không phải Cực lạc, Âm ti. Chúng ta ở đây trong Miền Nhớ (hay Vùng Ký Ức) của loài người. Khởi từ trang Sử kí của Tư Mã Thiên, ân nhân muôn đời của chúng ta. Và như thế chúng ta là bất tử. Mỗi người một cách.
Tên tuổi ngươi thì gắn với Vạn Lý Trường Thành. Bây giờ người ta nhìn, chụp nó từ trên vũ trụ. Gắn với ba ngàn sáu trăm mỹ nữ cung Tần. Gần đây cũng có kẻ học đòi nhà ngươi chuyện ấy, nhưng lén lút, và bẩn thỉu lắm, chứ không được vương giả như ngươi. Gắn với những núi xương, sông máu. Và trên hết, ngươi đã thành biểu tượng, hiện thân của Bạo Chúa.
Còn tên tuổi ngươi thì biểu trưng cho Can Đảm và Hy sinh. Ta biết lắm. Ngươi phải biết rằng, sau khi giết được ngươi, ta hả hê, nhưng vẫn có tiếc ngươi. Ta thầm phục ngươi, thầm ao ước cái dũng khí của ngươi. Ngươi thấy không, dám thú nhận thế, ta cũng là tay hào hiệp đấy chứ!
Đúng thế! Chàng vỗ vai Chính. Hai người bây giờ là bạn, nhiều lúc cãi nhau, nhưng cũng nhiều lúc tâm sự cùng nhau. Những ân oán, hận thù, họ đã truyền lại cho hậu thế rồi, bây giờ hai người chỉ là hai cái bóng, lâng lâng thanh thoát. Họ đã gặp Phật. Họ đã đàm đạo với Jehovah, Jesus, Mahomet. Và, thật khôi hài, thỉnh thoảng họ lại còn triết lí nữa chứ.
Kinh Kha không phải là Tầm Vũ Dương, một kẻ đâm thuê chém mướn. Chàng là người thâm trầm và ham học. Sau khi đã rửa sạch cái kiếp bạo chúa của hắn, chàng thấy Tần Thuỷ Hoàng cũng chơi được, nên hay lôi hắn đi khắp nơi, chỉ cho hắn nhiều cái đáng xem, và nói với hắn mọi điều chàng nghĩ.
Lịch sử, hừ, kì lạ thật, Dinh Chính lẩm bẩm. Lịch sử là tất cả những gì đã từng xảy ra. Mà không một ai biết đích xác cái gì đã thật sự xảy ra, một cách đầy đủ, trọn vẹn. Người ta cứ tưởng lịch sử là một câu chuyện, có thể kể lại. Lầm!…
Lịch sử không chỉ được kể lại, nó còn được “sáng tác” ra, nói đúng ra là bịa tạc. Ai, những kẻ nào cần đến cái lịch sử bịa tạc ấy? Đoàn đoàn lũ lũ những bạo chúa như ngươi đấy. Để làm gì? Đơn giản thôi: để mãi mãi làm bạo chúa.
Ông (Kha đổi cách xưng hô, thân mật và hiện đại hơn) định vào Oxford lấy bằng tiến sĩ khoa học lịch sử hay sao đấy? Cái mảnh bằng Bạo Chúa đã cũ nát quá rồi phải không?
Nói thật với ông (Chính cũng đổi cách xưng hô cho tương xứng) ta đã cùng ông đi xem nhiều thời và nhiều nơi, thấy bạo chúa bị người ta oán hận, phỉ nhổ cũng lắm. Mà..Mà số người tôn sùng, thèm khát, cũng không hề ít.
Cái đó không có gì lạ. Tôn sùng và thèm khát làm nên bạo chúa. Bạo chúa là tột đỉnh sung sướng ở đời, nên người đời thèm khát. Tôn sùng có hai loại, tự nhiên và cưỡng bức. Cưỡng bức lâu dần thành tự nhiên. Bản thân bạo chúa là hiện thân của lòng thèm khát tột cùng, thèm khát vật chất, quyền uy, danh vọng. Thèm khát được tôn sùng, và có đủ sức mạnh bắt người ta tôn sùng. Nhưng bạo chúa thời nay có nhiều kẻ giấu giếm cái lốt của chúng tài lắm. Tuy vậy cũng không khó nhận ra. Có hai loại người được cả triệu người sùng mộ. Bạo chúa và danh nhân văn hoá. Những Shakespeare, Kant, Einstein..- không sức mạnh nào bức người ta ái mộ các ông. Những người biết đến tên các ông, khâm phục các ông, là những người có học. Họ âm thầm cảm phục các vĩ nhân, khi con tim họ rung động say mê và trí óc họ bừng sáng. Còn những kẻ tung hô ngươi, Chính ạ, đa số là u mê và thất học. Số ít biết rõ ngươi, trong thâm tâm chúng khinh miệt, nhưng run sợ, Họ lăn lộn gào khóc dập đầu thề thốt trung thành đến chết, sùng bái vô cùng, tín ngưỡng vô cùng.. trong cơn điên loạn của đêm dài ngu muội. Không có gì vẻ vang lắm đâu, khi tìm kiếm sự sùng bái trên nỗi sợ hãi và ngu si của kẻ khác.
Ông vua hùng mạnh cuối cùng của đế quốc Tần (tất nhiên là thế, vì đời thứ hai, Hồ Hợi, chỉ là cái xác mềm oặt trong tay bọn gian nịnh Lý Tư, Triệu Cao, đâu phải người, nói gì đến vua) mở lòng tâm sự:
Những trang Sử Kí của Tư Mã Thiên gợi cho ta nhớ lại những ngày cuối đời ta. Ông vừa nói thèm khát đến tận cùng, nhưng nói thật với ông, lúc đó ta cũng chán ngán đến tận cùng. Nhưng cái nghiệp của ta là thế. Vừa khao khát thoả mãn, vừa chán ngán đến tận cùng những của ngon vật lạ, những bạc vàng, gái đẹp, gấm vóc lụa là. Những lời nịnh hót lúc trước ngọt như mật, sau có lúc nghe thật tởm. Mà không sao bỏ được. Mà cứ muốn như thế đến muôn đời.
Kha thông cảm:
Thế tức là trong người ông lúc ấy còn sót lại chút lương tri. Nhờ chút ấy mà lúc sau, về cõi này, ông mới có thể cùng ta tiếp tục suy ngẫm. Nếu không thì tất cả đã nát rồi, chỉ còn lại xú khí mà thôi.
Chàng trầm ngâm.
Nhưng cũng có một sự thật là, bạo chúa cứ còn mãi. Trong phạm vi nhân loại, bạo chúa là bất tử. Người Pháp có câu ‘L’Empereur est mort! Vive l’Empereur!’ Hoàng đế băng hà! Hoàng đế vạn tuế! Bạo chúa thường bị diệt vì tay bạo chúa khác. Nên bạo chúa cứ còn mãi. Bạo chúa cũng có thể bị diệt bởi nhân dân, nếu đẩy nhân dân đến bước đường cùng. Nhưng hỡi ôi, nhân dân diệt tên bạo chúa mà họ oán hận, rồi hân hoan dựng lên một bạo chúa khác, và tận lực tung hô tên bạo chúa mới này. Bạo chúa đóng vai ân nhân, bạo chúa nhân từ, đức độ. Chuỵên này xảy ra nhiều lần, như ta đã chỉ cho ông thấy. Như một vòng tuần hoàn.
Thế có cách nào thoát khỏi vòng không? Tần Thuỷ Hoàng ngây thơ hỏi.
Khó lắm. Để nổi lên diệt bạo chúa đã khó, vì đa phần nhân dân mê bạo chúa như điếu đổ.
Lại có chuyện đó nữa?
Chuỵên này ta đã nói rồi. Có nhiều lí do, khi sống mãi dưới ách một bạo chúa, họ quen đến mức không muốn thay đổi, vì không hình dung nổi nếu không còn kẻ đè đầu thì họ sẽ sống ra sao. Bởi vậy, khi đánh gục bạo chúa rồi, họ phải nhanh chóng lập lên một bạo chúa khác.
Kinh Kha ngẫm nghĩ một lát, rồi cười lớn. Ha ha! Thật hoang đường! Một cựu bạo chúa hôm nay ngồi luận đàm về… bạo chúa!
HT, 2013

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Journey in Life: Nhật Bản khác ta những gì?

Journey in Life: Nhật Bản khác ta những gì?: Bài viết cách đây 7 năm (2006) của Nguyễn Lân Dũng. Nước ta có 83 triệu người, đứng thứ 13 trong 200 nước trên thế giới, nếu kể cả Việt... Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thích thì bố cứ thi đấy, làm gì nào?

Công chức “nguệch ngoạc” và con lạy ngài “Tượng ướt không sờ”

(GDVN) - Toàn cấp vụ trưởng, giám đốc sở, mà thi vấn đáp không nắm được các nội dung quản lý nhà nước của ngành mình. Tôi thấy họ nếu có tự trọng thì không nên đi thi".
Đánh giá trình độ cán bộ, công chức cấp cao hiện nay, tại phiên họp của UB Thường vụ Quốc hội, ông Nguyễn Đình Quyền, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp nêu nhận xét: "Trình độ cán bộ nói thật là không lên mà đi xuống.
"Tôi đi chấm thi chuyên viên cao cấp đã 5 năm nay, chấm phúc tra thấy họ thực sự không biết xấu hổ, làm bài nguệch ngoạc vài câu mà cũng yêu cầu phúc tra.
Toàn cấp vụ trưởng, giám đốc sở, mà thi vấn đáp không nắm được các nội dung quản lý nhà nước của ngành mình. Tôi thấy họ nếu có tự trọng thì không nên đi thi". [1]
Người xưa có câu “dụng nhân như dụng mộc”, dùng người vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật. Khúc gỗ bình thường như gỗ mít để mãi chỉ có thể làm củi, qua tay nghệ nhân thành pho tượng được đặt ở nơi trang trọng, được người đời xì xụp khấn vái.
Có điều trước khi đặt lên bệ người xưa còn phải làm hai việc quan trọng là yểm vàng trong tượng và “hô thần nhập tượng”.
(Tranh minh họa: Ngọc Diệp)
Ngày nay, gọt đẽo qua loa, sơn cho chút xanh đỏ là vội vã đặt lên bệ, thế là tượng rởm, ruột không có vàng thì không thể thành tượng quý, “thần” không nhập thì làm sao linh thiêng?
Người viết được anh bạn lái xe chuyên chở người đi lễ kể cho câu chuyện cười ra nước mắt:
“Ở một di tích nọ người ta sơn lại tượng, vì sơn chưa khô nên ban quản lý di tích đặt trước pho tượng tấm biển ghi “Tượng ướt, không sờ mó”. Một cô ăn mặc nom rất “cành vàng lá ngọc” xì xụp khấn vái: “con trăm lạy, nghìn lạy ngài “Tượng ướt không sờ”, xin ngài phù hộ cho con béo thêm ba cân, cao thêm guốc nữa…”.
Nghĩ mãi mới hiểu “guốc” của cô ấy là “guốc cao gót” cỡ 15-20 phân gì đó.
Năm 2001 sau đợt kiểm tra của Bộ giáo dục và Đào tạo, cả nước có khoảng hơn vạn cán bộ, công chức dùng bằng rởm, số liệu này không được công bố rộng rãi và ít ai biết những người này bị kỷ luật thế nào?. [2]
Từ đó đến nay, 15 năm đã qua, cái sự “rởm” về trình độ của hơn vạn con người kia, ai dám nói là không tăng lên với số lượng không thể ước đoán. Nhận định như vậy có phải hơi chủ quan không?
Xin thưa không hề chủ quan, con hơn cha là nhà có phúc, cha dùng bằng rởm phổ thông cấp hai, cấp ba thì ai cấm con dùng bằng rởm đại học, cháu dùng bằng rởm thạc sĩ, tiến sĩ… Khi mà dân số tăng như những năm qua thì cái sự “rởm” của bằng cấp, vốn đã gắn bó máu thịt với hàng vạn con người không lẽ lại tăng theo cấp số cộng?
Có hai sự “rởm” cần phân biệt, thứ nhất là bằng rởm mua trên thị trường, thứ hai là bằng thật được các cơ sở giáo dục đào tạo cấp nhưng kiến thức là “rởm”.
Loại thứ nhất thường rơi vào công chức, viên chức cấp cơ sở, loại thứ hai rơi vào quan chức cấp cao, có trường hợp là quan chức cỡ đầu tỉnh, cấp thứ trưởng…
Có thể tin tưởng là ông Quyền có đầy đủ dẫn chứng trước khi phát biểu trước UB Thường vụ Quốc hội, rằng “nếu có tự trọng thì không nên đi thi”.
Người viết cũng cho rằng, những vị đang ngấp nghé “chuyên viên cao cấp” mà ông Quyền biết chính xác họ tên, địa chỉ ấy nếu có, dù chỉ là một tí xíu tự trọng thì nhất định họ sẽ không đi thi và cũng sẽ không đề nghị phúc tra những bài thi chỉ “nguệch ngoạc mấy chữ”.
Gần đây dư luận được biết thêm vài trường hợp khá “cao cấp”, ấy là ông Hoàng Xuân Quế, ĐH Kinh tế Quốc dân bị thu bằng tiến sĩ, ông Huỳnh Ngọc Tục - Tỉnh uỷ viên, Giám đốc Sở Công thương Gia Lai bị thu bằng “Cao cấp Lý luận Chính trị”.
Tháng 4/2014 Thanh tra Bộ  VH-TT&DL đã có văn bản kết luận ông Trần Đình Sơn, hiệu trưởng Trường Cao đẳng nghề Du lịch Đà Lạt, sử dụng bằng thạc sĩ không được nhà nước công nhận.
Không phải là thạc sĩ đương nhiên theo luật không thể làm hiệu trưởng trường cao đẳng, thế nhưng hơn một năm sau ngày Thanh tra Bộ  VH-TT&DL kết luận, ngày 8/5/2015 một bạn đọc gửi tới tòa soạn báo GDVN bức thư, xin trích nguyên văn một phần nội dung(trích nguyên văn, kể cả phần lỗi chính tả):
“Kính gửi nhà báo Xuân Dương: Tôi là người đả tố cáo ông Trân Đình Sơn Hiệu trưởng Trường Cao đằng Nghề Du lịch Đà Lạt cố tình sử dụng bằng thâc sĩ PUT dởm nhiều lần.
Vả đả sử dụng học vị Ths bất hợp pháp này ký lên văn bằng của HS, SV dến nay hậu quả này không thể khắc phục được. Vây mà ông ta vẫn không bị xủ lý. Còn tôi người quyết liệt dấu tranh tố cáo dể đưa ra ánh sánh vụ việc thì đang bị trả thù trù dập…”
 Ảnh chụp màn hình thư gửi báo GDVN
Chuyện dùng bằng thạc sĩ “rởm” để ngồi ghế hiệu trưởng trường cao đẳng, không hiểu Bộ VH-TT&DL và chính quyền địa phương có biết quy định tiêu chuẩn hiệu trưởng trường cao đẳng ghi tại điểm b khoản 2 điều 20 Luật Giáo dục Đại học?
Cảm phục các ý kiến thẳng thắn, tâm huyết của ông Nguyễn Đình Quyền, song cũng phải nói thật, với những tư liệu chính xác có trong tay, sao ông không dẫn chứng cho bà con được mở mang tầm mắt, sao ông lại để cho bà con cũng phải “mơ màng” về người thật, việc thật như vậy?  
Không ngần ngại để lại bút tích, trưng ra sự dốt nát của mình là bởi không ít vụ trưởng, giám đốc sở…  kiến thức chuyên môn không quan trọng, người khác cần chứ họ không cần, khi nào cần đã có thư ký, đã có cấp dưới làm thay miễn là họ biết đọc lên bổng xuống trầm đúng lúc, đúng chỗ.
Điều quan trọng hơn là khi sai thì còn có thư ký hay văn thư giơ đầu chịu báng, thế nên những ai muốn được làm thư ký, trợ lý thì tiêu chuẩn đầu tiên là phải “cứng đầu”!
Cái được của các kỳ thi nâng ngạch chuyên viên dĩ nhiên là nâng cao trình độ công chức, song nhờ ý kiến của ông Quyền người dân mới vỡ ra, rằng cái được rõ nhất không phải là nâng cao trình độ mà là phát hiện ra một loại công chức mang tên “nguệch ngoạc”.

Cái mà ai cũng biết nhưng ít người thấy

(GDVN) - Sự tồn tại của trí thức "rởm cao cấp" một phần là do cá nhân không được dạy dỗ đến nơi đến chốn về đạo làm người, phần khác còn do sự thiếu trách nhiệm.
Như trao đổi của ông Quyền với phóng viên Tuoitre.vn, [3] thi chuyên viên cao cấp là phải có bằng “Cao cấp chính trị”.
Vậy tại sao lại có chuyện làm bài “nguệch ngoạc”? Người đi thi là “rởm”, là thi nhầm hay trình độ không thật? Trình độ không thật làm sao lấy được bằng cao cấp?
Cổ nhân có câu “cờ ngoài, bài trong”, cuộc chơi trên bàn cờ công chức người trong cuộc không thấy chứ mấy bác chầu rìa thì có thể nói vanh vách nước nọ, nước kia.
Cái “nguệch ngoạc” của thi chuyên viên có nguồn gốc từ cái “nguệch ngoạc” trước đó, mà cái “nguệch ngoạc” trước đó lại bắt nguồn từ … lúc nào không biết!
Có người tâm sự không muốn viết chữ “tiến sĩ” trước tên mình vì sợ bị “nhầm”! Có người còn muốn lấy lại học vị “phó tiến sĩ” vì lẽ ngày xưa, phó tiến sĩ đều được đào tạo ở nước ngoài, dẫu không phải là không có người dốt song dẫu sao cũng vẫn ít “dốt” hơn khối tiến sĩ đào tạo trong nước ngày nay.
Tiêu chuẩn đội ngũ cán bộ “hoạch định chính sách” đòi hỏi họ phải là “chuyên viên cao cấp”. Dẫu có viết bài nguệch ngoạc thì cùng lắm là “bút sa gà biến”, là lần sau thi lại, mà thi lại mãi chẳng lẽ không đỗ?
Như ông Quyền thổ lộ, ông mới chỉ tham gia chấm chuyên viên có mấy năm, và cũng chỉ là một trong nhiều thành viên chấm, vậy mấy chục năm từ trước đến nay và những “ông chấm” khác thế nào?
Bao nhiêu ông “nguệch ngoạc” đã trót lọt chui qua lỗ kim, đã thành người đủ trình độ “hoạch định chính sách”?

Quốc gia đội sổ và… báo cáo Thủ tướng

(GDVN) - Đất nước chỉ có một Thủ tướng nhưng có 63 tỉnh thành phố trực thuộc trung ương, 22 cơ quan cấp bộ, liệu rồi đây còn bao nhiêu vụ việc sẽ lại đến tay Thủ tướng?
Nếu (nói nếu tức chỉ là giả thiết-tức là chưa dám khẳng định…) đội ngũ “hoạch định chính sách” bao gồm cả người tài, người không tài nhưng “trong sạch” và người dốt, không có cả lòng tự trọng lẫn liêm sỉ, nếu quả thật như thế liệu quốc gia có thể thoát vị trí đội sổ, liệu quốc gia có đủ dũng khí và tiềm lực để mà cất cánh bay lên?
Dân quê, dựa theo phát biểu của ông Nguyễn Đình Quyền mà “nguệch ngoạc” câu thơ sau: “Người nguệch lỗi tại đề thi, hôm nay ông ngoạc, mai thì ông nghênh”.
Một khi cơ chế đã chấp nhận hàng vạn người dùng bằng rởm trong bộ máy, một khi cái sự “rởm” của bằng cấp đã được chuyển hóa thành chức vụ, quyền lực, đã thành nếp sống thường nhật của không ít người đang chễm chệ những vị trí khá cao thì việc khắc phục không phụ thuộc vào ý chí của người dân mà vào chính sự thay đổi của cơ chế.
Vì sao cơ sự lại đến nỗi này?
Nói theo cách nói dân gian, vì chúng ta đưa vào chùa quá nhiều tượng chưa được nhập thần, hơn thế trong tượng lại chẳng có tí vàng nào yểm sẵn. Thế nên dù có đặt trên bệ, đó vẫn chỉ là khúc củi không hơn không kém.
Nhiều cây sẽ tạo nên rừng, rừng xanh sẽ là vành nôi cho sự sống sinh sôi nảy nở. Nhiều củi chẳng tạo nên cái gì mà còn có nguy cơ gây cháy, củi chất đống càng cao thì lửa càng bắt nhanh, điều này tiền nhân đã dạy, chẳng lẽ hậu thế không biết?
Thời xa xưa vào những năm 50 của thế kỷ trước, khi khai lý lịch, ai cũng ngại khi khai thành phần bản thân là trí thức.
Lý lịch trong sạch nghĩa là không thuộc một trong bốn thành phần “trí, phú, địa, hào”. Những “trí thật” vì tự ái cũng có, vì bị xếp vào hàng “không kiên định” cũng có, thế là đương nhiên đứng ở bên đường.
Tham gia đoàn thể, tổ chức, đương nhiên phải thuộc thành phần cơ bản, lý lịch phải trong sạch. Việc đó kéo dài mấy mươi năm khiến cho đội ngũ lãnh đạo cơ sở đa phần là những người trong sạch.
Bỗng một ngày nhân loại tỉnh ngộ, người ta bảo nền kinh tế ngày nay là nền kinh tế tri thức, đại diện cho phương thức sản xuất mới, tiên tiến chính là tầng lớp trí thức.
Tại nhiều quốc gia Âu, Mỹ và châu Á, công cuộc “trí thức hóa” được triển khai một cách bài bản, khoa học, họ vừa tự đào tạo vừa thu hút nhân tài nước ngoài.
Trong trào lưu chung của thế giới, chúng ta cũng vội vã theo họ, cũng vội vã “trí thức hóa” đội ngũ cán bộ mà phần lớn xuất thân từ nông dân của mình, thế nên mới có chuyện hàng vạn người sử dụng bằng “rởm” mà không bị xử lý.
Giáo sư Hoàng Tụy trong một bài trả lời phỏng vấn đăng trên Vietnamnet.vn ngày 5/3/2014 nói: “Dẫn chứng là có một ngành quan trọng còn ra hẳn thông tư cho các cán bộ trong ngành có bằng giả cần làm thủ tục để “hợp thức hóa” ! (thông tư này hồi đó đã đăng công khai trên báo)”.
Phát biểu của ông Quyền được nhiều người đồng tình, cũng được báo chí hưởng ứng, nhưng liệu sẽ có tác dụng ra sao khi cả nhân loại vẫn phải sống và chuyển động cùng trái đất, còn chúng ta bên trong vòm trời như các dân tộc khác, lại còn phải sống và song hành cùng “nguệch ngoạc”?
Tài liệu tham khảo:
phần nhận xét hiển thị trên trang

Bình Định: Ngư dân bàng hoàng kể lại 1 giờ bị tàu Trung Quốc rượt đuổi, tấn công


Thứ Ba, 02/06/2015 - 08:32
“Ban đầu, tàu Trung Quốc ra sức rượt đuổi nên tôi động viên anh em trên tàu bình tĩnh, cố chạy để giữ mạng đã. Hơn 1 tiếng sau tàu Trung Quốc đã áp sát rồi tấn công bằng vòi rồng. Vòi rồng xịt nước rất mạnh, xịt vào chỗ nào là thổi bay chỗ đấy. Xịt vào kính, kính vỡ. Xịt vào ván, ván bay luôn…”.

>> Tàu cá Bình Định bị tàu Trung Quốc tấn công bằng vòi rồng

"Nếu tàu Trung Quốc tấn công lần 3, chúng tôi đã bỏ mạng"

Gần 4 ngày sau khi xảy ra vụ việc bị tàu Trung Quốc rượt đuổi, tấn công bằng vòi rồng, anh La Văn Quen (44 tuổi, ở thôn Thiện Chánh, xã Tam Quan Bắc, huyện Hoài Nhơn, Bình Định), chủ tàu BĐ-96680TS, vẫn chưa hết bàng hoàng.

Ngư dân La Văn Quen chưa hết bàng hoàng sau chuyến đi biển hiểm nguy.

Theo lời kể của anh Quen, chủ tàu cá mang số hiệu BĐ-96680TS, chuyên đánh bắt cá ngừ đại dương xuất phát tại cảng cá Tam Quan (huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định), tàu của anh với 6 thuyền viên mới đánh bắt được 10 con cá ngừ đại dương và một số hải sản khác thì bị tàu Trung Quốc tấn công. Khoảng 7 giờ sáng 27/5, khi tàu đang đánh bắt ở vùng biển có tọa độ 15 độ Bắc - 112 độ kinh Đông (thuộc vùng biển quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam) thì bất ngờ bị tàu mang phù hiệu cảnh sát Trung Quốc lao đến, dùng vòi rồng tấn công 2 lần liên tiếp.

“Chiếc tàu Trung Quốc dài khoảng hơn 30m, rộng 20m, sơn màu xám trắng, phía trước tàu treo cờ Trung Quốc và thành tàu có ghi dòng chữ CHINA. Phía sau tàu này còn được trang bị vũ khí và phủ bạt phía trên”, anh Quen vẫn chưa hết hãi hùng nhớ lại.

Anh Quen kể tiếp: “Ban đầu, tàu Trung Quốc ra sức rượt đuổi nên tôi động viên anh em trên tàu bình tĩnh, cố chạy để giữ mạng đã. Tuy nhiên, do tàu mình công suất nhỏ nên chỉ hơn 1 tiếng tàu Trung Quốc đã áp sát, rồi tấn công bằng vòi rồng. Vòi rồng xịt nước rất mạnh, xịt vào chỗ nào là thổi bay chỗ đấy. Xịt vào kính, kính vỡ. Xịt vào ván, ván bay luôn…”.

Giàn đèn cao áp trên tàu anh Quen đã bị vòi rồng xịt bay xuống biển

Lúc bị tấn công, mọi thiết bị trên tàu như máy định vị, bộ đàm, máy nhắn tin đều bị ướt, hư hỏng nên không thể liên lạc với tàu bạn và đất liền được. Khi đó, anh Quen chỉ cố bám trụ lấy bánh lái điều khiển con tàu đang bị chao đảo, còn các thuyền viên khác phải tìm chỗ núp để tránh các vật dụng trên tàu bay chém vào người.

“Sau 2 đợt tấn công liên tiếp bằng vòi rồng, toàn bộ giàn câu, giàn đèn cao áp, thuyền thúng đi biển đều bị nước thổi bay xuống biển. Còn con tàu chúng tôi nước ngập vào như chuẩn bị chìm, cũng may tàu Trung Quốc không tấn công lần 3, nếu không có lẽ anh em tụi tôi đã bỏ mạng ở trên biển cả rồi”, anh Quen kể lại.

Chuyến đi biển thiệt đơn, thiệt kép

Sau khi tấn công, tàu của Trung Quốc bỏ đi. Lúc này, các thuyền viên trên tàu BĐ-96680TS nỗ lực bơm nước để tàu không chìm. Sau khi khắc phục tạm thời, anh Quen điều khiển tàu vào bờ nhưng vì thiết bị liên lạc, định vị bị hỏng nên tàu lần mò trên biển. Đến chiều 29/5, tàu cá BĐ-96680TS cùng các ngư dân mới cập bờ an toàn.


Vòi rồng xịt nước chỗ nào, chỗ đó bị phá tung

Tàu cập bờ, nhưng con tàu mà anh Quen mới tậu cách đây 3 năm với chi phí 1,4 tỷ đồng đã xơ xác tan tành, trong khi số tiền đóng tàu chủ yếu là vay mượn. Nhìn con tàu xơ xác, kính vỡ, ván bung, ngư lưới cụ, thiết bị đều hư hỏng, anh Quen chỉ biết nuốt nước mắt vào trong.

Theo tính toán của anh Quen, tổng thiệt hại về vật chất tính qua cũng lên đến gần 200 triệu đồng. Anh Quen thở dài: “Giờ tàu hư hỏng nặng, chuyến biển tới phải nằm bờ để sửa chữa, vừa tốn chi phí vừa không tiền lo cho gia đình và tiền gửi cho đứa con gái đang học đại học trong TP Hồ Chí Minh. Trong khi tiền vay đóng tàu trước đây còn trả chưa xong nên giờ tôi chỉ mong các ngành chức năng lên tiếng, yêu cầu Trung Quốc bồi thường để gia đình bớt đi phần nào gánh nặng”. 

Doãn Công

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Bài ca về những con vịt què!

Trông cậy gì ở những con vịt què?
Làm sao có thể bay xa,
bay cao?
Cất tiếng lảnh lót như họa my
thanh khiết
Với đôi cánh của đại bàng giữa trời xanh
tha thiết?
Trông đợi gì ở vịt què,
em yêu!

Nắng nôi này cất tiếng lên rất mệt!
Thì ta cứ tà tà
mà yêu
Như anh xẩm mù yêu vợ
Không cần và chả bao giờ nhìn thấy cái đó
 "ra sao"!

Nhưng kẻ điếc và câm không cần sợ sét
Dù sét gớm ghê sắp đổ xuống đầu
Mất cảm giác
không sợ cơn nóng lạnh
Người vô tâm
không bao giờ biết lo âu..

Thời mặt hồ nông thỏa chí cho vịt què bơi lội
Nô giỡn với lũ cáo cầy bày đặt
biển sông
Lũ chúng ta cứ vô tư
nông
nổi
Trời có xập xuống chân
cũng không giây phút nao lòng!

Những con vịt què chúng có tình yêu của chúng
Chỉ thương chúng ta
không có nó trong lòng
Ai bảo sinh ra giữa phận đời khốn khổ
Thì hãy vui đi..
sáng tối mặc lòng.

Anh đã thôi từ lâu thơ tình không viết nữa
Khi người em đã không phải người em
Khi bạn hữu
bỗng trở thành xa lạ
Chân lý là chống đôi tay xuống đất và vươn cẳng lên đầu!

Thời giả chân cái gì cũng giả
Phân định làm chi
mất công biết
càng đau
Ngoài vịt què chả thể mong ai được!
Dù đến phút cuối cùng chúng quàng quạc tào lao!


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Cái lý của quan!

Đánh là phải, ai bảo cứ làm đúng?


Phần nhận xét hiển thị trên trang