Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Tư, 27 tháng 5, 2015

Khép vào rồi lại mở ra _ Vẫn là chuyện ấy..ha ha nỗi gì?

KHÉP LẠI RỒI, 9 ĐẠI HỘI NHÀ VĂN LẺ TẺ ĐÌ ĐẸT CÁC KHU VỰC
 
ĐẠI HỘI NHÀ VĂN KHỐI TP HÀ NỘI
 
Trần Nhương
Thứ hai (25 tháng 5 năm 2015)
TNc: Sau khi đi dọc chiều dài đất nước, hôm nay 25-5-2015 đại hội nhà văn khu vực Hà Nội đã khép lại cuộc việt dã ngoạn mục. Như vậy 9 đại hội khu vực đến hôm nay kết thúc để BTC lo liệu cho ngày Đại hội toàn quốc. Các lá phiếu giới thiệu nhân sự BCH và chức danh Chủ tịch, các phó chủ tịch đã niêm phong đưa về Văn phòng Hội.Hà Nội sau vụ cây xanh bị hạ bỗng nắng lên khá dữ dội. Ha ha có lẽ cụ Trời chơi quả thử thách sức chịu đựng con dân đất kẻ chợ…
*
Nắng vậy mà Đại hội khu vực Hà Nội không kém đông vui, đã có 49 nhà văn trên tổng số 74, vắng 25 quý vị. Nhiều lão tướng lừng danh như Xuân Thiêm, Nguyễn Xuân Khánh, Ông Văn Tùng, Lý Thị Trung, Lê Khả Sỹ. Nhiều nhà văn bệnh trọng vẫn tươi vui có mặt như Tân Linh…
*
Chủ tịch đoàn là những gương mặt khả ái Bằng Việt, Phan Thị Thanh Nhàn, Thu Huệ, Trần Gia Thái, Lại Hồng Khánh. Hiềm một nỗi chật quá các vị ngồi sát sàn sạt vào nhau. Trời nóng chỉ e ngan ngát “hương thầm”. Ha ha tếu vui chút nhé…Thư kí đoàn là người đẹp Lê Hồng Nguyên và Bùi Việt Mỹ…
*
Vẫn theo thông lệ các báo cáo tổng kêt nhiệm kỳ, kiểm điểm BCH khóa 8. Cái mới là đọc dự thảo Điều lệ sửa đổi lần này do Phan Thị Thanh Nhàn chứ không do người của BTC.
 *
Nữ sỹ Phan Thị Thanh Nhàn đọc sửa đổi Điều lệ
Phần thảo luân nhà thơ Đặng Huy Giang nổ phát đầu tiên ăn giải nhanh nhạy. Ông cho rằng Ban vận đông VĐĐL có tuyên ngôn, có trang web mà chưa được phép là tổ chức bất hợp pháp rồi, Tây Tầu đều thế đâu chỉ nước mình. Tôi đồng tình với trả lời của Chủ tịch Hữu Thỉnh trên báo Văn nghệ. Tự do là do mình, có khi ngồi tù vẫn tự do ! (Ý này rất độc đáo) Nhà Phật cũng nói thế ! Gần đây có một vài trang mạng chửi Hội Nhà văn thậm tệ, tôi đề nghị Hội phải có công văn chính thức phản đối. Về nhân sự có vùng miền nam nữ. Ai đi không vững thì không nên vào chấp hành, BCH mà đọc văn không hiểu thì sao thẩm định văn chương hội viên được. Chủ tịch hội đồng là BCH thế nếu không biết ngoại ngữ có làm chủ tịch hội đồng dịch hay không ? Giải thưởng NN ối người chả có tác phẩm gì đáng kể.
*
Nhà thơ trào phúng Lê Khả Sỹ ngoại 80 nhanh nhẹn bước lên bục. Ông ngợi ca BCH khóa 8 làm nhiều việc. Ông chê mặt LLPB thì tụt đến đáy. Thụ động, né tránh quan to. Sao lại bốc thơm Hoàng Quang Thuận quá mức như vậy ? Tôi xấu hổ đến mức không dám nhận mình là hội viên…
*
Sao GS Vũ Khiêu lại ủng hộ thô thiển hóa Truyện Kiều ? Ngày Thơ cứ thả thơ lên trời những câu thơ vớ vẩn thì thật kì cục cho Hội mình. Lần này ta bầu cho Nguyễn Quang Thiều. (bác PR công khai phết).
*
Nhà dịch giả khả kính Ông Văn Tùng lên tiếng. Ông nói dọc con đường từ Vinh lên Nam Đàn từng cây số đều có các danh nhân Hồ Chí Minh, Mai Hắc Đế, Ông Văn Tùng…Quả là vùng địa linh nhân kiệt. Ông kể tôi ở đâu cũng bị đánh chỉ đến Hội Nhà văn là không. Ôi chao sao lắm người chơi bác thế ! Tôi khổ về cái họ Ông của tôi suốt từ khi đi học đến giờ…Tất cả có thể quên nhưng Nguyễn Du, Lý Bạch, Ta go…thì không thể quên. Tôi dịch hàng trăm cuốn và không ai chửi. Chả hiểu sao bác lại nhắc đến câu thơ cũ mèm từ thời nảo thời nào “nhà văn An Nam khổ như chó”.
*
Đàm Khánh Phương mong sẽ bầu được một BCH xứng đáng đại biểu cho những người cầm bút. Việc bầu một nửa số hội viên đi dự vì chuyến bay chỗ ngồi có hạn chứ còn chúng ta ai cũng xứng đáng. Tôi chắc còn chờ vài ba kỳ đại hội nữa đi dự cũng không sao. (Xin lỗi nhà thơ Đàm Khánh Phương vì nhầm lẫn do tuổi già nên lúc trước viết không đúng lời phát biểu của anh).
 *
Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp và nhà thơ Đinh Nam Khương
 *
Nhà thơ Chử Văn Long giọng khàn khàn nói rằng văn chương đang nhiều bụi bặm. Mơ ước một thời văn chương trong sáng. Văn chương hãy an ủi những thân phận đau khổ. Hình như văn chương bây giờ như đun nước bằng ấm siêu tốc, nhanh sôi đấy nhưng cũng không còn ngon ngọt…Tập thơ tuyển giai đoạn chống Mỹ mất công bằng, tùy tiện. Cuối cùng ông tấu lên một bài thơ tình với sự trầm mặc và run rảy.!
*
Bước vào bầu cử và giới thiệu nhân sự. Khối Hà Nội được chọn 50 đại biểu đi dự Đại hội 9. Cách bầu khoanh tròn vào số thứ tự người mình bầu lại được áp dụng. Sáng kiến tuyệt vời này rất nên nhân rộng cho các hội đoàn và đề nghị Hội đăng kí tác quyền kẻo anh nào nó thuổng mất. Ha ha…
*
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Ba, 26 tháng 5, 2015

Phải phá hủy ngay các căn cứ quân sự Trung Quốc ở Trường Sa!

Inquirer: Phải phá hủy ngay các căn cứ quân sự Trung Quốc ở Trường Sa 
Hồng Thủy 
(GDVN) - Nếu Manila hành động ngay bây giờ bằng cách chỉ tập trung vào phá hủy cơ sở vật chất, có thể đổ máu nhưng thương vong không nhiều.
Luật sư Ted Laguatan, ảnh: Philnews.
Tờ Inquirer của Philippines ngày 9/3 đăng bài phân tích của Ted Laguatan, một luật sư về nhân quyền tại San Francisco và chuyên gia luật Di trú bang California, Hoa Kỳ kêu gọi, Philippines cần tiêu diệt ngay các căn cứ quân sự Trung Quốc đang xây dựng trái phép trên quần đảo Trường Sa (thuộc chủ quyền Việt Nam) là khu vực mà Manila (cũng) yêu sách vùng đặc quyền kinh tế.
Ted Laguatan khẳng định: Đây là thực tế, các nhà lãnh đạo quân sự Trung Quốc đang gấp rút xây dựng các căn cứ quân sự bất hợp pháp trên 6 bãi đá ở Trường Sa, trong phạm vi 200 hải lý Philippines yêu sách vùng đặc quyền kinh tế. Điều đáng nói là Manila không thể làm gì để ngăn chặn Bắc Kinh.
Trong thời gian một năm, những căn cứ thực tế sẽ được hoàn thành. Một khi Trung Quốc kéo chiến đấu cơ, máy bay ném bom, trực thăng vũ trang, tên lửa và tàu chiến ra đóng quân ở đây, Philippines thực tế sẽ không có cách nào để loại bỏ chúng.

Đó là một tình huống rất nguy hiểm cho an ninh quốc gia của Philippines và các nước xung quanh. Đây cũng là một tình huống nguy hiểm nghiêm trọng tương tự trường hợp mà Tổng thống Mỹ john Kennedy đã phải "liều" sẵn sàng cho cuộc chiến với Liên Xô khi Moscow thiết lập các căn cứ tên lửa tại Cu Ba.
Ông đã ra lệnh phong tỏa ngay các tàu Liên Xô tiến tới Cu Ba để xây dựng căn cứ. Tháng 6 năm ngoái, Ted  Laguatan đã cảnh báo sự khởi đầu của hoạt động xây dựng căn cứ quân sự Trung Quốc cũng như tính nguy hiểm khủng khiếp mà nó gây ra.
Lúc đó ông đã đề nghị những gì Philippines có thể làm là tiêu diệt các căn cứ, Manila hoàn toàn có khả năng làm được điều này. Nếu cứ để nguyên, hậu quả đối với Manila sẽ rất khủng khiếp.
Ngày 27/2, một nhóm kiều dân Philippines tại Hoa Kỳ (USP4GG) do bà Loida Nicolas Lewis tập hợp đã tổ chức một bữa ăn tối với khoảng 100 người Philippines sinh sống tại nước ngoài. Ngoại trưởng Albert del Rosario đã tới dự với vai trò khách mời chính.
Công sự nhà nổi kiên cố Trung Quốc xây dựng bất hợp pháp trên đá Gạc Ma nằm trong quần đảo Trường Sa của Việt Nam sau khi cất quân xâm lược năm 1988 và chiếm đóng bất hợp pháp từ đó tới nay.
Khi vấn đề Trung Quốc đang xây dựng căn cứ quân sự ở Trường Sa được đưa bàn thảo, người ta hỏi ông Ngoại trưởng rằng Philippines có thể làm gì để ngăn chặn nó. Ông Albert del Rosario nói rằng, Philippines đã khởi kiện các hoạt động của Trung Quốc ra Tòa án Liên Hợp Quốc về Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 (ITLOS).
Ted Laguata cho biết, mọi người có mặt đã bị "sốc" khi Ngoại trưởng Rosario cho biết ngoài biện pháp pháp lý nêu trên, không có hành động nào khác được thực hiện.
"Tôi thật sự không biết phải làm gì (để ngăn chặn ngay việc Trung Quốc xây dựng căn cứ quân sự phi pháp ở Trường Sa)", Ngoại trưởng Philippines được dẫn lời cho biết. Ted Laguatan bình luận, việc Manila "không có hành động" không chỉ là "báo động khủng khiếp" mà nó còn gây ra "sự thất vọng và bực bội.
Vấn đề này thậm chí còn quan trọng hơn nhiều so với việc Tổng thống và Quốc hội Philippines đang tập trung vào các dự luật cơ bản. Ở đây an ninh quốc gia và tương lai của toàn bộ người dân Philippines đang đối mặt với một nguy cơ rõ ràng.
Ông Ted Laguatan cho rằng nếu Philippines vẫn không có hành động gì ngăn chặn, chắc chắn các căn cứ quân sự Trung Quốc xây dựng bất hợp pháp ở Trường Sa sẽ sớm hoàn thành. Nếu đợi lúc đó Manila mới tiêu diệt, thì thương vong sẽ lớn hơn rất nhiều cho cả hai bên.
Còn nếu Manila hành động ngay bây giờ bằng cách chỉ tập trung vào phá hủy cơ sở vật chất, có thể đổ máu nhưng thương vong không nhiều. Philippines không giao chiến với Trung Quốc, mà chỉ đơn giản tự vệ trước nguy cơ các cuộc tấn công trong tương lai, Laguatan lập luận.
Laguatan cho rằng Philippines cần tiêu diệt các căn cứ quân sự Trung Quốc ở Trường Sa, Manila không còn sự lựa chọn nào khác.
Hồng Thủy

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam Lê Duẩn: Trung Quốc tồn tại thì họ sẽ tấn công chúng ta ( Tư liệu cũ )


Lê Duẩn
Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam

Nguồn: Thư viện Quân đội Nhân dân, Hà Nội
Tài liệu do Christopher Goscha có được và dịch cho CWIHP
Ngọc Thu, dịch từ: Wilson Center

BLA: Bài phát biểu dưới đây là của Tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam Lê Duẩn lúc đương vị, nói về cuộc xâm lược của Trung Quốc trên tuyến biên giới phía bắc nước ta năm 1979 và bản chất vô cùng thâm độc của lãnh đạo Trung Quốc. Nhận thức của Bộ chính trị khi đó, nói một cách ngắn gọn, là biết rõ và nói thẳng Trung Quốc là xấu, là kẻ thù của Việt Nam. Sau khoảng 20 năm tương đối "êm ấm" bạn vàng 4 tốt 16 chữ vàng (từ năm 1990), nay (6/2014) Trung Quốc đã một lần nữa hiện nguyên hình là một kẻ xâm lược tàn bạo, mưu đồ bành trướng, bá quyền trên biển Đông. Thiết nghĩ nhiều nội dung trong bài phát biểu của ông Lê Duẩn vẫn còn nguyên giá trị thời sự, chính trị. 

Ảnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tổng bí thư Lê Duẩn (ảnh tư liệu)

Nói chung, sau khi chúng ta đánh bại Mỹ, không đế quốc nào dám đánh chúng ta nữa. Chỉ có những người nghĩ rằng họ vẫn có thể đánh chúng ta và dám đánh chúng ta là những kẻ phản động Trung Quốc. Nhưng người dân Trung Quốc hoàn toàn không muốn thế. Tôi không biết những kẻ phản động Trung Quốc này sẽ tiếp tục tồn tại thêm bao lâu nữa. Tuy nhiên, miễn là họ tồn tại, thì họ sẽ tấn công chúng ta như họ vừa thực hiện (nghĩa là đầu năm 1979).

Nếu chiến tranh đến từ phương Bắc, thì các tỉnh [Bắc Trung Bộ] Nghệ An, Hà Tĩnh và Thanh Hóa sẽ trở thành cơ sở cho toàn bộ đất nước. Các tỉnh này tốt nhất, là các căn cứ mạnh nhất, tốt nhất và hiệu quả nhất. Vì nếu vùng đồng bằng [Bắc Bộ] tiếp tục là vùng liên tục căng thẳng, thì tình hình sẽ rất phức tạp. Vấn đề không đơn giản chút nào. Nếu không phải là người Việt Nam, thì sẽ không có người nào đánh Mỹ, bởi vì lúc Việt Nam chiến đấu chống Mỹ, cả thế giới còn lại đều sợ Mỹ …

Mặc dù Trung Quốc đã giúp Triều Tiên chỉ với mục đích bảo vệ sườn phía Bắc của họ. Sau khi cuộc chiến kết thúc [ở Triều Tiên] và khi áp lực lên Việt Nam, ông ta (chỗ này hình như nói đến Chu Ân Lai khi đoạn văn sau đó cho thấy vậy) nói rằng, nếu Việt Nam tiếp tục chiến đấu, thì sẽ phải tự lo liệu. Ông ta sẽ không giúp thêm nữa và gây áp lực với chúng ta để ngừng chiến đấu.

Khi chúng ta ký Hiệp Định Geneva, rõ ràng là Chu Ân Lai đã chia đất nước ta làm hai [phần]. Sau khi nước ta bị chia thành hai miền Nam – Bắc như thế, một lần nữa ông ta gây sức ép lên chúng ta, không được làm gì đối với miền Nam Việt Nam. Họ ngăn cấm chúng ta đứng lên [chống lại Việt Nam Cộng hòa do Mỹ hậu thuẫn]. [Nhưng] họ, [người Trung Quốc,] không thể làm gì để ngăn cản chúng ta.

Khi chúng ta ở miền Nam và chuẩn bị chiến tranh du kích ngay sau khi ký Hiệp định Geneva, Mao Trạch Đông đã nói với Đại hội Đảng của chúng ta rằng, ngay lập tức, chúng ta phải buộc Lào chuyển hai tỉnh đã được giải phóng cho chính phủ Viêng Chăn. Nếu không, người Mỹ sẽ tiêu diệt hai tỉnh này, một tình huống rất nguy hiểm [theo cái nhìn của Trung Quốc]! Ngay lập tức, Việt Nam đã phải làm việc với người Mỹ [liên quan đến vấn đề này]. Mao đã bức hiếp chúng ta bằng cách này và chúng ta đã phải làm điều đó.

Sau đó, khi hai tỉnh này đã được chuyển cho Viêng Chăn, những tên phản động [Lào] ngay lập tức bắt giữ Souphanouvong (Chủ tịch Lào từ năm 1975-1986). Lào có hai tiểu đoàn bị bao vây lúc đó. Hơn nữa, họ vẫn chưa sẵn sàng chiến đấu. Sau đó, một tiểu đoàn đã có thể thoát khỏi sự [bao vây]. Lúc đó, tôi đưa ra quan điểm của tôi là, Lào phải được phép tiến hành chiến tranh du kích. Tôi mời Trung Quốc đến và thảo luận về vấn đề này với chúng ta. Tôi nói với họ: “Các đồng chí, nếu các đồng chí tiếp tục gây áp lực với Lào bằng cách này, thì lực lượng của họ sẽ hoàn toàn tan rã. Bây giờ họ phải được phép tiến hành chiến tranh du kích“.

Trương Văn Thiên (Zhang Wentian), người trước đó là Tổng Thư ký [Đảng Cộng sản Trung Quốc] và sử dụng bút danh Lạc Phú, trả lời tôi: “Vâng, các đồng chí, điều các đồng chí nói đúng. Hãy để chúng tôi cho phép tiểu đoàn đó của Lào đảm nhiệm chiến tranh du kích“.

Ngay lập tức, tôi hỏi Trương Văn Thiên: “Các đồng chí, nếu các đồng chí cho phép Lào gánh vác chiến tranh du kích, thì không có gì phải sợ việc phát động chiến tranh du kích ở miền Nam Việt Nam. Điều gì làm cho các đồng chí sợ đến nỗi các đồng chí ngăn cản hành động như thế?”

Ông ta [Trương Văn Thiên] đã nói: “Không có gì phải sợ!”

Trương Văn Thiên đã nói thế. Tuy nhiên, Ho Wei, Đại sứ Trung Quốc ở Việt Nam lúc đó, đã ngồi ở đó và nghe điều đã nói. Ngay lập tức, ông ta điện cho Trung Quốc (báo cáo điều Lê Duẩn và Trương Văn Thiên đã nói). Ngay lập tức, Mao trả lời: “Việt Nam không thể phát động chiến tranh du kích ở miền Nam. Việt Nam phải nằm chờ trong một thời gian dài!” Chúng ta rất nghèo. Làm sao chúng ta có thể đánh Mỹ nếu không có Trung Quốc làm căn cứ hậu tập? Nên chúng ta phải nghe theo họ, đúng không?

Tuy nhiên, chúng ta đã không đồng ý. Chúng ta đã bí mật tiếp tục phát triển lực lượng. Khi [Ngô Đình] Diệm kéo lê máy chém khắp miền Nam Việt Nam, chúng ta đã ban hành lệnh thành lập lực lượng quần chúng để chống lại lệnh đã được lập và nắm quyền [từ chính phủ Diệm]. Chúng ta đã không chú ý [đến Trung Quốc].

Khi cuộc nổi dậy giành chính quyền bắt đầu, chúng tôi đi Trung Quốc để gặp Chu Ân Lai và Đặng Tiểu Bình. Đặng Tiểu Bình đã nói với tôi: “Đồng chí, bây giờ sai lầm của đồng chí đã xảy ra rồi, đồng chí chỉ nên đánh ở mức trung đội trở xuống“. Đó là áp lực mà họ đã áp đặt lên chúng ta.

Tôi nói [với Trung Quốc]: “Vâng, vâng! tôi sẽ làm điều đó. Tôi sẽ chỉ chiến đấu ở mức một trung đội trở xuống“.

Sau khi chúng ta chiến đấu và Trung Quốc nhận ra rằng chúng ta có thể chiến đấu hiệu quả, đột nhiên Mao có suy nghĩ mới. Ông ta nói rằng, vì Mỹ đánh chúng ta, ông ta sẽ đưa quân đội [Trung Quốc] đến giúp chúng ta xây dựng đường xá. Mục tiêu chính của ông ta là tìm hiểu tình hình đất nước ta để sau này ông ta có thể tấn công chúng ta và từ đó mở rộng xuống khu vực Đông Nam Á. Không có lý do nào khác.

Chúng tôi biết rõ ý đồ này, nhưng phải cho phép họ (sự xâm nhập của quân đội Trung Quốc). Thôi thì cũng được. Nhưng họ quyết định đưa quân vào. Tôi yêu cầu họ chỉ gửi người, nhưng quân lính của họ đã đến cùng với súng đạn. Tôi cũng phải chịu điều này.

Sau đó, ông ta (Mao Trạch Đông) bắt chúng ta phải nhận 20.000 quân của ông ta đến xây một con đường từ Nghệ Tĩnh vào Nam Bộ (thuật ngữ tiếng Việt chỉ miền Nam Việt Nam). Tôi từ chối. Họ tiếp tục yêu cầu nhưng tôi không nhượng bộ. Họ gây áp lực với tôi cho quân của họ vào nhưng tôi đã không chấp thuận. Họ tiếp tục gây sức ép nhưng tôi vẫn không chịu.

Tôi đưa ra những ví dụ này để các đồng chí thấy họ có âm mưu cướp nước ta từ lâu và âm mưu đó ác độc như thế nào.

- Sau khi Mỹ đưa hàng trăm ngàn quân vào miền Nam Việt Nam, chúng ta đã phát động cuộc tổng tấn công vào năm 1968 để buộc họ giảm leo thang. Để đánh bại Hoa Kỳ, một điều cần phải biết là làm thế nào để họ từ từ giảm leo thang. Đó là chiến lược của chúng ta. Chúng ta chiến đấu chống một kẻ thù lớn, kẻ thù với dân số 200 triệu người và thống trị thế giới. Nếu chúng ta không thể làm cho họ giảm leo thang từng bước, thì chúng ta sẽ thất bại và không thể tiêu diệt kẻ thù. Chúng ta phải đấu tranh để làm nhụt ý chí họ để buộc họ phải đi đến bàn đàm phán với chúng ta mà không cho phép họ đưa thêm quân.

Đến lúc họ muốn thương lượng với chúng ta, Ho Wei đã viết một bức thư cho chúng tôi, nói rằng: “Các ông không thể ngồi xuống đàm phán với Hoa Kỳ. Các ông phải đưa quân Mỹ vào miền Bắc Việt Nam để đánh với họ“. Ông ta gây áp lực với chúng tôi cách này, làm cho chúng tôi bối rối vô cùng. Đây không phải là vấn đề hoàn toàn đơn giản. Rất là mệt mỏi mỗi khi tình huống như thế phát sinh [với Trung Quốc].

Chúng tôi quyết định không thực hiện cách đó (nói đến lời khuyên của Hồ Wei không đàm phán với Hoa Kỳ). Chúng tôi phải ngồi xuống ở Paris. Chúng tôi phải làm cho họ (Mỹ) giảm leo thang để đánh bại họ. Trong thời gian đó, Trung Quốc đã thông báo [với Mỹ]: “Nếu các ông không tấn công tôi, tôi sẽ không tấn công các ông. Nhưng rất nhiều quân lính mà các ông muốn đưa vào Việt Nam, tùy các ông“. Trung Quốc nhất trí điều này và đã gây áp lực với chúng tôi bằng cách đó.

Họ (Trung Quốc) đã trao đổi nhiều với Mỹ và ép buộc chúng ta phục vụ như là một con bài để mặc cả theo cách này. Khi người Mỹ nhận ra rằng họ đã thua trận, ngay lập tức, họ sử dụng Trung Quốc để [tạo điều kiện] rút quân [ở miền Nam Việt Nam]. Nixon và Kissinger đã đến Trung Quốc để thảo luận vấn đề này.

- Trước khi Nixon đi Trung Quốc, [mục đích chuyến đi của ông ta là] giải quyết vấn đề Việt Nam bằng cách đó, để phục vụ lợi ích của Mỹ và giảm bớt thất bại của Mỹ, cũng như cùng lúc cho phép ông ta lôi kéo Trung Quốc về phía Mỹ. Chu Ân Lai đã đến gặp tôi. Chu Ân Lai nói với tôi: “Lúc này, Nixon đến gặp tôi chủ yếu là thảo luận về vấn đề Việt Nam, do vậy tôi phải đến gặp đồng chí để thảo luận điều đó với đồng chí“.

Tôi trả lời: “Đồng chí, đồng chí có thể nói bất cứ điều gì đồng chí thích, nhưng tôi không nghe theo đồng chí. Đồng chí là người Trung Quốc, tôi là người Việt. Việt Nam là của tôi (đất nước của tôi), hoàn toàn không phải của các đồng chí. Các đồng chí không có quyền nói [về vấn đề Việt Nam] và các đồng chí không có quyền thảo luận [các vấn đề đó với Mỹ]. Hôm nay, các đồng chí, chính tôi sẽ nói với các đồng chí điều mà thậm chí tôi chưa hề nói với Bộ Chính trị, rằng đồng chí đã nêu ra vấn đề nghiêm trọng và vì thế tôi phải nói:

- Năm 1954, khi chúng tôi giành chiến thắng tại Điện Biên Phủ, tôi đã ở [tỉnh] Hậu Nghĩa. Bác Hồ đã điện nói với tôi rằng, tôi phải vào miền Nam để tập hợp [các lực lượng ở đó] và nói chuyện với đồng bào miền Nam [về vấn đề này]. Tôi đi bằng xe tải vào miền Nam. Trên đường đi, đồng bào ra chào đón tôi vì họ nghĩ rằng chúng tôi đã giành chiến thắng. Đau đớn vô cùng! Nhìn đồng bào miền Nam, tôi đã khóc. Vì sau đó, Hoa Kỳ sẽ đến và tàn sát [người dân] một cách khủng khiếp.

Khi vừa tới miền Nam, ngay lập tức, tôi đã điện cho Bác Hồ để xin ở lại [miền Nam] và không trở lại miền Bắc để tôi có thể đánh thêm mười năm nữa hoặc hơn. Đồng chí đã gây khó khăn cho tôi như thế này (muốn nói đến vai trò của Chu Ân Lai trong việc chia cắt Việt Nam tại Geneva năm 1954), đồng chí có biết không“?

Chu Ân Lai nói: “Tôi xin lỗi đồng chí. Tôi đã sai. Điều đó tôi sai” (muốn nói đến sự chia cắt Việt Nam tại Geneva). Sau khi Nixon rời khỏi Trung Quốc, một lần nữa, ông ta (Chu Ân Lai) đến Việt Nam để hỏi tôi về một số vấn đề liên quan đến cuộc chiến ở miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên, ngay lập tức, tôi nói với Chu Ân Lai: “Nixon đã gặp các đồng chí rồi. Chẳng bao lâu nữa, họ (Hoa Kỳ) sẽ tấn công chúng tôi thậm chí còn mạnh hơn“.

Tôi hoàn toàn không sợ. Cả hai (Mỹ và Trung Quốc) đã thương lượng với nhau để đánh tôi mạnh hơn. Ông ta (Chu Ân Lai) đã không bác bỏ quan điểm này là vô căn cứ và chỉ nói rằng: “Tôi sẽ gửi thêm súng đạn cho các đồng chí“.

Sau đó ông ta (Chu Ân Lai) nói (về mối lo ngại âm mưu bí mật Trung – Mỹ): “Không có điều đó“. Tuy nhiên, hai bên đã thảo luận làm thế nào để đánh chúng ta mạnh hơn, gồm các cuộc tấn công bằng bom B-52 và phong tỏa cảng Hải Phòng. Rõ ràng là như thế.

– Nếu Liên Xô và Trung Quốc đã không mâu thuẫn với nhau, thì Hoa Kỳ không thể tấn công chúng ta quyết liệt như họ đã tấn công. Khi hai [cường quốc Trung Quốc và Liên Xô] xung đột, người Mỹ đã không bị [phe đối lập là khối xã hội chủ nghĩa] cản trở. Mặc dù Việt Nam có thể thống nhất và đoàn kết với cả Trung Quốc lẫn Liên Xô, để đạt được điều này rất phức tạp, lúc đó chúng ta phải dựa vào Trung Quốc nhiều thứ. Lúc đó, hàng năm Trung Quốc cung cấp viện trợ 500.000 tấn thực phẩm, cũng như súng ống, đạn dược, tiền bạc, chưa kể đến viện trợ đô la. Liên Xô cũng đã giúp bằng cách này. Nếu chúng ta không thể làm điều đó (đoàn kết và thống nhất với Trung Quốc và Liên Xô), mọi thứ sẽ rất nguy hiểm.

Mỗi năm tôi đã phải đi Trung Quốc hai lần để nói chuyện với họ (lãnh đạo Trung Quốc) về [các sự kiện] ở miền Nam Việt Nam. Về phía Liên Xô, tôi không phải nói gì cả (về tình hình ở miền Nam Việt Nam). Tôi chỉ nói một cách chung chung. Khi giao thiệp với Trung Quốc, tôi đã phải nói rằng cả hai [nước] đang đánh Mỹ. Tôi đã đi một mình. Tôi phải có mặt về vấn đề này. Tôi đã đến đó và nói chuyện với họ nhiều lần bằng cách này, mục đích chính là để xây dựng quan hệ gần gũi hơn giữa hai bên (nghĩa là Trung Quốc và Việt Nam). Chính xác là vào thời điểm đó Trung Quốc gây áp lực với chúng ta để xa lánh Liên Xô, cấm chúng ta không được đi với Liên Xô.

Họ đã làm rất căng. Đặng Tiểu Bình, cùng với Khang Sinh đã đến và nói với tôi: “Đồng chí, tôi sẽ giúp đồng chí vài tỷ [có lẽ là nhân dân tệ] mỗi năm. Đồng chí không thể nhận bất cứ thứ gì từ Liên Xô“.

Tôi không đồng ý điều này. Tôi nói: “Không, chúng ta phải đoàn kết và thống nhất với toàn bộ phe [xã hội chủ nghĩa]“.

Năm 1963, khi Khrushchev phạm sai lầm, ngay lập tức [Trung Quốc] ban hành một tuyên bố 25 điểm và mời đảng chúng ta đến cho ý kiến . Anh Trường Chinh và tôi đã đi cùng với một số anh em khác. Trong cuộc thảo luận, họ (Trung Quốc) lắng nghe chúng tôi đến, hình như là điểm thứ 10, nhưng khi đến điểm “không từ bỏ phe xã hội chủ nghĩa”, họ đã không nghe… Đặng Tiểu Bình nói: “Tôi chịu trách nhiệm về tài liệu của chính tôi, tôi muốn nghe ý kiến của các đồng chí, nhưng tôi không chấp nhận quan điểm này của các đồng chí“.

Trước khi chúng tôi ra về, Mao gặp anh Trường Chinh và tôi. Mao ngồi xuống trò chuyện với chúng tôi và cuối cùng ông ta tuyên bố: “Các đồng chí, tôi muốn nói cho các đồng chí biết điều này. Tôi sẽ là chủ tịch của 500 triệu nông dân đang thiếu đất, và tôi sẽ mang một đạo quân tiến xuống khu vực Đông Nam Á“. Đặng Tiểu Bình cũng ngồi ở đó, nói thêm: “Chủ yếu là vì nông dân nghèo, trong tình cảnh khó khăn cùng cực!”

Khi chúng tôi ra ngoài, tôi nói với anh Trường Chinh: “Đó anh thấy đó, âm mưu chiếm nước ta và Đông Nam Á. Bây giờ đã rõ rồi“. Họ dám tuyên bố điều đó như thế. Họ nghĩ chúng ta không hiểu. Đúng là không lúc nào họ không nghĩ đến đánh Việt Nam!

Tôi sẽ nói với các đồng chí nhiều hơn để các đồng chí có thể thấy thêm về tầm quan trọng quân sự trong vấn đề này.

Mao hỏi tôi: Ở Lào, có bao nhiêu cây số vuông đất?

Tôi trả lời: Khoảng 200.000 cây số vuông.

Mao hỏi: Dân số của họ bao nhiêu?

Tôi trả lời: Khoảng 3 triệu!

Mao nói: Như vậy là không nhiều! Tôi sẽ đưa dân tôi đến đó, thật mà!

Mao hỏi: Có bao nhiêu cây số vuông đất ở Thái Lan?

Tôi trả lời: Khoảng 500.000 cây số vuông.

Mao hỏi: Có bao nhiêu người?

Tôi trả lời: Khoảng 40 triệu!

Mao nói: Lạy Chúa! Tỉnh Tứ Xuyên của Trung Quốc có 500.000 cây số vuông, nhưng có tới 90 triệu người. Tôi cũng sẽ đưa một số người dân của tôi tới Thái Lan!

Đối với Việt Nam, họ không dám nói về việc đưa người tới theo cách này. Tuy nhiên, ông ta (Mao) nói với tôi: “Đồng chí, có đúng là người của các đồng chí đã chiến đấu và đánh bại quân Nguyên?” Tôi nói: “Đúng“. Ông ta hỏi: “Có phải cũng chính người của đồng chí đã đánh bại quân Thanh?” Tôi nói: “Đúng“. Ông ta nói: “Và quân Minh nữa, phải không?” Tôi nói: “Đúng, và cả các ông nữa. Tôi đánh các ông luôn. Các ông có biết điều đó không?“

Tôi đã nói với Mao Trạch Đông như thế. Ông ta nói: “Có, có!” Ông ta muốn chiếm Lào, cả Thái Lan, cũng như muốn chiếm tất cả các nước Đông Nam Á. Đưa người dân đến sống ở đó. Quan điểm đó thật là phức tạp.

Trong quá khứ (nói đến vấn đề có thể xuất phát từ mối đe dọa của Trung Quốc trong thời gian này), chúng ta đã chuẩn bị rất nhiều, không phải là chúng ta không chuẩn bị. Nếu chúng ta không chuẩn bị, tình hình gần đây sẽ rất nguy hiểm. Không phải là vấn đề đơn giản.

Mười năm trước, tôi đã triệu tập các anh em trong quân đội đến gặp tôi. Tôi nói với họ rằng Liên Xô và Mỹ mâu thuẫn với nhau. Đối với Trung Quốc, họ đã bắt tay với đế quốc Mỹ. Trong tình hình căng thẳng này, các đồng chí phải nghiên cứu vấn đề này ngay lập tức. Tôi sợ rằng quân đội không hiểu ý tôi, nên tôi nói với họ rằng, không có cách nào khác để hiểu vấn đề này. Nhưng họ vẫn thấy khó hiểu. Hoàn toàn không dễ. Nhưng tôi không thể nói bằng cách nào khác. Và tôi đã không cho phép những kẻ khác túm lấy tôi.

Khi tôi đến Liên Xô, Liên Xô cũng làm khó tôi về Trung Quốc. Liên Xô đã triệu tập một cuộc họp gồm 80 đảng [cộng sản] để hỗ trợ Việt Nam, nhưng Việt Nam không tham dự hội nghị này, vì [buổi hợp này] không chỉ đơn giản chỉ nhằm giúp Việt Nam, mà còn có mục đích lên án Trung Quốc. Nên Việt Nam đã không đi.

Liên Xô nói: “Bây giờ các đồng chí bỏ rơi chủ nghĩa quốc tế [hay] là cái gì? Tại sao các đồng chí làm điều này?” Tôi nói: “Tôi hoàn toàn không bỏ rơi chủ nghĩa quốc tế. Tôi không bao giờ làm điều này. Tuy nhiên, để là người quốc tế, trước tiên phải đánh bại Mỹ. Và nếu một nước muốn đánh bại Mỹ, thì phải có sự thống nhất và đoàn kết với Trung Quốc. Nếu tôi đến hội nghị này, thì Trung Quốc sẽ gây nhiều khó khăn lớn với chúng tôi. Các đồng chí, hãy hiểu cho tôi“.

Tại Trung Quốc cũng có nhiều ý kiến và tranh luận khác nhau. Chu Ân Lai đồng ý việc hình thành một mặt trận với Liên Xô để chống Mỹ. Một lần, khi tôi đi Liên Xô để dự lễ kỷ niệm quốc gia, tôi có đọc một bức điện Trung Quốc gửi sang Liên Xô, nói rằng: “Bất cứ khi nào có ai đó tấn công Liên Xô, thì Trung Quốc sẽ đứng bên cạnh các bạn“. Đó là vì đã có một hiệp ước hữu nghị giữa Liên Xô và Trung Quốc từ thời trước đó (tháng 2 năm 1950).

Ngồi cạnh Chu Ân Lai, tôi hỏi ông ta: “Trong bức điện gửi đến Liên Xô gần đây, đồng chí đồng ý thành lập một mặt trận với Liên Xô, nhưng tại sao các đồng chí không thành lập một mặt trận chống Mỹ?” Chu Ân Lai nói: “Chúng tôi có thể thành lập mặt trận chống Mỹ. Tôi chia sẻ quan điểm đó. Các đồng chí, tôi sẽ thành lập một mặt trận với các đồng chí [Việt Nam]“. Bành Chân cũng ngồi ở đó, nói thêm: “Quan điểm này cực kỳ chính xác!” Nhưng khi vấn đề được thảo luận tại Thượng Hải, Mao nói là không thể và hủy bỏ nó. Các đồng chí thấy nó phức tạp như thế nào.

Mặc dù Chu Ân Lai giữ vững một số quan điểm này, ông ta dù sao cũng đồng ý xây dựng một mặt trận và [ông ta] đã giúp Việt Nam rất nhiều. Cám ơn ông ta rằng tôi có thể hiểu [nhiều về những gì đang diễn ra ở Trung Quốc]. Nếu không thì sẽ rất nguy hiểm. Có lần, ông ta nói với tôi: “Tôi đang làm hết sức mình để tồn tại ở đây, sử dụng Li Chiang tích lũy và hỗ trợ cho các đồng chí“. Thì ra vậy (tức là Chu Ân Lai đã sử dụng Li Chiang, để giúp người Việt Nam). Có nghĩa là, không có Chu Ân Lai, điều này sẽ hoàn toàn không thể xảy ra. Tôi đang mắc nợ ông ta.

Tuy nhiên, không đúng để nói rằng các lãnh đạo khác của Trung Quốc hoàn toàn chia sẻ quan điểm của Chu Ân Lai. Họ khác nhau nhiều thứ. Phải nói rằng, người kiên quyết nhất là người có tinh thần Đại Hán và là người muốn chiếm Đông Nam Á, đó chính là Mao Trạch Đông. Tất cả các chính sách [của Trung Quốc] đều nằm trong tay ông ta.

Điều tương tự cũng áp dụng đối với các nhà lãnh đạo hiện tại của Trung Quốc. Tuy nhiên, chúng ta không biết tương lai sẽ ra sao, [sự thật của vấn đề là] họ đã tấn công chúng ta. Trong quá khứ, Đặng Tiểu Bình đã làm hai điều mà hiện đang bị đảo lộn. Đó là, khi chúng ta giành chiến thắng ở miền Nam Việt Nam, nhiều [lãnh đạo] Trung Quốc không hài lòng. Tuy nhiên, dù sao Đặng Tiểu Bình cũng chúc mừng chúng ta. Vì lý do này, ngay lập tức ông ta đã bị những người khác xem như là người theo chủ nghĩa xét lại.

Khi tôi đi Trung Quốc lần cuối, tôi dẫn đầu phái đoàn, và tôi đã gặp phái đoàn Trung Quốc do Đặng Tiểu Bình đứng đầu. Khi nói về vấn đề lãnh thổ, gồm cả việc thảo luận về một số hòn đảo, tôi nói: “Hai đất nước chúng ta ở gần nhau, Có một số vùng lãnh thổ của chúng ta vẫn chưa được xác định rõ ràng. Hai bên nên thành lập các cơ quan để xem xét vấn đề này. Các đồng chí, làm ơn đồng ý với tôi [về vấn đề này]”. Ông ta (Đặng Tiểu Bình) đồng ý, nhưng sau khi làm như vậy, ngay lập tức ông ta bị nhóm lãnh đạo khác xem như là người theo chủ nghĩa xét lại.

Nhưng bây giờ ông ta (Đặng Tiểu Bình) điên rồi. Bởi vì ông ta muốn cho mọi người thấy rằng ông ta không phải là người theo chủ nghĩa xét lại, cho nên ông ta đã tấn công Việt Nam mạnh hơn. Ông ta để cho họ tiếp tục tấn công Việt Nam.


Sau khi đánh bại Mỹ, chúng ta giữ lại hơn một triệu quân, các đồng chí lãnh đạo Liên Xô hỏi chúng tôi: “Các đồng chí định đánh với ai mà giữ lại một đội quân thường trực lớn như vậy?” Tôi nói: “Sau này, các đồng chí sẽ hiểu“. Lý do duy nhất chúng ta giữ quân đội thường trực như thế là vì mối đe dọa của Trung Quốc đối với Việt Nam. Nếu không có [một mối đe dọa như thế], thì điều này (quân đội thường trực lớn) sẽ không cần. Gần đây, bị tấn công trên hai mặt trận, [chúng ta có thể thấy rằng] rất nguy hiểm nếu chúng ta đã không được duy trì một đội quân lớn.

(B) (Ý nghĩa của chữ “B” này trong văn bản gốc không rõ ràng) – Sau Đệ nhị Thế chiến, tất cả mọi người tin rằng tên sen đầm quốc tế là đế quốc Mỹ. Họ có thể tiếp quản và bắt nạt cả thế giới. Tất cả các nước, gồm các nước lớn đều sợ Mỹ. Chỉ có Việt Nam là không sợ Mỹ.

Tôi hiểu vấn đề này vì công việc đã dạy tôi. Người đầu tiên sợ [Mỹ] là Mao Trạch Đông. Ông ta nói với tôi, đó là, Việt Nam và Lào, rằng: “Ngay lập tức, các ông phải chuyển giao hai tỉnh của Lào đã được giải phóng cho chính phủ Viêng Chăn. Nếu các ông không làm như vậy, thì Mỹ sẽ sử dụng điều đó làm lý do tấn công. Đó là mối nguy lớn”. Về phía Việt Nam, chúng tôi đã nói: “Chúng ta phải chiến đấu chống Mỹ để giải phóng miền Nam Việt Nam“. Ông ta (Mao) nói: “Các ông không thể làm điều đó. Miền Nam Việt Nam phải nằm đợi trong một thời gian dài, đợi một đời, 5-10 đời hoặc thậm chí 20 đời kể từ bây giờ. Các ông không thể đánh Mỹ. Đánh Mỹ là nguy hiểm“. Mao Trạch Đông đã sợ Mỹ đến mức độ đó…

Nhưng Việt Nam không sợ. Việt Nam đã tiếp tục chiến đấu. Nếu Việt Nam không đánh Mỹ thì miền Nam Việt Nam sẽ không được giải phóng. Một đất nước chưa được giải phóng sẽ vẫn là một đất nước lệ thuộc. Không ai có được độc lập nếu chỉ có một nửa đất nước được tự do. Không có được độc lập cho đến năm 1975, đất nước chúng ta cuối cùng có được độc lập hoàn toàn. Có độc lập, tự do sẽ đến. Tự do phải là tự do cho cả nước Việt Nam …

Engels đã nói về chiến tranh nhân dân. Sau đó, Liên Xô, Trung Quốc và chính chúng ta cũng đã nói [về vấn đề này]. Tuy nhiên, ba nước rất khác về nội dung [chiến tranh nhân dân]. Không đúng là chỉ vì các bạn có hàng triệu người, thì các bạn có thể làm bất cứ điều gì các bạn muốn. Trung Quốc cũng nói đến chiến tranh nhân dân, tuy nhiên, [họ cho rằng] “khi kẻ thù tiến lên, thì chúng ta phải rút lui“. Nói cách khác, phòng thủ là chính, và chiến tranh được chia thành ba giai đoạn, vùng nông thôn được sử dụng để bao vây thành thị, trong khi [các lực lượng chính] chỉ ở lại trong rừng núi… Người Trung Quốc ở thế phòng thủ và rất yếu [trong Đệ nhị Thế chiến]. Ngay cả với 400 triệu người đọ sức với quân đội Nhật Bản có 300.000 – 400.000 quân, Trung Quốc vẫn không thể đánh bại họ.

Tôi phải lặp lại điều này như thế, vì trước khi Trung Quốc gửi cố vấn cho chúng ta, một số anh em Việt Nam chúng ta không hiểu. Họ nghĩ rằng [Trung Quốc] rất có khả năng. Nhưng họ không có kỹ năng và do đó chúng ta đã không làm theo [những lời khuyên của Trung Quốc].

Năm 1952, tôi rời miền Bắc sang Trung Quốc vì tôi bị bệnh và cần điều trị. Đây là lần đầu tiên tôi đi nước ngoài. Tôi đặt câu hỏi cho họ (Trung Quốc) và thấy nhiều điều rất lạ. Có những khu vực [đã bị] quân Nhật chiếm đóng, mỗi khu có dân số khoảng 50 triệu người, nhưng không có lấy một chiến binh du kích…

Khi tôi từ Trung Quốc trở về, tôi đã gặp Bác [Hồ]. Bác hỏi tôi:

- Đây là lần đầu tiên chú đi ra nước ngoài, phải không?

Vâng, đây là lần đầu tiên tôi đi ra nước ngoài.

- Chú đã thấy gì?

Tôi thấy hai điều: Việt Nam rất dũng cảm và họ (Trung Quốc) không dũng cảm chút nào.

Tôi hiểu điều này kể từ ngày đó. Chúng ta (Việt Nam) hoàn toàn khác với họ. Lòng can đảm vốn có trong con người Việt Nam và do đó chúng ta chưa bao giờ có một chiến lược phòng thủ (ý nói ở thế thủ). Mọi người dân chiến đấu.

Gần đây, họ (Trung Quốc) đã mang hàng trăm ngàn quân vào xâm chiếm nước ta. Hầu hết, chúng ta đã sử dụng lực lượng dân quân và quân đội trong vùng để tấn công họ. Chúng ta không ở thế thủ và do đó họ phải lùi bước. Họ không thể quét sạch dù một trung đội Việt Nam, trong khi chúng ta đã xóa sổ vài trung đoàn và hàng chục tiểu đoàn của họ. Có được như vậy là vì chiến lược tấn công của chúng ta.

Đế quốc Mỹ đã đánh với chúng ta trong một cuộc chiến kéo dài. Họ rất mạnh, nhưng họ đã thua. Nhưng có một yếu tố đặc biệt, đó là những mâu thuẫn gay gắt giữa Trung Quốc và Liên Xô. [Vì điều này,] họ đã tấn công chúng ta mạnh như thế này.

… Việt Nam đã chiến đấu chống Mỹ, và đã chiến đấu rất quyết liệt, nhưng chúng ta biết rằng Hoa Kỳ là một nước rất lớn, khả năng tích lũy hơn 10 triệu quân và đưa tất cả các loại vũ khí được xem là mạnh của họ vào để đánh chúng ta. Vì vậy, chúng ta đã phải chiến đấu trong một thời gian dài để làm cho cho họ giảm leo thang. Chúng ta là những người có thể làm được điều đó, Trung Quốc thì không thể. Khi quân đội Mỹ tấn công Quong Tre (Quảng Trị?), ngay lập tức Bộ Chính trị ra lệnh đưa quân đội vào chiến đấu. Chúng ta không sợ.

Sau đó tôi đi Trung Quốc gặp Chu Ân Lai. Ông ta nói với tôi: “Điều đó (cuộc tấn công vào Quảng Trị) có lẽ là chưa từng có, có một không hai. Chỉ có một [cơ hội] trên đời này, không có cơ hội thứ hai. Không ai dám làm những điều các đồng chí đã làm“.

… Chu Ân Lai là người đứng đầu Bộ Tham mưu. Ông ta dám nói, ông ta thẳng thắn hơn. Ông ta nói với tôi: “Nếu tôi biết trước cái cách mà các đồng chí sử dụng, chúng tôi không cần Vạn lý Trường chinh“.

Vạn lý Trường chinh là gì? Vào đầu cuộc hành quân có 300.000 quân, đến cuối Vạn lý Trường chinh chỉ còn 30.000 quân. 270.000 người đã chết. Thực sự ngu ngốc khi thực hiện cách này. Nói như vậy để các đồng chí biết chúng ta đang đi trước họ như thế nào. Trong tương lai không xa, nếu chúng ta chiến đấu chống lại Trung Quốc, chúng ta chắc chắn sẽ giành chiến thắng … Tuy nhiên, sự thật là nếu một nước khác [không phải Việt Nam] chiến đấu chống lại Trung Quốc, không rõ họ có giành được chiến thắng như thế này không (như Việt Nam).

… Nếu Trung Quốc và Liên Xô thống nhất với nhau, không chắc Hoa Kỳ có dám đánh chúng ta hay không. Nếu hai nước thống nhất và liên kết với nhau để giúp chúng ta, không chắc Hoa Kỳ có dám đánh chúng ta cái cách mà họ đã đánh. Họ sẽ do dự ngay từ đầu. Họ sẽ do dự như thời Kennedy. Việt Nam, Trung Quốc và Liên Xô, tất cả đã giúp Lào và ngay lập tức Mỹ ký một hiệp ước với Lào. Họ không dám gửi quân Mỹ sang Lào, họ để cho Đảng [Nhân dân Cách mạng] Lào tham gia chính phủ ngay lập tức. Họ không dám tấn công Lào nữa.

Sau đó, khi hai nước [Liên Xô và Trung Quốc] xung đột với nhau, Mỹ được [Trung Quốc] thông báo là họ có thể tiến tới và tấn công Việt Nam mà không sợ. Đừng sợ [sự trả đũa của Trung Quốc]. Chu Ân Lai và Mao Trạch Đông đã nói với Mỹ: “Nếu các ông không tấn công tôi, thì tôi sẽ không tấn công các ông. Các ông có thể đưa nhiều quân vào miền Nam Việt Nam mà các ông muốn. Tùy các ông“.

… Hiện tại, chúng ta có biên giới với một nước rất mạnh, một nước với ý đồ bành trướng mà nếu muốn được thực hiện, phải bắt đầu với một cuộc xâm lược Việt Nam. Vì vậy, chúng ta phải chung vai gánh vác, vai trò lịch sử khác nhau. Tuy nhiên, chúng ta chưa bao giờ trốn tránh trách nhiệm lịch sử. Trước đây, Việt Nam đã thực hiện nhiệm vụ của mình, và lần này Việt Nam xác định không cho phép họ bành trướng. Việt Nam giữ độc lập riêng mình và làm như vậy cũng là để bảo vệ nền độc lập của các nước Đông Nam Á. Việt Nam kiên quyết không để Trung Quốc thực hiện âm mưu bành trướng. Trận đánh gần đây [với Trung Quốc] chỉ là vòng một. Hiện họ vẫn còn chuẩn bị nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, bất kể họ chuẩn bị đến mức độ nào, Việt Nam cũng sẽ thắng …

Tiến hành chiến tranh không phải là đi bộ thong thả trong rừng. Gửi một triệu quân vào cuộc chiến chống lại một nước ở bên ngoài liên quan đến vô số khó khăn. Gần đây họ đưa 500.000 – 600.000 binh lính để đánh chúng ta, nhưng họ đã không có thiết bị vận tải đầy đủ để cung cấp lương thực cho quân đội của họ. Trung Quốc hiện đang chuẩn bị 3,5 triệu quân, nhưng họ phải để lại một nửa số quân đó ở biên giới [Trung-Xô] để ngăn chặn Liên Xô. Vì lý do đó, nếu họ đưa 1 hoặc 2 triệu quân vào để đánh chúng ta, chúng ta sẽ không sợ bất cứ điều gì. Chúng ta chỉ có 600.000 quân tham gia, và trong tương lai gần, nếu chúng ta phải đánh với 2 triệu quân, sẽ không có vấn đề gì cả. Chúng ta không sợ.

Chúng ta không sợ bởi vì chúng ta biết cách đánh. Nếu họ đưa 1 triệu quân, họ sẽ chỉ giành được một chỗ đứng ở miền Bắc. Đi xuống vùng trung du, vùng đồng bằng và Hà Nội và thậm chí xuống dưới sẽ khó khăn hơn nữa.

Các đồng chí, như các đồng chí biết, bọn Hitler tấn công quyết liệt theo cách này, nhưng khi họ (Đức Quốc xã) đến Leningrad, họ không thể vào được. Với thành phố, người dân và các công trình phòng thủ, không thể nào thực hiện các cuộc tấn công hiệu quả chống lại mỗi người và mọi người. Thậm chí đánh trong hai, ba hoặc bốn năm, họ vẫn không thể vào. Mỗi làng ở đó (ở miền Bắc) thì giống như thế. Đường lối của chúng ta là: mỗi huyện là một pháo đài, mỗi tỉnh là một chiến trường. Chúng ta sẽ chiến đấu và họ sẽ không thể nào vào được cả.

Tuy nhiên, không bao giờ đủ khi chỉ đánh kẻ thù ở tiền tuyến. Phải có một đội quân hậu tập trực tiếp mạnh mẽ. Sau trận đánh gần đây kết thúc, chúng tôi đánh giá rằng, trong tương lai không xa, chúng ta phải đưa thêm vài triệu người đến mặt trận phía Bắc. Nhưng kẻ thù đến từ phía bắc, hậu phương trực tiếp cho cả nước phải là Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh … Hậu phương trực tiếp bảo vệ thủ đô phải là Thanh Hóa và Nghệ Tĩnh. Chúng ta có đủ người. Chúng ta có thể đánh chúng bằng nhiều cách … Chúng ta có thể sử dụng 2-3 quân đoàn để giánh một cú mạnh vào chúng, sẽ làm cho chúng lảo đảo, trong khi chúng ta tiếp tục giữ đất của chúng ta. Để đạt được mục đích này, mỗi người lính phải là một người lính thực và mỗi đội phải là một đội hình thực sự.

- Bây giờ đã đánh xong một trận rồi, chúng ta không nên chủ quan. Chủ quan và đánh giá thấp kẻ thù là sai lầm, nhưng thiếu tự tin cũng sai. Chúng ta không chủ quan, chúng ta không đánh giá thấp kẻ thù. Nhưng chúng ta cũng tự tin và vững tin vào chiến thắng của chúng ta. Chúng ta cần phải có cả hai điều này.

- Bây giờ Trung Quốc có âm mưu đánh [chúng ta] để mở rộng xuống phía Nam. Nhưng trong thời đại hiện nay họ không thể đánh và dọn dẹp một cách dễ dàng. Trung Quốc chỉ đánh Việt Nam có vài ngày mà cả thế giới đã hét lên: “Không được đụng đến Việt Nam“! Thời đại hiện nay không giống như thời xưa. Trong những ngày này, không chỉ có chúng ta và họ (muốn nói Trung Quốc). Bây giờ cả thế giới đang gắn chặt với nhau. Loài người vẫn chưa hoàn toàn đi vào giai đoạn xã hội chủ nghĩa, nhưng đây là lúc mọi người đều muốn độc lập và tự do. [Ngay cả] trên các đảo nhỏ, người dân cũng muốn độc lập, tự do.

Cả nhân loại hiện nay như thế. Điều đó là rất khác với thời xưa. Thời đó, người dân chưa nhận thức rõ những điều này. Do đó, câu của Bác Hồ: “Không có gì quý hơn độc lập tự do” là một ý tưởng của thời đại hiện nay. Đụng đến Việt Nam là đụng đến nhân loại và xâm phạm độc lập, tự do … Việt Nam là một quốc gia tượng trưng cho độc lập và tự do.

- Khi phải chiến đấu chống Mỹ, anh em chúng ta trong Bộ Chính trị đã thảo luận với nhau về vấn đề này, cân nhắc liệu chúng ta có dám đánh Mỹ hay không. Tất cả đều đồng ý đánh. Bộ Chính trị đã bày tỏ quyết tâm: để chiến đấu chống Mỹ, chúng ta không sợ Mỹ. Tất cả đều đồng tâm. Khi tất cả đã đồng ý đánh Mỹ, không sợ Mỹ, chúng ta cũng không sợ Liên Xô. Tất cả đều đồng ý. Chúng ta cũng không sợ Trung Quốc. Tất cả đều đồng ý. Nếu chúng ta không sợ ba điều này, chúng ta có thể đánh Mỹ. Đó là cách chúng tôi đã thực hiện trong Bộ Chính trị hồi đó.

Mặc dù Bộ Chính trị đã gặp và tổ chức các buổi thảo luận như thế và mọi người đồng lòng, sau này có một người đã nói với một đồng chí điều mà tôi đã nói. Đồng chí đó đặt câu hỏi cho Bộ Chính trị, hỏi lý do gì mà Anh Ba một lần nữa lại nói rằng, nếu chúng ta muốn đánh Mỹ, thì chúng ta không nên sợ Trung Quốc? Tại sao anh ấy phải nói như vậy nữa?

Lúc đó, anh Nguyễn Chí Thanh, người đã bị nghi là có cảm tình với Trung Quốc, đứng lên và nói: “Kính thưa Bộ Chính trị và kính thưa Bác Hồ, lời phát biểu của Anh Ba là đúng. Phải nói như thế (ý nói không cần phải sợ Trung Quốc), vì họ (Trung Quốc) gây rắc rối cho chúng ta nhiều điều. Họ chặn chúng ta ở chỗ này, rồi họ trói tay chúng ta ở chỗ kia. Họ không cho chúng ta đánh…“

Trong khi chúng ta đánh ở miền Nam Việt Nam, Đặng Tiểu Bình quy định rằng tôi chỉ có thể đánh ở mức trung đội trở xuống và không được đánh ở mức cao hơn. Ông ta (Đặng Tiểu Bình) nói: “Ở miền Nam, do các ông phạm sai lầm về việc đã khởi động đánh trước, các ông chỉ nên đánh ở mức trung đội trở xuống, không được đánh ở mức cao hơn“. Họ gây áp lực lên chúng ta như thế.

- Chúng ta không sợ ai cả. Chúng ta không sợ bởi vì chúng ta có lẽ phải. Chúng ta không sợ ngay cả anh trai của chúng ta. Chúng ta cũng không sợ bạn bè của chúng ta. Dĩ nhiên, chúng ta không sợ kẻ thù của chúng ta. Chúng ta đã đánh họ rồi. Chúng ta là con người, chúng ta không sợ bất cứ ai. Chúng ta độc lập. Cả thế giới biết chúng ta độc lập.

Chúng ta phải có một quân đội mạnh mẽ, bởi vì đất nước chúng ta đang bị đe dọa và bị bắt nạt … Không thể khác được. Nếu không, thì sẽ nguy hiểm vô cùng, nhưng đất nước chúng ta nghèo.

- Chúng ta có một quân đội mạnh, điều đó không có cách nào làm nhụt chí chúng ta. Có một số chính sách của Trung Quốc đối với chúng ta: xâm lược và chiếm đóng nước ta, tìm cách làm suy yếu chúng ta về kinh tế và làm cho điều kiện sống của chúng ta khó khăn. Vì những lý do này, để chống lại Trung Quốc, trước hết, chúng ta phải, không những chiến đấu, mà còn làm cho chúng ta mạnh mẽ hơn. Để đạt được mục đích này, theo tôi, quân đội của chúng ta không nên là một lực lượng lãng phí nguồn lực của nhà nước, mà nên là một lực lượng sản xuất mạnh mẽ. Khi kẻ thù đến, họ (những người lính) cầm súng ngay lập tức. Khi không có kẻ thù, thì họ sẽ sản xuất đàng hoàng. Họ sẽ là biểu tượng tốt nhất và cao nhất trong sản xuất, sản xuất nhiều hơn bất cứ người nào khác. Dĩ nhiên, đó không phải là một câu chuyện mới …

- Hiện nay, trên vai quân đội của chúng ta đang gánh vác một nhiệm vụ lịch sử: bảo vệ độc lập và tự do của chúng ta, trong khi cùng lúc bảo vệ hòa bình và độc lập trên toàn thế giới. Nếu chính sách bành trướng của bè lũ phản động Trung Quốc không thể thực hiện được nữa, sẽ là lợi ích của cả thế giới. Việt Nam có thể làm điều này. Việt Nam có 50 triệu người rồi. Việt Nam có những người bạn Lào và Campuchia và có địa thế vững chắc. Việt Nam có phe [XHCN] và tất cả nhân loại đứng về phía ta. Rõ ràng là chúng ta có thể làm điều này.

… Các đồng chí có biết người nào trong đảng chúng ta, trong nhân dân của chúng ta, nghi chúng ta sẽ thua Trung Quốc? Dĩ nhiên là không có ai cả. Nhưng chúng ta phải duy trì các mối quan hệ bạn bè của chúng ta. Chúng ta không muốn hận thù dân tộc. Tôi lặp lại: tôi nói điều này bởi vì tôi chưa bao giờ cảm thấy căm thù Trung Quốc. Tôi không cảm thấy như thế. Đó là họ đánh chúng ta.

Hôm nay tôi cũng muốn các đồng chí biết rằng trong thế giới này, người đã bảo vệ Trung Quốc là chính tôi! Đó là sự thật. Tại sao vậy? Bởi vì trong hội nghị tháng 6 năm 1960 tại Bucharest, 60 đảng đứng lên chống lại Trung Quốc, nhưng chỉ có mình tôi là người bảo vệ Trung Quốc. Việt Nam chúng ta là thế. Tôi sẽ tiếp tục lặp lại điều này: Tuy họ cư xử tồi tệ, chúng ta biết rằng người của họ là bạn của chúng ta. Về phía chúng ta, chúng ta không cảm thấy xấu hổ với Trung Quốc. Tuy nhiên, âm mưu của một số lãnh đạo (Trung Quốc) là một vấn đề khác. Chúng ta coi họ chỉ là một bè lũ. Chúng ta không nói tới đất nước họ. Chúng ta không nói người dân Trung Quốc xấu với chúng ta. Chúng ta nói bè lũ phản động Bắc Kinh. Tôi nói lại điều này một lần nữa một cách nghiêm túc như thế.

Vì vậy, chúng ta hãy kiểm soát tình hình chặt chẽ, trong tư thế sẵn sàng chiến đấu, và không bao giờ nới lỏng sự cảnh giác. Về mối quan hệ với Trung Quốc cũng vậy. Tôi tin rằng trong 50 năm, hoặc thậm chí trong 100 năm, chủ nghĩa xã hội có thể thành công, và lúc đó chúng ta sẽ không bị vấn đề này nữa. Nhưng sẽ mất một thời gian [dài] như thế. Vì vậy, chúng ta phải chuẩn bị và sẵn sàng trên mọi phương diện.

Hiện nay, chắc chắn không ai còn nghi ngờ nữa. Nhưng cách đây năm năm, tôi dám chắc rằng [không có] đồng chí nào nghi ngờ Trung Quốc có thể đánh chúng ta. Nhưng có. Đó là vì các đồng chí [này] không có kiến thức về vấn đề này. Nhưng đó không phải là trường hợp của chúng tôi (Lê Duẩn và ban lãnh đạo). Chúng ta biết rằng Trung Quốc đã và đang tấn công chúng ta [cách đây] mười năm hoặc hơn. Vì vậy chúng ta không ngạc nhiên [về cuộc tấn công của Trung Quốc vào tháng 1 năm 1979].

Theo TRE LÀNG

-----------------------

Bài liên quan:
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Hơn cả cướp!

Làm cán bộ mấy năm mà trong nhà có cả ngàn tỉ đồng, còn kinh khủng hơn địa chủ, tư sản ngày xưa

BLA: Kính chuyển ý kiến này lên Ban phòng chống tham nhũng Trung Ương. Đây là thông tin tội phạm gây choáng váng cho toàn xã hội. Nhất là khi đất nước hãy còn rất nghèo, nợ công con cháu sợ trả không nổi. Đất nước tôi sao lại có giai đoạn thế này, khi mà người ta luôn hô hào chống tham nhũng, học tập tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Tại phiên thảo luận ở tổ đại biểu Quốc hội về dự án Bộ luật hình sự (sửa đổi) chiều ngày 26-5-2015, nhiều ĐBQH không đồng tình quan điểm bỏ hình phạt tử hình đối với nhóm tội phạm tham nhũng. Trong phần phát biểu của mình thiếu tướng Nguyễn Xuân Tỷ, phó giám đốc Học viện Quốc phòng (đại biểu Bến Tre) đã đưa ra những thông tin gây shock khi cho rằng làm cán bộ mấy năm mà có hàng vài ba trăm tỷ đồng (tức là mấy chục triệu USD), còn kinh khủng hơn địa chủ tư sản ngày xưa!

Cụ thể, báo Tuổi Trẻ đăng nguyên văn phát biểu của ĐBQH Nguyễn Xuân Tỷ như sau:

Thiếu tướng Nguyễn Xuân Tỷ rất gay gắt:

“Tội tham ô, tham nhũng mà không tử hình thì không hợp lòng dân, bởi tham nhũng không phải là những người nhỏ mà đều là người làm to có chức có quyền, đục khoét công quỹ, bóc lột nhân dân”.

Dẫn ví dụ từ cuộc chiến “đả hổ diệt ruồi” của Trung Quốc đã phát hiện nhiều con “hổ lớn” phải dùng xe vận chuyển cả tấn tiền, vàng, ngọc... ông Tỷ cho rằng: “Ở ta cũng có thể có những cỡ đó nhưng vì chưa tìm ra mà thôi. Làm cán bộ mấy năm mà trong nhà có vài ba trăm tỉ đồng, thậm chí cả ngàn tỉ đồng thì lấy ở đâu ra nếu không tham nhũng.

Có một đội ngũ giàu rất nhanh, cưỡi lên đầu nhân dân, còn kinh khủng hơn địa chủ, tư sản ngày xưa. Chúng ta quyết tâm chống tham nhũng nhưng chưa có chuyển biến gì nhiều. Tôi đề nghị giữ nguyên mức tử hình, nếu bỏ mức án này thì về không biết trả lời với cử tri thế nào”.

Kinh khủng khiếp!
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trực tiếp nghe phát ngôn ‘gây choáng’ của BNG Trung Quốc



Bộ Ngoại giao TQ: “Về vấn đề có xảy ra xung đột hay không giống như có một lớp sương mù. Trong đó có một số quốc gia cố tình làm to vấn đề của Biển Đông” (?)

LTS: Ngày 11/5/2015, Bộ Ngoại giao Trung Quốc, với hai đại diện là người phát ngôn Hồng Lỗi và ông Âu Dương, Vụ trưởng Vụ Biên giới và Đại dương của Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã có cuộc làm việc với đoàn nhà báo đến từ 14 quốc gia trong vùng Châu Á – Thái Bình Dương. Trong cuộc làm việc này, Trung Quốc trả lời các câu hỏi về quan điểm và lập luận của nước này vấn đề Biển Đông. 
Ghi chép của phóng viên VietNamNet Hoàng Hường trong buổi làm việc.
>> Xem lại Phần 1 'Ý kiến học giả':
“Phải được TQ cho phép”??
Sachin Parashar, phóng viên Ấn Độ đặt câu hỏi: “Vấn đề Biển Đông đang thu hút sự chú ý của toàn thế giới, đặc biệt các diễn biến gần đây và các tuyên bố của Trung Quốc. Ông có thể nói rõ hơn về vấn đề này?”
Ông Âu Dương cho rằng “TQ luôn chủ trương thúc đẩy phát triển chung và hợp tác” nhưng đồng thời lại nói:  “các hoạt động khai thác dầu khí ở biển đảo phải có sự đồng ý của chính phủ TQ” (!) “Tôi nghĩ các nước ven biển dù có tranh chấp gì, giống như tôi vừa nói đều sẽ theo phương thức bàn bạc hòa bình giải quyết các vấn đề tranh chấp liên quan”, lời ông Dương.
Ông Hồng Lỗi tiếp lời: “Vấn đề Biển Đông không phải do chúng tôi gây ra” (!) và “thái độ ngoại giao của chúng tôi không thay đổi”.
Ngạc nhiên hơn, ông Âu Dương cho rằng: “TQ không phải nước xây dựng nhiều. Tôi có nhiều ảnh chứng minh việc này”.

Phóng viên Ấn Độ Sachin Parashar hỏi lại: “Vừa rồi ông có nói đến bản đồ vệ tinh có rất nhiều ảnh nước khác xây dựng quần đảo, ông có thể chia sẻ các ảnh này với chúng tôi không, và ông có thể cho chúng tôi biết những hình ảnh này lấy từ đâu không?
Ông Âu Dương: “Đây là ảnh do CSS Hoa Kỳ công bố, chúng tôi thấy trên mạng” nhưng ông Dương lại nói “Đây lại là một câu chuyện dài, nếu kể thì phải mất thời gian” và chuyển sang… vụ kiện của Philippines. “Các nội dung đơn kiện trong vụ phân xử do Philippines đưa ra, một là liên quan đến chủ quyền không thuộc về phạm vi và lĩnh vực của Công ước Luật Biển”.
“TQ không chấp nhận và không tham gia vụ phân xử Philippines chính là hành vi tuân theo Luật Quốc tế, bởi đây là quyền lợi chủ quyền do Công ước và Luật Quốc tế trao cho TQ” (?) và “chúng tôi hy vọng rằng Philippines có thể sớm quay lại quỹ đạo giải quyết tranh chấp bằng phương thức bàn bạc. TQ không chấp nhận và không tham gia vụ phân xử”.
Ông Dương không nhắc lại chuyện ảnh “xây dựng” mà kết luận: “Đối với vấn đề Biển Đông, có lúc chúng ta nhìn nhận vấn đề này giống như có một lớp sương mù, trong đó có một số quốc gia cố tình làm to vấn đề của Biển Đông” (!)
Trung Quốc, Biển Đông, chủ quyền, đối thoại, xung đột
Ông Hồng Lỗi (trái) và ông Âu Dương trong buổi làm việc. Ảnh: Jim Gomez
TQ xây dựng đảo muộn nhất??
Trả lời câu hỏi của phóng viên Fitriyan Zamzami, Indonesia: “TQ có kế hoạch tuyên bố và giới thiệu về Air Defense Identification Zone (ADIZ) không?”. Ông Âu Dương cho rằng “xây dựng ADIZ hay không phụ thuộc vào sự an toàn của hàng không có bị đe dọa hay không” và “tình hình tổng thể ở Biển Đông hiện nay là tương đối ổn định (!) TQ và các nước ASEAN đang triển khai hợp tác thiết thực theo các nội dung DOC, đồng thời đang tiến hành việc bàn bạc COC”.
Nhà báo Ravi Velloor của Singapore hỏi: “Vừa rồi ông nói về có một số nước trong ASEAN đồng tình với việc xây dựng đảo biển của TQ, ông có thể cho biết là những nước nào không? Câu hỏi thứ hai, cảm giác của các nước ASEAN là Trung Quốc ngày càng rời xa với Tuyên ngôn Biển Đông, thì đừng có nói về các Quy tắc cư xử đã ký kết nữa. Không biết ông có phản hồi gì về những kiểu nói này?”
Ông Âu Dương trả lời rằng TQ và các quốc gia liên quan đã “khai thông rộng rãi”, “TQ không phải là quốc gia đầu tiên xây dựng các đảo và bãi cạn”, “các nước ASEAN đều hiểu rõ, TQ là quốc gia xây dựng muộn nhất”(!?). Ông Âu Dương cho rằng nhiều quốc gia “không hiểu tình hình” nên “quay sang chỉ trích và ném đá giấu tay TQ”.
Về câu hỏi thứ hai, ông Âu Dương hỏi “có chứng cứ nào TQ ngày càng rời xa DOC không?”. Ông Âu Dương cho rằng TQ “rất kiềm chế và nhường nhịn” trong vấn đề Biển Đông (?)
Sachin Parashar: “Có phải sau khi TQ lấp biển thành đảo, việc xây dựng ADIZ vẫn là một chính sách của TQ hay không? Câu hỏi thứ hai, vừa rồi ông đề cập đến các hành vi xây dựng của các nước khác là vào 20 năm trước, nhưng vào năm 2002 có một sự kiện quan trọng là ký kết DOC đã quy định rõ là không khuyến khích các nước có xây dựng mới đối với các đảo Biển Đông. Nhưng năm ngoài TQ lại lấp biển thành đảo và xây dựng quy mô lớn bị các nước khác phản đối. Tôi muốn hỏi các công trình xây dựng quy mô lớn của TQ tuân theo DOC thế nào?
Trả lời câu hỏi đầu tiên, ông Âu Dương “đã nói rõ rồi”. Câu hỏi thứ hai, ông Âu Dương cho rằng: “không biết các bạn có đọc kỹ từng điều khoản một của nội dung DOC hay không? DOC ký kết vào năm 2002, trong đó có một điều khoản là các nước không được chiến lĩnh đảo mới không chủ, còn một cái là không có các hành động phức tạp hóa tình thế”(?!)
Ông Dương không trả lời vấn đề “tuân theo DOC thế nào?”
Trả lời câu hỏi “Tại sao TQ luôn từ chối các nước khác tham gia và cùng giải quyết vấn đề? Ông nghĩ thế nào về vai trò của Hoa Kỳ trong vấn đề Biển Đông?” của phóng viên Việt Nam Hoàng Hường. Ông Âu Dương nói: “lập trường của TQ vẫn như trước, thông qua đàm phán hòa bình và bàn bạc đã giải quyết các vấn đề biên giới lục địa với 12 trong 14 quốc gia lân cận, đã giải quyết vấn đề về Vịnh Bắc Bộ với Việt Nam” và “thông qua bàn bạc để giải quyết tranh chấp, kết quả đạt được sẽ là lâu dài nhất”.
Ông Dương cho rằng DOC “quy định các tranh chấp về Biển Đông do các nước đương sự trực tiếp bàn bạc giải quyết” và “Tôi đã từng tham gia quá trình giải quyết vấn đề biên giới Trung –Việt, mất 5 năm thời gian để tham dò biên giới Trung – Việt. Quá trình này khiến tôi càng kiên định giữa các nước đương sự nên thông qua bàn bạc để giải quyết tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ và chủ quyền biển”, lời ông Dương.
Phóng viên Siddhartha Mahanta, Washington, Mỹ: “Ông vừa rồi nói đến dù vấn đề chủ quyền của TQ như thế nào, tự do hàng hải cũng sẽ không chịu sự ảnh hưởng. Cách nói này có phải cũng phù hợp cho các tàu quân sự ngoài khu vực, ví dụ như của Hoa Kỳ?
Ông Âu Dương: “Theo Luật Quốc tế, gồm Công ước Luật Biển, các tàu thủy, gồm máy bay trong vùng biển nhất định đều có quyền hàng hải tự do”, “TQ sẽ kiên quyết theo quy định của Luật Biển bào vệ và đảm bảo tự do hàng hải tại vùng biển Biển Đông”.
Tuy nhiên, ông Dương cho rằng “cho đến nay Hoa Kỳ vẫn chưa gia nhập Công ước Biển, vậy hai bên sẽ có ý kiến bất đồng khi hiểu về một số điều khoản của Công ước Biển”.
(Còn nữa)
Hoàng Hường
*Loạt bài được thực hiện tại Hawaii (Mỹ), Bắc Kinh, Hải Nam (Trung Quốc), Masinloc, Manila (Philippines) và Singapore. Tuần Việt Nam giữ Bản quyền đặc biệt, đề nghị các báo không sao chép dưới mọi hình thức.

Nguồn: Vietnamnet
Phần nhận xét hiển thị trên trang