Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 24 tháng 5, 2015

Võ mồm!

CHIẾN TRANH DƯ LUẬN TRÊN BIỂN ĐÔNG - ĐIỀU ÍT ĐƯỢC NHẮC ĐẾN

Nhiều nhà nghiên cứu về Biển Đông của Việt nam đã lên tiếng cảnh báo về sự non kém, chậm trễ trong nghiên cứu của ta so với TQ. Biết thế nhưng lâu nay tôi chưa hình dung được sự chênh lệch giữa ta và TQ trong việc này là như thế nào. Đọc bài này một mặt cho tôi hình dung ra cuộc chiến thông tin về Biển Đông mà TQ tiến hành rộng lớn, tinh vi và nguy hiểm như thế nào. Đồng thời cảm thấy chát đắng khi nghĩ đến việc lẽ ra mình cũng phải đẩy mạnh việc nghiên cứu, tuyên truyền để chống lại, đằng này lại bưng bít, ngăn cản, thậm chí cấm đoán, bắt bớ những ai nêu cao khẩu hiệu " BIỂN ĐÔNG LÀ CỦA VN ".       

Chiến tranh dư luận trên Biển Đông và sức mạnh của các tác phẩm hư cấu

20/05/2015 11:03

(TNO) Những ngày tháng 5, Biển Đông đột ngột nhộn nhịp khác thường với những chuyến qua lại, phát biểu của lãnh đạo các nước trong và ngoài khu vực, bình luận của các chuyên gia và lo lắng của cộng đồng về các hoạt động xây dựng đảo nhân Tạo chưa từng có trên các rạn san hô.


Chiến tranh dư luận trên Biển Đông và sức mạnh của các tác phẩm hư cấu - ảnh 1Trung Quốc cấp tập xây dựng các công trình trái phép tại quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Trong ảnh là việc xây dựng, mở rộng phi pháp tại đảo Gạc Ma hồi tháng 12.2014 - Ảnh: Mai Thanh Hải 
Đây cũng là thời gian thế giới online phát sốt vì trailer của bộ phim Đạo mộ bút ký, được hứa hẹn sớm ra mắt khán giả ngày 18.6. Các facebooks, fanpages tràn ngập hình ảnh các diễn viên Đường Yên, Lý Dịch Phong, Dương Dương, Lưu Thiên Tá, Lý Thần Hạo... Các trang mạng Việt Nam cũng đã có nhiều bài giới thiệu, ca ngợi về dự án đình đám này.
Đạo mộ bút ký được dàn dựng từ bộ tiểu thuyết đề tài trộm mộ đình đám của Nam Phái Tam Thúc. Hoàn thành trong 5 năm (2006 - 2011) tác phẩm được coi là “thần tác” trong giới xuất bản Trung Quốc. Lượng tiêu thụ sách tại Trung Quốc luôn đứng đầu bảng, nhận được sự ủng hộ cuồng nhiệt và lời khen ngợi của hàng trăm vạn độc giả. Cùng với tác phẩm Ma thổi đèncủa Thiên Hạ Bá Xướng, Đạo mộ bút ký đánh dấu thời đại mới của tiểu thuyết Trung Quốc - “Đạo mộ thời đại”.
Không có gì đáng ngạc nhiên trong thời đại hội nhập toàn cầu, giới trẻ Việt Nam lại không háo hức đón chờ một thành tựu văn học và nghệ thuật của nước láng giềng vĩ đại. Tác phẩm thực hiện theo hình thức TV series, dự kiến kéo dài 8 phần, mỗi phần gồm 12 tập, mỗi tập 60 phút phát sóng liên tục trong 8 năm. Vì vậy sức ảnh hưởng của nó sẽ rất lớn.
Chiến tranh dư luận trên Biển Đông và sức mạnh của các tác phẩm hư cấu - ảnh 2Công trình xây dựng phi pháp của Trung Quốc ở Gạc Ma, ảnh chụp ngày 13.5  - Ảnh: Mai Thanh Hải 

Chiến lược tam chiến của TQ
Hai hành động, hai sự kiện trong cùng khoảng thời gian, tưởng xa lạ, ngẫu nhiên nhưng không hẳn vô tình. Chúng cùng có một mục tiêu củng cố những tuyên bố chủ quyền phi lý của Trung Quốc trên Biển Đông với những phương thức khác nhau.
Chúng cùng là hai mặt của chiến lược tam chiến (san zhong zhanfa; 三种战法; tam chủng chiến pháp), hay chiến tranh ba mặt mà vào năm 2003, Trung ương đảng Cộng sản và Quân ủy Trung ương Trung Quốc đã phê chuẩn.


Sẽ không có gì đáng nói nếu bối cảnh củaNộ hải tiềm sa (một trong những serie củaĐạo mộ bút ký) không liên quan đến quần đảo Hoàng Sa mà Trung Quốc gọi là Tây Sa. Nội dung mô tả cuộc khai quật một cổ mộ thất của một công trình sư đời Minh đặt ở Tây Sa (tên Việt Nam - Hoàng Sa) gần đảo Vĩnh Hưng (tên Việt Nam là đảo Phú Lâm). Chỉ ngay trong quyển 1 phần 2 đã có hàng loạt các địa danh mạo nhận các đảo Việt Nam. Tiêu đề của chương 8 là Đảo Vĩnh Hưng. Chương 14 miêu tả chi tiết bão tố trở trời mà đoàn tìm mộ gặp phải ở Tây Sa. Địa điểm Tây Sa còn được nhắc đến nhiều lần trong các chương khác tạo quan hệ liên hoàn với các sự kiện, các địa điểm trong tác phẩm.
Hai hành động, hai sự kiện trong cùng khoảng thời gian, tưởng xa lạ, ngẫu nhiên nhưng không hẳn vô tình. Chúng cùng có một mục tiêu củng cố những tuyên bố chủ quyền phi lý của Trung Quốc trên biển Đông với những phương thức khác nhau. Chúng cùng là hai mặt của chiến lược tam chiến (san zhong zhanfa; 三种战法; tam chủng chiến pháp), hay chiến tranh ba mặt mà vào năm 2003, Trung ương đảng Cộng sản và Quân ủy Trung ương Trung Quốc đã phê chuẩn. Đây là cuộc chiến hỗ trợ cho các hoạt động quân sự nhắm giành thế thượng phong cho Trung Quốc trong các tranh chấp tương lai. Khái niệm “chiến tranh 3 mặt” bao gồm: chiến tranh dư luận, tâm lý và pháp lý.
Chiến tranh pháp lý đã được ứng dụng rộng rãi. Đường yêu sách 9 đoạn không chỉ trên trên bản đồ mà đã được đưa vào tới các hộ chiếu điện tử. Công ước Luật biển UNCLOS và các công ước quốc tế khác được chọn lọc, giải thích sai lệch để biện minh cho các hành động như cấm đánh bắt cáhàng năm, kéo giàn khoan HD-981 vào vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam, xây dựng trái phép các đảo nhân tạo, xua đuổi ngư dân, chuẩn bị thiết lập các vùng nhận dạng phòng không. Luật quốc nội được sử dụng nhằm mở rộng quyền quản hạt và thực hiện quyền lực ở Biển Đông như các luật về vùng lãnh hải, đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, các quy định thành lập thành phố Tam Sa …
Chiến tranh dư luận trên Biển Đông và sức mạnh của các tác phẩm hư cấu - ảnh 3"Trung Quốc phải ngừng ngay các hoạt động xây dựng" - Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ Antony Blinken nói tại buổi tiếp xúc báo giới trong và ngoài nước vào chiều 19.5 tại Tổng lãnh sự quán Mỹ ở TP.HCM khi đề cập đến việc Trung Quốc gia tăng bồi đắp các đảo nhân tạo, xây dựng các công trình ở Trường Sa -  Ảnh: Diệp Đức Minh
 "Chiến tranh dư luận" hay còn gọi là chiến tranh thông tin, chiến tranh tư tưởng công chúng tạo nền tảng giành lấy thế thắng áp đảo trên phương diện chiến tranh tâm lý và chiến tranh pháp lý. Đó là kiểu chiến tranh hoạt động liên tục, không ngừng nghỉ nhắm đến tác động nhận thức và thái độ. Chiến tranh dư luận nhấn mạnh đến tất cả các công cụ truyền tin và ảnh hưởng công chúng như phim ảnh, truyền hình, sách báo, internet, và mạng lưới truyền thông toàn cầu. 



Trách nhiệm tìm hiểu lịch sử, bảo vệ sự thật không chỉ thuộc giới trẻ. Vụ việc đặt ra câu hỏi cho các nhà quản lý, các nhà công tác tư tưởng, nghệ thuật, các thầy cô giáo... đến bao giờ chúng ta mới có được những tác phẩm về người thực việc thực của đội Hoàng Sa, Bắc Hải, của những người con Việt đã ngã xuống ở Hoàng Sa, ở Gạc Ma, ở các địa danh khác của Tổ quốc, đến bao giờ người Việt mới tự mình viết sử làm sử, dạy sử để con cháu có đủ kháng thể chống lại những ngoại lai không lành mạnh, để không còn tình trạng chỉ dựa vào Google, vào thông tin mạng chưa kiểm chứng và nhớ sử người hơn sử Việt Nam.


Bốn trụ cột của chiến tranh truyền thông:Một là, chấp hành từ trên xuống, có nghĩa là nỗ lực của cuộc chiến này phải từ lãnh đạo từ cao đi xuống đến tất cả các ngành các giới về cả nội dung và thời gian biểu.
Hai là, nhấn mạnh tiên hạ thủ vi cường, tức phát thanh, phát sóng, phát hình trước, dẫn dắt cuộc tranh luận. Nhấn mạnh tính chính đáng và cần thiết của các hoạt động, nhấn mạnh quốc lực và phô diễn sức mạnh vượt trội. Làm tê liệt ý chí chiến đấu của đối phương.
Ba là, uyển chuyển và phản ứng nhanh, tức là các hoạt động phải linh hoạt và thích ứng với tình hình chính trị và quân sự. Đẽo gọt chương trình cho khán thính giả mục tiêu trong nước và quốc tế.
Bốn là, tận dụng các nguồn lực sẵn có, tức là kết hợp các hoạt động thời bình và thời chiến. Bảo đảm quân dân trong nước đoàn kết trong chương trình tuyên truyền trong cả thời bình lẫn thời chiến, gây ảnh hưởng đối với ý kiến trong nước và quốc tế. Thông tin giả, chứng cứ giả được đưa dần dần thông qua sức hút quyến rũ của phim ảnh, game…sẽ góp phần uốn nắn các niềm tin trong công chúng, thay đổi nhận thức của đối thủ theo thời gian, làm địch thủ e sợ, nghi ngờ, không dám hành động chống lại lợi ích được coi là của Trung Quốc. Ru ngủ và đánh úp theo kiểu xuất kỳ bất ý, công kỳ vô bị, mưa lâu thấm dần.
Đó không còn là những lời cảnh báo mà đã là một phần sự thật. Người dùng Việt Nam hẳn còn nhớ phần mềm Wechat, sản phẩm đạt tầm thế giới với sự phát triển nhanh chóng về lượng người dùng, đạt con số 300 triệu trong tháng 1.2013.
Ngày 14.12.2012, ngay sau khi được bầu làm Tổng bí thư, Chủ tịch Tập Cận Bình đã đến thăm Tencent, công ty viết phần mềm Wechat. Ông Tập đã có bài phát biểu dài 40 phút, nhấn mạnh vai trò quan trọng của internet và khẳng định đảng, nhà nước Trung Quốc sẽ đầu tư và ủng hộ cho những công ty CNTT, internet như Tencent phát triển. Đồng thời, ông Tập còn yêu cầu các đơn vị này phải nỗ lực tuyên truyền về chủ quyền, chính sách của Trung Quốc thông qua các sản phẩm đã đạt ngưỡng toàn cầu hóa như Wechat.
Như mọi người dùng trên thế giới, hơn 1 triệu người dùng Việt Nam hồ hởi đón nhận tiện ích này với một cái kích chuột xác nhận không để ý tới điều khoản "đồng ý mọi thông tin trên Wechat là sự thật”. "Sự thật" ở đây là tấm bản đồ "đường lưỡi bò" ghi nhận Hoàng Sa, Trường Sa thuộc chủ quyền Trung Quốc.
Chiến tranh dư luận trên Biển Đông và sức mạnh của các tác phẩm hư cấu - ảnh 4Việc hút cát để xây đảo đang tiến hành ở 2 nơi tại phía tây nam Đá Su Bi với 4 tàu hút cát cùng hơn 12 tàu xây dựng khác - Ảnh vệ tinh DigitalGlobe 
Bản đồ "đường lưỡi bò" còn được các nhà khoa học Trung Quốc tìm cách đưa vào các ấn phẩm khoa học vốn trung lập về chính trị và các tranh chấp lãnh thổ. Tạp chí Nature năm 2011 đã phải ra tuyên bố rút bản đồ này sau nỗ lực của 57 nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài đứng đầu là GS Phạm Quang Tuấn (Australia) đòi hỏi phải trả lại sự trung thực cho khoa học.
Các bản đồ chính trị tìm kiếm thúc đẩy các yêu sách tranh chấp lãnh thổ không có chỗ trong các bài báo khoa học. Các nhà nghiên cứu cần giữ mối quan hệ thân thiện bằng việc phi chính trị hóa công việc của họ. Google cũng đã âm thầm rút lại các bản đồ có các địa danh gây tranh cãi trong quan hệ quốc tế.
 Thủ thuật bản đồ "đường lưỡi bò" được cố ý lồng ghép tinh vi vào game
Trong lĩnh vực Game, thủ thuật bản đồ "đường lưỡi bò" đã được lồng ghép tinh vi trong các game ăn khách mà các công ty game Việt Nam đã vô tình nhập vào trong các năm 2011-2012 …
Loại game “hành động liên hợp Nam Hải” do Hoàn Cầu thời báo hợp tác với Công ty Wargaming, một tên tuổi lớn trong làng game toàn cầu còn kêu gọi người chơi trên toàn thế giới đóng góp ủng hộ cho binh lính Trung Quốc đồn trú trái phép tại Trường Sa thông qua cách tích lũy thời gian chơi của game thủ, thưởng các chuyến du lịch tới Hoàng Sa cho game thủ… Bằng hình thức game online, các công ty game Trung Quốc với sự tiếp tay vô tình về kinh tế của các công ty mạng các nước (trong đó đáng tiếc cũng có công ty Việt Nam), đang tiêm nhiễm vào nhận thức của một bộ phận người chơi về những cái gọi là “chủ quyền” của Trung Quốc ở biển Đông, quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa - Việt Nam), Nam Sa (Trường Sa - Việt Nam) thuộc Trung Quốc, làm ru ngủ và thay đổi dần nhận thức của giới trẻ.
Các tác phẩm ăn khách nhanh chóng được dàn dựng thành phim ảnh, thành game để mở rộng tuyên truyền, thu hút được nhiều hơn các khán giả, game thủ thông qua các thần tượng, các diễn viên được yêu quý của mình.
Hư cấu là một phần của đời sống văn học nghệ thuật và làm đẹp thêm cho văn học nghệ thuật. Song hư cấu không phải là tự do tuyệt đối khi nó đụng chạm đến các vấn đề pháp l‎ý, tình cảm, văn hóa và tinh thần dân tộc. Đã bao giờ trước máy tính, bạn đặt câu hỏi nội dung hư cấu của một bộ phim, một trò chơi sao cứ nhất thiết phải gắn với Biển Đông, với Tây Sa, Nam Sa.
Các nhà nghiên cứu phương Tây như Michael Flecker, François-Xavier Bonnet đã lật tẩy mánh lới của các nhà khảo cổ Trung Quốc nhằm thao túng các tài liệu: cổ vật có thể từ viện bảo tàng mang chôn ở hải đảo... Giới học thuật phương Tây đã được cảnh báo: “Loại "Khảo cổ ái quốc" có nhiều kẽ hở, cần thận trọng trước khi dựa vào chúng để thông qua phán quyết về các tranh chấp lãnh thổ” .
Đạo mộ bút ký với những hư cấu không có thật ‎về tìm kiếm mộ cổ trên đảo Vĩnh Hưng và vùng biển Tây Sa ngụ ý đưa dần thông tin vào tâm trí người xem, ngầm mặc định rằng từ đời Minh, đời Tống người Trung Quốc đã có nhiều hoạt động quản lý vùng biển này, thậm chí xây dựng công trình lớn ở Tây Sa. 
Cái bẫy Wechat 
Ngày 14.12.2012, ngay sau khi được bầu làm tổng bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã đến thăm Tencent, công ty viết phần mềm Wechat. Ông Tập đã có bài phát biểu dài 40 phút, nhấn mạnh vai trò quan trọng của internet và khẳng định đảng, nhà nước Trung Quốc sẽ đầu tư và ủng hộ cho những công ty CNTT, internet như Tencent phát triển. Đồng thời, ông Tập còn yêu cầu các đơn vị này phải nỗ lực tuyên truyền về chủ quyền, chính sách của Trung Quốc thông qua các sản phẩm đã đạt ngưỡng toàn cầu hóa như Wechat.
Như mọi người dùng trên thế giới, hơn 1 triệu người dùng Việt Nam hồ hởi đón nhận tiện ích này với một cái kích chuột xác nhận không để ý tới điều khoản "đồng ý mọi thông tin trên Wechat là sự thật”.
"Sự thật" ở đây là tấm bản đồ "đường lưỡi bò" ghi nhận Hoàng Sa, Trường Sa thuộc chủ quyền Trung Quốc.
Trong thời đại thông tin, quyền lựa chọn là của công chúng, giữa một bên là thú vui từ một bộ phim, một tác phẩm, một game, show của nước ngoài lồng ghép hình ảnh sai lạc về lịch sử của đất nước với một bên là lòng yêu Tổ quốc Việt Nam và sự thật lịch sử.
Sau Đạo Mộ bút ký, sẽ chẳng có gì ngăn cản một bộ phim về Trịnh Hòa được bấm máy để tiêm nhiễm cho công chúng lịch sử không thật, không được kiểm chứng về quản lý Tây Sa, Nam Sa?
Trách nhiệm tìm hiểu lịch sử, bảo vệ sự thật không chỉ thuộc giới trẻ. Vụ việc đặt ra câu hỏi cho các nhà quản lý, các nhà công tác tư tưởng, nghệ thuật, các thầy cô giáo... đến bao giờ chúng ta mới có được những tác phẩm về người thực việc thực của đội Hoàng Sa, Bắc Hải, của những người con Việt đã ngã xuống ở Hoàng Sa, ở Gạc Ma, ở các địa danh khác của Tổ quốc, đến bao giờ người Việt mới tự mình viết sử làm sử, dạy sử để con cháu có đủ kháng thể chống lại những ngoại lai không lành mạnh, để không còn tình trạng chỉ dựa vào Google, vào thông tin mạng chưa kiểm chứng và nhớ sử người hơn sử Việt Nam.
Một đất nước hội nhập luôn rộng mở đón nhận những tri thức, những thành tựu khoa học, văn hóa nghệ thuật tiên tiến của nhân loại nhưng không thể để văn hóa dân tộc bị hòa tan.
Chiến tranh dư luận trên Biển Đông và sức mạnh của các tác phẩm hư cấu - ảnh 5Infographic: Vị trí các đảo nhân tạo Trung Quốc xây phi pháp ở Trường Sa - Thực hiện: Huy Sơn
Nguyễn Hồng Thao
(Dự án Đại sự ký Biển Đông)
Phần nhận xét hiển thị trên trang

"Âm hưởng.." thôi nhé, đừng có "Âm dương" hay âm gì thì khốn! Trông cụ Khiêu thấy thương thương, già rồi thì nghỉ, ham vui, ham sống quá làm gì cho cực?

ÂM HƯỞNG LY BIỆT TRONG ĐH NHÀ VĂN KHU VỰC CÁC CƠ QUAN TW



ĐẠI HỘI NHÀ VĂN KHU VỰC CÁC CƠ QUAN TRUNG ƯƠNG 

Trần Nhương
Thứ bẩy ngày 23.5. 2015

@ 124 nhà văn trúng cử đi Đại hội 9 và một số dự khuyết

TNc: Dù vào ngày thứ Bảy, dù thời tiết Hà Nội hôm nay nắng trên 37 độ, các nhà văn khối này vẫn nườm nượp kéo về hội trường Báo Nhân dân để họp đại hội. Nhiều đồng nghiệp vừa qua ốm đau, phẫu thuật cũng cố đến dự như Trần Chinh Vũ, Mai Linh, Lê Đình Cánh...Nhiều nhà văn đang mạng trọng bệnh cũng đến dự như để chia tay bạn bè. Vui gặp gỡ nhưng cũng buồn nao lòng !

Khối các cơ quan TƯ có số lượng hội viên khá đồ sộ, tới 246 nhà văn, vắng mặt 89 vị (con số này có thay đổi chút ít vì có nhà văn lắc thắc đến sau). Trên hàng ghế đầu có ông Đào Duy Quát bây giờ ở Hội đồng LLPB văn học nghệ thuật TƯ, có GS Vũ Khiêu, người hội viên cao niên nhất chẵn 100 tuổi. Thật đại phúc cho Hội, ơn Giời nên có những hội viên đa thọ như vậy !

Giới thiêu đoàn chủ tịch gôm các nhà văn Phan Trọng Thưởng, Trần Đăng Khoa, Hải Đường, Tùng Điển, Cao Duy Sơn, Lý Hoài Thu. Thư kí gồm Trịnh Công Lộc, Nguyễn Thị Mai. Hội trường vỗ tay nhất trí.

Chủ tịch Hữu Thỉnh và đoàn cán bộ của Hội có mặt như ở các khu vực khác để lo công việc thủ tục đại hội, giúp kiểm phiếu vì các nhà văn đều có trong danh sách bầu cả không thể vào ban kiểm phiếu được.

Sau các văn kiện Dự thảo báo cáo, Dự thảo ĐL sửa đổi, kiểm điểm BCH đến phần đóng góp ý kiến.

Nhà văn gái Thùy Dương tiên phong góp ý về giải thưởng của Hội còn ì xèo, kết nạp hội viên cũng ối chuyện. Chị đề nghị phải hội thảo chuyên sâu, phải tổ chức nghiên cứu xem văn học của ta ở đâu trên bản đồ văn học thế giới. Tôi đồng tình với nhà văn Y Ban các nhà văn ở trong BCH không nên nhận giải thưởng gì khi đang tại vị...

Nhà văn Ngô Thảo trông rất mập mạp, phong độ lên đóng góp. Ông nói có lẽ đây là đại hội cuối cùng để từ biệt anh em, tôi xin góp vài điều: Không nên ủy viên BCH kiêm chủ tịch các Hội đồng. Nên bầu ai biết phục vụ hội viên. Chúng ta cũng cần thái độ ứng xử với nhau cho ấm áp. Cũng buồn khi thiếu vắng những gương mặt ai cũng muốn chạy đến trầm trồ xem mặt. Ngoài 70 tuổi thôi không đi dự ĐH nữa nhường lớp trẻ. Nỗi nhục của văn học ta để tràn lan văn học ngoại, phim Hàn, phim Tầu. Một Ánh Biên bơi lội được cả nước quan tâm đổ tiền vào còn văn học thì... Nhà văn Ngô Thảo dứt lời thì Trần Đăng Khoa trên ghế Chủ tịch đoàn đứng lên: Nhà văn Ngô Thảo mấy năm rồi phải trị sạ, bây giờ bác khỏe hơn cả tôi, có khi tôi lại đi trước bác. Ôi buồn làm sao cứ như "cuộc chia ly màu...".

Hòang Cát hùng dũng bước lên nhưng đó là người đang mang trọng bệnh. Lời gan ruột của anh rằng tổng kết, báo cáo rất hay, nhiều mỹ từ nhưng ý thức chuyên nghiệp thì lơ mơ, nhà văn phải lăn lộn trong đời thường. Gần đây tôi nghe trên đài trên TV họ gào lên "Ôi Tổ quốc linh thiêng", Tổ quốc có chết đâu mà linh thiêng, phải là thiêng liêng chứ ! Tôi cũng ung thư chưa biết chết lúc nào nhưng buộc phải nói. Lời phát biểu của Hoàng Cát như có lửa, thi thoảng lại thêm một tràng tiếng Pháp cho hội nhập!

Nhà văn Nguyễn Uyển thì góp ý Hội nên xem việc kết nạp hội viên họ làm được gì không hay vào hội xong thì không viết gì.

Nữ sỹ Y Ban bước lên bục dáng đi nhẹ nhàng mặc dù cơ thể không nhẹ nhàng gì. Chị dịu dàng góp lời: tổng kết thì hay nhưng chung chung không biết số lượng trong 5 năm qua có bao tác phẩm xuất bản, hay dở ra sao..Không hề có hội thảo về văn học đổi mới xem ra sao. Các chủ tịch Hội đồng nên là các chuyên gia không cứ phải là ủy viên BCH. Tôi đề nghị ai bỏ tiền ra thì không tổ chức hội thảo tại hội, ngôi đền thiêng không nên như thế (Khóa vừa rồi có vài cuộc hội thảo gây dư luận không hay cho Hội. TNc).

.
Nhà văn Y Ban đóng góp ý kiến

Nhà văn Dương Thuấn đề nghị nên có ban văn học Thiếu nhi và văn học Dân tộc thiểu số. Về dự thảo Điều lệ sửa đổi ông đề nghị chỉ cần Hội viên hội NVVN tuân thủ pháp luật Nhà nước là đủ không nên dài dòng. Ghi hội viên không tham gia tổ chức bất hợp pháp là thừa mà có cảm giác hẹp hòi...

Cả hội trường chăm chú khi nhà văn GS 100 tuổi Vũ Khiêu được dẫn lên bục phát biểu. Ông nhắc nhà văn hãy luôn luôn đồng hành cùng nhân dân, hiện giờ Biển Đông họ đang âm mưu lấn chiếm, phải kiện họ. Nhà văn hãy quan tâm đến văn hóa Việt đó là sức sống của dân tộc. Ông kể một ngày ông chỉ ngủ 4 tiếng, làm việc không ngơi nghỉ, đang hoàn thành đọc 134 tập sách về Hà Nội và nhiều công trình khác. Ông khen Trần Đăng Khoa vừa có bài viết hay. Ăn vận một bộ quần áo màu huyết dụ, tay chống gậy vị GS gây một ấn tượng mạnh cho cử tọa. Một trăm tuổi mà giọng còn vang, hy vọng ông còn cất lên nhiều cung bậc vang vọng đất trời ! Tôi sung sướng đến lặng người khi vị GS luôn gọi các nhà văn là đồng chí. Bao nhiêu người ngồi kia còn kém xa tuổi cụ mà được cụ cho là đồng chí thì ai không rưng rưng...

.
Nhà văn GS Vũ Khiêu phát biểu xong được dìu về chỗ ngồi

Trước khi vào bầu cử và lấy phiếu nhân sự lãnh đạo Hội kì tới, nhà thơ Hữu Thỉnh tự tin bước lên phát biểu. Ông cảm ơn sự góp ý thẳng thắn, trí tuệ qua 9 ý kiến vừa rồi. Ông nhấn mạnh việc sửa đổi điều lệ Hội có thêm điểm "hội viên hội nhà văn không tham gia các tổ chức bất hợp pháp" là cần thiết, đã có Hội Nhà văn VN thì không có một hội nhà văn nào khác...

Cuối giờ buổi sáng các đại biểu bước vào bầu cử, chia làm 3 khu vực cho dễ biết nhau như khu vực báo chí, các viện...nghiên cứu vân vân nên mỗi khu vực có màu phiếu khác nơi vàng nơi xanh thật là màu sắc trăm hoa đua nở...

.
Các nhà văn Võ Thị Xuân Hà, Y Ban, Thùy Dương (trái sang)

Buổi chiều nhiều ý kiến góp thêm nhưng đáng chú ý lời góp của nhà thơ Bùi Hoàng Tám. Ông nói đại ý cách đây 5 năm tôi cũng nói về tờ báo Văn nghệ, hôm nay lại nói, một tờ báo ra hàng tuần có hơn 20 trang mà 30 người, làm báo kiểu cũ, đói là đúng. Tờ báo vẫn cũ như xưa vài truyện ngắn, mấy chùm thơ, rồi ý kiến nhà văn...nhạt nhòa. Không có ai chống Đảng chống nhà nước, rất lắng nghe chúng ta miễn là ta xây dựng, có văn hóa. Tôi làm báo Dân Trí nhiều năm và cũng nói nhiều vấn đề nhưng không hề ai nhắc nhở bởi vì thái độ xây dựng chia sẻ. Tờ báo Văn nghệ phải trở thành tiếng nói của Nhà văn, Trí thức phải đồng hành cùng nhân dân, nói lên tiếng nói của nhân dân...Ý kiến của Bùi Hoàng Tám được nhiều nhà văn đồng tình.

Xin các bạn lượng thứ vì tường thuật có thể chưa đầy đủ và nhầm lẫn có thể....


Tin và ảnh Trần Nhương
Nguồn: TN.net
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Bọn thần kinh "dẫm phải đinh"!


Hình ảnh dưới đây được lưu truyền trên mạng 

1. Ảnh chụp tại lăng Dinh Hương, làng Dinh Hương, xã Đức Thắng, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang: 

Những người này là ai? Họ làm nghề gì? Họ đã: 1- Xúc phạm mồ mả. 2- Phỉ báng tiền nhân. 3- Chà đạp lên di tích lịch sử văn hóa kiến trúc nghệ thuật.
Chễm trệ ngồi trên ngai thờ bằng đá ở ngôi mộ một quận công, mặt vênh lên.

Hai thằng trèo lên lưng ngựa thờ ở lăng mộ cười đắc ý
.
Xem về lăng Dinh Hương tại đây.

2. Hình ảnh dưới đây được cho là ở Khu lăng mộ Lam Kinh - Thanh Hóa:



3. Hình ảnh dưới đây là tượng Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, 
tại Khu di tích Trạng Trình ở Hải Phòng:


4. Những hình dưới đây chưa kiểm tra được là thuộc di tích hoặc địa phương nào.



T sưu tầm.

Hướng tới một môi trường dân chủ và đối thoại trong đời sống văn nghệ


Trần Đình Sử
24.5.2014 
Văn học Việt Nam từ 1986 đến nay có nhiều thành tựu, song sự đánh giá nhiều khi rất phân tán, trái chiều, phức tạp nhất là việc vận dụng tiêu chí “định hướng chính trị tư tưởng”. Không ít tác phẩm vấp phải vấn đè nhạy cảm chính trị mà bị lên án, cấm đoán, sau một thời gian, tính nhạy cảm của vấn đề suy giảm, tác phẩm lại được đón nhận. Từ thực tế đó chúng tôi đề nghị khi đánh giá văn học nên vận dụng tiêu chí định huớng chính trị trên tinh thần văn hóa, tránh đẩy tác phẩm văn học, do khác biệt về nội dung so với chính trị vào địa vị thù địch, tạo điều kiện cho văn nghệ phát triển.
 Văn học Việt Nam tính từ thời kì Đổi mới đến nay đã ngót nghét 30 năm, tính riếng từ đầu thế kỉ XXI đến nay cũng đã 15 năm, Đó là thời gian bằng cả giai đoạn văn học 30 năm 1945 – 1975, hoặc bằng giai đoạn văn học 1930 – 1945, giai đoạn văn học rực rỡ của thế kỉ XX. Đó là cả một giai đoạn lớn trong lịch sử văn học dân tộc Việt Nam đương đại. Trong hời gian ấy biết bao tác phẩm đã xuất hiện, biết bao nhà văn đã trưởng thành, khẳng định tên tuổi. Chỉ xét phần lớn các tác phẩm được giải của Hội nhà văn thường niên, giải các cuộc thi văn học do các báo, tạp chí, do Hội nhà văn phát động trong mấy chục năm ấy, điểm lại các tác phẩm đã gây sóng gió trong tiến trình văn học, nhìn lại các tác phẩm đã được dịch ra các thứ tiếng trên thế giới và được dư luận quốc tế chú ý, ta cũng có thể nhận thấy những bước tiến lớn của văn học nước nhà. Chúng ta có thể chưa có tác phẩm vĩ đại, không thể vượt qua, song dứt khoát không hiếm tác phẩm xuất sắc, tài năng. Tuy nhiên cái gọi là bước tiến lớn, xuất sắc, tài năng ấy phụ thuộc vào sự đánh giá.

Nói đến sự đánh giá các thành tựu trong giai đoạn văn học vừa qua chúng ta sẽ vấp ngay vấn đề đánh giá khác nhau, mà trước hết là đánh giá khác nhau về chính trị. Nhiều tác giả tác phẩm được đánh giá cao trong dư luận trong và ngoài nước thường được nhắc đến khá mờ nhạt trong các báo cáo chính thức trong các văn kiện đại hội nhà văn, thậm chí được đánh giá tiêu cực trên một số báo chí có uy tín. Ngược lại nhiều tác giả tác phẩm được đánh giá cao trên các diễn đàn chính thức, các giải thưởng thì lại ít gây hiệu ứng tích cực trong đông đảo bạn đọc. Thậm chí có những trường hợp gặp ý kiến phản biện gay gắt. Tôi nghĩ đó là chuyện thường thấy trong dư luận đối với những tác phẩm mới. Khi người đọc còn đọc theo quán tính cũ, chưa quen với ngôn ngữ mới của nhà văn, tiêu chí đánh giá khác nhau, việc đánh giá đương nhiên sẽ có nhiều khác biệt, thậm chí đối lập. Nhưng đối với những tác phẩm đã qua một thời gian dài thử thách trong suốt hai, ba chục năm mà hứng thú đối với người đọc vẫn không suy giảm, sách tái bản trên quầy vẫn có người mua, vẫn gây được sự chú ý thì không thể nói là tác phẩm non kém hay ít giá trị, mặc dù đánh giá khác biệt vẫn còn. Tôi muốn nói đến một số sáng tác của các tác giả Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Ngyễn Khắc Trường, Dương Hướng, Nguyễn Ngọc Tư, Hoàng Quốc Hải, Bùi Ngọc Tấn, Nguyễn Xuân Khánh, Ma Văn Kháng, Hồ Anh Thái, Hoàng Minh Tường…, của các nhà thơ như Lê Đạt, Nguyễn Duy, Hữu Thỉnh, Thanh Thảo, Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Quang Thiều, Vi Thùy Linh, và nhiều tác giả khác.

Từ thực tế đó chúng ta không thể chờ đợi một sự đánh gía thống nhất trong bối cảnh hiện nay. Nhất là từ khi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ, nước xã hội chủ nghĩa láng giềng công nhiên thực hiện chính sách bành trướng thì cái gọi là lí tưởng xã hội chủ nghĩa không khỏi gây sự hoài nghi. Chủ nghĩa Mác Lê nin cũng không còn là triết lí duy nhất của nhà văn nữa. Nhà văn ngày nay còn có thể tham khảo nhiều triết thuyết hiện sinh, lí thuyết phân tâm học, lí thuyết nữ quyền luận, lí thuyết diễn ngôn, kí hiệu học, chủ nghĩa đối thoại, phức điệu, nhãn quan hậu hiện đại. Chủ nghĩa hiện thưc đã không còn độc tôn, nhà văn ngày nay có thể tham khảo các biểu hiện của chủ nghĩa hiện đại, độc thoại nội tâm, dòng ý thức, kết cấu phân mảnh, nghịch dị, trào tiếu. Thời đại ta là thời đại nếu không nói là đa nguyên về văn hóa thì cũng là thời đại không còn độc tôn một thứ triết thuyết nào trong đời sống văn hóa. Sự phân tán sâu sắc về lí tưởng, về giá trị và ý nghĩa đời sống là hiện tượng phổ biến, nhiều khi thể hiện ngay trong một người. Mặc dù văn nghệ vẫn có cái chung. Văn học ta hiện nay đang nghĩ nhiều về thân phận con người và số phận dân tộc, song cách nghĩ về nội dung lại rất khác nhau. Trong điều kiện đó muốn đánh giá đúng tiến trình văn học thiết nghĩ cần xây dựng một môi trường dân chủ đối thoại, khoan dung để dần dần nhận ra giá trị đích thực của các sáng tác văn nghệ.

Trong đánh giá văn nghệ định hướng chính trị, tư tưởng cố nhiên là rất quan trọng. Tuy nhiên, tiêu chí định hướng chính trị trong phê bình thì tiếc thay thường được hiểu rất hẹp, thiếu tầm nhìn xa. Ví dụ như tác phẩm Truyện kể năm 2000 của nhà văn Bùi Ngọc Tấn, đương thời được coi là vi phạm cấm kị, đề tài nhạy cảm. Nhưng hôm nay, khi nhà nước ta đang chủ trương cải cách tư pháp, nâng cao trình độ công bằng trong việc bắt người, giam giữ và xét xử, chống oan sai, thì cuốn sách chính là nói về thực tế đó trong thực tiễn tư pháp của ta thời trước, một tư lieu rất quý để học tập cải cách tư pháp, chống oan sai. Như thế đối với hôm nay thiết nghĩ nó không có gì đáng cấm kị. Hoặc như cuốn Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, đương thời bị phê phán chủ yếu là do không miêu tả chủ nghĩ anh hùng một cách chính diện, không ca ngợi chiến tranh chính nghĩa, nhấn mạnh mặt đâu thương mất mát, không giống như chính trị yêu cầu tuyên truyền. Nhưng tiểu thuyết không hề chống đối chính trị, nó nêu cao tư tưởng hòa bình, chiến tranh là bất đắc dĩ, nó thể hiện tính khốc liệt, sức phá hoại của chiến tranh, dự báo những hậu quả to lớn mà càng về sau ta mới càng thể nghiệm hết, nhất là trong đời sống của mỗi cá thể, mỗi gia đình. Nó làm được vai trò thức tỉnh lường tri và ý thức đạo đức cho con người khi nhìn nhận về chiến tranh. Như thế nó thống nhất với tư tưởng chính trị lâu dài của đảng và nhà nước. Chính vì vậy mà từ 2006 tác phẩm đã được cấp phép xuất bản chính thức nhiều lần, coi như giải tỏa sự phê phán trước đây. Nhà văn Nguyễn Quang Sáng, người phê phán Bảo Ninh, lúc sinh thời cũng đã kịp công khai tự phê bình và xin lỗi nhà văn Bảo Ninh trước Đại hội nhà văn khóa vừa qua. Như thế, nếu chúng ta có thái độ dân chủ, bình tĩnh, đối thoại, khoan dung thì tác phẩm không đến nỗi phải chịu những búa rìu khônng đáng có. Và việc khẳng định thành tựu văn học sẽ giảm bớt khó khăn.

Như vậy, muốn đánh giá đúng các thành tựu của văn học từ năm 1986 đến naykhông chỉ đòi hỏi người đánh giá phải có quan điểm lịch sử, nhãn quan văn hóa, hiểu đúng đặc trưng của văn nghệ và nhất là phải có dũng khí, mà đòi hỏi có môi trường dân chủ, đối thoại trong đời sống văn nghệ. Nhiều bài phê bình gay gắt chỉ vì chưa thấm nhuần đặc trưng của văn nghệ. Chỉ có ai biết nhìn thẳng vào sự thật như tinh thần nghị quyết trung ương Đảng đại hội VI, tháng 12 năm 1986 thì mới đánh giá được. Câu nói “cởi trói” với ý nghĩa là giải phóng tư tưởng do đồng chí lãnh đạo tối cao của Đảng lúc bấy giờ thốt ra trong cuộc gặp gỡ có tính lịch sử với đại diện văn nghệ sĩ Việt Nam đầu năm 1987 là một sự kiện xuất thần, duy nhất, không lặp lại. Nhưng cái xuất thần ấy đã châm ngòi và truyền cảm hứng cho một trào lưu văn nghệ không thể đảo ngược.

Văn học Việt Nam từ 1986 đến nay, xét từ các tác phẩm ưu tú, đã là một nền văn học hoàn toàn khác so với văn học Việt Nam trước 1975, khắc phục tính tuyên truyền chính trị, mà đi sâu vào các tầng vỉa văn hóa. Vẫn gắn bó với nhân dân, Tổ Quốc, với sự nghiệp của Đảng, song đã mở rộng, đào sâu hơn rất nhiều về đề tài, chủ đề trên các phương diện văn hóa. Nhiều tác phẩm dự báo tình trạng phân hóa xã hội và sự xuống cấp về đạo đức lối sống hôm nay. Nhiều tác phẩm dự báo hậu quả chiến tranh khốc liệt lâu dài mà đến nay chúng ta vẫn đối mặt.Không ít tác phẩm đã tư duy lại về tiến trình lịch sử từ phương diện văn hóa, nâng cao tầm suy nghĩ của người đọc đối với các vấn đề đời sống. Nhà văn đã có những câu chuyện của riêng họ để kể cho bạn đọc. Về phương diện nghệ thuật có thể nói văn học đương đại Việt Nam đã có một diện mạo hết sức phong phú, đa dạng, tiếp cận với trình độ của một nền văn học hiện đại. Tôi hoàn toàn lạc quan đối với văn học nước nhà.

Tuy vậy đánh giá hết những tìm tòi của nhà văn vẫn đang là một công việc ở phía trước. Trong tình hình hiện tại việc phân tích, khái quát những khám phá mới, sâu sắc có thể chưa có lợi cho nhà văn. Nhiều trường hợp, đối với tác phẩm chỉ có thể khái quát chung chung vừa phải, chưa có thể sâu sắc. Có thể rồi phải qua một thời gian khá lâu nữa nhà phê bình văn học mới có thể nói hết tầm vóc sáng tạo của nghệ sĩ hôm nay. Khó khăn trong quan hệ phê bình và văn học không chỉ do tài năng, năng lực của nhà phê bình, mà còn do sự cấn cái trong quan niệm chỉ đạo văn nghệ.

Theo dõi sự quan tâm chỉ đạo của Đảng đối với sự nghiệp văn nghệ của đất nước sẽ thấy cội nguồn của sự đánh giác khác nhau về văn nghệ đã nằm ngay trong quan niệm về quan hệ văn nghệ và chính trị thể hiện trong các Nghị quyết của Đảng. Xin trích văn kiện Trung ương V Đại hội VIII của Đảng : ““Vừa bảo đảm cho văn hóa, văn học nghệ thuật… phát triển đúng định hướng chính trị tư tưởng của Đảng, vừa bảo đảm thực hiện quyền tự do dân chủ cá nhân trong sáng tạo văn hóa, văn học nghệ thuật” [1]. Tiếp theo là Kết luận của Hội nghị Trung ương 10 khóa IX (2004) tiếp tục khẳng định: “Bảo đảm định hướng chính trị đi đôi với vận dụng đúng đắn những đặc trưng của công tác văn hóa (…) tôn trọng tự do sáng tác, xây dựng quan hệ chân thành cởi mở đối với đội ngũ những người hoạt động văn hóa, có chính sách trọng dụng người tài đồng thờichăm lo định hướng chính trị và ý thức trách nhiệm công dân nhằm phát huy cao nhất đóng góp của đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ (…) cho sự nghiệp phát triển văn hóa[2]… Tôi hoàn toàn tán thành với Đảng là văn nghệ cần có định hướng. Có định hướng thì mới xây dựng một nền văn nghệ lớn, hiện đại. Tuy nhiên tôi cảm thấy chỉ định hướng chính trị, tư tưởng sợ rằng quá hẹp. Nội dung văn nghệ không thể gói trọn trong hai chữ chính trị. Đánh giá đúng theo định hướng chính trị của Đảng thì nhiều tác phẩm sẽ không được đánh giá cao hoặc bị phê phán, mà đánh giá theo yêu cầu “đảm bảo “thực hiện quyền tự do dân chủ cá nhân trong sáng tạo văn hóa, văn học nghệ thuật” thì tác phẩm ấy lại có thể được nhìn nhận theo một cách khác. Ví dụ tiểu thuyếtNỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh và một số truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp. Tôi nghĩ rằng, định hướng chính trị, dù rất quan trọng vẫn không đồng nhất với tiêu chí nội dung của văn học, nghệ thuật. Sáng tác là sản phẩm sáng tạo văn hóa, mà giá trị của văn nghệ là thức tỉnh lương tri và ý thức đạo đức cho con người qua các hình tượng thẩm mĩ. Nên chăng trong sáng tác nghệ thuật cần nêu cao định hướng văn hóa, giá trị thức tỉnh lương tri và đạo đức, để sự đánh giá văn học nghệ thuật được thuận chiều?

Qua thực tiễn phê bình văn học thời gian qua chúng tôi nhận thấy về lí luận vấn đề mối quan hệ chính trị và đặc trưng văn nghệ vẫn còn chưa được giải quyết thấu đáo, cần được tiếp tục quan tâm trong thời gian tới. Trong thời đại mà văn nghệ không còn được coi là cái “tòng thuộc chính trị như trước nữa”, không phải là công cụ tuyên truyền trực tiếp cho chính trị, các nghị quyết Đảng nên nêu ra định hướng văn hóa cho văn nghệ. Tôi rất tâm đắc với các ý kiến sau đây của GS. TSKH Lê Ngọc Trà viết tháng 11 năm 1987, cách đây đúng 28 năm, vào lúc Đổi mới đang còn cao trào : “Trong những hoàn cảnh lịch sử đặc biệt như chiến tranh cách mạng, ý thức chính trị trở thành nội dung cơ bản của ý thức xã hội, bao trùm lên các ý thức khác. Lúc đó tiếng nói văn nghệ trùng với tiếng nói chính trị. Nhưng còn trong những ngày bình thường, chính trị và văn học không hát cùng một bè trong bản đồng ca một giọng mà mỗi thứ đảm nhận một bè khác nhau trong bản giao hưởng phức điệu thống nhất và đa dạng của cuộc sống.”[3] Sự lãnh đạo văn nghệ không nên hướng tới văn nghệ hát chung một bè, cùng nói một giọng với chính trị, mà nên là các bè bổ sung nhau, hòa điệu với nhau. Hướng tới sáng tạo một nền văn nghệ phong phú tuy có khó khăn song vẫn nên kiên trì xây dựng một môi trường dân chủ, đối thoại, cởi mở, khoan dung, để cho các ý kiến khác nhau được trình bày , cùng suy nghĩ, có nhiều tiếng nói. Trong viễn cảnh đó các sáng tác văn nghệ sẽ được phơi mở nhiều giá trị sâu sắc, phong phú của nó. Các giá trị văn nghệ đích thực sẽ được khẳng định. Diện mạo của một giai đoạn văn họ sẽ được đánh giá toàn diện.
T.Đ.S
_________

[1] Về lãnh đạo quản lý văn học nghệ thuật trong công cuộc đổi mới NXB CTQG,H,2001, tr. 73-74

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Kết luận của Hội nghị lần thứ mười Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” trong những năm sắp tới – sách Các nghị quyết của Trung ương Đảng 2001 – 2004, Tlđd, tr.245.

[3] Lê Ngọc Trà. Văn nghệ và chính trị, trong sách Lí luận và văn học, nxb. Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh, 1990, tr. 22. Tác phẩm được trao Giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam, năm 1991; được phong tặng Giải thưởng Nhà nước,về văn học nghệ thuật,năm 2010
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nhưng cứng bằng cách nào đây? Đau cái đầu quá!


Đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc nhấn mạnh như vậy khi đề cập việc Quốc hội đồng ý bổ sung báo cáo của Chính phủ về tình hình biển Đông vào chương trình kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIII

Phóng viênTại phiên họp trù bị của kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIII, ông Nguyễn Anh Sơn, Phó trưởng Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Nam Định, đề nghị bổ sung vào chương trình kỳ họp báo cáo của Chính phủ về tình hình biển Đông và được chấp thuận. Quan điểm của ông ra sao?

Cần cứng rắn hơn về biển Đông

- Đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc: Trước hết, phải hết sức hoan nghênh đề nghị của đại biểu Nguyễn Anh Sơn và đề nghị của ông cho thấy rõ Quốc hội chưa quan tâm đúng mức, chưa sâu sát với nguyện vọng của người dân là muốn được biết thật đầy đủ, kịp thời, chính xác về tình hình biển Đông, đặc biệt là vấn đề Trung Quốc ồ ạt xây dựng và có nhiều hành động trái luật pháp quốc tế, vi phạm chủ quyền Việt Nam. Từ đó, người dân càng muốn biết thái độ, hành động, phương án đối phó của nhà nước ta đối với tình hình trên biển Đông ra sao.
Nhưng cũng rất mừng là Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đã đồng ý với đề xuất của ông Nguyễn Anh Sơn. Một trong những lý do mà ông Sơn đưa ra cùng với đề nghị của mình đó là đại biểu Quốc hội phải nắm được tình hình để báo cáo trước dân, đáp ứng những bức xúc, lo lắng của người dân.
Những thông tin được Chính phủ báo cáo chắc chắn là thông tin chính thống nên phải công khai, chứ không giữ một phần rồi gây bức xúc, hoang mang cho người dân. Các cơ quan có trách nhiệm lẽ ra đã phải nhạy cảm nắm bắt được tình hình để kịp thời tham mưu, đề xuất phương án thông tin, tuyên truyền cho kịp thời nhất, không để tình hình thành bức xúc để rồi đại biểu phải lên tiếng đề nghị.
Nhưng nội dung báo cáo của Chính phủ chỉ diễn ra trong khoảng 1 giờ vào cuối buổi chiều 5-6 và đây lại là “phiên họp riêng” không có báo chí tham dự?
- Tôi không đồng ý việc Quốc hội họp riêng về tình hình biển Đông, bởi đã quyết định việc thông báo cho toàn bộ đại biểu Quốc hội về tình hình là nhằm thông báo với dân. Ngoài ra, đây là vấn đề đang rất nóng nên phải cho các phương tiện thông tin đại chúng tham dự để kịp thời tuyên truyền, phổ biến thông tin. Nếu để đại biểu truyền đạt thông tin đến với dân thì phải chờ hết kỳ họp này (ngày 26-6) và đi tiếp xúc cử tri, khi đó thông tin đến với người dân đã quá muộn.
Qua sự việc này, tôi kiến nghị các cơ quan ngoại giao, quản lý truyền thông nhà nước nên có chủ động chỉ đạo đưa thông tin đến người dân. Cũng vì người dân không nắm bắt được tình hình nên họ mới phải tin, nghe vào những thông tin khác. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng từng nói: “Nếu cơ quan truyền thông nhà nước không kịp thời đưa thông tin, bỏ trống mặt trận thì người dân sẽ tìm đến thông tin trên các trang mạng”. Cứ nghe thông tin như vậy thì tình hình còn phức tạp và nguy hiểm hơn.
Tuy nhiên, tôi cũng đồng ý câu chuyện trên biển Đông là một bài toán khó về ngoại giao. Chúng ta luôn mong muốn một môi trường yên ổn, hòa bình để tập trung cho phát triển đất nước. Về nguyên tắc, chúng ta đã lên tiếng phản đối mạnh mẽ việc Trung Quốc xây dựng, bồi đắp đảo trái phép ở Trường Sa. Nhưng về quan hệ ngoại giao, chúng ta cần có cái nhìn phù hợp với lợi ích chung, bảo đảm không bị một nước nào độc chiếm, bảo đảm quyền lợi sử dụng chung của thế giới như hàng hải, hàng không quốc tế… Còn hình thức phát biểu thì phải nhất quán bảo vệ chủ quyền đất nước cùng với mong muốn hòa bình của Việt Nam, đồng thời phải giải tỏa nhưng lo lắng, bức xúc của người dân. Lẽ dĩ nhiên, ngoại giao thì phải tế nhị, nhất là trên một không gian không quá lớn, có lợi ích sát sườn của chúng ta lại có sự xuất hiện của nhiều nước lớn.

Tàu kiểm ngư Việt Nam làm nhiệm vụ ở Trường Sa Ảnh: Lương Duy Cường
Tàu kiểm ngư Việt Nam làm nhiệm vụ ở Trường Sa Ảnh: Lương Duy Cường

Việt Nam và Trung Quốc gần đây có nhiều cuộc gặp gỡ cấp cao và đều có những tuyên bố, thống nhất không làm căng thẳng thêm tình hình, không vi phạm quyền và lợi ích của hai bên nhưng trên thực tế, Trung Quốc vẫn không ngừng tôn tạo, trang bị hiện đại tại một số đảo ở Trường Sa...
- Người dân Việt Nam qua trải nghiệm của mình hiểu rằng ứng phó với Trung Quốc là rất khó vì họ luôn “giữa nói và làm không giống nhau”. Người dân lo lắng liệu chúng ta có bị rơi vào cái bẫy mà Trung Quốc giăng ra? Phía trên Trung Quốc xoa dịu, miệng nói hữu nghị nhưng hành động luôn vì lợi ích, tham vọng bá quyền. Bản chất này của họ không chỉ Việt Nam mà các nước, cả khu vực đều thấy quá rõ. Ứng phó của chúng ta với Trung Quốc đúng là không hề dễ dàng.
Vì vậy, vào thời điểm này, đối ngoại rất quan trọng nhưng đối nội cũng quan trọng không kém. Trong có yên ấm thì mới đủ sức mạnh, đoàn kết để chống được sự xâm lấn bên ngoài. Không có cách nào khác là chúng ta phải làm cho mọi người dân hiểu, chia sẻ được tình hình và chủ trương của nhà nước để họ tin vào đối pháp của nhà nước có bài bản; hình thức có thể mềm mỏng nhưng rất kiên định trong lập trường, quan điểm.
Cha ông ta thường nhắc đến nguyên tắc “dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Nhưng muốn ứng biến thì phải có được lòng tin của dân, chứ để dân ngơ ngác, không hiểu ra sao thì rất nguy hiểm.
Nhiều đại biểu cho rằng năm 2014, Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 trái phép, nay còn hành động bạo ngược hơn nữa khi không ngừng củng cố đảo, trang bị khả năng quốc phòng hiện đại ở Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam. Do đó, Quốc hội cần phải tỏ thái độ rõ ràng hơn như ra một nghị quyết, chứ không phải một thông cáo như năm trước... Quan điểm của ông về vấn đề này như thế nào?
- Giàn khoan đi vào rồi sẽ đi ra nhưng việc tôn tạo đảo nhân tạo thì nguy hiểm, nghiêm trọng hơn rất nhiều. Trung Quốc đã vi phạm nghiêm trọng hơn thì Quốc hội Việt Nam tất yếu phải thể hiện thái độ mạnh mẽ hơn, đây là thái độ của nhân dân. Còn cụ thể thái độ như thế nào thì các nhà lãnh đạo hãy cân nhắc một cách đúng đắn nhất.
Mặc dù đây là biểu hiện ngoại giao, cần tế nhị, mềm dẻo để đạt được lợi ích cao nhất nhưng tế nhị thế nào thì cũng phải đạt được yêu cầu số một là để người dân tin được và yên tâm.


Thế Dũng thực hiện
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nghề chơi cũng lắm công phu! ( Tít tôi giật lại )


Điều tôi muốn trao đổi ở đây là cần đặt và nhìn nhận Hội Nhà văn và cả Văn đoàn Độc lập (kỳ vọng được công nhận) trong một bối cảnh rộng hơn về vấn đề các hội ở Việt Nam để có cái nhìn bình tĩnh và khách quan hơn. Bản chất vấn đề về cơ bản không phải là bản thân Hội Nhà văn, mà sâu xa hơn, nó nằm trong đặc điểm và cách vận hành của thể chế chính trị hiện hành.

Hội nhà văn Việt Nam, tổ chức được nhà nước công nhận, 
sắp tổ chức Đại hội toàn quốc trong năm 2015.

Tôi là một độc giả yêu văn học. Nghề nghiệp của tôi giúp tôi có nhiều cơ hội tiếp xúc với các tổ chức xã hội và chính trị -xã hội ở Việt Nam (VN). Trong bài viết này, tôi muốn chia sẻ một cách nhìn của cá nhân tôi đối với Hội Nhà văn Việt Nam từ một góc độ rộng hơn về hội ở Việt Nam, nhân việc Hội Nhà văn đang chuẩn bị đại hội toàn quốc trong bầu không khí có bất đồng.

Hội Nhà văn và chính trị

Trước hết tôi nghĩ rằng Hội Nhà văn Việt Nam cũng là hội được “nuôi” giống như Hội Liên hiệp Phụ nữ VN, Đoàn Thanh niên và ở Việt Nam được gọi là tổ chức “chính trị-xã hội”. Cho nên nó đương nhiên thể hiện những căn bệnh của hệ thống, nghĩa là hội, nhưng lại được Nhà nước trả lương, nên nó phải làm hai nhiệm vụ: nhiệm vụ xã hội, hay nghề nghiệp của một hội, và nhiệm vụ “chính trị tư tưởng”mà Nhà nước và Đảng Cộng sản Việt Nam kỳ vọng ở nó.
Đối với Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và Đoàn Thanh niên thì đã có những đề xuất như cho thành Bộ Phụ nữ và Bộ Thanh niên như một số nước đã làm - Nguyễn Điệp Hoa
Cái chéo ngoe này của các hội nhà nước gần đây được thảo luận rất nhiều. Nhiều ý kiến nói rằng nếu là nhà nước trả lương cho bộ máy và làm nhiệm vụ chính trị, hay quản lý nhà nước thì cho hội thành cơ quan nhà nước cho nó chính danh, còn là hội hoạt động nghề nghiệp, chuyên môn thì tự nuôi, nhà nước không nên can thiệp. Chưa biết bao giờ việc này ngã ngũ. Đối với Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và Đoàn Thanh niên thì đã có những đề xuất như cho thành Bộ Phụ nữ và Bộ Thanh niên như một số nước đã làm.

Dù chưa có quyết định về việc này thì tôi nghĩ rằng đó cũng là một tín hiệu tốt là người ta nhận thấy vấn đề và muốn thảo luận hướng giải quyết.

Hội Nhà văn hơi đặc thù hơn vì nó là hội của những người sáng tạo văn học. Nhiều nhà văn không muốn nó dính líu đến chính trị hay bị chính trị chi phối như ở giai đoạn trước, nhưng chuyện văn chương lại là chuyện tư tưởng, chuyện tự do suy nghĩ, mà chính trị thì lại ngại chuyện này, nên mới không buông nó ra.

Vì các nhà văn về bản chất là tự do suy nghĩ nên Hội Nhà văn có lẽ là hội thường bị cật vấn nhiều nhất bởi các hội viên. Có những cái cật vấn đến mức như đòi Hội Nhà văn phải làm sao tạo được nhiều trường phái sáng tác! Có vẻ Hội Nhà văn chẳng làm được nhiều những điều đáng ra nó phải làm, dính đến chính trị chẳng được ai thích, nhưng ở Việt Nam mà không phải là hội viên của nó thì có vẻ như người cầm bút chưa yên tâm nên nhiều người vẫn xếp hàng nộp đơn nhiều năm để có cái danh nhà văn Hội mang lại.

Ở trong một cái bòng bong như thế, không phải nhà văn nào cũng thật sự ý thức được rõ ràng về tự do sáng tác cá nhân và trách nhiệm của Hội Nhà văn đến đâu.

Thiếu tự do hay thiếu tài?

Tự do là gì là một trong những câu hỏi khó nhất và có quá nhiều câu trả lời lẫn lộn. Bạn làm nghệ thuật ở một nước độc đảng, bạn kêu không có tự do. Nhưng nếu cho bạn sang châu Âu hay Mỹ, liệu bạn có cảm thấy đạt được tự do hoàn toàn hay không? Tưởng có, nhưng có khi lại là không.

Một lễ kết nạp hội viên của Hội nhà văn Việt Nam, với 
Chủ tịch Hội, nhà thơ Hữu Thỉnh đứng thứ ba (trái sang, hàng đầu).

Không là vì rằng điều đó còn phụ thuộc vào bản thân mỗi người. Xin được kể một câu chuyện:

Trong nhiều cuộc họp tôi được dự của các tổ chức ngoài nhà nước (bây giờ bắt đầu được gọi rõ ràng hơn là xã hội dân sự), rất nhiều người vẫn nói rằng phải làm thế nào kiểm soát, định hướng báo chí, nếu không họ viết sai tràn lan. Nhiều người còn đòi nhà báo lấy tin, viết bài xong phải đưa cho họ đọc, kiểm tra lại để đảm bảo chính xác!

Không nói thì chúng ta cũng hiểu: Căn bệnh đòi kiểm soát này rõ ràng được mang từ trong hệ thống Đảng và nhà nước ra.

Họ đi ra từ đấy, họ muốn tạo dựng cái mới, nhưng đầu họ vẫn nghĩ như nhà nước. Hầu như ai cũng tin là mình đi ra khỏi hệ thống thì sẽ làm được cái mà trong hệ thống mình không làm được! Nhưng thực tế, có những căn bệnh nhà nước nó ăn sâu vào tiềm thức rồi nên khó mà nhận ra được trong bản thân từng người, và vì thế không dễ mà gột được nó đi! Đa số bị rơi vào trường hợp như thế. Một người bạn của tôi nói vui rằng “Thôi, phải chờ đến F2!” (trong sinh học được dùng để chỉ thế hệ thứ 2).

Xin lấy một ví dụ khác là có nhà văn tuyên bố: “Tôi đi ra khỏi Hội Nhà văn tôi thấy tự do hơn!”.
Nghĩ thêm một chút thì thấy tuyên bố này có lẽ chưa rõ ràng lắm. Ở trong Hội, anh vẫn là anh, mà ra ngoài Hội anh vẫn là con người anh! Nếu anh tuyên bố thế thì có phải anh thừa nhận rằng tự do là cái ở bên ngoài anh mang lại. Nhưng nhà văn mà trông chờ vào tự do là cái ở bên ngoài mình mang lại thì đã chẳng bao giờ có những tác phẩm tuyệt vời được viết trong ngục tù và xiềng xích!

Thắng trói buộc bên ngoài
Vấn đề là làm sao cái tự do bên trong luôn mạnh mẽ và chiến thắng cái trói buộc bên ngoài. Nếu lực bên trong không mạnh hơn thì sáng tạo là quá trình khổ ải! Nguyễn Điệp Hoa
Nghệ sĩ sân khấu Chí Trung có diễn một tiểu phẩm chế giễu những người làm nghề sáng tạo, nhưng toàn đổ lỗi vì bên ngoài mà họ không thể viết được, mà thực chất nguyên nhân là bất tài. Tiểu phẩm đại ý thế này: Một ông nhà văn cầm bút lên, nhăn nhó suy ngẫm để viết một tác phẩm lớn… Cầm bút lên một lúc ông bỗng thấy lạnh, ông quấn chăn lên người. Chưa viết được gì, ông lại thấy khát, lại không viết được… Rồi lúc tưởng lóe lên được ý tưởng thì ông lại nghe thấy tiếng ồn, khiến ông phải lấy bông bịt tai để tập trung. Rồi bỗng chốc lại thấy con ruồi đậu lên tờ giấy quấy rối…Tóm lại là ông đánh vật với những thứ bên ngoài và rốt cục ông hét lên kiểu như “Thế này thì còn sáng tạo làm sao được nữa!”

Khi không có động lực thật sự mạnh mẽ bên trong, con người sẽ chỉ luôn thấy hoàn cảnh có lỗi. Vấn đề là làm sao cái tự do bên trong luôn mạnh mẽ và chiến thắng cái trói buộc bên ngoài. Nếu lực bên trong không mạnh hơn thì sáng tạo là quá trình khổ ải!

Tự do là của người sáng tác, là cái bên trong thiêng liêng, không nhà tù nào lấy đi được cái tự do tư tưởng thiêng liêng ấy, cũng chẳng có xã hội tự do nào ban tặng được cho người sáng tạo nghệ thuật cái tự do ấy! Nói cho cùng, nhà văn ý thức được tự do đến đâu, anh có tự do đến đấy. Chân trời của anh dừng ở nơi mà tài năng của anh chỉ mở được đến đó. Chừng nào hội viên còn nghĩ rằng Hội Nhà văn phải mang đến cho họ tự do sáng tác, chừng đó họ còn tự nằm trong cái rọ do chính mình tạo ra.

Nói đến ảnh hưởng của chính trị, nếu người lãnh đạo chính trị nói tôi muốn kiểm soát nhà văn, không được nói cái tôi không muốn nghe, thì đấy là cái ý muốn của họ thôi. Họ có thể làm tất cả những gì họ muốn vì họ có quyền lực trong tay, kể cả cấm in tác phẩm mà họ thấy “có vấn đề”, thì nói cho cùng họ cũng đâu có lấy đi được cái tự do tư duy trong đầu mỗi nhà văn nếu nhà văn thật sự có tự do trong bản thân mình.

Một Văn đoàn Việt Nam Độc lập gần đây đã ra tuyên bố thành lập Ban vận động của mình với nhiều thành viên khi đó đang là hội viên Hội nhà văn VN.

Vấn đề then chốt nhất vẫn là tài năng. Nếu có tác phẩm hay chưa xuất bản được ở đây, bây giờ, như một số nhà văn đã nói, thì cất trong ngăn kéo chờ thời, hay in ở nước ngoài! Đâu có ai cấm được cái này?

Cần có tinh thần xây dựng

Ở Việt Nam, một số nhà văn vận động thành lập Văn đoàn Độc lập. Nếu không phải là một hội về văn chương thì chắc chả ai để ý vì thực chất đây chỉ là một tổ chức phi chính phủ nhỏ. Nó rất bình thường. Ở Việt Nam có hàng trăm tổ chức như vậy hoạt động. Việc nó được xem như cái gì đó quá khác biệt đã cho thấy có thể có một chút lệch lạc trong tư duy của những người quan tâm đến nó.

Việc một hội mới có tôn chỉ mục đích riêng được lập ra không nên được hiểu cần có nghĩa là để phủ nhận một hội đang có. Vì sao cả hai cái cây không thể cùng mọc, hai bông hoa không thể cùng nở? Tôi tin cả Hội Nhà văn và Văn đoàn Độc lập chắc chắn đều chia sẻ những giá trị chung là chất lượng nghệ thuật của văn học và tự do sáng tác. Cả hai đều cần được tôn trọng trong cách làm của mình.

Đồng ý rằng Hội Nhà văn cũng như rất nhiều hội nửa hội-nửa nhà nước, có rất nhiều bất cập, nhưng tôi không tán thành thái độ đả kích Hội Nhà văn ở một số nhà văn. Như trên đã nói, nó là một thực thể sinh ra từ hệ thống này và nó mang những hạn chế của hệ thống này. Nếu bạn thích, bạn sinh hoạt với nó, nếu không thích bạn đi ra và làm cái bạn thích hơn. Nhưng làm cái bạn thích hơn không đồng với nghĩa với việc bạn làm tốt hơn, trừ khi bạn chứng minh được giá trị gia tăng mà bạn mang lại. Nhưng cái đó hãy để xã hội và bạn đọc đánh giá là bạn đang làm tốt hơn.

Việc một hội mới có tôn chỉ mục đích riêng được lập ra không nên được hiểu cần có nghĩa là để phủ nhận một hội đang có. Vì sao cả hai cái cây không thể cùng mọc, hai bông hoa không thể cùng nở?
Nguyễn Điệp Hoa

Nên, điều tôi muốn trao đổi ở đây là cần đặt và nhìn nhận Hội Nhà văn và cả Văn đoàn Độc lập (kỳ vọng được công nhận) trong một bối cảnh rộng hơn về vấn đề các hội ở Việt Nam để có cái nhìn bình tĩnh và khách quan hơn. Bản chất vấn đề về cơ bản không phải là bản thân Hội Nhà văn, mà sâu xa hơn, nó nằm trong đặc điểm và cách vận hành của thể chế chính trị hiện hành.

Hiện có thể “cái chậu” pháp lý nó mới chỉ đủ cho một cái cây. Thay vì chỉ trích, đả phá cái cây đang có, nên chọn cách mang tính xây dựng hơn, nghĩa là vận động để có “cái chậu” lớn hơn cho nhiều “cây” cùng mọc.

Cũng có thể vận động chính sách cùng khối xã hội dân sự ở VN để tìm một môi trường có sự công nhận về mặt pháp lý rộng rãi hơn đối với các thiết chế dân sự, vận động chuyển những hội như Hội Nhà văn thành một hội mang tính nghề nghiệp thuần túy, hay công nhận những hội sáng tạo văn học khác chỉ như những hội nghề nghiệp như rất nhiều hội nghề nghiệp khác, vv… Điều này đòi hỏi các thành viên tích cực phải ngồi với nhau, thảo luận cùng nhau trên tinh thần xây dựng và hợp tác.

Từ kinh nghiệm tiếp xúc với các tổ chức xã hội, xã hội-nghề nghiệp, hay chính trị-xã hội của tôi ở Việt Nam, tôi cho rằng các nhà văn nên tìm hiểu và học cách làm mang tính xây dựng của khối xã hội dân sự, nơi hiện có hàng ngàn tổ chức, nhóm xã hội lớn nhỏ, làm trăm thứ việc mỗi ngày, từ hỗ trợ người nhiễm HIV, ung thư, người khuyết tật v.v... cho đến vận động sửa đổi luật pháp và chính sách, những người chia sẻ với nhau rất sâu sắc tầm nhìn về một xã hội công bằng, dân chủ và tốt đẹp hơn và biết cách hợp tác với nhau hơn vì cái chung.

Nguyễn Điệp Hoa
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chung quy muốn nuốt cả thế giới vào bụng mình - Tham vọng bá quyền là yếu tính!

Trung Quốc nhắc dân "khắc cốt ghi tâm" lịch sử mất đất vào tay Nga 
HỒNG THỦY (GDVN) - Các nhà chức trách từ lâu đã im lặng về lịch sử cuộc xâm lược của Nga, trong đó đã chiếm một phần lớn đất của Trung Quốc. Bây giờ đột nhiên câu chuyện trở lại. 
Phục dựng cảnh Trung - Nga ký điều ước Ái huy 
năm 1858. Ảnh: China.com/Thời báo Hoàn Cầu. 
South China Morning Post ngày 24/5 có bài bình luận của tác giả Li Jing cho biết, truyền thông Trung Quốc đang "xới lại vết thương cũ" làm dấy lên những tin đồn về bản chất, thực hư quan hệ đối tác chiến lược Trung - Nga. Truyền hình quốc gia Trung Quốc CCTV, Tân Hoa Xã gần đây đưa tin tỉnh Hắc Long Giang đã khôi phục lại tên cũ của quận Ái Huy, đồng âm nhưng khác chữ viết để công khai nhắc nhở dân Trung Quốc về một giai đoạn lịch sử "đau thương" của người Trung Quốc.

Chương trình phát sóng giờ vàng của CCTV đã nhắc lại chi tiết về hiệp ước biên giới Trung - Nga được ký giữa nhà Thanh với Nga năm 1858 mà Bắc Kinh sau này cho rằng họ đã bị mất khoảng 600 km vuông lãnh thổ vào tay Nga. Việc đổi lại tên cũ của quận An Huy được CCTV nói rằng sẽ giúp công chúng ghi nhớ một giai đoạn lịch sử "nhức nhối của dân tộc".

Điều này khiến dư luận Trung Quốc tự hỏi, liệu đó có phải là dấu hiệu của một sự thay đổi trong mối quan hệ Trung - Nga bề ngoài có vẻ khá ấm áp. Moscow gần đây tỏ ra khá quan tâm cải thiện quan hệ với Bắc Kinh trong khi bị phương Tây chỉ trích và trừng phạt vì vai trò của Nga trong cuộc khủng hoảng Ukraine. Lãnh thổ luôn là một vấn đề nhạy cảm thường có khả năng thổi bùng ngọn lửa chủ nghĩa dân tộc cực đoan trong xã hội Trung Quốc.

Căng thẳng Trung - Nhật ở Hoa Đông hay với các nước láng giềng ở Biển Đông như Việt Nam và Philippines rất dễ (bị Bắc Kinh) châm ngòi cho cơn giận trong lòng xã hội Trung Quốc. Vì vậy khi câu chuyện "Trung Quốc mất đất vào tay Nga" được phát sóng trên truyền hình quốc gia khung giờ vàng một cách chi tiết có thể hấp dẫn một số người.


"Putin đã bước vào vòng xoáy Biển Đông"

Vương Trương Dương, một giáo sư thuộc Viện Khoa học xã hội Trung Quốc đã viết trên trang weibo cá nhân sau chương trình của CCTV rằng, việc phát sóng nội dung này báo hiệu một sự thay đổi trong chính sách và thái độ của Trung Quốc đối với Nga. "Các nhà chức trách từ lâu đã im lặng về lịch sử cuộc xâm lược của Nga, trong đó đã chiếm một phần lớn đất của Trung Quốc. Bây giờ đột nhiên câu chuyện trở lại trong bản tin thời sự", ông Dương nói.

Học giả này cho rằng: "Đã có vấn đề gì đó nảy sinh trong quan hệ với Nga. Trước đây Trung Quốc cũng đã nhắc đến 'cuộc xâm lược của Nga' khi quan hệ với Liên Xô trở nên căng thẳng. Việc lấy lại tên cũ của quận Ái Huy bản thân nó không có gì lớn, nhưng lại được phát sóng và bình luận trên CCTV vào giờ vàng cùng với lịch sử mất đất vào tay Nga", ông Vương Trương Dương lưu ý.


Mỹ bỏ Ukraine, tập trung lật bài ngửa ở Biển Đông với Trung Quốc?

Tuy nhiên Nhân Dân nhật báo, Thời báo Hoàn Cầu, Qianjiang Evening News đã lập tức cố gắng giảm nhẹ tầm quan trọng của bản tin này trên CCTV. Nhân Dân nhật báo, Thời báo Hoàn Cầu cho rằng việc Hắc Long Giang đổi lại tên cũ cho quận Ái Huy có thể gây chú ý hoặc tranh luận, nhưng dựa vào đó cho rằng quan hệ Trung - Nga "có vấn đề" là hết sức "ngây thơ về chính trị".

Tân Hoa Xã ngày 18/5 vừa qua cũng dẫn bài xã luận trên tờ Nhật báo Hắc Long Giang cho rằng, việc lấy lại tên cũ của quận Ái Huy là để nhắc nhớ người dân "khắc cốt ghi tâm" bài học lịch sử "đau đớn" của người Hán.

http://giaoduc.net.vn/Quoc-te/Trung-Quoc-nhac-dan-khac-cot-ghi-tam-lich-su-mat-dat-vao-tay-Nga-post158555.gd

Hồng Thủy
Phần nhận xét hiển thị trên trang