Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 23 tháng 5, 2015

Có thể bạn rất quan tâm? ( Bài đã đăng của TR.K. Ngh. )

Nhân tố Bách Việt trong lập luận chủ quyền biển đảo của Việt Nam

Bản đồ chỉ có tính minh họa (nguồn Interrnet)
Sau một thời gian khá dài "bán tín bán nghi" đến nay có lẽ toàn thế giới đều biết việc TQ ngang ngược đòi chủ quyền đối với biển Đông mà vốn một phần lớn đã thuộc chủ quyền của các quốc gia ven bờ như VN, Philipin, Malaysia... và  dĩ nhiên cũng có một phần hợp lý của TQ, phần còn lại thuộc vùng biển quốc tế, theo đúng Công ước Luật Biển 1982. 

Thế giới cũng nhận biết cơ sở đòi hỏi chủ quyền của TQ chỉ là một bản vẽ tay ngẫu hứng của một viên sĩ quan của chính quyền Tưởng Giới Thạch vào thời kỳ sắp sụp đổ. Bản vẽ đó lúc thì gồm 10 đoạn, lúc 9 đoạn tạo thành một đường cong chấm phá giống như cái lưỡi bò nên còn được gọi là "đường lưỡi bò" áp sát bờ biển các nước quanh biển Đông.  Chỉ từ năm 2009 nhà cầm quyền Bắc Kinh mới công bố "đường lưỡi bò" và rêu rao "TQ có đầy đủ chứng cứ lịch sử" để đòi chủ quyền đối với toàn bộ biển Đông, nhưng thực ra họ không bao giờ chứng minh được bằng chứng lịch sử  đó là gì. Và lập luận này đã bị thế giới bác bỏ ngay từ đầu. Nó hài hước đến mức Thủ tướng Đức Angela Merkel  mới đây đã "chơi khăm" tặng người đứng đầu TQ-Tập Cận Bình một tấm bản đồ cổ chính hiệu trong đó chỉ vẽ biên giới cuối cùng của TQ  đến hết đảo Hải Nam. Nghe nói ông Tập cay cú lắm, nhưng đành phải nhận để rồi ngay sau đó đã cho người tráo đổi bằng một tấm bản đồ giả hiệu khác. Tráo đổi bản đồ là một thủ đoạn xâm lược sở trường của TQ mà!

Vô lý là vậy. Nhưng mối hiểm họa đối với khu vực và thế giới cũng bắt đầu từ khi TQ không ngừng leo thang các hành động bạo lực để lấn chiếm biển đảo của các nước láng giềng nhằm hiện thực hóa đòi hỏi chủ quyền vô lý của họ. Người dân TQ đã được chính quyền của họ rắp tâm nhồi sọ bằng những kiến thức lịch sử và địa- chính trị-kinh tế bị bóp méo trong nhiều thập kỷ trước nhằm mục đích lâu dài sau này. 

Bản đồ dọc được nhà chức trách TQ mới công bố trong đó có "đường lưỡi bò"

Tuy nhiên, may thay, không phải tất cả người TQ đều tin vào những kiến thức nhồi sọ đó. Tuy không nhiều lắm, nhưng vẫn luôn có những người TQ thuộc giới trí thức và các tầng lớp xã hội khác hiểu đúng và dám lên tiếng  phê phán bóc trần thủ đoạn bịa đặt lịch sử của giới cầm quyền đất nước họ. Trong số đó, mới đây có học giả Lê Oa Đằng - chủ nhân của một trang Blog có hơn 4.039.130 người đọc đã đăng một bài viết nhan đề “Nam Hải từ xưa đến nay là của Trung Quốc ư?” Xem thêm tại đây

Điều đáng chú ý là, ngoài những lập luận bác bỏ ta từng nghe, ông Lê Oa Đằng đã nêu lên nhân tố Bách Việt là tộc người đầu tiên phát hiện và làm chủ biển Đông, và theo ông "Việt Nam ngày nay là quốc gia duy nhất được xây dựng bởi chủ thể là các hậu duệ của tộc người Bách Việt".

Để lý giải điều này học giả Lê Oa Đằng bắt đầu bằng câu hỏi: "Trung Quốc có thực sự có chủ quyền “không thể tranh cãi” đối với Nam Hải hay không? Và cũng theo ông, hãy để sự thật lên tiếng. Trung Quốc thực tế đã “phát hiện” Nam Hải từ triều Hán; nhưng Nam Hải không phải do người Trung Quốc phát hiện sớm nhất, mãi đến đời Tần Trung Quốc mới đến Nam Hải; còn trước đó từ rất lâu, tộc người Bách Việt sinh sống ở vùng Quảng Đông và bán đảo Đông Dương đã sinh sống ven Nam Hải". Và ông kết luận: "Nếu nói ai “phát hiện” ra Nam Hải thì người Việt Nam có tư cách hơn chúng ta, vì họ là hậu duệ trực hệ của người Bách Việt, và cũng là quốc gia duy nhất được xây dựng bởi chủ thể là các hậu duệ của tộc người Bách Việt"

Toàn bộ bài viết của học giả này được dẫn chứng bằng những dữ liệu tìm thấy trong sử sách Trung Quốc, nhưng ông lần lượt bác bỏ cách lập luận "vơ vào" của nhà cầm quyền Bắc Kinh. Ví dụ, ông cho rằng  từ đời Tống trở về trước đều “rất khó xác định người Trung Quốc đã biết đến Tây Sa (Hoàng Sa), chứ đừng nói tới Nam Sa (Trường Sa). Ví dụ sách “Dị vật chí” đời Đông Hán mà Trung Quốc hay nhắc tới niên đại, thì thực ra nó được viết vào đời nhà Ngô sau này. 

Ở một đoạn khác ông lập luận: Chính phủ Trung Quốc cho rằng Trướng Hải chính là Nam Hải, Kỳ Đầu chính là các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Phán đoán đó đã phạm sai lầm tối thiểu về mặt lô-gic “lấy cá thể thay cho tổng thể”. Mấy chữ đó không thể chứng minh được những địa danh đó ở nơi nào, cũng chẳng có bài viết nào của Trung Quốc chỉ ra rằng chúng ở đâu. Theo ông, sự thật là, những ghi chép đầu tiên giúp xác định Tây Sa (Hoàng Sa) lại do người Chiêm Thành cung cấp. Theo ghi chép trong sách “Tống hội yếu”, năm 1018, sứ giả Champa đi sứ Trung Quốc có nói (dịch nghĩa): “Chúng tôi đến Quảng Châu, thuyền bị gió thổi trôi đến Thạch Đường, đi mãi mới đến được đây. Thạch Đường trên biển cách Nhai Châu 700 dặm, chìm dưới nước 8-9 thước”. Qua miêu tả cho thấy, Thạch Đường chính là quần đảo Hoàng Sa. Do đoạn văn tự này do người Trung Quốc ghi lại, nên các chuyên gia Trung Quốc liền cho rằng đó là một chứng cứ lịch sử cho thấy Hoàng Sa là của Trung Quốc, nhưng họ cố tình không chịu hiểu là: phía Trung Quốc chỉ là người ghi chép lại, còn người Chiêm Thành mới là bên cung cấp thông tin, sự việc được ghi lại chính là: người Chiêm Thành đã đến quần đảo Hoàng Sa.


Chính vì vậy, nếu lấy ghi chép trong sử liệu làm chuẩn, người Chiêm Thành phát hiện ra Hoàng Sa sớm nhất, Vương quốc Champa là một bộ phận của Việt Nam ngày nay. Xét về quan hệ kế thừa chủ quyền, chính người Việt Nam chứ không phải Trung Quốc đã phát hiện ra quần đảo Hoàng Sa đầu tiên.
 
Lê Oa Đằng khẳng định, theo sử sách của chính mình, người Trung Quốc biết đến Trường Sa còn muộn hơn nhiều. Ông dẫn lại những ghi chép trong Quyển 197, sách “Tống hội yếu”, có chép lại sự kiện ngày 20 tháng 7 năm Gia Định thứ 9 (1209), có sứ giả nước Chanlifu (Chanthaburi ở Đông Nam Thái Lan ngày nay) đến thăm. Sứ giả này đã kể lại với các quan chức nhà Tống việc từ nước mình sang tới đây phải qua Chiêm Thành, sắp đến Giao Chỉ thì bị gió lớn thổi dạt đến “Vạn Lý Thạch Đường” nước chỗ nông chỗ sâu, nhiều đảo bãi, thuyền lật chết đuối mười mấy người; may có gió Đông Nam vượt qua được Giao Chỉ, đi 4-5 ngày nữa mới đến được Khâm Châu, Liêm Châu. Đoạn văn này chỉ ghi lại sự việc, chẳng nói ai phát hiện ra “Vạn Lý Thạch Đường” theo phỏng đoán là quần đảo Trường Sa.


Theo Lê Oa Đằng, Trung Quốc luôn nhấn mạnh bắt đầu từ đời nhà Tống đã quy Hoàng Sa và Trường Sa vào Vạn Châu. Chứng cứ là các địa phương chí có ghi “Vạn Châu có biển Trường Sa và biển Thạch Đường”, nhưng chỉ cần đọc hoàn chỉnh cả câu thì thấy ngay cách nói đó không đáng tin cậy. “Thực ra, hoạt động của các quốc gia khác ven Nam Hải có lịch sử rất lâu đời. Người Chiêm Thành, nay thuộc Việt Nam biết đến Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa) rất sớm, thậm chí có thể là những người phát hiện ra chúng. Việt Nam có chứng cứ đã quản trị Tây Sa (Hoàng Sa) từ đầu thế kỷ 18, thậm chí đã được quốc tế thừa nhận. Trái lại, Trung Quốc chả có chứng cứ gì về mặt này”. 
 

Là chủ trang blog Bách Việt, tôi thấy tâm đắc với ý kiến của học giả người Trung Quốc chính hiệu này vì lẽ: Mặc dù bị  các triều đại thống trị Trung Quốc ra sức tẩy xóa bằng chính sách đồng hóa liên tục suốt mấy ngàn năm nay nhưng khái niệm Bách Việt vẫn còn đó rất rõ trong tiềm thức nhân dân TQ. Vậy thì cớ sao người Việt Nam lại "quên" đi (dù là vô tình hay hữu ý) khái niệm Bách Việt trong cả sử sách giáo khoa và trong nhận thức của mỗi người?  Sao chúng ta không lắng nghe những người TQ như học giả Lê Oa Đằng để hiểu thêm về nguồn cội của dân tộc Việt Nam với tư cách là "quốc gia duy nhất được xây dựng bởi chủ thể là các hậu duệ của tộc người Bách Việt" như học giả Lê Oa Đằng đã nói? 
   
Mong thay, không chỉ nhân dân, mà quan trọng hơn là giới sử gia và giới lãnh đạo đất nước hãy lưu tâm đến vấn đề nguồn cội Bách Việt với một cách nhìn đúng đắn: Nguồn cội là cái gốc, vì nếu một dân tộc không biết mình thực sự là ai thì không thể tồn tại và phát triển lành mạnh bền vững lâu dài được. Rất nhiều người VN ngày nay vẫn tưởng mình là "từ người TQ mà ra". Nhưng đó là một quan niệm hời hợt mang nặng ảnh hưởng của thời ngàn năm Bắc thuộc. Thiết nghĩ đã đến lúc cần chấn chỉnh lại công tác học thuật theo hướng tôn trọng sự thật lịch sử, trong đó có lịch sử Bách Việt trong quá trình hình thành và phát triển của hai quốc gia TQ và VN đồng thời nhìn nhận đúng thực chất về sự giao thoa văn hóa giữa hai dân tộc Hán và Việt, coi đó là cơ sở để xây dựng mối quan hệ thật sự bình đẳng giữa hai nước. 

Riêng về lập luận chủ quyền biển đảo của VN, nhân tố cội nguồn Bách Việt cần được tính đến. Để làm điều này, cần tập trung đi sâu nghiên cứu, khai thác và vận dụng mọi dữ liệu lịch sử, khảo cổ và nhân chủng học mà thế giới đã đúc kết về Bách Việt. Trong số đó, cần khẳng định lại nhà nước Nam Việt của Triệu Đà là một trong các triều đại "tiền bối" của VN như đã được các triều đại trước thời hậu Lê công nhận. Điều này cũng phù hợp với tiến trình lịch sử dân tộc ta từ thời Kinh Dương Vương. Về chủ đề này bạn đọc có thể tham khảo thêm tại đây: http://vi.wikipedia.org/wiki/.   


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ba lựa chọn khiến TQ phải trả giá



(GDVN ngày 22/5/201`5 - Trung Quốc cần phải trả giá về những hành vi bất hợp tác của họ


Thượng nghị sĩ John McCain, Chủ tịch Ủy ban Quân vụ Thượng viện Hoa Kỳ. Ảnh: Raw Story.




Tờ Breaking Defense ngày 21/5 đưa tin, 3 Thượng nghị sĩ trong Ủy ban Quân vụ Thượng viện Hoa Kỳ đã quyết định lên án các hành động xây dựng đảo nhân tạo bất hợp pháp của Trung Quốc tại quần đảo Trường Sa (thuộc chủ quyền Việt Nam) sau khi Hải quân Mỹ công bố video máy bay tuần tra P-8 bị Trung Quốc sách nhiễu khi đang bay trên không phận quốc tế tại Trường Sa hôm qua trên đài CNN.



Thượng nghị sĩ John McCain, Chủ tịch Ủy ban Quân vụ Thượng viện cùng 2 đồng nghiệp, Thượng nghị sĩ Brian Schatz của Hawaii và Dan Sullivan của Alaska cùng đưa ra dự thảo nghị quyết lên án Trung Quốc leo thang, biến đá ngầm thành đảo bất hợp pháp ở Trường Sa, đồng thời kêu gọi một giải pháp hòa bình và đa phương cho tranh chấp Biển Đông.



"Nỗ lực của Trung Quốc là nhằm đơn phương vẽ lại ranh giới trên biển, làm trầm trọng thêm những rủi ro, nguy cơ nhận thức sai lầm, tai nạn và xung đột. Dự thảo nghị quyết của cả 2 đảng chúng tôi muốn xác quyết rằng, Trung Quốc cần hành động có trách nhiệm. Hoa Kỳ cam kết thúc đẩy hòa bình, ổn định trong khu vực, bảo vệ lợi ích của mình và các đồng minh, đối tác liên quan đến tranh chấp thông qua một quá trình đa phương", Thượng nghị sĩ Schatz tuyên bố.



3 Thượng nghị sĩ Mỹ cũng lưu ý, Trung Quốc đã đẩy mạnh xây dựng các đảo nhân tạo (bất hợp pháp) ở Trường Sa là vi phạm luật pháp quốc tế, tuyên bố về ứng xử của các bên trên Biển Đông 2002 (DOC). Hành động khiêu khích của Trung Quốc đang đe dọa làm suy yếu hòa bình, ổn định trong khu vực. 3 Thượng nghị sĩ này cho rằng Trung Quốc cần phải trả giá về những hành vi bất hợp tác của họ.



"Có lẽ hiệp định hợp tác hạt nhân Mỹ - Trung không nên được gia hạn; Hoặc chúng ta nên xem xét tiếp tục bán vũ khí cho Đài Loan; Hoặc chúng ta có thể thực hiện một sáng kiến giúp xây dựng năng lực cho quân đội Philippines", Thượng nghị sĩ John McCain và các đồng nghiệp trong Ủy ban Quân vụ Thượng viện cho biết. Họ lưu ý Trung Quốc đã bồi lấp đến 2000 mẫu anh đảo nhân tạo ở Trường Sa.



McCain nói rằng ông muốn có hình ảnh công khai hơn về hoạt động xây dựng đảo nhân tạo (bất hợp pháp) của người Trung Quốc và kêu gọi tiếp tục công bố các tài liệu tình báo Hoa Kỳ để chứng minh mức độ dự án xây dựng, bồi lấp của Trung Quốc ở Trường Sa. "Hình ảnh sẽ là những công cụ mạnh mẽ, cho thấy phạm vi mức độ đáng báo động những nỗ lực thúc đẩy yêu sách chủ quyền của Bắc Kinh."



Trong một động thái có liên quan, Yahoo News ngày 22/5 dẫn nguồn tin thông tấn AFP cho biết, máy bay do thám và tàu hải quân Mỹ hiện chưa tiến vào 12 hải lý xung quanh các đảo nhân tạo (phi pháp) của Trung Quốc ở Trường Sa, nhưng Lầu Năm Góc cảnh báo rằng có thể đó sẽ là bước tiếp theo. Trước đó các quan chức Mỹ cho biết họ đang cân nhắc phương án này nhằm bác bỏ tuyên bố "chủ quyền" vô lý của Bắc Kinh.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tiến sĩ Trần Công Trục nhận định về khả năng đụng độ trên Biển Đông


QUỐC TOẢN (GDVN) - Việc Trung Quốc tăng cường các hoạt động (phi pháp) trên Biển Đông, đã, đang trở thành mối nguy hiểm, đe dọa hòa bình, an ninh trong khu vực và thế giới.

Tiến sĩ Trần Công Trục, nguyên trưởng 
Ban Biên giới Chính phủ (ảnh: Ngọc Quang)
LTS: Với hàng loạt các vấn đề liên quan đến những tranh chấp biển, đảo trong thời gian qua, có thể thấy, mục tiêu của Trung Quốc là mở rộng vùng ảnh hưởng trên biển, biến Biển Đông trở thành "ao nhà" của họ...Để làm rõ vấn đề này, hôm 21/5, phóng viên Báo điện tử Giáo dục Việt Nam đã có cuộc trao đổi với tiến sĩ Trần Công Trục, nguyên trưởng Ban Biên giới Chính phủ. 

PV: Ông đánh giá thế nào về việc Trung Quốc ngày càng gia tăng các hoạt động phi pháp trên Biển Đông, biến các đảo chìm thành đảo nổi (thuộc chủ quyền của Việt Nam); đơn phương đưa ra cái gọi là "lệnh cấm đánh bắt cá trên Biển Đông?
Tiến sĩ Trần Công Trục: Đây là những động thái bộc lộ quá rõ nhưng toan tính của họ, cụ thể:

Trung Quốc tiếp tục mục tiêu hợp thức hóa cái gọi là “chủ quyền” đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Vị trí mà các năm 1956, 1974, 1988 họ đã sử dụng vũ lực để đánh chiếm hoàn toàn quần đảo Hoàng Sa và một số thực thể phía Tây Bắc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Họ lợi dụng mọi cơ hội để tạo ra tình huống, giành lấy sự công nhận trên thực tế các quyền phi pháp trong các vùng biển thuộc các quyền chính đáng của các nước ven Biển Đông theo yêu sách “lưỡi bò”của họ.

Nghiêm trọng hơn, Trung Quốc muốn từ những căn cứ này để cưỡng chiếm thêm các thực thể khác. Trong đó có cả các thực thể là những bãi cạn nằm trên thềm lục địa của các quốc gia ven Biển Đông được xác định theo đúng UNCLOS 1982.

Trung Quốc đang quyết tâm biến các bãi cạn, rạn san hô, các bãi đá trở thanh các đảo đủ lớn. Ý định của họ nhằm tạo lợi thế pháp lý trong việc tính đến hiệu lực của chúng khi xác định phạm vi các vùng biển và thêm lục địa theo quy đinh của UNCLOS 1982.

Đó chính là âm mưu tìm cách biện minh cho sự tồn tại phi lý của yêu sách “lưỡi bò” của Trung Quốc đang bị dư luận phê phán và lên án mạnh mẽ.

Cần phải nói thêm rằng, các bãi cạn đang được cải tạo nâng cấp còn là những căn cứ quân sự tấn công hết sức lợi hại, tạo ra thế trận tấn công “cài răng lược”.


Indonesia đánh chìm 1 tàu cá Trung Quốc để xoa dịu dư luận

(GDVN) - Indonesia đã đáp lại những chỉ trích rằng nước này bị khuất phục bởi sức mạnh của Trung Quốc bằng cách đánh chìm một tàu cá vỏ thép 300 tấn.

Điều này trực tiếp đe dọa, khống chế, ngăn cản và có thể dễ bề tiêu diệt mọi căn cứ, cơ sở quốc phòng, kinh tế, dân sinh… của các lực lượng khác đang có mặt trên quần đảo này.

Việt Nam - những chủ nhân thật sự của quần đảo Trường Sa phải hết sức cảnh giác trước âm mưu nguy hiểm đó.

Các công trình được xây dựng trái phép ở đây còn là những cơ sở khoa học kỹ thuật nhằm phục vụ cho mục đích kinh tế. Nó thực hiện theo dõi, khống chế, cản trở hoạt động bình thường của tàu thuyền, máy bay đi qua Biển Đông trên các tuyến hàng hải và hàng không quốc tế.

Các công trình được xây cất ở đây cũng còn là những khu dịch vụ hậu cần không thể thiếu để Trung Quốc có điều kiện triển khai kế hoạch khai thác, vơ vét nguồn tài nguyên trong các vùng biển và thềm lục địa. Đây là ý định mà từ lâu họ ấp ủ tham vọng “xí phần”, tranh giành, chiếm đoạt…

Cuối cùng, có thể thấy rõ, ý đồ thực hiện những mục tiêu nói trên thông qua việc cải tạo, xây dựng trên các thực thể này, Trung Quốc đang quyết tâm thực hiện chiến lược khống chế, tiến tới độc chiếm Biển Đông.

Mục tiêu biến Trung Quốc vươn lên vị trí cường quốc biển trước khi trở thành siêu cường quốc tế…

PV: Song song đó, Trung Quốc liên tục đưa ra các lý do nhằm thanh minh, bao biện cho các hành động đi ngược lại với luật pháp quốc tế, nhằm biến Biển Đông thành "nhà, vườn" của họ. Ông có bình luận gì về vấn đề này?
Tiến sĩ Trần Công Trục: Những việc làm của Trung Quốc nói trên là đi ngược lại các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, các quy định của UNCLOS.

Tuy vậy, gần đây, Trung Quốc đã và đang tìm mọi cách thanh minh, biện bạch rằng họ có quyền làm như vậy vì đây là "nhà", là "vườn" của họ; các nước khác cũng đang xây đảo trên Trường Sa...

Liệu những lập luận ngụy biện này của Trung Quốc có đứng vững được không? Tôi cho rằng nên tìm câu trả lời cho 2 câu hỏi sau đây:

Thứ 1: Quần đảo Trường Sa “là nhà, là vườn” của ai?

Câu trả lời thật sự khách quan đúng đắn nhất dưới ánh sáng của luật pháp và thực tiễn quốc tế hiện hành là: quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa hoàn toàn thuộc chủ quyền Việt Nam.

Bởi vì Nhà nước Việt Nam là Nhà nước đầu tiên trong lịch sử đã chiếm hữu 2 quần đảo này từ khi chúng còn là đất vô chủ, ít nhất là từ thế kỷ thứ XVII.

Việc chiếm hữu và thực thi chủ quyền này là thật sự, rõ ràng, liên tục và hòa bình; phù hợp với nguyên tắc của luật pháp và thực tiễn quốc tế hiện hành.



Trung Quốc đang xây dựng phi pháp sân bay, bến cảng ở đá Chữ Thập thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam (nguồn dw.de)

Việt Nam có đầy đủ các căn cứ pháp lý và chứng cứ lịch sử có giá trị pháp lý đề chứng minh và bảo vệ cho chân lý này.

Còn Trung Quốc thì sao? Họ vẫn luôn luôn khẳng định rằng quần đảo Tây Sa (tức quần đảo Hoàng Sa) và quần đảo Nam Sa (tức quần đảo Trường Sa) thuộc chủ quyền của họ bởi vì có người từng cho rằng họ có “chủ quyền lịch sử”, có “danh nghĩa lịch sử” đối với các quần đảo này.


Hunsen: Tốn bao nhiêu tiền Trung Quốc cũng chi

(GDVN) - Người bạn Trung Quốc của chúng ta chỉ nói rằng, bất cứ tốn kém bao nhiêu họ cũng sẽ chi hết, Campuchia và Thủ tướng Hunsen hài lòng về điều đó.

Thậm chí cả trong phạm vi khoảng 90% diện tích Biển Đông, đều nằm trong đường yêu sách “lưỡi bò” của họ.

Quan điểm pháp lý này của Trung Quốc không đứng vững được trước ánh sáng của luật pháp và thực tiễn quốc tế. Nhiều học giả quốc tế, thậm chí kể cả cả học giả Trung Quốc cũng đã phê phán, bác bỏ quan điểm này.

Như vậy, rõ ràng là quần đảo Trường Sa không phải là “nhà”, là “vườn” của họ. Trung Quốc đã dùng vũ lực để chiếm đoạt “nhà, vườn” của Việt Nam - đó là thực tế không thể chối cãi được.

Việc chiếm đóng và tiến hành xây dựng trên các thực thể thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam là hoàn toàn phi pháp, vi phạm chủ quyền quốc gia.

Trung Quốc đang tiến hành các hoạt động phi pháp trong “nhà”, trong “vườn” của Việt Nam, chứ không phải là những hoạt đông bình thường trong “nhà”, trong “vườn” của họ!

PV: Có thể đánh đồng các hoạt động của Trung Quốc với các hoạt động của Việt Nam tại khu vực quần đảo Trường Sa không, thưa ông? 

Tiến sĩ Trần Công Trục: Câu trả lời là không thể. Bởi vì:

Việt Nam là chủ nhân của quần đảo Trường Sa. Người Việt Nam đã từng sinh sống, xây dựng, cai quản, bảo vệ quần đảo này đã từ mấy trăm năm nay, ít nhất là từ thế kỷ XVII.

Việc Việt Nam xây dựng nâng cấp các công trình phục vụ dân sinh, kinh tế, an ninh, quốc phòng trên đất của mình hoàn toàn là chuyện bình thường. Đây không phải là những hoạt động làm thay đổi hiện trạng, làm cho tình hình Biển Đông thêm căng thẳng…

Còn Trung Quốc thì sao? Họ mới đánh chiếm một số thực thể phía Tây Bắc quần đảo này từ năm 1988; việc tiếp tục xây dựng, tăng cường điều động binh lính xuống đóng giữ… biến bãi cạn thành đảo nổi phục vụ mục đích tấn công quân sự.

Trung Quốc tìm cách khống chế Biển Đông là không những vi phạm chủ quyền của Việt Nam như đã phân tích ở trên, mà còn phá vỡ cam kết được ghi nhận tại Điều 4 và Điều 5 của DOC (Tuyên bố ứng xử trên Biển Đông).

Họ cố tình phá vỡ hiện trạng đúng theo tinh thần của tuyên bố chính trị này. Vì vậy không thể so sánh, đánh đồng với các hoạt đông chính đáng của Việt Nam.

PV: Ông đánh giá như thế nào về khả năng đụng độ trên Biển Đông giữa các nước có chung lợi ích, được luật pháp quốc tế thừa nhận?

Tiến sĩ Trần Công Trục: Trung Quốc tăng cường lấn đảo, biển, Mỹ điều tàu chiến đến gần…Tình huống này nếu không kiểm soát được, thì khả năng đụng độ là rất cao. Đặc biệt, trong thời điểm hiện tại, Trung Quốc vẫn tiếp tục phớt lờ mọi thỏa thuận chính trị song phương hoặc đa phương.

Theo đó, Trung Quốc tiếp tục tìm cách liên minh hoặc chia rẽ, phân hóa nội bộ trong từng quốc gia hay trong các tổ chức khu vực, quốc tế để phục vụ cho chiến lược “khống chế, tiến tới độc chiếm Biển Đông”.

Lịch sử nhân loại qua các cuộc chiến tranh tàn khốc cũng cho thấy nguyên nhân của mọi cuộc xung đột, chiến tranh, dù là nóng hay lạnh, cũng đều bắt đầu bằng sự tranh giành vị thế, quyền lợi giữa các cường quốc.

Tuy nhiên, xung đột, chiến tranh liệu có xảy ra hay không và vào lúc nào? Đó còn là cả một vấn đề phụ thuộc rất nhiều vào những điều kiện, hoàn cảnh khách quan và chủ quan của các bên liên quan.

PV: Các nước lớn, đặc biệt là Chính phủ Mỹ đang tìm cách đối phó với sự hung hăng của Trung Quốc, đồng thời sẽ có lập trường cứng rắn với Trung Quốc (sẽ hiện diện quân sự ở Biển Đông). Ông đánh giá thế nào về vai trò của các nước lớn trong việc giải quyết tranh chấp Biển Đông?

Tiến sĩ Trần Công Trục: Không còn nghi ngờ gì nữa, dư luận quốc tế và hầu hết các quốc gia trên thế giới, nhất là Mỹ, đã thấy rõ sự nguy hiểm và phi pháp của những công trình mà Trung Quốc đã và đang xây cất.

Trung Quốc đã, đang mở rộng, bằng việc bồi đắp trên các bãi cạn, rạn san hô, trở thành các đảo nhân tạo to lớn trong khu vực quần đảo Trường Sa. Xây các đường băng sân bay, các công trình quân sự, các khu dịch vụ kinh tế, kỹ thuật, hậu cần.

Đây trở thành mối hiểm họa hiện hữu, hội đủ các điều kiện để trước mắt là khống chế và cản trở việc thông thương qua lại của tàu thuyền, máy bay các nước hoạt động qua Biển Đông; sớm khống chế toàn diện, tiến tới độc chiếm Biển Đông theo đúng kịch bản mà Trung Quốc đã ôm ấp từ lâu.

Phải chăng đây là dấu hiệu cho thấy đã đến lúc không thể chỉ dùng lời lẽ ngoại giao chung chung để thuyết phục, gây sức ép buộc Trung Quốc phải từ bỏ ý đồ của mình?


Hoàn Cầu Thời báo có hiểu lời dạy của Khổng Tử? (GDVN) - Chính quyền Trung Quốc đầu tư khá nhiều tiền của nhằm quảng bá Khổng Tử ra toàn thế giới, còn Hoàn Cầu Thời báo thì lại đang sổ toẹt vào các tư tưởng của ngài

Có lẽ đã đến lúc phải có hành động mạnh mẽ hơn, phải sử dụng đến sức mạnh để đối trọng với những gì Trung Quốc đã, đang vi phạm các quyền và lợi ích chính đáng của các quốc gia khác trong khu vực và thế giới?

Đã đến lúc Mỹ cần phải thực hiện một cách thực sự nghĩa vụ của mình trước các đồng minh trong khu vực đang bị xâm hại.

Chính sách xoay trục sang châu Á- Thái Bình Dương của Mỹ đã đến lúc không phải chỉ dừng lại bởi những tuyên bố ngoại giao chung chung và tình trạng “ỡm ờ về chiến lược”.

Có lẽ đã đến lúc Mỹ phải đi vào hành động thực chất nếu họ không muốn bị tước ngôi vị trước sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc?

Phải chăng vì Mỹ đã sai lầm trong việc tiếp tục chính sách trung lập đối với các tranh chấp chủ quyền lãnh thổ trong Biển Đông, bất chấp sự thật đúng sai?. Vì lợi ích của riêng mình, Mỹ đã rút khỏi khu vực Biển Đông nói riêng và khu vực châu Á –Thái Bình Dương nói chung?

Điều này tạo cơ hội cho Trung Quốc nắm lấy để thực hiện các bước tiến mạnh mẽ nhằm hiện thực hóa yêu sách của họ trong Biển Đông như hiện nay. Việc này đặt Mỹ vào tình thế bất lợi, buộc họ phải điều chỉnh, thay đổi chính sách của mình.

Nhưng nếu Mỹ chỉ quan tâm đến lợi ích an ninh an toàn hàng hải của riêng mình không thôi thì có lẽ chỉ là giải quyết được “cái ngọn” của vấn đề, thậm chí có thể được hiểu đây chỉ là cái cớ để Mỹ quay lại Biển Đông, chứ không phải là đã quan tâm giải quyết “tận gốc” của vấn đề phức tạp hiện nay.

Vì vậy, nên chăng đã đến lúc mọi tranh chấp muốn giải quyết triệt để thì chỉ có thể bắt đầu từ gốc, không phải là từ ngọn?

Vấn đề chủ quyền lãnh thổ đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa của Việt Nam mới là gốc rễ của vấn đề cần được quan tâm giải quyết một cách minh bạch, dưới ánh sáng của luật pháp và thực tiễn quốc tế.

Trong bối cảnh quốc tế hiện nay, biện pháp đấu tranh ngoại giao, pháp lý vẫn là thích hợp nhất so với biện pháp quân sự.

Bởi vì, hòa bình luôn luôn là nguyện vọng tha thiết nhất của nhân loại.

Nhiều nhà bình luận quốc tế cũng đã từng cảnh báo rằng đã có lúc thế giới đang đứng bên miệng hố chiến tranh bởi những tranh chấp gay gắt giữa các thế lực mang đậm màu sắc chính trị, quân sự, sắc tộc và tôn giáo.

Tại thời điểm hiện tại, thế giới vẫn đang ở trong tình trạng bất ổn đó. Các liên minh, các phe phái đối nghịch nhau trên phạm vi thế giới đã có mầm mống xuất hiện tại một số điểm nóng.

Biển Đông là một trong số điểm nóng đó. Có thể nói đây là thời khắc mà mọi ứng xử đều hết sức thận trọng, phải đặt lợi ích chung vì hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển của khu vực và thế giới lên trên hết.

Không nên “đổ thêm dầu vào lửa”! Cách ứng xử thích hợp nhất là phải thật sự bình tĩnh, cảnh giác phân biệt rõ đúng sai.

Bất kể là ai, dù đó là Mỹ hay Trung Quốc nếu hành xử không theo đúng các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, vi phạm các quyền và lợi ích chính đáng của mình thì kiên quyết phản đối đấu tranh đến cùng, không khoan nhượng.
QUỐC TOẢN (THỰC HIỆN
http://giaoduc.net.vn/Xa-hoi/Tien-si-Tran-Cong-Truc-nhan-dinh-ve-kha-nang-dung-do-tren-Bien-Dong-post158488.gd
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Để được làm người tử tế ( Không thể nghĩ sổi, ăn non được vì chẳng bao giờ có con đường đi tắt nào dẫn đến thành công )



Hồ Quốc Tuấn
Trong một thời gian dài, Việt Nam đã chọn mô hình tăng trưởng kinh tế có tính “đi tắt đón đầu”, chọn cái dễ mà làm, dựa vào nguồn ngoại lực và tài nguyên sẵn có, và hệ quả là đã làm triệt tiêu nội lực, thỏa hiệp với tiêu cực và chèn ép người tử tế...

Từ một mô hình kinh tế “đi tắt đón đầu”...

Từ khi kinh tế mở cửa, Việt Nam đã đạt được những bước tăng trưởng rất ấn tượng trong hơn hai thập niên, bất chấp đợt khủng hoảng kinh tế châu Á năm 1997. Tuy nhiên, mô hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam có tính đi tắt đón đầu, chọn cái dễ mà làm. Đặc trưng của mô hình này chính là việc dựa vào nguồn ngoại lực như vốn nước ngoài, bao gồm cả FDI, ODA và vốn đầu tư gián tiếp, đồng thời thúc đẩy những tập đoàn kinh tế nhà nước lớn, nhắm tới làm những cái to lớn, “hàng đầu thế giới”, trong khi bỏ qua việc chăm lo cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa và từng bước xây dựng nội lực để phát triển kinh tế.

Mô hình kinh tế này tận dụng sự thâm dụng nguồn tài nguyên sẵn có, lao động và vốn (mà một phần đáng kể là nguồn vốn bên ngoài), và sự lạc quan đối với một nền kinh tế mở cửa để tạo ra tiêu dùng, đầu tư và tăng trưởng.

Nhưng quá trình mở cửa và gỡ bỏ những rào cản trong môi trường kinh doanh đó đã chững lại từ những năm đầu thế kỷ 21. Những năm 1998-2001, để duy trì tăng trưởng kinh tế, thay vì tiếp tục chọn con đường có nhiều thử thách là đẩy mạnh cải cách và cởi trói cho môi trường kinh doanh, Chính phủ đã chọn con đường dễ hơn, gia tăng vay nợ (bao gồm ODA) và ưu đãi cho dòng vốn đầu tư quốc tế, bất chấp việc phải cấp nhiều vốn hơn mới đạt được 1% tăng trưởng. Nhưng một phần lớn nguồn lực đó chủ yếu lại được chuyển qua các nhóm lợi ích như các tập đoàn kinh tế nhà nước, một phần không nhỏ dòng vốn nước ngoài lại chảy vào bất động sản hoặc những hoạt động kinh doanh không đem lại những chuyển giao kỹ thuật.

Hệ quả của con đường tăng trưởng dễ dàng này là hiệu quả đầu tư và ứng dụng công nghệ trong nền kinh tế ngày một giảm sút trong khi môi trường kinh doanh hầu như không cải thiện đáng kể. Hệ số về hiệu quả sử dụng vốn ICOR cho thấy chi phí vốn tăng thêm để tạo ra một đồng tăng thêm của GDP ngày càng cao. Theo một bài về đánh giá hiệu quả đầu tư của tác giả Bùi Trinh trên TBKTSG năm 2011, nếu giai đoạn 2000-2005 bỏ ra gần 5 đồng có thể tạo ra 1 đồng tăng thêm của GDP, thì đến giai đoạn 2006-2010 phải bỏ ra 7,4 đồng mới tạo ra 1 đồng tăng thêm của GDP.

Trong phân tích của mình, tác giả Bùi Trinh cũng cho thấy hệ số TFP, đo lường đóng góp của tiến bộ công nghệ đến tăng trưởng kinh tế, chỉ còn đóng góp 8,8% vào tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn 2006-2010 so với mức 22% của giai đoạn 2000-2005. Nói cách khác, phí tổn vốn cho 1 đồng tăng trưởng GDP tăng đến gần 50% trong giai đoạn 2006-2010 trong khi tác động của công nghệ đến tăng trưởng kinh tế tụt dốc thảm hại trong khi người ta vẫn cho rằng với việc mở cửa và đón nhận FDI chúng ta sẽ học hỏi được kinh nghiệm và công nghệ của nước ngoài.

Trong khi đó, môi trường kinh doanh (theo báo cáo Doing Business của Ngân hàng Thế giới) không có cải thiện đáng kể ở các khoản mục thành lập doanh nghiệp, cung cấp điện, thuế, bảo vệ nhà đầu tư từ sau năm 2005. So với các quốc gia láng giềng, xếp hạng về môi trường kinh doanh của Việt Nam bị bỏ xa so với nhóm Singapore, Malaysia và Thái Lan, và quanh đi quẩn lại trong nhóm với Indonesia, Philippines và Trung Quốc.

Thực trạng xếp hạng thấp từ báo cáo của Doing Business 2015 và con số TFP năm 2011 của tác giả Bùi Trinh tuy khác nhau về thời điểm nhưng chỉ ra một điều: cơ sở hạ tầng và khả năng hấp thu công nghệ của Việt Nam đã và đang tụt hậu so với yêu cầu của nền kinh tế. Nói cách khác, tăng trưởng dựa vào ngoại lực không hề lan tỏa thành một cú hích đáng kể cho nội lực, mà lại còn triệt tiêu nó.

Có thể nói, tình thế nợ công tăng, nợ xấu nhiều, doanh nghiệp tư nhân suy yếu như hiện nay là hệ quả của một tư duy tăng trưởng kinh tế dễ dàng, đi tắt đón đầu, dựa vào ngoại lực và bỏ bê nội lực, đến mức mà chuyên gia Phạm Chi Lan phải lo ngại là sắp tới chúng ta chỉ có thể còn các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ chứ không còn “nhỏ và vừa” nữa.

...biến điều bất thường thành bình thường

Không chỉ nợ công, nợ xấu cao và nền kinh tế kiệt quệ nội lực, cái nguy hiểm nhất của mô hình tăng trưởng dễ dàng này là nó đi kèm với một tư duy phải tạo ra thành tích nhanh và nhiều, sẵn sàng thỏa hiệp với tiêu cực miễn sao “được việc”, dẫn đến những điều bất bình thường được xem là bình thường.

Lấy ngành ngân hàng làm ví dụ. Đã có một giai đoạn, sở hữu chéo giữa các ngân hàng trở thành chuyện bình thường trong giai đoạn trước khi khủng hoảng toàn cầu lan rộng đến Việt Nam và thậm chí vài năm sau đó. Nếu không có sự sụt giảm tăng trưởng dẫn đến nợ xấu ngân hàng tăng nhanh và những hệ lụy sau đó, có lẽ đó vẫn là một điều được hiển nhiên chấp nhận trong ngành ngân hàng.

Không chỉ trong ngành nhạy cảm như ngân hàng, mà ở khắp các lĩnh vực trong nền kinh tế, hành vi trốn thuế, làm giá chứng khoán, vay nợ không có trách nhiệm, buộc ngân sách bù đắp những khoản lỗ, duy trì tình trạng độc quyền và bất chấp lợi ích dân tộc để bảo vệ lợi ích nhóm... sinh sôi và nảy nở nhanh chóng. Người ta không quan tâm đến cạnh tranh lành mạnh và bình đẳng bằng cách cải tiến chất lượng và năng suất, mà chỉ quan tâm làm sao tiêu diệt được đối thủ nhanh nhất và làm giàu dễ nhất.

Càng ngày chúng ta lại càng thấy nhiều hơn những điều không bình thường. Những thương hiệu mà người Việt Nam có thể tự hào là của mình ngày một giảm đi (bị bán đi hoặc mất đi). Môi trường bị tàn phá khiến chúng ta không còn nhiều cảnh đẹp thiên nhiên để khoe với bạn bè quốc tế, chỉ còn lại những bờ biển bị băm nát. Con số tiến sĩ chúng ta đào tạo ngày càng tăng nhanh nhưng số công trình khoa học được đăng tạp chí quốc tế có uy tín và số ứng dụng công nghệ không tăng tương ứng. Những điều này thoạt đầu xuất hiện thì gây bàn tán trong dư luận như những điều lạ, bất thường, dần dần, dường như trở thành một sự thật hiển nhiên đang diễn tiến tại Việt Nam. Càng ngày người ta càng nhắm mắt với những tiêu cực, từ các cơ sở kinh tế cho đến bệnh viện, trường học, miễn là nó “bôi trơn” được cho sự vận hành của nền kinh tế.

...và hiệu ứng “chèn ép người tử tế”

Khi những tiêu cực của xã hội ngày một nhân rộng và trở thành chuyện bình thường, những người tử tế không chấp nhận thỏa hiệp với tiêu cực sẽ hoặc là phải tự động rút lui hoặc bị “chèn lấn” (mượn từ thuật ngữ crowding out trong kinh tế học). Đây là một hiệu ứng không mong muốn của mô hình tăng trưởng cũ của Việt Nam.

Lấy ví dụ, trong một nền kinh tế mà bong bóng tài sản bị đẩy lên đỉnh điểm như cách đây vài năm, để có thể vay vốn ngân hàng trong một nền kinh tế tăng trưởng nhanh và mọi người đòi hỏi tỷ suất sinh lợi cao một cách bất hợp lý (do bong bóng tài sản và lãi suất cao gây ra), khi không có cách nào để kiếm ra tỷ suất sinh lợi đó một cách đàng hoàng thì người ta móc nối với nhau để làm ra những con số, những dự án không có thật, thổi phồng những chiêu kiếm tiền để lừa ngân hàng, lừa nhà đầu tư và lừa lẫn nhau. Hệ quả là nợ xấu ngày càng chồng chất, các vụ án kinh tế, lừa đảo ngày một nhiều, còn người làm ăn tử tế thì vay không được tiền hoặc không dám vay vì lãi suất quá cao.

Trong lĩnh vực giáo dục hay y tế cũng dễ tìm thấy những cái không tử tế. Chẳng hạn, vì việc chạy theo cái gọi là có công trình khoa học đăng báo quốc tế nhanh nhất, người ta bất chấp mọi cách để có tên đăng báo, bất chấp ngụy tạo số liệu, đồng tác giả, hay thậm chí cố mà ra được một tạp chí quốc tế và tranh cho được quyền tổng biên tập. Vậy thì làm sao có người dám ngồi làm một công trình nghiên cứu công phu nhiều năm mà cuối cùng kết quả cũng y như người “đi tắt đón đầu”?

Bài học khủng hoảng tài chính gần đây ở nước ngoài và những vấn đề trong nước cho chúng ta thấy thỏa hiệp với những điều không đàng hoàng sẽ mang lại hệ quả khôn lường. Đối với ngành ngân hàng trong nước, chúng ta đã làm quá trễ trong chuyện kiểm soát rủi ro, dẫn đến nợ xấu tăng mạnh. Đối với tài chính công, chúng ta đã để cho sự lãng phí và tham nhũng trong các dự án công và công ty nhà nước đi quá xa để dẫn đến những sự cố “Vina”. Chúng ta không nên để những chuyện như vậy lặp lại nữa.

Đã đến lúc chúng ta phải thừa nhận rằng con đường của Việt Nam sẽ không còn dễ dàng, dựa vào vận may như trước nữa. Chắc chắn sẽ có nhiều cách nhìn khác nhau về mô hình tăng trưởng mới ở Việt Nam. Nhưng là gì đi nữa, chắc ai cũng sẽ đồng ý: nó không nên là một mô hình chèn ép người tử tế.

Muốn tạo ra thay đổi đối với sức cạnh tranh cốt lõi ở Việt Nam thì không nhất thiết chỉ có thể bắt đầu từ những thứ to tát như tranh cãi về chuyện có nên bơm tiền, kích cầu, phá giá đồng tiền hay không. Mà hãy bắt đầu bằng việc tạo ra một môi trường để người ta có thể làm ăn tử tế, sòng phẳng và không bị chèn ép.

Hy vọng rằng sau 10 năm nữa, những điều này không phải là chỉ là mơ ước ở Việt Nam.

Nguồn:Thời báo Kinh tế Sài Gòn
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đường chung ta cứ đi - Mặc ai cấm ngăn hay nghĩ gì.. Đủng đỉnh Mẽo!

Lầu Năm Góc lên tiếng vụ TQ 'đuổi' máy bay Mỹ


Thái An (theo SCMP)
VNN - Mỹ muốn thực hiện quyền bay qua không phận quốc tế - Bộ Quốc phòng nước này tuyên bố sau sự việc Hải quân TQ cảnh báo máy bay giám sát Mỹ, yêu cầu rời khu vực các bãi ngầm mà họ đang cải tạo trái phép ở quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Báo Bưu điện Hoa nam buổi sáng (Hong Kong) hôm nay cho biết, các máy bay giám sát và tàu hải quân Mỹ vẫn chưa "sát hạch" yêu sách chủ quyền của TQ ở xung quanh các đảo nhân tạo tại Biển Đông nhưng Lầu Năm Góc đã cảnh báo đó có thể là "bước đi tiếp theo".

Phát ngôn viên Lầu Năm Góc Steven Warren khẳng định, Mỹ không công nhận yêu sách chủ quyền của TQ xung quanh các kết cấu nhân tạo. Tuy nhiên, các máy bay giám sát P-8 và tàu hải quân Mỹ tuần tra ở Biển Đông chưa thử hoạt động trong khu vực 12 hải lý của các đảo nhân tạo. “Đó sẽ là bước tiếp theo", ông nói với báo giới. "Chúng tôi sẽ tiếp tục các sứ mệnh tuần tra thông thường của mình".

Trước đó, quan chức Mỹ cho hay, họ đang cân nhắc chọn lựa điều tàu chiến và máy bay giám sát đến khu vực 12 hải lý xung quanh các đảo nhân tạo ở Biển Đông. Nhiều chuyên gia lo ngại về khả năng gia tăng căng thẳng khi hai bên đối đầu ở vùng biển có các hải lộ quan trọng bậc nhất với thương mại toàn cầu.

Tập trung chú ý toàn cầu

Người phát ngôn Lầu Năm Góc đưa ra bình luận trên sau khi nhóm phóng viên truyền hình CNN có mặt trên máy bay giám sát P-8 Poseidon và thu lại được cảnh báo gửi tới máy bay từ phía lực lượng TQ ở Biển Đông. Hải quân TQ đã 8 lần phát đi cảnh báo trong chuyến tuần tra của P-8 ở gần Đá Chữ Thập - một trong những bãi đá mà TQ đang tiến hành hoạt động cải tạo quy mô rất lớn.

Nhà báo hiếm khi được cho phép bay trên chiếc P-8 và càng hiếm khi được cho phép quay phim bên trong buồng lái máy bay.

Theo giới phân tích, việc Lầu Năm Góc lần đầu tiên cho phép việc này, cùng với quyết định đưa ra cuốn video của Hải quân Mỹ về chuyến tuần tra của P-8 cho thấy, Washington quyết tâm tập trung sự chú ý của toàn cầu vào công việc cải tạo đảo quy mô lớn mà TQ đang làm trái phép ở Biển Đông.

Trong khi đó, tại Washington hôm qua, Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ đặc trách các vấn đề Đông Á - Thái Bình Dương Daniel Russel nói trong một cuộc họp báo rằng, chuyến bay giám sát của Mỹ là "hoàn toàn phù hợp" và các lực lượng hải quân, máy bay quân sự Mỹ sẽ tiếp tục thực hiện quyền hoạt động ở vùng biển và không phận quốc tế.

Ông tuyên bố, Mỹ sẽ tiến xa hơn để đảm bảo khả năng tất cả các nước hoạt động ở vùng biển, không phận quốc tế. “Không ai nghĩ sẽ cố gắng ngăn chặn Hải quân Mỹ hoạt động, đó không phải là chọn lựa tốt", ông nói. "Chúng tôi tin rằng, mọi quốc gia đều có quyền tiếp cận tự do vùng biển và không phận quốc tế".

Với việc Bắc Kinh tiến hành cải tạo đảo quy mô chưa từng có ở Biển Đông, một chỉ huy hải quân Mỹ đã cáo buộc TQ đang đựng một "bức trường thành bằng cát" để độc chiếm vùng biển.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Miệng liền tai, có nói mình lại nghe thui, nhà thơ ạ!


Văn Công Hùng· 
MỘT NGÀY TÙ NGÀN THU Ở NGOÀI- ai nói câu ấy, cụ Hồ ạ. Tất nhiên là cụ trích lại của người xưa. Thế mà vụ cháu Đỗ Quang Thiện ở Đăk Lăk đã được tòa án tối cao kháng nghị tạm đình chỉ thi hành án, trả tự do cho cháu để cháu về đi thi tốt nghiệp, thế mà đã ký mấy ngày nay rồi, ai cũng biết rồi, người ký là ông Nguyễn Sơn phó chánh án tòa án Tối cao cũng đã xác nhận là mình ký mấy hôm rồi, mà cho đến giờ cháu vẫn trong tù, đơn giản chỉ vì bản đóng dấu chưa đến.
Nói thật là từ hồi tách viễn thông ra khỏi bưu chính, bưu chính VN làm việc vô cùng kinh hoàng. Thư gửi trong thành phố, cách bưu điện có 500 mét mà có khi 4, 5 ngày mới tới, còn thất lạc thì... thường xuyên. Việc này thì các nhà văn Việt Nam biết hết vì tài liệu và báo gửi biếu thường xuyên thất lạc hoặc mất.
Nhưng chả lẽ lại không tin nhau đến như thế. Ký xong rồi thì a lô phát, fax phát, mail phát... thời đại thông tin bây giờ mà như thế thì lạ thật... Hay họ cố tình thờ ơ trước số phận một cháu trai vị thành niên đang trong tù ngục. Từ hôm ký đến nay, nếu chạy ngựa trạm như thời cụ Nguyễn Huệ đưa cành đào cho Ngọc Hân có khi cũng đã đến rồi...

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Sáu, 22 tháng 5, 2015

Phiếm luận về lẽ sống chết nhân đọc bài thơ " Xiếc " của Nguyên Âm

Xiếc 


           Sống thường hay đua tranh
           Chết vô cùng thương tiếc
           Con người đang làm xiếc
           Giữa cuộc đời mong manh

                              Nguyên Âm

    Thắc mắc lớn nhất của con người là thắc mắc về lẽ sống chết ở đời .Đại loại như tại sao ta sinh ra ? tại sao ta chết đi ?Tại sao lại là tôi ?( khi phải đối mặt với tuyệt vọng khôn cùng ) vv...và vv. Mọi tôn giáo và triết thuyết đều tập trung lý giải những thắc mắc nầy . Quan điểm chính thống của nhà xã hội học thì chỉ tập trung định nghĩa lẽ sống chứ không đề cập đến cái chết . Người đời cũng chỉ thường mưu sinh chứ không mưu tử . . Dưới cái nhìn của nhà xã hội học thì sống được định nghĩa là  sống với ( vivre avec ) .Trừ những người bị lưu đày nơi hoang đảo hoặc các ẩn sĩ trong rừng sâu thì không ai sống một mình . Con người cũng như các loài động vật đều sống theo bầy đàn . Các loài thú hoang dã sống theo bầy đàn và tranh giành nhau những con mồi để sinh tồn . Loài nầy là mồi của loài kia . Con người là động vật cao quý nhất đi bằng hai chân ( lưỡng túc )Nhưng đôi khi con người còn tệ hại hơn loài vật ở chỗ tranh giành giết hại nhau . Đành rằng trước cái chết của đồng loại cũng biết tỏ ra thương tiếc .Một thi sĩ đã khái quát nghịch lý nầy bằng bốn câu thơ :
                                Sống thường hay đua tranh
                                Chết vô cùng thương tiếc
                                Con người đang làm xiếc
                                Giữa cuộc đời mong manh
     Thực trạng , chân tướng của đời sống , cách cư xử của con người trong cuộc sống : Sống đua tranh , chết thương tiếc .
  Nghĩa tử là nghĩa tận . Chết là hết ! hết đua tranh . Thường người ta nói rằng  sống là tranh đấu . Nhưng tranh đấu mà không lành mạnh , minh bạch sẽ trở thành tranh giành , ganh đua , tỵ hiềm , đố kỵ . Mọi tội ác trên đời này đều bắt nguồn từ sự ghét ghen  ( ghen ăn , ghét ở ) .Trịnh Hâm trong "Lục Vân Tiên " cùng một lúc phạm phải ba tội ác cũng chỉ vì mỗi lý do ganh ghét : Thứ nhất là giết người bạn đồng môn , thứ hai là giết một người sa cơ lỡ thế , thứ ba là giết một người tật nguyền không có khả năng tự vệ . Trong thời đại ngày nay , các cuộc khủng bố đẫm máu giết hại hàng loạt con người chung quy cũng chỉ vì lòng đố kỵ .
   Chết là kết thúc mọi chuyện , không còn đua tranh , thù hận . Khi còn sống thì có nhiều đối thủ ; nhưng khi chết rồi thì chẳng còn ai là đối thủ cả . Con người lúc sinh tiền dù có ác đức , tàn độc đến mấy ..khi chết đi cũng được thương tiếc ...Người Việt ta vốn nhân hậu nên mỗi khi nghe tin ai đó qua đời đều chép miệng " tội nghiệp " bất kể đó là ai .Đã làm người ai cũng " mang lấy nghiệp vào thân " nên " cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa ". Không ai tránh khỏi nghiệp vì nghiệp là những hành vi đã gây ra trong quá khứ có ảnh hưởng đến hiện tại và là nhân tố tác động cho sự sống kế tục . Con người là kẻ thừa tự những hành vi mà y đã gây ra trong quá khứ . Bao lâu con người còn tranh giành , ganh đua , bấy lâu con người còn tàn hại nhau một cách ghê tởm . Thương tiếc một người đã khuất , phúng điếu , thắp hương trong tang lễ chỉ là lễ nghi hình thức . Lễ chẳng qua là bì phu chi ngoại .Giá trị tinh thần cao cả nhất là ĐẠO . ĐẠO rồi mới đến ĐỨC, NHÂN , NGHĨA và sau cùng là LỄ . Các giá trị này đã dần dần bị phá sản .Sống mà tranh giành thì đâu còn kể gì nhân nghĩa .Nhân là quan hệ tốt đẹp giữa người với người .Còn  nghĩa  là quan hệ tốt đẹp giữa cá nhân và cộng đồng . . Khi hai mối quan hệ trên không còn nữa thì lễ chỉ là hình thức mong manh . Sống mà tranh giành , tàn hại nhau  thì chết thương tiếc để làm gì ? Chi bằng lúc sống ăn ở cùng nhau cho phải đạo làm người là đủ . Thiên hạ người đời phóng tâm chạy theo mưu cầu cuộc sống - tranh giành , ganh đua , bành trướng , gây thanh thế , chiếm quyền lực ...mà quên đi sự ngắn ngủi mong manh của cuộc đời .
     Cuộc đời như giấc mộng Nam Kha - tỉnh giấc mộng nồi kê còn chưa chín
                            Tuồng ảo hóa đã bày ra đấy
                             Kiếp phù sinh trông thấy mà đau
                            Trăm năm nào có gì đâu
                            Chẳng qua một đám cỏ khâu xanh rì
                                                                Ôn Như hầu Nguyễn Gia Thiều
     Thế gian là cõi tạm . Cuộc đời là quán trọ . Ta là người khách lữ rong chơi trong cuộc lữ . .Hà cớ gì mà phải lao tâm khổ tứ phù phép đua tranh .Lão Tử cho rằng cuộc đời như một giấc mộng lớn , làm chi cho nhọc sức  ( Xử thế nhược đại mộng , hà vi lao kỳ sanh ? )

          Vậy mà :
                           Con người đang làm xiếc
                           Giữa cuộc đời mong manh
       Con người đang làm xiếc tức là đang bày ra tuồng ảo hóa giữa kiếp phù sinh . Làm xiếc tức là bày trò ảo thuật trong các quan hệ ứng xử giữa người với người , giữa cá nhân và cộng đồng - tạo ra một thế giới ma trận . Trong thế giới nầy cái thật nhường chỗ cho cái ảo . Cái ảo lại lộng hành khuynh đảo , len lõi đến tận ngỏ ngách của đời sống . Cái gì cũng có thể ảo : Chất lượng ảo , thành tích ảo , học thuật ảo ...Thậm chí cả đồ ăn thức uống đưa vào cơ thể con người cũng bị  làm ảo . Khi khoa học kỹ thuật càng phát triển thì kỹ nghệ làm xiếc càng tinh  vi  . Tuy vậy đừng vội đổ lỗi cho khoa học vì một nhà khoa học nổi tiếng đã cảnh báo :" Khoa học mà không có lương tâm thì đó là sự tàn lụi của tâm hồn " . Một khi đánh mất đạo ,đức , nhân , nghĩa thì chuyện kết nghĩa ở vườn đào trong Tam quốc chí không còn đầy đủ ý nghĩa về tình đệ huynh . Ngày nay , loại người như Lý Thông thì đầy rẩy , nhan nhản .Ngay cả kỹ nghệ " lấy Tây " ở thế kỷ trước cũng trở nên tinh xảo gấp bội trong thế kỷ nầy .  Nói làm sao hết những trò ảo thuật đang diễn ra hằng ngày vì chúng muôn hình vạn trạng như hình thù trong ống kính vạn hoa

      Sống tranh giành , chết   thương tiếc , xiếc một đời , chết không lời trối trăn . Đó chính là sống say chết mộng ( sinh túy , tử mộng ) . Cố thi sĩ Vũ Hoàng Chương đã khái quát rất tài tình chu kỳ một vòng đời của con người  :
                                 Dấu hỏi vây quanh trọn kiếp người
                                 Sên bò nát óc máu thầm rơi
                                Chiều nay : một dấu than buông dứt
                                Đinh đóng vào săng (* )tiếng trả lời
  Chu kỳ của vòng đời bắt đầu từ nhiều dấu hỏi (? ) và kết thúc bằng một dấu than ( !) .Một thái độ tích cực để lấy lại cân bằng trong tự thân là VÔ TRÁNH  ( không tranh giành ).Lão Tử cho rằng vì ta không tranh cho nên không ai tranh nỗi  với ta . Một khi đã vô tránh rồi thì hà tất phải nhọc công làm xiếc . Lấy lại sự cân bằng trong nội tâm là lập lại hòa bình trong mỗi cá nhân .Hòa bình trong tự thân , hòa bìmh trên thế giới . ( peace in oneself, peace on the world )
Ph.H

Phần nhận xét hiển thị trên trang