Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Tư, 6 tháng 5, 2015

Tin từ HNV:



tôi vừa nhận được tin vui : hội nhà văn Tp và Việt Nam vừa gạch tên tôi và 8 nhà văn khác ra khỏi hội [ Nguyễn Duy , Nguyễn Quang Lập, Ngô Thị kim Cúc, Dạ Ngân , Nguyễn Quang Thân, Phạm Đình Trọng, Ý Nhi , Hiền Phương...] . thanks ! anh Hữu Thỉnh .thế mới gọi là sòng phẳng , đàng hoàng dù như anh nói đã thuyết phục được 3 người rút tên khỏi văn đoàn độc lập - dù thật sự , đến giờ anh & Hội nhà văn chưa từng có cuộc gọi nào thuyết phục tôi , toàn an ninh hăm dọa Biểu tượng cảm xúc smile
chỉ nhắc Hội Nhà Văn : anh Nguyễn Quang Lập đâu có tên trong văn đoàn độc lập. gạch tên anh ấy vì lý do trên là PHẠM LUẬT
c.co.uk/…/vietnam/2015/05/150505_hoi_nhavan_van_doan_doc_lap
Hội Nhà văn Việt Nam vừa có hành động được cho là “loại bỏ” những hội viên tham gia Văn đoàn độc lập Việt Nam.
Trong phiên bỏ phiếu bầu đại biểu đi dự Đại hội toàn quốc diễn ra ở TP. HCM ngày 5/5, lãnh đạo Hội Nhà văn Việt Nam đề nghị những người tham dự gạch tên chín người sinh sống ở TP. HCM và tham gia Văn đoàn độc lập.
Chín người này là Ngô Thị Kim Cúc, Nguyễn Duy, Nguyễn Quang Lập, Dạ Ngân, Ý Nhi, Hiền Phương, Đỗ Trung Quân, Nguyễn Quang Thân, và Phạm Đình Trọng.
Tổ chức này xuất hiện tháng Ba năm ngoái với lời kêu gọi về “quyền tự do sáng tác và công bố tác phẩm”.
Lý do Hội nhà văn Việt Nam đưa ra để loại chín người này là họ tham gia một tổ chức “không được thừa nhận và có dấu hiệu phạm pháp”, theo tin từ đại hội nhà văn khu vực TP. HCM.
Theo một người tham dự đại hội, ông Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, hôm 5/5 nói sau một thời gian vận động, đã có ba người rời khỏi Văn đoàn, nhưng vẫn còn 26 người “khước từ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản”.
Nói với BBC sau khi nghe tin, nhà thơ Đỗ Trung Quân nói ông chỉ cảm thấy “mừng” trước quyết định của Hội Nhà văn Việt Nam.
Trên trang web của Văn đoàn độc lập hiện để tên 56 người trong “ban vận động thành lập”.
Tuyên bố chính thức của tổ chức này, được nhà văn Nguyên Ngọc đứng tên, nói họ là “một tổ chức của xã hội dân sự, ái hữu nghề nghiệp, hoàn toàn độc lập đối với mọi hệ thống tổ chức và thiết chế trong và ngoài nước”.
Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nhà văn Việt Nam lần thứ IX dự kiến diễn ra vào tháng Bảy năm nay tại Hà Nội.
Việc bỏ phiếu tại đại hội nhà văn khu vực TP. HCM hôm 5/5 dẫn đến kết quả sẽ có 78 người được đi dự Đại hội tại Hà Nội.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tin sock: Thuốc uống tăng lực được làm từ thịt người ở Trung Quốc

Những viên thuốc bổ, được cho là tăng sinh lực và khả năng tình dục, đã được tìm thấy trong hành lý các du khách và qua bưu phẩm quốc tế, giới chức Hàn Quốc cho hay. Theo đó, kể từ tháng 8 năm ngoái, Hàn Quốc đã thu giữ khoảng 17.500 viên thuốc thịt người.

Theo hải quan Hàn Quốc, thi thể những đứa bé đã chết bị sấy khô trên lò trước khi bị nghiền thành bột. Giới chức hải quan Hàn Quốc từ chối tiết lộ chính xác những đứa trẻ từ đâu ra hoặc ai chịu trách nhiệm làm ra các viên thuốc thịt người trên.
Theo Vietnamnet

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chả bình tĩnh thì nổi khùng lên à?



Phần nhận xét hiển thị trên trang

Biết được kiếp trước chưa hẳn đã hay!


Say sưa nghĩ cũng hư đời
Không say không rượu biết ngồi với ai
Khi say mới thấy được người
Tỉnh ra lại thấy mình ngồi với ma
CHÁO LÚ
Xưa, có một bác sĩ thú y qua đời, thần hồn xuống âm phủ, sau khi được Diêm Vương xét xử, hồn ma được ăn cháo lú trước khi đầu thai. Lúc đó, hồn ma tình cở gặp một bầy chó mà thuở còn sống ông thường chữa bệnh cho chúng. Bầy chó vốn có nghĩa, chúng rất mừng rỡ khi gặp lại ông. Ông bèn nhịn phần mình cho bầy chó ăn.
Lính canh ở Diêm Phủ dắt hồn ma đi đầu thai làm một thằng cu. Nhờ không ăn cháo lú, nên thằng cu nhớ rõ tiền kiếp mồn một. Được 5 tuổi, thằng cu khẩn khoản xin ba má dắt đi thăm thân bằng quyến thuộc cũ. Ba má nó thấy lạ nhưng vẫn chiều con. Cuộc gặp gỡ giữa bà con họ hàng và thằng cu diễn ra trong một không khí éo le và cảm động. Nó được gặp lại bà vợ cũ, con trai, con gái, cháu nội, cháu ngoại. Bằng giọng nói ngọng ngịu của đứa bé lên 5, cu kể vanh vách tiền kiếp của mình cùng thăm hỏi hàn huyền với vợ con, cháu chắt…
Sau lần này thằng cu không thể sống bình thường như bao nhiêu thằng bé khác, gánh nặng của tiền kiếp hằn sâu trên thân xác thơ dại của nó, những mối dây thân ái trong quá khứ khiến nó quên mất nhịp sống hiện tại. Cuối cùng ba má nó đành đưa nó vào chùa, không phải để tu mà là để di dưỡng tâm thần. Cậu con trai út của bác sĩ thú y này cũng tình nguyện vào chùa để chăm sóc người cha tiền kiếp mà tu tâm dưỡng tính luôn thể.
Người kể quả quyết rằng câu chuyện trên hoàn toàn có thật, những nhân vật trên hiện còn, thằng cu trong câu chuyện là một sư tăng tuổi trạc tứ tuần.
Các bậc đắc đạo gọi sư nhớ tiền kiếp là “túc mạng minh”. Trong kinh Đức Phật cũng từng khuyến cáo các hành giả tu tập, nếu chưa được lậu tận thông, tức là khả năng hóa giải hết thảy phiền não, mà lại có thần thông thì phải bỏ đi lập tức…
Có lẽ Ngài e rằng chúng ta sẽ lâm vào hoàn cảnh dở khóc dở cười như thằng cu trên đây. Trong quãng đời hiện tại, nếu chỉ nhớ đến những chuyện vui buồn quá khứ, chúng ta sẽ sầu khổ vô hạn rồi, huống chi là nhớ lại những ân oán buồn vui từ tiền kiếp, Đức Phật và các bậc đắc đạo, nhớ rõ quá khứ với từng tình tiết chi ly mà tâm các Ngài hoàn toàn bình thản, trong khi chúng ta lại nhìn quá khứ với bao tiếc nuối, buồn thương, càng sống với dĩ vãng, tâm chúng ta càng xao xuyến, mắt mở mà vẫn chiêm bao.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Ba, 5 tháng 5, 2015

Hoàng Sa một thời tuổi trẻ


ngày 09 tháng 09 năm 2009
TP - Tôi gặp họ một chiều hè, bên biển Đà Nẵng, một trong sáu bãi biển đẹp nhất thế giới và nói về biển, về một mảnh đất của Việt Nam. Đó là Hoàng Sa - nơi họ gắn bó một phần đời khi còn rất trẻ. 
Ông Nguyễn Giáo đang đo nhiệt độ, độ ẩm tại lều máy trạm Khí tượng Hoàng Sa
Ông Nguyễn Văn Cúc, ông Ngô Tấn Phát, Tạ Hồng Tấn, Võ Như Dân, những mái tóc như sóng bạc đầu. Họ học nhiều nơi khác nhau, công việc cũng khác nhau.
Ông Ngô Tấn Phát học khí tượng ở Tân Sơn Hòa, Sài Gòn. Ông Tạ Hồng Tấn học ở Cát Bi, Hải Phòng. Ông Võ Như Dân là công nhân chế hơi được đào tạo tại Nha Khí tượng Đà Nẵng.
Ông Nguyễn Văn Cúc là công binh kiến tạo, ra Hoàng Sa với nhiệm vụ lấy mẫu đất để nghiên cứu xây dựng sân bay. Nhiệm vụ và thời gian khác nhau nhưng Hoàng Sa in đậm trong tim họ.

Họ nhớ như in, đảo chính hình hột xoài, dài khoảng 3 km, rộng 2 km. Bốn góc đảo có bốn lô cốt, tường rất dày. Phía Bắc bãi biển cạn, có nhiều rạn san hô rất đẹp, khi triều xuống lộ ra một bãi dài, đủ màu xanh nhạt, trắng ngà, hồng.
Phía nam đảo có miếu Bà, rộng hơn 4m, chiều sâu chừng 3m có chuông mõ, sách kinh. Gần miếu có tảng đá chồm ra biển như một hàm ếch lớn. Chiều chiều cá về chầu rất nhiều, mọi người ngồi trên bờ xem chúng bơi lội.
Ngoài đảo chính, Hoàng Sa có nhiều đảo nhỏ, nằm phía đông. Dựa vào hình dáng hoặc tính chất mà có tên đảo Cây, đảo Hòn Đá, đảo Nam... còn gọi Tree Island, Pattle Island (Hoàng Sa), Phú Lâm là Ile Boiseé hoặc Woody Island (nhiều cây)...
Cá rất nhiều, đeo kính lặn xuống sâu một chút là được lượn lờ cùng chúng. Dưới nền các ngôi nhà là hầm chứa nước mưa, đủ dùng quanh năm. Tàu thuyền qua lại thường ghé xin.
Trạm khí tượng Hoàng Sa (lúc đó gọi Ty Khí tượng Hoàng Sa) ở 111,37 độ kinh độ đông, 16,33 độ vĩ độ bắc. Mã số phát báo số liệu quốc tế của trạm là 48860. Mỗi ngày đo 8 obs (kỳ quan trắc) gồm gió, mưa, mây, nắng, nhiệt độ nước biển, độ ẩm, khí áp... thả bóng thám không hai lần: 6 giờ sáng và 12 giờ trưa.
Hướng và tốc độ gió được tính trên bàn phân toán (loại bàn tròn có mặt mi-ca vẽ tọa độ phương, tâm cố định mặt bàn) rồi thảo mã điện gửi cùng obs Synop 7 giờ và 13 giờ (0 và 7 giờ Greenwych). Số liệu phát báo bằng moọc (morse) vào Nha Khí tượng Sài Gòn để dự báo thời tiết. Về sau phát báo bằng đàm thoại vô tuyến.
Nguồn cung cấp điện là máy phát chạy xăng. Với các yếu tố đo đạc, mã trạm, chế độ quan trắc và phát báo số liệu thì trạm khí tượng Hoàng Sa là trạm hạng A, phục vụ dự báo thời tiết của Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO).
Mỗi kỳ ở đảo ba tháng. Khi ra, họ mang gạo, đậu xanh, nếp, khoai tây đóng thành thùng. Khoai đổ xuống đất để được lâu, khi ăn chọn củ héo ăn trước. Trẻ, khỏe, chưa có gia đình nên ông Phát đi luôn hai kỳ, tháng 3 đến tháng 9 năm 1959.
Ông nói: “Mang ra hơn 40 con vịt, mỗi con hơn ký. Vài ngày làm một con. Còn băm cá, bắt ốc cho ăn, con nào con nấy ú nu. Sáng nào cũng được năm, bảy trứng. Đu đủ quả to lắm, do đất bùn và phân chim tích tụ lâu năm. Rau, bí đỏ xanh mướt, như trang trại vậy.
Cá nhiều lắm, tui không có kinh nghiệm nhưng chỉ vác câu đi một chút là được cả xâu. Đi hai kỳ nhưng tui chỉ gặp bão xa một lần. Chim vào tránh bão, đậu lên cả dây phơi, màn, chiếu. Tui vuốt ve, chúng cứ đứng yên, khô cánh mới bay.
Thuyền ngư dân vào trú bão rất nhiều. Ngày ấy chỉ có thuyền buồm chứ chưa chạy máy như bây giờ, nên có lúc hàng trăm chiếc đậu, nhấp nhô quanh đảo, đẹp lạ thường. Nhưng tôi mê nhất là nước biển Hoàng Sa. Đứng ở cầu tàu nhìn ra, nước chia từng lớp, gần bờ màu xanh dương, ra mí sóng xanh đậm rồi đậm hơn, theo tầng đáy, bốn năm lớp, đẹp lắm”.
Ông Tạ Hồng Tấn cũng là quan trắc viên, ra Hoàng Sa lần đầu năm 1963. Những năm sau ông cũng đi. Lần cuối là năm 1974 rồi bị lính Trung Quốc bắt. Ông nói Hoàng Sa đẹp lắm. Bão đến, mưa gió như muốn nhấn chìm nhưng rồi mây tan mưa tạnh đảo lại càng đẹp.
Ông Võ Như Dân làm nhiệm vụ chế hơi bơm bóng Pi-lô. Với một lượng xút, phe-rô và nước tương ứng cho vào bình từ hôm trước, hôm sau bơm thả. Xong việc, ông trồng rau, câu cá bắt ốc chế biến cho anh em.
Ông nói ốc tai tượng to như cái bát luộc trộn rất ngon nhưng ngon nhất là ốc sừng (còn gọi ốc gân). Gọi ốc sừng vì nó có cái vòi vươn ra để di chuyển, trông như cái sừng. Sau khi luộc rút sừng chấm nước mắm gừng rất ngon.
Ốc hoa to, vân màu rất đẹp, khi về ai cũng mang theo để trưng tủ chè, làm gạt tàn thuốc, chặn giấy. Từ năm 1956 cho đến năm 1969, năm nào ông cũng đi Hoàng Sa, có năm hai lần. Những lúc không làm ca các ông chơi cờ tướng, lấy đinh khắc tên và tháng ngày ra Hoàng Sa lên đá hay theo thuyền cao su của lính địa phương quân đi tuần tra các đảo nhỏ.
Các đảo này rất nhiều chim. Chúng rất dạn, người đến sát bên mới bay. Chúng đẻ trứng ngay trên đất, nhiều như sỏi. Phân chim rất nhiều. Thỉnh thoảng những người ở đồn điền của bà Trần Lệ Xuân, vợ Ngô Đình Nhu ra lấy phân chim và san hô khô về xay bón cây.
Ông Nguyễn Nhự ở Hòa Tiến, huyện Hòa Vang ra Hoàng Sa ba lần (năm 1969, 1970, 1972) nay đã 83 tuổi. Tôi đến đúng lúc thôn Bắc An của ông đang tổ chức kỷ niệm ngày thương binh liệt sỹ. Trưởng thôn, chủ tịch mặt trận và hội phụ nữ đang dâng bông trái lên mặt tủ đặt giữa nhà văn hóa thôn.
Mâm cỗ đạm bạc, lọ bông trang rừng, nải chuối cau vàng ươm, đĩa thịt vịt và mì Quảng. Trong cái ly cát nhỏ, mấy điếu thuốc đang tỏa khói. Ông Nhự chủ lễ dâng hương khấn vái. Chúng tôi đứng lặng tưởng niệm hương linh những người đã vong thân vì nước.
Ông Nguyễn Giáo trước phòng làm việc của trạm Khí tượng Hoàng Sa
Trong làn khói hương trầm, ông Nhự nhỏ nhẹ: “Tui rành từng khối đá, từng góc đảo. Trên đảo có một cây mù u. Trước nhà trạm có cây phượng, mùa hè trổ bông đẹp lắm. Có hai cây mít, quả rất ngon. Có một loại cây giống đu đủ tía nhưng rất chắc, cành nhỏ bằng cổ tay con nít đeo bao gạo 50 ký vẫn không gãy. Tro loại cây này rất ít và mịn, mấy tháng mới được một mớ nhỏ, đóng cứng như gạch! Cá, ốc, cua, hải sâm nhiều lắm...”.
Đang miên man, bỗng ông Nhự chỉ trưởng thôn nói “ông già Hai Hoanh cũng đi Hoàng Sa đó”. Anh Hoanh cho biết: Có mấy bức ảnh cha anh chụp ở Hoàng Sa.
Rồi anh về lấy đưa cho tôi ba bức ảnh nói: “Tôi giữ cẩn thận lắm. Cô là người đầu tiên thấy đó. Không chỉ tôi mà ông Nhự cũng bất ngờ. Đó là bức ảnh ông Nguyễn Giáo (còn có tên Huýnh) đang đứng trước lều quan trắc khí tượng, tay cầm quyển sổ, tay cây bút.
Nắng chan hòa. Đội mũ lưỡi trai vẫn rất rõ nét mặt. Cánh cửa lều khí tượng mở rộng, thấy rõ cả máy đo. Ông Nhự giọng run run: “Đúng rồi, máy đo nhiệt độ, độ ẩm đây, phòng làm việc đây. Cây phượng đây, hoa đẹp lắm”.
Ông chỉ gốc cây bên bậc tam cấp: “Chỗ này có cái ghế, tụi tôi làm bằng bìa ghi sắt quân đội để ngồi chơi, đánh cờ”. Ông chỉ gốc cây nhỏ bên hiên nhà bảo: “Cạnh cây dương liễu này là bồn nước...”.
Ông nhìn bức ảnh ông Giáo đứng trước nhà làm việc, trên cửa có dòng chữ TY KHÍ TƯỢNG và ảnh hai người lính đứng trên bãi cát, phía sau biển mênh mông.
Ông Phát, ông Dân cũng rất xúc động khi nhìn những tấm ảnh. Trạm Khí tượng Hoàng Sa đây, bể nước đây... Lội biển về là tụi tui đứng đây dội nước ào ào. Nhiều bữa mấy anh lính cũng sang đây tắm...
Ông Cúc trầm ngâm: “Ra đảo nhiều lần, biển trời Hoàng Sa tinh khiết như chưng lọc. Tháng 1/1974 ông đi với một kỹ sư Mỹ, lấy mẫu đất về nghiên cứu, chuẩn bị xây dựng sân bay. Ông lấy ba nơi, đầu, giữa và cuối đảo. Lên tàu trở về thì bị tàu Trung Quốc chặn đánh.
Là lính công binh kiến tạo, chỉ đi xây dựng cầu đường, sân bay nên trưởng tàu ra lệnh ông và viên kỹ sư người Mỹ phải trở lại đảo. 12 giờ đêm các ông xuống bo bo với chiếc máy truyền tin C25 và chỉ được tàu dọi đèn pha hướng về đảo một lần với lệnh “Đi thẳng”.
Bơi tay vào đến nơi gần 5 giờ sáng nhưng phải rất lâu hai người mới lên được đài quan sát. Đứng trên đài quan sát ông thấy tàu Trần Khánh Dư và tàu Lý Thường Kiệt đánh trả quyết liệt nhưng lực lượng mỏng quá.
Tàu Trần Khánh Dư bị trúng đạn, nghiêng một bên rồi chìm. Đến 10 giờ sáng thì đảo bị chiếm hoàn toàn. Ông nhảy ra khỏi đài quan sát, nấp vào bụi cây rồi bị bắt.
Tháng 3/1974 được trao trả qua ngả Hồng Kông, ông nhói tim khi qua Hoàng Sa. Quần đảo dưới cánh máy bay tươi đẹp vậy mà dang dở một kế hoạch xây dựng.
Chúng tôi lặng đi. Hoàng Sa, nơi những con dân nước Việt đã cống hiến sức lực và khắc ghi họ tên vẫn sâu thẳm trong mỗi trái tim. Hoàng Sa là của Việt Nam. Đó là điều không có gì thay đổi được. 
____________


Phần nhận xét hiển thị trên trang

“Ở ĐÂY CÓ BÁN LƯỠI NGƯỜI”

Có những khi chán hết mọi thứ, tôi nghĩ: hay thử cắt lưỡi mình đem đi bán, có sao không nhỉ? Quan trọng nhất là, có ai mua không nhỉ?
Tôi về thè lưỡi trước gương xem. Đây có lẽ là lần đầu tiên tôi nhìn kỹ cái lưỡi của mình đến thế. Lưỡi có màu đỏ rất tươi, như tứa máu, và dĩ nhiên nó ngoe nguẩy, không xương, như con đỉa to đùng.
Bạn sẽ thắc mắc: được mỗi cái lưỡi để ăn để nói, để liếm mép thèm thuồng, cớ sao lại bán đi?
Tôi chán rồi, chán ăn, chán nói, chán liếm mép thèm thuồng. Tôi cắt. Tôi bán. Kệ tôi.
Tôi treo biển “Ở đây có bán lưỡi người” ngay trước cổng nhà. Nhiều người đi qua nhìn rồi tặc lưỡi cười. Có người, quan tâm hơn, xuống xe, ghé vào hỏi: “Này, ông bị thế này lâu chưa, sao chưa đi bác sĩ?” Tôi trả lời: “Mua thì đưa tiền đây tôi bán, không thì đi chỗ khác giùm đi!” Họ vừa đi vừa thở dài. Sao thế nhỉ?
Mấy người cán bộ khối phố, phường, cũng có ghé qua, nhìn trước nhìn sau như thể đang tìm kiếm một thằng vượt ngục nào đang nấp trong nhà tôi, rồi đi, không nói gì. Sao thế nhỉ?
Cũng có người hỏi: “Ông định bán lưỡi thật? Bao nhiêu tiền?”
Thuở trước, có một nhà thơ rao “Ai mua trăng tôi bán trăng cho”, ngỡ đã đến độ điên khùng; bây giờ, tôi rao bán lưỡi, thì có khùng không? Nếu tất cả ai muốn rao bán một thứ gì đó của mình hay không phải của mình, thì họ có khùng không? Nếu tất cả đều khùng, thì tôi có khùng không? Nếu tất cả tỉnh táo, chỉ riêng tôi khùng, thì có sao không?
Nhưng rồi không phải băn khoăn lâu. Vào một buổi chiều muộn, có một người ghé vào nhà tôi, đòi xem lưỡi để mua. Gã nói tiếng gì như không phải tiếng người, nghe thấp thoáng như tiếng bướm đập cánh. Gã bắt tôi thè lưỡi ra, xem tỉ mẩn, không khác gì chú rể Trung Quốc xem gái Việt Nam để mua về làm vợ. Tôi hơi mất tự nhiên nhưng vẫn cố. Gã hết gật đầu lại lắc đầu, sau đó đưa hai ngón tay lên miệng như hình cái kéo cắt phập. Tôi hiểu rồi, gã quyết tâm mua. Tôi xoè mười ngón tay ra. Gã gật đầu. Tôi bán.
Gã lái buôn cắt xoẹt, nhanh, dứt khoát, không khác gì động tác của mụ vợ cuồng ghen ra tay cắt con giống của chồng. Xong, gã vứt cái khăn tẩm thuốc để tôi nhét vào miệng cho cầm máu, vứt thêm cục tiền nữa, rồi gã lẻn vào bóng đêm, y như một kẻ buôn hàng lậu.
Tôi thoáng nghĩ: ngày mai tôi không còn lưỡi nữa. Nhưng tôi không kịp hoang mang thì đã ngủ mất rồi. Thuốc mê ngấm rất nhanh, tôi ngủ say như chưa hề có một cuộc mua bán vừa diễn ra.
Buổi sáng, tôi thức dậy, miệng hơi đau, như thể vừa cắt amidan. Tôi nuốt nước bọt đánh ực, đi ra đường...
Chuyện bán lưỡi, kể ra y như thật, nóng hôi hổi như vừa mới hôm qua, nhưng kỳ thực, nó diễn ra lâu lắm rồi. Từ lâu lắm, tôi đã không có lưỡi. Tôi ít nói, ít cười, mặt khó đăm đăm.
Sau cái đêm mua bán tàn bạo ấy, không còn ai ghé nhà tôi nữa. Các anh cán bộ phường lâu lâu ghé qua và tỏ ra rất vui mừng vì trong nhà tôi không hề có dấu hiệu của tên tù vượt ngục nào hết. Trái lại, tôi rất ngoan, nói gì tôi cũng gật đầu, hoặc ngồi im, không lắm lời tranh luận, không cãi cọ lằng nhằng. Trước khi ra về, thế nào các anh ấy cũng bắt tay thật chặt: “Tốt, tốt lắm, công dân gương mẫu, xuất sắc!”
Ở cơ quan thì khỏi phải nói, sếp mừng, đồng nghiệp mừng, vì có một nhân viên chỉ gật đầu hay lắc đầu, hoặc cười mủm mỉm, không nói xấu ai, cũng không trình bày sáng kiến nọ kia vớ vẩn.
Từ ngày không còn lưỡi, tôi treo bằng khen đầy nhà. Tôi được biểu dương ở cơ quan và ở khu phố nơi cư trú. Tôi đứng lên bục nhận giấy khen, rồi được mời phát biểu chia sẻ kinh nghiệm hoặc bí quyết thành công. Tôi ôm lấy tờ giấy khen, đứng yên, cười mỉm, và hai hàng nước mắt trào ra. Không ai biết rằng, lưỡi bán lâu rồi, nên tôi không nói được! Đám đông vỗ tay, huýt sáo, trầm trồ về sự khiêm nhường lặng lẽ của tôi. Họ nghĩ tôi khiêm tốn nên không nói. Họ nghĩ tôi cảm động nên chảy nước mắt. Họ không biết bí mật của tôi!
Tôi yên tâm với sự khiếm khuyết tự nguyện của mình. Nhưng rồi, không bí mật nào có thể thoát khỏi tai mắt quần chúng, nhất là đám quần chúng rỗi hơi lắm chuyện xung quanh tôi. Gã hàng xóm, trong một phút thông minh rạng rỡ đột xuất, chợt nhớ rằng, một lần nào đó trong quá khứ, tôi đã từng treo biển bán lưỡi. Thế là cả khối phố, rồi cả thành phố đều nhớ lại rằng tôi là kẻ không có lưỡi! Họ thầm thì sau lưng, họ xỉa xói trước mặt, họ nói móc, họ chửi thẳng… nhưng tôi vẫn im lặng. Sự im lặng kì diệu ấy đã đánh gục họ. Nhà tôi vẫn treo đầy giấy khen và bằng khen. Cuộc họp nào tôi cũng được nêu gương và mời phát biểu. Làm sao họ bằng tôi được?
Rồi một ngày, gã hàng xóm của tôi rụt rè cắm biển báo: “Ở đây có bán lưỡi người”. Ba hôm sau thì cả khu phố đầy rẫy biển báo có nội dung tương tự. Một tuần sau thì cả thành phố giống nhau. Họ quyết định học theo tôi! Đứa nào dám bảo tôi khùng nhỉ?
Và rồi thì, như một quy luật biện chứng của cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, có cung thì ắt có cầu gì đó, nhiều tốp lái buôn ở đâu kéo đến mua lưỡi. Nửa lén lút, nửa công khai, không khác gì những tên cò mồi đi về các vùng nông thôn tuyển gái mại dâm ra thành phố, họ nhộn nhịp mua và bán, y như hội chợ.
Đến lúc này thì tôi không còn đơn độc nữa. Tôi là một tấm gương trong muôn ngàn tấm gương, lặng lẽ âm thầm cống hiến cho đời mà không hề đòi hỏi hay cãi cọ bắt bẻ linh tinh. Ùn ùn các đoàn khách tham quan không biết từ xó xỉnh nào trên trái đất kéo tới. Họ muốn học hỏi kinh nghiệm và bí quyết thành công của chúng tôi. Thế nhưng, chúng tôi làm sao chia sẻ được? Bí quá, tôi nảy ra một sáng kiến: viết một dòng chữ trên tờ giấy rồi phát tận tay cho du khách. Mỗi ngày, từ sáng đến tối, tôi cặm cụi ngồi viết, hàng trăm, hàng ngàn tờ vẫn không kịp. Chỉ có mấy chữ mà viết đi viết lại mãi thôi:
“Ở ĐÂY CÓ BÁN LƯỠI NGƯỜI”




Phần nhận xét hiển thị trên trang

LÝ LỊCH TRÍCH NGANG CỦA MỘT CON NGƯỜI

10.

Những ngày sau đó vợ tôi không trò chuyện với tôi nữa dù tôi cố gắng bắt chuyện với nàng một cách khó khăn. Chương về nhà, thu dọn đồ đạc để đi làm xa trong 3 tháng. Chương có bạn gái. Nó có đời sống riêng của nó, tôi không can thiệp vào, và ngược lại cũng vậy. Tôi tránh mặt Chương. Tôi cảm thấy không thể giải thích cho nó hiểu mọi chuyện.
Ngôi nhà chìm trong sự yên lặng bất thường. Không ai nói gì với ai. Không có tiếng người. Chỉ có tiếng mèo. Vợ tôi đau khổ, nhưng với bản tính chịu đựng thầm lặng, nàng nén vào trong, giữ lấy mọi thay đổi như niềm bí mật.
Ngoài vợ tôi ra, không ai biết tình trạng của tôi.
Nàng làm tất cả mọi chuyện có dính líu đến thế giới bên ngoài ngôi nhà: đi chợ, mua sắm, giao du gặp gỡ, và ngay cả ra ngoài cổng đổ rác. Nàng cung cấp cho tôi mọi nhu cầu sinh hoạt hằng ngày. Nàng chấp nhận, rồi mặc kệ những thay đổi bất thường về tâm sinh lý của tôi.
Tôi ghét ăn thịt, rau. Tôi thích cá, tôm, những thứ tanh và nặng mùi, những thứ đầu thừa đuôi thẹo. Tôi thích xương hơn thịt. Đầu tôm và xương cá trở thành món khoái khẩu của tôi. Tôi thích ăn vụng. Thỉnh thoảng tôi rón rén vào bếp, giở vung, nhón một miếng, lủm. Tôi ăn như mèo ăn, không theo đúng bữa như trước, ăn ít nhưng luôn miệng.
Tôi không cắt tóc, không cạo râu, để mọi thứ lông, tóc, móng phát triển tự do. Râu tóc rậm rì, tôi mặc kệ và thấy thoải mái với tình trạng này. Tôi chải và gỡ tóc bằng tay. Móng tay tôi để dài, không cắt.
Tôi không còn lười lĩnh. Khi thấy vợ phải lo những việc bên ngoài thì tôi thay nàng làm hết mọi việc trong nhà. Mọi việc, chỉ trừ việc bếp núc. Vợ không cần phải nhắc, tôi bỏ cả ngày chùi rửa lau dọn từng góc nhỏ trong các toilet, lau dọn từ ngoài sân vườn cho đến tất cả các phòng trong nhà, mọi thứ sạch bóng như lau như li. Làm xong việc thì tôi rút lên tầng trên. Tôi ở riết trên lầu và sân thượng, ít khi xuống nhà dưới, chỉ xuống khi cần thiết.
Những giác quan của tôi thay đổi. Thính giác, khứu giác, thị giác, xúc giác đều trở nên tinh nhạy lạ thường. Và trực giác thì tinh quái tuyệt vời. Tôi giảm cân rất nhanh, chỉ còn 40 ký, vậy mà thấy khoẻ khoắn, nhanh nhẹn, tươi trẻ, dẻo dai hơn xưa. Không đi xuống cầu thang từng bước một, tôi nhảy phóng vùn vụt, mỗi cái phóng là ba bậc thang, thoăn thoắt, nhẹ và gọn. Chốc chốc tôi lại nhún mình nhảy lên không, xoay người một vòng rồi nhẹ nhàng đáp xuống, sung sướng cảm nhận được trọn vẹn trạng thái của giấc mơ bay. Tôi không còn thất vọng về sự nặng nề và bất lực của mình như trước.
Tôi có thêm những trò chơi mới, những trò của loài mèo. Tôi thích trò vồ mồi. Tôi ngồi thu lu trong góc, lắng nghe, rình rập, rồi phóng ra vồ lấy con mèo oắt nào lơ đễnh đi ngang, vật xuống, ngoạm vào cổ, day nghiến, làm nó đau nhưng buông ra khi nó ngất. Nhà tôi không có chuột, bọn mèo phải qua lối xóm săn chuột để giải toả sự thôi thúc của bản năng. Săn được chuột, chúng tha về cho tôi chơi chung. Tôi không ăn chuột như chúng, nhưng hào hứng tham gia vào trò chơi vờn nạn nhân với chúng. Bây giờ tôi mới hiểu rằng con người có cùng khoái cảm man rợ như con mèo. Con người thích chứng tỏ quyền lực trên số phận của nạn nhân yếu nhược hơn nó. Tôi khinh bỉ những con chuột nhắt, chuột cống. Tôi cần cho mình thứ con mồi to lớn hơn. Tôi khao khát có lúc được cắn cổ một thứ gì đó ngang tầm với thể chất và danh giá của mình. Tôi thèm vị máu. Máu tươi.
Tôi không ra khỏi nhà. Thỉnh thoảng ra ban-công nhìn xuống cuối đường, tôi thấy những cái đuôi vẫn loanh quanh ở đó. Họ kiên trì làm cái công việc đeo bám tôi. Họ nhìn lên. Tôi nhìn xuống. Thấy nhau. Họ yên tâm. Tôi yên tâm. Sự có mặt của tôi làm họ hài lòng về kết quả của sự mẫn cán. Tôi yên tâm nhận biết sự hiện diện của mình trên cõi đời này bằng sự quan tâm của họ.
Những cuộc nhậu có lẽ sẽ bớt vui vì vắng tôi, tôi không màng. Đem chai và ly ra sân thượng, tôi nhậu, với bạn hiền Em Lăn của tôi. Chán nó thì tôi xuống nhà dưới nhậu với lũ mèo kia.
Tôi thấy uống rượu với mèo vui hơn với người. Ngồi nhậu hằng đêm với con người không phải lúc nào cũng vui, có đêm uống hoài tôi không thấy say, có hôm chỉ nâng ly lên đã muốn bỏ về.
Nhậu với mèo thì không thế, chẳng có con mèo nào lên giọng ép tôi một ly. Đứa nào làm tôi phật ý thì tôi “NGAO...” lên một tiếng là nó líu ríu chuồn ngay. Đứa nào hỗn, tôi phạt. Phạt một ly. Nói phạt một ly là để doạ, nhưng tôi chỉ hút chừng 10 giọt rượu vào xi-lanh, rồi nhỏ vào miệng nó là đủ làm cho nó xỉn. Con mèo đi loạng choạng vài bước rồi ngã đùng ra, nôn thốc nôn tháo mọi thứ trong bụng.
Mèo say không nói năng lăng nhăng bậy bạ, không triết lý vớ vẩn, không ỉ ôi khóc than tâm sự vặt. Không vỗ bàn, xáng chén, chứng tỏ lá gan và cơ bắp. Không chứng tỏ tài vặt, khoe khoang trọng lượng của túi tiền và độ dài của dãy số trong tài khoản ngân hàng. Không lên gân về kích cỡ và độ cương dai của dương vật. Và tuyệt nhất là không hò hát, không ngâm thơ, không văn nghệ văn gừng sướt mướt như người say. Chúng chỉ nằm rên khe khẽ và run lẩy bẩy. Tôi khoái những cơn say với mèo. Chúng là những tay bạn nhậu tuyệt vời. Khi say, cả bọn chúng tôi là tri kỷ. Chúng tôimeo meo, ngao ngao, grrừ grrừ với nhau đủ chuyện trên đời, cho tới sáng.
Chơi với bầy mèo tôi thấy đủ vui, và bình an. Đặc biệt với Em Lăn, nó vừa là bạn, vừa là thầy dạy ngôn ngữ và văn-hóa-mèo cho tôi. Tiếng mèo của tôi tiến bộ rất nhanh. Không chỉ còn giới hạn trong những trao đổi thông thường, chúng tôi — tôi và mèo — bắt đầu đi vào những câu chuyện có màu sắc trừu tượng, thậm chí siêu hình và tâm linh. Kiến thức và tâm hồn của mèo là một thế giới kỳ diệu mà tôi khám phá từ từ. Tôi càng lúc càng yêu quý chúng. Tôi thay vợ chăm chút từng bữa ăn, dọn cứt đái, trải ổ cho chúng. Vị trí những con mèo dần dà thay thế vị trí con người. CON NGƯỜI duy nhất mà tôi còn giữ sự liên hệ trực tiếp là VỢ.
Tôi mất dần ý thức về thời gian. Thời gian là một chuỗi ngày với đêm liên lỉ, dính bệt vào nhau như một hợp chất nhơn nhớt sền sệt, chứ không còn được chia đều ra thành những chu kỳ bằng con số. Tôi ý thức sự chuyển động của cuộc đời mình bằng những sự kiện. Những sự kiện có liên quan đến lũ mèo của tôi.
Bầy mèo lúc này đã lên đến 15 con, trong đó có 7 con mới, gồm 5 con từ một lứa mới ra đời, và 2 con là mèo hoang ở đâu đâu tìm tới nhập bọn. Trừ trường hợp ngoại lệ là Em Lăn, lũ mèo còn lại hoà nhập vào nhau như một cộng đồng có kỷ luật, trật tự, và thăng tiến. Thỉnh thoảng, khi một con mèo mới nào nhập bọn, chúng có gầm gừ cắn xé nhau lúc ban đầu, rồi chấp nhận nhau, cho nhau nhập miêu tịch, nhập hộ khẩu, mà không cần phải đăng ký tạm trú, không phải ra phường hay lên quận, gặp chủ tịch hay hẹn bí thư, để đút lót, hối lộ, vì chúng đâu cần đến một thứ thủ tục hành chánh nào.
Tôi tình cờ đọc được trên mạng về một bà cụ sống một mình mà nuôi đến hơn 50 con mèo, đông hơn số mèo của chúng tôi gấp 3 lần. Bà là một bà mẹ anh hùng. Bà từng có một đàn con 10 người, vừa là liệt sĩ vừa là tử sĩ. Liệt sĩ của bên thắng và tử sĩ của bên thua. Chiến tranh chấm dứt, đàn con của bà không ai còn sống. Một ngày nào đó người ta sẽ dựng tượng bà để tưởng niệm. Hiện nay bà sống bằng cách bán kẹo cao-su và xem bói dạo ở bến xe Miền Đông.
Nhà bà không xa nhà tôi lắm, cùng ở quận Bình Thạnh, ở tận cùng một con hẻm nhỏ. Dù nghèo xác xơ, bà vẫn nhận nuôi tất cả những con mèo hoang đi lạc đến nhà, chia sẻ số phận của mình với chúng. Tôi tò mò không biết bà có thể nói tiếng mèo như tôi không. Tôi tưởng tượng có một lúc nào tôi và bà đàm đạo với nhau về mọi nỗi vui buồn trong đời bằng thứ miêu ngữ ấy. Meo meo, ngao ngao, grrừ grrừ... Tất nhiên là cuộc đàm đạo sẽ diễn ra giữa một đêm trăng.
Tôi đi tìm bà. Tôi đến bến xe Miền Đông, dạo lòng vòng từ ngoài cổng đến tận những bãi đỗ xe, dò hỏi những người bán rong về một bà già bán kẹo dạo có nuôi bầy mèo.
“A, chắc là chú kiếm bà Sáu Mèo rồi. Ở đây chỉ có mình bả vừa bán kẹo gum vừa coi bói thôi. Bả hay ngồi ở cái cột điện đằng kia kìa. Đó, đó... bả đó... cái bà già ngồi dựa cột điện kia kìa...” Một con bé bán bánh mì trả lời tôi. Nhìn theo hướng nó chỉ, tôi thấy bà.
Một thân thể héo úa, gầy gò, chiếc áo len đỏ cũ kỹ, chiếc quần đen phai bạc, có lẽ chẳng mấy khi thay đổi. Hẳn tuổi bà phải trên 80. Tôi ngửi thấy mùi của sự nghèo khó khi tiến đến cách cái cột đèn bà ngồi hàng chục thước. Bà ngồi bệt, dựa vào cột điện, trước mặt là một hộp bánh bích-quy bằng thiếc đựng những cây kẹo cao-su hiệu DOUBLEMINT màu xanh lá cây và vài cuốn sách, nhìn bìa sách tôi nhận ra chúng là loại sách về phong thủy và bói toán nhảm nhí. Tôi nghĩ, với vóc dáng thảm hại và vũng nước bùn bẩn thỉu trước mặt, sẽ không có ai bị hấp dẫn bởi những món hàng của bà.
Tôi dừng lại, quan sát. Bà lấy trong chiếc giỏ đệm ra một bọc cơm, dùng tay bốc từng miếng nhỏ bỏ vào miệng, nhai trệu trạo. Chốc chốc uống ngụm nước trong chiếc ca cáu bẩn.
Theo lời bọn bán hàng rong thì bà ngồi đấy mọi ngày, cả vào những ngày mưa và ngày cuối năm. Có lẽ bà sẽ ngồi đó đến ngày cuối của đời mình, vì sau thời chiến tranh tan hoang và dữ dội, thì đời sống của bà là một quả lắc chuyển động đều đặn không đổi nhịp.
Tôi thấy sự vô duyên của mình khi tìm bà ở đây. Mình sẽ bắt đầu câu chuyện như thế nào? Mình sẽ nói chuyện gì với bà? Điều tôi muốn biết và chia sẻ với bà là những thứ có liên quan tới loài mèo, nhưng ngoài cái tên Sáu Mèo ra thì đâu có điều gì liên quan tới mèo, đâu có con mèo nào ở đây. Hay là mình giả vờ nhờ bà xem cho một quẻ bói chăng? Không được, nhảm lắm. Chỉ nghĩ đến việc chìa tay ra cho bà nắm lấy bằng cái bàn tay đang bốc cơm, bốc cá kia cũng đủ làm tôi lợm giọng. Tôi đứng tần ngần một lúc, rồi về.
Rồi một đêm nọ tôi tìm đến nhà bà cho thoả lòng hiếu kỳ. Còn cách căn nhà của bà khoảng 50 mét thì tôi dừng lại. Tôi cảm nhận được mùi của sự thù ghét tăng dần nồng độ trong không khí. Tôi đứng tần ngần, chưa quyết định sẽ đi tới hay quay lại, thì ngay lúc đó lũ mèo xông ra tấn công tôi. Chúng túa ra từ trong bóng tối, nhảy ra từ những cửa sổ, nhảy xuống từ mái nhà và cột điện. Chúng gào lên man rợ. Tôi chưa kịp thối lui thì chúng đã điên cuồng lăn xả vào tôi cào cắn. Trong lúc bấn loạn, tôi ngước lên, thấy bà đứng trên mái ngói của căn nhà, dưới ánh trăng, xoã tóc rũ rượi. Bà la thét múa may bằng một thứ tiếng mèo lạ lẫm mà tôi không thể hiểu. Nhưng qua cử chỉ thì tôi biết rằng bà đang điều khiển, ra lệnh cho bọn mèo giết tôi. Tôi cắm đầu chạy, cố thoát thân ra khỏi con hẻm.
Tôi vấp chân, ngã sõng soài. Chồm dậy, tôi giương móng, nhe nanh, gào lên dữ dội. Lũ mèo nghe tôi thét thì dừng lại, không dám xông vào. Tôi lùi dần rồi quay lưng cố phóng thật nhanh. Tôi lại vấp chân, ngã, sấp mặt xuống một vũng bùn, nước bắn lên tung toé. Lũ mèo chồm lên người tôi. Răng và móng chúng cắm vào thân tôi đau rát. Tôi quơ tay chân cố gạt chúng ra nhưng không hiệu quả. Tôi sắp bị chúng xé xác. Tôi kinh hoàng với ý nghĩ mình sẽ bị giết ở ngay tại đây bởi bà già và lũ mèo này. Tôi ngước lên tìm bà già, tôi định sẽ ra hiệu cho bà thấy rằng tôi đã chịu thua, đã đầu hàng, mong bà tha mạng.
Bà hiện ra khỏi bóng tối, chạy khập khiễng ở bên kia dãy nhà, tay vung lên một vật gì đó mà tôi chưa kịp nhận rõ. Một khẩu AK-47. Ánh lửa loé lên ở đầu nòng súng. Tiếng súng nổ chát chúa. Đạn cày lên mặt đường ngay trước mặt tôi. Tôi trúng đạn. Tôi trúng đạn ở vai, ở chân, ở bụng. Đau thốn. Nhưng kỳ dị thay, tôi không chết, cũng không đổ máu như lẽ ra phải thế.
Không phải đạn thật.
Ngó xuống những chỗ trúng đạn, tôi nhận ra đạn là những miếng bã kẹo cao-su bê bết, dính dáp, nhớp nhúa.
Tôi cố hết sức vùng dậy, hất mạnh làm con mèo đang bấu trên tay văng ra. Tôi nhảy vọt lên. Đầu những ngón chân chấm xuống đất, tôi nhón, phóng tới. Một bước, hai bước, ba bước. Thoăn thoắt, thoăn thoắt, thoăn thoắt.
Và, tôi bay lên.
Tôi cất mình lên cao!
Không cần cố gắng, tôi nhẹ bổng, phiêu diêu như trong những giấc mơ bay ngay trước mũi lũ mèo. Bên dưới, người trong xóm túa ra nhìn tôi.
“Kìa, kìa... Ma... Ma kìa...!”
“Đâu? Đâu?”
“Quỷ, quỷ chứ không phải ma! Trên mái nhà bà Sáu Mèo kìa... Quỷ bay...!”
“Trời ơi, ma bay kìa...”
“Lạy Chúa tôi...!”
“Kêu công an... Kêu công an...”
“Bay như vậy thì công an làm đéo được gì...!”
Trong một thoáng, ngó xuống, tôi thấy người trong xóm lô nhô, huyên náo bên dưới càng lúc càng đông. Họ đổ xô ra đầy con hẻm.
“Quay phim... Quay phim lại...”
“Không phải ma quỷ! Không phải ma đâu... Thiên thần! Thiên thần đấy...!”
“Lạy Chúa lòng lành... Xem kìa, có thấy không...!”
“Ồ, ghê quá! Chắc là KHỰA. Đúng là KHỰA rồi. Máy bay thám thính của KHỰA, chứ còn gì nữa! Đụ má chúng mày!”
Ban đầu, tôi trôi lượn như một chiếc lông tơ trong gió, rồi khi tôi duỗi mạnh thân thể thì tốc độ tăng lên nhanh dần, nhanh dần. Tôi có thể điều khiển được hướng di chuyển và tốc độ, vun vút, nhẹ nhàng, thoát ra khỏi lũ mèo. Mụ già vẫn nổ súng nhưng không trúng phát nào nữa. Tôi nghe tiếng nổ. Tôi không ngoái lại.
“Không, không phải thiên thần. Không phải KHỰA. KHỰA làm đéo gì chế tạo được người bay!”
“NGƯỜI NGOÀI HÀNH TINH!”
“Đúng rồi, NGƯỜI BAY. NGƯỜI NGOÀI HÀNH TINH!”
“Không phải. NGƯỜI VŨ TRỤ! NGƯỜI VŨ TRỤ!”
Vài người hướng điện thoại di động về phía tôi quay phim. Không còn nguy hiểm, không cần phải vội vã, tôi từ từ trôi lượn trên những mái nhà, qua những ngọn đèn đường. Tôi dang tay ra, chao đảo trên những tàng cây thấp. Bên dưới, mọi người dừng xe lại, giao thông tắc nghẽn. Có tiếng còi xe cảnh sát rú lên, nhưng tôi mặc kệ, tôi biết không còn kẻ nào có thể chạm tới mình. Tôi trở thành kẻ bất khả xâm hại.
Tôi là THIÊN THẦN.
Là THÁNH.
Là ALIEN.
Là NGƯỜI NGOÀI HÀNH TINH.
Là NGƯỜI VŨ TRỤ.
Tôi chỉ lo duy nhất một điều: mình có ngừng bay được không, có hạ xuống được không, hay là định mệnh của tôi là sẽ rụng xuống như một trái mít chín cây.
Tôi hướng về phía quận 1, phía trung tâm thành phố. Khi bay ngang gác chuông nhà thờ Đức Bà, tôi trì người xuống, hạ thấp dần, bám vào ngọn thánh giá, rồi dừng lại. A, tôi dừng được, tôi hạ cánh được.
Thành phố lung linh bên dưới. Mọi sinh hoạt ngừng lại. Tôi biết tin về mình lúc này đã loan ra cả thế giới, nhưng hẳn là họ chưa biết tôi là ai đâu.
Tôi lại buông mình ra ngoài khoảng không, bay tiếp, nhắm hướng về nhà. Lần này tôi vươn thẳng người ra trước, quẫy mạnh chân tay, bay thật nhanh, rồi hạ xuống khoảnh sân thượng của nhà mình.
Tôi nằm vật xuống nền xi-măng bên những chậu kiểng, vẫn chưa tin rằng chuyện vừa xảy ra là có thật.
Tôi cởi quần áo. Bã kẹo trây trét tan chảy ra, dính bệt từng mảng to. Tôi bỏ hết áo quần vào một bao rác nhưng không vất đi. Tôi dúi cái bao vào góc kẹt dưới một chậu cây trên sân thượng.
Nhìn qua cửa sổ, tôi thấy vợ tôi đang xem ti-vi, tin quan trọng giữa đêm, mọi chương trình giải trí đang phát đều ngưng lại nhường cho tin này, phát trên tất cả các kênh truyền hình. Họ đang nói về một hiện tượng kỳ dị. Về chồng của nàng. Về tôi.
Trên màn ảnh, một tay trung niên, mặt mày phì nộn, có lẽ là chức sắc quan trọng, nói vào micro.
“Tôi nói đồng bào nghe rõ không?”
“Thưa đồng bào, đồng bào đang chứng kiến một hiện tượng lạ mà chúng tôi đã ghi hình lại được cách đây chừng 20 phút ở trung tâm thành phố Sài Gòn: Một vật thể lạ chưa xác định được đã bay với tốc độ khá chậm trên bầu trời như đồng bào đang nhìn thấy trên màn ảnh...”
Chuyển cảnh. Tôi thấy tôi đang bay trên những cột đèn và tàng cây thấp.
“... Vật thể này có hình dáng như một con người...”
Cận cảnh. Tôi thấy tôi bay la đà dọc theo kênh Nhiêu Lộc. Bên dưới nước chảy lờ đờ, những góc phố tối thui.
“... Có nguồn tin cho rằng vật thể xuất phát từ khu phố dưới chân Cầu Bông, bay về hướng quận 1, dừng lại trên nóc nhà thờ Đức Bà rồi biến mất.”
Tôi thấy tôi la đà trên bầu trời, qua những cao ốc sáng rực ánh đèn, rồi níu cây thánh giá trên nóc nhà thờ, đáp xuống.
“Cơ quan chức năng đang điều tra về vật thể này nhưng chưa có kết luận. Có phải đây là chuyến thăm viếng trái đất của ALIEN - người ngoài hành tinh – chăng?”
Tay chức sắc nhấn giọng ở từ ALIEN.
“Chính quyền đã gởi băng ghi hình và thông tin đến các cơ quan có thẩm quyền của các nước bạn hòng được giúp đỡ để điều tra sự việc. Trong khi chờ đợi kết quả chính thức, chính quyền yêu cầu những ai có thông tin liên quan hãy mạnh dạn khai báo với cơ quan an ninh, công an khu phố.”
“Chính quyền nhận thấy rằng có vẻ như vật thể lạ không có hành vi biểu hiện sự chống đối nước ta, hay gây nguy hiểm cho mọi người, vì vậy xin đồng bào tạm yên tâm và không nên lo lắng quá,nhất là không nên loan tin đồn thất thiệt làm xáo trộn trị an trật tự. Kẻ nào vi phạm sẽ bị trừng trị theo các điều luật hiện hành. Chính quyền thành phố sẽ loan báo đến nhân dân trong thời gian ngắn nhất khi có thông tin mới.”
“Chúng tôi cũng gởi thông điệp hoà bình đến vị khách bất ngờ kia như sau:
“Thưa quý vị,
Chúng tôi rất bất ngờ về sự xuất hiện của quý vị trên vùng trời thuộc chủ quyền của đất nước chúng tôi: nước VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ. Chúng tôi không hoan nghênh sự xuất hiện đột ngột, không báo trước, và đầy khả nghi của quý vị.”
“Tuy nhiên, với truyền thống đầy nhân văn và tinh thần hoà hiếu, chúng tôi long trọng tuyên bố rằng chúng tôi sẽ sẵn sàng tiếp xúc, giao hảo với quý vị. Xin gởi đến chúng tôi những tín hiệu thiện chí của quý vị.”
“Nếu chúng tôi không nhận được những thông tin cần thiết về lý lịch, về nhân thân, về mục đích... của quý vị trong vòng 24 tiếng đồng hồ kể từ lúc này, 12:06 đêm 23 tháng 04 năm 2015, chúng tôi buộc lòng sẽ có những ứng xử thích ứng với quý vị để bảo vệ chủ quyền đất nước và sự an toàn cho công dân của chúng tôi.”
“Kính chào đồng bào, đồng bào nghe tôi nói rõ không? Kính chúc đồng bào một đêm yên lành trong không khí hừng hực hào hùng kỷ niệm 40 năm mùa xuân chiến thắng, thống nhất đất nước.”
Vợ tôi tắt ti-vi. Nàng bực dọc ném mạnh cái điều-khiển-từ-xa lên ghế xa-lông rồi vào phòng ngủ. Tôi thấy mình thương vợ ghê gớm.
Em Lăn ra với tôi. Nó dúi đầu vào thân thể trần truồng của tôi, ra chiều cảm thông và chia sẻ. Tôi ôm nó vào lòng. Hai đứa tôi nằm im, nhìn lên bầu trời lấp lánh ánh đèn. Không gian lắng dần, yên ắng. Tôi kể với nó về trải nghiệm vừa qua.
Meo meo... Grrừ grrừ... Ngao ngao...
Tôi không hề có ý định quay lại tìm gặp mụ Sáu Mèo ấy lần nào nữa, nhưng không cưỡng được nỗi thôi thúc suy nghĩ mãi, và cảm thương, cho thân phận của con người quái dị ấy.
Tôi thao thức với nỗi bí mật về chuyến bay của mình, không thể chia sẻ với ai, ngay cả với vợ.
Thật vậy, tôi không thể chia sẻ những bí mật của mình với ai cả, ngoài với Em Lăn, cái sinh thể thâm cảm với tôi nhất trong cái thế giới loài người, cái thế giới đông nhung nhúc, nhưng hiu quạnh và vắng ngắt này.

Thản Nhiên

Phần nhận xét hiển thị trên trang