Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 27 tháng 4, 2015

Câu chuyện thoạt nghe, có thể rất khó hiểu:

Tại sao Hoa Kỳ lại đi giúp Tập Cận Bình

Tập Cận Bình
Chiến dịch “Đả hổ diệt ruồi” mà ông Tập Cận Bình, chủ tịch Trung Quốc tiến hành là hệ lụy của sự kiện Trùng Khánh. Đó là sự kiện ông Vương Lập Quân, Giám đốc sở Công An Trùng Khánh, chạy vào tòa đại sứ Hoa Kỳ tại Thành Đô vào ngày 7 tháng Hai năm 2012. Ông Vương Lập Quân đem hết hồ sơ mật về nội bộ Đảng Cộng Sản Trung Quốc đưa lại cho lãnh sự quán Hoa Kỳ tại Thành Đô, ông rời khỏi lãnh sự quán trong một sự dàn xếp khôn khéo của giới Ngoại Giao Hoa Kỳ để tránh làm Trung Quốc mất mặt. Tuy nhiên, những gì ông Vương để lại hay thông báo cho lãnh sự quán Hoa Kỳ sẽ là những dữ kiện động trời khiến toàn bộ Đảng Cộng Sản Trung Quốc bị nắm cán, và nhất là vây cánh chống đối hay muốn ám hại ông Tập hoàn toàn không thể gượng dậy nổi để tranh giành quyền lực với ông.
I. TẦM QUAN TRỌNG CỦA TRÙNG KHÁNH TRONG NỀN CHÍNH TRỊ TRUNG QUỐC
Xin cần phải nhấn mạnh, Trùng Khánh là một thành phố vô cùng quan trọng trong nền chính trị Trung Quốc từ cổ chí kim.
Trùng Khánh là nơi mà ngày xưa có Bạch Đế thành, tại đây, Lưu Bị trăn trối gởi gắm con thơ lại cho Khổng Minh, mở ra một thời kỳ đối đầu chiến lược Khổng Minh – Tư Mã Ý đầy máu xương trong lịch sử của Trung Quốc.
Vùng đất phía tây-nam này của Trung Quốc có tên là Trùng Khánh là do Hoàng tử triều Nam Tống là Triệu Đôn, trước được phong là Cung Vương ra trấn nhậm vùng này, sau lại được Vua cha nhường ngôi , trở thành Tống Quang Tông. Ngài cho rằng trước được phong vương, sau lên ngôi thiên tử thì đúng là trùng khánh nên đổi tên vùng đất này thành là Trùng Khánh. Đó là vào khoảng năm 1189. Như vậy, Trùng Khánh là yếu mạch của triều Nam Tống.
Trùng Khánh cũng chính là thủ phủ chính thức của chính thể Trung Hoa Dân Quốc trong thời kỳ kháng Nhật từ năm 1937 đến năm 1945. Bởi do để mất Trùng Khánh vào tay Cộng Sản vào tháng 11 năm 1949, sự nghiệp của Trung Hoa Dân Quốc coi như tiêu tan hoàn toàn và họ Tưởng phải di dời ra đảo Đài Loan như ngày nay.
Về mặt địa lý- hành chánh, Trùng Khánh có 15 huyện, bốn đặc khu tự trị. Trùng Khánh nằm ngay thuợng du sông Dương Tử, núi non hiễm trở, Bắc giáp Thiểm Tây, Nam giáp Quý Châu, Đông giáp Hồ Bắc, Hồ Nam ,Tây giáp Tứ Xuyên , có Quỷ Môn sông chảy xiết, núi âm u , có cả triệu ha đất rừng trù phú , khoáng sản dồi dào. Trùng Khánh lúc nào cũng phảng phất hồn xứ Ba Thục của Lưu Bị , tiền sơn hậu thủy nối với tiền thủy hậu sơn , đúng là nơi tự xưng vương xưng đế của bậc anh hùng ngàn xưa. Cho nên, Trùng Khánh mà quy thuận trung ương thì Trung Quốc yên, Trùng Khánh mà làm loạn thì Trung Quốc cát cứ phân chia.
Về mặt kinh tế an sinh, Trùng Khánh nay có khoảng 28 triệu dân, có tổng số thu nhập khoảng 160 tỷ Mỹ kim, tuy thua xa Thuợng Hải nhưng sức tăng trưởng còn nguyên, chờ đầu tư, khai phá. Trùng Khánh là trung tâm sản xuất xe đủ các loại cho Trung Quốc, kể cả xe tải nặng. Ngoài ra, Trùng Khánh cũng là nơi sản xuất rất nhiều vũ khí, khí cụ cho Bộ Quốc Phòng Trung Quốc.
Cho nên có thể nói những kẻ đứng đầu Trùng Khánh từ Công An cho đến Đảng điều quyền uy thế lực nghiêng ngả Trung Ương, trong đó, ông Bạc Hy Lai, là Bí Thư Đảng tại Trùng Khánh vào năm 2012, đồng thời cũng là Ủy Viên Bộ Chính Trị , tay chân thân tính của Giang Trạch Dân, quyền uy nghiêng ngửa chẳng kém ai.
Vì vậy Giám đốc Công An Trùng Khánh, ông Vương Lập Quân, người có quyền uy đứng hàng thứ hai sau Bạc Hy Lai, chạy vào lãnh sự quán Hoa Kỳ tại Thành Đô đương nhiên là một chuyện chấn động nền chính trị Cộng sản Trung Quốc.
II. NỘI VỤ BỀ MẶT CỦA SỰ CỐ VƯƠNG LẬP QUÂN
Để che giấu những bí ẩn bên trong, các báo chí lần lượt nhận được tin về sự cố ở Trùng Khánh là ông Vương Lập Quân, Giám Đốc Công An Trùng Khánh, sợ Bạc Hy Lai ám hại đến tính mạng nên chạy vào lãnh sự quán Hoa Kỳ tại Thành Đô xin tỵ nạn. Tại đây, ông Vương Lập Quân trao hết những hồ sơ điều tra về cái chết của thuơng gia Neil Heywood và yêu cầu được bảo vệ tính mạng vì vụ án có liên cang đến bà Cốc Khai Lai, vợ của ông Bạc Hy Lai, bí thư Trùng Khánh đầy quyền thế. Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ từ chối quy chế tỵ nạn Chính Trị của họ Vương nhằm tránh Bắc Kinh bị mất mặt nhưng đảm bảo là chỉ trao trả họ Vương sau khi Bắc Kinh đồng ý bảo vệ tuyệt đối tính mạng , tài sản cũng như người thân của ông.
Cái chết của thuơng gia Neil Heywood , bị coi là đầu độc từ rượu được tòa án Trung Quốc sau đó kết luận thủ phạm là bà Cốc Khai Lai, vợ của Bạc Hy Lai tiến hành. Bà bị tuyên án tử hình vào tháng 8 năm 2012 nhưng âm thầm được hoãn lệnh tử hình. Riêng ông Vương Lập Quân, cũng bị kết án 15 năm tù vì lợi dụng chức quyền nhưng ông không kháng án và có tin đồn ông đã được bảo vệ bí mật, giam lỏng tại gia mà thôi.
Nói một cách khác, các vụ xử cố gắng dàn dựng cho hợp lý để nhanh chóng làm chìm xuồng sự việc nhằm che giấu nhưng bí mật lớn hơn.
Nội vụ bên trong lại không đơn giản như vậy .
III. NEIL HEYWOOD LÀ AI?
Ông Heywood sanh vào ngày 20 tháng 10 năm 1970 và bị giết vào ngày 14 tháng 11 năm 2011 tại khách sạn Nanshan Lijing Holiday bởi một cựu nhân viên an ninh điệp vụ tên là Trương Hiểu Quân, nay có vai trò là trợ lý giúp việc cho bà Cốc Khai Lai , vợ ông Bạc Hy Lai , Bí thư Trùng Khánh. Bà Cốc Khai Lai thừa nhận trước tòa ông Heywood đến khách sạn này theo yêu cầu của bà.
Bề mặt , ông Heywood sống ở Trung Quốc có vợ là người Trung Hoa, có hai đứa con nhỏ trong một biệt thự vô cùng sang trọng gần Bắc Kinh. Ông Heywood làm môi giới để các công ty hàng đầu của Anh Quốc có thể quen biết đến những nhân vật đầy quyền uy trong Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Có đôi khi , ông cũng được đề cử làm đại diện bảo vệ quyền lợi cho những công ty này tại Trung Quốc.
Ông Heywood làm việc tại Trung Quốc từ những năm 1990 và gặp vợ chồng Bạc Hy Lai khi họ Bạc chỉ mới là quận trưởng Dailan của tỉnh Lao Ninh. Ông Heywood được coi là người chỉ dẫn tường tận cách thức để con cái của họ Bạc được đi học ở Anh Quốc. Hiển nhiên, sự vận chuyển tiền bạc ra ngoại quốc sao cho hợp pháp của gia đình họ Bạc cũng hoàn toàn do ông Heywood cố vấn đảm nhiệm.
Khi quyền lực của họ Bạc ngày càng gia tăng không những trong Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc mà cả trong vây cánh Thuơng Hải của họ Giang, thì trọng trách cố vấn về an ninh tài chánh của Heywood cho họ Bạc càng gia tăng. Nói một cách rõ hơn, ông Heywood đảm trách an toàn trong việc chuyển tài chánh ra ngoại quốc không những chỉ cho một gia đình quyền uy mà cho cả bè nhóm tin cẩn giao cho ông.
Từ đó, ông Heywood luôn tháp tùng bà Cốc Khai Lai sang các nước tư bản để cố vấn cũng như giúp bà hoàn tất các phi vụ chuyển tiền này. Cho nên, tin đồn ngoại tình từ đó mà có vì hai người quá gần gũi.
Khi xét xử ông Bạc Hy Lai, đài CCTV13 do Đảng Cộng Sản Trung Quốc kiểm soát có trình chiếu ngôi biệt thự thuợng hạng của họ Bạc ở Cannes , nơi nghỉ mát miền Nam nước Pháp, do ông Heywood xúc tiến thủ tục, tiền do tập đoàn Shine Group có bản doanh tại Dailan cung ứng, nơi họ Bạc từng làm quận trưởng. Ngôi biệt thự này có giá lên đến gần 4 triệu Mỹ kim. Như vậy, vai trò của Neil Heywood đối với gia đình họ Bạc đã quá rõ. Ông là cố vấn luật pháp cho những hoạt động rửa tiền, tậu tài sản cho Bạc gia và vây cánh ở ngoại quốc.
IV. TẠI SAO PHẢI GIẾT NEIL HEYWOOD?
Bề ngoài đây là một vụ án giết người do liên hệ tình cảm dây dưa giữa Bạc phu nhân và ông Heywood nhưng bên trong, mật vụ của Trung Quốc bắt đầu khám phá ra mối liên hệ giữa ông Heywood với lại MI6, cơ quan tình báo Anh Quốc.
Tại tòa án, bà Cốc Khai Lai khẳng định bà phải giết ông Heywood vì ông hăm dọa đến tính mạng con trai bà là Bạc Qua Qua đang du học. Bà phải giết ông để bảo vệ tính mạng con trai bà.
Đây là một lý lẽ hết sức nực cười vì với kinh nghiệm của riêng mình, ông Heywood không thể nào lỗ mãng như thế trước các nhân vật quyền uy của Đảng Cộng Sản Trung Quốc, giết người không gớm tay. Còn nếu là do ông Heywood gian lận tài chánh, biển thủ tiền của họ Bạc và vây cánh thì lại càng không cần thiết vì ông Heywood tỏ rõ muốn mần ăn lâu dài đến suốt đời với họ Bạc chứ không hề có ý định tháo chạy cuốn gói.
Hơn nữa nếu vì cả hai lý do nêu trên mà phải giết ông Heywood thì không cần Bạc phu nhân hiện diện.
Sở dĩ Bạc phu nhân hiện diện vì bà muốn biết ông Heywood đã tiết lộ những gì với MI6, cơ quan tình báo của Anh Quốc, sự tiết lộ sâu rộng liên can đến gia đình bà, vây cánh của chồng bà tới đâu? Và chuyện này không thể giao cho ai khác tra khảo được. Cho nên , đây là một cuộc khảo cung rồi giết người.
Vì vậy, trong quá trình điều tra, ông Vương Lập Quân vô hình chung vén lên một màn bí mật quan trọng và quá lớn; ông không còn đường nào khác là phải tự thú trước lãnh sự quán Hoa Kỳ để khỏi phải bị chết như Neil Heywood.
V. CÓ PHẢI NEIL HEYWOOD LÀM VIỆC CHO TÌNH BÁO ANH QUỐC, MI6?
Việc ông Heywood bán tin cho MI6 bị MI6 công khai chối bỏ nhưng do những nguồn tin rò rỉ ra từ các hãng thông tấn danh tiếng như Reuter, Wall Street Journal, Washington Post, BBC, ông Heywood thật sự bán tin cho MI6 thông qua hãng HAKLUYT & COMPANY, được coi là một thân chủ bí mật của Heywood.
Hãng Hakluyt & Company có trụ sở tại 34 Upper Brook Street, London W1K 7Q. Hãng này được cho là thành lập năm 1995 bởi các cựu viên chức của MI6.
Hãng này hoạt động trên lãnh vực thu thập tin tức tình báo và bán tin tức tình báo (British private intelligence agency ). Hãng cũng đảm nhiệm vai trò cố vấn chiến lược cho các đại công ty trong các kế hoạch kinh doanh toàn cầu của mình.
Chỉ cần nhìn vào danh sách các thành viên Hội Đồng Cố Vấn hiện nay của Hakluyt & Company, người ta không khỏi rùng mình trước thế lực của hãng này. Xin được liệt kê một vài yếu nhân nổi bật trong Hội Đồng Cố Vấn của công ty này:
Don Argus — cựu chủ tịch tập đoàn khai thác khoáng sản lừng danh BHP Billiton
Bill Bradley — cựu Thuợng Nghị Sĩ Hoa Kỳ
Alexander Downer — cựu Ngoại Trưởng của Úc từ năm 1996 đến năm 2007
Neville Isdell — cựu Chủ Tịch và Tổng Giám Đốc điều hành Coca-Cola
Dr Hans-Peter Keitel — cựu Chủ Tịch Liên Đoàn Kỹ Nghệ Đức
Minoru Makihara, KBE — cựu Chủ Tịch tập đoàn Mitsubishi
Sir Kieran Prendergast — nguyên Phó Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc
Sir Ralph Robins — cựu Chủ Tịch Rolls-Royce
Javier Solana — cựu chủ tịch NATO và cựu Bộ Trưởng Ngoại Giao Cộng Đồng Âu Châu
Không có một người nào trong hội đồng này mà không có thế lực nghiêng ngửa quyền uy.
Như vậy , để phụng sự đắc lực nhu cầu chuyển tiền , đầu tư cũng như hợp pháp hóa các khoảng tiền hối lộ kinh khủng của các nhân vật đầy quyền thế trong Đảng Cộng Sản Trung Quốc, nhất là phe Thuợng Hải của họ Bạc, ông Neil Heywood ít nhiều cần sự trợ giúp, cố vấn của hãng Hakluyt & Company về luật pháp cũng như ảnh huởng thế lực bên trong.
Ngược lại, để giúp đở thân chủ của mình làm ăn yên ổn tai Trung Quốc, hãng Hakluyt & Company cũng cần ông Neil Heywood giúp đở môi giới.
Từ đó, sự trợ giúp của hãng Hakluyt & Company càng làm cho vai trò của Heywood càng trở nên đắc lực vì ông có thể có nhiều thân chủ ngoại quốc đề giới thiệu môi giới cho các nhân vật quyền thế ở Trung Quốc. Và qua sự tin tưởng giới thiệu của họ Bạc , phe Thuợng Hải sơ suất không kiểm tra lại hay theo dõi ông Neil Heywood cho đến khi mật vụ Trung Quốc khám phá ra sự liên hệ giữa cơ quan tình báo Anh quốc MI6 và ông Heywood thì đã quá muộn.
Một năm sau ngày ông Heywood bị giết, ký giả JEREMY PAGE của tờ Wall Street Journal , vào ngày 6 tháng 11 , có cho đăng bài với tựa đề: “Briton Killed in China Had Spy Links”, lại khẳng định là Vương Lập Quân , tại lãnh sự quán Hoa Kỳ ở Thành Đô, thừa nhận bà Cốc Khai Lai đã giết một ” tên gián điệp!”
Hành động lật đật của William Hague, Giám đốc sở tình báo Anh Quốc không theo thủ tục thuờng lệ, cố gắng chối bỏ vai trò của ông Neil Heywood đối với MI6 công khai cũng như tòa đại sứ Anh yêu cầu điều tra cái chết của ông trong âm thầm giấu giếm, không công khai càng làm lộ chuyện về mối liên hệ của MI6 với ông Heywood.
Ngoài ra , xác của ông Neil Heywood cũng không được khám nghiệm và tòa đại sứ Anh chỉ yêu cầu điều tra cái chết của ông vào ngày 15 tháng 2 năm 2012 , tức là một tuần lễ sau khi ông Vương Lập Quân chạy vào lãnh sự quán Hoa Kỳ tại Thành Đô và BA THÁNG sau khi nạn nhân bị giết!
VI. CHIẾN DỊCH “ĐÃ HỔ DIỆT RUỒI ” CỦA TẬP CẬN BÌNH
Tất cả những nhân vật nào có liên quan đến Bạc Hy Lai hoặc cùng vây cánh với Bạc Hy Lai đều bị họ Tập , nay là Chủ Tịch Trung Quốc , gạt ra khỏi quyền thế và bị xử án nặng nề. Cả một thế lực quyền uy nghiêng ngửa nằm im , thụ động , bất khả kháng cho ông Tập vung tay xử phạt. Điều này chứng tỏ tất cả những nhân vật này đã bị nắm cán, không thể phản kháng.
Ông Tập đương nhiên không phải là người nắm cán nổi những con hổ trong Đảng mà chính là chính phủ Hoa Kỳ , thông qua những gì ông Vương lập Quân trao lại khi chạy vào tòa lãnh sự ở Thành Đô , nắm cán toàn bộ những chi tiết về số tài khoảng, cũng như những hoạt động tội phạm tham nhũng của từng cá nhân, kể cả người thân trong gia đình của mọi nhân vật quyền thế vay cánh của họ Bạc.
Để đảm bảo người thân gia đình tiếp tục giàu sang với số tài khoảng kết sù tích lũy bấy lâu, những nhân vật quyền thế đang tại chức đành im lặng chịu tội, không gây loạn chống đối ông Tập nữa.
Cho đến giờ phút này người ta chưa loan báo ông Vương Lập Quân đã để lại những bằng chứng gì, chỉ biết là toàn bộ những cuốn băng ghi âm nghe lén theo dõi tất cả các nhân vật Trung Ương đã được ông Vương trao lại cho lãnh sự quán Hoa Kỳ theo thừa nhận của các viên chức ngoại giao Hoa Kỳ. Đương nhiên, tài liệu của ông Heywood gởi cho MI6 cũng sẽ từ từ được Anh Quốc cung cấp cho Hoa Kỳ. Nói một cách khác , thâm cung bí sử của nội bộ của Đảng Cộng Sản Trung Quốc nay hoàn toàn bị lọt vào tay Hoa Kỳ.
Giới ngoại giao của Bắc Kinh thừa nhận ông Tập Cận Bình đã có được toàn bộ hồ sơ tình báo mà Vương Lập Quân tiết lộ tại lãnh sự quán Hoa Kỳ (7 tháng Hai năm 2012) khi ông Tập viếng thăm Hoa Kỳ vào 16 tháng Hai năm 2012 với tư cách là phó Chủ Tịch Trung Quốc. Người trao toàn bộ tập hồ sơ này là phó Tổng Thống Hoa Kỳ , ông Joe Biden. ( Trong chuyến đi này, Trung Quốc đồng ý mua đậu nành của Mỹ với tổng giá trị lên đến …4,3 tỷ Mỹ kim !)
VII. THÀNH TÍCH ĐẢ HỔ DIỆT RUỒI CỦA ÔNG TẬP:
Một màn kịch được dựng lên để che dấu nhiều bí mật bên trong giữa những dàn xếp của Hoa Kỳ với Đảng Cộng Sản Trung Quốc thông qua sự cố Trùng Khánh nhằm giúp cho ông Tập an vị , tạo thế ổn định cho những toan tính lâu dài giữa Trung Quốc & Hoa Kỳ, chiến dịch “Đả hổ diệt ruồi” của ông Tập được loan báo ầm ĩ.
Cả hai cha con Chu Vĩnh Khang và Chu Bân điều bị bắt. Ông Chu Vĩnh Khang nắm toàn bộ nền an ninh chính trị mật vụ của Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Ông cũng là người nắm luôn tập đoàn dầu khí Trung Quốc.
Đảng Cộng Sản Trung Quốc thừa nhận đã tịch thu được 14,5 tỷ Mỹ kim , theo BBC đưa tin vào ngày 31 tháng 3 năm 2014, với tựa đề : “Tịch thu tài sản thân nhân Chu Vĩnh Khang ” Như vậy, chỉ là thân nhân , đàn em thân tính mà tài sản đã lên đến như thế. Ngoài ra , con số 14,5 tỷ Mỹ kim này chắc chắn chưa thể coi là con số thật trước nạn tẩu tán khai man.
Có khoảng MƯỜI BẢY người tay chân của họ Chu có chức vụ tương đương thứ trưởng bị bắt giam , trong đó có cả thứ trưởng Công An Lý Đông Sinh , phó tỉnh trưởng Hải Nam Ký Văn Lâm , Tưởng Khiết Mẫn , chủ tịch tập đoàn dầu khí Trung Quốc và Lý Xuân Thành , phó bí thư Tứ Xuyên.
Ngoài họ Chu và gia tộc đàn em , đàn em của đàn em ra , Thượng Tướng Từ Tài Hậu, Tổng Cục Chính Trị cũng bị vạ lây sau sự kiện Trùng Khánh vì cùng phe đảng với Bí Thư Trùng Khánh Bạc Hy Lai. Ông bị các báo chí Trung Quốc cho rằng trong nhà chứa tiền Dollar mà khi đem cân, nặng lên đến gần một tấn!
Thế là hàng loạt các sĩ quan đàn em của Từ Tài Hậu cùng chung số phận , Lý Văn Bân- Phó Chủ nhiệm chính trị quân chủng Hải quân, Khang Hiểu Huy- Chính ủy Hậu cần Quân khu Thẩm Dương, Tề Trường Minh- Phó Tham mưu trưởng Quân khu Bắc Kinh, Trương Cống Hiến- Chủ nhiệm Chính trị Quân khu Tế Nam, tất cả điều bị bắt để điều tra tham nhũng.
Ngoài ra , cùng bị bắt còn có trung tướng Cốc Tuấn Sơn, cục phó cục Hậu Cần , được coi là có cả một kho vàng trong nhà và có tổng số tài sản lên đến 5 tỷ Mỹ kim, kế là Thuợng Tướng Vu Vĩnh Ba, Chủ nhiệm Tổng bộ Chính trị; Phó Tư lệnh Không quân Trịnh Quần Lương;Thiếu tướng Diệp Vạn Dũng;Vệ Tấn, Phó chính ủy Quân khu Tây Tạng; Phù Lâm Quốc, Phó Tham mưu trưởng Tổng bộ Hậu cần, v v …
Ngay cả Quách Bá Hùng , phó Chủ Tịch Quân Ủy Trung Ương cùng thời với họ Tập, cũng bị trong vòng điều tra.
Như vậy, sự kiện Trùng Khánh và những dàn xếp im lặng bên trong khéo léo tế nhị từ phía Hoa Kỳ đã tạo ra thuận lợi cho Tập Cận Bình thẳng tay thanh trừng cũng cố uy quyền của mình.
Không biết họ Tập sẽ thắng thế được bao lâu nhưng vào Đảng, leo lên quyền uy cũng chỉ để ăn hối lộ trở thành những người “siêu giàu”- mega rich. Tất cả Đảng Viên Đảng Cộng Sản Trung Quốc điều tham nhũng hối lộ như thế, cho nên ông Tập trước sau gì cũng gánh lấy những hậu quả nội loạn nếu cứ tiếp tục bắt bớ giam cầm các Đảng Viên quyền uy, nhất là những “con hổ ” mà ông đòi đập , càng lúc , quyền uy càng lớn hơn cả Chu Vĩnh Khang , ví dụ như Hồ Cẫm Đào, Giang Trạch Dân, Ôn Gia Bảo, Quách Bá Hùng, v..v…
VIII. KẾT
Trùng Khánh một lần nữa làm nền chính trị Trung Quốc nghiêng ngã như quá khứ trong lịch sử đã từng. Quyền uy và thanh danh của ông Tập Cận Bình được cũng cố cũng là nhờ sự kiện Trùng Khánh- thông qua cú đầu thú ngoạn mục của ông Vương Lập Quân tại lãnh sự quán Hoa Kỳ ở Thành Đô.
“Đả hổ diệt ruồi ” là bề mặt của một sự dàn xếp có tính toán của Hoa Kỳ khi quyết định giúp họ Tập có điều kiện tạo ra thanh danh khi thừa kế chức chủ tịch Trung Quốc của Hồ Cẫm Đào.
Nếu Hoa Kỳ hành xử khác đi trong vụ Trùng Khánh thì đương nhiên thế cục dành cho họ Tập cũng sẽ khác đi. Những con hổ như Chu Vĩnh Khang, Từ Tài Hậu có binh quyền trong tay lên đến cả mấy trăm ngàn người không dễ dàng gì buông giáo chịu êm. Đó là chưa kể sau lưng Chu Vĩnh Khang con có con Hổ ma mãnh kinh khiếp khác là Giang Trạch Dân hậu thuẫn. Hoa Kỳ không âm thầm khống chế thân nhân tài sản của những kẻ này ở Manhattan New York hay có những hành động tương tư ở những nơi khác thì bản thân ông Tập, không cách gì mà đủ sức bứng nổi bọn này ra khỏi Trung Ương.
Nếu thực sự là như vậy thì TẠI SAO HOA KỲ LẠI ĐI GIÚP TẬP CẬN BÌNH?

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tượng Quốc tổ, 18 tượng Vua Hùng được công nhận lớn nhất Việt Nam

27/04/2015 15:10

(TNO) Nguồn tin từ Công ty cổ phần dịch vụ du lịch Gia Lai ngày 27.4 cho biết: Quần thể gồm tượng Quốc tổ và 18 tượng Vua Hùng vừa được Tổ chức kỷ lục Guiness Việt Nam công nhận lớn nhất Việt Nam. 


 
Tượng Quốc tổ

Quần thể này nằm trong Công viên văn hóa Đồng Xanh, TP.Pleiku (Gia Lai) với nhiều hạng mục đặc sắc như nhà Rông, phiên bản Chùa Một Cột, tượng Quốc tổ bằng gỗ mít nặng trên 2 tấn; vườn bách thảo, chim thú, vườn tượng; gỗ hóa thạch triệu năm…

Hằng năm, đúng dịp Giỗ tổ Hùng Vương, tại đây đều làm lễ dâng hương và viếng Vua Hùng.


Dịp này, tại Công viên văn hóa Đồng Xanh diễn ra nhiều hoạt động văn hóa nghệ thuật, ẩm thực của các vùng miền như Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh, đờn ca tài tử Nam Bộ, trình diễn Cồng chiêng Tây nguyên, bài chòi Bình Định…

Theo thống kê, công viên này đã đón 2 triệu lượt khách tính từ khi đi vào hoạt động kể từ năm 1996.





 
18 tượng Vua Hùng 
Tin ảnh: Trần Hiếu
_________
Ôi ! Quốc tổ đây ư? 
Da trắng như tuyết, môi đỏ như son
Dáng như thần tướng!
Lại nhuộm móng đỏ nữa!
Không ! Quyết là không phải. Đây không phải Quốc tổ !!!

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Hay là cách tự yêu của những thằng đểu!

Đỉnh cao của sự dối trá chính là khi bản thân kẻ nói dối cũng tưởng mình đang nói thật.


ảnh trên Net

Phần nhận xét hiển thị trên trang

“TAI NẠN VĂN CHƯƠNG”:TIỂU THUYẾT “THỜI CỦA THÁNH THẦN”

 |
HAI BÀI TRÊN BÁO QĐND
ngominh 

“TAI NẠN VĂN CHƯƠNG”:TIỂU THUYẾT “THỜI CỦA THÁNH THẦN”:HAI BÀI TRÊN BÁO QĐND

QTXM-Bạn đọc thân mến. Tiểu thuyết Thời của thánh thần của nhà văn Hoàng Minh Tường là cuốn sách hay, phản ảnh được hiện thực xã hội nước ta một thời. Nhưng sách vừa mới ra mắt đã phải chịu nhiều sóng gió. Đây cũng là một "tai nạn văn chương" một thời. Sau đây là hai bài  đăng trên báo QĐND về cuốn tiểu thuyết này.

1/ Nếu chỉ tâng bốc, tô hồng
Hà Thế
Đầu năm 2005, nhà văn Hoàng Minh Tường đã cho ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Ngư phủ”, một tiếp nối trong “Gia phả của đất”. Sau “Ngư phủ”, tiểu thuyết Hoàng Minh Tường hoặc có thể sáng chói, hoặc có thể bị lu mờ. Nhất là cuốn tiểu thuyết “Thời của thánh thần” mới đây của anh tạo ý kiến đa chiều của bạn đọc. Chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với Hoàng Minh Tường, xin giới thiệu với bạn đọc để hiểu thêm góc nhìn của nhà văn.
- Giữa phố phường nhộn nhịp và bụi bặm, tại sao anh lại chọn một lăng kính đậm màu thôn dã, như Thuỷ Hoả đạo tặc, Ngư phủ… và gần đây nhất là Thời của Thánh thần?
-Tôi thuộc tạng người không thể đóng được vai thành thị hay trí thức. Cái máu nhà quê nó ngấm vào hồn vía tôi. Vì thế, những năm công tác ở ngành thuỷ sản (2000 – 2004), hễ có dịp là tôi lại đi lang thang đến những làng chài ven biển như phá Tam Giang, đầm Cầu Hai của Thừa Thiên Huế, được sống những ngày cực nhọc vất vả của các làng chài. Ngư dân chính là người nông dân làm nghề cá. Và những làng chài, những thân phận ngư phủ nổi nênh đó khiến tôi nhận ra rằng, họ là một phiên bản của những người trồng lúa. Khác chăng là họ phải đối mặt với một thiên nhiên nghiệt ngã và dữ dội, khốc liệt hơn nhiều trong cuộc mưu sinh… Từ giã ngành thuỷ sản để về Hội Nhà văn, tôi có dịp trở lại nhiều hơn với làng quê. Và thế là cái chất quê mùa lại hiện về. Tôi bắt tay vào viết một cuốn tiểu thuyết mới. Tiểu thuyết “Thời của thánh thần”.
-Hình như thoạt đầu cuốn tiểu thuyết không có tên gọi như vậy?
-Vâng. Tôi đặt tên là “Tốt sang sông”. Nhưng nhà văn Nguyễn Trọng Oánh đã có cuốn tiểu thuyết “Khi con tốt sang sông” in ở NXB Quân đội nhân dân hơn chục năm trước. Thế là tôi đổi tên “Thời của thánh thần”. Đó là một thời kỳ mà cả dân tộc Việt Nam ta sống như trong huyền thoại, như trong truyền thuyết. Bây giờ nhiều người trong cuộc sống nhớ lại cái thời lãng mạn ấy mà vẫn không khỏi bàng hoàng. Bởi nó quyết liệt quá, hào sảng quá, thơ mộng quá mà cũng gian khổ, dữ dội quá… Thế hệ trẻ hôm nay không thể hiểu cha ông mình đã trải qua nửa phần sau của thế kỷ XX như thế nào đâu. Chỉ có thể nói, đó là thời của “Thánh thần”. Cả dân tộc sống trong ánh sáng của lý tưởng, âm hưởng của tráng ca, đời sống chiến trận…
-Tôi đã nhận ra cái không khí “Thời của Thánh thần” ngay từ Thuỷ hoả đạo tặc, Đồng sau bão. Phải chăng, đó là mối liên kết mà tác giả ngầm nối giữa những sáng tác của mình?
-Cũng có thể gọi đó là sự kết nối giữa quá khứ và hiện tại của tác giả với các nhân vật. Viết Ngư phủ, tôi đưa sex vào như một thử nghiệm. Tôi tự coi Ngư phủ như tập ba trong bộ tiểu thuyết Gia phả của đất. Vũ Trọng Lịch và Duyên, những nhân vật của Ngư phủ có họ hàng rất gần với Thanh và Vy trong Gia phả của đất. Họ là những người thừa sự thông minh dung cảm, lòng nhân hậu vị tha, vậy mà cuối cùng họ vẫn không thắng nổi cái ác,thói ti tiện, vô nhân…
-Đọc anh tôi thấy rõ tính nhân bản vẫn là một yếu tố không thể thiếu trong các tác phẩm. Nhưng ngược lại, sự bặm trợn thô thiển đến thô tục, nhân cách méo mó thể hiện trong một số nhân vật của tiểu thuyết. Anh định đưa ra thông điệp gì? Hay chính anh cũng đang muốn hỏi người đọc một thông điệp đáng sợ nào đó?
-Tôi sợ câu hỏi của người phỏng vấn. Chị đã đi guốc vào bụng tôi rồi. Tôi chẳng có thông điệp gì đưa tới người đọc mà chính tôi cũng đang muốn hỏi người đọc. Tôi chỉ biết cảm nhận và trình bày cuộc sống đầy rẫy những bất an. Mà chị thấy đấy, nhà tiểu thuyết có phải bịa một tí nào đâu, bản thân cuộc đời phơi bày hết cả rồi. Trong tiểu thuyết Ngư phủ, tôi làm sao bịa ra được những nghĩa địa tàu, “sản phẩm” của cuộc đầu tư ồ ạt nhằm tăng nhanh đội tàu đánh bắt xa bờ, vẫn đang nằm chềnh ềnh ở nhiều cảng cá từ Nam chí Bắc; làm sao mà dám vu cho bọn thuỷ tặc dùng mìn, dùng kích điện và đủ mọi thủ đoạn đang hàng ngày tàn sát ngư trường, phá hoại môi sinh. Hay trong tiểu thuyết “Thời của Thánh thần” tôi làm sao bịa ra nổi không khí đấu tố thời Cải cách ruộng đất, cảnh Trương Thiên định chôn sống các chiến sĩ giải phóng tại mặt trận An Lộc? Người viết sẽ dễ trở thành đồng loã với cái ác nếu chỉ tâng bốc, tô hồng cuộc sống. Đọc lại mình nhiều khi chính tôi cũng thấy “sự bặm trợn thô thiển đến thô tục”. Tôi như hoá thân trong cái Lão chủ tiệm dởm Lưu sáu ngón, cái gã đĩ thực, thớ lợ và đểu giả Lưu cá ngựa…(trong Ngư phủ), gã Phèng Cửu Tựu, Trương Phiên (trong Thời của Thánh thần), để trình bày với độc giả.
Ở tiểu thuyết này, tôi muốn tự lột trần mình, bắt chính mình phải trung thực với từng trang viết. Tôi muốn các nhân vật của mình đi lại con đường đầy rẫy những chông gai, thấm đẫm máu và nước mắt, trước khi họ trở thành thánh thần hay ác quỷ. Bởi họ sẽ chẳng có ý nghĩa gì nếu không trở thành một mẫu hình hay một ám ảnh để giúp độc giả nhận ra chính mình.
-Thế còn nhân vật chính diện? Các nhân vật trong “Thời của Thánh thần”, nhất là các nhân vật nữ. Người đọc rất có ấn tượng với nhân vật đầy tính nhân văn Đào Thị Cam.
-Nhiệm vụ của văn học là tôn vinh con người. Thực ra trong “Thời của Thánh thần” không có con người phản diện. Cũng như nhân loại, luôn có trong mỗi người phần bóng tối và ánh sáng. Tất cả các nhân vật đều được tôi chăm chút, nâng niu……………….. người soi đèn ban đêm, phải bằng mọi cách chiếu rọi cho độc giả thất phần ánh sáng phát ra trong mỗi nhân vật. Về các nhân vật phụ nữ thì đúng là tôi có dành rất nhiều ưu ái cho họ.
(Báo QĐND 15/03/2009)
2/ Không thể tô hồng nhưng không thể bôi đen
Thái Dương
Số báo QĐND Cuối tuần ra ngày 15-3 vừa qua, chúng tôi giới thiệu bài phỏng vấn nhà văn Hoàng Minh Tường của tác giả Hà Thế về các tác phẩm “Ngư phủ”, “Gia phả của đất” và đặc biệt là tiểu thuyết “Thời của thánh thần” do Nhà xuất bản Hội nhà văn mới ấn hành cuối năm 2008. Nhà văn Hoàng Minh Tường đã nói về ý tưởng và quan điểm sáng tác của mình thông qua các tác phẩm nói trên, trong đó nhấn mạnh: “Người viết sẽ dễ trở thành đồng loã với cái ác nếu chỉ tang bốc, tô hồng”. Tuy nhiên nhiều bạn đọc sẽ có ý kiến khác về cuốn sách này. Xin giới thiệu một trong những ý kiến đó:
Biên tập viên Nguyễn Việt Hưng ở Nhà xuất bản Giáo dục nói: “Là người đọc bản thảo đàu tiên tôi bị sốc. Vài năm trước, e khó có nhà xuất bản nào dám cấp phép in”. Tôi suy nghĩ ở ngay thời điểm này về sau không nên in những cuốn sách như thế.
Những thế hệ đã sinh ra, lớn lên và trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đều hiểu rõ những gì đang xảy ra trong cải cách ruộng đất.Bên cạnh những mặt tích cực của cải cách ruộng đất, chúng ta còn phạm phải một số thiếu sót, sai lầm, đã được Đảng, Chính phủ nhận ra và kịp thời sửa sai. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phải xót xa, không cầm nổi nước mắt, thay mặt Đảng và Chính phủ xin lỗi toàn dân. Việc làm ấy đã lấy lại được niềm tin của dân với Đảng. Những năm sau đó miền Bắc bước vào thời kỳ xây dựng CNXH và dốc sức người, sức của chi viện miền Nam chống Mỹ xâm lược, nhằm mục tiêu cao cả giành độc lập, tự do thống nhất đất nước. Khi giang sơn thu về một mối, cả nước cùng khắc phục hậu quả chiến tranh, chung sức xây dựng đất nước Việt Nam XHCN. Những sai lầm ấu trĩ của thời quan liêu bao cấp cũng đã được toàn Đảng, toàn dân sửa chữa kịp thời bằng công cuộc đổi mới toàn diện. Hơn 20 năm qua, thành quả của công cuộc đổi mới đã đạt được những thành tựu thần kỳ, không chỉ nhân dân Việt Nam mà bạn bè quốc tế cũng thán phục.
Thực tế sinh động và hào hùng ấy của dân tộc đã được phản ánh sâu sắc thông qua nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật, khơi dậy niềm tự hào, tự tôn dân tộc, động viên, cổ vũ lớp lớp thế hệ người Việt Nam yêu nước đoàn kết một lòng, tô thắm thêm truyền thống vẻ vang của ông cha. Tuy nhiên, đáng tiếc là thời gian qua đã xuất hiện một số ít tác phẩm đi vào khai thác những mảng tối của quá khứ, mô tả lại những sự kiện đau buồn – hậu của của sai lầm, ấu trĩ, khoét sâu vào đau thương, mát mát của một thời… khiến cho nhiều bạn đọc trẻ có cái nhìn thiên lệch vào những sự kiện lịch sử, hoài nghi đường lối lãnh đạo của Đảng, phủ nhận những mặt tốt, mặt tích cực của hiện thực nước ta trong những năm tháng đó.
Từ xa xưa ông cha ta cũng dạy “Ôn cố, tri tân”. Khi viết về các đề tài mang tính lịch sử, sứ mệnh của các nhà văn là làm cho người đọc hiểu đúng, nhận thức đúng bản chất những biến cố xảy ra trong quá khứ, nêu bật truyền thống tốt đẹp của biết bao thế hệ đã đóng góp mồ hôi xương máu để bảo vệ và xây dựng đất nước để thế hệ con cháu noi gương, tiếp bước tô thắm thêm non sông, Tổ quốc Việt Nam. Nhắc lại chuyện cũ để tạo nên sự hiểu lầm, thù hận, hoài nghi, phỏng có ích gì?
Trong bài phỏng vấn nhà văn Hoàng Minh Tường, tác giả Hà Thế có đặt vấn đề bức xúc: “Sự bặm trợn. thô thiển đến thô tục, nhân cách méo mó thể hiện trong một số nhân vật của tiểu thuyết, anh định đưa ra thông điệp gì?” Hoàng Minh Tường trả lời rằng: “Tôi sợ câu hỏi của người phỏng vấn. Chị đã đi guốc vào trong bụng tôi rồi. Tôi chẳng có thông điệp gì mà chính tôi đang muốn hỏi người đọc…Tôi muốn các nhân vật của mình đi lại con đường đầy rẫy những chông gai, thấm đẫm máu, và nước mắt trước khi họ trở thành thánh hiền hay ác quỷ…”. Tôi thấy ở đây có một sự mâu thuẫn. Văn học phản ánh hiện thực khách quan của đời sống xã hội. Thông qua tác phẩm, nhà văn phải gửi gắm đến độc giả một thông điệp nào đó chứ không phải nêu ra vấn đề rồi “hỏi” lại bạn đọc. Hơn nữa “những con đường đầy rẫy những chông gaithấm đẫm máu và nước mắt”, ai đó đã từng trải qua rồi thì không muốn và không ai có thể bắt học phải “đi lại” được. Và như trên tôi đã nói những quá khứ lầm lỗi và đau thương thì không nên nhắc lại để khoét sâu thêm sự khổ đau.
“Văn học là nhân học”, văn học là học làm người. Đó là sự đúc kết ngàn đời để lại cho người làm văn và học văn. Hơn nữa, văn học nghệ thuật phải mang lại chongười vốn tri thức văn hoá và thẩm mỹ lành mạnh, hướng con người đến tiêu chuẩn chân, thiện, mỹ, làm cho tâm hồn người ta trong sáng hơn, thôi thúc người ta làm điều có ích, chứ không thể gieo rắc sự tha hoá, tội ác và hoài nghi. Trong tiểu thuyết “Thời của thánh thần”, tác giả đã quá sa đà vào tả những cảnh làm tình, cảnh chém giết, cưỡng bức… vốn rất xa lạ với văn hoá làng quê Việt Nam. Tác giả biện minh: “Tôi muốn tự lột trần mình, bắt chính mình phải trung thực với từng trang viết”. Tác giả đã giành nhiều chương miêu tả những cuộc tình éo le, thô tục. Từ cuộc tình của hai cán bộ Việt Minh ở nhà trọ phố Phương Đình đến các nhân vật như Trương Phiên, Đội Tựu, Nguyễn Kỳ Cục. Đặc biệt là cảnh thủ dâm của ni sư Thích Đàm Hiên ở chùa Phổ Hướng. Đây là sự báng bổ cả đến sư sãi nhà chùa theo đạo Phật khiến cho người đọc bất bình. Tác giả nói rằng: “Tôi đưa sex vào như một thử nghiệm”! Thật là một sự thử nghiệm bất chấp luân thường đạo lý.
Nói về cách mạng, tác giả ví như “quả đấm” nên đã viết: “Cải cách ruộng đất là quả đấm thép, sự cải tạo tư sản là quả đấm nhung, tuy không bị đấm mà đau nhừ tử, kinh hồn táng đởm đến già” (Chương 11). Đi xa hơn nữa, tác giả viết: “Cách mạng theo đúng nghĩa đen của mọi thời, gần với tôn giáo ở bản tính hà khắc, cay nghiệt và thói đạo đức giả vì tính mục đích của nó, đã vô tình triệt tiêu đến mức tối đa bản năng của con người. Bản năng lớn nhất, thậm chí duy nhất là tình dục”. Ngoài ra còn rất nhiều trang viết thể hiện rõ sự lệch lạc trong việc nhận xét, đánh giá bản chất của cách mạng và phẩm chất đáng trân trọng của cán bộ, đảng viên.
Tác giả đã mâu thuẩn trong khi nói về quan điểm sáng tác: “Tôi nghĩ mình phải như người soi đèn ban đêm, chiếu rọi cho độc giả thấy phần ánh sáng phát ra trong mỗi nhân vật”. Nhưng “Thời của thánh thần” độc giả lại thấy nhiều nhân vật xấu xa, bỉ ổi, đê tiện; luôn luôn dò xét, quy chụp và trả thù nhau; tạo nên mối hận thù trong tập thể, giữa mỗi cá nhân, và đặc biệt ngay trong dòng họ và từng gia đình. Phần ánh sáng phát ra trong mỗi nhân vật thì yếu ớt mà phần bóng đen u ám, tiêu cực, mục ruỗng, tha hoá thì nhiều. Vẫn biết rằng, ở bất cứ thời đại nào, xã hội nào cũng luôn luôn tồn tại song hành người tốt và kẻ xấu; cái thiện và cái ác. Song, ở tác phẩm này, tác giả đã quá say sưa mổ xẻ cái xấu và cái ác, đam mê mô tả nhục dục thấp hèn, như Hà Thế viết “sự bặm trợn đến thô tục, nhân cách méo mó” là chính xác.
Tác giả Hoàng Minh Tường viết rằng “Người viết sẽ đồng loã với cái ác nếu chỉ tâng bốc, tô hồng cuộc sống”. Nhưng viết về cái tốt, cái thiện không phải là tâng bốc hay tô hồng. Tâng bốc hay tô hồng là viết về cái tốt không có thực, cái tốt giả dối. Trên thực tế, cuộc sống của chúng ta có biết bao người tốt, việc tốt, có biết bao nghĩa cử cao đẹp đáng tôn vinh, làm cho xã hội ngày một tốt đẹp hơn, trong khi văn học nghệ thuật chưa phản ánh đầy đủ và sâu sắc. Tác giả từ chối tâng bốc và tô hồng nhưng không ngần ngại làm công việc ngược lại là bôi đen. Bạn đọc có nhiều lứa tuổi, thành phần, trình độ học vấn và hiểu biết xã hội khác nhau. Đọc xong cuốn sách của tác giả, có bạn đọc sẽ thấy chạnh buồn, nhớ về một thời khốn khó và những và những chuyện đau lòng. Người ít hiểu biết và nhất là thế hệ trẻ hôm nay đọc cuốn sách loại này dễ hoang mang, nghi hoặc. Như vậy “Thời của thánh thần” chỉ làm khuấy động lại quá khứ đau buồn chứ không phải gợi mở ánh sáng cho tương lai. Tác giả không tô hồng nhưng đã sa đà vào cảm hứng bôi đen.
(Báo QĐND 05/04/2009)
 ( Nguồn:vanviet)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chủ Nhật, 26 tháng 4, 2015

Thực sự về ông Minh rất tiếc cho đến bây giờ vẫn nhiều ý kiến mà thực ra nó đã rõ từ lâu ông là ai? Người của phe nào? CHỉ có điều người ta ít chịu xâu chuỗi, nghiên cứu một cách tỷ mỷ!

Tướng Dương Văn Minh nhận chức Tổng thống để đầu hàng: Kỳ 4: Rút cử Tổng thống và không nhận hai triệu đô la của Đại sứ Mỹ

 
Tướng Dương Văn Minh và kiến trúc sư Nguyễn Hữu Thái nguyên chủ tịch Hội Sinh viên Sài Gòn, cơ sở Binh vận
Trước cuộc bầu cử, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã tác động Quốc Hội VNCH thông qua luật bầu cử mới với quy định khắc khe về tiêu chuẩn ứng cử viên phải có ít nhất 40 chữ ký của các dân biểu nghị sĩ, hoặc 100 nghị viên Hội đồng tỉnh giới thiệu. Trước đó ông Thiệu đã vận động gom hầu hết chữ ký giới thiệu cho mình, vì vậy, ngoài Thiệu chỉ còn lại duy nhất Tướng Dương Văn Minh đủ tiêu chuẩn. Nhưng phát hiện những kế hoạch gian lận của Tổng thống Thiệu, Tướng Minh tuyên bố rút đơn ứng cử, biến cuộc bầu cử thành màn độc diễn. Đại sứ Mỹ can thiệp đề nghị hổ trợ hai triệu đô la để tướng Minh ra ứng cử nhằm thể hiện sự dân chủ cho cuộc bầu cử nhưng Tướng Minh từ chối. Kiên quyết với lập trường tìm giải pháp hòa bình hòa giải dân tộc, ông tập họp quy tụ “Nhóm ông Minh” bao gồm đủ các thành phần mà đa số là có liên quan đến Mặt trận giải phóng, Tướng Minh còn cưu mang che chở cho nhiều người thân cộng, thậm chí là đảng viên cộng sản ở ngay trong Dinh Hoa Lan của mình trong nhiều tháng nhiều năm trời.

Vốn là người nhân hậu theo lập trường hòa giải hòa hợp dân tộc, Tướng Minh đã thể hiện lập trường này trong mọi cương vị hoàn cảnh ngay trong những lúc khó khăn nhất. Do không chấp nhận cho người Mỹ ném bom đê sông Hồng ở miền Bắc, không đưa gián điệp ra Bắc, không chấp nhận cho Mỹ can thiệp sâu vào chiến tranh Việt Nam, người Mỹ đã dùng Nguyễn Khánh và Trần Thiện Khiêm làm cuộc chỉnh lý, tước quyền lãnh đạo của Tướng Minh đưa lên làm Quốc trưởng một thời gian sau đó đưa đi làm đại sứ ở Thái Lan như một hình thức cho sống lưu vong. Thời ấy, cho các chính khách, tướng lĩnh đi làm đại sứ là một hình thức đi đày mà nhiều người từng bị trong đó có cả Nguyễn Khánh, Trần Thiện Khiêm. …

Đang bị “đi đày” vẫn lên tiếng ủng hộ người khác

Nhưng ngay trong hoàn cảnh đó, quyền lực bị hạn hẹp Tướng Minh vẫn dùng uy tín của mình để hổ trợ cho những người có khuynh hướng tốt đẹp. Trong Hồi Ký Không Tên, cựu dân biểu đối lập Lý Quí Chung kể lại, nhân chuyến đi Bangkok (Thái Lan) để dự Hội nghi APU (Hiệp hội Dân biểu Nghị sĩ Á châu), ông đã gặp tướng Dương Văn Minh để chuyển lời của Cụ Trần Văn Hương yêu cầu Tướng Minh lên tiếng ủng hộ liên danh ứng cử tổng thống Trần Văn Hương – Mai Thọ Truyền (Lý Quí Chung là đại diện báo chí cho liên danh Trần Văn Hương trong Kỳ bầu cử này). Có lẽ vì ơn nghĩa đó cho nên năm 1969, khi được làm Thủ Tướng Trần Văn Hương can thiệp để Tướng Dương Văn Minh được hồi hương. Tướng Minh cư ngụ tại tư dinh có biệt hiệu là Dinh Hoa Lan trên đường Hồng Thập Tự (nguyễn Thị Minh Khai).


Tướng Minh và Nguyễn Ngọc Thơ, Phó Tổng Thống của thời Ngô Đình Diệm cũng là thành viên của “nhóm ông Minh” sau này

Từ 1970, Dinh Hoa Lan trở thành trung tâm quy tụ những nhân vật mang lập trường phản chiến, ‘hoà hợp hòa giải dân tộc’. Những người thân cận và cùng khuynh hướng này được gọi chung là “Nhóm ông Minh” công khai đối lập với Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, chống sự can thiệp của Mỹ ở Việt Nam, chủ trương hòa hợp hòa giải dân tộc. Nhóm này gồm có những nhân vật chính yếu như sau: Ông Nguyễn Ngọc Thơ, (cho đến khi bi tai biến mạch máu nảo) Gíao sư Vũ Văn Mẫu, Gíao sư Tôn Thất Thiện, Gíao sư Lý Chánh Trung, Trung Tướng Mai Hữu Xuân, Nghị sĩ Hồng Sơn Đông, các Dân Biểu Nguyền Hữu Chung, Lý Quí Chung, Dương Văn Ba, Hồ Ngọc Nhuận và Bác Sĩ Hồ Văn Minh, người công giáo và cũng là Phó Chủ Tịch Hạ Viện.

Ứng cử viên Minh lại đi vận động chữ ký cho ứng cử viên Kỳ

Công việc đầu tiên của nhóm này là phối hợp chuẩn bị tranh cử cho cuộc bầu cử Tổng thống nhiệm kỳ 1971-1975. Chuyện ứng cử và rút cử của Tướng Minh cũng là sự kiện đặc biệt. Ông Trịnh Bá Lộc, tùy viên của tướng Minh đã kể chi tiết về sự kiện này như sau: Có ba liên danh đăng ký ứng cử là Nguyễn Văn Thiệu-Trần Văn Hương, Dương Văn Minh-Hồ Văn Minh và Nguyễn Cao Kỳ-Trương Vĩnh Lễ. Môĩ liên danh cần phải có ít nhất 40 chữ ký của các Nghị Sĩ Thượng Viện hay Dân Biểu Hạ Viện, hoặc 100 chữ ký của các Nghị Viên Hội Đồng hàng tỉnh và thị xã thì mới hợp lệ. Tổng Thống Thiệu nhờ quyền lực và thủ đoạn đã chiếm hầu hết chữ ký ủng hộ. Tướng Minh nhờ uy tín cũng có thừa chữ ký. Nhưng liên danh của Thiếu Tướng Kỳ thì không đủ mặc dù khối Hòa Bình Dân Tộc (ủng hộ Tướng Minh) và một số thành viên “Nhóm ông Minh” cũng vận động chữ ký của các Nghị Sĩ, Dân Biểu và Nghị Viên ủng hộ ông Kỳ. Sở dĩ Tướng Minh cần làm như vây vì muốn cuộc bầu cử có sự tham gia của liên danh ông Kỳ, bởi ông này là đối trọng của ông Thiệu trong vấn đề kiểm soát sự gian lận bầu cử và cũng để chia số phiếu của cư tri với ông Thiệu trong quân đội.

Cần nhắc lại rằng trước ngày bầu cử năm 1971, ông Kỳ là đương kiêm Phó Tổng Thống VNCH cho nên ảnh hưởng và quyền lực của Ông Kỳ đối với quân đội và các cấp hành chánh là không nhỏ. Nhưng tiếc rằng việc không thành, liên danh ông Kỳ không được ra ứng cử. Vì sự “vắng mặt” của liên danh Kỳ-Lễ nên một âm mưu gian lận bầu cử đã được tiên hành không e dè. Đai Tướng Minh nắm được bằng cớ chính xác về sự gian lận này nên đã quyết định rút đơn ứng cử. Đây chính là nguyên nhân đưa đến việc Đại Sứ Bunker tiếp xúc với Đại Tướng Minh.

Không nhận hai triệu đô, họp báo công khai rút cử

Ông Trịnh Bá Lộc nhấn mạnh rằng, sau khi liên danh ứng cử Tổng Thống “Dương Văn Minh--Hồ Văn Minh” đôt ngột rút đơn đại sứ Mỹ Bunker mới xin gặp Đại Tướng Minh tại tư dinh Hoa Lan. Đại Tướng Minh đã mời Gíao sư Tôn Thất Thiện tham dự cuôc tiếp xúc nầy với tư cách thông dịch viên và cố vấn. Sau khi chủ và khách trao đổi những câu chào hỏi xã giao, Đại sứ Bunker xin phép Đại Tướng Minh mời GS Tôn Thất Thiện bước ra khỏi phòng khách để hai bên có thể đàm đạo dễ dàng hơn. Theo Đại Tướng, Đại Sứ Bunker đã đề nghị giúp liên danh Dương Văn Minh—Hồ Văn Minh một số hiện kim khoảng 230 triệu bạc Việt Nam, tương đương hai triệu Mỹ kim nếu Đại Tướng Minh đồng ý tiếp tục ứng cử Tổng Thống. Đại Tướng Minh đã dứt khoát từ chối món tiền này của Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ và tỏ rõ lập trường rút đơn ứng cử vì có bằng chứng rỏ rệt cho thấy: Phủ Tổng Thống đã ra chỉ thị tối mật cho các Tỉnh Trưởng, Tiểu Khu Trưởng, Quận Trưởng, Chi Khu Trưởng . . . kế hoạch bảo đảm việc tái đắc cử cho đương kim Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu. Đó là viêc xử dụng bất hợp pháp nhân viên chánh quyền, quân nhân và công chức cao cấp, công bộc quốc gia, trong việc gian lận bầu cử. Đại Tướng không thể vì bất cứ lý do gì mà tiếp tay cho sự gian lận này. Bởi vì tiếp tục ứng cử chỉ là để giúp người Mỹ và ông Thiệu tô vẽ cho màn kịch tranh cử như là có sự công bằng thật sự mà thôi. Ngược lại, cần phải để cho Tổng Thống Thiêu “độc diễn” để vạch trần tấn bi hài kịch trên của họ. Và quả nhiên dư luận thời đó đã phê phán cũng như chế diễu hài kịch này một cách thích đáng.

Cưu mang báo chí đối lập, sinh viên chống chính quyền

Sau khi quyết định rút cử, thì hoạt động của “Nhóm ông Minh” chủ yếu bàn các giải pháp đấu tranh đòi chấm dứt chiến tranh, thực hiện hòa giải dân tộc và khi Hiệp định Paris được ký kết thì đấu tranh đòi thực hiện hiệp định. Điều đáng nói là, về chủ trương và gốc gác thành phần của nhóm được Lý Quí Chung đánh giá như sau: “Xét về ‘gốc tích’ thành phần của nhóm ông Minh…lộ ra sau 1975, chúng ta sẽ không ngạc nhiên về sự chuyển dịch lập trường của nhóm ông Minh từ ‘ở giữa’ chuyển sang tả, rồi hướng đến sự sẵn sàng thỏa hiệp, liên kết với Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam (Mặt trận) và Hà Nội. Gần phân nửa thành viên trong nhóm có quan hệ với Mặt trận ông Cước, anh Nhuận, giáo sư Trung, luật sư Liễng…khi Hiệp định Paris được ký kết, nhóm ông Minh ủng hộ triệt để sự thi hành Hiệp định.…Luật sư Liễng thì thành lập Tổ chức đòi thi hành Hiệp định Paris với sự tham gia của linh mục Nguyễn Ngọc Lan, thẩm phán Triệu Quốc Mạnh, nhà văn Thế Nguyên (báo Trình Bày).”

Theo ông Hồ Ngọc Nhuận cố vấn thân cận của Tướng Minh thì thật ra “Nhóm ông Minh” chỉ là một khái niệm mở ngoại trừ một số người nòng cốt thì đây là diễn đàn cho nhiều thành phần xã hội đa dạng, nhiều nhóm chính kiến chính trị khác nhau cùng tập họp theo chủ trương hòa bình, dân tộc. Chính với chủ trương này, Dinh Hoa Lan của Tướng Minh và nhà của ông trung tá Chánh văn phòng Trương Minh Đẩu, hai sĩ quan tùy viên là Trịnh Bá Lộc và Hoa Hải Đường ở kế cận Dinh Hoa Lan lại là nơi trú ẩn an toàn của nhiều thành phần đối lập với chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đang bị truy nã. Cụ thể là chính ông Hồ Ngọc Nhuận, Dương Văn Ba đã ở trong dinh hàng năm trời, tổ chức cả tòa soạn dả chiến tổ chức bài cho tờ báo “lậu” Tin Sáng sau khi bị chính quyền Thiệu rút giấy phép. Từ đó kéo theo cả những điệp báo của Quân Giải Phóng như Huỳnh Bá Thành (sau này là Tổng Biên Tập báo Công An Thành Phố HCM” thời đó được biết đến là họa sĩ Ớt chuyên vẽ tranh biếm họa, nhà báo Cung Văn Nguyễn Vạn Hồng…

Chuyện cán bộ tình báo cộng sản ở trong nhà ông Đại Tướng của chính quyền đối lập quả là chuyện trái đời. Nhưng không chỉ bao nhiêu đó, Huỳnh Tấn Mẫm, Chủ tịch Tổng Hội sinh viên Việt Nam, người tổ chức xuống đường đốt xe Mỹ, chống chánh quyền Thiệu cũng từng ẩn náo an toàn tại đây hơn sáu tháng. Luật sư Triệu Quôc Mạnh, đảng viên Đảng Cộng Sản từ năm 1966 thời đó mang vỏ bọc là Phó Biện lý tòa án Sài Gòn cũng có lúc thường lui tới ăn cơm ở Dinh Hoa Lan. Ngược lại cũng có những tướng lĩnh như Mai Hữu Xuân từng là Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc gia hay tướng Lê Văn Nghiêm được xem là lý thuyết gia của chủ nghĩa Quốc Gia cũng lui tới thường xuyên là thành viên nòng cốt của nhóm.

Nhìn cách nào đó, Tướng Minh và “nhóm ông Minh” chừng như lỏng lẻo, không có lập trường thuần nhất có cả quốc gia, cộng sản, có cả Phật giáo và Công giáo nhưng xét theo quan niệm hòa hợp hòa giải của Tướng Minh thì nghịch lý ấy lại hoàn toàn phù hợp như điều ông từng bộc lộ với con mình “Bên nào thắng cũng được miễn là kết thúc chiến tranh, hòa bình cho dân tộc”. Đó cũng là lý do vì sao ông lên làm Tổng thống để đầu hàng và những công việc đặc biệt mà ông đã làm trong thời gian ngắn ngủi.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

30/4 xem lại quan điểm của Võ Văn Kiệt 10 năm trước


Nhung doi hoi moi cua thoi cuoc
Nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt
 * Thưa ông, thấm thoắt đã gần 30 năm kể từ ngày tiếp quản Sài Gòn, và ông là một trong số ít các nhà lãnh đạo còn lại từ cuộc kháng chiến đó, ông có suy nghĩ gì về sự kiện này?
- Suy nghĩ của tôi chỉ đơn giản là làm sao để không còn những nhà lãnh đạo phải trưởng thành từ chiến tranh như chúng tôi nữa. Chiến tranh đã qua cách đây ba chục năm. Chúng tôi đã chuyển giao quyền lãnh đạo cho thế hệ kế tiếp. Nói như thế có nghĩa là tôi mong chiến tranh thật sự phải thuộc về quá khứ. Một quá khứ mà chúng ta mong muốn khép lại.
* Thưa ông, "khép lại" là một khái niệm không đơn giản khi làm?
- Không gì là không làm được! "Hòa hiếu", "khoan dung" là những truyền thống tốt đẹp của người VN. Người Việt thường chỉ kháng chiến khi có kẻ thù từ bên ngoài. Sau 30 năm qua, tôi nghĩ mọi người VN chúng ta, cả đôi bên đều nhận thấy khi không còn sự can thiệp từ bên ngoài nữa, chúng ta có thể trở về bên nhau, cùng nhau xây dựng. Và VN sẽ thêm phát triển khi mọi người Việt dù ở đâu cũng đều ở trong một cộng đồng hòa hợp. 
* Chúng ta đã có nhiều nỗ lực để làm điều đó, thưa ông?
- Đôi khi phải nhìn kết quả thay vì nhìn những gì mà chúng ta nghĩ là nỗ lực. Theo tôi, chúng ta vẫn còn biết bao điều cần nói, biết bao việc cần làm.
* Theo ông, bây giờ việc cần làm tiếp là gì? 

- Chiến thắng của chúng ta là vĩ đại, nhưng chúng ta cũng đã phải trả giá cho chiến thắng đó bằng cả nỗi đau và nhiều mất mát. Lịch sử đã đặt nhiều gia đình người dân miền Nam rơi vào hoàn cảnh có người thân vừa ở phía bên này, vừa ở phía bên kia, ngay cả họ hàng tôi cũng như vậy. Vì thế, một sự kiện liên quan đến chiến tranh khi nhắc lại có hàng triệu người vui mà cũng có hàng triệu người buồn. Đó là một vết thương chung của dân tộc cần được giữ lành thay vì lại tiếp tục làm nó thêm rỉ máu.
* Thưa ông, để lành được vết thương này phải có sự tham gia của mọi người Việt?
- Đấy là một vấn đề lớn. Chúng ta đang nắm quyền lãnh đạo đất nước, muốn để mọi người Việt cùng chung tay hàn gắn, chung tay tạo dựng thì chúng ta phải thực tâm khoan dung và hòa hợp. Sau 30-4-1975, khi đồng chí Lê Duẩn vào Sài Gòn, vừa xuống thang máy bay đồng chí nắm tay đưa lên cao, giọng đầy cảm xúc, nói: "Đây là thắng lợi của cả dân tộc, không phải của riêng ai". Sau 30 năm, tôi thấy không phải dễ dàng làm cho mọi người VN cảm nhận được điều đó.
* Khó khăn nằm ở chỗ nào, thưa ông?
- Hồ Chủ tịch từng mong muốn khi chiến tranh chấm dứt, hòa bình lập lại sẽ đi thăm các nước để cảm ơn bè bạn quốc tế. Sau năm 1975, đồng chí Lê Duẩn và đồng chí Phạm Văn Đồng đã thay mặt Bác làm việc này. Đánh giá cao sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế và cảm ơn là việc làm phù hợp đạo lý và truyền thống VN. Nhưng về đối nội, theo tôi, đã đến lúc ta phải nhìn nhận công lao, sự đóng góp to lớn của các tầng lớp người Việt yêu nước từng sống trong lòng chế độ cũ, hiện ở trong nước hay ở bên ngoài. Bản thân tôi cùng với anh em được giao tiếp quản Sài Gòn năm 1975, một Sài Gòn nguyên vẹn sau một cuộc chiến tranh như vậy, tôi nghĩ không thể không nói đến vai trò của nội các Dương Văn Minh và các lực lượng chính trị đối lập với Mỹ - Thiệu, có quan hệ với chính phủ Dương Văn Minh lúc bấy giờ.
* Ông Minh đã tuyên bố đầu hàng?
- Đại tướng Dương Văn Minh nhậm chức ngày 28-4-1975, ngày mà một nhà quân sự như ông có thể đoán được sự thất thủ của Sài Gòn. Nếu ông Minh để cho các tướng dưới quyền ông "tử thủ", chúng ta vẫn chiến thắng, nhưng Sài Gòn khó mà nguyên vẹn, và còn biết bao sinh mạng và tài sản của người dân mình nữa. Tôi và Thành ủy do anh Mai Chí Thọ phụ trách, sáng 30-4 khi nghe ông Minh kêu gọi binh lính buông súng để chờ bàn giao chính quyền cho cách mạng, đã thở phào nhẹ nhõm. Phải ở chiến trường, và vào đúng giờ phút ấy, mới cảm nhận được tầm quan trọng của quyết định này.
* Theo ông, từ đâu ông Minh lại có quyết định như vậy?
- Thế thắng của ta trong năm 1975 là không thể cưỡng lại được, tuy nhiên quyết định của ông Minh không chỉ dựa trên tình hình chiến sự mà còn phản ánh những hành động chính trị trước đó của ông. Ông Minh là vị tướng đã đảo chính lật chế độ Ngô Đình Diệm, ông cũng là người sau đó đã không chịu làm vừa lòng Mỹ, khiến người Mỹ phải bật đèn xanh cho Nguyễn Khánh lật đổ ông. 
* Và, "lực lượng thứ ba" cũng đóng một vai trò đáng kể, thưa ông?
Sự xuất hiện trở lại trên chính trường của ông Minh chính là kết quả hoạt động tích cực của lực lượng thứ ba, lực lượng những người đấu tranh với Mỹ - Thiệu ngay trong lòng chế độ Sài Gòn. Điều quan trọng tôi muốn nói ở đây là tất cả những ai đã vì lòng yêu nước, thương nòi, bằng nhiều con đường khác nhau, từng đóng góp vào cái chung, và không đòi hỏi gì cho riêng mình thì đều có quyền tự hào về những đóng góp đó và hãy tiếp tục cống hiến nhiều hơn nữa nhằm xây dựng Tổ quốc VN chúng ta giàu mạnh, văn minh, dân chủ và hạnh phúc. 
* Thưa ông, ở thời điểm này nhìn lại, ông có bằng lòng với những gì chúng ta đã làm trong 30 năm qua?
- Chúng ta đều có thể vui mừng khi có một VN thống nhất, quyết tâm vượt qua nghèo đói và quyết tâm hội nhập như ngày hôm nay. Nhưng nhìn lại quá trình kể từ khi kết thúc chiến tranh thì tôi thấy tiếc. Giá như đổi mới sớm hơn thì chúng ta có thể đã không phải trải qua những năm phải trả giá đắt như giai đoạn 1975-1985.
* Bài học về những năm bỏ lỡ cơ hội này là gì, thưa ông?
- Phải tiếp tục đổi mới nữa và tránh xa sự tự mãn, tránh xa bệnh say sưa thành tích! Trong những năm qua, chúng ta tiếp tục giữ được sự tăng trưởng khá, đó là một thành tựu lớn. Tuy nhiên, tôi muốn lưu ý rằng với một nước mà GDP chỉ mới đạt trên dưới 40 tỉ USD như VN, mức tăng trưởng 6-7% chưa phải là đã đủ để đáp ứng nhu cầu phát triển trong nước và nhu cầu hội nhập. 
* Thưa ông, trong đối ngoại chúng ta nên tiếp tục như thế nào trong giai đoạn tới?
- Những kết quả đối ngoại vừa qua, trong một chừng mực nhất định, đúng là đã góp phần mở đường để giải quyết nhiều khó khăn về kinh tế - xã hội. Sau 20 năm đổi mới, chúng ta đã sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của cộng đồng quốc tế. Nhưng nội dung cụ thể của những khẩu hiệu ấy là gì? Và tới đây, với một thế giới đang thay đổi từng ngày như thế này, chúng ta lựa chọn và xây dựng vai trò và vị trí của mình như thế nào là điều hết sức quan trọng.
Sau sự kiện ngày 11-9-2001, những biến cố ở Trung Đông, những cải tổ chính trị tích cực từ bên trong của các nước ASEAN như Indonesia, sau sự kiện sóng thần tàn phá ở một số nước Đông Nam Á..., tất cả cho thấy thế giới ngày nay đã trở nên gần gũi và liên hệ với nhau hơn, thật sự không còn chỗ thành công lớn cho những nỗ lực đơn độc. 
Vị trí đối ngoại của chúng ta, vì thế, không chỉ tùy thuộc vào thế, mà phải tăng tốc thêm lực và khả năng thích ứng với toàn cầu của mình. Ngoại giao tới đây, vì thế, tôi nghĩ phải có vai trò vượt lên phía trước, phải chủ động cảnh báo cho trong nước cả thách thức lẫn cơ hội, kịp thời đáp ứng những đòi hỏi mới của thời cuộc.
* Xin cảm ơn ông.
THẠCH ANH thực hiện
Thứ Bảy, ngày 22/6/2013 - 07:10
Ông Nguyễn Vĩnh, nguyên Tổng Biên tập báo Quốc Tế (nay là báo Thế Giới và Việt Nam), kể về một câu chuyện trắc trở xung quanh bài phỏng vấn nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt.

Ông Vĩnh kể đó là một trong những bài báo in trên Quốc Tế được xây dựng công phu nhất nhưng cũng lại là bài báo có số phận trải đủ cung bậc thăng trầm...
“Đăng và gỡ”…
. Xây dựng công phu nghĩa là thế nào, thưa ông?
+ Cuối năm 2004, anh em nghiên cứu chính sách đối ngoại bên ngoại giao và báo Quốc Tế được gặp ông Võ Văn Kiệt nhằm trao đổi một số vấn đề đối ngoại. Sau buổi gặp, một phó tổng biên tập được phân công chấp bút, lựa những điều ông Kiệt trăn trở và tâm đắc nhất để soạn lại thành một bài viết dạng phỏng vấn. Hướng nhắm tới là cột mốc quan trọng năm 2005: 30 năm ngày giải phóng miền Nam, rất thích hợp để phát đi một tín hiệu đối ngoại quan trọng từ một nhân vật nguyên là lãnh đạo cấp cao. Bài được gửi xin ý kiến và được nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt đồng ý cho đăng với kế hoạch thời gian sẽ đăng Quốc Tế số tết Ất Dậu 2005.
. Vậy còn thăng trầm?
+ Đó là khi bài đã lên khuôn ở nhà in thì tôi nhận được chỉ đạo qua điện thoại không cho phép đăng bài đó.
. Một bài báo quan trọng như thế thông thường khi chưa lên trang chỉ nhân vật và tòa soạn biết, tại sao lại rò rỉ để đến mức bị chỉ đạo gỡ bài?
+ Đó cũng chính là câu tôi đã hỏi vị lãnh đạo đó. Nhưng ông ấy từ chối trả lời mà chỉ yêu cầu tôi thực hiện không cho bài ấy xuất hiện. Cuối cùng, chúng tôi phải bóc hết một “tay in” là tám trang, rồi thay vào một bài khác.
. Bài bị gỡ thường là “có vấn đề”, lúc đó ông có sợ trách nhiệm cá nhân của mình không?
+ Khi thực hiện bài phỏng vấn đặc biệt này, tôi đều có báo cáo với cơ quan chủ quản của báo là Bộ Ngoại giao. Bài viết hoàn thành, chúng tôi cũng gửi lại cho nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt đọc, sau đó ông có phê vào bản thảo là đồng ý cho đăng.
Nhà báo Nguyễn Vĩnh.
. Phản ứng của nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt khi biết bài không được đăng như thế nào?
+ Ông ấy không hài lòng. Nguyên Thủ tướng còn viết thư riêng gửi cho một lãnh đạo cao cấp yêu cầu giải thích về việc này. Tôi vẫn còn giữ hai lá thư đó, bản gửi cho tôi biết, như một kỷ niệm công việc.
Nhưng cuối cùng bài báo đó cũng được đăng với tựa đề là “Những đòi hỏi mới của thời cuộc”.
+ Đúng rồi, sau lá thư của ông Võ Văn Kiệt, không rõ từ lý do nào và ra sao mà một thời gian sau ngày bị dừng thì tổng biên tập lại nhận được chỉ đạo phải đăng bài này. Nhưng đúng lúc đó thì nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt lại không đồng ý để bài đó được đăng nữa.
. Báo Quốc Tếđã làm gì để thuyết phục ông Võ Văn Kiệt đồng ý?
+ Việc này vượt ra ngoài tầm của Ban Biên tập. Đích thân đồng chí Nguyễn Phú Bình lúc đó là thứ trưởng Bộ Ngoại giao vất vả lắm mới nhận được cái gật đầu của nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt và bài báo đã được in vào ngày 30-3-2005.
“Triệu người vui, triệu người buồn”
. Dư luận về bài báo đó ra sao, thưa ông?
+ Dư luận rất tốt, rất nhiều báo ở trong nước và ngoài nước in lại hoặc đưa lên mạng bài báo này.
Bài báo hay ở nội dung và tư tưởng. Ngay mở đầu bài viết, nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt tái khẳng định rằng chiến thắng 30-4 là vĩ đại nhưng người Việt Nam cũng “đã phải trả giá cho chiến thắng đó bằng cả nỗi đau và nhiều sự mất mát”. Vì thế một sự kiện liên quan đến chiến tranh khi nhắc lại theo các lối cũ vẫn làm sẽ “có hàng triệu người vui mà cũng có hàng triệu người buồn”. Vết thương chung của dân tộc như vậy cần được giữ lành, “thay vì lại tiếp tục làm cho nó thêm rỉ máu”. Và muốn để mọi người Việt Nam chung tay hàn gắn thì chúng ta, người chiến thắng và đang lãnh đạo đất nước, “phải thực tâm khoan dung và hòa hợp”. Ở một lãnh đạo cấp cao, ý trên thật mới và rất quan trọng cho hòa hợp dân tộc.
Trong bài trả lời phỏng vấn đó, nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt còn có đánh giá về tướng Dương Văn Minh?
+ Đúng, nguyên Thủ tướng phân tích tướng Minh nhậm chức tổng thống Việt Nam Cộng hòa ngày 28-4-1975 là thời điểm mà “một nhà quân sự như ông có thể đoán được sự thất thủ của Sài Gòn”, rồi Sài Gòn không “tử thủ” như các tướng tá khác muốn, trái lại thành phố giữ được nguyên vẹn do ông Minh chấp nhận đầu hàng. Sự việc được ông Kiệt kể lại: “Tôi và Thành ủy do anh Mai Chí Thọ phụ trách, sáng 30-4, khi nghe ông Minh kêu gọi binh lính buông súng để chờ bàn giao chính quyền cho cách mạng đã thở phào nhẹ nhõm. Phải ở chiến trường và vào đúng giờ phút ấy mới cảm nhận được tầm quan trọng của quyết định này”. Với cách nhìn nhận như vậy, ông Kiệt muốn nêu lên một thực tế, ông nói: “Điều quan trọng tôi muốn nói ở đây là tất cả những ai đã vì lòng yêu nước thương nòi, bằng nhiều con đường khác nhau, từng đóng góp vào cái chung và không đòi hỏi gì cho riêng mình thì đều có quyền tự hào về những đóng góp đó và hãy tiếp tục cống hiến nhiều hơn nữa nhằm xây dựng Tổ quốc Việt Nam chúng ta giàu mạnh, văn minh, dân chủ và hạnh phúc”.
. Việc đánh giá về ông Dương Văn Minh như thế phải chăng cũng là một nguyên do khiến bài phỏng vấn đó bị yêu cầu dừng xuất bản?
+ Nguyên nhân thực sự tôi không rõ. Tuy nhiên, với hai ý lớn như thế, lại xuất hiện ở thời điểm 2005, khi mà trong nội bộ chúng ta còn có nhận thức và đánh giá chênh nhau, thậm chí khác nhau về thực chất của hòa hợp dân tộc và lực lượng thứ ba có liên quan đến tướng Dương Văn Minh, thì việc bài báo bị dừng lại, tôi nghĩ cũng là điều có thể hiểu được.
Ngoại giao văn hóa
. Về hưu nhưng ông dường như vẫn quan tâm đến thời cuộc với nhiều bài viết trên blog cá nhân và Facebook... Ông nghĩ thế nào về ngoại giao của ta trong thời điểm hiện nay?
+ Chúng ta vẫn thường nghe câu “thêm bạn bớt thù” trong quan hệ quốc tế. Như vậy tức là chúng ta vẫn thừa nhận có thù, làm như điều này “không thể hết được”. Nhưng tôi nghĩ không nên tư duy về thù và “sắp xếp” hai khái niệm bạn/thù theo lối cũ, được như thế thì vẫn tốt hơn. Nói cách khác là nên xác định ở thời nay sẽ chẳng có bạn hay thù nào là vĩnh viễn mà chỉ có quyền lợi đất nước và dân tộc là vĩnh viễn và vĩnh cửu.
. Nhưng có lúc đấu tranh để bảo vệ quyền lợi dân tộc, chúng ta phải chạm trán với kẻ thù, thưa ông?
+ Như thế chúng ta mới cần phải có đường lối và chính sách ngoại giao đúng đắn. Cần nhiều cách ứng xử và biện pháp khác nhau vận dụng khôn ngoan. Trong quan hệ là hợp tác cùng có lợi và bình đẳng, là mềm mỏng nhưng cần thì phải đấu tranh khi lợi ích dân tộc bị xâm hại. Trải qua bao chục năm dâu bể, tôi thoáng nghĩ đến phương cách trung lập. Cái thế địa-chính trị của nước ta nó mách bảo điều này. Lãnh đạo cấp cao chúng ta chẳng nói là nước ta không liên minh với nước này chống lại nước kia, cũng không cho ai đặt căn cứ quân sự và nếu phải sắm vũ khí cũng là để phòng thủ… Đây là một chủ đề rất lớn nên chúng mình để lúc khác bàn đến…
Ông Nguyễn Vĩnh tốt nghiệp khoa Ngữ  Văn Trường ĐH Tổng hợp Hà Nội khóa 1963-1967, ra trường ông được nhận vào làm việc như một biên tập viên tập sự tại NXB Ngoại văn. Từ năm 1998 ông được Bộ Ngoại giao bổ nhiệm làm tổng biên tập báo Quốc Tế cho đến năm 2006. Tiếp đó, ông còn là một trong những người gây dựng tuần báo Thời Đại của Liên hiệp Các Tổ chức hữu nghị Việt Nam, là tổng biên tập đầu tiên của tờ báo này đến năm 2008.
HỒ VIẾT THỊNH thực hiện
Phần nhận xét hiển thị trên trang