Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 28 tháng 3, 2015

Xấu thô bỉ



Cần-lao có câu: “Không có phụ nữ xấu, chỉ có phụ nữ không biết làm đẹp”. Theo thiển nghĩ của tôi, “làm đẹp” ở đây bao hàm cả làm đẹp về hình thể lẫn làm đẹp về tâm hồn.
Mặc dù có những tiêu chí để đánh giá một người phụ nữ đẹp như những cuộc thi nhan sắc vẫn áp dụng. Nhưng xét một cách toàn diện, các tiêu chí đánh giá cũng chỉ là tương đối. Mỗi phụ nữ có một vẻ đẹp riêng, có thể đẹp về hình thể, đẹp về phong cách hay đẹp về tâm hồn.
Chính vì như vậy mà đàn ông cảm nhận cái đẹp cũng khác nhau. Có anh thích cô gầy, có anh thích cô béo; có anh thích cô cao, có anh thích cô lùn; có anh thích tóc dài, có anh thích tóc tém; có anh thích nội tâm, có anh thích cá tính;… nói chung chin người mười sở thích, đủ cả.
Thế mới nói, mỗi người đàn bà sinh ra là để dành riêng cho một người đàn ông yêu họ. Như tôi đã từng nói: “Một người đàn bà khiến cho một người đàn ông phải cần rượu để quên thì chính là mỹ nhân trong mắt người đàn ông đó”.
Cũng chính vì mỗi người đàn ông thích một kiểu đàn bà nên tình yêu cũng đa dạng lắm. Tình yêu không câu nệ tuổi tác, địa vị, trình độ, vùng miền,…. Những chuyện như một chị xinh xắn yêu một anh cực xấu zai hay một anh cao to đẹp zai yêu một chị thấp bé lại ít nhan sắc là chuyện bình thường trong xã hội. Thậm chí có anh vợ đẹp con khôn lại dở chứng đi yêu một cô đã xấu lại vụng; hay một chị chồng thành đạt địa vị cao nhiều tiền lại dở chứng đi yêu một cậu tý tuổi chả nghề ngỗng gì; hay một ông quan chức to tổ bố, đã có cháu nội cháu ngoại lại đi yêu một cô tiếp thị bia tuổi ít hơn cả tuổi con út; hay một câu cao to đẹp zai đi yêu một chị nạ dòng tuổi nhiều hơn cả mẹ mình;… cũng là chuyện chả hiếm. Chuyện tình yêu đa dạng và bí ẩn lắm, chỉ có những người trong cuộc mới hiểu được.

Có một nàng, bạn học đại học của bạn tôi quê ở xứ cá-gỗ. Nàng này vừa lùn, vừai béo, da lại ngăm đen, đã mũi tẹt mà mặt lại tròn như cái bánh tráng. Nói chả ngoa chứ tôi nhìn nàng lại liên tưởng đến ông nhà văn Nam Cao, hị hị...
Bạn tôi kể hồi nàng đi thực tập ở một “hãng tiếng nói” quan trọng và lớn nhất xứ An-nam. Chả biết ông zời sắp đặt thế nào lại gặp một zai là con một một ông phó tổng hay trưởng ban gì đấy. Zai này đang là sinh viên, ít hơn nàng 2-3 tuổi, đúng tiêu chuẩn công tử Hà-thành, có nghĩa cao to đẹp zai, nhà mặt phố, bố làm to. Một tiêu chuẩn mơ ước của các chân dài thời thủa 199x.
Chả biết thần Cupid bắn mũi tên tình yêu như thế nào mà zai này lại chết mê chết mệt nàng và chinh phục quyết liệt. Như tôi mô tả nàng và zai ở trên thì các bạn biết việc chinh phục của zai sẽ khó khăn như thế nào. Cũng chẳng biết vì sự chân thành của zai hay tiếng gọi của tình yêu mà cuối cùng zai cũng chinh phục được nàng. Nhưng mối tình này lại tiếp tục gặp sóng gió khi gia đình zai phản đối quyết liệt, quyết liệt. Nhưng cuối cùng tình yêu của nàng và zai cũng chiến thắng. Và một đám cưới được tổ chức là kết quả rất đẹp của mối tình này. Chuyện của nàng bạn tôi kể thế nào tôi biên lại thế đấy. Nghe nói giờ nàng đang giữ một vị trí quan trọng trong cơ quan của bố chồng nàng.
Câu chuyện tình rất đẹp của nàng có thể minh chứng cho điều tôi nói về tình yêu ở trên, và minh chứng cho điều cổ nhân thường dạy: “Cái nết đánh chết cái đẹp”.

Anh bạn tôi có ních-nêm là Phọt Phẹt, nổi tiếng cả ngoài đời lẫn thế giới mạng của An-nam xứ. Gã cao to, đẹp zai, hát hay hơn nhiều ca sĩ thành danh đương thời, đã thế văn chương lại lai láng. Những bài viết của gã đầy triết lý, hài hước, hào hoa và dâm đãng. Tôi đảm bảo phần lớn các cháu gái tin-tin lẫn các chị nạ-dòng đọc những bài viết về chuyện hủ hóa zai gái thời thiên đàng của gã chỉ có mà khép đùi cười rinh rich, còn đám đàn ông thì không tính. Không chỉ trong các bài viết, mà ở ngoài đời tính cách gã cũng hài hước, hào hoa và dâm đãng như thế, hehe…
Gã này có một lượng fan hâm mộ đông đảo. Mỗi lẫn tôi hay gã xuôi Nam ngược Bắc mà gặp gỡ diệu-bia, nhìn đám fan ca tụng tài viết lách của gã cũng khiến thằng cầm bút như tôi vừa tủi thân lẫn ghen tỵ, hị hị…
Gã có biệt tài là biên bài một lèo, có ý tưởng là biên, chả cần phải suy nghĩ sắp xếp hay cân nhắc câu từ. Văn chương cứ tuồn tuột chảy ra như gã có một kho dự trữ sẵn. Đã thế biên xong gã đọc lại từ đầu đến cuối bài viết mà không sai một từ, cho dù bài viết dài vài nghìn chữ, thế mới tài.
Bạn nhậu” của gã rất nhiều và đa đạng, từ Bắc chí Nam. Từ các cây đa cây đề của làng cầm bút lẫn giới nghệ sĩ, đến các quan chức, doanh nhân,… đủ cả. Đặc biệt lần nào nhậu cũng thấy gã gọi vài gái đến góp vui, mà theo gã nói là cuộc nhậu cần phải có cả đực lẫn cái, cho thêm phần thi vị.
Có lần ngồi nhậu, gã gọi mấy gái chân dài đến, theo giới thiệu đang là thí sinh vòng gần cuối của một cuộc thi người đẹp xứ An-nam mà doanh nghiệp bạn gã là nhà tài trợ. Nhìn các gái váy ngắn quần soóc dạng háng nhể ốc hương làm cho thằng rụt rè với đàn bà như tôi cũng thấy xao xuyến bởi những bộ ngực bức bối như muốn nổ tung trong cái áo thun khoét rộng cổ bó sát cơ thể và những khúc giò lụa trắng bóc dài ngần ngẫn. May mà gu đàn bà của tôi không quá nặng về nhan sắc, mà phải nhiều vỏ não, sâu lắng và quý phái một tý, chứ không thì cứ nuốt nước bọt khan mà đau dạ dày mất thôi, hehe…
Như tôi đã nói trên, gã không những hào hoa và dâm đãng trong văn chương, mà còn hào hoa và dâm đãng ở ngoài đời. Trong các cuộc nhậu cuộc hát, gã luôn là trung tâm của cuộc vui và các gái tham dự. Gã có chim chuột được chân dài kiều nữ nào ở ngoài đời không thì tôi chịu, chỉ biết trên trang của gã, các gái vàng-son lẫn đàn bà nạ-dòng rất thích gọi gã với ních-danh Phẹt-liệt, hehe…

Gã hay nói với tôi là gã thuộc tuýp người theo chủ nghĩa duy mỹ, có nghĩa là đam mê cái đẹp. Với gã, đàn bà xấu là một sự trêu đùa của tạo hóa. Đôi lần gã kể trong các cuộc nhậu, có gái xấu là gã bỏ về vì tụt hết cảm xúc về tình ái lẫn diệu-bia.
Một lần gã gọi tôi đi nhậu, đến nơi thấy dăm bảy người trên bàn nhậu, zai gái đủ cả và gã ngồi cạnh một gái. Qua giới thiệu tôi biết toàn chiến hữu giao lưu trên mạng của gã mà tôi cũng biết qua. Trong bữa nhậu, tôi thấy gã ăn nhẹ uống khẽ, nâng chén riệu nhâm nhi, khác hẳn những lần khác. Tôi mới hỏi là tối qua nhậy say với đám nào mà giờ mệt mỏi như thế? Gã chỉ cười, chả nói.
Gái ngồi cạnh gã nhìn tổng quát là xấu, lại cười nói ăn uống hơi vô duyên. Đã thế lại chém zó các câu chuyện xoay quanh chuyện giao lưu trên mấy diễn đàn mạng mẽo, nghe nhạt như nước ốc. Tôi chả mấy quan tâm đến chuyện zang-hồ mạng nên chả chú ý. Nhậu được một lúc, gái có việc về trước. Tự nhiên gã hoạt bát hẳn, lại hô hào uống rôm rả, lại chém zó những chuyện nhân tình thế thái theo đúng kiểu hào hoa và dâm đãng như các cuộc nhậu khác.
Tàn cuộc nhậu, gã rủ tôi đi uống tiếp. Vào quán, vừa nhấp được một ngụm bia, gã nói với tôi rằng, gái lúc nãy đã xấu, vô duyên lại viêm cánh, làm gã tụt hết cảm xúc, chả lẽ lúc đó lại bỏ về. May quá là gái đi về trước, hehe…
Tôi bảo gái này đúng kiểu xấu thô bỉ, phỏng ông? Gã cười hô hố và nói chí phải chí phải, ngồi cạnh gái đã xấu lại vô duyên thì ăn uống thế đéo nào được!
Chuyện này tôi biên tếu táo, trúng trật khôn lường, các anh chị coi như tôi chém zó, hehe…
Cụm từ “xấu thô bỉ” mà tôi nói với gã, là đọc được của một bác nào đó biên trên Facebook, chứ chả phải tôi nghĩ ra.

© 2015 Baron Trịnh 
Nguồn hình ảnh: Sưu tầm trên internet, chỉ có tính chất minh họa, không có ý xúc phạm.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Kinh thành Huế có bao nhiêu cửa?


Những lần lang thang trên Web tôi bắt gặp những câu như: Huế có bao nhiêu chùa? Có mấy cây cầu bắc qua sông An cựu? Quả thật rất khó trả lời. Hoặc chỉ một câu hỏi đơn giản thôi: Kinh thành Huế có bao nhiêu cửa?

Chắc rằng khá nhiều người dân Huế chẳng trả lời đúng câu hỏi này, mà chỉ cố gắng nhớ lại những cổng thành mình đã đi qua. Hàng ngày người ta có thể qua lại rất nhiều lần ở các cửa thành nhưng ít có ai lại từng nghĩ đến việc thống kê một con số như vậy, cũng như việc bạn thường xuyên đến nhà người bạn thân của mình nhưng bất chợt ai hỏi nhà bạn ấy số bao nhiêu, tôi chắc rằng không phải ai cũng trả lời đúng.
< Thể Nhân Môn – Cửa Ngăn (mặt phía trong kinh thành).

Vậy thì chúng ta hãy cùng nhau đi thăm tất cả các cổng của Kinh thành Huế nhé. Dulichgo

Bắt đầu từ cửa Thể Nhân, là cửa thành còn giữa nguyên được hình dáng và kiến trúc ban đầu cho đến hết 13 cửa lớn nhỏ của Kinh Thành Huế.

Thể Nhân Môn có tên thường gọi là cửa Ngăn, nằm phía Nam, bên trái Kỳ Đài của Kinh Thành, lưu thông một chiều từ đường 23/8 ra đường Lê Duẩn. 
< Cửa Ngăn năm 1926 (mặt phía ngoài kinh thành).

Phần vòm cửa được xây dựng năm 1809 dưới thời vua Gia Long, vọng lâu bên trên được xây dựng vào năm 1829 dưới thời vua Minh Mạng. Lúc đầu có tên là Thể Nguyên, sau khi xây vọng lâu thì cải thành Thể Nhân. Nhân dân quen gọi là cửa Ngăn Dưới để phân biệt với cửa thành Quảng Đức là cửa Ngăn Trên.
< Cửa Quảng Đức - Cửa Sập.

Phía bên phải di tích Kỳ Đài là Cửa Quảng Đức nằm ở mặt Nam của Kinh Thành, chỉ lưu thông một chiều từ hướng đường Lê Duẩn vào đường 23/8. Phần cửa vòm được xây dựng vào năm 1809, dưới thời vua Gia Long, vọng lâu được xây dựng vào năm 1829, thời Minh Mạng.

Trận lụt năm 1953, đã quét sập đổ hoàn toàn bộ phận vòm cửa và vọng lâu, vì thế dân chúng vẫn quen gọi là cửa Sập. Trong chiến sự năm 1968, cửa bị phá hoại nặng nề, và cấm không cho ra vào. Năm 1998, cửa được phục chế lại. Dulichgo
< Cửa Quảng Đức (cửa Sập) của Kinh thành Huế.

Hai cửa này dành cho vua và hoàng gia ra vào. Mỗi lần vua và hoàng gia ra thành, triều đình cho lính ra đóng lại, ngăn không cho dân chúng đi qua. Sau khi vua và hoàng gia trở vào trong Nội rồi thì hai cửa bị ngăn ấy mới được mở ra lại để cho dân chúng đi như thường. Trận lụt năm 1953 làm sập cửa Ngăn Trên nên từ đó dân chúng gọi là cửa Sập. Và cửa Ngăn Dưới thì được gọi là cửa Ngăn cho gọn như ngày nay.
< Chánh Nam Môn - Cửa Nhà Đồ (hiện đang được trùng tu). Nhìn ảnh chắc hẳn bạn có thể hình dung được chiều dày của vòng thành.

Bên trái cửa Quảng Đức là cửa Chánh Nam Môn nằm ở phía Nam Kinh Thành, cuối đường Nguyễn Trãi, dân gian vẫn gọi là cửa Nhà Đồ. Cửa này nay chỉ cho phép lưu thông một chiều từ đường Nguyễn Trãi ra đường Lê Duẩn. Phần cửa vòm được xây dựng năm 1809, dưới thời vua Gia Long, vọng lầu bên trên được xây dựng vào năm Minh Mạng thứ 10, tức năm 1829. Lúc đầu, phía bên ngoài cửa có cục Tượng Ty, hay còn gọi là Đồ Gia, là kho chứa vật dụng, binh khí, dịch nôm na hai chữ Đồ Gia là Nhà Đồ, vì thế cửa Chánh Nam còn có tên gọi là cửa Nhà Đồ. Trận lũ năm 1953, đã làm sập phần vòm và vọng lâu bên trên cửa Nhà Đồ.
< Đông Nam Môn - Cửa Thượng Tứ (phía bên trong thành).

Bên phải cửa Ngăn là Cửa Thượng Tứ có tên chữ là Đông Nam Môn, nằm ở góc Đông Nam Kinh Thành, nay chỉ lưu thông một chiều từ đường Trần Hưng Đạo đi vào đường Đinh Tiên Hoàng, bên ngoài là phường Phú Hoà, bên trong là phường Thuận Thành, thành phố Huế. Phần cửa vòm được xây dựng vào năm 1809 dưới thời vua Gia Long, vọng lầu được xây dựng vào năm 1829, thời vua Minh Mạng. Sở dĩ cửa có tên gọi là Thượng Tứ ngày xưa, ở gần bên trong cửa thành này (khoảng vị trí trường Trần Quốc Toản hiện nay), triều đình đã thiết lập một cơ quan tên là Viện Thượng Tứ, chuyên trông coi việc nuôi ngựa để kéo xe cho vua.
< Tây Nam Môn – Cửa Hữu (vọng lâu và vòm cửa bị sập).

Cửa Hữu, có tên chữ là Tây Nam Môn, nằm ở phía Tây Nam của Kinh Thành, ở đầu đường Yết Kiêu. Phần cửa vòm, được xây dựng vào năm 1809, dưới thời vua Gia Long, vọng lâu được xây dựng năm 1829 thời Minh Mạng.

Đêm mồng 5/7/1885, vua Hàm Nghi đã xuất bôn từ cửa này ra khỏi Kinh Thành, để ban hịch Cần Vương. Chiến sự năm 1968, đã làm sập vọng lâu và vòm cửa.
< Cửa Chánh Tây.

Cửa Chánh Tây nằm ở phía Tây Kinh Thành, trên đường Thái Phiên, TP Huế. Phần cửa vòm được xây dựng vào năm 1809, dưới thời  vua Gia Long, vọng lầu bên trên được xây dựng năm 1829, dưới thời vua Minh Mạng.

Trong chiến sự năm 1968, nơi đây từng là cửa ngõ giao tranh ác liệt, cửa bị tàn phá hoàn toàn phần vọng lầu phía trên, sau đó bị cấm đi lại. Nay cửa đã được tu sửa. Dulichgo
< Chánh Đông Môn - Cửa Đông Ba (hiện đang được tu sửa).

Cửa Đông Ba có tên chữ là Chánh Đông Môn, tức cửa nằm ở phía Đông Kinh Thành, cuối đường Mai Thúc Loan, thành phố Huế. Địa danh này phát xuất từ tên của pháo đài Đông Hoa có từ thời Gia Long. Đến đầu thời Thiệu Trị, vì triều đình kiêng dùng tên húy của mẹ nhà vua là bà Hồ Thị Hoa, cho nên đổi tên thành Đông Gia. Nhưng nhân dân quen gọi là Đông Ba. Phần cửa vòm được xây dựng từ năm 1809, dưới thời vua Gia Long, vọng lầu được xây dựng năm 1824 dưới thời Minh Mạng. Ngày 5/7/1885, nơi đây đã diễn ra trận giao tranh ác liệt giữa quân Pháp và quân triều đình do Tôn Thất Thuyết chỉ huy. Trong chiến sự năm 1968, bom đạn đã đánh sập phần vọng lầu làm hư hại nặng nề cửa chính Đông Ba.
< Tây Bắc Môn – Cửa An Hòa.

Cửa An Hoà có tên khác là Tây Bắc Môn, cửa nằm ở góc Tây Bắc của Kinh Thành, nối từ đường Nguyễn Trãi ra thẳng đường Tăng Bạt Hổ.

Phần vòm cửa được xây dựng năm 1809, dưới thời vua Gia Long, vọng lâu được xây dựng vào năm 1831, thời vua Minh Mạng. Người dân Huế gọi là cửa An Hòa vì trước mặt cửa thành này là làng An Hòa và chợ An Hòa.
< Đông Bắc Môn - Cửa kẻ Trài.

Đông Bắc Môn có tên gọi dân gian là cửa Kẻ Trài, nằm ở góc Đông Bắc của Kinh Thành, bên bờ Tây của sông Đông Ba. Phần vòm cửa được xây dựng vào năm 1809, dưới thời Gia Long, vọng lầu được xây dựng vào năm 1824, dưới thời vua Minh Mạng. Ngày xưa, Kẻ Trài là tên một xóm ở phía trước cửa thành, nơi đây có chợ Mới, có Hàng Bè, có phố Đông Hội, thương nhân Bắc kỳ đưa  hàng hoá vào buôn bán, họ làm lều quán lúp súp, thành những dãy nhà trài hai bên bờ sông, dân bản địa thường gọi là Kẻ Trài, từ đó cửa Đông Bắc cũng có tên là Kẻ Trài. Dulichgo
< Chánh Bắc Môn – Cửa Hậu.

Chánh Bắc Môn tục gọi là Cửa Hậu, vì nó tọa lạc tại mặt sau của Kinh Thành. Cửa Hậu nằm cuối đường Đinh Tiên Hoàng, nhìn ra đường Tăng Bạt Hổ. Phần cửa vòm được xây dựng năm 1809 dưới thời Gia Long. Vọng lầu được xây dựng vào năm 1831 dưới thời vua Minh Mạng. Sau khi thực dân Pháp chiếm kinh thành Huế (1885), cửa Chánh Bắc (Mang Cá lớn) và cửa Trài (Mang Cá nhỏ) bị đóng kín để lập đồn Mang Cá. Do hậu quả của chiến tranh và thiên tai cửa đã bị hư hại, nên suốt 116 năm hai cửa này vẫn chưa được khai thông. Ngày 21/5/2004. sau 4 tháng thi công, Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế đã chính thức làm lễ khánh thành, khai thông cửa Chánh Bắc trở lại.
< Trấn Bình Môn thông đến Trấn Bình Đài (đồn Mang Cá).

Ngoài 10 cửa nêu trên còn có một cửa nhỏ khác không thông ra ngoài là Trấn Bình Môn.
Trấn Bình môn thuộc vòng tường thành của Kinh thành không phải là cửa thông ra ngoài thành mà là thông đến Trấn Bình đài là pháo đài phòng thủ của Kinh thành. Cửa này đươc trổ ra ở giữa đoạn thành nối hai pháo đài Bắc Định và Đông Bình (của Kinh thành) lại với nhau. Ngay trước mặt cửa là một chiếc cầu xây bằng đá và gạch bắc qua hào, dùng để nối liền mạch giao thông giữa hai địa phận của thành chính và thành phụ.Dulichgo
< Tây Thành Thủy Quan (còn gọi là cống Thủy Quan).

Và hai cửa đường thủy: Tây Thành Thủy Quan và Đông Thành Thủy Quan.

Tây thành Thủy Quan là cửa đường thủy thông giữa sông Ngự Hà trong kinh thành với sông đào Kẻ Vạn khu vực Kim Long. Phía bên ngoài thành là cầu Thủy Quan nằm trên đường Lê Duẫn (QL1A đi qua Thành phố).
< Đông Thành Thủy Quan (vẫn thường gọi là Cống Lương Y).

Đông Thành Thủy Quan cũng là một cửa thủy thông giữa sông Ngự Hà với sông đào Đông Ba bên trái kinh thành. Sông Ngự Hà, ban đầu mang tên Thanh Câu dài khoảng 3.600m, chảy vắt ngang qua mặt hậu trong lòng Kinh Thành theo hình thước thợ.

Năm Minh Mạng nguyên niên (1820), sông được cải tạo và đổi tên thành Ngự Hà, nối liền Tây Thành Thủy Quan với Đông Thành Thủy Quan, thông nước từ sông Hương qua sông đào Kẻ Vạn với sông đào Đông Ba rồi chảy về ngã Bao Vinh hợp lưu cùng sông cái đổ nước ra cửa Thuận An.
Cửa này thông ra phía bên ngoài thành qua cầu Thanh Long (đường Huỳnh Thúc Kháng), cây cầu này là nơi mà trong cuộc binh biến 1885 Tôn Thất Thuyết đã bố trí mai phục để chặn quân Pháp từ Tòa Khâm sứ bên kia sông Hương qua ứng ứng cho đồn Mang Cá. Hồi ấy, khi đọc xong tiểu thuyết lịch sử “Huế 1885″ của Thái Vũ, mỗi lần qua đây tôi đều ngoái nhìn cửa thủy thành, cố hình dung ra cảnh chiến đấu hào hùng của hơn 100 năm về trước.

Theo Ngvliem.tk
Du lịch, GO!

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ma có tồn tại không?


Các chuyên gia cho rằng, cuộc sống con người có cái gọi là hồn ma hiện diện. Nó được tồn tại ở nhiều dạng thức khác nhau. Các chuyên gia cho rằng, cuộc sống con người có cái gọi là hồn ma hiện diện. Nó được tồn tại ở nhiều dạng thức khác nhau. Tuy nhiên, việc phân định giữa ma và vong vẫn chưa rõ ràng.
Ma tốt ma xấu như người tốt người xấu
GS.VS Đào Vọng Đức, nguyên Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Tiềm năng Con người về Khoa học và Tâm linh cho biết: Hiện nay, chưa phân định rõ giữa ma và vong. Nếu theo cách gọi của khoa học thì là vong, người dân hay gọi là ma. Các vong tồn tại ở nhiều dạng thức, nhiều nơi khác nhau. Như ở nơi chôn cất người chết, nhiều khi chưa hẳn có nhiều vong (ma) tồn tại.


Chính vì khoa học chưa phân tích rõ ràng nên người dân hiểu theo nhiều hướng khác nhau. Nhiều trường hợp đang khoẻ mạnh bình thường bỗng tâm thần, người ta bảo vong hay ma nhập hóa điên dại.

“Tôi cho rằng, hiện nay có trường hợp vong (ma) nhập vào con người. Có vong về báo mộng cho người nhà, giúp con cháu vượt qua hoạn nạn và giúp đỡ họ làm ăn. Thế nên, người dân không nên hiểu theo hướng tiêu cực, vong (ma) làm những điều xấu như gây nên cơn ác mộng, nhập vào người gây hại sức khoẻ cho họ. Thực tế, có ma tốt, có ma xấu. Thế giới âm cũng như đời trần, có người tốt, người xấu”, ông Đức giải thích.

Hiện nay, do khoa học chưa phân tích rõ ràng về ma và vong. Vì thế, tùy theo cách hiểu biết, nhận thức của mỗi người mà có cách nhìn nhận khác nhau. Do đó, chúng ta cần phải nhìn nhận theo hướng tích cực, tránh hiểu theo một hướng.

Các dạng ma (vong) cũng rất đa dạng, tồn tại nhiều nơi khác nhau. Có nhiều nhà nghiên cứu đã chụp ảnh được ma, vong, chứng minh nó tồn tại, có trong cuộc sống con người.


Ông Phạm Văn Tuyên, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang cho rằng, gia đình ông bị ma tà hãm hại, tan cửa nát nhà.

Nội ma và ngoại ma

Ông Vũ Thế Khanh, Tổng Giám đốc Liên hiệp Khoa học Công nghệ Tin học Ứng dụng UIA cho rằng, ma tồn tại trong cuộc sống của con người. Ma không chỉ có một loại, mà có đến 10 loại. Ma được chia thành 2 nhóm là ngoại ma và nội ma. Đa số dân chúng hiểu khái niệm “ma” nghiêng nhiều về loại ngoại ma, còn nội ma thì không mấy ai chú ý đến.

Vậy ngoại ma là gì? Đó là phần vật chất vi tế thoát ra và cắt đứt được sự ràng buộc với cơ thể hữu hình khi cơ thể ấy không còn chức năng sinh học (tức bị chết). Phần vật chất hữu hình của cơ thể sống còn gọi là thân tứ đại (đất, nước, gió và lửa), thường được gọi là “thể xác”.

Phần vật chất vô hình vi tế, tuy mắt thường không nhìn thấy, nhưng nó vẫn tồn tại, ngay cả trường hợp phần thể xác không còn nữa. Khi con người chết đi thì lực lượng vật chất này thoát ra khỏi thân tứ đại, tiếp tục tồn tại dưới dạng thân trung ấm và chờ đủ duyên thì đi tái sinh vào lục đạo luân hồi tương ứng với nghiệp lực đã gieo theo lý nhân - duyên - quả. Khi lực lượng này thoát ra, sẽ được thể hiện dưới nhiều dạng phong phú, và được gọi bởi nhiều cái tên khác nhau (tùy theo mức độ tiến hóa tâm linh của sinh vật đó) như có thể gọi: Người âm, cô hồn, linh hồn, vong. Đương nhiên, khi chưa đi tái sinh thì các phần vật chất (dạng Thần Thức) này sẽ có tương tác rất mạnh với thể giới hữu hình theo lý nhân duyên tương sinh và tương khắc. Tương sinh là do có ân nghĩa, thân thuộc với nhau, tương khắc là do có thù oán, nợ nần với nhau khi còn tại thế.

Dạng thần thức này thường được gọi chung là ma (hay ngoại ma, thiên ma), do vậy khi đi dự tang lễ, người ta thường gọi là đi viếng đám ma, hay là đi đưa ma.

Ngoại ma là yếu tố mang tính khách thể, tồn tại độc lập với xác chết, nhưng có ảnh hưởng tương tác với yếu tố chủ thể của cơ thể sống. Ngoại ma mang tính khách quan bởi vì nó là sự kiện ngoại cảnh tác động đến chủ thể chứ không phải do chủ thể phát sinh ra sự kiện.

Ngoại ma có tương duyên với yếu tố chủ quan của mỗi cơ thể sống là bởi tuân theo nguyên lý cộng tác dụng: “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”. Điển hình cho trạng thái này là câu ví von trong dân gian: “Đi với Bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy”. Ngoại ma cũng có loại thiện, loại ác tùy theo căn cơ của chúng sinh. Ngoại ma cũng giống như đạo giang hồ, (chỉ ưa dùng võ công để phân định cao thấp chứ không ưa dung luật pháp). Tuy nhiên, với những người tu hành chánh đạo thì họ không đề cao thần thông mà chỉ coi trọng luật nhân quả: “Thần thông không bằng đạo thông”.

Trước hết, về ý nghĩa tượng trưng thì “ma” là một phạm trù chỉ những điều xấu ác, tiêu cực, mờ ám trong ý thức và hành vi của chủ thể đương sự. Phạm trù này được thể hiện trong các cách nói như: âm mưu ma quỷ, mưu ma chước quỷ, liên minh ma quỷ, thói ranh ma, ma mọi, ma túy... Do vậy, khái niệm “ma” không nhất thiết dùng để chỉ thần thức của người đã khuất, mà còn dùng để ám chỉ cho hành vi với cái tâm bất lương, ngay cả khi người đó còn sống.

Trong kinh sách nhà Phật đã chỉ ra 9 loại nội ma, tức là 9 loại tiêu cực phát sinh trong tâm thức của đương sự như: Ma oan nghiệt nhiều đời, ma phiền não...


Ông Đào Vọng Đức.

Hiện nay, người ta thường lạm dụng khái niệm “tâm linh” để chỉ chung cho thế giới vô hình của người đã chết, hoặc các sự việc huyền bí, thậm chí cả ma quỷ cũng gọi là “chuyện tâm linh”... Điều này làm cho khái niệm tâm linh mất đi tính tích cực.

Ông Khanh cho hay, khi ngủ, người ta mơ rất nhiều thứ, thường thường mỗi giấc mơ tồn tại từ 3 - 5 phút, sau đó lại bị chen bởi các giấc mơ khác, kế tiếp nhau. Trong các giấc mơ đó, mơ thấy ma quỷ hoặc bị kẻ cướp đuổi thì thường làm cho ta sợ nhất.

Ma trong giấc mơ có thể là ngoại ma đến giao tiếp, nhưng cũng có thể là nội ma phát sinh ra, tùy theo căn thức, tín ngưỡng và sức khoẻ của mỗi người.

Ngoại ma (hay còn gọi là thiên ma) là khái niệm chỉ thần thức của người đã chết. Các cách ứng xử của thế giới ngoại ma không xấu ác như người ta vẫn nghĩ, mà đa phần là tương tác theo nghiệp nhân quả (có ân thì báo ân, có oán thì trả oán.)

Trong các ca khảo nghiệm về ngoại cảm, ta thấy linh hồn của người thân đã mất (như tổ tiên, ông bà cha mẹ...) vẫn che chở và thương yêu con cháu như lúc họ còn tại thế. Ngược lại, với những trường hợp các linh hồn mà khi họ còn sống bị đánh đập, bị giết hại, bạc đãi... thì linh hồn của họ cũng rất ân hận và luôn có ý định báo thù. Khi còn sống, có thể không biết được ai đã hại mình, nhưng khi chết đi, thì linh hồn họ hoàn toàn có thể thấy biết được các hành vi xấu của kẻ khác đối với mình.

“Không phải ma mà là dạng năng lượng”

Đó là quan điểm của ThS Nguyễn Mạnh Quân, Giám đốc Trung tâm UNESCO Nghiên cứu và Ứng dụng khoa học thôi miên Việt Nam khi nhận định về vấn đề ma có tồn tại ở đời trần không. Ông cho rằng, con người sau khi chết, chuyển hóa sang một dạng năng lượng khác. Các nhà khoa học trên thế giới cũng gọi như vậy, có thể đó là năng lượng tốt, có thể là năng lượng xấu. Ở Việt Nam, các thầy gọi là ma hay vong. Bản chất không đúng như vậy, có chăng đó là nguồn năng lượng tác động vào cuộc sống con người. Năng lượng đó có thể làm cho con cuộc sống con người tốt hơn, hoặc ngược lại.

“Tôi chưa thấy đất nước nào người ta nói có nhiều ma như ở nước ta. Đụng đến điều gì xảy ra bất ngờ, gây hại cho gia đình, nhiều người lại nói đó là do ma hành. Tôi cho rằng, cái thế giới đằng sau cái chết của con người đó là thế giới tâm tinh rất trong sáng, linh thiêng, không tranh giành, hại nhau như người ta thường nghĩ. Thế giới đó rất linh thiêng, nhưng không huyền bí. Mọi người càng nghĩ tiêu cực về thế giới đó, càng tác động xấu tới cuộc sống. Điều quan trọng cần hài hòa để ổn định”, ông Quân cho biết.

(còn nữa)
Theo ông Đào Vọng Đức, hiện nay khoa học chưa phân biệt giữa vong và ma. Nhưng điều quan trọng, người dân không nên lo lắng quá về vấn đề tâm linh như vậy. Khi gặp vấn đề bất thường, người dân nên nhìn nhận một cách thấu đáo, tìm những trung tâm hoạt động tâm linh tin cậy nhờ tư vấn.

Đại Cát
(Kiến Thức)
http://kienthuc.net.vn/kho-tri-thuc/ma-co-ton-tai-khong-471438.html

  1. Ma có tồn tại không - Kiến thức

    kienthuc.net.vn/.../ma-co-ton-tai-khong-471438.html
     
     Translate this page
    4 hours ago - (Kiến Thức) - Các chuyên gia cho rằng, cuộc sống con người  cái gọi là hồn ma hiện diện. Nó được tồn tại ở nhiều dạng thức khác nhau.
  2. Sự tồn tại của ma quỷ - Các bài viết - Khoa học

    khoahoc.tv/timkiem/sự+tồn+tại+của+ma.../index.aspx
     
     Translate this page
    Những người săn ma tin rằng sự tồn tại của ma có thể được khẳng định bằng lý ... liệu có tồn tại khả năng ngoại cảm giữa con người với con người hay không.
  3. Ma có thật hay không? - VietNamNet

    vietnamnet.vn/vn/khoa.../ma-co-that-hay-khong-.html
     
     Translate this page
    Feb 4, 2013 - Dẫu vậy, điều này cũng không đúng: Hoặc ma tồn tại và xuất hiện trong thế giới vật chất thông thường của chúng ta (và do đó  thể được phát ...
  4. Bạn tin có ma hay không? | Nhật ký sắc đẹp

    nhatkysacdep.com › Cuộc sống
     
     Translate this page
    Dù sao thì bên cạnh những người tin là không, thì vẫn  rất nhiều người tin là . Tin sự tồn tại của ma, hay còn gọi là linh hồn. Tôi là người rất chăm chỉ ...
  5. Bằng chứng về hồn ma có tồn tại - Bbit

    bbit.vn › Tủ Sách › Truyện Ma
     
     Translate this page
    Mời các bạn đọc ngay câu chuyện này để  thể biết về những bằng chứng chứng minh việc  hồn ma tồn tại, đây là sự thật và không hề xuyện tạc Nhiều công ...
  6. 5 lý do khiến nhiều người tin vào ma quỷ - Khoa học - Zing.vn

    news.zing.vn/5-ly-do-khien-nhieu-nguoi-tin-vao-ma-...
     
     Translate this page
    Oct 30, 2013 - Các nhà khoa học không tìm thấy bằng chứng xác thực để khẳng định sự tồn tại của ma quỷ, nhưng người ta vẫn  nhiều lý do để tin vào sự ...
  7. Một loạt nghề mà không ai tin là sẽ tồn tại trên đời - Kenh14.vn

    kenh14.vn › Khám phá
     
     Translate this page
    Jan 31, 2015 - Một loạt nghề mà không ai tin là sẽ tồn tại trên đời ... Nếu như bạnkhông có nhiều kiến thức y khoa, không phải là sinh viên xuất sắc của ...
  8. Sự sống "không như chúng ta biết" có thể tồn tại trên mặt trăng ...

    www.tinhte.vn › KHCN › Khoa học
     
     Translate this page
    Sự sống mà chúng ta hiện biết trên trái đất gần như toàn bộ đều được hình ... ra một khái niệm mới về sự sống không cần oxi và nước, mà có thể đang tồn tại ...
  9. Linh hồn có tồn tại hay không? | ĐẠI KỶ NGUYÊN

    vietdaikynguyen.com/.../1618-lieu-linh-hon-co-ton-ta...
     
     Translate this page
    Sự tồn tại của NDE nêu lên một vấn đề cho sự hiểu biết hiện nay về tinh thần, ... Hiện tượng NDE gợi ý rằng người ta không chỉ  một thân thể  còn  một ...
  10. Có thật Chúa Giê Su đã tồn tại không? Có bằng chứng lịch ...

    www.gotquestions.org/Viet/Viet-did-Jesus-exist.html
     
     Translate this page
    Tại sao không có kết luận bằng chứng về sự tồn tại của Chúa Giêsu trong lịch sử? ... Ngay cả nếu điều này là trường hợp ( chúng tôi đặc biệt bàn đến), trong ...

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đâu cái điền?!

Phải chăng bắt đầu một thảm họa?

Đăng Bởi  
Da co o Sapa - (Anh tu Internet)
Đá cổ ở Sapa - (Ảnh từ Internet)

Đúng như tôi dự cảm ở bài “Nỗi lo “trụ đồng Mã Viện” len lỏi vào tâm thức người Việt Nam” đăng trên Một Thế Giới hôm 19.8: “Sự áp đặt hành chính có khi đưa tới thô bạo quá đà như từng diễn ra trong quá khứ”. Chưa phải là sự áp đặt hành chính nhưng trên một trang báo mạng  xuất hiện bài viết: “Bàn về việc sử dụng chữ Hán và nguy cơ nô dịch văn hóa". Bài báo cho rằng chữ “Chữ Hán cũng chỉ là ngoại ngữ” và việc dùng chữ Hán dẫn tới nguy cơ bị nô dịch về văn hóa!



Xin được nói ngay rằng, đó là sự ngộ nhận nguy hiểm. Tiếc rằng không chỉ của tác giả Xuân Dương mà còn của nhiều học giả Việt Nam cũng như thế giới từ nhiều thế kỷ trước.
Nhưng sang thế kỷ này, bằng tri thức mới nhất và đáng tin cậy của nhân loại, chúng ta đã chứng minh được rằng, từ 40.000 năm trước, người Việt cổ đã làm chủ Trung Hoa và xây dựng tại đây nền văn hóa nông nghiệp rực rỡ. Người Việt là chủ thể của dân cư Trung Hoa nên tiếng Việt là chủ thể của ngôn ngữ Trung Hoa. 
Và mới đây, từ phát hiện chữ tượng hình ở văn hóa Giả Hồ 9.000 năm trước, văn hóa Bán Pha tỉnh Sơn Tây 6.000 năm trước, di chỉ Cảm Tang Quảng Tây 4.000 – 6.000 năm trước; cùng với “văn tự hóa thạch sống” của bộ tộc Thủy, di duệ của người Lạc Việt ở Quảng Tây và nhất là từ Giáp cốt văn cũng như chữ Trung Hoa hiện đại, chúng ta có đủ cơ sở chứng minh rằng: chữ tượng hình do người Việt sáng tạo từ xa xưa chính là chủ thể xây dựng chữ Trung Hoa mà ông cha ta quen gọi là chữ Nho. Đây là câu chuyện dài từng được người viết trình bày trong tiểu luận Lịch sử hình thành chữ viết Trung Hoa và sau đó in trong cuốn Viết Lại Lịch Sử Trung Hoa (Amazon.com), có thể tóm tắt như sau:
Từ vết tích trên bãi đá Sapa, ta biết rằng, tổ tiên chúng ta từng sáng tạo chữ Khoa đẩu và chữ tượng hình. Trong khi chữ Khoa đẩu được dùng trên đất Việt Nam cổ thì chữ tượng hình được đưa lên phía bắc, tại những văn hóa đã dẫn, mà tập trung nhất là văn hóa Cảm Tang và vùng đất Ân tỉnh Hà Nam. Khi chiếm đất Ân, vua Bàn Canh (1401 TCN – 1374 TCN) nhà Thương đã chiếm chữ của người Dương Việt và phát triển thành chữ giáp cốt.

Phai chang bat dau mot tham hoa?
Đá cổ ở Sapa - (Ảnh từ Internet)

Các triều đại sau đó đã hoàn chỉnh phát minh này của người Việt để tạo nên chữ viết Trung Hoa. Chữ tượng hình được chế ra để ký tự tiếng Việt. Do tiếng Việt cổ vốn đa âm trong khi chữ tượng hình là đơn lập nên những tiếng muốn được ghi lại, buộc phải đơn âm hóa (blời à trời; krong à sông, long…). Do vậy, tiếng Việt dần chuyển thành đơn âm. Do tiếng nói nhiều mà chữ chế ra ít nên chỉ những tiếng có ý nghĩa nhất mới được ký tự.
Chữ tượng hình là tinh hoa của ngôn ngữ Việt. Do vậy, không lạ khi chúng ta thấy chữ Nho không chỉ là những ký tự mà còn mã hóa trong đó một chiều sâu văn hóa không thứ văn tự nào sánh kịp. Những tiếng không được ký tự chỉ được dùng truyền miệng trong dân gian. Số tiếng không được ký tự quá nhiều nên khi giành được tự chủ, cha ông chúng ta chế ra chữ Nôm để ghi lại.

Trong khi đó, ở Nam Trung Hoa, có khoảng 20% từ địa phương không được ký tự, chỉ truyền miệng trong dân gian. Do lịch sử chuyển biến, tiếng Việt cổ trên đất Trung Hoa đã thay đổi theo từng thời kỳ. Tới thời Đường, tiếng Việt được nói ở kinh đô Tràng An gọi là Đường âm, trở thành tiếng nói chính thống của vương triều, được đưa sang Việt Nam. Sau đó, nước ta giành được quyền tự chủ, dù tiếng nói trên đất Trung Hoa thay đổi thì Đường âm vẫn được giữ ở nước ta. Nay được gọi là “từ Hán Việt”. Trên thực tế, không hề có cái gọi là “từ Hán Việt” mà thực chất đó là tiếng Việt được người Việt nói ở kinh đô Tràng An thời Đường.
Thập niên 1920, khi xóa bỏ việc học chữ Nho để chuyển sang quốc ngữ, một học giả phương Tây nói (đại ý): “Chúng ta đã cho dân An Nam một thứ chữ tiện dụng, giúp họ mau chóng bắt kịp đà văn minh nhân loại nhưng chính điều này khiến cho các thế hệ sau bị cắt đứt với văn hóa cội nguồn của họ”.
Hôm nay điều đó đã xảy ra khi tiếng Việt vừa trở nên nghèo nàn vừa bị xuyên tạc đến thảm hại. Quá nhiều người không sử dụng đúng tiếng mẹ đẻ. Đấy là do chúng ta bỏ chữ Nho. Nói cho cùng, chữ quốc ngữ Latinh chỉ là xác chữ mà phần hồn là ở chữ Nho. Nhiều câu đối trong đình chùa chỉ có thể viết bằng chữ Nho mới thể hiện được hết chiều sâu trong nội hàm của nó. Chữ quốc ngữ Latinh trong nhiều trường hợp không chỉ nông cạn mà còn gây ra đồng âm dị nghĩa làm mất giá trị của câu đối!

Chữ Nho không phải ngoại ngữ mà là đỉnh cao văn hóa do tổ tiên ta sáng tạo. Để khôi phục văn hóa dân tộc, rất nhiều người tâm huyết đang tìm cách đưa chữ Nho trở lại nhà trường.
Nay có người trên tờ báo của ngành Giáo dục lớn tiếng lên án chữ Nho. Đòi trục xuất ra khỏi văn tự dân tộc phải chăng lại bắt đầu một thảm họa?!

Hà Văn Thùy

Phần nhận xét hiển thị trên trang